1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Nghiên cứu bệnh đơn bào đường máu tại trại gà Khoa Chăn nuôi Thú y Trường Đại học Nông Lâm và huyện Đồng Hỷ - tỉnh Thái Nguyên, sử dụng thuốc điều trị

64 443 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 64
Dung lượng 1,9 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bố trí lấy mẫu và phương pháp xác định tỷ lệ, cường độ nhiễm Leucocytozoon ở gà tại xã Hóa Trung thuộc huyện Đồng Hỷ - tỉnh Thái Nguyên và trại gia cầm khoa Chăn nuôi Thú y- trường Đại h

Trang 1

SỬ DỤNG THUỐC ĐIỀU TRỊ

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Thú y Khoa : Chăn nuôi Thú y Khóa học : 2010 - 2014

Thái Nguyên – 2014

Trang 2

SỬ DỤNG THUỐC ĐIỀU TRỊ

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Trang 3

Cô giáo hướng dẫn TS Trần Thị Hoan và các thầy cô trong khoa Chăn nuôi Thú y đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn em trong suốt quá trình thực tập và hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này

Em xin trân trọng cảm ơn sự giúp đỡ to lớn về cơ sở vật chất của khoa Chăn nuôi Thú y trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên

Ban giám hiệu trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên, Ban chủ nhiệm khoa Chăn nuôi Thú y – Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, đã tận tình dạy dỗ và dìu dắt em trong suốt thời gian học tập tại trường cũng như thời gian thực tập tốt nghiêp

Đồng thời em cũng xin gửi lời cảm ơn tới Trạm Thú y huyện Đồng Hỷ đã tiếp nhận và tạo mọi điều kiện giúp đỡ em trong suốt quá trình thực tập tốt nghiệp Xin cảm ơn gia đình, bạn bè luôn động viên, giúp đỡ, tạo mọi thuận lợi

để em hoàn thành tốt quá trình thực tập tốt nghiệp

Thái Nguyên, ngày 25 tháng 11 năm 2014

Sinh viên

Lê Thị Quyên

Trang 4

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 4.1: Tỷ lệ và cường độ nhiễm Lecocytozoon ở gà tại huyện Đồng

Hỷ- tỉnh Thái Nguyên và trại gia cầm khoa Chăn nuôi Thú y tại trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên 31 Bảng 4.2: Tỷ lệ và cường độ nhiễm Leucocytozoon ở gà theo tuổi 35

Bảng 4.3: Tỷ lệ và cường độ nhiễm Leucocytozoon ở gà theo phương

thức chăn nuôi 38 Bảng 4.4: Tỷ lệ nhiễm Leucocytozoon theo tính biệt gà 40

Bảng 4.5: Tỷ lệ và cường độ nhiễm Leucocytozoon ở gà theo tình

trạng VSTY 41 Bảng 4.6: Tỷ lệ và cường độ nhiễm Leucocytozoon theo loại gà 43

Bảng 4.7: Tỷ lệ và các triệu chứng lâm sàng của gà mắc bệnh

Leucocytozoon 44

Bảng 4.8: Hiệu lực và độ an toàn của 2 phác đồ điều trị bệnh

Leucocytozoon cho gà 46

Trang 6

MỤC LỤC

Phần 1: MỞ ĐẦU 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục tiêu đề tài 2

1.3 Mục đích đề tài 2

1.4 Ý nghĩa đề tài 2

1.4.1.Ý nghĩa trong học tập và trong nghiên cứu khoa học 2

1.4.1 Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất 2

Phần 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

2.1 Cơ sở khoa học của đề tài 3

2.1.1 Đặc điểm của đơn bào Leucocytozoon ký sinh ở gà 3

2.1.2 Bệnh đơn bào Leucocytozoon ở gà 11

2.2 Tình hình nghiên cứu về bệnh Leucocytozoon 21

2.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 21

2.2.2 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài 22

Phần 3: ĐỐI TƯỢNG, VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24

3.1 Đối tượng nghiên cứu 24

3.2 Vật liệu nghiên cứu 24

3.3 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 24

3.3.1 Địa điểm nghiên cứu 24

3.3.2 Thời gian nghiên cứu: 24

3.4 Nội dung nghiên cứu 25

3.4.1 Đặc điểm dịch tễ bệnh Leucocytozoon ở gà tại xã Hóa Trung thuộc huyện Đồng Hỷ - tỉnh Thái Nguyên và trại gia cầm khoa Chăn nuôi Thú y- trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên 25

3.4.1 Nghiên cứu đặc điểm bệnh lý và lâm sàng bệnh Leucocytozoon ở gà 25

Trang 7

3.4.2 Sử dụng thuốc điều trị bệnh Leucocytozoon cho gà 25

3.5 Phương pháp nghiên cứu 25 3.5.1 Bố trí lấy mẫu và phương pháp xác định tỷ lệ, cường độ nhiễm

Leucocytozoon ở gà tại xã Hóa Trung thuộc huyện Đồng Hỷ - tỉnh Thái

Nguyên và trại gia cầm khoa Chăn nuôi Thú y- trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên 25 3.5.2 Bố trí lấy mẫu và phương pháp xác định tỷ lệ, cường độ nhiễm

Leucocytozoon ở gà theo phương thức chăn nuôi 28

3.5.3 Bố trí lấy mẫu và phương pháp xác định tỷ lệ, cường độ nhiễm

Leucocytozoon ở gà theo tuổi gà 28

3.5.4 Bố trí lấy mẫu và phương pháp xác định tỷ lệ nhiễm Leucocytozoon ở

gà theo tính biệt 29 3.5.5 Bố trí theo dõi và phương pháp xác định tỷ lệ, cường độ nhiễm

Leucocytozoon ở gà theo loại gà 29

3.5.6 Bố trí lấy mẫu và phương pháp xác định tỷ lệ, cường độ nhiễm

Leucocytozoon theo tình trạng vệ sinh thú y 29

3.5.7 Phương pháp bố trí theo dõi triệu chứng lâm sàng bệnh

Leucocytozoon ở gà 30

3.5.8 Phương pháp bố trí theo dõi hiệu quả và độ an toàn của 2 phác đồ

điều trị bệnh Leucocytozoon cho gà 30

3.6 Phương pháp xử lý số liệu 31

Phần 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 32

4.1 Tỷ lệ và cường độ nhiễm lucocytozoon ở gà tại xã Hóa Trung huyện Đồng Hỷ tỉnh Thái Nguyên và trại gia cầm khoa Chăn nuôi Thú y trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên 32

4.1.1 Tỷ lệ và cường độ nhiễm Lecocytozoon ở gà tại xã Hóa Trung -

huyện Đồng Hỷ- tỉnh Thái Nguyên và trại gia cầm Khoa Chăn nuôi Thú y- trường ĐH nông Lâm Thái Nguyên 32

4.1.2 Tỷ lệ và cường độ nhiễm Leucocytozoon ở gà theo tuổi 36

Trang 8

4.1.3 Tỷ lệ và cường độ nhiễm Leucocytozoon theo phương thức chăn nuôi 39

4.1.4 Tỷ lệ nhiễm Leucocytozoon theo tính biệt gà 41

4.1.5 Tỷ lệ và cường độ nhiễm Leucocytozoon ở gà theo tình trạng vệ sinh thú y 42

4.1.6 Tỷ lệ và cường độ nhiễm Leucocytozoon theo loại gà 44

4.2 Đặc điểm bệnh lý và lâm sàng bệnh Leucocytozoon ở gà 45

4.2.1 Triệu chứng lâm sàng của gà mắc bệnh Leucocytozoon 45

4.3 Nghiên cứu hiệu quả của 2 phác đồ điều trị bệnh đơn bào Leucocytozoon ở gà 52

Phần 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 55

5.1 Kết luận 55

5.2 Đề nghị 56

TÀI LIỆU THAM KHẢO 57

Trang 9

Thái Nguyên cũng là một tỉnh trung du, miền núi, nhưng địa hình Thái Nguyên không phức tạp lắm so với các tỉnh trung du, miền núi khác Đây là một điều kiện thuận lợi cho tỉnh trong canh tác nông – lâm nghiệp và phát triển kinh tế - xã hội nói chung Có địa hình đồi núi phát triển khá mạnh, trong

