Xuất phát từ cơ sở trên, theo nguyện vọng của bản thân và sự nhất trí của Ban Giám hiệu nhà trường, Ban chủ nhiệm Chăn nuôi Thú y - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên và sự giúp đỡ của
Trang 1KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Thú y Khoa : Chăn nuôi Thú y Khóa học : 2010 – 2014
Thái Nguyên – 2014
Trang 2KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Thú y Khoa : Chăn nuôi Thú y Khóa học : 2010 – 2014
Giảng viên hướng dẫn : TS Trần Văn Thăng Khoa Chăn nuôi Thú y - Trường Đại học Nông Lâm
Thái Nguyên – 2014
Trang 3Lâm Thái Nguyên cũng như trong thời gian thực tập tại trại Nga Đồng, xã Dị Nậu, huyện Tam Nông, tỉnh Phú Phọ tôi đã nhận được sự giúp rất nhiệt tình
và quý báu của các thầy cô Ban Giám hiệu nhà trường, Ban chủ nhiệm khoa Chăn nuôi Thú y cùng toàn bộ các thầy cô trong khoa Nhân dịp này tôi xin bầy tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc đến:
Ban chủ nhiệm khoa Chăn nuôi Thú y trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
Ban lãnh đạo, cùng các kỹ thuật viên và công nhân tại trại Nga Đồng Cùng tập thể các thầy cô giáo trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
đã tạo mọi điều kiện cho tôi hoàn thành khóa luận này đúng thời hạn
Đặc biệt tôi xin chân thành cảm ơn sự quan tâm giúp đỡ rất nhiệt tình
của thầy giáo hướng dẫn TS Trần Văn Thăng Nhân đây tôi cũng xin bầy tỏ
lòng biết ơn tới gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã thường xuyên tạo mọi điều kiện giúp đỡ, động viên tôi trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành khóa luận này
Cuối cùng tôi xin chúc các thầy cô giáo mạnh khỏe, hạnh phúc, đạt nhiều thành tích trong giảng dạy và nhiều thành công trong nghiên cứu khoa học
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2014
Trang 4
trò không thể thiếu trong nền giáo dục hiện nay Trong quá trình thực tập giúp sinh viên tiếp cận và nắm bắt thực tế sản xuất, củng cố kiến thức đã học, đồng thời áp dụng lý thuyết vào thực tiễn sản xuất, từ đó nâng cao kiến thức chuyên môn nắm vững các phương pháp nghiên cứu khoa học
Ngoài ra thực tập tốt nghiệp cũng là thời gian sinh viên rèn luyện, học hỏi kinh nghiệm của người đi trước, nhằm trang bị những kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ và công tác quản lý sau khi tốt nghiệp ra trường có thể trở thành một người cán bộ khoa học có trình độ chuyên môn, tay nghề vững vàng
Xuất phát từ cơ sở trên, theo nguyện vọng của bản thân và sự nhất trí của Ban Giám hiệu nhà trường, Ban chủ nhiệm Chăn nuôi Thú y - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên và sự giúp đỡ của trại Nga Đồng - Ban lãnh đạo xã Dị Nậu, cùng với sự hướng dẫn tận tình của thầy cô, kỹ thuật
trại tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá tình hình nhiễm bệnh đường hô hấp trên đàn lợn từ sau cai sữa đến xuất bán và thử nghiệm một số phác đồ điều trị”
Tuy nhiên, do thời gian thực tập có hạn và trình độ bản thân còn nhiều hạn chế nên khoá luận tốt nghiệp của tôi không tránh khỏi những thiếu sót, kính mong được sự bổ sung, góp ý của thầy cô và bạn bè để khoá luận tốt nghiệp của tôi hoàn thiện hơn
Trang 5Bảng 1.1: Kết quả sản xuất của trại năm 2012, 2013 và 2014 6
Bảng 1.2: Lịch phòng bệnh cho đàn lợn thịt 13
Bảng 1.3: Kết quả công tác phục vụ sản xuất 16
Bảng 2.1: Sơ đồ bố trí thí nghiệm 48
Bảng 2.2: Tỷ lệ mắc bệnh đường hô hấp ở lợn thịt nuôi tại trại Nga Đồng 51
Bảng 2.3: Tỷ lệ mắc bệnh đường hô hấp ở lợn theo đàn và theo cá thể 52
Bảng 2.4: Tỷ lệ mắc bệnh đường hô hấp của lợn theo lứa tuổi 54
Bảng2.5: Tỷ lệ mắc mắc bệnh đường hô hấp theo tháng 55
Bảng 2.6: Tỷ lệ mắc bệnh đường hô hấp theo tính biệt 56
Bảng 2.7: Tỷ lệ lợn chết do mắc bệnh đường hô hấp 57
Bảng 2.8: Những biểu hiện lâm sàng của lợn mắc bệnh đường hô hấp 58
Bảng 2.9: Bệnh tích của lợn mắc bệnh đường hô hấp 59
Bảng 2.10: Kết quả điều trị bệnh đường hô hấp của 2 phác đồ điều trị 60
Bảng 2.11: Tỷ lệ tái nhiễm bệnh đường hô hấp ở lợn thịt và kết quả điều trị lần 2 61
Trang 6Viết tắt Viết đầy đủ
CP : Charoe Pokphand Group
Trang 7Phần 1: CÔNG TÁC PHỤC VỤ SẢN XUẤT 1
1.1 ĐIỀU TRA CƠ BẢN 1
1.1.1 Điều kiện tự nhiên 1
1.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 3
1.1.3 Tình hình sản xuất 3
1.1.4 Cơ cấu tổ chức, chức năng và nhiệm vụ của trại chăn nuôi 5
1.1.5 Đánh giá chung 10
1.2 NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP VÀ KẾT QUẢ PHỤC VỤ SẢN XUẤT 11
1.2.1 Nội dung phục vụ sản xuất 11
1.2.2 Phương pháp tiến hành 12
1.2.3 Kết quả công tác phục vụ sản xuất 12
1.3 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 17
1.3.1 Kết luận 17
1.3.2 Kiến nghị 17
Phần 2: CHUYÊN ĐỀ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC 18
2.1 ĐẶT VẤN ĐỀ 18
2.1.1 Tính cấp thiết của đề tài 18
2.1.2 Mục tiêu của đề tài 19
2.1.3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 19
2.2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 19
2.2.1 Cơ sở khoa học của đề tài 19
2.2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước và trên thế giới 43
2.3 Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu 46
2.3.1 Đối tượng nghiên cứu 46
2.3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 46
Trang 82.3.5 Các chỉ tiêu theo dõi 48
2.3.6 Phương pháp theo dõi từng chỉ tiêu 49
2.4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 51
2.4.1 Tỷ lệ mắc bệnh đường hô hấp ở lợn thịt tại trại lợn Nga Đồng 51
2.4.2 Tỷ lệ có biểu hiện bệnh đường hô hấp ở lợn theo đàn và theo cá thể 52
2.4.3 Tỷ lệ mắc bệnh đường hô hấp theo lứa tuổi ở lợn thịt 53
2.4.4 Tỷ lệ mắc bệnh đường hô hấp ở lợn thịt theo tháng 55
2.4.5 Tỷ lệ mắc bệnh đường hô hấp theo tính biệt ở lợn thịt 56
2.4.6 Tỷ lệ lợn chết do mắc bệnh đường hô hấp 57
2.4.7 Những biểu hiện lâm sàng và bệnh tích của lợn mắc bệnh 58
2.4.8 Kết quả điều trị bệnh đường hô hấp theo hai phác đồ điều trị 59
2.4.9 Tỷ lệ tái nhiễm bệnh đường hô hấp ở lợn thịt và hiệu quả điều trị lần 2 60
2.4.10 So sánh chi phí điều trị bệnh đường hô hấp của hai phác đồ điều trị 61 2.5 KẾT LUẬN, TỒN TẠI VÀ ĐỀ NGHỊ 62
2.5.1 Kết luận 62
2.5.2 Tồn tại 63
2.5.3 Đề nghị 63
TÀI LIỆU THAM KHẢO 65
I TÀI LIỆU TIẾNG VIỆT 65
II TÀI LIỆU DỊCH TỪ TIẾNG NƯỚC NGOÀI 66
III TÀI LIỆU TIẾNG ANH 66
Trang 9Phần 1 CÔNG TÁC PHỤC VỤ SẢN XUẤT
1.1 ĐIỀU TRA CƠ BẢN
1.1.1 Điều kiện tự nhiên
1.1.1.1 Vị trí địa lý
Trại lợn Nga Đồng là một đơn vị chăn nuôi gia công thuộc Công ty
