Trang 1 ------ TRẦN LAN PHƯƠNG Tên đề tài: ỨNG DỤNG KIT CATT CHẾ TẠO TỪ KHÁNG NGUYÊN TÁI TỔ HỢP TRONG NGHIÊN CỨU TÌNH HÌNH NHIỄM TIÊN MAO TRÙNG Ở TRÂU CỦA HUYỆN SƠN DƯƠNG, TỈNH TUYÊN QU
Trang 1Ở TRÂU CỦA HUYỆN SƠN DƯƠNG, TỈNH TUYÊN QUANG VÀ
SỬ DỤNG PHÁC ĐỒ ĐIỀU TRỊ HIỆU QUẢ
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Thú y Khoa : Chăn nuôi Thú y Khóa học : 2010 - 2014
Thái Nguyên - 2014
Trang 2Ở TRÂU CỦA HUYỆN SƠN DƯƠNG, TỈNH TUYÊN QUANG VÀ
SỬ DỤNG PHÁC ĐỒ ĐIỀU TRỊ HIỆU QUẢ
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian học tập tại trường và sau 6 tháng thực tập tốt nghiệp, em
đã hoàn thành bản khóa luận tốt nghiệp này Qua đây, em xin cảm ơn Ban Giám hiệu trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, Ban chủ nhiệm Khoa Chăn nuôi Thú y cùng các thầy, cô giáo trong khoa đã tận tình dạy dỗ và dìu dắt em trong suốt quá trình học tập và rèn luyện tại trường
Đặc biệt, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới: TS Nguyễn Văn Quang, GS.TS Nguyễn Thị Kim Lan, Ths.NCS Phạm Thị Trang đã tận
tình chỉ bảo và hướng dẫn em hoàn thành khóa luận tốt nghiệp của mình Đồng thời, em cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Ban lãnh đạo Trạm Thú y huyện Sơn Dương đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ em trong suốt quá trình thực tập tốt nghiệp
Cuối cùng, em xin bày tỏ lòng biết ơn tới các thầy cô giáo trong khoa Chăn nuôi Thú y, cùng gia đình bạn bè đã động viên, giúp đỡ, tạo mọi điều kiện để em hoàn thành tốt quá trình thực tập tốt nghiệp
Em xin chân thành cảm ơn !
Thái Nguyên, tháng 12 năm 2014
Sinh viên
Trần Lan Phương
Trang 4LỜI NÓI ĐẦU
Phương châm “Học đi đôi với hành”, “Lý thuyết gắn liền với thực tiễn”, thực tập tốt nghiệp là giai đoạn cuối cùng trong chương trình đào tạo
của các trường đại học nói chung và trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên nói riêng Giai đoạn thực tập tốt nghiệp chiếm một vị trí quan trọng đối với mỗi sinh viên trước khi ra trường Đây là khoảng thời gian cần thiết để sinh viên tiếp cận với thực tiễn sản xuất, có điều kiện áp dụng lý thuyết vào sản xuất nhằm hệ thống, củng cố lại kiến thức đã học trên giảng đường Từ đó nâng cao được trình độ chuyên môn, rèn luyện cho sinh viên kỹ năng tổ chức, triển khai các hoạt động, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào thực tiễn sản xuất Tạo cho mình tác phong làm việc đúng đắn, sáng tạo để sau này khi ra trường trở thành người cán bộ giỏi về chuyên môn, vững về tay nghề, đáp ứng được yêu cầu thực tế, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp phát triển đất nước Xuất phát từ nguyện vọng của bản thân, được sự nhất trí của Nhà trường, Ban Chủ nhiệm khoa Chăn nuôi Thú y – Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, sự phân công của thầy cô giáo hướng dẫn và sự tiếp nhận của Trạm Thú y huyện Sơn Dương – tỉnh Tuyên Quang, em tiến hành thực hiện
đề tài: “Ứng dụng Kit CATT chế tạo từ kháng nguyên tái tổ hợp trong nghiên cứu tình hình nhiễm tiên mao trùng ở trâu của huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang và sử dụng phác đồ điều trị hiệu quả”
Do bước đầu làm quen với công tác nghiên cứu khoa học, kiến thức chuyên môn chưa sâu, kinh nghiệm thực tế chưa nhiều và thời gian thực tập
có hạn nên trong bản khóa luận này của em không tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót Em kính mong nhận được đóng góp quý báu thầy, cô giáo cùng các bạn để bản khóa luận của em được hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Trang 5DANH MỤC BẢNG
Trang
Bảng 4.1 Tỷ lệ nhiễm tiên mao trùng ở trâu tại một số xã thuộc
huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang 4
Bảng 4.2 Tỷ lệ nhiễm tiên mao trùng ở trâu theo lứa tuổi 6
Bảng 4.3 Tỷ lệ nhiễm tiên mao trùng ở trâu theo tính biệt 8
Bảng 4.4 Tỷ lệ nhiễm tiên mao trùng ở trâu theo các tháng trong năm 9
Bảng 4.5 Thử nghiệm phác đồ điều trị bệnh tiên mao trùng trên diện hẹp 11
Bảng 4.6 Thử nghiệm phác đồ điều trị bệnh tiên mao trùng trên diện rộng 13
Bảng 4.7 Đánh giá kết quả ứng dụng biện pháp phòng chống bệnh
tiên mao trùng cho trâu ở huyện Sơn Dương - tỉnh Tuyên Quang 15
Trang 6DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang
Hình 4.1: Biểu đồ tỷ lệ nhiễm tiên mao trùng ở trâu xác định bằng
phương pháp Kit CATT và tiêm truyền chuột (%) 5
Hình 4.2: Đồ thị tỷ lệ nhiễm tiên mao trùng ở trâu theo lứa tuổi 7
Hình 4.3: Biểu đồ tỷ lệ nhiễm tiên mao trùng theo tính biệt (%) 8
Hình 4.4: Tỷ lệ nhiễm tiên mao trùng ở trâu theo các tháng trong năm (%) 10
Trang 7ELISA : Enzym-Linked Immunosobent Assay LATEX : Latex Agglutination Test
SAT : Silce Agglutination Test PBS : Phosphat Burface Saline CATT : Card Agglutination Trypanosomiasis Test
Trang 8MỤC LỤC
Trang
LỜI CẢM ƠN i
LỜI NÓI ĐẦU ii
DANH MỤC BẢNG iii
DANH MỤC CÁC HÌNH iv
DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT v
MỤC LỤC vi
Phần 1: MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.3 Ý nghĩa của đề tài 2
1.3.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học 2
1.3.2.Ý nghĩa trong thực tiễn 2
Phần 2 : TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1 Cơ sở khoa học của đề tài 3
2.1.1 Đặc điểm hình thái, cấu trúc và phân loại tiên mao trùng 3
2.1.1.1.Vị trí của tiên mao trùng Trypanosoma evansi trong hệ thống phân loại động vật học 3
2.1.1.2 Đặc điểm hình thái, cấu tạo của Trypanosoma evansi 4
2.1.1.3 Cấu trúc kháng nguyên của tiên mao trùng Trypanosoma evansi 5
2.1.2 Dịch tễ học tiên mao trùng 7
2.1.2.1 Phân bố của bệnh 7
2.1.2.2 Vật chủ và môi giới chuyền bệnh tiên mao trùng 8
2.1.2.3 Tuổi vật chủ, mùa mắc bệnh 10
2.1.2.4 Cơ chế sinh bệnh tiên mao trùng 10
2.1.3 Đặc điểm bệnh lý và lâm sàng 11
2.1.3.1 Đặc điểm bệnh lý 11
2.1.3.2 Bệnh tích của bệnh tiên mao trùng 13
Trang 92.1.4 Chẩn đoán bệnh tiên mao trùng 14
2.1.4.1 Chẩn đoán lâm sàng 14
2.1.4.2 Phương pháp chẩn đoán bệnh 15
2.1.5 Phòng trị bệnh 22
2.1.5.1 Phòng bệnh 22
2.1.5.2 Điều trị bệnh 23
2.2 Tình hình nghiên cứu về tiên mao trùng 25
2.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 25
2.2.2 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 27