đó chăn nuôi gà thả vườn chiếm một số lượng lớn Nhiều đàn gà có triệu chứng

ỉa phân xanh, thiếu máu và gầy yếu Việc phòng bệnh truyền nhiễm bằng các loại vacxin không mang lại hiệu quả mong muốn Một câu hỏi đặt ra là: những

triệu chứng trên ở gà của Thái Nguyên có phải do đơn bào Leucocytozoon gây ra

hay không? Tuy nhiên, cho đến nay câu hỏi trên vẫn chưa được trả lời, và bệnh

do đơn bào Leucocytozoon và biện pháp phòng trị vẫn chưa được nghiên cứu ở

khu vực phía Bắc nói chung và ở tỉnh Thái Nguyên nói riêng Vì vậy, việc

nghiên cứu xác định sự tồn tại và gây bệnh của đơn bào Leucocytozoon trên đàn

gà để có biện pháp phòng trị có hiệu quả là rất cần thiết

Trang 10

Xuất phát từ nhu cầu cấp bách của thực tế chăn nuôi gà ở tỉnh Thái Nguyên,

chúng tôi thực hiện đề tài: “ Nghiên cứu bệnh đơn bào đường máu tại trại gà Khoa Chăn nuôi Thú y Trường Đại học Nông Lâm và huyện Đồng Hỷ - tỉnh Thái Nguyên, sử dụng thuốc điều trị”

1.2 Mục tiêu đề tài

Nghiên cứu đề tài để có những thông tin khoa học về đặc điểm dịch tễ

và lâm sàng bệnh Leucocytozoon ở gà tại trại gad khoa Chăn nuôi Thú y và

huyện Đồng Hỷ, đồng thời có cơ sở khoa học để xây dựng quy trình phòng trị

bệnh Leucocytozoon cho gà có hiệu quả cao

1.3 Mục đích đề tài

Hoàn thiện thêm những thông tin khoa học về đặc điểm dịch tễ bệnh

đơn bào leucocytozoon ở gà Từ đó có sở khoa học xây dựng quy trình phòng trị bệnh đơn bào leucocytozoon cho gà có hiệu quả cao

1.4 Ý nghĩa đề tài

1.4.1.Ý nghĩa trong học tập và trong nghiên cứu khoa học

Kết quả của đề tài là cơ sở để khuyến cáo người chăn nuôi gà áp dụng

biện pháp phòng trị bệnh Leucocytozoon, nhằm hạn chế tỷ lệ nhiễm

Leucocytozoon cho gà, hạn chế thiệt hại do Leucocytozoon gây ra, góp phần

nâng cao năng suất chăn nuôi, thúc đẩy chăn nuôi gà nói riêng và chăn nuôi gia cầm phát triển

1.4.1 Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất

Giúp cho người chăn nuôi hiểu hơn về tác hại của bệnh đơn bào đường

máu leucocytozoon đối với đàn gà, đề xuất một số biện pháp phòng và trị bệnh đơn bào đường máu leucocytozoon có hiệu quả, góp phần làm tăng năng

xuất chăn nuôi

Trang 11

Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 Cơ sở khoa học của đề tài

Ký sinh trùng là những sinh vật sinh trưởng và phát triển trong hoặc trên cơ thể một sinh vật khác – gọi là ký chủ, chiếm đoạt chất dinh dưỡng của

ký chủ mà nó ký sinh Trong phân loại học, dựa theo cấu trúc cơ thể của ký sinh trùng mà người ta chia những ký sinh trùng động vật ra làm 3 ngành: nguyên trùng, giun sán và tiết túc Trong đó, nguyên trùng là ký sinh trùng

đơn bào (protozoa), cơ thể chỉ gồm một tế bào, thường ký sinh trong máu (Trypanosoma, Histomonas, Leucocytozoon…) hoặc trong ruột ký chủ (cầu

trùng) (Dương Công Thuận, 1995 [26])

Leucocytozoon ký sinh trong hồng cầu gà (đôi khi ký sinh trong bạch

cầu, tùy theo loài), làm tan vỡ hồng cầu, gây bần huyết và gây chết gà với tỷ

lệ cao, ảnh hưởng đến thu nhập của người chăn nuôi gà Bệnh cũng được phát hiện ở nhiều loài chim hoang dã

2.1.1 Đặc điểm của đơn bào Leucocytozoon ký sinh ở gà

2.1.1.1 Vị trí của đơn bào Leucocytozoon trong hệ thống phân loại động vật

Đơn bào nói chung là những nguyên sinh động vật không có khí quan

di động, thân thể khi thì trần và có thể biến dạng được, khi thì có màng bọc và

có hình dạng nhất định Đơn bào sống ký sinh ở các tế bào, các mô hay dịch thể, có thể suốt đời hoặc những giai đoạn đầu của nó Chúng tự nuôi dưỡng bằng cách thẩm thấu dinh dưỡng chiếm đoạt của ký chủ qua bề mặt cơ thể

Các loài đơn bào thuộc giống Leucocytozoon ký sinh trong máu của

nhiều loài gia cầm, thủy cầm, chim và nhiều loài chim hoang dã Gà là vật

chủ cảm thụ đơn bào Leucocytozoon mạnh nhất Bệnh được Ziemann phát

hiện lần đầu tiên vào năm 1898 Từ đó đến nay, trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu về bệnh

Trang 12

Theo Levine N D (1985) [37], Leucocytozoon gây bệnh cho gà có vị

trí trong hệ thống phân loại như sau:

Loài L caullergyi (Mathis et Leger, 1909)

L sabrazeis (Mathis et Leger, 1910)

L simondi (Mathis et Leger, 1910)

L smithi (Laveran et Lucet, 1905)

L andrewsi (Atchley, 1951)

L schufneri (Prowazek, 1912)

L schoutedeni (Rodham Pons et Bequaert, 1913) Đến nay, các nhà

khoa học đã phát hiện 107 loài Leucocytozoon spp ký sinh và gây bệnh cho

gà, gà tây, vịt, ngỗng và nhiều loài chim hoang dã

2.1.1.2 Đặc điểm hình thái các loài Leucocytozoon ở gà

Phạm Sỹ Lăng và cs (2005) [13] cho biết: các loài Leucocytozoon spp

có nhiều hình dạng khác nhau trong quá trình phát triển ở ký chủ cũng như ở

ký chủ trung gian Kích thước của chúng thay đổi tuỳ thuộc dạng và loài đơn bào

Leucocytozoon

- Dạng bào tử (Sporozoite): hình thuẫn, hình elip nhọn 2 dầu, kích

thước 10 - 15 µm Thể này thấy ở tuyến nước bọt của dĩn (ký chủ trung gian)

- Dạng tiểu thể (Merozoite): hình tròn, hình trứng, kích thước 15 - 20 µm

- Dạng giao tử (Schizont): hình elip, thon nhỏ 2 đầu, kích thước 20 - 45µm

- Dạng đại giao tử (Macrogametocyte): hình đa giác, gần tròn, kích

thước 350 - 400 µm

Trang 13

- Dạng tiểu phối tử (Microgametocyte): hình thuẫn, hình trứng, kích

thước 20 - 25 µm

Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [9]: cơ thể đơn bào thường do một tế bào rất nhỏ cấu thành, tổ chức của đơn bào gồm màng tế bào, chất nguyên sinh, hạt hoặc nhân tế bào

Đơn bào Leucocytozoon ký sinh ở hồng cầu, bạch cầu, các nội tạng của

gà và các loài chim ở hai dạng: dạng tiểu thể hình dùi trống, hoặc hình thoi nhọn hai đầu với kích thước từ 15 - 20 µm, dạng bào tử hình trứng với kích thước từ 20 - 25 µm

Theo Phạm Sỹ Lăng và Tô Long Thành (2006) [14]; Phạm Sỹ Lăng và cs

(2008) [15], hai loài L caullergyi và L sabrazeis có hình dạng gần giống nhau,

chỉ khác về tính chất gây bệnh Chúng có dạng hình cầu, hình bầu dục, hình lưỡi liềm; kích thước 20 x 5 µm, không có sắc tố khi nhuộm Giemsa, ký sinh ở hồng cầu của gà, gà rừng

