Xuất phát từ những mục tiêu trên, được sự đồng ý của Ban Giám Hiệu nhà trường, Ban chủ nhiệm khoa Chăn nuôi - thú y cùng quý thầy cô, đặc biệt là sự giúp đỡ tận tình của thầy giáo PGS.TS
Trang 1KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Thú Y
Khóa học : 2010 - 2014
Thái Nguyên - 2014
Trang 2KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Sau thời gian học tập, rèn luyện kiến thức củng như kỹ năng tại trường
và sáu tháng thực tập tốt nghiệp tại cơ sở Đến nay, em đã hoàn thành bản khóa luận tốt nghiệp Nhân dịp này, em xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Ban giám hiệu, các phòng ban chức năng, Ban chủ nhiêm khoa Chăn nuôi – thú y, trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên đã giảng dạy và tận tình giúp đỡ em trong suốt quá trình học tập và rèn luyện tại trường Đặc biệt, em xin bày tỏ lòng cám ơn sâu sắc đến thầy giáo PGS.TS Nguyễn Duy Hoan đã trực tiếp hướng dẫn, quan tâm, giúp đỡ và chỉ bảo tận tình cho em trong suốt thời gian hoàn thành khóa luận này
Em củng bày tỏ lòng biết ơn tới gia đình chú Nguyễn Văn Lộc, anh kỹ
sư trại và toàn thể ủy ban xã Bá Xuyên thị xã Sông Công, đã tạo mọi điều kiện cho em tiến hành thí nghiệm và đã tận tình giúp đỡ em trong suốt thời gian thực tập, nhờ đó mà em đã có thêm nhiều hiểu biết trong kinh nghiệm nghề nghiệp củng như cuộc sống
Để có được kết quả như ngày hôm nay,em xin chân thành cảm ơn bố
mẹ và những người thân trong gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã luôn động viên tinh thần và vật chất để em học tập và hoàn thành bản khóa luận này Cuối cùng em xin kính chúc thầy cô, gia đình cung toàn thể bạn bè, đồng nghiệp luôn có sức khỏe tốt, hạnh phúc và thành đạt
Thái Nguyên, ngày tháng… năm 2014
Sinh viên
Nguyễn Đức Thành
Trang 4LỜI NÓI ĐẦU Với phương châm “học đi đôi với hành”, “lý thuyết gắn liền với thực
tiễn”, thực tập tốt nghiệp là gian đoạn cuối trong chương trình đào tạo cuả các trường Đại học nói chung và Đại học Nông Lâm Thái Nguyên nói riêng Giai đoạn này chiếm một vị trí hết sức quan trọng đối với mỗi sinh viên trước khi
ra trường Đây là khoảng thời gian giúp sinh viên củng cố và hệ thống hóa toàn bộ kiến thức đã học, đồng thời giúp cho sinh viên làm quen với thực tế sản xuất và củng cố lại những kiến thức đã học trên giảng đường Từ đó nâng cao trình độ chuyên môn, rèn luyện cho sinh viên kỹ năng tổ chức, triển khai các hoạt động, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất Đồng thời tạo cho mình tác phong làm việc đúng đắn, sáng tạo, để sau khi ra trường trở thành một người cán bộ khoa học kỹ thuật có chuyên môn, đáp ứng nhu cầu thực tiễn, góp phần vào xây dựng và phát triển đất nước
Xuất phát từ những mục tiêu trên, được sự đồng ý của Ban Giám Hiệu nhà trường, Ban chủ nhiệm khoa Chăn nuôi - thú y cùng quý thầy cô, đặc biệt
là sự giúp đỡ tận tình của thầy giáo PGS.TS Nguyễn Duy Hoan và sự tiếp nhận của trại gia cầm chú Nguyễn Văn Lộc Xã Bá Xuyên thị xã Sông Công,
tôi đã tiến hành thực hiện đề tài tốt nghiệp: “Nghiên cứu sử dụng chế phẩm
Lactovet nhằm nâng cao sức đề kháng và cải thiện khả năng sinh trưởng cho gà thịt Japfa 202 tại thị xã Sông Công tỉnh Thái Nguyên”
Do bước đầu làm quen với công tác nghiên cức khoa học, kiến thức chuyên môn chưa sâu, kinh nghiệm thực tế chưa nhiều nên bản khóa luận này không tránh khỏi những hạn chế và thiếu sót Vì vậy, tôi kính mong nhận được sự đóng góp quý báu của thầy cô, các bạn đồng nghiệp để bản khoa luận của tôi hoàn thiện hơn
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 1.1 Lịch phòng bệnh bằng vaccine cho đàn gà thịt 12
Bảng 1.2 Công tác phục vụ sản xuất 15
Bảng 2.1: Sơ đồ bố trí thí nghiệm 35
Bảng 2.2: Thành phần giá trị dinh dưỡng trong thức ăn của gà 36
Bảng 2.3: Tỷ lệ nuôi sống của gà thí nghiệm qua các tuần tuổi 40
Bảng 2.4 Sinh trưởng tích lũy của gà thí nghiệm qua các tuần tuổi (g) (n=3) 41
Bảng 2.5 Sinh trưởng tuyệt đối của gà thí nghiệm (g/con/ngày) (n=3) 43
Bảng 2.6 Sinh trưởng tương đối của gà thí nghiệm (%) (n=3) 45
Bảng 2.7 Tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng (kg) (n=3) 47
Bảng 2.8 Chỉ số sản xuất PI của gà thí nghiệm 48
Bảng 2.9 Kết quả mổ khảo sát lúc 6 tuần tuổi (n=3 cho mỗi tính biệt) 49
Bảng 2.10: Ảnh hưởng của chế phẩm đến khả năng phòng bệnh CRD và một số bệnh đường tiêu hóa của gà thí nghiệm 50
Bảng 2.11 Sơ bộ hạch toán kinh tế 52
Trang 6DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang
Hình 2.1 Đồ thị sinh trưởng tích luỹ của gà thí nghiệm qua các tuần tuổi 42 Hình 2.2 Biểu đồ sinh trưởng tuyệt đối của gà thí nghiệm 44 Hình 2.3 Biểu đồ sinh trưởng tương đối của gà thí nghiệm 46
Trang 8MỤC LỤC
Trang
PHẦN 1: CÔNG TÁC PHỤC VỤ SẢN XUẤT 1
1.1 Điều tra cơ bản 1
1.1.1.Điều kiện tự nhiên 1
1.1.2.Điều kiện kinh tế - xã hội 2
1.1.3 Tình hình sản xuất nông nghiệp 4
1.1.4 Một số thông tin về cơ sở thực tập 7
1.2 Đánh giá chung 8
1.2.1.Thuận lợi 8
1.2.2.Khó khăn 8
1.3 Nội dung, phương pháp tiến hành và kết quả phục vụ sản xuất 9