Phần 3: ĐỐI TƯỢNG, VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 29
3.1 Đối tượng và vật liệu nghiên cứu 29
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu 29
3.1.2 Vật liệu nghiên cứu 29
3.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 30
3.2.1 Địa điểm nghiên cứu 30
3.2.2 Thời gian nghiên cứu 30
3.3 Nội dung nghiên cứu 30
3.3.1 Ứng dụng Kit CATT chế tạo từ kháng nguyên tái tổ hợp nghiên cứu tình hình nhiễm tiên mao trùng ở trâu tại huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang 30
3.3.2 Nghiên cứu thử nghiệm phác đồ điều trị bệnh tiên mao trùng cho trâu và đề xuất biện pháp phòng chống 30
3.3.2.1 Xây dựng phác đồ điều trị bệnh tiên mao trùng 30
3.3.2.2 Đề xuất biện pháp phòng chống bệnh tiên mao trùng cho trâu ở huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang 30
3.4 Phương pháp nghiên cứu 31
3.4.1 Phương pháp thu thập mẫu 31
3.4.2 Phương pháp phát hiện tiên mao trùng trong mẫu 31
Trang 103.4.2.1 Phương pháp Kit CATT 31
3.4.2.2 Phương pháp tiêm truyền động vật thí nghiệm 32
3.4.2.3 Phương pháp xem tươi (Direct smear) 32
3.4.3 Một số quy định trong nghiên cứu đặc điểm dịch tễ 32
3.4.4 Xây dựng phác đồ điều trị bệnh tiên mao trùng 2
3.4.5 Đề xuất và ứng dụng biện pháp phòng chống bệnh hiệu quả 2
3.5 Phương pháp xử lý số liệu 3
Phần 4 : KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 4
4.1 Xác định tình hình nhiễm tiên mao trùng ở trâu tại huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang 4
4.1.1 Tỷ lệ nhiễm tiên mao trùng ở một số xã thuộc huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang 4
4.1.2 Tỷ lệ nhiễm tiên mao trùng ở trâu theo lứa tuổi 6
4.1.3 Tỷ lệ nhiễm bệnh tiên mao trùng ở trâu theo tính biệt 8
4.1.4 Tỷ lệ nhiễm tiên mao trùng ở trâu theo các tháng trong năm 9
4.2 Nghiên cứu phác đồ điều trị bệnh T evansi cho trâu và đề xuất biện pháp phòng chống 11
4.2.1 Thử nghiệm phác đồ điều trị bệnh tiên mao trùng trên diện hẹp 11
4.2.2 Thử nghiệm phác đồ điều trị bệnh tiên mao trùng trên diện rộng 13
4.3.3 Đề xuất và ứng dụng biện pháp phòng chống bệnh hiệu quả 14
Phần 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 16
5.1 Kết luận 16
5.2 Kiến nghị 16
TÀI LIỆU THAM KHẢO 17
I Tài liệu tiếng Việt 17
II Tài liệu tiếng nước ngoài 20
Trang 11Trypanosoma evansi gây bệnh tiên mao trùng hay còn gọi là bệnh ngã
nước, bệnh này làm giảm khả năng sản xuất của trâu, bò Bệnh thường xảy ra trên vật nuôi ở thể mãn tính, tác hại của bệnh thường âm thầm và dai dẳng nên ở nhiều địa phương, các cấp chính quyền cũng như người chăn nuôi chưa quan tâm đúng mức tới việc phòng trị các bệnh ký sinh trùng cho gia súc Việc nghiên cứu tình hình nhiễm bệnh tiên mao trùng chưa được tổ chức có
hệ thống và khoa học Những phương pháp chẩn đoán thường quy đem lại hiệu quả không cao, dẫn tới bệnh tiên mao trùng trở nên phổ biến hơn, nghiêm trọng hơn và gây thiệt hại lớn hơn, ảnh hưởng lớn tới kinh tế của người nông dân
Thực tế trên đòi hỏi ngành thú y ứng dụng tiến bộ khoa học kĩ thuật trong chẩn đoán bệnh để có biện pháp, điều trị kịp thời Hiện nay, việc ứng dụng Kit CATT chế tạo bằng kháng nguyên tái tổ hợp là phương pháp chẩn đoán được đánh giá là có độ nhạy và độ đặc hiệu cao, cho kết quả nhanh, có khả năng chẩn đoán với số lượng mẫu lớn trong thời gian ngắn
Trang 12Xuất phát từ thực tế trên, được sự hướng dẫn của TS Nguyễn Văn Quang,
sự phân công của khoa Chăn nuôi - Thú y, trường Đại học Nông lâm Thái
Nguyên, chúng tôi thực hiện đề tài: “Ứng dụng Kit CATT chế tạo từ kháng nguyên tái tổ hợp trong nghiên cứu tình hình nhiễm tiên mao trùng ở trâu của huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang và sử dụng phác
đồ điều trị hiệu quả”
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
- Ứng dụng Kit CATT chế tạo từ kháng nguyên tái tổ hợp trong nghiên cứu tình hình nhiễm tiên mao trùng ở trâu của huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang
- Lựa chọn phác đồ điều trị bệnh tiên mao trùng có hiệu quả, phù hợp với điều kiện chăn nuôi miền núi
- Đề xuất biện pháp phòng và trị bệnh, góp phần hạn chế những thiệt hại do bệnh tiên mao trùng gây ra cho đàn trâu ở huyện Sơn Dương – tỉnh Tuyên Quang
1.3 Ý nghĩa của đề tài
1.3.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học
Kết quả của đề tài là những thông tin khoa học về việc ứng dụng Kit CATT chế tạo từ kháng nguyên tái tổ hợp trong nghiên cứu đặc điểm dịch tễ chẩn đoán bệnh tiên mao trùng và biện pháp phòng chống bệnh hiệu quả
1.3.2.Ý nghĩa trong thực tiễn
Kết quả đề tài là cơ sở khoa học để hướng dẫn các cán bộ thú y ứng dụng KIT CATT trong chẩn đoán bệnh và khuyến cáo người chăn nuôi áp dụng biện pháp phòng, trị bệnh tiên mao trùng, nhằm hạn chế tỷ lệ nhiễm và
thiệt hại do Trypanosoma evansi gây ra, góp phần nâng cao năng suất chăn
nuôi, thúc đẩy ngành chăn nuôi phát triển
Trang 13Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Cơ sở khoa học của đề tài
2.1.1 Đặc điểm hình thái, cấu trúc và phân loại tiên mao trùng
2.1.1.1.Vị trí của tiên mao trùng Trypanosoma evansi trong hệ thống phân loại động vật học
Theo Levine (1980) (dẫn theo Lương Văn Huấn và Lê Hữu Khương, 1997) [7], vị trí của tiên mao trùng trong hệ thống phân loại nguyên bào (Protozoa) như sau:
Ngành Sarcomastigophora
Phân ngành Mastigophora
Lớp Zoomastigophorasida
Bộ Kinetoplastorida Phân bộ Trypanosomatorina
Họ Trypanosomatidae Donein, 1901 Giống Trypanosoma Gruby, 1843 Giống phụ Megatrypanum Hoare, 1964
Loài Trypanosoma (M) theileria Giống phụ Herpetosoma Doflein, 1901
Loài Trypanosoma (H) lewisi
Giống phụ Schizotrypanum Chagas, 1909
Loài Trypanosoma (S) cruzi Giống phụ Duttonella Chalmers, 1918
Loài Trypanosoma (D) vivax Loài Trvpanosoma (D) uniforme Giống phụ Nannomonas Hoare, 1964
Trang 14Loài Trypanosoma (N) congolense Loài Trypanosoma (N) simiae Loài Trypanosoma (N) vanhogi Giống phụ Trypanozoon Liihe, 1906
Loài Trypanosoma (T) brucei Loài Trypanosoma (T) gambiense Loài Trypanosoma (T) rhodesiense Loài Trypanosoma (T) equiperdum Giống phụ Pycnomonas Hoare, 1964
Loài Trypanosoma (P) suis Giống phụ Trypanosoma Gruby, 1843
Loài Trypanosoma evansi (Steel, 1885)