cổ phần chăn nuôi CP - Việt Nam đóng trên địa phận hành chính xã Dị Nậu, huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ Xã Dị Nậu nằm ở phía Nam huyện Tam Nông, tọa độ địa lý khoảng 21015' vĩ Bắc và 105015' kinh Đông, bên cạnh đầm Dị Nậu (đầm Nậu), phía Tây Nam giáp xã Giáp Lai, huyện Thanh Sơn Phía Đông Nam giáp xã Đào Xá, huyện Thanh Thủy Phía Đông Dị Nậu giáp thị trấn Hưng Hóa, phía Bắc và Đông Bắc giáp xã Hương Nộn, phía Tây Bắc giáp xã Thọ Văn Nhìn chung đây là một vị trí khá thuận lợi cho một trại chăn nuôi vì nó xa khu công nghiệp, xa khu dân
cư và đường giao thông chính (cách quốc lộ khoảng 300 m) nhưng vẫn thuận tiện cho vận chuyển thức ăn và xuất lợn
1.1.1.2 Điều kiện địa hình, đất đai
Trại nằm trên quả đồi xung quanh là đầm, diện tích tự nhiên của xã là 891,74 ha, cơ cấu sử dụng đất đai của xã như sau :
- Đất nông nghiệp 541,97 ha chiếm 60,78% diện tích tự nhiên gồm: Đất sản xuất nông nghiệp 537,43 ha
Đất nuôi trồng thủy sản 3,54 ha
Đất nông nghiệp khác 1,00 ha
- Đất phi nông nghiệp 273,28 ha chiếm 30,65% diện tích đất tự nhiên gồm: Đất xây dựng trụ sở cơ quan, công trình sự nghiệp 0,84 ha
Đất quốc phòng 0,24 ha
Trang 10Đất khu công nghiệp 16,26 ha
Đất cơ sở sản xuất kinh doanh 0,58 ha
Đất tín ngưỡng tôn giáo, tín ngưỡng 3,66 ha
Đất nghĩa trang, nghĩa địa 8,87 ha
Đất di tích thắng cảnh 0,13 ha
Đất xử lý, chôn lấp chất thải 0,57 ha
Đất sông suối và mặt nước chuyên dùng 56,01 ha
Đất phát triển hạ tầng 186,12 ha
Đất khu dân cư nông thôn 76,49 ha chiếm 8,57% diện tích đất tự nhiên
1.1.1.3 Điều kiện khí hậu thuỷ văn
Trại chăn nuôi Nga Đồng nằm trong khu vực có khí hậu nhiệt đới gió mùa Phân ra làm 4 mùa: Xuân, Hạ, Thu, Đông, chia bốn mùa rõ rệt:
Mùa Hè nóng ẩm mưa nhiều từ tháng 5 đến tháng 10 hàng năm, lượng mưa chiếm 85%, nhiều nhất tháng 7, 8 Mùa Đông lạnh, khô, ít mưa, kéo dài
từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau
Khí hậu của xã Dị Nậu có những đặc trưng sau:
Nhiệt độ trung bình của xã: 21 - 23,3oC
Nhiệt độ cao nhất: 36 - 37oC (tháng 6, 7)
Nhiệt độ thấp nhất: 9 - 10oC (tháng 11, 12)
Ẩm độ tương đối trung bình/năm: 70 - 85% Tháng cao nhất là 90%, tháng thấp nhất là 65%
Lượng mưa trung bình/năm: 1900 mm
Với điều kiện khí hậu như vậy nhìn chung thuận lợi cho phát triển cả về trồng trọt lẫn chăn nuôi Tuy nhiên, cũng có những giai đoạn điều kiện khí hậu thay đổi thất thường như hạn hán, mùa Hè có ngày nhiệt độ rất cao (39 - 40oC), mùa Đông có ngày nhiệt độ rất thấp (dưới 10oC) ảnh hưởng xấu đến sản xuất nông nghiệp
Trang 11* Nguồn nước
Nguồn nước từ chăn nuôi của trại được lấy từ giếng khoan, đảm bảo nước sạch và đủ nhu cầu sinh hoạt cho công nhân và nước dùng cho lợn trong trại ngay cả mùa Hè oi bức Nguồn nước cho trồng trọt được lấy từ ao cá và tận dụng nước tự nhiên
1.1.1.4 Điều kiện giao thông
Cơ sở chăn nuôi nằm trong xã Dị Nậu nơi chỉ có hơn 5 km đường dải nhựa, khu vực xã không có đường quốc lộ chạy qua Tuy nhiên đây là một vị trí khá thuận lợi cho một trại chăn nuôi vì nó xa khu công nghiệp, xa khu dân
cư và đường giao thông chính (cách quốc lộ khoảng 300 m) nhưng vẫn thuận tiện cho vận chuyển thức ăn và xuất lợn
1.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
Trại có vị trí thuận lợi cho việc vận chuyển hàng hóa, tiêu thụ sản phẩm
và phân phối con giống
Từ những năm mới thành lập cơ sở còn nhiều khó khăn, chăn nuôi chủ yếu là nuôi lợn thương phẩm với số lượng ít, từ khi chuyển sang nền kinh tế thị trường, cơ sở vật chất của trại được xây dựng hoàn chỉnh hơn và đầy đủ về phương tiện, dụng cụ thú y trong chăn nuôi Hàng năm bán ra thị trường gần
5000 con lợn thịt
Dân cư xung quanh chủ yếu sinh sống với nghề nông nghiệp và buôn bán, ngoài ra còn có một số hộ gia đình là công nhân viên chức nhà nước Nhìn chung tình hình dân trí của các cụm dân cư xung quanh khá tốt nên cũng
là điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của trại
1.1.3 Tình hình sản xuất
1.1.3.1 Tình hình sản xuất của ngành chăn nuôi
Là địa phương có vị trí địa lý, địa hình cũng như khí hậu có nhiều đặc trưng phong phú cho nên tạo cho Dị Nậu có nền sản xuất nông nghiệp đa
Trang 12dạng với đầy đủ các loại cây trồng, vật nuôi Xã Dị Nậu đã tập trung chỉ đạo nhân rộng các mô hình nông nghiệp giá trị kinh tế cao nhằm phát huy tối đa hiệu quả giá trị sử dụng đất ở địa phương Đẩy mạnh chương trình chuyển đổi
cơ cấu vật nuôi, cây trồng, theo các mô hình chuyên canh, đa canh, nuôi thủy sản (lúa + cá + vịt)
Địa phương chăn nuôi nhiều loại gia súc, gia cầm và con đặc sản Xong chủ yếu vẫn là chăn nuôi lợn, gà, ngan, vịt, trâu, bò
Qua điều tra cho thấy ở Dị Nậu phát triển mạnh chăn nuôi lợn theo mô hình trang trại, gia trại hiện có 1 trại lợn thịt quy mô 1.200 con/lứa, 1 trại lợn nái quy mô 600 con nái ngoại, 20 gia trại chăn nuôi lợn thịt quy mô từ 100 đến 500 con/lứa Hình thức chăn nuôi nhỏ lẻ trong các gia đình đang thu hẹp
và không phát triển do không có lãi hoặc bị rủi ro do dịch bệnh Một trại chăn nuôi gà công nghiệp quy mô 4.000 con/lứa Cùng với chăn nuôi gia súc, gia cầm, một mũi nhọn khác của Dị Nậu là nuôi trồng thủy sản Năng suất thủy sản trung bình đạt từ 6,2 - 6,5 tấn cá/ha/năm; cho thu nhập từ 75 - 85 triệu đồng/ha/năm; cao gấp 2,5 đến 3 lần so với cấy lúa Nhiều hộ đầu tư vốn lớn cho thu nhập lên tới 100 - 120 triệu đồng/ha/năm
Riêng trại Nga Đồng chủ yếu nuôi lợn thịt với chất lượng cao nhằm mục đích nuôi thịt, với mong muốn tăng tỷ lệ nạc, phục vụ cho công tác xuất khẩu thịt lợn
Ngoài lĩnh vực sản xuất chính là chăn nuôi lợn, trại còn sử dụng diện tích ao hồ vào việc chăn nuôi cá thịt, tận dụng chất thải từ chăn nuôi lợn, tận dụng đất để nuôi gà góp phần tăng thu nhập và tạo việc làm cho công nhân trong trại Mỗi vụ thu nhập từ ao cá đạt 100 - 150 triệu đồng/vụ
1.1.3.2 Tình hình sản xuất của ngành trồng trọt
Ngành trồng trọt được phát triển với nhiều loại cây trồng như lúa, ngô, sắn, lạc, đậu tương Nhóm cây ăn quả có nhãn, vải thiều, chuối Nhìn chung vẫn tập trung vào các cây nhóm lương thực là chủ yếu
Trang 13Nhiệm vụ chính của trại Nga Đồng là chăn nuôi cho nên trong những năm vừa qua việc phát triển ngành trồng trọt chỉ là 1 lĩnh vực phụ Tổng diện tích của trại là 3 ha phục vụ chăn nuôi là chủ yếu Trại triển khai trồng các loại cây ăn quả, chuối, bưởi, nhãn, ổi, đu đủ, na, khế, các loại rau, các loại cỏ nhằm xây dựng thành một mô hình sản xuất khép kín, cân bằng sinh thái