2.1.1.3 Vòng đời của Leucocytozoon ở gà

Saif Y M (2003) [45] cho rằng: giai đoạn sinh bào tử diễn ra trên vật chủ trung gian và có thể được hoàn thành sau 3 – 4 ngày Noãn nang phát triển và có thể tìm thấy trong đường tiêu hóa của dĩn trong vòng 12 giờ sau khi dĩn hút máu Sau đó các noãn nang này di chuyển đến tuyến nước bọt của dĩn, có thể tìm thấy noãn nang ở tuyến nước bọt dĩn sớm nhất sau khi dĩn hút máu gà bệnh 18 ngày

Phạm Sỹ Lăng và cs (2005) [13] cho biết: các loài Leucocytozoon có

vòng đời rất phức tạp, cần vật chủ trung gian là các loài dĩn thuộc giống

Simulium spp và Culiloides spp Tuỳ đặc điểm thời tiết khí hậu của các vùng

sinh thái khác nhau mà thành phần loài dĩn cũng thay đổi

Sau khi xâm nhập vào dĩn do dĩn hút máu gà bệnh, các tiểu thể

(Merozoite) phát triển qua một số giai đoạn ở vách dạ dày thành noãn nang để

Trang 14

thành thể bào tử (Sporozoite) Thể bào tử chuyển lên tuyến nước bọt của dĩn

sau thời gian phát triển khoảng 25 ngày Khi dĩn hút máu các loài vật chủ (gà, các loài gia cầm khác và chim hoang dã) sẽ truyền mầm bệnh vào máu

Các bào tử từ máu xâm nhập vào các tế bào nội quan như: gan, lách,

phổi, thận, tổ chức cơ để trở thành giao tử (Schizont) Các giao tử vào hồng cầu phát triển thành tiểu thể (Merozoite), giao tử thể (Gametocyte), đại giao tử (Marcrogametocyte) và tiểu giao tử (Mircrogametocyte)

Khi dĩn hút máu gia cầm bệnh, vào cơ thể dĩn, các tiểu thể lại phát triển

thành noãn nang (Oocyste), rồi bào tử (Sporozoite) trong vách dạ dày dĩn và

vòng đời lại được lặp lại

Tác giả Lê Minh Thành [50] cho biết vòng đời của Leucocytozoon bao

gồm các giai đoạn như sau:

* Giai đoạn ở tế bào chủ:

Gia cầm bị dĩn – ký chủ trung gian truyền bệnh đốt và truyền mầm

bệnh (các bào tử Sporozoite) vào cơ thể Khi vào cơ thể gia cầm, mầm bệnh

theo máu tới gan, lách, thận, não… Tại đây, chúng xâm nhập vào các tế bào của ký chủ và bắt đầu sinh sản vô tính bằng hình thức liệt phân, kết quả từ 1

Sporozoit đã tạo ra một lượng lớn Merozoite Chính những Merozoite này mới

có khả năng xâm nhập vào máu và ký sinh ở hồng cầu (quá trình này mất 4 –

6 ngày hoặc kéo dài hơn tùy loài)

Quá trình sinh sản của đơn bào ở trong tế bào gan của vật chủ không có

chu kỳ nhất định Sau khi phát triển ở gan, tất cả các Merozoite đều vào máu

* Giai đoạn ở trong hồng cầu: giai đoạn này tạo thể tự dưỡng và thể phân liệt trong đó có thể mang giới tính (giao tử đực và giao tử cái) Giai đoạn

ở trong hồng cầu bắt đầu từ khi các Merozoite từ gan vào máu, tiếp cận với bề mặt hồng cầu có những thụ thể Receptor tương ứng và xâm nhập vào hồng

cầu qua 5 giai đoạn:

Trang 15

- Nhận diện và gắn bám

- Hình thành điểm tiếp giáp

- Tạo nên màng không bào liên tiếp màng hồng cầu

- Lọt vào màng không bào qua điểm tiếp nối chuyển động

- Hồng cầu hàn kín sau khi Merozoite lọt vào

Sau khi lọt vào trong hồng cầu, Merozoite hình thành không bào và

phát triển trong hồng cầu theo kiểu có chu kỳ, qua các thể:

Thể tự dưỡng (Trophozoite): gồm thể Trophozoite non (thể nhẫn), thể

Trophozoite phát triển (thể amip) và thể Trophozoite già

Thể phân liệt (Schizont) gồm: Schizont non và Schizont già

Sau khi kết thúc 1 chu kỳ phát triển, các Merozoite trong Schizont phá

vỡ hồng cầu vào máu, một số bị thực bào hoặc chết, một số xâm nhiễm vào hồng cầu khác và tiếp tục phát triển theo chu kỳ tương tự

Sau một số chu kỳ, có những Merozoite tiếp tục xâm nhập vào hồng cầu, nhưng không tạo thành các thể Merozoite nữa mà phát triển thành thể có giới tính: Gametocyte (Macrogametocyte – giao tử cái và Microgametocyte –

giao tử đực) Sau đó giao tử dực và giao tử cái kết hợp với nhau tạo thành hợp

tử (Zygote), gây phá vỡ hồng cầu và di chuyển trong máu

Khi ký chủ trung gian là dĩn hút máu gia cầm, mầm bệnh sẽ vào ký chủ trung gian và tiếp tục vòng đời

Trong ký chủ trung gian, hợp tử nở ra và phát triển thành dạng trưởng thành (thoi trùng) Chúng di chuyển lên tuyến nước bọt của dĩn và cư trú ở đó Khi dĩn hút máu gia cầm, các thoi trùng theo tuyến nước bọt vào máu của gia cầm và bắt đầu vòng đời mới

Tuy nhiên Lê Văn Năm (2011) [19] lại cho rằng: chu kỳ phát triển sinh

học của Leucocytozoon gồm 2 giai đoạn chính Giai đoạn thứ nhất là giai

Trang 16

đoạn phát triển trong cơ thể ký chủ trung gian truyền bệnh và giai đoạn hai là giai đoạn phát triển trong cơ thể vật chủ:

- Giai đoạn phát triển trong cơ thể ký chủ trung gian truyền bệnh (dĩn)

Đây là giai đoạn hình thành bào tử nang (Sporogony), giai đoạn này

kết thúc trong vòng 3 – 4 ngày Vì trong máu của gia cầm bệnh đã có sẵn

giao tử đực và giao tử cái, hoặc hợp tử của Leucocytozoon, nên ngay sau khi

hút máu gia cầm bệnh, các tế bào máu chứa mầm bệnh bị dịch tiêu hóa của

ký chủ trung gian (dĩn) làm tan vỡ và giải phóng ra các giao tử và các hợp tử Chúng nhanh chóng bám vào thành dạ dày và chui vào các tế bào niêm mạc

dạ dày, ruột của dĩn Ở đó chúng bắt đầu phát triển thành bào tử nang

(Oocyst) Toàn bộ quá trình này chỉ diễn ra trong vòng 12 giờ kể từ thời điểm

dĩn hút máu gia cầm bệnh lần cuối

Trong mỗi bào tử nang bắt đầu có quá trình sinh trưởng và phát triển

thành 4 thoi trùng (Sporozoite) Các thoi trùng này nhanh chóng lớn lên và di

hành đến cư trú trong tuyến nước bọt của ký chủ trung gian truyền bệnh Chỉ có các thoi trùng này mới có khả năng truyền bệnh Ký chủ trung gian truyền bệnh cho gia cầm thụ cảm thông qua việc hút máu của gia cầm bệnh, sau đó hút máu của gia cầm khỏe và truyền nước bọt kèm theo thoi trùng gây bệnh vào cơ thể gia cầm khỏe Như vậy, kể từ khi dĩn hút máu gia cầm bệnh lần cuối đến lúc có khả năng truyền bệnh mất 18 ngày

- Giai đoạn phát triển của Leucocytozoon trong cơ thể gia cầm thụ cảm

Ngay sau khi thoi trùng theo nước bọt của ký chủ trung gian truyền bệnh xâm nhập vào cơ thể gia cầm, chúng lột xác và hình thành nên các thể

phân lập trung gian (Merozoite), các thể phân lập trung gian này bám ngay

vào các tế bào máu và theo máu đi khắp cơ thể Sau đó chúng phát triển theo hai hướng:

Trang 17

Hướng thứ nhất: Chúng chui vào và ký sinh trong các tế bào máu, sinh

trưởng và phát triển theo phương thức tự nhân đôi để tạo ra các thể phân lập

thế hệ 1 (Schizont - 1) Các Schizont thế hệ 1 này lớn lên nhanh chóng và tiết

ra một chất làm tan hồng cầu, chất đó được gọi là chất kháng hồng cầu erythrocyte) Dưới tác động cơ học của nhiều thể phân lập đã sinh ra trong mỗi hồng cầu dưới tác động của chất kháng hồng cầu, một số lượng lớn hồng cầu bị phá vỡ và giải phóng ra nhiều thể phân lập thế hệ 1, đây là nguyên nhân chính dẫn đến thiếu máu, tăng hemobilirubin, máu trở nên loãng, nhớt

(anti-và khó đông Các thể phân lập thế hệ 1 lập tức tấn công (anti-và ký sinh tiếp (anti-vào các tế bào hồng cầu mới, chúng lớn lên và lại nhân đôi để hình thành thể phân

lập thế hệ 2 (Schizont - 2), cứ tiếp tục như vậy chúng hình thành thể phân lập thế hệ 3 (Schizont - 3) thì dừng lại và bắt đầu hình thành các giao tử (Gametocyte) Giao tử đực có kích thước nhỏ gọi là Microgametocyte và giao

tử cái có kích thước lớn hơn gọi là Macrogametocyte Kết thúc giai đoạn sinh

sản vô tính và bắt đầu giai đoạn sinh sản hữu tính

Giai đoạn sinh sản hữu tính xảy ra trong các tế bào hồng cầu Giao tử đực chui vào giao tử cái để thụ tinh và hình thành nên hợp tử Hợp tử được bọc bởi một màng và được gọi là bào tử, có kích thước trung bình 14,5 – 5,5

µm Sau đó, chúng phát triển thành các bào tử hình thoi, có kích thước lên đến

45 µm Chỉ có các thoi trùng này mới có khả năng lây truyền thông qua côn trùng hút máu gia cầm bệnh và truyền thoi trùng gây bệnh cho gia cầm khỏe

Hướng thứ hai: Sau khi các thoi trùng theo máu di hành khắp các nơi

trong cơ thể, một phần chúng cư trú tại các cơ quan như lách, thận, phổi, gan,

dạ dày tuyến, dạ dày cơ, ruột non, buồng trứng, ống dẫn trứng và não Tại đây, chúng lột xác và chui vào ký sinh trong các tế bào nội mô, tế bào lưới và đại thực bào của các cơ quan kể trên của gia cầm thụ cảm Trong các tế bào đó chúng bắt đầu sinh trưởng, lớn lên và sinh sản theo phương thức tự nhân đôi,

Trang 18

làm vỡ nát các tế bào của các cơ quan nội tạng ký chủ Sau đó chúng phát

triển và tạo nên thể phân lập cực đại gọi là Megaloschizont với kích thước lên

đến 400 µm và làm tắc nhiều mao mạch của các cơ quan ký chủ Để tiếp tục phát

triển, trong mỗi Megaloschizont hình thành nên 2 thể phân lập trung gian

Merozoite, chúng lớn lên và rời khỏi Megaloschizont, rời khỏi tế bào của cơ

quan ký chủ, chui vào các tế bào máu để ký sinh và quá trình phát triển được tiếp tục lặp lại như hướng thứ nhất – kết thúc giai đoạn sinh sản vô tính trong các tế bào nội mô ở các cơ quan nội tạng của gia cầm thụ cảm

SƠ ĐỒ VÒNG ĐỜI

Trang 19

2.1.2 Bệnh đơn bào Leucocytozoon ở gà

2.1.2.1 Những thiệt hại kinh tế do bệnh Leucocytozoon gây ra

Bệnh đơn bào Leucocytozoon ở gà không gây thành ổ dịch lớn nguy

hiểm, ít làm cho gà chết đột ngột và chết hàng loạt như một số bệnh truyền nhiễm Nhưng đơn bào này đã gây tác hại nghiêm trọng, làm cho sự sinh trưởng và phát triển của gà bị ngừng trệ, cơ thể gầy còm, thiếu máu, khả năng tăng trọng giảm, số lượng và chất lượng của thịt, trứng giảm, dẫn đến năng suất chăn nuôi giảm thấp

Theo Shane S M (2005) [46], Leucocytozoonosis thường gặp ở các

nước nhiệt đới, đặc biệt là ở những nơi mà các trang trại nằm gần ao, hồ Đàn gia cầm mắc bệnh giảm mạnh tốc độ tăng trưởng, tỷ lệ chết cao có thể lên đến 100% nếu không được chữa trị kịp thời

Phạm Sỹ Lăng và cs (2005) [13] cho rằng: gà bị bệnh đơn bào đường

máu Leucocytozoon ở thể cấp tính có thể chết đột ngột do xuất huyết các nội

quan và thiếu máu cấp Gà mái giảm đẻ hoặc ngừng đẻ, kém ăn, giảm tăng trọng và gầy yếu nhanh Gà mắc bệnh sẽ chết sau 3 – 6 ngày với tỷ lệ tới trên 50% số gà bị bệnh

Lê Văn Năm (2011) [19] cho biết: tại một số địa phương như Bắc Giang, Thái Nguyên, Bắc Ninh, Hải Dương, Vĩnh Phúc, bệnh đơn bào

Leucocytozoon xuất hiện ở hầu hết các đàn gà nuôi thả vườn với tỷ lệ dao

động từ 40 – 70%, gây thiệt hại vô cùng to lớn cho người chăn nuôi

2.1.2.2 Dịch tễ học bệnh Leucocytozoon ở gà

Lê Văn Năm (2011) [19], bệnh do Leucocytozoon gây ra có tính chu kỳ rõ

rệt, phụ thuộc vào mùa sinh sản và phát triển của côn trùng hút máu truyền bệnh Nhưng theo Lê Đức Quyết và cs (2009) [21] cho biết: tỷ lệ nhiễm

Leucocytozoon phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố như: tuổi gia cầm, giống, địa

hình, vùng sinh thái, phương thức chăn nuôi

Trang 20

Loài gây bệnh và động vật mắc bệnh

Trong tự nhiên, gà, gà rừng, chim trĩ và các loài chim thuộc bộ gà

(Galliformes) đều có thể bị bệnh Bệnh từ gà nhà có thể truyền lây sang gà

rừng qua ký chủ trung gian và ngược lại

Phạm Sỹ Lăng và cs (2005) [13]; (2010) [17] cho rằng: có 4 loài đơn

bào giống Leucocytozoon chủ yếu ký sinh và gây bệnh cho gà:

* L caulleryi (Mathis et Leger, 1909)

Loài này ký sinh và gây bệnh cho gà nhà, gà rừng ở các nước thuộc Đông và Đông Á: Nhật Bản, Malaysia, Thái Lan, Việt Nam, các bang thuộc khu vực Bắc Mỹ

Vật chủ trung gian của L caulleryi là các loài dĩn thuộc giống

Culicoides như: C arakava, C circumscriptus, C odibilis

* L sabrazeis (Mathis et Leger, 1910)

Loài này ký sinh và gây bệnh cho gà và chim hoang dã ở các nước Đông Nam Á : Philippine, Thái Lan, Malaysia, Việt Nam

Vật chủ trung gian của L sabrazeis: các loài dĩn Culicoides spp và

Simulium spp

* L simondi (Mathis et Leger, 1910)

L simondi ký sinh và gây bệnh cho vịt nhà và vịt trời, ngỗng nhà và

ngỗng trời, các loài thuỷ cầm nuôi và hoang dã ở Mỹ, Canada, các nước vùng Balkan và Việt Nam

Vật chủ trung gian: các loài dĩn Simulium spp

* L smithi (Laveran et Lucet, 1905)

Loài này ký sinh ở gà tây tại các bang thuộc vùng Đông Mỹ (Bắc Dakota, Nebraska), CHLB Đức, các nước vùng Balkan