Trong các loài tiên mao trùng trên, có 7 loài được tổ chức dịch tễ thế giới
(OIE) thông báo có khả năng gây bệnh cho người và động vật có vú là: T brucei, T congolense, T cruzi, T evansi, T gambiense, T siminae, T vivax 2.1.1.2 Đặc điểm hình thái, cấu tạo của Trypanosoma evansi
Phạm Sỹ Lăng và Lê Văn Tạo (2002) [13] cho biết, tiên mao trùng có kích thước: 18 - 34 x 2,5 µm, có hình mũi khoan, di động được trong máu nhờ một roi tự do xuất phát từ phía sau thân, chạy vòng quanh thân tạo thành một màng rung Khi rung động, roi tự do vung ra phía trước và màng rung chuyển động giúp cho tiên mao trùng di chuyển nhanh trong máu vật chủ
Nguyễn Thị Kim Lan và cs (2012) [11] cho biết, đặc điểm hình thái, cấu tạo của tiên mao trùng như sau: cơ thể có hình thoi, dài 18 - 34 µm Giữa có một nhân, phía cuối cơ thể có một roi, roi này chạy dọc theo thân và tạo thành nhiều màng rung động, cuối cùng roi lơ lửng ở phần đầu và thành roi tự do Tiên mao trùng di chuyển được là nhờ roi và màng rung động Trên tiêu bản máu tươi, tiên mao trùng di chuyển nhanh trong huyết tương Khi phết kính,
Trang 15nhuộm giemsa thấy nguyên sinh chất của tiên mao trùng bắt màu xanh nhạt, nhân bắt màu hồng
Cấu trúc cơ bản của T evansi cũng giống như cấu trúc của các loài tiên mao trùng khác thuộc họ Trypanosomatidae Cấu trúc từ ngoài vào trong được
chia thành 3 phần chính:
- Vỏ: ngoài cùng là lớp vỏ dày 10 - 15 nm, vỏ được chia làm 3 lớp (lớp ngoài, lớp giữa và lớp trong; lớp ngoài và lớp trong tiếp giáp với nguyên sinh chất dày hơn lớp giữa) Lớp vỏ ngoài cùng được cấu tạo từ các phân tử glycoprotein luôn biến đổi (Variant Glycoprotein Surface - VGS) Tiếp giáp với lớp trong cùng là 9 cặp vi ống xếp song song dọc theo chiều dài thân tiên mao trùng Chính nhờ sự sắp xếp của các cặp vi ống nên tiên mao trùng có dạng hình suốt chỉ mảnh (Nguyễn Quốc Doanh, 1999 [5])
- Nguyên sinh chất (gồm lớp trong và lớp ngoài): trong nguyên sinh chất
có chứa ribosome (có màu thẫm xen kẽ vùng không bào màu sáng), kinetoplast (thể cơ động), mitochrondno, reticulum (lưới nội bào) và mạng lưới golgi
- Nhân: nhân tiên mao trùng có chứa ADN, hình bầu dục hoặc hình trứng Nhân thường nằm ở vị trí trung tâm hoặc gần vị trí trung tâm cơ thể Ngoài nhân, về phía cuối thân còn có thể kinetoplast chứa ADN (KADN)
Từ kinetoplast có một roi chạy vòng quanh thân lên đầu và ra phía ngoài cơ thể thành một roi tự do Roi của tiên mao trùng có lớp vỏ ngoài cùng giống lớp vỏ của thân Trong roi có 9 cặp vi ống ở xung quanh và một cặp ở trung tâm, xếp song song dọc chiều dài roi (Hoare C A., 1972 [33]; Nguyễn Quốc Doanh, 1999 [5])
2.1.1.3 Cấu trúc kháng nguyên của tiên mao trùng Trypanosoma evansi Theo Nguyễn Thị Kim Lan (2008) [8] kháng nguyên của T evansi gồm
hai loại: kháng nguyên ổn định (kháng nguyên không biến đổi) và kháng
nguyên biến đổi
Trang 16* Kháng nguyên ổn định (kháng nguyên không biến đổi)
Phần lớn các thành phần kháng nguyên tiên mao trùng không biến đổi trong quá trình sống ký sinh Bằng phương pháp điện di miễn dịch huyết
thanh thỏ tối miễn dịch với T evansi, Kageruka (1982) đã phát hiện tới 30
thành phần kháng nguyên khác nhau Có ba loại kháng nguyên không biến đổi
ở màng nguyên sinh chất tế bào (ISG: Invariant Surface Glycoprotein): ISG
65, ISG 75 và ISG 100 Do cấu trúc không gian ba chiều và đặc tính ưa nước, các loại này không kết hợp với kháng thể của vật chủ
* Kháng nguyên biến đổi
Về kháng nguyên biến đổi, cần đề cập đến sự biến đổi lớp vỏ bề mặt VSG (Variant Surface Glycoprotein), những quan điểm mới về sự xuất hiện kháng nguyên biến đổi của tiên mao trùng và cơ chế di truyền của kháng nguyên biến đổi
Nhờ kháng thể đặc hiệu được đánh dấu mà Vickerman và Luckins (1969) đã phát hiện ra sự biến đổi của lớp kháng nguyên bề mặt Cross (1975)
đã mô tả lớp áo bề mặt của tiên mao trùng có thành phần là glycoprotein bao phủ toàn bộ bề mặt tế bào bằng một lớp phân tử giống nhau (mỗi tiên mao trùng có 107 phân tử) Lớp áo bề mặt này kích thích cơ thể vật chủ tạo ra kháng thể đặc hiệu với từng type kháng nguyên biến đổi VAT (Variable Antigen Type) Chỉ có kháng nguyên biến đổi mới có khả năng kích thích vật chủ tạo miền dịch chủ động Người ta ước lượng rằng, một con tiên mao trùng
có ít nhất vài trăm hoặc vài nghìn VSG, nghĩa là 5 - 10% số gen của tiên mao trùng cung cấp cho kháng nguyên bề mặt này
* Cơ chế di truyền của kháng nguyên biến đổi
Theo Nguyễn Thị Kim Lan (2008) [8], khi kháng thể đặc hiệu kết hợp với phân tử của kháng nguyên bề mặt (VSG), làm tiêu tan tiên mao trùng thì
đó cũng là nguyên nhân chính thúc đẩy sự hoạt hoá của gen Kết quả là các
Trang 17phân tử kháng nguyên VSG được thay đổi hoàn toàn bằng các phân tử của kháng nguyên VSG mới Lúc này, kháng thể đặc hiệu lúc trước đã không còn tác dụng đối với kháng nguyên mới này
Theo Barry J D và cs (1991) [31], Vanhamme L và cs (1995) [44], các VSG được mã hoá nhờ các gen chuyên biệt Từ kho chứa hàng nghìn gen khác nhau, một gen VSG được hoạt hoá một cách chọn lọc, dẫn đến tổng hợp
ra một loại kháng nguyên VSG Mỗi gen VSG mới tạo ra một loại kháng nguyên VSG mới Trong bộ gen của tiên mao trùng tồn tại một số lớn gen kháng nguyên VSG, các gen này sử dụng nhiều cơ chế sắp xếp khác nhau, do vậy tiên mao trùng đã tạo ra nhiều kháng nguyên khác nhau ở gia súc bị bệnh mãn tính Cơ chế biến đổi kháng nguyên theo 2 cách: cách thứ nhất là sử dụng lần lượt các điểm biểu hiện gen (expression side) khác nhau, không có sự sắp xếp của ADN Các điểm biểu hiện khác nhau sẽ mang các gen VSG khác nhau, sự luân phiên này dẫn đến sự thay đổi type kháng nguyên Cơ chế này quan sát được chủ yếu ở giai đoạn đầu của quá trình cảm nhiễm Có lẽ ở giai đoạn đầu này chưa có đáp ứng miễn dịch của vật chủ đối với VSG, chính điều này không gây ra một cản trở hoạt hoá tự nhiên của các điểm biểu hiện gen này Cách thứ hai là tập hợp lại các đoạn ADN khác nhau để tái tổ hợp gen,
mà việc tái tổ hợp này cho phép thay thế hoàn toàn hoặc từng phần gen, hoặc việc thay thế diễn ra dựa vào sự chuyển đổi gen chứ không phải dựa vào tái tổ hợp gen Trường hợp này được diễn giải như sau: một gen hoạt hoá được thay thế bằng bản sao chép của một gen khác Do có sự thay thế một phần của gen nên đã tạo ra loại gen phức hợp và đặc trưng