1.3.1 Nội dung phục vụ sản xuất 9
1.3.2 Phương pháp tiến hành 9
1.3.2 Kết quả công tác phục vụ sản xuất 10
1.4Kết luận và đề nghị 16
1.4.1Bài học kinh nghiệm 16
1.4.2 Tồn tại 16
1.4.3 Đề nghị 17
PHẦN 2: CHUYÊN ĐỀ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC 18
2.1 Đặt vấn đề 18
2.1.1 Tính cấp thiết của đề tài 18
2.1.2 Mục đích nghiên cứu của đề tài 19
2.2 Tổng quan tài liệu 19
2.2.1 Cơ sở khoa học của đề tài 19
2.2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước và ngoài nước 30
2.3 Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu 34
Trang 92.3.1 Đối tượng nghiên cứu 34
2.3.2 Địa điểm, thời gian tiến hành 34
2.3.3 Nội dung nghiên cứu và các chỉ tiêu theo dõi 34
2.3.4 Phương pháp nghiên cứu 35
2.4 Kết quả nghiên cứu và thảo luận 39
2.4.1 Tỷ lệ nuôi sống của gà thí nghiệm 39
2.4.2 Khả năng sinh trưởng của gà thí nghiệm 41
2.4.3 Hiệu quả sử dụng thức ăn cho gà thí nghiệm 46
2.4.4 Chỉ số sản xuất PI (production - Index) 48
2.4.5 Kết quả mổ khảo sát 49
2.4.6 Khả năng phòng bệnh CRD và một số bệnh đường tiêu hoá 50
2.4.7 Sơ bộ hạch toán kinh tế 52
2.5 Kết luận, tồn tại và đề nghị 53
2.5.1 Kết luận 53
2.5.2 Tồn tại 54
2.5.3 Đề nghị 54
TÀI LIỆU THAM KHẢO 55
I Tài liệu trong nước 55
II.Tài liệu dịch từ tiếng nước ngoài 57
III Tài liệu nước ngoài 57
IV Tài liệu khác 57
Trang 10PHẦN 1 CÔNG TÁC PHỤC VỤ SẢN XUẤT
1.1 Điều tra cơ bản
1.1.1 Điều kiện tự nhiên
Xã Bá Xuyên thuộc Thị xã Sông Công nằm cách trung tâm thị xã 2 km
về phía Tây Bắc, tổng diện tích là 9,55 km2, dân số trung bình là 3903 người, mật độ dân số là 409 người/km2, ranh giới giữa các xã được xác định như sau:
- Phía Bắc: giáp thành phố Thái Nguyên
- Phía Đông: giáp xã Tân Quang và phường Bách Quang
- Phía Tây: giáp xã Bình Sơn
- Phía Nam: giáp phường Lương Châu
Xã Bá Xuyên nằm ở phía Tây Bắc của Thị xã Sông Công, tỉnh Thái Nguyên nằm trong khu vực trung du miền núi phía bắc Việt Nam, nên chịu ảnh hưởng chung của khí hậu nhiệt đới gió mùa Mùa đông, khí hậu lạnh, khô hanh, độ ẩm thấp Mùa hè, khí hậu nóng ẩm, mưa nhiều Dao động nhiệt độ và độ ẩm bình quân các mùa trong năm tương đối cao, thể hiện rõ rệt là mùa mưa và mùa khô
+ Mùa mưa: Kéo dài từ tháng 5 đến tháng 10, nhiệt độ dao động từ 21 đến
360C, độ ẩm từ 80 - 86%, lượng mưa biến động từ 120,6 đến 283,9 mm/tháng nhưng tập trung nhiều vào các tháng 6, 7, 8 Nhìn chung, khí hậu vào mùa mưa thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp Tuy vậy, có những ngày nóng ẩm thất thường nên cần chú ý đến phòng chống dịch bệnh xảy ra đối với đàn gia súc, gia cầm, gây thiệt hại cho sản xuất
Trang 11+ Mùa khô: Kéo dài từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, thời gian này khí hậu thường lạnh và khô hanh, nhiệt độ giảm đáng kể Nhiệt độ trung bình dao động từ 13,70C đến 24,80C (có những ngày xuống dưới 100C), ẩm độ thấp, biến động nhiệt giữa ngày và đêm rất lớn Ngoài ra trong mùa đông còn chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc, giá rét và sương muối kéo dài từ 6 - 10 ngày gây ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng, phát triển và sức chống đỡ bệnh của cây trồng và vật nuôi
nghiệp chiếm 736,16 ha, diện tích đất lâm nghiệp là 177,63 ha nên xác định một trong những thế mạnh chính của xã là sản xuất nông - lâm nghiệp, kinh
tế trang trại
1.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
Xã Bá Xuyên có cơ cấu kinh tế đa dạng, nhiều thành phần kinh tế cùng
hoạt động: Nông - Công nghiệp, lâm nghiệp và dịch vụ, tạo mối quan hệ hữu
cơ hỗ trợ thúc đẩy nhau cùng phát triển Trong đó sản xuất nông nghiệp vẫn là chủ yếu chiếm 80%, bao gồm cả ngành trồng trọt và chăn nuôi cùng nhau phát triển đồng đều Do đó xã luôn chú trọng phát triển các mô hình khuyến nông,
áp dụng khoa học kỹ thuật, chuyển đổi cơ cấu cây trồng
Cùng với việc nâng cao đời sống cho nhân dân, xã Bá Xuyên còn thực hiện bê tông hóa đường giao thông nông thôn Xã xác định giao thông nông thôn là một trong những yếu tố quan trọng để thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội, phục vụ dân sinh, khai thác các thế mạnh, tiềm năng của địa phương Đến nay, toàn xã đã bê tông hóa được hơn 30 km đường giao thông nông thôn Chăn nuôi với nhiều quy mô lớn nhỏ khác nhau, hiện nay trên địa bàn xã
có khoảng 13 trang trại gà nuôi với hình thức gia công cho các công ty chăn
nuôi như CP, Japfa, RTD hoặc nuôi tư nhân
Trang 121.1.2.2 Tình hình xã hội
Xã Bá Xuyên là xã thuộc phía Bắc Thị xã Sông Công, có nhiều đồng
bào dân tộc sinh sống: Kinh, Sán, Dìu, Tày….do đó có sự đa dạng về tập
quán canh tác lẫn đời sống văn hóa xã hội
- Dân số tại thời điểm năm 2013 là 3903 người với trên 1000 hộ, trong
đó 80% là sản xuất nông nghiệp Do trình độ của nhân dân còn hạn chế, xã lại
nằm gần trung tâm thị xã nên vấn đề xã hội rất phức tạp,
- Ngay từ khi được Thị xã Sông Công chọn làm xã điểm về xây dựng nông thôn mới, xã Bá Xuyên đã xác định mục tiêu là tập trung phát triển kinh tế nhằm nâng cao đời sống cho người dân Sau 3 năm thực hiện, nhìn chung mức sống của người dân ngày càng được nâng cao, công tác thương binh xã hội, đền