1.1.4 Cơ cấu tổ chức, chức năng và nhiệm vụ của trại chăn nuôi
1.1.4.1 Cơ cấu tổ chức của trại
- Cơ cấu tổ chức, chức năng và nhiệm vụ của trại
Trại có đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật giỏi, giàu kinh nghiệm thực
tế, có ban lãnh đạo trại năng động nhiệt tình với công việc Đặc biệt trại có một đội ngũ công nhân yêu nghề và đã có nhiều kinh nghiệm trong nghề Trại gồm 12 người được cơ cấu như sau:
Quản lý: 1 người
Kỹ thuật: 2 người
Phục vụ: 1 người
Lao động trực tiếp: 8 người
- Cơ sở vật chất kỹ thuật của trại
+ Hệ thống chuồng trại
Khu sản xuất của trại được đặt trên khu đất cao, dễ thoát nước, được bố trí tách biệt với khu hành chính và hộ gia đình Chuồng được xây dựng theo hướng Đông Nam - Tây Bắc, đảm bảo mát về mùa Hè, ấm áp về mùa Đông Xung quanh khu sản xuất có hàng rào bao bọc và có cổng vào riêng
Khu chuồng dành cho chăn nuôi lợn có tổng diện tích 1500 m2, hệ thống chuồng trại với quy mô phù hợp với hướng chăn nuôi công nghiệp, hệ thống chuồng lồng, nền sàn bê tông cho lợn nái và sàn nhựa cho lợn con, cùng với máng uống tự động Chuồng có 8 dãy, chia làm 2 khu A và B, đầu chuồng có
hệ thống dàn mát, cuối chuồng có lắp quạt gió, hệ thống che chắn kín đáo tạo thoáng mát về mùa Hè, ấm áp về mùa Đông Cuối mỗi ô chuồng đều có hệ
Trang 14thống thoát phân và nước thải Hệ thống nước sạch được đưa về từng ô chuồng đảm bảo cho việc cung cấp nước uống tự động cho lợn, mỗi đầu chuồng được trang bị 1 máy bơm nước tắm cho lợn và nước rửa chuồng hàng ngày Nhìn chung khu vực chuồng nuôi xây dựng khá hợp lý, thuận lợi cho việc chăm sóc,
đi lại, đuổi lợn tới các dãy chuồng
Ngay cạnh khu sản xuất lợn, trại có xây dựng 1 phòng sát trùng, 1 kho thuốc, 1 phòng kỹ thuật và 1 hội trường nhỏ làm nơi hội họp, học tập cho cán
bộ công nhân viên Cạnh cổng vào trại là nhà bảo vệ, có lắp hệ thống máy sát trùng, khi có người, phương tiện xe vào trại đều sát trùng kỹ đề phòng dịch bệnh lây lan Tiếp đến là nhà kho chứa cám, 4 phòng ngủ cho công nhân, nhà bếp và công trình phụ
Để phục vụ cho sản xuất, trại còn xây dựng một giếng khoan, bốn bể chứa nước, hai máy bơm nước, đảm bảo cung cấp nước sạch cho sản xuất và cho sinh hoạt
+ Các công trình phụ trợ khác
Xung quanh trại có diện tích trồng cây xanh 3.600 m2, lưới điện nội trại 1.000 m, biogas xử lý nước thải 200 m3 Ao hồ 7.200 m2 chia làm 4 ao nuôi
cá tận dụng nước thải từ chăn nuôi
1.1.4.2 Tình hình sản xuất của trại
Bảng 1.1: Kết quả sản xuất của trại năm 2012, 2013 và 2014
1.1.4.3 Công tác vệ sinh thú y của trại
Tiêm phòng vắc xin cho đàn lợn theo quy trình tiêm phòng của trại Phun thuốc sát trùng chuồng trại, vệ sinh dụng cụ chăn nuôi theo quy trình vệ sinh thú y
Chẩn đoán và điều trị một số bệnh mà lợn mắc phải trong quá trình thực tập
Trang 15Tham gia vào công tác chăn sóc nuôi dưỡng
1.1.4.4 Quy trình phòng bệnh tại trại lợn Nga Đồng
Bước 1: Chuẩn bị sau khi xuất lợn
- Dọn vệ sinh chuồng: Thu hết thức ăn thừa sau khi xuất lợn, dọn hết phân thô trên nền, chuồng, hành lang, máng nước
- Cọ rửa chuồng: cọ tường trước, cọ nền sau, vừa múc nước dội vừa cọ,
cọ tới đâu sạch tới đó Cọ rửa máng ăn cọ từ trong ra ngoài, cọ từ trên xuống,
cọ rửa khung sắt của máng, cọ rửa đĩa máng và xung quanh đĩa máng Cọ rửa
ô chuồng và song sắt ngăn cách giữa các ô chuồng
- Vệ sinh sạch phần còn lại của nền chuồng và máng nước
- Vệ sinh quạt: Dùng máy áp lực xịt sạch cánh quạt, trục, chớp, sắt bảo vệ
- Sửa chữa những hư hỏng trong quá trình nuôi: Như bạt trần trong chuồng nuôi, quạt hút gió trong chuồng nuôi, cửu kính hai bên sườn chuồng, máng ăn, ống nước, núm uống, cầu dao, dây điện, ổ điện, song sắt ngăn giữa các ô chuồng và cửa của chuồng
- Quét sơn cho khung sắt bảo vệ máng ăn và song sắt ngăn giữa các ô chuồng và cửa của chuồng
- Quét vôi tường hành lang chuồng, tường ô chuồng, quét vôi nền chuồng, máng nước và lau sạch các ô cửa kính
- Chuẩn bị úm: Sau khi khung sắt và ván úm đã được rửa sạch phơi khô
và được phun sát trùng liên tục 3 ngày vào chiều tối, đưa vào chuồng và lắp ghép úm Đồng thời lắp hệ thống đèn sưởi cho các ô úm mùa Đông dùng 4 đèn 200w, mùa Hè dùng 2 đèn 200w
- Chuẩn bị các dụng cụ khác như: Chổi, xô múc nước, bàn chải, gáo,
xe chở cám
Bước 2: Chuẩn bị trước khi nhập lợn con
- Chuẩn bị nhân lực
Trang 16+ Chủ trại hoặc quản lý trại: Nhận lợn và ghi cân
+ Kỹ sư: Giám sát quá trình giao nhận lợn và hướng dẫn trại tách lợn yếu lợn bệnh
+ Công nhân: Xuống lợn, cân lợn, bắt lợn, tách lợn yếu lợn bệnh, lùa lợn vào chuồng
Trong quá trình nhập lợn tất cả mọi người phải mặc quần áo bảo hộ và
Bước 3: Khi nhập lợn con
- Phun sát trùng kỹ xe chuyển lợn con, mở cửa thùng xe phun kỹ bên trong
- Xuống lợn, kiểm tra lại lợn tách những con ốm riêng một khu, cân lại lợn và ghi lại số cân, kiểm tra lại số lượng lợn
- Đuổi lợn bình thường vào ô chuồng, đuổi lợn bệnh vào ô bệnh
Trang 17Bước 4: Sắp xếp lợn trong các ô chuồng
Hai ô cuối cùng dành cho lợn bệnh, ghép ngay những con to khoẻ lên
ở ô trên Từ trên xuống dưới lợn từ to đến nhỏ, mật độ giảm dần từ ô từ đầu chuồng tới cuối chuồng
Bước 5: Chăm sóc lợn con khi mới về trại
- Tập cho lợn con quen dần với máng ăn tự động bằng cách lắc nhẹ cần gạt cho lợn học lắc, rắc cám vào máng bổ sung cho lợn Tách những lợn chưa biết ăn để tập ăn và chăm sóc riêng
- Pha vitamin C trong bình cung cấp nước uống cho lợn ngay khi vừa nhập lợn
Bước 6: Chăm sóc nuôi dưỡng lợn tốt trong suốt quá trình nuôi
- Cho ăn theo đúng khẩu phần ăn của từng lứa tuổi
Tiêu chuẩn ăn 0,15 0,30 0,50 0,60 0,80 1,05 1,22 1,41 1,58
Tuần tuổi 13 14 15 16 17 18 19 20 21 Tiêu chuẩn ăn 1,76 1,82 1,90 2,0 2,09 2,20 2,20 2,20 2,20
Tuần tuổi 22 23 24 25 26 27 28 29
Tiêu chuẩn ăn 2,20 2,20 2,20 2,20 2,20 2,20 2,20 2,20
- Vệ sinh chuồng nuôi ngày 2 lần đảm bảo nền chuồng sạch và khô
- Đảm bảo nhiệt độ thích hợp cho từng lứa tuổi
nhiệt độ thích hợp 33oC - 34oC 32oC - 33oC 31oC - 32oC 30oC - 31oC
nhiệt độ thích hợp 29oC - 30oC 29oC - 28oC 27oC - 28oC
Trang 18+ Khi nhiệt độ chuồng nuôi tăng cao hơn nhiệt độ cho phép: Bật giàn mát để hạ nhiệt độ, nếu nhiệt độ chuồng vẫn cao hơn nhiệt độ tiêu chuẩn thì ta bật thêm quạt hút tăng quạt từ từ điều chỉnh cho nhiệt độ thích hợp
+ Khi nhiệt độ thấp hơn nhiệt độ tiêu chuẩn giảm số lượng quạt dần dần theo từng đơn vi quạt nhỏ sau đó mới tắt giàn mát Khi mùa Đông ta thắp thêm bóng úm cho lợn và che giàn mát lại, che từ 50 - 80% tuy thuộc vào nhiệt độ và gió bên ngoài