2.1.2 Dịch tễ học tiên mao trùng
2.1.2.1 Phân bố của bệnh
Bệnh tiên mao trùng xảy ra với tên gọi "bệnh Surra” ở Ả rập Saudi,
Yêmen, Sultanate, Ả Rập thống nhất, Thổ Nhĩ Kỳ, Israel, Syrie, Afganistan, Pakistan
Trang 18Ở Châu Phi, bệnh trải dài từ Tây sang Đông, phía Bắc qua vùng sa mạc Sahara, dọc theo bờ biển Atlantique Địa Trung Hải
Ở Châu Á, bệnh xuất hiện ở Trung Á (thuộc Liên Xô cũ), Ấn Độ, Malaysia, bán đảo Đông Dương, Trung Quốc, Indonexia, Philippine
Ở Châu Âu, bệnh xuất hiện ở Bungaria (nay đã được thanh toán), hiện chỉ còn ở vùng Volga và Nam Capcase (Liên Xô cũ)
Ở Châu Mỹ, bệnh xuất hiện ở Trung Mỹ, Nam Mỹ, đặc biệt phổ biến ở Brazil, Mexico, Venezuela, Colombia
Châu Úc cũng đã được xác định là có bệnh tiên mao trùng (Reid S A
2002 [37])
Ở Việt Nam, từ những năm 1960 trở đi bệnh tiên mao trùng đã được nghiên cứu và chứng minh được những thiệt hại do bệnh gây nên Theo kết quả điều tra tình hình nhiễm tiên mao trùng ở trâu, bò Việt Nam của Lê Ngọc Mỹ (1994) [19] cho thấy: trâu, bò nhiễm tiên mao trùng với tỷ lệ cao (21,27%), trong đó trâu, bò nuôi ở các tỉnh miền núi phía Bắc nhiễm cao hơn đồng bằng
Phan Lục và cs (1996) [16] cho biết tỷ lệ nhiễm tiên mao trùng của bò ở một số tỉnh địa phương miền Bắc là 5,9%
Hà Viết Lượng (1998) [17] tỷ lệ trâu, bò nhiễm tiên mao trùng ở các tỉnh miền Trung là 8,9%
Lê Đức quyết và cs (1995) [25], Phạm Chiến và cs (1999) [1] trâu ở một số tỉnh miền Nam và Tây Nguyên nhiễm tiên mao trùng là 22,12%; bò
là 6,6% - 10,3%
2.1.2.2 Vật chủ và môi giới chuyền bệnh tiên mao trùng
Ngoài việc tìm hiểu và nghiên cứu về quá trình phát triển bệnh các nhà khoa học còn tìm hiểu những vật chủ trung gian truyền bệnh cho gia súc nhằm hạn chế thiệt hại tới mức thấp nhất cho gia súc
Trang 19Trong tự nhiên, tiên mao trùng ký sinh ở hầu hết các loài thú nuôi và thú hoang, thấy nhiều hơn ở trâu, bò, ngựa, trâu bò rừng, hươu, nai, hổ, báo, sư
tử, chó, mèo, lạc đà, voi, thỏ, chuột cống, chuột lang, chuột bạch nhưng không ký sinh ở người (Phạm Sỹ Lăng và cs, 2009) [14]
Ngoài những động vật gây nhiễm T evansi tự nhiên, trong phòng thí
nghiệm có thể truyền bệnh tiên mao trùng cho các loài động vật nhỏ: chuột nhắt trắng, chuột cống trắng, thỏ, chuột lang, chồn, chó, mèo trong đó chuột
nhắt trắng và chuột cống trắng rất mẫn cảm với T evansi
Nguyễn Thị Kim Lan (2012) [11] cho biết: sự lây truyền tiên mao trùng từ trâu, bò ốm sang trâu, bò khoẻ là nhờ các loài ruồi hút máu (thuộc họ phụ
Stomoxydinae) và các loài mòng hút máu (thuộc họ Tabanidae) Ruồi và mòng
hút máu của gia súc bị bệnh, hút luôn cả tiên mao trùng vào vòi hút, sau đó lại hút máu gia súc khoẻ, trong khi hút máu sẽ truyền tiên mao trùng từ vòi hút vào máu con vật khoẻ Sự lây truyền này mang tính chất cơ học Như vậy, ruồi và mòng hút máu là những vật môi giới truyền bệnh tiên mao trùng quan trọng
- Thành phần loài ruồi, mòng hút máu ở nước ta
Theo Phan Địch Lân (2004) [15], phần lớn các loài mòng tập trung ở khu vực miền núi và trung du Trong 53 loài mòng thì có tới 44 loài phân bố ở vùng rừng núi có độ cao dưới 1.000 mét so với mặt nước biển, càng lên cao
số loài càng ít dần (độ cao trên 1.000 mét chỉ có 26 loài) Ở vùng trung du (rừng thưa, độ cao không quá 500 mét so với mặt nước biển có 27 loài; vùng đồi trọc chỉ có 9 - 11 loài; vùng rừng núi ven biển phát hiện chỉ có 8 loài
Những loài mòng phổ biến ở tất cả các vùng là: Tabanus rubidus, T triatus, Chrysops dispar, Chrysozoma assamensis, T triatus, Chrysops dispar, Chrysozoma assamensis
Hình thái tiên mao trùng khi ở trong vòi ruồi, mòng biến đổi theo thời gian: từ 1 - 34 giờ hình thái, kích thước bình thường; 35 - 45 giờ: hình dạng thay đổi, tăng kích thước chiều rộng và thô dần; 46 - 53 giờ: tiên mao trùng trương to, duỗi thẳng, mất khả năng di động và ngừng hẳn hoạt động
Trang 20Thực nghiệm đã chứng minh khả năng gây bệnh của tiên mao trùng sau
khi xâm nhập vào mòng Tabanus rubidus như sau: Thời gian từ giờ thứ 1 đến
thứ 5, tiên mao trùng có khả năng gây bệnh và làm chết chuột bạch tương tự như khi truyền thẳng máu có tiên mao trùng cho chuột; từ giờ thứ 6 đến thứ 7 chỉ còn 30% số chuột thí nghiệm phát bệnh, thời gian gây bệnh kéo dài và thời gian chết của chuột cũng dài Điều này có thể giải thích là do độc lực của tiên mao trùng giảm dần và số lượng tiên mao trùng còn hoạt lực gây bệnh
cũng giảm dần sau khi chúng xâm nhập vào mòng Tabanus rubidus
2.1.2.3 Tuổi vật chủ, mùa mắc bệnh
Trâu, bò và các loài gia súc khác ở mọi lứa tuổi đều nhiễm tiên mao trùng và đều phát bệnh, có thể dẫn đến tử vong hoặc suy nhược, thiếu máu, giảm sức đề kháng, giảm khả năng sinh đẻ và sức sản xuất
Phan Địch Lân (2004) [15] đã tổng hợp kết quả điều tra 3.172 trâu ở các tỉnh đồng bằng: trâu dưới 3 năm tuổi nhiễm thấp nhất (3,2 - 6,l%), trâu 3 - 5 tuổi nhiễm cao hơn (6 - 12,7%), trâu 6 - 8 tuổi nhiễm cao nhất (12,9 - 14,8%), trâu trên 9 năm tuổi tỷ lệ nhiễm giảm thấp hơn trâu 3 - 8 năm tuổi
Phan Văn Chinh (2006) [2] cho biết, tỷ lệ nhiễm tiên mao trùng cao nhất
ở 4 - 8 năm tuổi (trâu: 12,71%; bò: 5,77%), thấp nhất là trâu, bò dưới 3 năm tuổi (6,92% và 2,31%) Mùa lây lan bệnh thường xảy ra trong các tháng nóng
ẩm, thưa nhiều (từ tháng 4 đến tháng 9) Thời gian này điều kiện sinh thái thuận lợi cho các loài ruồi, mòng phát triển, hoạt động mạnh Hút máu súc vật
và truyền tiên mao trùng
2.1.2.4 Cơ chế sinh bệnh tiên mao trùng
Sau khi xâm nhập vào cơ thể vậ chủ, T evansi vào máu sinh sản nhiều
bằng cách nhân đôi theo chiều dọc cơ thể, số lượng tiên mao trùng tăng lên sản sinh ra độc tố làm giãn thành mạch gây xuất huyết ở niêm mạc và tăng thẩm thấu
gây hiện tượng thủy thũng, T evansi còn tiết độc tố làm cho hệ thần kinh bị
Trang 21trúng độc, chức năng điều hòa thân nhiệt bị rối loạn, con vật sốt, run rẩy, bại liệt
cứng chân, lăn lộn điên cuồng trước khi chết T evansi còn ngăn cản chức năng
sinh sản hồng cầu của lách, tủy xương là cho hồng cầu giảm nhiều, máu nhạt màu và loãng Mặt khác, khi hồng cầu giảm sút, máu thiếu huyết sắc tố khả năng vận chuyển O2 và CO2 giảm nên acid tích lại trong máu gây hiện tượng trúng độc acid, khả năng chết càng cao hơn