ơn đáp nghĩa luôn được cấp Đảng ủy, chính quyền quan tâm Tỷ lệ hộ nghèo đến nay đã giảm xuống còn 8% ( giảm được 3% hộ nghèo so với năm 2011 )
- Sự nghiệp giáo dục và đào tạo của xã tiếp tục nâng cao, cơ sở vật chất được đầu tư ngày một khang trang hơn, triển khai thực hiện tốt các cuộc vận động do phòng Giáo dục phát động Tổ chức các phong trào thi đua “ Dạy tốt, học tốt ’’, thực hiện tốt các cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” và phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực học tập”
- Công tác kiểm soát dịch bệnh và thực hiện các chương trình y tế quốc gia được thực hiện theo kế hoạch, cơ sở y tế trên địa bàn tiếp tục được đầu tư xây dựng, cơ sở vật chất, trang thiết bị y tế cùng với đội ngũ thầy thuốc có trình độ đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu chăm sóc sức khỏe cho nhân dân, biện pháp phòng trừ dịch bệnh được kịp thời, công tác kiểm tra vệ sinh an toàn thực phẩm được thực hiện đúng quy định
Trang 131.1.3 Tình hình sản xuất nông nghiệp
vụ lúa nhưng chủ yếu là trồng vào mùa đông
- Với diện tích đất trồng chè khá lớn, cây chè được các hộ quan tâm chú trọng, đã góp phần nâng cao đời sống của nhân dân Toàn xã hiện có 91,6 ha chè, trong đó chè kinh doanh có 86,6 ha
- Ngoài ra trên địa bàn xã đã triển khai trồng mới được 38 ha keo lai theo dự án 661
- Để cây trồng đạt năng suất cao người dân đã biết áp dụng các biện pháp, tiến bộ khoa học kỹ thuật mới vào sản xuất, mạnh dạn đưa các giống mới có năng suất cao nhờ đó đã cơ bản giải quyết được nhu cầu lương thực cho người dân
1.1.3.2.Về ngành chăn nuôi
Song song với sự phát triển của ngành trồng trọt, ngành chăn nuôi cũng không ngừng phát triển Chăn nuôi cung cấp sức kéo, phân bón cho trồng trọt, đồng thời cung cấp thực phẩm và là nguồn thu nhập kinh tế chủ yếu cho các hộ gia đình
Tuy nhiên, ngành chăn nuôi ở xã chủ yếu là tự cung tự cấp, sản phẩm hàng hoá đưa ra ở thị trường còn ít Trong những năm gần đây người dân đã biết áp dụng các tiến bộ kỹ thuật, từ các hộ sản xuất quy mô nhỏ người dân đã mạnh dạn đầu tư vốn, kỹ thuật, con giống mới có năng suất cao, trang thiết bị hiện đại vào chăn nuôi nên sản phẩm của ngành chăn nuôi từng bước được nâng cao và đáp ứng được nhu cầu của thị trường tiêu thụ cụ thể như sau:
Trang 14+ Chăn nuôi trâu bò
Tổng đàn trâu bò của xã có là 854 con Hình thức chăn nuôi trâu bò là tận dụng các bãi thả tự nhiên và sản phẩm phụ của ngành trồng trọt Việc dự trữ các loại thức ăn cho trâu bò vào vụ đông được bà con quan tâm như: việc trồng cỏ, trồng ngô, rơm, rạ phơi khô dự trữ đầy đủ cho trâu bò Tuy nhiên
về mùa đông trâu bò hay mắc các bệnh ký sinh trùng và một số bệnh khác do công tác tiêm phòng chưa triệt để, nhiều hộ gia đình vẫn chưa hưởng ứng công tác tiêm phòng
Đặc biệt năm 2011 trên địa bàn xã đã bùng phát dịch lở mồm long móng đã gây thiệt hại lớn cho đàn gia súc Theo số liệu thống kê toàn xã có
32 con trâu, 4 con bò và 19 con lợn chết và phải tiêu hủy do dịch bệnh
+ Chăn nuôi lợn
Tổng đàn lợn năm 2013 là 3320 con Hầu hết các hộ dân đều chăn nuôi lợn, nhưng số lượng nuôi còn ít Thức ăn sử dụng cho chăn nuôi lợn chủ yếu là tận dụng các phế phụ phẩm của ngành trồng trọt như: lúa, ngô, khoai, sắn, Tuy nhiên, một số hộ gia đình mạnh dạn đầu tư vốn cho chăn nuôi, biết áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào chăn nuôi như: Sử dụng các loại thức ăn hỗn hợp ngoài thị trường để rút ngắn thời gian chăn nuôi, tăng năng suất đem lại hiệu quả kinh tế cao cho người chăn nuôi
Công tác giống lợn đã được quan tâm, nhiều hộ gia đình chăn nuôi lợn nái Móng Cái hay nái F1 (Móng cái x Landrace) hoặc nái ngoại thuần để chủ động con giống và cung cấp một phần sản phẩm ra thị trường
Công tác vệ sinh thú y còn hạn chế, việc tiêm phòng hàng năm chưa triệt để nên bệnh vẫn xẩy ra gây thiệt hại cho người chăn nuôi, đồng thời ảnh hưởng đến sản phẩm chăn nuôi cung cấp ra thị trường
Trang 15+ Chăn nuôi gia cầm
Nhìn chung, chăn nuôi gia cầm trên địa bàn xã khá phát triển, chủ yếu
là chăn nuôi gà, vịt theo phương thức chăn nuôi tự nhiên và bán chăn thả Bên cạnh đó có một số hộ gia đình mạnh dạn đầu tư vốn xây dựng các trang trại nuôi tư hay nuôi gia công với quy mô từ 3.000 - 9.000 gà thịt/lứa, áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất nên đã đưa năng suất lên cao
Nhờ các tiến bộ khoa học kỹ thuật áp dụng vào chăn nuôi đã có một số gia đình chăn nuôi theo phương thức công nghiệp và bán công nghiệp, mua các con giống mới có năng suất cao về nuôi như: gà Tam Hoàng, gà Lương Phượng, gà Sasso, AA, Ross 508, đối với các hộ nuôi tư nhân, hay nuôi gia công cho các công ty như: CP707, Japfa 202, RTD Kết quả đã đem lại thu nhập khá cao cho các hộ chăn nuôi
* Công tác thú y