- Trong quá trình nuôi các phương tiện vào trại phải đi qua hố sát trùng và phun sát trùng kỹ các phương tiện Công nhân, kỹ sư trước khi vào chuồng nuôi phải tắm sát trùng và nhúng ủng vào hố sát trùng Thứ 2 và thứ 6 hàng tuần vệ sinh, rắc vôi xung quanh chuồng nuôi và phun thuốc sát trùng trong và ngoài chuông nuôi Thứ 3 và thứ 7 hàng tuần thay nước sát trùng trước chuồng nuôi
1.1.5 Đánh giá chung
1.1.5.1 Thuận lợi
Xã Dị Nậu, huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ có điều kiện tự nhiên cũng như xã hội thuận lợi cho ngành nông nghiệp phát triển mạnh, đặc biệt có bộ máy Đảng chính quyền, các ngành đoàn thể hoạt động tốt có nề nếp, đoàn kết thống nhất cao Nhân dân cần cù chịu khó sáng tạo, biết tiếp thu các tiến bộ khoa học vào sản xuất, trình độ dân trí khá Là xã anh hùng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ và là địa phương có truyền thống cách mạng
Về trại Nga Đồng, được sự quan tâm, tạo điều kiện và có chính sách hỗ trợ đúng đắn của các ngành, các cấp có liên quan như: Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Trung tâm khuyến nông, Chi Cục thú y, Công ty cổ phần chăn nuôi CP Việt Nam, UBND xã, nên tạo điều kiện cho sự phát triển của trại Ban lãnh đạo trại có năng lực, nhiệt tình, năng động, có đội ngũ cán bộ
kỹ thuật giỏi, đội ngũ công nhân nhiệt tình, có kinh nghiệm lâu năm trong
Trang 19nghề, toàn bộ cán bộ công nhân viên trong trại là một tập thể đoàn kết, có ý thức trách nhiệm cao và có lòng yêu nghề
Trại được Công ty quan tâm đầu tư cấp kinh phí để xây dựng lại toàn
bộ hệ thống chuồng trại, chuyển toàn bộ sang nuôi lợn bằng chuồng lồng, phù hợp theo hướng chăn nuôi công nghiệp, tạo điều kiện cho trại mở rộng quy
mô sản xuất trong những năm tới
Hệ thống đường giao thông thuận lợi cho việc vận chuyển thức ăn, nhập lợn và xuất lợn
Kinh tế của địa phương chủ yếu là làm thủ công nghiệp và làng nghề,
đa số dân trí có trình độ cao
Do đặc điểm sản xuất của ngành chăn nuôi nói chung và ngành chăn nuôi lợn nói riêng là ngành có chu kỳ sản xuất dài, tốc độ quay vòng vốn chậm nên lâu hồi vốn Mặt khác để đầu tư cho một kỳ sản xuất đòi hỏi một lượng vốn tương đối lớn, trong khi đó kinh phí đầu tư cho sản xuất còn hạn hẹp, trang thiết bị thú y còn thiếu và chưa đồng bộ
1.2 Nội dung, phương pháp và kết quả phục vụ sản xuất
1.2.1 Nội dung phục vụ sản xuất
Để hoàn thành tốt nhiệm vụ trong thời gian thực tập, tôi đã căn cứ vào kết quả điều tra cơ bản, trên cơ sở phân tích những thuận lợi và khó khăn của trại tôi đã đề ra một số nội dung công tác như sau
- Tham gia nuôi dưỡng chăm sóc đàn lợn
Trang 20- Tiêm phòng dịch bệnh cho đàn lợn của trại
- Chẩn đoán và điều trị bệnh đặc biệt là những lợn có biểu hiện ho khó thở vào sáng sớm và về đêm
- Tiến hành chuyên đề nghiên cứu khoa học trên đàn lợn của trại
- Tham gia vào các công tác khác
1.2.2 Phương pháp tiến hành
- Xây dựng kế hoạch thực hiện cụ thể, sát với nội dung phục vụ sản xuất
- Bám sát cơ sở trong suốt thời gian thực tập
- Tuân thủ mọi nội quy và quy định của Trường, Khoa và Trại chăn nuôi trong thời gian thực tập tại cơ sở
- Ghi chép đầy đủ và chính xác nhật ký thực tập và nhật ký đề tài trong suốt quá trình thực tập tại Trại chăn nuôi
- Siêng năng cần cù, không ngại khó ngại khổ để thực hiện tốt nội dung phục vụ sản xuất và đề tài nghiên cứu
- Nhiệt tình, khiêm tốn học hỏi kinh nghiệm và mạnh dạn vận dụng những kiến thức đã học vào thực tế sản xuất nhằm nâng cao tay nghề, củng cố kiến thức chuyên môn
- Tham khảo ý kiến và sự giúp đỡ của Ban lãnh đạo Trại chăn nuôi
- Thường xuyên xin ý kiến chỉ đạo chuyên môn của giảng viên hướng dẫn
- Tham khảo mọi tài liệu chuyên môn liên quan đến đề tài nghiên cứu
để thực hiện thành công chuyên đề nghiên cứu khoa học dưới sự chỉ đạo của giảng viên hướng dẫn
1.2.3 Kết quả công tác phục vụ sản xuất
1.2.3.1 Công tác chăn nuôi
Tham gia công tác chăm sóc, nuôi dưỡng cho đàn lợn thịt tại trại như: Cho lợn ăn theo đúng khẩu phần ăn của lợn, tham gia che chắn chuồng trại
ấm áp về mùa Đông bằng cách che gian mát và giảm số lượng quạt, thoáng
Trang 21mát về mùa Hè dựa vào nhiệt độ môi trường để tăng số lượng quạt và bật giàn mát khi nhiệt độ cao hơn nhiệt độ cho phép, không để chuồng trại ẩm ướt,
theo dõi tình hình sức khỏe của đàn lợn
1.2.3.2 Công tác vệ sinh thú y
Vệ sinh chăn nuôi là một trong những khâu quan trọng quyết định tới thành quả chăn nuôi Vệ sinh bao gồm nhiều vấn đề như vệ sinh chuồng nuôi, vệ sinh đất, nước và môi trường xung quanh trại… Hiểu được tầm quan trọng của vệ sinh, nên trong suốt quá trình thực tập, tôi luôn phối hợp với công nhân viên tiến hành vệ sinh:
- Định kỳ vệ sinh môi trường xung quanh chuồng trại như: Khơi thông cống rãnh, phát quang bụi rậm, rắc vôi bột trong chuồng, diệt động vật mang mầm bệnh: Ruồi, chuột từ đó ngăn chặn dịch bệnh xảy ra
- Hàng ngày, tôi cùng công nhân vệ sinh chuồng trại, tẩy rửa sàn chuồng
- Công tác phòng bệnh
Với phương châm “phòng bệnh hơn chữa bệnh”đã cho ta thấy tầm quan trọng của công tác phòng bệnh Trong đó công tác tiêm phòng vắc xin cho đàn lợn đóng vai trò chủ chốt trong công tác phòng bệnh Tiêm vắc xin cho đàn gia súc sẽ tạo thành miễn dịch đặc hiệu chủ động trong cơ thể chúng để chống lại sự xâm nhập của mầm bệnh (virus, vi khuẩn), tăng cường sức đề kháng cho cơ thể Tiêm phòng các loại vắc xin: Tai xanh, dịch tả lợn, lở mồm long móng Thời gian tổ chức tiêm phòng thường vào buổi sáng khi thời tiết mát mẻ, công tác chuẩn bị và tiêm phòng được thực hiện một cách nghiêm túc, cẩn thận
Bảng 1.2: Lịch phòng bệnh cho đàn lợn thịt
TT Loại bệnh Thời gian tiêm Loại vắc xin Liều lượng
3 Lở mồm long móng 7 và 11 tuần tuổi Colapest 2ml/con
Trang 22- Công tác chẩn đoán và điều trị bệnh
+ Công tác chẩn đoán
Chẩn đoán kịp thời và chính xác là việc làm hết sức quan trọng, mang lại hiệu quả điều trị cao, giúp cho con vật nhanh chóng hồi phục, giảm tỷ lệ chết, giảm thời gian dùng thuốc Do vậy, giảm thiệt hại kinh tế cho người chăn nuôi
Hàng ngày, tôi cùng với cán bộ kỹ thuật của trại theo dõi, quan sát tất cả các ô chuồng, phát hiện những biểu hiện bất thường Khi mới mắc bệnh, lợn không biểu hiện triệu chứng điển hình, thường thấy con vật ủ rũ, ăn ít hoặc bỏ
ăn, sốt, lười hoạt động
Do vậy, để chẩn đoán chính xác không chỉ dựa vào những biểu hiện bên ngoài, mà còn cần phải dựa vào kinh nghiệm thực tế của cán bộ kỹ thuật