2.1.3 Đặc điểm bệnh lý và lâm sàng
2.1.3.1 Đặc điểm bệnh lý
Khi ruồi trâu, mòng đốt, hút máu và truyền tiên mao trùng vào trâu, tiên mao trùng xâm nhập vào da, gây ra vết viêm trên mặt da Theo đó có thể quan sát được phản ứng viêm ở da của thỏ, cừu, dê và bò gây nhiễm tiên mao trùng được tiêm truyền (ước chừng khoảng 108
tiên mao trùng có thể gây viêm da - ở
vị trí tiêm truyền), một số lượng lớn tiên mao trùng phát triển ở chỗ viêm này Vào máu, tiên mao trùng nhân lên heo cấp số nhân ở trong máu, trong bạch huyết và trong các mô khác của vật chủ theo cách phân chia theo chiều dọc Số lượng tiên mao trùng trong máu không phải lúc nào cũng như nhau Mật độ tiên mao trùng thay đổi theo ngày Biểu đồ song của tiên mao trùng cho thấy, xen kẽ giữa sóng tiên mao trùng mạnh là những đợt sóng yếu Mỗi đợt sóng tiên mao trùng bắt đầu bằng sự tăng số lượng tiên mao trùng trong máu, sau đó giảm và khó phát hiện thấy tiên mao trùng Mỗi đợt tiên mao trùng tăng lên trong máu là biểu hiện sự xuất hiện một quần thể tiên mao trùng có tính kháng nguyên bề mặt mới, quần thể này có thể tiếp tục sinh sản và tồn tại một thời gian cho đên khi cơ thể xuất hiện kháng thể đặc hiệu với chúng
Tiên mao trùng phát tiển nhanh trong máu, tiêu thụ glucose và các chất đạm, chất béo và chất khoáng chất trong máu ký chủ bằng phương thức thẩm thấu qua bề mặt cơ thể để duy trỳ hoạt động và sinh sản Ở súc vật bị bệnh, trong 1 ml máu có thẻ có 10000 – 30000 tiên mao trùng Với
Trang 22số lượng nhiều như vậy, tiên mao trùng chiếm đoạt rất nhiều chất dinh dưỡng, làm cho súc vật bệnh gầy còm, thiếu máu và mất dần khả năng sản xuất sữa, thịt, khả năng sinh sản và gảm sức đề kháng đối với bệnh khác Sống trong máu vật chủ, tiên mao trùng còn tạo ra các độc tố
Trypanotoxin, độc tố này bao gồm: độc tố do tiên mao trùng tiết ra qua màng
thân trong quá trình sống và độc tố do xác chết của tiên mao trùng phân hủy trong máu sau 15 – 30 ngày Độc tố của tiên mao trùng tác động lên hệ thần kinh trung ương làm rối loạn trung khu điều hòa thân nhiệt, gây sốt cao và gián đoạn (lúc sốt, lúc hết sốt xen kẽ nhau) Khi sốt thường có rối loạn thần kinh (kêu rống, run rẩy, ngã vật xuống) Độc tố cũng pha hủy hồng cầu, ức chế cơ quan tạo máu làm cho vật chủ thiếu máu và suy nhược dần Độc tố tác động tới bộ máy tiêu hóa, gây rối loạn tiêu hóa, làm con vật ỉa chảy Hội chứng tiêu chảy thường xảy ra khi xuất hiện tiên mao trùng trong máu con vật bệnh Khi tăng lên số lượng lớn trong máu, tiên mao trùng còn làm tắc các mao mạch, làm tăng tính thấm thành mạch, dần dần tạo ra các ổ thủy thũng chất keo vàng dưới ra
* Triệu chứng lâm sàng của bệnh tiên mao trùng ở trâu, bò
Bệnh tiên mao trùng thường biểu hiện ở hai thể là thể cấp tính và thể mãn tính, tuy nhiên trong thực tế thường gặp ở dạng mãn tính là chủ yếu + Thể cấp tính: Con vật béo tốt, đang đi làm đột nhiên bị ngã hoặc không thể làm được nữa, sốt rất cao ở trâu, bò là 3905 - 4105, ở ngựa là 410 - 420 C, con vật thở mạnh Lúc này nếu lấy máu kiểm tra sẽ phát hiện ra tiên mao trùng Trong lúc sốt và sau cơn sốt con vật có hiện tượng bỏ ăn, miệng cắn chặt, nước miếng chảy ra liên tiếp, đầu rủ xuống, nước mắt và nhử mắt chảy rất nhiều, phân nhão có lẫn máu Sau cơn sốt con vật gầy đi rất nhiều, nếu không can thiệp kịp thời thì con vật co giật, giẫy dụa và chết sau khoảng một vài giờ
Trang 23+ Thể mãn tính: Triệu chứng của trâu, bò bị nhiễm T evansi thường
không rõ ràng, chúng có biểu hiện chung là gầy yếu và chỉ đến khi thời tiết rét, thức ăn thiếu thốn, lao tác nặng nhọc làm giảm sức đề kháng thì bệnh mới
có những biểu hiện lâm sàng rõ ràng hơn Lúc này súc bệnh có biểu hiện sốt cách nhật, lông xù xì, mắt có dử, giác mạc viêm hay chảy nước mũi, vùng bụng và chân sau thủy thũng Nguyễn Thị Kim Lan và cs, 2011 [10] cho biết, trâu bò bị bệnh ở bệnh mãn tính thường kéo dài, liệt hai chân sau, dần dần suy nhược rồi chết
Thể trạng súc bệnh gầy ốm suy nhược, sau 7 ngày có thể chết Nếu ở thể mãn tính con vật gầy rạc, lông dựng đứng xơ xác Mắt hõm sâu, cơ bắp teo dần, niêm mạc nhợt nhạt, hoàng đản (Lương Văn Huấn, Lê Hữu Khương, 1997) [7]
Tình trạng thiếu máu thể hiện rõ trong bệnh do T evansi gây ra Số
lượng hồng cầu và hàm lượng huyết sắc tố giảm, số lượng bạch cầu tăng, thành phần bạch cầu thay đổi: bạch cầu lymphô, bạch cầu ái toan tăng nhưng bạch cầu trung tính giảm, protein tổng số và albumin giảm rõ rệt Theo Nguyễn Thị Kim Lan (2012) [11], hồng cầu bị phá hoại nên số lượng hồng cầu và hàm lượng hemoglobin giảm
Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (2011) [10] hầu hết trâu, bò sữa bị bệnh thì suy nhược, mất dần khả năng sinh sản và giảm lượng sữa 30 - 50%, có thể chết do kiệt sức Trâu cái bị sảy thai vào tháng thứ 7 - 8 khi bị bệnh tiên mao trùng
2.1.3.2 Bệnh tích của bệnh tiên mao trùng
Trong quá trình ký sinh, T evansi đã tiết ra độc tố Trypanosoma Độc tố
này theo máu đi khắp cơ thể, tác động lên nội quan của vật bệnh, đặc biệt là
bộ máy tuần hoàn và gây ra một số bệnh tích đặc biệt Ở gia súc mắc bệnh,
khi chết mổ khám thường thấy một số bệnh tích sau: chủ yếu là các tế bào gan
bị hoại tử, bạch cầu đơn nhân thấm qua phế quản, tế bào ống thận bị hoại tử
và bong ra Các hạch lâm ba bị sưng, niêm mạc nhợt nhạt
Trang 24Theo Nguyễn Thị Kim Lan (2011) [9] trâu, bò bị bệnh tiên mao trùng khi chết gầy xơ xác, mổ khám thấy có những biến đổi bệnh tích đại thể rõ rệt
ở hệ tuần hoàn và hô hấp: tim nhão, xoang bao tim tích nước vàng; phổi sung huyết và tụ máu từng đám nhỏ; gan sưng to, nhạt màu; lách sưng, mềm nhũn
và nhạt màu; hạch lâm ba sưng và có tụ máu trong hạch; cơ nhão, màu nhợt nhạt, nhát cắt rỉ nước; xoang ngực và xoang bụng tích dịch màu vàng nhạt; có những đám keo nhầy vàng dưới vùng da thủy thũng
2.1.4 Chẩn đoán bệnh tiên mao trùng
2.1.4.1 Chẩn đoán lâm sàng
Nguyễn Thị Kim Lan (2011) [10] cho biết, các biểu hiện lâm sàng đặc trưng của bệnh tiên mao trùng ở gia súc không phải lúc nào cũng phát hiện được Rất nhiều gia súc mang bệnh nhưng khó phát hiện các triệu chứng đặc trưng, nhất là đối với những gia súc mắc bệnh tiên mao trùng mãn tính Do vậy trong quá trình chẩn đoán ta có thể căn cứ vào các biểu hiện triệu chứng lâm sàng như sau:
- Sốt cao và gián đoạn: sau 14 - 30 ngày bị ruồi, mòng hút máu truyền tiên mao trùng, trâu, bò thường đột ngột lên cơn sốt (40 - 41,70C) kéo dài 2 -
4 ngày rồi giảm, thời gian sau nhiệt độ lại tăng lên Thời gian gián đoạn giữa hai cơn sốt dài hay ngắn tuỳ theo thể trọng con vật Khi sốt, kiểm tra máu thường thấy tiên mao trùng
- Hội chứng thần kinh: ở một số trâu, bò khi lên cơn sốt còn thể hiện hội chứng thần kinh như điên loạn, mắt đỏ ngầu, húc đầu vào tường, chạy vòng quanh kêu rống lên Trường hợp nhẹ thấy run rẩy từng cơn, mắt trợn ngược rồi
đổ ngã vật xuống, sùi bọt mép giống như trâu bị cảm nắng Sau 20 - 30 phút con vật lại đứng dậy đi lại được Những trâu bò mắc bệnh có triệu chứng lâm sàng như trên thường là mắc bệnh ở thể cấp tính
- Phù thũng dưới da: phù thũng thường thấy ở vùng thấp của cơ thể như
ở bốn chân (từ khớp khuỷu trở xuống), phần yếm, ngực, bộ phận sinh dục
Trang 25- Viêm giác mạc và kết mạc mắt: triệu chứng này thấy ở hầu hết trâu, bò bệnh Mắt có dử trắng hay vàng, chảy liên tục, nếu nặng thì mắt sưng đỏ ngầu Khi khỏi bệnh, mắt có màng trắng (củi nhãn) kẻo che kín giác mạc
- Hội chứng tiêu hoá: một số trâu, bò bệnh bị ỉa chảy nặng, phân lỏng, màu vàng, sau chuyển màu xám, có lẫn bọt và chất nhầy Các đợt ỉa chảy tiếp theo những cơn sốt cách quãng Ỉa chảy trong bệnh tiên mao trùng thường dai dẳng và con vật vẫn ăn được Có khoảng 30% trâu bò bệnh thể hiện viêm ruột, ỉa chảy kéo dài sau những cơn sốt
- Gầy yếu, suy nhược: ở thể bệnh cấp tính trâu, bò gầy sút nhanh, chỉ sau
7 - 14 ngày từ khi phát bệnh con vật đã gầy rộc, mắt trũng sâu Nếu bệnh kéo dài thì con vật gầy xơ xác, lông dựng ngược, da khô nhăn nheo, niêm mạc mắt nhợt nhạt, lông dễ rụng, dần dần suy nhược cơ thể nặng, mất khả năng cày kéo và sinh sản Nếu gặp điều kiện bất lợi như thiếu ăn, rét mướt thì trâu, bò
dễ chết Trong thực tế, có khoảng 3% trâu bệnh ở thể ẩn vẫn béo khoẻ, làm việc bình thường khi được chăm sóc nuôi dưỡng tốt
2.1.4.2 Phương pháp chẩn đoán bệnh
Có nhiều phương pháp chẩn đoán tiên mao trùng trong phòng thí nghiệm, mục đích là phát hiện tiên mao trùng trong máu gia súc Tùy từng trường hợp bệnh, tuỳ điều kiện mà có thể làm cùng lúc một số phương pháp hoặc lựa chọn một phương pháp phù hợp và có độ chính xác cao
* Phương pháp phát hiện tiên mao trùng trực tiếp:
Để phát hiện tiên mao trùng trực tiếp, có thể áp dụng phương pháp sau:
- Phương pháp xem tươi (Direct smear)
Khi bệnh súc sốt, T evansi thường xuất hiện trong mao quản ngoại vi Vì
vậy, trường hợp này nên lấy máu vùng ngoại vi để xem tươi Cho 1 giọt máu nhỏ lên phiến kính, đậy lamen lên giọt máu để giọt máu dàn theo lamen thành một lớp mỏng Soi dưới kính hiển vi (độ phóng đại 10 x 20 và 10 x 40) để phát hiện tiên mao trùng sống
Trang 26- Phương pháp nhuộm Giemsa tiêu bản máu khô (Romanovsky)
Đặt một giọt máu tươi cách 1 đầu phiến kính khoảng 2 cm, đặt cạnh của một lamen lên giọt máu, nghiêng 450 với phiến kính Khi máu đã lan hết cạnh lamen, đẩy nhẹ lamen trên phiến kính để dàn máu thành một lớp mỏng
Để khô, cố định bằng cồn methanol trong 2 phút Nhuộm giemsa trong 25 phút (dung dịch giemsa mẹ pha trong nước cất theo tỷ lệ 1: 9) Để nghiêng tiêu bản dưới vòi nước chảy nhẹ cho trôi hết giemsa thừa, để khô tiêu bản, soi dưới kính hiển vi (độ phóng đại 10 x 100) tìm tiên mao trùng
- Phương pháp làm tan hồng cầu: dung dịch SDS (Sodium Dodecyl Sulfat) là chất làm tan hồng cầu Nhờ dung dịch SDS, tiên mao trùng dễ dàng được phát hiện trong máu Dung dịch SDS rất độc nên tránh tiếp xúc với da
và tránh hút bằng pipet Dung dịch SDS dễ bảo quản ở nhiệt độ thường trong nhiều tháng (Van Meirvenne và cs, 1989) [43])
- Phương pháp tập trung tiên mao trùng: người ta đã sử dụng phương pháp ly tâm tập trung tiên mao trùng bằng ống Haematocrit hoặc tách tiên mao trùng bằng gen DEAE - cellulose
+ Phương pháp ly tâm tập trung bằng ống Haematocrit (WOO, 1971): cho máu động vật nghi mắc bệnh vào ống Haematocrit, một đầu ống được bịt kín bằng chất dẻo matit, một đầu ống để hở Ly tâm với tốc độ 14.000 vòng/phút trong 5 phút Sau đó kiểm tra sự tập trung của tiên mao trùng tại vị trí tiếp giáp giữa huyết tương và hồng cầu (độ phóng đại 10 x 10)
Với ống Haematocrit trên, có thể thực hiện phương pháp Darkground: cắt ống ở vị trí tiên mao trùng tập trung (ranh giới giữa huyết tương và hồng cầu), dùng pipet lấy một ít huyết tương ở vị trí đó đặt lên phiến kính, đậy lamen và kiểm tra dưới kính hiển vi (độ phóng đại 10 x 40)
+ Phương pháp tách tiên mao trùng bằng gen DEAE - cellulose - PSG (PSG: Phosphat Saline Glucose) mang điện tích dương đã liên kết và giữ lại
Trang 27các thành phần mang điện tích âm có trong máu là hồng cầu và tiểu cầu Còn lại, tiên mao trùng được tách ra cùng với dung dịch PSG và huyết tương Bằng phương pháp này, có thể tách được trên 96% tiên mao trùng
-Phương pháp tiêm truyền động vật thí nghiệm:
Đây là phương pháp phổ biến, hiệu quả, chính xác và thường được ứng dụng nhiều để chẩn đoán bệnh tiên mao trùng ở Việt Nam Phương pháp này
có ưu điểm là chính xác, do trực tiếp phát hiện thấy tiên mao trùng sau khi nhân chúng lên trong động vật thí nghiệm mẫn cảm Song, nhược điểm của phương pháp tiêm truyền động vật thí nghiệm là khi cần chẩn đoán nhanh, với
số lượng nhiều và thời gian ngắn thì phương pháp này không thể đáp ứng được (Lê Ngọc Mỹ và cs, 1994 [19], Đoàn Văn Phúc và cs, 1994 [24])
Các phương pháp trên có đặc điểm chung là phát hiện được tiên mao trùng nhưng không triệt để, cho tỷ lệ thấp trên con vật mới nhiễm bệnh dưới một tháng Chính vì vậy, trong thực tế có nhiều trường hợp không tìm thấy tiên mao trùng trong con vật mới nhiễm do không phải lúc nào tiên mao trùng cũng
có ở máu ngoại biên Do đó, ngày nay người ta thường áp dụng các phương pháp huyết thanh học và sinh học phân tử
* Phương pháp chẩn đoán huyết thanh học:
Bằng phương pháp huyết thanh học, có thể phát hiện kháng thể hoặc kháng nguyên tiên mao trùng Đây là các phương pháp huyết thanh học đặc hiệu