Công tác thú y đóng vai trò quan trọng then chốt trong chăn nuôi, nó quyết định đến thành công hay thất bại của người chăn nuôi Ngoài ra, nó còn ảnh hưởng đến sức khoẻ của cộng đồng, ảnh hưởng đến phát triển kinh tế của người dân Vì vậy, công tác thú y luôn được ban lãnh đạo các cấp, ngành, địa phương cùng người chăn nuôi hết sức quan tâm, chú trọng như:
+ Tuyên truyền lợi ích vệ sinh phòng dịch bệnh cho người và vật nuôi + Tập trung chỉ đạo tiêm phòng cho đàn gia súc gia cầm trên địa bàn + Thường xuyên đào tạo, tập huấn đội ngũ cán bộ thú y cơ sở
+ Theo dõi tình hình, diễn biến dịch bệnh để kịp thời có phương án chỉ đạo
Đa số các hộ chăn nuôi gia cầm đã ý thức được tầm quan trọng của việc tiêm phòng và chữa bệnh, nhất là sử dụng các loại vắc xin tiêm chủng cho gà như: Vắc xin Cúm gia cầm, Gumboro, Newcastle, Đậu, IB, Song vẫn còn một số hộ chăn nuôi chưa ý thức được công tác phòng bệnh cho vật nuôi, đó cũng là điều đáng lo ngại vì đó là điểm cư trú và phát tán mầm bệnh gây tác
hại cho đàn gia cầm trên địa bàn xã
Trang 161.1.4 Một số thông tin về cơ sở thực tập
Trại gà gia đình ông Nguyễn Văn Lộc được xây dựng vào cuối năm
2011 và đi vào sản xuất đầu năm 2012 tại xóm Xứ Đào, xã Bá Xuyên, thị xã Sông Công, tỉnh Thái Nguyên nằm trên tuyến đường tỉnh lộ 252 cách trung tâm thị xã 3km về phía Tây Bắc
Tận dụng những khoảng đất trống để trồng hoa màu, cây ăn quả, cỏ voi
dự trữ mùa đông cho gia súc, chè
Trang 17Hệ thống chuồng nuôi được đảm bảo thông thoáng về mùa hè, ấm áp về mùa đông Mùa hè có hệ thống làm mát bằng quạt và dàn mát, mùa đông có
hệ thống chắn gió Trại có hàng rào chắn xây bao xung quanh đảm bảo ngăn cách, biệt lập với khu dân cư Hàng ngày chuồng trại, máng ăn, máng uống, dụng cụ cho ăn được quét dọn, cọ rửa sạch sẽ trước khi cho gà ăn Quy trình tiêm phòng cho đàn gia cầm được thực hiện nghiêm túc với loại vaccin như: Gumboro, Newcastle, CRD Định kỳ tổng vệ sinh toàn bộ khu vực trại Hàng ngày cán bộ kỹ thuật theo dõi, phát hiện gia cầm có dấu hiệu bệnh lý để tiến hành điều trị hoặc loại thải kịp thời
- Trại luôn được sự quan tâm và chỉ đạo sát sao của lãnh đạo Sở Nông nghiệp và PTNT, Chi cục thú y tỉnh Thái Nguyên và các cơ quan ban ngành liên quan
1.2.2 Khó khăn
- Do khí hậu ở một số tháng trong năm không được thuận lợi nên việc sản xuất còn gặp nhiều khó khăn, khả năng sinh trưởng, phát triển của vật nuôi, cây trồng bị hạn chế
- Do mới được thành lập và nâng cấp nên Trại không tránh khỏi những khó khăn về cơ sở vật chất, trang thiết bị kỹ thuật và sản xuất, kinh nghiệm sản xuất, kinh nghiệm quản lý chưa nhiều
Trang 181.3 Nội dung, phương pháp tiến hành và kết quả phục vụ sản xuất
1.3.1 Nội dung phục vụ sản xuất
1.3.1.1 Công tác phục vụ sản xuất
Để đảm bảo tốt nhiệm vụ thực tập tốt nghiệp theo yêu cầu của nhà trường, khoa cũng như giáo viên hướng dẫn, chúng tôi đã đưa ra một số nội dung trong thời gian thực tập tại cơ sở như sau:
* Công tác chăn nuôi
- Công tác chuẩn bị chuồng nuôi gà: Rửa sạch chuồng trại, phun vôi,
phun phoocmon khử trùng
- Công tác chọn giống: Tham gia chọn lọc gà giống các loại
- Công tác chăm sóc và nuôi dưỡng:
+ Tính toán lượng thức ăn gà ăn hàng ngày
+ Chăm sóc toàn bộ gà của trại
* Công tác thú y:
Công tác thú y tại cơ sở trong thời gian thực tập chúng tôi đề ra công việc phải thực hiện như sau:
- Ra vào trại đúng nội quy quy định
- Làm tốt công tác vệ sinh môi trường, chuồng trại và xung quanh chuồng trại
- Thực hiện nghiêm túc quy trình tiêm phòng
- Phát hiện và điều trị bệnh kịp thời cho vật nuôi
1.3.1.2 Công tác nghiên cứu khoa học
Thực hiện chuyên đề nghiên cứu với đề tài: “Nghiên cứu sử dụng chế
phẩm Lactovet nhằm nâng cao sức đề kháng và cải thiện khả năng sinh trưởng cho gà thịt Japfa 202 tại tỉnh thái nguyên”
1.3.2 Phương pháp tiến hành
Theo yêu cầu của nội dung thực tập tốt nghiệp, trong thời gian thực tập tại cơ sở bản thân đề ra một số biện pháp thực hiện như sau:
Trang 19- Tìm hiểu kỹ tình hình sản xuất chăn nuôi ở cơ sở thực tập và khu vực vành đai
- Tham gia tích cực công tác tiêm phòng, chẩn đoán và điều trị bệnh cho gia cầm
- Tham gia công tác chuyển giao con giống và kỹ thuật cho các hộ sản xuất
- Luôn luôn chấp hành, tham gia các hoạt động của cơ sở, tiếp thu ý kiến của cán bộ lãnh đạo, của thầy giáo hướng dẫn, tranh thủ thời gian tiếp xúc với thực tế để nâng cao tay nghề, nắm vững kiến thức chuyên ngành hơn nữa
- Áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật mới mà bản thân tôi đã được học và tìm hiểu vào thực tiễn sản xuất
- Tiến hành thí nghiệm sử dụng chế phẩm Lactovet bổ sung vào nước
uống nhằm theo dõi mức độ ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng và nâng cao sức đề kháng của gà thịt Japfa 202
1.3.2 Kết quả công tác phục vụ sản xuất
Trong quá trình thực tập tại trại gà ông Nuyễn Văn Lộc, được sự giúp
đỡ tận tình của thầy giáo hướng dẫn và cán bộ, công nhân viên của trại, kết hợp với sự nỗ lực cố gắng của bản thân, tôi đã lĩnh hội được nhiều kinh nghiệm quý báu trong thực tiễn sản xuất và đã đạt được một số kết quả sau:
* Công tác chọn giống