Vật chủ trung gian của L smithi là các loài dĩn Simulium spp

Trang 21

Lương Văn Huấn và Lê Hữu Khương (1997) [5] cho biết loài L

caullergyi có đặc điểm như sau: cơ thể đơn bào hơi tròn, kích thước 15,0 -

15,5 µm Tế bào vật chủ cũng tròn, kích thước 20 µm Ở trong cơ thể dĩn –

KCTG, Zygote có dạng tròn đường kính 14 µm, sau đó kéo dài, kích thước 21

µm, chúng xuyên qua vách ruột tạo thành Oocyst hình gần tròn, kích thước 4

-14 x 5 14 µm Oocyst phát triển thành thoi trùng (Sporozoite) Các thoi trùng

đến tuyến nước bọt của dĩn có kích thước 7 - 11 x 1 - 2 µm

Mùa vụ: Gà mắc bệnh ở tất cả các mùa trong năm, nhưng nhiễm nhiều

và nặng ở vụ Hè và vụ Xuân

Tuổi mắc bệnh: Gà ở các lứa tuổi đều bị bệnh Tuổi gà càng cao tỷ lệ

và cường độ nhiễm bệnh càng tăng

Yếu tố stress: các yếu tố strees như chuồng trại chật chội, khí hậu ẩm,

thấp, thức ăn kém dinh dưỡng đóng vai trò thúc đẩy mức độ và tốc độ lây

lan bệnh Leucocytozoon ở gà

Điều kiện vệ sinh thú y: điều kiện vệ sinh thú y đối với chuồng trại và

khu vực xung quanh chuồng trại, dụng cụ và môi trường chăn nuôi là một

trong những yếu tố có ảnh hưởng lớn tới khả năng nhiễm bệnh Leucocytozoon

của gà Điều này có liên quan mật thiết với sự tồn tại và phát triển của các loài dĩn hút máu – KCTG truyền bệnh

2.1.2.3 Cơ chế sinh bệnh của bệnh Leucocytozoon

Bệnh lây truyền từ gà bệnh sang gà khoẻ qua đường máu nhờ vật chủ

trung gian là các loài dĩn thuộc họ Culicoides spp và Simulium spp Dĩn hút

máu của gà bệnh có đơn bào ký sinh trong máu Vào cơ thể dĩn, đơn bào phát triển qua 3 giai đoạn, cuối cùng thành bào tử nằm ở tuyến nước bọt của dĩn Khi dĩn mang mầm bệnh hút máu gà khoẻ, bào tử sẽ được truyền cho gà khoẻ

và gây bệnh cho gà

Trang 22

Các bào tử xâm nhập vào các tế bào nội quan như: gan, lách, phổi, thận,

tổ chức cơ để trở thành bào tử (Schizont); các bào tử vào hồng cầu phát triển thành tiểu thể (Merozoite), giao tử thể (Gametocyte), đại giao tử (Marcrogametocyte) và tiểu giao tử (Mircrogametocyte) Chúng phát triển,

phá huỷ tế bào hồng cầu và gây hoại tử các cơ quan tổ chức, đặc biệt là lách

và gan Đồng thời chúng tiết ra chất antierythrocyte làm tan hồng cầu

2.1.2.4 Triệu chứng và bệnh tích bệnh Leucocytozoon

* Triệu chứng bệnh Leucocytozoon

Theo tài liệu của Viện Thú y Quốc gia (2001) [29]; (2002) [30], triệu

chứng chủ yếu của gà mắc bệnh do đơn bào Leucocytozoon gây ra là:

- Ho ra máu và chết đột ngột

- Thiếu máu, đặc biệt mào và tích do thiếu máu nên có màu tím tái

- Nhịp thở nhanh

- Phân có mầu xanh

- Giảm sản lượng trứng và trứng có vỏ mỏng (với gà mái đẻ)

- Xuất huyết da chân

Nguyễn Thị Kim Lan và cs (2009) [11] cho biết: Bệnh thường xảy ra thành dịch tại một số khu vực vùng núi và trung du thuộc các nước Đông Nam Á, nhất là vào mùa hè và mùa xuân, khi mà các loài dĩn - ký chủ trung gian phát triển và hoạt động mạnh

Thời gian ủ bệnh từ 4 - 7 ngày

Gà bệnh thể hiện các triệu chứng đặc trưng sau:

Thể cấp tính: gà ở lứa tuổi từ 1 - 3 tháng chết đột ngột do xuất huyết các nội tạng, hồng cầu tan vỡ hàng loạt, gây bần huyết cấp tính; ỉa chảy nặng, phân có màu xanh lá cây, thường có lẫn máu Gà mái đang đẻ bị bệnh sẽ giảm

đẻ hoặc ngừng đẻ do đơn bào tác động vào cơ quan sinh sản Gà trưởng thành

Trang 23

mắc bệnh sẽ giảm tăng trọng, gầy yếu nhanh, nhưng chết ít hơn gà con Gà ở lứa tuổi từ 1 - 3 tháng bị bệnh sẽ chết sau 3 - 6 ngày với tỷ lệ cao

Lê Văn Năm (2011) [19] cho biết, triệu chứng của bệnh Leucocytozoon

gồm các thể như sau:

- Thể quá cấp:

Trong suốt thời gian ủ bệnh, gà bị sốt cao nhưng có thể vẫn ăn uống bình thường nên người chăn nuôi hầu như không để ý, hoặc không quan sát thấy những biểu hiện bất thường của đàn gà Bệnh bỗng dưng bùng phát lẻ tẻ khi gặp các yếu tố stress bất lợi, với các triệu chứng điển hình như: đột nhiên

ho hoặc hắt hơi, mào, tích tái nhợt, ộc máu ra miệng, mũi, đôi khi ở cả hậu môn rồi chết Một số khác lại có triệu chứng lừ đừ hoặc có triệu chứng thần kinh, nhảy sốc lên rồi rơi xuống nền dãy dụa và chết Cả hai trường hợp trên đều do dập vỡ gan, hoặc xuất huyết não bởi sự phát triển quá mạnh của các

Leucocytozoon trong các cơ quan đó

Số gà chết như mô tả trên không sảy ra ồ ạt, nhưng tăng dần qua mỗi ngày Nếu không được chẩn đoán đúng và điều trị kịp thời, tỷ lệ chết

sẽ rất cao

- Thể cấp tính:

Đây là thể bệnh phổ biến nhất và gắn liền với thời tiết ẩm ướt do mưa phùn kéo dài Khí hậu ẩm thấp tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển, sinh sôi, nảy nở của ký chủ trung gian truyền bệnh

Trong những đàn gà mắc bệnh ở thể này, lúc đầu chỉ thấy một số ít gà

có biểu hiện sốt cao, mào thâm tái, sau vài ngày trở nên trắng bệch Khi cắt tiết gà thấy máu rất loãng, khó đông

Gà bị bệnh giảm ăn, ít vận động, đi lại không vững Gà bị tiêu chảy, phân có màu xanh đậm

Trang 24

Gà bệnh gầy sút nhanh, yếu dần và rất khó thở, thở khò khè, phải vươn

cổ ra để thở Nếu độ ẩm không khí cao, chuồng nuôi ẩm thấp thì gà bệnh càng khó thở và rất dễ chết Tuy nhiên, gà chết không ồ ạt, nhưng tỷ lệ chết tăng dần qua mỗi ngày Lúc đầu gà chỉ chết vào ban đêm, về sau chết bất kỳ lúc nào, tỷ lệ chết có thể lên đến 70% Bệnh nặng hơn nếu gà bị bệnh ghép với CRD, Newcastle

Ở gà mái: Triệu chứng thường thấy là giảm sản lượng trứng, đồng thời khối lượng trứng của gà bệnh cũng giảm rõ rệt, vỏ trứng mềm, dễ vỡ, hoặc ngược lại vỏ rất dầy Khi cho ấp trứng của những đàn gà đẻ bị mắc bệnh

Leucocytozoon thì tỷ lệ ấp nở giảm, gà mới nở bị chết yểu trong 3 - 5 ngày

đầu chiếm tỷ lệ rất cao

- Thể á cấp tính:

Đây là thể bệnh được chuyển sang từ thể cấp tính, ở những gà có sức đề kháng tốt hoặc ở gà trên 1 năm tuổi Bệnh thường thấy ở gà đang vào thời kỳ đẻ tốt nhất Bệnh cũng có thể xảy ra ở thủy cầm, hoang cầm và ít thấy ở gia cầm khác nuôi trên cạn

Gà bệnh sốt cao, giảm ăn, tiêu chảy, ho hen, chết rải rác Tỷ lệ chết ngày càng tăng và có thể lên đến 30 – 40 % tổng đàn

- Thể mãn tính:

Đây là thể bệnh thường gặp ở gà bị nhiễm số lượng Leucocytozoon ít

Ngoài ra, các loài chim hoang dã, gia cầm sống sót sau khi mắc bệnh hoặc những gia cầm, thủy cầm được chăn nuôi quảng canh cũng có thể bị bệnh ở thể mãn tính