- Các phương pháp phát hiện kháng thể kháng tiên mao trùng
Khi tiên mao trùng ký sinh, cơ thể vật chủ sinh ra kháng thể đặc hiệu chống lại tiên mao trùng Những phương pháp sau cho phép phát hiện kháng thể kháng tiên mao trùng trong máu vật chủ:
+ Phương pháp ngưng kết trên phiến kính (SAT: Slice Agglutination Test)
Hoà tan 1 giọt huyết thanh trâu, bò nghi mắc bệnh vào 1 giọt nước muối sinh lý trên phiến kính, sau đó cho 1 giọt máu chuột bạch có nhiều tiên mao
Trang 28trùng vào, trộn đều, đậy lamen và soi dưới kính hiển vi (độ phóng đại 10 x 20 hoặc 10 x 40) Nếu thấy ngưng kết hình hoa cúc là dương tính và ngược lại là âm tính Phương pháp này đơn giản, dễ làm và có thể áp dụng trên diện rộng
+ Phương pháp LATEX (Latex Agglutination Test)
LATEX là phương pháp được dùng để phát hiện kháng thể lưu động có trong máu của gia súc mắc bệnh tiên mao trùng
Nguyên lý của phương pháp LATEX: khi kháng nguyên bề mặt T evansi gắn lên các hạt latex kết hợp với kháng thể đặc hiệu kháng tiên mao
trùng ở trên bản nhựa, thì sẽ xảy ra phản ứng ngưng kết giữa kháng nguyên với kháng thể Hiện tượng ngưng kết có thể quan sát được bằng mắt thường,
và được giải thích là do kháng nguyên bề mặt tiên mao trùng được gắn lên các hạt latex là loại kháng nguyên hữu hình, có nhiều điểm quyết định tính kháng nguyên bề mặt (epitop surface) Còn kháng thể đặc hiệu kháng tiên mao trùng lại có nhiều điểm thụ thể (receptor) tương ứng, đặc hiệu với các điểm quyết định của kháng nguyên Do đó, khi kháng nguyên tiên mao trùng gặp kháng thể đặc hiệu kháng tiên mao trùng, sẽ có hiện tượng một phân tử kháng thể đặc hiệu liên kết với nhiều phân tử kháng nguyên và ngược lại Kết quả là các hạt latex cùng với kháng nguyên chụm lại, tạo thành đám ngưng kết có thể quan sát bằng mắt thường Kháng nguyên dùng cho phản ứng là kháng
nguyên bề mặt được tinh chế từ chủng T evansi không nhuộm màu
Phương pháp này có thể ứng dụng để chẩn đoán nhanh, số lượng nhiều, tỷ
lệ phát hiện cao Tuy nhiên, nhược điểm của phương pháp này là có thể có phản ứng giả khi pha loãng huyết thanh ở nồng độ thấp 1/2, 1/4 và dương tính cả ngay khi con vật khỏi bệnh nhưng vẫn còn kháng thể tồn tại trong huyết thanh Mặt khác, phải nhập kháng nguyên của nước ngoài nên giá thành rất cao
+ Phương pháp ngưng kết trên bản nhựa (CATT - Card Agglutination Test for Trypanosomiasis)
Là phương pháp ngưng kết trực tiếp giữa kháng nguyên và kháng thể trên bản nhựa, dùng để phát hiện kháng thể lưu động trong máu động vật nhiễm bệnh
Trang 29Nguyên lý: kháng nguyên tiên mao trùng đã được nhuộm màu kết hợp với kháng thể tạo thành những đám kết tủa li ti màu xanh
Cách tiến hành:
Dùng ống hút 2,5 ml dung dịch buffer cho vào lọ kháng nguyên chuẩn đã được nhuộm màu (CATT reagent), lắc đều Cho vào lọ kháng nguyên đối chứng (đối chứng dương, đối chứng âm) mỗi lọ 0,5 ml dung dịch buffer, lắc đều Dùng micropipette pha loãng huyết thanh theo tỷ lệ cần chẩn đoán (1/8) Cho các mẫu huyết thanh cần chẩn đoán đã được pha loãng lần lượt vào các vòng tròn của bản CATT, cho kháng nguyên đối chứng vào hai vòng tròn khác của bản, mỗi loại 1 giọt (tương đương 45µl) Sau đó cho vào tất cả các vòng tròn trên bản CATT 1 giọt kháng nguyên chuẩn Dùng que nhựa trộn đều Cuối cùng, cho lên máy lắc 5 phút (60 - 70 lần/ phút) và đánh giá kết quả Điểm khác của phương pháp này so với phương pháp LATEX là kháng nguyên dùng cho phản ứng này được nhuộm bằng dung dịch Commassie Blue sau đó đem đông khô Ứng dụng phương pháp CATT ở Việt Nam để điều tiết bệnh tiên mao trùng, Lương Tố Thu và cs, (1996) [29], đã cho biết phương pháp này dễ sử dụng, có độ nhạy, độ đặc hiệu cao Theo tác giả, độ nhạy của CATT gần gấp đôi phương pháp tiêm truyền chuột bạch (độ nhạy CATT
73,75%; tiêm truyền chuột bạch 40%)
+ Phương pháp miễn dịch huỳnh quang gián tiếp IFAT (Indirect Fluorescent Antibody Test)
Phản ứng này là phản ứng huyết thanh học đặc hiệu có độ nhạy cao, được ứng dụng rộng rãi trong phòng thí nghiệm và thực địa Ngoài việc được dùng làm phản ứng chuẩn để so sánh với các phương pháp huyết thanh khác, phương pháp IFAT còn được dùng trong nghiên cứu các dòng kháng nguyên, phát hiện kháng thể
Trang 30Trong phương pháp IFAT, huyết thanh dương chuẩn được lấy từ trâu bò mắc bệnh tiên mao trùng, huyết thanh âm chuẩn được lấy từ trâu bò khoẻ mạnh, huyết thanh cần chẩn đoán là huyết thanh lấy từ gia súc nghi mắc bệnh Ứng dụng phương pháp này ở Việt Nam, Lương Tố Thu (1994) [28], đã chế tạo conjugate huỳnh quang trên thỏ kháng IgG của bò để chẩn đoán bệnh tiên mao trùng Độ pha loãng của conjugate tự chế sử dụng cho phản ứng là 1/8 và huyết thanh chuẩn pha loãng ớ 1/40 Theo Lương Tố Thu và Lê Ngọc
Mỹ (1996) [29], độ nhạy của phương pháp IFAT là 71,25%, trong khi phương pháp tiêm truyền chuột bạch là 40%
Để tinh chế kháng nguyên T evansi dùng trong phản ứng miễn dịch huỳnh
quang gián tiếp để chẩn đoán bệnh tiên mao trùng ở trâu, bò, Vương Thị Lan
Phương (2004) [22] đã nghiên cứu kháng nguyên bề mặt T evansi phân lập từ
trâu, bò ở 6 tỉnh phía Bắc Việt Nam và cho biết:
Đã thu được 6 mẫu tiên mao trùng từ 6 tỉnh, tiến hành phân dòng, phân VAT (Variable Antigenic Type) và thu được 26 VAT thuộc 6 kho kháng nguyên khác nhau Bằng phản ứng dung giải miễn dịch và phương pháp thấm miễn dịch,
tác giả đã xác định được sự thay đổi kháng nguyên bề mặt của T evansi: Đa số
các VAT của các kho kháng nguyên khác nhau là khác nhau, chỉ có 8/26 VAT
có hiệu giá kháng thể đơn giá đặc hiệu, có phản ứng chéo với các VAT của các kho kháng nguyên khác
Các VAT trội xuất hiện sớm trong 4 tuần lễ đầu nhiễm bệnh, có tính kháng nguyên mạnh có thể nghiên cứu ứng dụng chế kháng nguyên chẩn đoán Từ đó, tác giả đã tinh chế kháng nguyên theo phương pháp tách tiên mao trùng để dùng trong phản ứng miễn dịch huỳnh quang gián tiếp, chẩn đoán bệnh tiên mao trùng cho độ nhạy và độ đặc hiệu cao
+ Phương pháp ELISA (Enzyme Linked Immunosorbent Assay):
Phương pháp ELISA là một trong những phương pháp hiện đại nhất được ứng dụng để chẩn đoán bệnh tiên mao trùng
Trang 31Nguyên lý: dùng kháng thể hoặc kháng thể kháng globulin (kháng kháng thể) có mang một enzym (Phosphatase hoặc Peroxydase) được gắn trên mảnh Fc, cho kết hợp trực tiếp hoặc gián tiếp với kháng nguyên Sau
đó, cho cơ chất sinh màu vào, cơ chất sẽ kết hợp với enzym và bị enzym phân huỷ tạo nên màu So sánh với màu của quang phổ kế sẽ định lượng được mức độ của phản ứng
Phương pháp ELISA hiện đang được sử dụng rộng rãi ở các nước trên thế giới Ở Việt Nam, Lê Ngọc Mỹ (1994) [18], đã bước đầu chế kháng nguyên tiên mao trùng và ứng dụng để chẩn đoán bệnh tiên mao trùng ở nước ta
* Các phương pháp phát hiện kháng nguyên tiên mao trùng
+ Phương pháp ELISA kháng nguyên (Ag - ELISA)
Đây là phương pháp sử dụng phản ứng ELISA kháng nguyên để phát hiện kháng nguyên lưu động trong máu của gia súc nhiễm bệnh Phản ứng dựa trên kháng thể đơn dòng đặc hiệu với tiên mao trùng
+ Phản ứng Suratex:
Phản ứng Suratex là phản ứng ngưng kết giữa các hạt latex được gắn kháng thể đơn dòng với kháng nguyên lưu động trong máu động vật nhiễm tiên mao trùng (Nantulya V M., 1994 [35]) Phản ứng này hiện đang được thử nghiệm và đánh giá ở thực địa
* Phương pháp phát hiện ADN của tiên mao trùng bằng phản ứng PCR (Polymerase Chain Reaction)
PCR là phương pháp hiện đại nhất được đưa vào ứng dụng để chẩn đoán bệnh tiên mao trùng trong những năm gần đây
Nguyên lý: dựa vào phản ứng chuỗi Polymerase để xác định sự có mặt AND của tiên mao trùng trong máu động vật nhiễm bệnh
Trang 322.1.5 Phòng trị bệnh
2.1.5.1 Phòng bệnh
Bệnh tiên mao trùng do T evansi gây ra đã làm thiệt hại đáng kể cho đàn
trâu của nước ta cũng như nhiều nước trên thế giới Đứng trước tình hình như vậy, nhiều nhà nghiên cứu của nước ta cũng như các nước trên thế giới đã tìm
ra được các biện pháp phòng trị bệnh có hiệu quả cao qua những nghiên cứu
trước đây và hiện nay Trên cơ sở đó đã hạn chế được sự lây lan của bệnh
Để phòng ngừa bệnh tiên mao trùng có hiệu quả cao, các nhà khoa học
đã đề nghị áp dụng 3 biện pháp sau:
* Diệt mầm bệnh trên cơ thể ký chủ:
Theo Nguyễn Kim Lan (2012) [11]: Diệt tiên mao trùng ký sinh ở vật chủ không những ngăn chặn được tác hại gây bệnh của chúng mà còn làm cho bệnh mất khả năng lây lan Các biện pháp cụ thể là:
- Phát hiện gia súc nhiễm tiên mao trùng ở vùng có bệnh và những vùng lân cận, nhốt riêng trong chuồng có lưới để ngăn côn trùng và điều trị triệt để cho gia súc bệnh
- Ở những vùng không có bệnh thì không nhập gia súc từ vùng có bệnh
về Nếu thật cần thiết thì chỉ nhập những gia súc khoẻ (có kết quả kiểm tra âm tính với tiên mao trùng), song vẫn cần nhốt riêng để theo dõi Nếu không bị bệnh mới cho nhập đàn
- Phát hiện và diệt những loài thú hoang nghi là nguồn tàng trữ mầm bệnh, hoặc không chăn thả gia súc trong những khu vực có loài đó sinh sống
* Diệt côn trùng môi giới truyền bệnh:
- Diệt côn trùng bằng thay đổi sinh thái:
Thay đổi sinh thái là thay đổi điều kiện sống, làm cho côn trùng không sinh sản, không thực hiện được chu kỳ phát triển
Trang 33Phát quang cây cối ở từng khu vực, không để nước tù đọng, ủ phân để diệt trứng và ấu trùng ruồi, mòng, làm chuồng gia súc có lưới ngăn côn trùng là các biện pháp hữu hiệu, tạo ra những điều kiện bất lợi cho đời sống của côn trùng
Tuy nhiên, do côn trùng có khả năng di chuyển khá mạnh nên các biện pháp trên phải thực hiện đồng thời trên phạm vi rộng mới có hiệu quả
- Diệt côn trùng bằng hoá dược: có thể dùng các hoá dược tiêu diệt côn trùng môi giới của tiên mao trùng Các hoá dược đã được dùng là: endosulfan, brophos, dieldrine, tetracloreinphos…
- Diệt côn trùng bằng phương pháp sinh học:
Các nhà khoa học đã phát hiện được 25 loài ong và côn trùng ký sinh gây hại cho các loài ruồi, mòng môi giới truyền bệnh tiên mao trùng
Một số loài vi khuẩn có thể xâm nhập vào cơ thể ruồi hút máu làm chúng mắc bệnh và chết
Nhìn chung, các biện pháp tiêu diệt côn trùng môi giới có hiệu quả nhất định nhưng cũng còn nhiều hạn chế
* Phòng bệnh cho gia súc bằng hoá dược:
Năm 1978, tại hội thảo quốc tế chuyên đề về phòng chống bệnh tiên mao trùng cho vật nuôi, các nhà khoa học đã kết luận, biện pháp sử dụng hoá dược
để phòng bệnh rộng rãi cho gia súc ở những vùng có bệnh tiên mao trùng lưu hành cần phải được tiếp tục trong nhiều năm (Touratier L và cs, 1979) [40] Hiện nay, thuốc trypamidium, liều 0,5 mg/kg TT được khuyên dùng để phòng bệnh tiên mao trùng cho trâu, bò
2.1.5.2 Điều trị bệnh
Một số loại hoá dược đã được dùng để điều trị bệnh tiên mao trùng cho trâu, bò, ngựa ở nước ta từ những năm gần đây:
Trang 34- Trypamidium samorin, liều 1 mg/kg TT Tiêm sâu bắp thịt
Nguyễn Quốc Doanh và cs (1996) [3] đã dùng trypamidium samorin điều trị bệnh tiên mao trùng cho trâu, bò và xác định, thuốc có hiệu lực và độ an toàn rất cao (100%)
Theo Phan Văn Chinh (2006) [2], sử dụng thuốc trypamidium (liều 1 mg/kg TT) cho tỷ lệ diệt hết tiên mao trùng là 100%
Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (2014) [12] dùng trypamidium samorin điều trị bệnh Tiên mao trùng liều 1 mg/kg TT, kết hợp thuốc trợ sức trợ lực, thuốc đạt hiệu lực 100%
- Trypazen liều 3,5 mg/kg TT, tiêm bắp thịt
Điều trị bệnh tiên mao trùng cho trâu, bò bằng trypazen với liều trên, Nguyễn Quốc Doanh và cs (1997) [4] cho biết, thuốc rất an toàn, tỷ lệ khỏi bệnh là 100%
- Azidin (Berenyl) liều 3 mg/kg TT Tiêm sâu bắp thịt (không dùng quá 9 gam cho một gia súc)
Phan Văn Chinh (2006) [2] dùng berenyl điều trị bệnh tiên mao trùng cho trâu, bò ở các tỉnh miền Trung và cho biết, thuốc đạt hiệu lực 100% với những trâu, bò bị bệnh
- Phar - trypazen: (trong 1 lọ 1,18 gam chứa 525 mg diminazen diaceturat) Liều dùng: liều 0,5 ml/kg TT, tiêm sâu bắp thịt trâu, bò
Trường hợp bệnh súc còn sốt, tiêm nhắc lại mũi thứ 2 sau 24 giờ Trường hợp con vật bị phù thũng, sau 10 ngày nhắc lại mũi thứ 3 Đặc biệt cho hiểu quả cao khi tiêm kết hợp với 3 mũi doxyvet - L.A hoặc 2 mũi oxyvet - L.A (Nguyễn Thị Kim Lan, 2012) [12]
- Trypanosoma: liều 1 mg/kg TT, tiêm sâu bắp thịt trâu, bò
Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (2014) [12] dùng Trypanosoma điều trị bệnh Tiên mao trùng liều 1 mg/kg TT, kết hợp thuốc trợ sức trợ lực, thuốc đạt hiệu lực 97,06%