Công tác chọn giống là một phần hết sức quan trọng quyết định đến hiệu quả chăn nuôi
- Phân loại gà con mới nở ra: Gà con mới nở ra phải chọn phân loại loại
I, loại II Gà loại I là những con nhanh nhẹn khoẻ mạnh, mắt sáng lông mượt, chân bóng, không hở rốn, khoèo chân, vẹo mỏ và đảm bảo khối lượng quy định đối với từng loại giống
* Công tác chăm sóc nuôi dưỡng
Tuỳ theo từng giai đoạn phát triển của gà và tuỳ từng loại gà mà ta áp dụng quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng cho phù hợp
Trang 20- Giai đoạn úm gà con: Khi chuyển từ khu ấp trứng về chúng tôi tiến hành cho gà con vào quây úm và cho gà uống nước ngay Nước uống cho gà phải sạch và pha đường glucoza 5% cho gà uống hết lượt sau 2 - 3h mới cho gà
1.3.3.1 Công tác thú y
* Công tác phòng bệnh cho đàn gà
Trong chăn nuôi, công tác đề phòng dịch bệnh rất quan trọng, là yếu tố quyết định đến hiệu quả kinh tế chăn nuôi và an ninh kinh tế nông nghiệp Do vậy, trong quá trình chăn nuôi, chúng tôi cùng với cán bộ kỹ thuật, công nhân của trại thường xuyên quét dọn vệ sinh chuồng trại, khai thông cống rãnh, phát quang bụi rậm, phun thuốc sát trùng định kỳ, tẩy uế, máng ăn, máng uống Trước khi vào chuồng cho gà ăn uống phải thay bằng quần áo lao động đã được giặt sạch, đi ủng, đeo khẩu trang để bảo vệ sức khoẻ người lao động và phòng bệnh cho gia cầm Gà nuôi ở trại được sử dụng thuốc phòng bệnh theo lịch trình sau
Tiêm phòng vaccine cho đàn gia cầm để có miễn dịch chủ động đảm bảo an toàn trước dịch bệnh Trước ngày sử dụng vaccine không pha thuốc kháng sinh vào nước uống trong vòng 8 - 12 h, pha vaccine vào lọ dùng để nhỏ trực tiếp mắt Tính toán liều vaccine phải đủ để mỗi con nhận được một liều Dụng cụ pha và nhỏ vaccine không có thuốc sát trùng hoặc xà phòng, nhiệt độ đảm bảo từ 20 - 250C Chúng tôi sử dụng vaccine phòng bệnh cho đàn gà theo lịch như sau:
Trang 21Bảng 1.1 Lịch phòng bệnh bằng vaccine cho đàn gà thịt
* Chẩn đoán và điều trị bệnh
Trong quá trình chăm sóc và nuôi dưỡng đàn gà tại trại chúng tôi luôn theo dõi tình hình sức khoẻ của đàn gà để chẩn đoán và có những hướng điều trị kịp thời Thời gian thực tập ở trại, chúng tôi thường gặp một số bệnh sau:
* Bệnh viêm đường hô hấp cấp mãn tính ở gà (CRD, hen gà)
- Nguyên nhân: Bệnh do Mycoplasma gallisepticum gây ra Các yếu tố
tác động gây nên bệnh cho gà như: điều kiện thời tiết, dinh dưỡng kém, chuồng trại không đảm bảo vệ sinh (chật trội, ẩm thấp) làm cho gà giảm sức
đề kháng và dễ mắc bệnh ở gà
- Triệu chứng: Gà mắc bệnh có biểu hiện chảy nước mắt, nước mũi, thở khò khè, phải há mồm ra để thở, xoã cánh, gà hay quét mỏ xuống đất, đứng ủ
rũ, có tiếng rít rất điển hình (nghe rõ về đêm), gà kém ăn, gầy đi nhanh chóng
- Bệnh tích: Xác gà gầy, nhợt nhạt, khí quản có dịch, niêm mạc có chấm đỏ, phổi nhợt nhạt Khi ghép với E.coli thấy xuất huyết dưới da, lách sưng, ruột xuất huyết
- Điều trị:
+ Anti- CRD: Liều 2g/lít nước uống, dùng liên tục trong vòng 3-5 ngày Tất cả các loại bệnh khi điều trị cần kết hợp với các loại thuốc nhằm tăng sức đề kháng như: Bcomplex (1g/3lít nước), vitamin C, đường Glucose + Bệnh CRD thường ghép với bệnh E.coli, do đó khi điều trị bệnh chúng tôi sử dụng Bio- Enrafloxacin 10%, liều lượng 1ml/2lít nước uống dùng trong 3 - 5 ngày
Trang 22* Bệnh cầu trùng (Coccidiosis)
- Nguyên nhân: Bệnh cầu trùng do 9 loại Coccidia gây ra, chúng ký
sinh ở tế bào biểu mô ruột Tuỳ theo từng chủng loại và vị trí gây bệnh mà có
những triệu chứng gây bệnh khác nhau
- Triệu chứng: Thường gặp ở 2 thể
+ Cầu trùng manh tràng: thường gặp ở gà con từ 4-6 tuần tuổi; gà bệnh ủ
rũ, bỏ ăn, uống nước nhiều, phân lỏng lẫn máu tươi hoặc có màu sôcôla, mào nhợt nhạt (do thiếu máu) Mổ khám thấy manh tràng xuất huyết
+ Cầu trùng ruột non gà: Bệnh thường ở thể nhẹ Triệu chứng chủ yếu
là gà ủ rũ, xù lông, cánh rũ, chậm chạp, phân màu đen như bùn, lẫn nhầy đôi khi lẫn máu; gà gầy, chậm lớn, chết rải rác kéo dài tỷ lệ chết thấp
- Điều trị: Chúng tôi sử dụng các loại thuốc sau: Hancoc, liều lượng 1,5-2 ml/1 lít nước uống dùng trong 4 - 5 ngày liên tục, nghỉ 3 ngày rồi lại dùng 5 ngày liên tục nữa; ESB 32 %, Anti coccidae - liều lượng 2 g/lít nước uống dùng trong 3 - 5 ngày liên tục Ngoài ra, để chống chảy máu chúng tôi kết hợp với Hanvit C và K, liều lượng 0,5-1g/1 lít nước uống
* Bệnh bạch lỵ gà con
- Nguyên nhân: Do vi khuẩn gram âm Salmonella gallinarum và
Salmonella pullrum gây ra
- Triệu chứng: Gà con mắc bệnh biểu hiện kém ăn, lông xù, ủ rũ, phân
có màu trắng, phân loãng dần và dính quanh hậu môn Đối với gà thường ở thể mãn tính
Trang 23- Triệu chứng:
+ Gà mắc bệnh từ rất sớm nhưng biểu hiện bệnh rõ vào giai đoạn 5 - 25 ngày tuổi, đôi khi trước khi xuất thịt mới phát hiện ra bệnh, gà kém ăn, chậm chạp, sệ bụng do tích nước trong xoang bụng
+ Thông thường gà chỉ chết do bội nhiễm vi khuẩn gây bệnh như bệnh
cầu trùng, bệnh E.coli, bệnh CRD, …