Bệnh có những biểu hiện không rõ ràng, gà vẫn ăn uống bình thường, đôi khi giảm ăn tức thời Các triệu chứng như ủ rũ, động kinh hoặc đi lại không vững đều ngắt quãng, không xuất hiện liên tục Gà bệnh thiếu máu, lờ

đờ, tỷ lệ chết không đáng kể nhưng chúng mang mầm bệnh trong nhiều năm

và trở thành nguồn bệnh tiềm tàng nguy hiểm

Trang 25

* Bệnh tích bệnh Leucocytozoon

Ta thấy: xuất huyết đỏ sẫm ở tất cả các phủ tạng (tim, lách, phổi, thận) và tổ chức cơ Đôi khi cũng có các điểm hoại tử trắng trên mặt gan giống như bệnh tụ huyết trùng gia cầm Hoặc ta còn có thể thấy bệnh tích

ở đường tiêu hóa như: niêm mạc đường tiêu hoá bị tổn thương và xuất huyết khi mổ khám gà bệnh

Olsen O W (1986) [42] cho biết, gà bị nhiễm đơn bào Leucocytozoon

ở cường độ nặng, có các bệnh tích điển hình thì tỷ lệ tử vong cao Các cơ quan nội tạng ký chủ có số lượng đơn bào ký sinh khác nhau Các đơn bào ký sinh trong các cơ quan được bao bọc bởi một lớp do tế bào lympho và bạch

cầu đơn nhân lớn tạo nên thể Megaloschizont

Theo Lâm Thị Thu Hương (2005) [7], khi mổ khám và quan sát bằng mắt thường, thấy trên cơ thể gà có những nốt mầu trắng đục hay vàng, đỏ hoặc chuyển sang đen, có kích thước từ 0,2 - 0,5 mm, đôi khi lên đến 1 mm

Những nốt này là bệnh tích do một giai đoạn phát triển của đơn bào L

Caulleryi gây ra Đơn bào Leucocytozoon được phát hiện ở nhiều vị trí trên

cơ thể gà Một gà có thể nhiễm Leucocytozoon cùng lúc trên 6 cơ quan phủ tạng Sự nhiễm Leucocytozoon thường gặp nhiều nhất ở các cơ quan như

phổi, gan, thận, mô cơ

Lê Văn Năm (2011) [19] cho biết: bệnh tích đại thể của bệnh do đơn

bào Leucocytozoon gây ra ở gà rất điển hình, được quan sát thấy trong nhiều

cơ quan nội tạng như: gan, lách, thận, tim, phổi, ruột non, não, buồng trứng và ống dẫn trứng Những biến đổi đại thể ở các cơ quan nội tạng như sau:

Gan: sưng to, mềm nhũn và dễ vỡ, trên bề mặt gan thấy nhiều điểm

trắng Đây là kết quả của các thể phân lập của Leucocytozoon ở gan tạo nên,

làm ròn, xốp và tắc nghẽn các mao mạch, dẫn đến xuất huyết tràn lan, thậm chí vỡ mao mạch, dẫn đến vỡ gan, chảy máu vào xoang bụng

Trang 26

Lách: sưng to, ròn, dễ vỡ, trên bề mặt lách có nhiều điểm xuất huyết

hoặc hoại tử

Thận: sưng to, xuất huyết

Buồng trứng và ống dẫn trứng: buồng trứng bị viêm, thoái hóa; ống

dẫn trứng sưng, dầy lên và có nhiều điểm xuất huyết

Tim: tim to, cơ tim dầy lên nhưng trương lực cơ bị giảm, cơ trở nên

mềm nhão

Phổi: sung huyết nặng

Ruột non, dạ dày tuyến, dạ dày cơ: viêm tăng sinh, dầy lên, đôi khi

thấy các điểm hoại tử hoặc nốt loét

Não: các đại hợp bào phát triển ở não gây tắc nghẽn các mao mạch,

dẫn đến bị phù nề, sung huyết và xuất huyết não

2.1.2.5 Chẩn đoán bệnh Leucocytozoon

* Với gà còn sống

Nguyễn Xuân Bình và cs (2002) [1] cho biết: Hiện nay, có nhiều bệnh mới ở gia cầm có triệu chứng lâm sàng và bệnh tích giống nhau, nhưng nguyên nhân gây bệnh lại khác nhau, làm cho việc chẩn đoán lâm sàng và điều trị bệnh dễ bị sai lầm, gây nên những tổn thất đáng kể cho chăn nuôi

Do vậy, để chẩn đoán một cách chính xác bệnh có phải do ký sinh

trùng đường máu Leucocytozoon gây ra hay không, người ta thường sử dụng

kết hợp các phương pháp chẩn đoán để mang lại hiệu quả cao hơn

- Chẩn đoán lâm sàng: Gà lứa tuổi 1 - 3 tháng chết đột ngột, các phủ tạng đều bị xuất huyết; ỉa chảy, phân xanh có lẫn máu làm cho gà chết với tỷ lệ cao

- Chẩn đoán xét nghiệm: Lấy mẫu máu và phủ tạng, dàn tiêu bản, nhuộm Giemsa và soi kính để tìm đơn bào gây bệnh

Phạm Sỹ Lăng và cs (2009) [16] cho rằng: có thể sử dụng phương pháp làm tiêu bản máu, dàn mỏng, nhuộm Giemsa, kiểm tra dưới kính hiển vi tìm ký sinh trùng, và sử dụng phương pháp ngưng kết trên gel thạch để phát hiện

kháng thể kháng Leucocytozoon spp

Trang 27

- Chẩn đoán phân biệt

Nguyễn Thị Kim Lan và cs (2009) [11] cho biết: cần chẩn đoán phân biệt với bệnh tụ huyết trùng gia cầm Triệu chứng và bệnh tích của bệnh đơn bào đường máu ở gia cầm cũng giống như bệnh tụ huyết trùng gia cầm Nhưng bệnh đơn bào đường máu chỉ làm chết gà ở lứa tuổi 1 – 3 tháng Tuy nhiên, bệnh tụ huyết trùng làm gà chết ở tất cả các lứa tuổi Bệnh tụ huyết trùng gia cầm điều trị bằng Streptomycin có hiệu quả nhưng bệnh do đơn bào đường máu điều trị bằng Streptomycin lại không có hiệu quả

Theo Lê Văn Năm (2011) [19], cần chẩn đoán phân biệt bệnh do đơn

bào Leucocytozoon gây ra với các bệnh như bệnh Marek, bệnh bạch huyết (Leucosis), bệnh sốt rét gà

* Với gia cầm chết:

Phương pháp chẩn đoán sau khi gia cầm chết là phương pháp chính xác nhất Việc chẩn đoán được tiến hành qua phương pháp mổ khám, kiểm tra bệnh tích kết hợp với việc lấy các cơ quan nội tạng như gan, lách, phổi, thận

để tìm đơn bào Leucocytozoon ký sinh

- Định kỳ phun thuốc diệt côn trùng để diệt dĩn hút máu và truyền bệnh cho gà Có thể dùng Hantox-spray hoặc Iodin 1%, 2 - 3 tuần/ lần, đặc biệt là vào mùa hè và mùa thu khi dĩn hoạt động mạnh để không làm ảnh hưởng đến sức khỏe của đàn gà

Trang 28

Xây dựng và chuẩn bị chuồng trại nuôi gia cầm theo những tiêu chuẩn của Bộ Nông nghiệp và Công nghiệp thực phẩm (1993) [2] đưa ra như sau:

- Phải chuẩn bị đầy đủ chuồng nuôi, rèm che, kho đựng thức ăn, bể chứa nước, dụng cụ chăn nuôi, thuốc thú y, các phương tiện sưởi ấm, làm mát đảm bảo cho số lượng gà định nuôi

- Cây xanh, cỏ dại cách chuồng 10 – 15 mét phải được phát quang Các động vật cư trú truyền dịch bệnh cho đàn gà như chuột, cáo, chồn, côn trùng, chim tự nhiên phải được tiêu diệt

- Chuồng nuôi, hệ thống cống rãnh, khu vực kho chứa thức ăn, dụng cụ chăn nuôi phải được vệ sinh đảm bảo, sát trùng triệt để