+ Công tác điều trị
Trong thời gian thực tập tại trại, đây là dịp quan trọng để tôi thực hành những gì đã được học tại nhà trường Chúng tôi đã tiến hành điều trị và thu được những kết quả như sau:
• Bệnh tiêu chảy ở lợn
Nguyên nhân gây bệnh tiêu chảy ở lợn giai đoạn sau cai sữa có thể
là: E coli, Rotavirus Ngoài ra các yếu tố stress do quản lý, chăm sóc nuôi
dưỡng (mất đi nguồn sữa mẹ, thay đổi thức ăn, chuồng trại, trộn bầy ) là nguyên nhân vô cùng quan trọng dẫn đến tiêu chảy trên lợn sau cai sữa Ở giai đoạn cai sữa, lợn con mất đi sự bảo vệ từ sữa mẹ, cộng với tác động của các yếu tố stress nên sức đề kháng với bệnh bị suy giảm, tạo cơ hội để vi khuẩn
Escherichia coli gia tăng phát triển và gây tiêu chảy sau cai sữa
Trong quá trình theo dõi chúng tôi đã phát hiện được 181 con lợn có biểu hiện:
+ Lợn mệt mỏi, ủ rũ, kém ăn có khi bỏ ăn, có trường hợp sốt
+ Ỉa chảy liên tục, phân xám hoặc vàng xám, mùi khắm dính bết đầy quanh hậu môn, đuôi, khoeo chân, sàn chuồng hay thành chuồng
Trang 23Tiêm bắp thịt liên tục 3 - 5 ngày, kết hợp với Anagine - C hoặc Glucose
- C và điện giải Kết quả 180 con khỏi bệnh đạt 99,44%
• Bệnh viêm khớp
Đặc điểm: Viêm khớp là yếu tố gây què ở lợn Các yếu tố khác gây què
ở lợn gồm liên quan đến mất cân bằng dinh dưỡng hoặc thiếu chất, những tổn thương ở chân do chấn thương, thoái hóa xương và các thay đổi khớp Bệnh làm ảnh hưởng đến chất lượng thân thịt khi xuất chuồng, gây thiệt hại kinh tế cho người chăn nuôi, đồng thời bệnh làm cho lợn tăng trọng kém và giảm số lượng lợn con sau cai sữa trong đàn
Nguyên nhân: Streptococcus suis là vi khuẩn gram +, Streptococcus suis
gây viêm khớp lợn cấp và mãn tính ở mọi lứa tuổi Bệnh này thường gây ra trên lợn con 1 - 6 tuần tuổi, bệnh được phân loại như một phần của hội chứng
“yếu khớp” kết hợp với viêm rốn
Do con vật cọ xát vào thành ô chuồng gây tổn thương khớp hoặc có thể do ảnh hưởng của một số loại thuốc trong quá trình điều trị bệnh
Trong quá trình theo dõi chúng tôi thấy 20 con lợn có biểu hiện như: + Lợn bị què, đi lại khó khăn, lười vận động hoặc không vận động, lợn
ăn uống kém
+ Khớp sưng to, đỏ, nóng
Các triệu chứng trên cho thấy, đây là bệnh viêm khớp, đã tiến hành điều trị bằng một trong hai loại kháng sinh sau:
+ Vetrimoxin 1ml/8kg thể trọng/ngày tiêm bắp
Kết quả: 16 con khỏi bệnh, tỷ lệ đạt 80%
Trang 24•Bệnh ghẻ
Nguyên nhân: Thường do ký sinh trùng Sacroptes scabiei suis sống ký sinh
trên da gây ra Nhẹ chỉ gây ngứa, nặng thì làm tổn thương da, phổ biến là ở 2 tai lợn Đặc điểm: Đây là bệnh ký sinh trùng dưới da của lợn do loại ghẻ ngứa
Scarcoptes suis gây nên, kèm theo viêm da mãn tính với triệu chứng ngứa, hình
thành các nếp nhăn và vẩy dầy Chúng đào hang dưới da, ăn tế bào biểu bì và dịch tế bào, ở nơi ghẻ đào hang có biểu hiện ngứa, da bị đỏ, thân nhiệt tăng Thường thấy biểu hiện trên ở vùng da quanh mắt, má và tai, sau đó lây qua vùng lưng, bụng và các phần khác Nếu không điều trị kịp thời da sẽ dầy lên, mất đàn tính dễ vỡ và bị dồn thành nếp, lông rụng dần, dẫn đến da bị sừng hoá Đôi khi quan sát thấy bị ghẻ toàn thân, trong trường hợp này lợn giảm ăn, gầy, chậm lớn, có khi chết do nhiễm trùng Chúng tôi thấy có 10 con lợn ở các lứa tuổi khác nhau có biểu hiện trên
và đã dùng Ivermectin liều 1ml/5kg thể trọng, kết hợp với tắm ghẻ cho con bệnh và những con cùng ô chuồng bằng Sibasil, thấy hiệu quả tương đối tốt
Có 7 con khỏi bệnh hoàn toàn đạt 70%
Bảng 1.3: Kết quả công tác phục vụ sản xuất
Nội dung Đơn vị
Trang 251.3 Kết luận và kiến nghị
1.3.1 Kết luận
Trong thời gian thực tập tại trại lợn thịt Nga Đồng, với sự giúp đỡ tận tình của Ban lãnh đạo trại và cán bộ kỹ thuật cùng công nhân trại, thầy giáo hướng dẫn, em đã có điều kiện được tiếp xúc với thực tế sản xuất và nâng cao kiến thức về thực tế, rèn luyện tác phong làm việc tốt Mặc dù kết quả đạt được chưa cao nhưng bước đầu hình thành kinh nghiệm cho bản thân
Về chuyên môn: Cần học hỏi kiến thức về chuyên môn nhiều hơn và sâu hơn nữa, đặc biệt là những tiến bộ khoa học kỹ thuật, phải cố gắng bám sát cơ sở, mô hình trang trại
Về công tác quản lý tổ chức: Để làm tốt công tác kỹ thuật người cán bộ không những cần giỏi về chuyên môn, vững tay nghề mà còn cần phải có trình độ tổ chức thực hiện công việc Cụ thể phải biết vận động công nhân, bà con nông dân tiếp thu thực hiện tốt các chủ trương, chính sách vì phát triển nông nghiệp nói chung và chăn nuôi nói riêng
Vậy mỗi sinh viên sau khi ra trường phải nắm chắc về chuyên môn và có khả năng tổ chức quản lý tốt
1.3.2 Kiến nghị
Xuất phát từ tình hình thực tế của trại, qua phân tích, đánh giá và bằng những hiểu biết của mình, tôi có một số đề nghị nhằm nâng cao hiệu quả chăn nuôi của trại như sau:
- Trại chăn nuôi cần thêm các trang thiết bị hiện đại hơn để phục vụ cho công sản xuất tốt hơn
- Nên cách ly lợn ốm ngay khỏi đàn lợn khi con vật có những dấu hiệu bệnh đầu tiên
- Cần thực hiện nghiêm túc và chặt chẽ hơn khâu vệ sinh chăn nuôi cũng như quy trình phòng bệnh
- Việc sử dụng kháng sinh cần có kế hoạch hơn, tránh sử dụng bừa bãi
- Trại cần có những chính sách khuyến khích tinh thần làm việc có trách nhiệm của công nhân hơn nữa
Trang 26Phần 2 CHUYÊN ĐỀ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
Tên đề tài: “Đánh giá tình hình nhiễm bệnh đường hô hấp trên đàn lợn từ sau cai sữa đến xuất bán và thử nghiệm một số phác đồ điều trị”
2.1 ĐẶT VẤN ĐỀ
2.1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Ngành chăn nuôi của nước ta đang ngày càng phát triển, nó không chỉ cung cấp một lượng lớn thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao mà còn mang lại thu nhập cho người chăn nuôi, góp phần vào ổn định đời sống người dân Chăn nuôi lợn là một nghề quan trọng gắn liền với đời sống của người nông dân Trong những năm gần đây, được sự quan tâm của Nhà nước cùng với xu hướng phát triển của xã hội thì chăn nuôi lợn cũng chuyển từ loại hình chăn nuôi nông hộ dần sang tập trung trang trại Giúp cho ngành chăn nuôi lợn đạt được bước phát triển không ngừng cả về chất lượng và số lượng Mặt khác, nước ta cũng có nhiều điều kiện thuận lợi cho phát triển chăn nuôi, đặc biệt là chăn nuôi lợn như có nguồn nguyên liệu dồi dào cho chế biến thức ăn, sự đầu
tư của nhà nước…
Bên cạnh những thuận lợi đó, thì ngành chăn nuôi lợn còn gặp không ít khó khăn như phương thức chăn nuôi còn lạc hậu, dịch bệnh xảy ra nhiều gây tổn thất lớn cho người chăn nuôi Tình hình dịch bệnh diễn ra khá phức tạp và