+ Những trường hợp phát hiện được bệnh thì nên loại thải ngay vì gà bệnh khả năng tăng trọng kém, tiêu tốn thức ăn cao, hơn nữa gà bệnh sẽ dễ mắc các bệnh truyền nhiễm khác làm lây lan sang toàn đàn
Điều trị:
+ Hiện không có thuốc điều trị chỉ có thể phòng bênh bằngVệ sinh phòng bệnh tốt, chuẩn bị chuồng úm phải sạch sẽ, thoáng khí, tốt nhất nên thắp đèn 6 - 8 giờ trước khi đưa gà vào úm Phun thuốc sát trùng định kỳ + Nên có nhiệt kế để theo dõi nhiệt độ
+ Đặc biệt về mùa đông để đảm bảo nhiệt độ úm nên tăng nhiệt độ bằng cách thêm bóng đèn hoặc tăng thêm nguồn nhiệt chứ không được đậy kín lồng úm
+ Cho gà ăn theo bữa, hạn chế khẩu phần ăn 10 - 20%, đặc biệt về mùa đông, bởi vì nếu ăn nhiều sẽ cần 1 lượng oxy lớn để tiêu hao năng lượng, trong khi đó những gà đang mắc bệnh này lại đang thiếu oxy
Trang 241.3.3.2 Tham gia các công việc khác
Trong thời gian thực tập, ngoài việc chăm sóc, nuôi dưỡng đàn gà thí nghiệm, bản thân tôi còn tham gia vào một số công việc khác như:
+ Tiêu độc, khử trùng chuồng trại và khu vực xung quanh
+ Tham gia chọn lọc và loại thải đàn gà không đạt tiêu chuẩn
+ Tham gia công tác tư vấn kỹ thuật chăn nuôi như hướng dẫn kỹ thuật chăn nuôi cho các hộ gia đình ,từ khâu xây dựng chuồng trại đến khâu vệ sinh phòng bệnh cũng như kỹ thuật chăm sóc, nuôi dưỡng khi nuôi gia cầm, gia súc
1.3.3.3 Kết quả công tác phục vụ sản suất
Sau 6 tháng thực tập tốt nghiệp tại Trại gà Ông Nguyễn Văn Lộc chúng tôi đã tham gia và hoàn thành dược một số công tác phục vụ sản xuất đã đề ra Kết quả của công tác này được thể hiện tổng quát qua bảng sau:
Trang 251.4 Kết luận và đề nghị
1.4.1 Bài học kinh nghiệm
Qua thời gian thực tập tại trại gà, được sự giúp đỡ của Ban lãnh đạo trại, cán bộ phụ trách và thầy giáo hướng dẫn, cùng với chính quyền địa phương đã tạo điều kiện thuận lợi giúp tôi bước đầu tiếp xúc với thực tiễn sản xuất Qua đó tôi đã vận dụng được những kiến thức đã học ở trường để củng
cố thêm kiến thức và rèn luyện thêm chuyên môn của mình
Qua đợt thực tập này tôi thấy mình trưởng thành hơn về nhiều mặt, điều quan trọng nhất là tôi đã rút ra bài học kinh nghiệm bổ ích về chuyên môn từ thực tiễn sản xuất như:
+ Biết cách chăm sóc, nuôi dưỡng, quản lý
+ Biết cách dùng một số loại vaccine phòng bệnh và thuốc điều trị bệnh + Biết chẩn đoán một số bệnh thông thường và biện pháp điều trị
+ Tay nghề thực tế được nâng lên rõ rệt
Trong thời gian thực tập được tiếp xúc với thực tế sản xuất đã giúp tôi khẳng định được tư tưởng vững vàng, rèn luyện tác phong làm việc, trau dồi, củng cố và nâng cao kiến thức về chuyên môn nghiệp vụ, giúp tôi yêu ngành yêu nghề, say mê với công việc và không ngừng cố gắng học hỏi
để làm tốt hơn khi ra thực tế sản xuất Tôi thấy rằng việc đi thực tập là một việc rất cần thiết đối với bản thân tôi cũng như tất cả các sinh viên trước khi tốt nghiệp ra trường
+ Còn yếu về tay nghề, đôi khi chưa mạnh dạn trong công việc
+ Các kiến thức được học tập và rèn luyện ở trường chưa thể vận dụng hết vào thực tiễn sản xuất
Trang 261.4.3 Đề nghị
Đẩy mạnh hơn nữa công tác tuyên truyền và đưa tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, tăng cường tiêm phòng cho đàn gia súc, gia cầm ở quanh vùng vành đai của trại Đồng thời vận động, giải thích cho nhân dân hiểu biết
Qua thời gian thực tập, tuy kết quả đạt được chưa được nhiều nhưng đó
là nguồn động viên rất lớn đối với tôi và tôi cần cố gắng nhiều hơn nữa để có thêm nhiều kiến thức và tay nghề vững vàng
Trang 27PHẦN 2 CHUYÊN ĐỀ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
Tên đề tài:
"Nghiên cứu sử dụng chế phẩm Lactovet nhằm nâng cao sức đề kháng
và cải thiện khả năng sinh trưởng cho gà thịt Japfa 202
tại thị xã Sông Công tỉnh Thái nguyên"
2.1 Đặt vấn đề
2.1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Nước ta hiện đang trong bước đầu của thời kỳ hội nhập kinh tế thế giới, với đặc thù là một nước nông nghiệp, ngành chăn nuôi nước ta chiếm một vị trí quan trọng trong sản xuất nông nghiệp nói riêng và trong cơ cấu nền kinh
tế nói chung Trong đó, chăn nuôi gia cầm có một vị trí hết sức quan trọng vì một mặt nó cung cấp các sản phẩm có giá trị dinh dưỡng cao (thịt và trứng), mặt khác chăn nuôi gia cầm cũng là con đường để người nông dân làm giàu trên chính mồ hôi công sức của mình Song thực tế hiện nay tình hình dịch bệnh trên đàn gà đang diễn biến phức tạp ở nước ta Với phương thức chăn nuôi lạc hậu, ít chú ý tới công tác vệ sinh phòng bệnh đã gây tổn thất nặng nề
về mặt kinh tế cho người nông dân Để giải quyết vấn đề này, Nhà nước đã đề
ra chủ trương là chuyển đổi phương thức chăn nuôi từ chăn thả tự do, nhỏ lẻ sang chăn nuôi bán chăn thả, chăn nuôi tập trung, có kiểm soát và theo hướng
an toàn sinh học
Thái Nguyên là một tỉnh trung du miền núi có điều kiện khí hậu và đất đai thuận lợi cho chăn nuôi gà Chăn nuôi với số lượng lớn, mật độ cao kết hợp với khí hậu nước ta nằm trong vùng nhiệt đới nóng ẩm mưa nhiều là điều kiện cho dịch bệnh phát triển như: Bệnh Gumboro, CRD, E.coli….phải điều trị bằng kháng sinh dẫn đến lượng khánh sinh tồn dư cao, gây thiệt hại lớn về kinh tế của người chăn nuôi gia cầm
Trang 28Để đảm bảo cho ngành chăn nuôi nói chung và chăn nuôi ra cầm nói riêng phát triển, bền vững, an toàn mang lại sản phẩm tốt cho con người thì có nhiều giả pháp được đặt ra, trong đó, sử dụng các loại chế phẩm sinh học bổ sung vào thức ăn nước uống nhằm tăng cường sức đề kháng, tăng khả năng hấp thu dinh dưỡng và giảm mùi hôi của phân hiện đang là giải pháp hữu hiệu
Xuất phát từ yêu cầu cấp thiết đó, chúng tôi tiến hành chuyên đề:
“Nghiên cứu sử dụng chế phẩm Lactovet nhằm nâng cao sức đề kháng và
cải thiện khả năng sinh trưởng cho gà thịt Japfa 202 tại thị xã Sông Công tỉnh Thái Nguyên”
2.1.2 Mục đích nghiên cứu của đề tài
- Nghiên cứu ảnh hưởng của chế phẩm Lactovet đến khả năng sinh
trưởng, cho thịt trong chăn nuôi gà thịt tại thị xã Sông Công, tỉnh Thái Nguyên
- Ảnh hưởng của chế phẩm Lactovet đến sức đề kháng của gà thịt nuôi
tại thị xã Sông Công, tỉnh Thái Nguyên
- Ứng dụng chế phẩm Lactovet trong chăn nuôi nông hộ trên địa bàn thị
xã Sông Công, tỉnh Thái Nguyên, góp phần phát triển chăn nuôi bền vững trong nông hộ
2.2 Tổng quan tài liệu
2.2.1 Cơ sở khoa học của đề tài
2.2.1.1 Đặc điểm sinh lý tiêu hóa của gia cầm
Theo Lê Hồng Mận (2007) [10], sự trao đổi chất và năng lượng ở gia cầm cao hơn so với động vật có vú và được bồi bổ nhanh chính bởi quá trình tiêu hóa và hấp thụ các chất dinh dưỡng Khối lượng rất lớn các chất tiêu hóa
đi qua ống tiêu hóa thể hiện tốc độ và cường độ của các quá trình tiêu hóa Ở
gà, vịt, ở gà còn non tốc độ là 30 - 39cm/giờ, gà con lớn hơn là 32 - 40cm/giờ,
và ở gà trưởng thành là 40 - 42cm/giờ, chất tiêu hóa được giữ lại trong ống
tiêu hóa không quá 2 - 4giờ
Trang 29* Tiêu hóa ở miệng
Gia cầm mổ thức ăn bằng mỏ, một phút mổ 180 - 240 lần, lúc đói mổ nhanh, mỏ mở rộng Mặt trên lưỡi có răng rất nhỏ hóa sừng, hướng về cổ họng để đưa thức ăn về phía thực quản - thị giác và xúc giác kiểm tra tiếp nhận thức ăn, còn vị giác và khứu giác ý nghĩa kém hơn
Tuyến nước bọt kém phát triển, thành phần chủ yếu là dịch nhầy Nước bọt có tác dụng thấm trơn thức ăn thuận tiện cho việc nuốt Trong nước bọt có
chứa một số ít men amylaza nên có ít tác dụng đối với tiêu hóa Gà mái có thể
tiết 7 - 25ml nước bọt trong một ngày đêm (bình quân khoảng 12ml) (Nguyễn Duy Hoan, 1998) [3] Thức ăn vào diều, khi đói theo ống diều vào thẳng dạ dày, không giữ lại lâu ở diều
* Tiêu hóa ở diều
Diều gà hình túi ở thực quản chứa được 100 – 120g thức ăn Giữa các
cơ thắt lại có ống diều để khi gà đói, thức ăn đi thẳng vào phần dưới của thực quản và dạ dày không qua túi diều
Ở diều thức ăn được làm mềm, quấy trộn và tiêu hóa từng phần do các men và vi khuẩn có trong thức ăn thực vật Thức ăn cứng lưu lại trong diều lâu hơn Khi thức ăn và nước có tỉ lệ 1:1 thì được giữ lại ở diều 5 - 6 giờ
Độ pH trong diều gia cầm là 4,5 - 5,8 Sau khi ăn từ 1- 2 giờ diều co bóp theo dạng dãy với khoảng cách 15 - 20 phút, sau khi ăn từ 5 - 12 giờ là
10 - 12 phút
Ở diều nhờ men amylaza của nước bọt chuyển xuống, tinh bột được phân giải thành đường đa rồi một phần chuyển thành đường glucoza
* Tiêu hóa ở dạ dày
Dạ dầy chia ra: Dạ dày tuyến và dạ dày cơ
- Dạ dày tuyến:
Cấu tạo từ cơ trơn là dạng ống ngắn, có vách dày, khối lượng khoảng từ 3,5 - 6 gam
Trang 30Vách gồm màng nhầy, cơ và mô liên kết
Dịch có chứa chlohydric, pepsin và musin Sự tiết dịch diễn ra liên tục, sau khi ăn càng được tăng cường
Thức ăn không giữ lâu ở dạ dày tuyến, khi được dịch dạ dày làm ướt, thức ăn chuyển xuống dạ dày cơ nhờ nhịp co bóp đều đặn của dạ dày cơ (không quá một lần/phút)
Từ dạ dày cơ, các chất dinh dưỡng được truyền vào tá tràng có các men của dịch ruột và tuyến tụy cùng tham gia, môi trường kiềm hóa tạo điều kiện thích hợp cho sự hoạt động của các men phân giả protein và glucid Sỏi và các dị vật trong dạ dày làm tăng tác động nghiền của vách dạ dày Tốt nhất nên cho gà ăn sỏi thạch anh vì không bị phân hủy bởi Acid Chlohydric
* Tiêu hóa ở ruột
Quá trình cơ bản phân tích men từng bước các chất dinh dưỡng đều được tiến hành chủ yếu ở ruột non
Dịch ruột gà lỏng, đục, kiềm tính, pH = 7.42 với độ đặc 1.0076 và chứa các men proteolyse, amonlitic, lypolitic và enterokinaza
Dịch tuyến tụy - pancreatic - lỏng, không màu, hơi mặn, có phản ứng hơi toan hoặc kiềm (pH = 6 ở gà, pH = 7,2 -7,5 ở gia cầm khác) Dịch này có men tripsin, carboxi peptidaza, mantaza và lipaza Trong các chất khô của dịch này có các acid amin, lipid và các chất khoáng CaCl2, NaCl, NaHCO3…
Trang 31Gà một năm tuổi, lúc bình thường tuyến tụy tiết ra 0,4 - 0,8ml/giờ, sau khi 5 - 10 phút lượng tiết tăng gấp 3-4 lần, giữ cho đến giờ thứ 3, rồi giảm dần Thành phần thức ăn có ảnh hưởng đến quá trình tiết dịch men của tụy,: thức ăn giàu protein nâng hoạt tình proteolyse lên 60%, giàu lipid tăng hoạt tính của lypolitic,…
Mật của gia cầm được tiết liên tục từ túi mật vào đường ruột, lỏng màu sáng hoặc xanh đậm, tính kiềm, pH =7,3 - 8,5