- Có phòng mổ khám, chẩn đoán bệnh và thiêu xác hoặc hố tự hoại cách xa khu vực chăn nuôi và cuối hướng gió

* Trị bệnh

Có thể sử dụng một trong các loại Sulfonamide sau để điều trị gà bệnh:

- Pyrimethamin: dùng liều 0,5 - 1 ppm/ kg thức ăn, cho gà ăn 2 tuần liên tục

- Sulfadimethoxin: dùng liều 50 - 75mg/ kg thức ăn, cho gà ăn liên tục 1 - 2 tuần

- TĐ.DAMITON: dùng liều 1gr/30kg TT, pha nước uống hoặc trộn vào thức ăn

- Sulfaquinoxalin: dùng liều 50mg/ kg thức ăn, cho gà ăn liên tục 1 - 2 tuần

Để nâng cao hiệu quả điều trị, dùng phối hợp thuốc Sulfonamide với vitamin B1, vitamin C

Orlov F M (1975) [20] cho biết: có ý kiến cho rằng, aterbin có tác dụng đến giao tử bào thành thục

Tuy nhiên, Saif Y M (2003) [45] cho rằng: Hiệu quả điều trị bệnh

Leucocytozoonsis là hạn chế Đối với L Simondi, điều trị không có hiệu quả

Pyrimethamine (1ppm) và Sulfadimethoxine (10ppm) sử dụng đồng thời để

điều trị bệnh cũng không có hiệu quả với L caullergyi

Trang 29

Theo Lê Văn Năm (2011) [19]: Các loại thuốc có chứa các nguyên liệu như: Sulfamonomethoxin, Salfadimethoxin, Clopidol đều có tác dụng phòng

trị tốt bệnh do Leucocytozoon gây ra Tác giả cho biết thêm, hiện nay bệnh ký

sinh trùng đường máu thường bị bội nhiễm và ghép với nhiều bệnh khác Do

đó chúng ta cần phải phối hợp các phác đồ khi điều trị thì mới có hiệu quả

điều trị cao

2.2 Tình hình nghiên cứu về bệnh Leucocytozoon

2.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước

Lâm Thị Thu Hương và cs (2005) [7] cho biết: tần suất xuất hiện các

nang Leucocytozoon trên một số cơ quan phủ tạng của gà tương ứng: cơ là

96,22%, phổi là 92,45%, thận là 86,80%, gan là 81,13%

Theo Hoàng Thạch (2004) [22], các cơ quan nội tạng nếu nhiễm

Leucocytozoon Ở cường độ nhẹ thì chưa thấy biến đổi gì, nhưng nếu nhiễm

vừa và nặng (3 - 6 ký sinh trùng trên 1 vi trường) thì xuất hiện sự thoái hoá, biến màu, thậm chí hoại tử từng đám nhỏ, nếu kéo dài thì tăng sinh, làm giảm chức năng hoạt động hoặc bị phá hoại, rõ nhất là gan và lách

Lê Đức Quyết và cs (2009) [21] cho biết: tỷ lệ nhiễm Leucocytozoon

phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố như: tuổi gia cầm, giống, địa hình, vùng sinh thái, phương thức chăn nuôi… Bằng phương pháp nhuộm Giemsa và định

loại đơn bào Leucocytozoon ký sinh trên đàn gà ở một số tỉnh Nam Trung Bộ

(căn cứ vào hình thái, vị trí, mầu sắc, kích thước của các giao tử gametocyte ký

sinh trong máu gà), tác giả cũng đã xác định có 2 loài ký sinh trên đàn gà là L

caullergyi và L sabrazesi

Khi khảo sát tình hình nhiễm ký sinh trùng đường máu trên gà thịt tại hai tỉnh Vĩnh Long và Sóc Trăng, Nguyễn Hữu Hưng (2011) [6] cho biết: đàn

gà thịt nhiễm ký sinh trùng đường máu với tỷ lệ khá cao (30,47%) Trong đó

tỷ lệ nhiễm ở Vĩnh Long là 32,38% và ở Sóc Trăng là 28,22% Tác giả cũng

Trang 30

cho biết gà Tam Hoàng có tỷ lệ nhiễm cao hơn hai giống Newlohman và Brown AAA Gà nuôi nuôi theo kiểu chuồng hở tỷ lệ nhiễm cao hơn so với kiểu chuồng kín

2.2.2 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài

Morii T và cs (1984) [38] đã thử nghiệm lây nhiễm những thoi trùng

Leucocytozoon được chiết từ tuyến nước bọt của dĩn, kết quả nhận thấy: các

thoi trùng được phân lập vào ngày thứ 2 sau khi dĩn hút máu gia cầm bệnh thì không lây nhiễm được cho gà Các thoi trùng được phân lập vào ngày thứ 3 thì có khả năng gây nhiễm cho gà

Morii T và cs (1986) [39] đã phân lập các thoi trùng từ tuyến nước bọt

của Culicoides arakawa và gây bệnh cho gà Kết quả thấy thoi trùng xuất hiện

trong ngoại vi máu gia cầm vào ngày thứ 15 và biến mất vào ngày thứ 26 sau khi gây nhiễm Kháng nguyên hòa tan được tìm thấy trong huyết thanh của gà gây nhiễm trong khoảng 10 – 10 ngày và kháng thể tương đồng xuất hiện ở ngày thứ 10 sau gây nhiễm

Huchzermeyer F W và Sutherland B (1978) [34] lần đầu tiên đã phát

hiện được Leucocytozoon smithi ở phía Bắc Châu Phi và tác giả cho rằng

Simulium nigritarse là ký chủ trung gian của ký sinh trùng này

Steele E J và cs (2001) [47] cho biết: sự phát triển của Leucocytozoon

smithi có những nét tương đồng với sự phát triển của các loài Plasmodium và Haemoproteus trong ký chủ trung gian

Nakamura K và cs (2001) [41] nghiên cứu ảnh hưởng của Leucocytozoon trên gà đẻ nhận thấy: Leucocytozoon ảnh hưởng nghiêm trọng đến khả năng sản

xuất trứng của gà, thậm chí có thể ngừng đẻ Tím thấy một số lượng lớn thể phân liệt thế hệ 2 trong buồng trứng và ống dẫn trứng Gây phù và làm giảm áp lực của các mô lận cận với các mô có đơn bào ký sinh

Bằng phương pháp sử dụng phản ứng chuỗi polimerasa (PCR) giao thức

là sự kết hợp của 3 chuỗi PCR riêng biệt của các loài Haemoproteus,

Plasmodium và Leucocytozoon, Hellgren O và cs (2004) [33] đã tìm thấy 22

Trang 31

loài ký sinh trùng khác nhau gồm có 4 loài Haemoproteus, 8 loài Plasmodium

và 10 loài Leucocytozoon trong 6 loài chim tước được nghiên cứu

Omori S và cs (2008) [43] đã phân tích bộ gen của Leucocytozoon

caulleryi Kết quả đã mô tả được bộ gen nhiễm sắc thể của L Caulleryi với

chiều dài 5.959 bp

Shane S M (2005) [46] cho biết: việc kết hợp Clopidol anticoccidial trong thức ăn chăn nuôi với các hàm lượng khác nhau từ 125 – 250 ppm đã

ngăn chăn được Leucocytozoonosis ở gà tây tại Hoa Kỳ

Tully T N và cs (2009) [48] cho rằng: việc sử dụng Chloriquine (250 mg/ 120 ml nước uống cho 1 – 2 tuần) hoặc pyrimethamine có thể điều trị

được bệnh do Leucocytozoon gây ra

Omori S và cs (2010) [44] đã sử phương pháp phân tích đếm tế bào

dòng chảy, tách giao bào Leucocytozoon để xác định sự có mặt của đơn bào

trong máu Phương pháp này có thể xác định được những mẫu máu bị nhiễm

ký sinh trùng đường máu mà các phương pháp thông thường khác không tìm thấy được

Hill A G và cs (2010) [32] sử dụng phương pháp PCR để kiểm tra 107 mẫu máu chim cánh cụt mắt vàng từ 4 khu vực riêng biệt trên khu vực phía nam đảo Oamaru Kết quả kiểm tra thấy 83% số mẫu kiểm tra là dương tính