có nhiều diễn biến xấu Trong những năm gần đây bệnh hô hấp đã xuất hiện phổ biến trên đàn lợn, nhất là trong điều kiện nuôi với số lượng nhiều, mật độ nuôi cao như trong trại nuôi tập trung Mặc dù tỷ lệ chết không cao nhưng gây thiệt hại lớn về kinh tế, do lợn sinh trưởng chậm, hiệu quả sử dụng thức ăn thấp, bệnh thường kéo dài và chi phí thuốc điều trị lớn, đặc biệt bệnh dễ lan rộng dẫn đến giảm hiệu quả chăn nuôi
Trang 27Bệnh đường hô hấp hay xảy ra khi mật độ nuôi cao, khi bệnh đã xảy ra việc khắc phục là khó khăn, do vậy để giảm thiệt hại do bệnh gây ra thì cần đề cao công tác phòng bệnh và trị bệnh
Xuất phát từ thực tế trên chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá tình hình nhiễm bệnh đường hô hấp trên đàn lợn từ sau cai sữa đến xuất bán và thử nghiêm một số phác đồ điều trị ”
2.1.2 Mục tiêu của đề tài
- Xác định được tình hình nhiễm bệnh đường hô hấp trên đàn lợn từ sau cai
sữa đến xuất bán tại trại lợn Nga Đồng, xã Dị Nậu, huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ
- So sánh hiệu lực điều trị bệnh đường hô hấp của hai loại thuốc Martylan và Gentamicin
2.1.3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
* Ý nghĩa khoa học
- Các kết quả nghiên cứu đạt được là những tư liệu khoa học phục vụ cho các nghiên cứu tiếp theo tại các trang trại chăn nuôi lơn thịt trên địa bàn huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ
* Ý nghĩa thực tiễn
- Làm quen với phương pháp nghiên cứu khoa học
- Nâng cao kiến thức thực tiễn, tăng khả năng tiếp xúc với thực tế chăn nuôi, điều trị bệnh cho lợn từ đó củng cố nâng cao kiến thức của bản thân
- Kết quả của đề tài là cơ sở thực tiễn quan trọng giúp trại và người chăn nuôi sớm phát hiện bệnh, có biện pháp can thiệp và điều trị kịp thời nhằm giảm thiệt hại về kinh tế, nâng cao hiệu quả kinh tế cho người chăn nuôi
2.2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.2.1 Cơ sở khoa học của đề tài
2.2.1.1 Vai trò chức năng sinh lý của bộ máy hô hấp
* Cấu tạo cơ quan hô hấp của lợn
Trang 28- Xoang mũi: Không khí trước khi vào phổi phải qua xoang mũi, ở đây không khí được lọc sạch, tẩm ướt và sưởi nóng Xoang mũi còn là cơ quan cảm giác khứu giác
- Thanh quản: Là một xoang ngắn nằm giữa yết hầu và khí quản, cấu tạo gồm cốt sụn và cơ
- Khí quản: Là một ống dẫn khí lớn nối tiếp từ sau thanh quản cho đến phân nhánh ngã ba tạo thành hai phế quản gốc Khí quản gồm nhiều vòng sụn nối tiếp nhau, khí quản chia làm hai đoạn
- Phế quản: Nối tiếp từ ngã ba khí quản chia làm hai nhánh đi vào rốn phổi sau khi vào rốn phổi lại tiếp tục phân nhánh
- Phổi: Là bộ phận quan trọng nhất của cơ quan hô hấp có nhiệm vụ trao đổi khí trực tiếp giữa máu và môi trường ngoài Phổi gồm hai lá phổi Mỗi lá nằm trong bao bọc riêng do lá phế mạc tạo thành, phổi có màu hồng nhạt, đàn hồi, xốp nhẹ nổi trên mặt nước
Lá phổi phải lớn hơn lá phổi trái, phổi phải có thùy phụ Azygol
+ Vị trí phía trước là cạnh sau xương bả vai và xương cánh tay, phía sau ở trên khoảng gian sườn 11 và mỏm ngang đốt sống lưng 11 Trọng lượng của hai lá phổi so với cơ thể lợn 0,8 - 0.85%
+ Hình dạng nhìn bề ngoài phổi như hình chóp đáy rộng, 2 lá phổi to không bằng nhau Hình dạng ngoài phổi có 3 mặt một đỉnh Mặt ngoài cong lồi giáp xương sườn gọi là mặt sườn, mặt trong phẳng áp vào nhau có lá tung cánh mặc ngăn giữa Mặt sau còn gọi là mặt hoành hay mặt đáy cong lõm giáp cơ hoành, bên phải, mặt sau giáp dạ dày và một phần gan Đỉnh hướng về trước lồng ngực sát hạch giao cảm Bên ngoài phổi có các mẻ chia phổi làm nhiều thùy, số lượng thùy tùy theo lá phổi của loài gia súc Gồm có 1 thùy trước còn gọi là thùy đỉnh, 1 hoặc 2 thùy gọi là thùy tim, thùy sau gọi là thùy đáy
Lợn lá phổi phải có 3 thùy chính và 1 thùy phụ, lá phổi trái có 3 thùy
Trang 29- Cấu tạo mặt ngoài có một lớp tương mạc bao trùm đó là lá tạng phế mạc Trong là mô phổi cấu tạo bởi các phế nang, tổ chức liên kết, mạch quản, thần kinh cùng hệ thống ống dẫn to nhỏ khác nhau Phế nang là nơi trao đổi khí chính của phổi, trong có các biểu mô đặc biệt, số lượng có hàng trăm, hàng nghìn triệu Nhiều phế nang chung lại thành chùm phế nang, chùm phế tập hợp lại thành tiểu thùy phổi, nhiều tiểu thùy phổi tạo thành thùy phổi
* Chức năng sinh lý của cơ quan hô hấp
Đối với tất cả các loài động vật thì một trong những yếu tố quyết định
sự sống là có đủ lượng O2 Trong 1 phút cơ thể động vật cần 6 - 8ml O2 và thải ra 250ml CO2 Để có được lượng O2 thiết yếu và thải được lượng CO2 ra khỏi cơ thể thì cơ thể phải thực hiện động tác hô hấp
Hô hấp của cơ thể lợn được chia thành 3 quá trình:
- Hô hấp ngoài: Là quá trình trao đổi khí giữa cơ thể và môi trường được thực hiện ở phổi thông qua các phế nang
- Hô hấp trong: Là quá trình sử dụng O2 của mô bào
- Quá trình vận chuyển CO2, O2 từ phổi đến mô bào và ngược lại động tác hô hấp được điều khiển bằng cơ chế thần kinh - thể dịch và được thực hiện bởi cơ quan hô hấp Cơ quan hô hấp của lợn gồm đường dẫn khí (mũi, hầu, họng, khí quản, phế quản) và phổi
Dọc đường dẫn khí có hệ thống thần kinh và hệ thống mạch máu phân
bố dày đặc có tác dụng sưởi ấm không khí trước khi vào đến phổi Trên niêm mạc đường hô hấp có nhiều tuyến tiết dịch nhầy để giữ bụi và dị vật có lẫn trong không khí Niêm mạc đường hô hấp cũng có lớp lông rung luôn chuyển động hướng ra ngoài do đó có thể đẩy các dị vật hoặc bụi ra ngoài
Cơ quan thụ cảm trên niêm mạc đường hô hấp rất nhạy cảm với các thành phần lạ có trong không khí Khi có vật lạ cơ thể có phản xạ ho, hắt hơi nhằm đẩy vật lạ ra ngoài, không cho xâm nhập sâu vào trong đường hô hấp
Trang 30Khí O2 sau khi vào phổi và khí CO2 thải ra được trao đổi tại phế nang Phổi lợn bao gồm rất nhiều phế nang làm tăng bề mặt trao đổi khí
2.2.1.2 Những hiểu biết chung về bệnh đường hô hấp
2.2.1.2.1 Bệnh viêm phổi do Pasteurella multocida gây ra
Vi khuẩn Pasteurella multocida được biết đến là nguyên nhân gây ra
bệnh tụ huyết trùng cho các loài gia súc, gia cầm, trong đó có lợn Tuy nhiên
Pasteurella multocida còn được coi là một trong những nguyên nhân gây
nên bệnh viêm phổi lợn
Bệnh viêm phổi do Pasteurella multocida xuất hiện rộng khắp trên thế
giới nhưng bệnh hay xảy ra và gây thiệt hại nặng ở các nước có khí hậu nhiệt đới
và cận nhiệt đới như Ấn Độ, Pakistan, Iran, Thái Lan, Lào, Campuchia, Hàn Quốc, Việt Nam Vi khuẩn thường cư trú ở đường hô hấp của lợn do vậy
thường rất khó tiêu diệt Vi khuẩn Pasteurella multocida thường kết hợp với những tác nhân khác như vi khuẩn Mycoplasma hyopneumoniae làm cho quá trình viêm phổi càng thêm phức tạp
P multocida ở họng, hạch Amidan (đường hô hấp trên) Khi cơ thể
suy giảm sức đề kháng do chịu tác động của các yếu tố stress, vi khuẩn có sẵn ở lợn khỏe sinh sản nẩy nở, tăng nhanh về số lượng và tích độc tố gây bệnh cho lợn Lợn bị bệnh là nguồn reo rắc mầm bênh cho lợn khỏe
+ Cơ chế sinh bệnh:
Vi khuẩn Pasteurella multocida tồn tại trong môi sinh, đặc biệt là trong
đất, phân, nền chuồng nhiễm vào thức ăn, nước uống qua đường tiêu hóa, qua không khí vào đường hô hấp Một số lợn khỏe trong đàn cũng mang vi khuẩn
Pasteurella multocida gây bệnh cho đàn Vi khuẩn sau khi nhiễm vào cơ thể,
cư trú ở hạch phổi, hầu, phát triển, sản sinh các yếu tố độc lực, gây viêm phổi, hoại tử phổi, xâm nhập vào máu đến các cơ quan nội tạng làm vỡ thành mạch gây tụ huyết, xuất huyết
Trang 31Bệnh có thể truyền trực tiếp từ lợn bệnh sang lợn khỏe qua đường hô hấp khi lợn thở hoặc truyền gián tiếp qua dụng cụ chăn nuôi, thức ăn nước uống Từ một cơ sở bị bệnh có thể lây sang các vùng lân cận do vận chuyển lợn hoặc các chất thải chăn nuôi và di chuyển của con người Hiện tượng truyền bệnh từ mẹ sang lợn con qua nhau thai và qua tiếp xúc trực tiếp đều phát hiện nhưng chưa tìm ra cơ chế lây truyền (Lê Văn Tạo, 2007) [11]
+ Triệu chứng:
Thể quá cấp tính: Ở thể này hiện tượng ho và thở thể bụng thường thấy
ở những lợn lớn Ho ở những lợn ở lứa tuổi này thường được coi là biểu hiện
để xác định độ nghiêm trọng của bệnh Bệnh viêm phổi do Pasteurella
multocida hiếm khi gây ra chết đột ngột, hơn nữa bệnh viêm phổi do Pasteurella multocida có thể tồn tại một thời gian dài
Thể cấp tính: Thể này thường do vi khuẩn Pasteurella multocida
serotype B gây ra Lợn mắc bệnh có biểu hiện khó thở, gõ vùng bụng có âm
“bịch, bịch”, sốt cao 41 - 420
C, ở thể này tỷ lệ chết cao Khi chết có thể thấy có những vết tím ở bụng
Thể á cấp tính: Lợn lớn mắc bệnh ở thể này thường có triệu chứng ho
và thở thể bụng Ho chính là chỉ tiêu xác định mức độ nghiêm trọng của bệnh
Thể mãn tính: Đây là thể bệnh thường gặp nhất, con vật mắc bệnh thỉnh thoảng xuất hiện ho hoặc không Lợn mắc bệnh thường ở lứa tuổi lớn (10 - 16 tuần tuổi)
+ Bệnh tích:
Bệnh tích thường xuất hiện ở thùy đỉnh và mặt trong của phổi, trong khí quản có nhiều bọt khí Có sự phân ranh giới rõ ràng giữa vùng tổ chức phổi bị tổn thương sẽ có màu từ đỏ đến xanh xám Trong các trường hợp bệnh nặng có thể xuất hiện viêm phế mạc hoặc apxe ở các mức độ khác nhau Khi
Trang 32ở mức độ này thấy phế mạc dính chặt vào thành xoang ngực, phế mạc có vùng mờ đục, khô Đây chính là bệnh tích đặc trưng để phân biệt bệnh viêm
phổi do Pasteurella multocida và bệnh viêm phổi do Actinobacillus gây ra
vi khuẩn Pasteurella multocida có thể được phân lập trong phòng thí nghiệm
với những phương tiện tối thiểu nhất Thường có thể tìm thấy vi khuẩn khi cấy trực tiếp trên đĩa thạch máu
+ Phòng bệnh:
Đã có vắc xin vô hoạt để phòng bệnh viêm phổi do Pasteurella multocida
gây ra
+ Điều trị:
Do Pasteurella multocida có nhiều biến chủng kháng lại các loại kháng
sinh thông thường, vì vậy muốn điều trị có hiệu quả cao cần phải làm kháng sinh đồ để chọn loại kháng sinh có hiệu quả
Khi gia súc bị bệnh cần phải chẩn đoán đúng, dùng thuốc càng sớm càng tốt khi con vật vẫn đang khỏe mạnh và vi khuẩn chưa gây tác hại nhiều Khi dùng kháng sinh điều trị phải dùng liều cao ngay từ đầu trước khi xuất hiện triệu chứng đặc trưng của bệnh
Trang 33Một số kháng sinh đã được dùng có hiệu quả cho điều trị bệnh do
Pasteurella multocida là Lincomycin - Spectinomycin, Steptomycin + Penicillin,
Kanamycin, và một số Cephalosporrin và Quinolone như: Enrofloxaxin, Danofloxacin… Ngoài ra dùng các thuốc trợ sức trợ lực như: Caffein Natribenzoat, Muntivit - fort, Bcomplex và một số thuốc khác hoặc chất điện giải
Hiện nay trên thị trường đã có rất nhiều loại kháng sinh đối với bệnh
viêm phổi có nguyên nhân là vi khuẩn Pasteurella multocida thường dùng các
loại kháng sinh như: Oxytetracylin 11mg/kg thể trọng/ngày; Linco-gen 1ml/10kg thể trọng/ngày; Kanamycin 1ml/10kg thể trọng/ngày; Supmotic 1ml/5kg thể trọng/ngày và một số loại kháng sinh khác Tuy nhiên, việc điều trị bằng loại kháng sinh ngày càng trở nên khó khăn và tỷ lệ khỏi bệnh ngày
càng thấp Có tình trạng này là do tính kháng thuốc của vi khuẩn Pasteurella
multocida ngày càng mạnh
2.2.1.2.2 Bệnh viêm phổi - màng phổi ở lợn
Bệnh viêm phổi - màng phổi ở lợn là bệnh đường hô hấp lây lan mạnh, bệnh thường gây chết lợn, chủ yếu là lợn choai Đặc trưng của bệnh là ho, khó thở, thở thể bụng, tần số hô hấp tăng cao Lợn chết với bệnh tích phổi bị gan hoá và viêm dính thành ngực
+ Nguyên nhân gây bệnh:
Do vi khuẩn Actinobacillus pleuropneumoniae gây ra
+ Cơ chế gây bệnh:
Vi khuẩn Actinobacillus pleuropneumoniae là tác nhân gây bệnh với
nhiều cơ chế tác động đã được biết rõ như: Vi khuẩn này có khả năng giải phóng ra Enzym protease có khả năng phân hủy hemoglobin, sắc tố vận chuyển oxy trong máu Các protein có khả năng gắn với sắt có trong vi khuẩn này cho phép chúng lấy đi sắt trong vật chủ Chúng có khả năng sinh ra ngoại độc tố và nội độc tố Ngoài ra, bản thân vi khuẩn cũng được bao bọc bởi một
Trang 34lớp giáp mô có tác dụng bảo vệ vi khuẩn bởi các tế bào bảo hộ của vật chủ (Stan Done, 2002) [18]
có biểu hiện triệu chứng lâm sàng
- Thể cấp tính
Triệu chứng tương tự như thể quá cấp tính nhưng tiến triển chậm hơn Lợn sốt cao trên 410C ho, khó thở, thở thể bụng, bụng hóp lại, lợn ỉa chảy nôn mửa, mắt có dử đôi khi nhầm với dịch tả
Thể cấp tính đa số lợn chết, lợn chết trong vòng 1 - 4 ngày Lợn sống sót có thể phục hồi hoàn toàn hoặc có thể phát triển thành thể mãn tính
- Thể mãn tính
Thể này xuất hiện sau khi dấu hiệu cấp tính mất đi Lợn sốt nhẹ (40,5 -
410C), hay nằm, lúc ăn lúc bỏ ăn, ho kéo dài, thở thể bụng, da nhợt nhạt, lông
xù, gầy còm, tăng trọng kém, mắt có dủ, dịch mũi đặc và đục
+ Bệnh tích:
- Thể quá cấp
Lợn chết không có bệnh tích điển hình lợn vẫn to béo
Trang 35- Thể cấp tính và mãn tính
Màng phổi viêm dính fibrin kèm theo chảy máu và dịch Viêm màng bao tim, viêm phổi dính sườn, tích nước vàng đục có lấn máu ở trong ngực Phổi có màu sẫm và cứng lại (phổi bị gan hóa) Các ổ áp xe chứa đầy mủ nằm rải rác khắp phổi, có bọt khí lẫn máu trong đường hô hấp
+ Chẩn đoán:
Dựa trên kết quả nghiên cứu về lịch sử bệnh của đàn, triệu chứng lâm sàng, kiểm tra bệnh tích, phân lập vi khẩn trong phòng thí nghiệm Với lợn sống có thể lấy dịch ngoáy mũi để xét nghiệm và chẩn đoán, lợn chết có thể lấy mẫu bệnh phẩm là phổi để xét nghiệm, phân lập vi khuẩn gây bệnh
- Chẩn đoán lâm sàng và giải phẫu bệnh
Dựa vào những biểu hiện lâm sàng, triệu chứng và bệnh tích của bệnh
để phân biệt với bệnh: Tụ huyết trùng, suyễn, cúm lợn, bệnh liên cầu khuẩn
- Chẩn đoán vi khuẩn học
Kiểm tra trên kính hiển vi: Vi khuẩn hình cầu trực khuẩn, bắt màu gram âm Bồi dưỡng, phân lập trong các môi trường: Bệnh phẩm là phổi nuôi cấy trên môi trường thạch máu và các môi trường khác để kiểm tra đặc tính sinh hóa dung huyết, không di động, không mọc trên môi trường Macconkey, Indol (-), Glucose (-), Urease (+), Maltose (+), Mannitol, Mannose, Xlose (+)…
+ Phòng bệnh:
Giảm bớt số lượng vi khuẩn có hại bằng cách tẩy uế chuồng trại trước khi nhập đàn lợn mới vào mỗi ô chuồng, định kỳ phun sát trùng các dãy chuồng 1tuần/lần, chuồng khô, sạch, không ứ đọng phân nước tiểu, nước rửa chuồng Tăng cường sức đề kháng cho lợn bằng việc nuôi dưỡng chăm sóc tốt Trộn thuốc phòng bệnh vào thức ăn cho lợn ăn
Trang 36Hiện nay, có hai loại vắc xin chính được sản xuất với mục đích phòng bệnh là vắc xin vô hoạt và vắc xin tinh chế chứa một số thành phần cấu tạo
của vi khuẩn như độc tố hay protein màng ngoài của vi khuẩn Actinobacillus
pleuropneumoniae Loại vắc xin tinh chế thường có hiệu quả phòng bệnh cho
nhiều chủng vi khuẩn Actinobacillus pleuropneumoniae gây ra
Ngoài ra còn phải chú ý không để xảy ra stress như: Bảo đảm mật độ chuồng nuôi hợp lý, dữ ấm vào mùa Đông và thoáng mát và mùa Hè
+ Điều trị bệnh:
Biện pháp chủ yếu là dùng kháng sinh Khi dùng kháng sinh, để đạt hiệu quả cao, an toàn, chữa khỏi bệnh, ít tốn kém, không ảnh hưởng đến sức khỏe, năng suất chất lượng vật nuôi, đồng thời tránh và hạn chế quá trình tạo điều kiện cho sự nhờn thuốc của vi khuẩn bắt buộc phải tuân thủ các nguyên tắc điều trị
Các loại kháng sinh thường được dùng để điều trị là: Rifapicin, Ceftazidine, Ciprofloxacin, Neomycin, Amikacin… Tuy nhiên để nâng cao hiệu quả điều trị cần làm kháng sinh đồ để xác định độ mẫn cảm
Dùng kháng sinh điều trị có thể kết hợp với:
Bromhexincos tác dụng long đờm, giãn phế quản, cắt cơn ho
Diclofenac 2,5% có tác dụng kháng viêm, giảm đau, hạ sốt
Bcomplex, Vitamin C để tăng cường đề kháng
Ngoài ra, điều trị kết hợp công tác hộ lý và chăm sóc nuôi dưỡng tốt, tăng cường các biện pháp vệ sinh và hạn chế các tác nhân gây stress
Trang 372.2.1.2.3 Bệnh viêm phổi lợn do Streptococcus suis gây ra
Streptococcus là loại vi khuẩn thường xuyên có mặt trong một số khí
quan trong cơ thể gia súc, gia cầm và cả người Khi cơ thể gặp yếu tố bất lợi,
stress thì Streptococcus trỗi dậy là nguyên nhân chính hoặc kết hợp với các vi
khuẩn khác gây nên một số bệnh khá nghiêm trọng Nó có thể gây bệnh ở thể bại huyết dẫn đến chết hoặc nhiễm trùng tại chỗ như viêm não, viêm khớp, viêm nội tâm mạc ở lợn con từ 7 - 10 ngày tuổi Nhóm vi khuẩn này gồm
Streptococcus suis type 1 và đôi khi kết hợp với Streptococcus suis type 2 lây
nhiễm từ lợn mẹ qua đường không khí, qua đường tiêu hóa do tiếp xúc trực tiếp hoặc qua bơm, kim tiêm nhiễm trùng
Bệnh viêm màng não do Streptococcus ở lợn sau cai sữa và lợn vỗ béo
xảy ra sau khi chúng được nuôi nhốt chung với lợn mắc bệnh, có thể gây chết lợn đột ngột, sốt, triệu chứng thần kinh, gây viêm khớp ở lợn con
Hai loại Streptococcus được xác định có tầm quan trọng trong bệnh đường ruột của lợn là Streptococcus intestinalis, vi khuẩn gặp nhiều nhất khi phân lập chất chứa phần đầu của ruột già của lợn khỏe và Streptococcus
hyointestinalis cộng sinh ở ruột già và ruột non của lợn khỏe Khi lợn bị ỉa
chảy số lượng Streptococcus tăng lên nhiều, khi lợn ốm và chết vì bệnh phù
thì vi khuẩn thuộc nhóm cầu khuẩn sẽ cao hơn hẳn các vi khuẩn khác
Đặc biệt khi kiểm tra dịch mũi, dịch khí quản, phế quản, phổi của gia súc khỏe, cũng như mẫu bệnh phẩm là phổi, dịch phổi, dịch ngoáy mũi và hạch phổi của gia súc có bệnh tích của bệnh đường hô hấp thì người ta thường
phân lập được vi khuẩn Streptococcus suis Kết quả đó được giải thích là do
vi khuẩn Streptococcus suis có mặt thường xuyên ở đường hô hấp của gia súc
Khi sức đề kháng của cơ thể giảm sút, nó cùng các vi khuẩn khác trỗi dậy và gây nên bệnh viêm phế quản và viêm phổi hóa mủ ở lợn Triệu chứng chủ yếu
là con vật bị sốt cao, chán ăn, lờ đờ, suy yếu, có triệu chứng ưỡn người về phía sau, run rẩy, co giật, bệnh nặng có thể gây mù, điếc, đi lại khập khiễng,
Trang 38què, viêm khớp trong trường hợp mãn tính Bệnh gây chết với tỷ lệ không cao nhưng con vật sinh trưởng phát triển châm, tổn thất về kinh tế lớn
2.2.1.2.4 Bệnh suyễn lợn
+ Nguyên nhân:
Mycoplasma được biết đến với bệnh suyễn lợn hay còn gọi là bệnh
viêm phổi địa phương của lợn Bệnh gây thiệt hại nhiều về kinh tế, tăng trọng kém, tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng cao
+ Đường nhiễm bệnh:
Bệnh lây trực tiếp từ con ốm sang con khoẻ thông qua đường hô hấp và tiêu hoá Phương thức truyền bệnh là do gia súc thở, hắt hơi, ho làm cho nước dãi, dịch mũi bắn sang con khoẻ, hoặc rơi xuống nền chuồng mà gia súc khoẻ liếm phải Ngoài ra, mầm bệnh còn được truyền từ gia súc đã lành bệnh nhưng vẫn mang trùng mà hàng ngày thải mầm bệnh ra môi trường
+ Quá trình sinh bệnh:
Sau khi xâm nhập vào phổi qua đường hô hấp, Mycoplasma tạo trạng
thái cân bằng nếu sức đề kháng của cơ thể tốt Khi sức đề kháng của cơ thể giảm do nhiều nguyên nhân như: Chuồng trại không hợp lý, chăm sóc kém…
Mycoplasma tác động gây bệnh viêm phổi ở thùy đỉnh, thùy tim, thùy hoành
cách mô Sự kết hợp của các vi khuẩn kế phát như Pasteurella multocida,
Streptococcus, Staphylococcus… tác động làm cho bệnh thêm trầm trọng và
gây biến chứng viêm phổi, nung mủ phổi…
+ Triệu chứng lâm sàng:
Thời kỳ nung bệnh từ 1 - 3 tuần, trung bình 10 - 16 ngày trong tự nhiên,
5 - 12 ngày trong phòng thí nghiệm Triệu chứng ho, khó thở xuất hiện sau 25
- 65 ngày Bệnh có thể chia làm 3 thể: Cấp tính, á cấp tính và mãn tính
- Thể cấp tính:
Lúc đầu triệu chứng rất nhẹ, khó phát hiện bệnh, lợn ốm thường rời đàn, đứng hoặc nằm ở góc chuồng, kém ăn, chậm lớn Thân nhiệt bình thường