Mật có vai trò đa dạng trong quá trình tiêu hóa của gia cầm, gây nên nhũ tương mỡ, hoạt hóa các men tiêu hóa của dịch tụy, kích thích làm tăng nhu động ruột, tạo điều kiện hấp thu các chất dinh dưỡng đã được tiêu hóa, đặc biệt là các acid béo mà chúng tạo thành các hợp chất dễ hòa tan Mật ngăn cản việc gây nên vết loét trên màng nhầy của dạ dày cơ và có tính diệt khuẩn
Ở ruột gluxit được phân giải thành các monosaccarit do men amylaza của dịch tụy, một phần của dich ruột
Phần dưỡng chất không được hấp thu ở ruột non chuyển xuống manh tràng và van hồi manh tràng của ruột già
Ruột già không có tuyến tiết dịch tiêu hóa, chỉ có tế bào chén của màng nhầy tiết ra dịch nhầy Quá trình tiêu hóa trong ruột già phụ thuộc vào enzyme của ruột non đi xuống, các enzyme này chỉ hoạt động ở phần đầu ruột già Ở đây cũng diễn ra quá trình tiêu hóa như ở ruột trong ruột non
Trong ruột già còn có hệ vi sinh vật cư trú, về số lượng và chủng loại giống như trong dạ dày cỏ của động vật nhai lại Các vi sinh vật này hoạt động chủ yếu ở manh tràng, phân giải cellulose, bột đường, protein
Quá trình tiêu hóa trong ruột già một phần do tác dụng của emzyme ở ruột non đi xuống còn chủ yếu nhờ tác dụng của hệ vi sinh vật Quá trình tiêu hóa cellulose và tiêu hóa protein tạo ra các acid béo bay hơi và các amino acid
sẽ được hấp thu ở đây
Trang 32Một số vi khuẩn lại sử dụng một số chất trong ruột già để tổng hợp nên vitamin K, vitamin B12, và phức hợp vitamin B Trong ruột già còn có quá trình viên phân, tạo phân (Hoàng Toàn Thắng và cs, 2005) [19]
2.2.1.2 Đặc điểm sinh trưởng và những yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng của gia cầm
* Khái niệm sinh trưởng
Là một sinh vật hơn nữa là một cơ thể sống hoàn chỉnh, vật nuôi có các đặc trưng cơ bản của sự sống Trong các đặc trưng cơ bản đó, sự sinh trưởng
là một đặc trưng cơ bản được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm
Theo tài liệu của Chambers J.K (1990) [29], thì tác giả MoZan (1977)
đã đưa ra khái niệm: Sinh trưởng cơ thể là tổng hợp sự sinh trưởng của các bộ phận như thịt, xương, da Những bộ phận này không chỉ khác nhau về tốc độ sinh trưởng mà còn phụ thuộc vào chế độ dinh dưỡng và nhiều yếu tố khác Trần Đình Miên (1992) [14], đã khái quát như sau: “Sinh trưởng là quá trình tích lũy các chất hữu cơ do đồng hóa và dị hóa, là sự tăng chiều cao, chiều dài, bề ngang khối lượng của các bộ phận và toàn cơ thể con vật trên cơ sở tính chất di truyền từ đời trước”
Sinh trưởng của gia súc luôn gắn với phát dục, đó là quá trình thay đổi chất lượng, là sự tăng lên và hoàn chỉnh các tính chất, chức năng hoạt động của cơ thể Hai quá trình đó liên quan mật thiết và ảnh hưởng lẫn nhau tạo nên
sự hoàn thiện cơ thể gia súc, gia cầm Sinh trưởng và phát dục của cơ thể gia súc tuân theo tính quy luật và theo giai đoạn
* Những nhân tố ảnh hưởng đến sự sinh trưởng của gia cầm
- Ảnh hưởng của dòng, giống
Trong cùng điều kiện chăn nuôi, mỗi giống khác nhau có khả năng sinh trưởng khác nhau Theo Nguyễn Mạnh Hùng và Cs (1994) [8], sự khác nhau
Trang 33về khối lượng cơ thể gia cầm là rất lớn, giống gà kiêm dụng năng suất thịt cao hơn giống gà hướng trứng từ 500 - 700g/con (13- 30%)
Theo tài liệu của Chambers J.K (1990) [29], thì nhiều gen ảnh hưởng đến
sự phát triển của cơ thể gà Có gen ảnh hưởng đến sự phát triển chung hoặc ảnh hưởng tới sự phát triển theo nhóm tính trạng hay một vài tính trạng riêng lẻ
- Ảnh hưởng của tính biệt và tốc độ mọc lông
Sự khác nhau về tốc độ sinh trưởng và khối lượng của cơ thể con do yếu tố tính biệt quy định trong đó con trống có tốc độ sinh trưởng nhanh hơn con mái
Theo Phùng Đức Tiến (1997) [22], thì J.F.Hayers (1979) đã xác định biến dị di truyền về tốc độ mọc lông phụ thuộc vào giới tính Những alen quy định tốc độ mọc lông nhanh phù hợp với tăng khối lượng cao Trong cùng một dòng gà mọc lông nhanh thì gà mái mọc lông nhanh hơn gà trống
Tốc độ mọc lông có liên hệ với chất lượng thịt gia cầm, những gia cầm
có tốc độ mọc lông nhanh thường có chất lượng thịt tốt hơn Đây cũng là tính trạng di truyền liên kết với giới tính (Biichell và Brandch, 1978) [1]
- Ảnh hưởng của chế độ dinh dưỡng
Chế độ dinh dưỡng đóng vai trò quan trọng đối với sinh trưởng của gia cầm Việc cung cấp đầy đủ các chất dinh dưỡng và cân đối giữa các chất sẽ giúp cho gia cầm phát huy cao tiềm năng di truyền về sinh trưởng
Dinh dưỡng là một trong những nhân tố quan trọng quyết định đến khả năng sinh trưởng của gia cầm, khi đáp ứng đủ nhu cầu dinh dưỡng thì thời gian đạt khối lượng tiêu chuẩn sẽ giảm xuống
Theo Chambers J.K (1990) [29], thì tương quan giữa tăng trọng của gà
và hiệu quả sử dụng thức ăn khá cao (r = 0,5 - 0,9) Để phát huy khả năng sinh trưởng của gia cầm không những cần cung cấp đủ năng lượng thức ăn theo nhu cầu mà còn phải đảm bảo cân bằng protein, acid amin và năng lượng Do vậy, khẩu phần ăn cho gà phải hoàn hảo trên cơ sở tính toán nhu cầu của gia cầm và đây là một trong những vấn đề cơ bản