Trang 32

Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Đối tượng nghiên cứu

- Bệnh đơn bào Leucocytozoon ở gà

- Gà nuôi tại xã Hóa Trung thuộc huyện Đồng Hỷ - tỉnh Thái Nguyên và trại gia cầm khoa Chăn nuôi Thú y- trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên

3.2 Vật liệu nghiên cứu

* Vật liệu nghiên cứu

- Gà khỏe và gà bị bệnh Leucocytozoonosis để thử nghiệm hiệu quả điều trị của một số phác đồ điều trị bệnh Leucocytozoon cho gà

- Mẫu máu gà khỏe và gà bệnh (để xác định sự thay đổi các chỉ số máu)

- Mẫu máu gà (để xác định tỷ lệ và cường độ nhiễm Leucocytozoon)

* Dụng cụ và hoá chất

- Kính hiển vi quang học, kính lúp

- Bộ kim lấy máu

- Thuốc nhuộm giemsa

- Dầu Bạch dương, cồn 960, cồn methanol

- Hoá chất và các dụng cụ thí nghiệm khác

- Thuốc điều trị bệnh Leucocytozoon ở gà

3.3 Địa điểm và thời gian nghiên cứu

3.3.1 Địa điểm nghiên cứu

- Đề tài thực hiện ở trại gia cầm khoa Chăn nuôi Thú y- trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên và các nông hộ, các trại chăn nuôi gà gia đình và tập thể với các quy

mô khác nhau tại xã Hóa Trung thuộc huyện Đồng Hỷ - tỉnh Thái Nguyên

- Địa điểm xét nghiệm mẫu:

Phòng thí nghiệm Khoa Chăn nuôi Thú y - Trường ĐH Nông Lâm Thái Nguyên

Ngày đăng: 01/09/2020, 12:00

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

SƠ ĐỒ VÒNG ĐỜI - Nghiên cứu bệnh đơn bào đường máu tại trại gà Khoa Chăn nuôi Thú y Trường Đại học Nông Lâm và huyện Đồng Hỷ - tỉnh Thái Nguyên, sử dụng thuốc điều trị
SƠ ĐỒ VÒNG ĐỜI (Trang 18)
Bảng 4.1: Tỷ lệ và cường độ nhiễm Lecocytozoon ở gà tại huyện Đồng Hỷ-  tỉnh Thái Nguyên và trại gia cầm khoa Chăn nuôi Thú y tại trường - Nghiên cứu bệnh đơn bào đường máu tại trại gà Khoa Chăn nuôi Thú y Trường Đại học Nông Lâm và huyện Đồng Hỷ - tỉnh Thái Nguyên, sử dụng thuốc điều trị
Bảng 4.1 Tỷ lệ và cường độ nhiễm Lecocytozoon ở gà tại huyện Đồng Hỷ- tỉnh Thái Nguyên và trại gia cầm khoa Chăn nuôi Thú y tại trường (Trang 39)
Hình 4.1: Biểu đồ tỷ lệ nhiễm Leucocytozoon ở gà theo địa phương - Nghiên cứu bệnh đơn bào đường máu tại trại gà Khoa Chăn nuôi Thú y Trường Đại học Nông Lâm và huyện Đồng Hỷ - tỉnh Thái Nguyên, sử dụng thuốc điều trị
Hình 4.1 Biểu đồ tỷ lệ nhiễm Leucocytozoon ở gà theo địa phương (Trang 42)
Hình 4.2: Biểu đồ cường độ nhiễm đơn bào Leucocytozoon - Nghiên cứu bệnh đơn bào đường máu tại trại gà Khoa Chăn nuôi Thú y Trường Đại học Nông Lâm và huyện Đồng Hỷ - tỉnh Thái Nguyên, sử dụng thuốc điều trị
Hình 4.2 Biểu đồ cường độ nhiễm đơn bào Leucocytozoon (Trang 42)
Bảng 4.2: Tỷ lệ và cường độ nhiễm Leucocytozoon ở gà theo tuổi - Nghiên cứu bệnh đơn bào đường máu tại trại gà Khoa Chăn nuôi Thú y Trường Đại học Nông Lâm và huyện Đồng Hỷ - tỉnh Thái Nguyên, sử dụng thuốc điều trị
Bảng 4.2 Tỷ lệ và cường độ nhiễm Leucocytozoon ở gà theo tuổi (Trang 43)
Bảng 4.3: Tỷ lệ và cường độ nhiễm Leucocytozoon ở gà theo - Nghiên cứu bệnh đơn bào đường máu tại trại gà Khoa Chăn nuôi Thú y Trường Đại học Nông Lâm và huyện Đồng Hỷ - tỉnh Thái Nguyên, sử dụng thuốc điều trị
Bảng 4.3 Tỷ lệ và cường độ nhiễm Leucocytozoon ở gà theo (Trang 46)
Hình 4.4: Biểu đồ tỷ lệ nhiễm đơn bào Leucocytozoon - Nghiên cứu bệnh đơn bào đường máu tại trại gà Khoa Chăn nuôi Thú y Trường Đại học Nông Lâm và huyện Đồng Hỷ - tỉnh Thái Nguyên, sử dụng thuốc điều trị
Hình 4.4 Biểu đồ tỷ lệ nhiễm đơn bào Leucocytozoon (Trang 47)
Bảng 4.4: Tỷ lệ nhiễm Leucocytozoon theo tính biệt gà - Nghiên cứu bệnh đơn bào đường máu tại trại gà Khoa Chăn nuôi Thú y Trường Đại học Nông Lâm và huyện Đồng Hỷ - tỉnh Thái Nguyên, sử dụng thuốc điều trị
Bảng 4.4 Tỷ lệ nhiễm Leucocytozoon theo tính biệt gà (Trang 48)
Bảng 4.6: Tỷ lệ và cường độ nhiễm Leucocytozoon theo loại gà - Nghiên cứu bệnh đơn bào đường máu tại trại gà Khoa Chăn nuôi Thú y Trường Đại học Nông Lâm và huyện Đồng Hỷ - tỉnh Thái Nguyên, sử dụng thuốc điều trị
Bảng 4.6 Tỷ lệ và cường độ nhiễm Leucocytozoon theo loại gà (Trang 51)
Bảng 4.7: Tỷ lệ và các triệu chứng lâm sàng của gà - Nghiên cứu bệnh đơn bào đường máu tại trại gà Khoa Chăn nuôi Thú y Trường Đại học Nông Lâm và huyện Đồng Hỷ - tỉnh Thái Nguyên, sử dụng thuốc điều trị
Bảng 4.7 Tỷ lệ và các triệu chứng lâm sàng của gà (Trang 52)
Bảng 4.8: Hiệu lực và độ an toàn của 2 phác đồ điều trị bệnh - Nghiên cứu bệnh đơn bào đường máu tại trại gà Khoa Chăn nuôi Thú y Trường Đại học Nông Lâm và huyện Đồng Hỷ - tỉnh Thái Nguyên, sử dụng thuốc điều trị
Bảng 4.8 Hiệu lực và độ an toàn của 2 phác đồ điều trị bệnh (Trang 54)
Hình 1. Lấy máu kiểm tra tỷ lệ nhiễm leucocytozoon - Nghiên cứu bệnh đơn bào đường máu tại trại gà Khoa Chăn nuôi Thú y Trường Đại học Nông Lâm và huyện Đồng Hỷ - tỉnh Thái Nguyên, sử dụng thuốc điều trị
Hình 1. Lấy máu kiểm tra tỷ lệ nhiễm leucocytozoon (Trang 63)
Hình 2.  VSTY kém tạo điều kiện cho vecto   truyền bệnh là loài Dĩn phát triển - Nghiên cứu bệnh đơn bào đường máu tại trại gà Khoa Chăn nuôi Thú y Trường Đại học Nông Lâm và huyện Đồng Hỷ - tỉnh Thái Nguyên, sử dụng thuốc điều trị
Hình 2. VSTY kém tạo điều kiện cho vecto truyền bệnh là loài Dĩn phát triển (Trang 63)
Hình 3. Sử dụng thuốc điều trị bệnh đơn trùng leucocytozoon - Nghiên cứu bệnh đơn bào đường máu tại trại gà Khoa Chăn nuôi Thú y Trường Đại học Nông Lâm và huyện Đồng Hỷ - tỉnh Thái Nguyên, sử dụng thuốc điều trị
Hình 3. Sử dụng thuốc điều trị bệnh đơn trùng leucocytozoon (Trang 64)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm