Việc chăn nuôi chó càng phát triển thì vấn đề dịch bệnh trên chó càng được con người quan tâm nhiều hơn, bởi nguyên nhân thân thiết gần gũi mà con người có nguy cơ mắc phải một số bệnh n
Trang 1KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Thú y Khoa : Chăn nuôi Thú y Khóa học : 2010 - 2014
Thái Nguyên – 2014
Trang 2KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Trang 3luôn nhận được sự giúp đỡ của các thầy, cô giáo trong và ngoài nhà trường, các cán bộ, bác sỹ công tác tại Trạm thú y huyên Phú Lương
Trước hết, em được gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới các thầy, cô giáo trong khoa chăn nuôi thú y – Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, đặc
biệt là cô giáo TS Lê Minh đã hướng dẫn, giúp đỡ, chỉ bảo tận tình cho em
trong suốt thời gian thực tập và tốt nghiệp
Em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới các bác, các cô, các chú, các anh, các chị là cán bộ, bác sỹ, tại Trạm thú y huyện Phú Lương, các cán bộ thú y xã trên địa bàn huyện đã giúp đỡ và tạo mọi điều kiện cho em trong quá trình thực tập
Em xin gửi một lời cảm ơn đặc biệt tới gia đình và bạn bè – những người
đã luôn bên em trong suốt thời gian qua
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2014
Sinh viên
Nguyễn Việt Hưng
Trang 4Mỗi sinh viên được các thầy cô giáo trong nhà trường giúp đỡ trong quá trình học tập và tự tìm tòi, nghiên cứu để trang bị thêm kiến thức, nhưng chủ yếu là lý thuyết mà không có nhiều thời gian để được tiếp cận và trải nghiệm thực tế sản xuất Tuy nhiên, để trở thành một bác sỹ, kỹ sư hay cử nhân tương lai, ngoài việc trang bị một lượng kiến thức lý thuyết, mỗi sinh viên còn cần phải trải qua những giai đoạn thử thách của thực tế Chính vì vậy mà thực tập tốt nghiệp là một khoảng thời gian rất quan trọng đối với sinh viên của các trường đại học nói chung và sinh viên trường Đại học Nông Lâm nói riêng Đây là một khoảng thời gian cần thiết để sinh viên củng cố và áp dụng những kiến thức đã học vào thực tiễn đồng thời học hỏi thêm kinh nghiệm, thành tựu khoa học kỹ thuật mới Thực tập tốt nghiệp còn là một quá trình rèn luyện, giúp cho sinh viên ra trường trở thành những kỹ sư, bác sỹ có trình độ và năng lực tốt
Xuất phát từ nguyện vọng của bản thân, được sự đồng ý của ban chủ nhiệm khoa Chăn nuôi Thú y - Trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên, của cô giáo hướng dẫn và được trạm thú y huyện Phú Lương tiếp nhận, em
đã tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ, bệnh lý, lâm
sàng bệnh sán dây ở chó nuôi tại huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên
và biện pháp phòng trị’’
Do chưa được tiếp xúc nhiều với công tác nghiên cứu nên trong bản khóa luận này không tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót, kể cả về phương pháp và kết quả nghiên cứu Vì vậy em kính mong nhận được sự góp ý quý báu của các thầy, cô giáo để bản khóa luận được hoàn chỉnh hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Trang 5Bảng 4.1 Tỷ lệ và cường độ nhiễm sán dây ở chó (qua mổ khám) 31
Bảng 4.2 Tỷ lệ nhiễm sán dây ở chó (qua xét nghiệm phân) 32
Bảng 4.3 Tỷ lệ nhiễm sán dây theo các tháng (qua xét nghiệm phân) 33
Bảng 4.4 Tỷ lệ nhiễm sán dây theo tuổi chó (qua xét nghiệm phân) 35
Bảng 4.5 Tỷ lệ và các biểu hiện lâm sàng chủ yếu của chó bị bệnh sán dây 36
Bảng 4.6 Bệnh tích đại thể ở cơ quan tiêu hoá chó bị bệnh sán dây 37
Bảng 4.7 Hiệu lực của thuốc tẩy sán dây cho chó trên diện hẹp 38
Bảng 4.8 Độ an toàn của thuốc tẩy sán dây chó 40
Bảng 4.9 Hiệu lực của thuốc tẩy sán dây cho chó trên diện rộng 42
Bảng 4.10 Sử dụng thuốc đặc hiệu tẩy sán dây đại trà cho chó ở huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên 43
Trang 6Hình: 4.1 Biểu đồ tỷ lệ nhiễm sán dây chó qua xét nghiệm phân 32 Hình 4.2: Tỷ lệ nhiễm sán dây theo các tháng (qua xét nghiệm phân) 34 Hình 4.3: Biều đồ tỷ lệ nhiễm sán dây theo tuổi của chó 35
Trang 7STT Từ, cụm từ viết tắt Nghĩa của từ, cụm từ viết tắt
Trang 8PHẦN 1: MỞ ĐẦU 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Ý nghĩa khoa học của đề tài 2
1.2.1 Ý nghĩa khoa học 2
1.2.2 Ý nghĩa thực tiễn 2
PHẦN 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1 Cơ sở khoa học của đề tài 3
2.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 21
2.1.1 Đặc điểm sinh học của sán dây ký sinh ở chó 3
2.1.2 Bệnh do sán dây ký sinh gây ra ở chó 15
2.1 Cơ sở khoa học của đề tài 3
2.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 21
2.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 21
2.2.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước 23
PHẦN 3: ĐỐI TƯỢNG, VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24
3.1 Đối tượng, thời gian, địa điểm nghiên cứu 24
3.2 Nội dung nghiên cứu 24
3.2.1 Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ bệnh sán dây ở chó tại các xã của huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên 24
3.2.2 Nghiên cứu bệnh lý và lâm sàng bệnh sán dây ở chó 25
3.2.3 Thử nghiệm thuốc tẩy sán dây cho chó và đề xuất biện pháp phòng bệnh 25
3.3 Phương pháp nghiên cứu 25
Trang 93.3.3 Phương pháp xác định tỷ lệ nhiễm sán dây theo lứa tuổi chó 27
3.3.4 Phương pháp theo dõi triệu chứng lâm sàng của chó bị bệnh sán dây 27 3.3.5 Phương pháp bố trí xác định bệnh tích đại thể ở cơ quan tiêu hóa do sán dây gây ra 27
3.3.6 Phương pháp đánh giá hiệu lực tẩy sán dây, độ an toàn của thuốc thử nghiệm 27
3.4 Phương pháp sử lý số liệu 29
PHẦN 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ HỆ THỐNG BẢNG BIỂU 31
4.1 Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ bệnh sán dây ở chó tại huyện Phú Lương – tỉnh Thái Nguyên 31
4.1.1 Tình hình nhiễm sán dây ở chó tại các xã của huyện Phú Lương - tỉnh Thái Nguyên 31
4.1.1.1 Tỷ lệ và cường độ nhiễm sán dây ở chó qua mổ khám 31
4.1.2 Tỷ lệ nhiễm sán dây theo các tháng (qua xét nghiệm phân) 33
4.1.3 Tỷ lệ nhiễm sán dây theo tuổi chó (qua xét nghiệm phân) 34
4.2 Nghiên cứu bệnh lý và lâm sàng bệnh sán dây ở chó 36
4.2.1 Tỷ lệ và những biểu hiện lâm sàng của chó bị bệnh sán dây 36
4.2.2 Bệnh tích đại thể ở cơ quan tiêu hoá của chó bị bệnh sán dây 37
4.3 Thử nghiệm thuốc tẩy sán dây cho chó và đề xuất biện pháp phòng, trị bệnh 38
4.3.1 Xác định hiệu lực của thuốc tẩy sán dây cho chó trên diện hẹp 38
4.3.2 Độ an toàn của thuốc tẩy sán dây cho chó 40
4.3.3 Xác định hiệu lực của thuốc tẩy sán dây cho chó trên diện rộng 42
4.3.4 Sử dụng thuốc đặc hiệu tẩy sán dây đại trà cho chó ở huyện Phú Lương – tỉnh Thái Nguyên 42
Trang 105.1.1 Về đặc điểm dịch tễ bệnh sán dây chó ở Phú Lương 44
5.1.2 Về bệnh lý lâm sàng bệnh sán dây chó 44
5.1.3 Về thử nghiệm thuốc tẩy sán dây cho chó 44
5.2 Tồn tại 45
5.3 Đề nghị 45
TÀI LIỆU THAM KHẢO 46
Trang 11PHẦN 1
MỞ ĐẦU
1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Chó là một loài vật đặc biệt, qua nghiên cứu cho thấy chúng có các giác quan rất phát triển, đặc biệt là khả năng thị giác và thính giác cao hơn rất nhiều so với con người, do đó từ xưa con người đã biết thuần hóa, huấn luyện, nuôi chó với nhiều mục đích khác nhau: làm cảnh, giữ nhà, làm bạn, làm chó nghiệp vụ, săn thú…
Việc chăn nuôi chó càng phát triển thì vấn đề dịch bệnh trên chó càng được con người quan tâm nhiều hơn, bởi nguyên nhân thân thiết gần gũi mà con người có nguy cơ mắc phải một số bệnh nguy hiểm như là bệnh dại, nhiễm giun, sán…
Bệnh sán dây là một bệnh phổ biến ở chó, Vương Đức Chất và Lê Thị Tài (2004) [1] cho biết, trên thế giới có khoảng 40 loài sán dây gây bệnh cho chó và các thú ăn thịt thuộc họ chó và mèo, một số loài sán dây gây bệnh cho chó mèo cũng là tác nhân gây bệnh cho người
Theo Tô Du và Xuân Giao (2006) [3], sán dây ký sinh làm cho chó gầy yếu, suy nhược, thiếu máu, có hội chứng viêm ruột, giảm khả năng sinh sản
và sẽ chết do kiệt sức
Ngoài ra, đáng lo ngại hơn nữa là một số loài sán dây ký sinh trên chó cũng
là tác nhân gây bệnh cho người và động vật nuôi khác: ấu trùng Cysticercus
tenuicollis của loài sán dây Taenia hydatigena ký sinh ở lợn, trâu, bò, dê, kể cả ở
người, gây ra bệnh ấu sán cổ nhỏ, hiện vẫn chưa có thuốc điều trị (Nguyễn Thị
Kim Lan và cs, 1999 [10]) Ấu trùng sán dây Diphyllobothrium mansoni gây bệnh
sán nhái ở người, tạo thành các u ở mắt (Phạm Sỹ Lăng và cs, 2006) [13]
Trang 12Những năm gần đây, chó được nuôi ở tỉnh Thái Nguyên khá nhiều Tuy nhiên, việc phòng trị bệnh ký sinh trùng, đặc biệt là bệnh do sán dây còn ít được chú ý Bên cạnh đó người dân chủ yếu nuôi chó theo phương thức thả rông, nếu chó bị nhiễm sán dây thì rất dễ phát tán mầm bệnh, làm tăng nguy
cơ nhiễm bệnh cho người và súc vật khác
Xuất phát từ thực tế trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: "Nghiên
cứu đặc điểm dịch tễ, bệnh lý, lâm sàng bệnh sán dây ở chó nuôi tại huyện Phú Lương - tỉnh Thái Nguyên và biện pháp phòng trị"
1.2 Ý NGHĨA KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI
1.2.1 Ý nghĩa khoa học
Kết quả của đề tài là những thông tin khoa học bổ sung và hoàn thiện thêm các nghiên cứu về bệnh sán dây ở chó và biện pháp phòng trị trong điều kiện chăn nuôi hiện nay ở nước ta
1.2.2 Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của đề tài là những minh chứng về tác hại của sán dây ký sinh ở đường tiêu hóa chó, đồng thời là những khuyến cáo có ý nghĩa cho những hộ gia đình nuôi chó ở huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên và các địa phương khác
Kết quả nghiên cứu có thể ứng dụng để chẩn đoán và phòng trừ bệnh sán dây cho chó, góp phần khống chế bệnh trong thực tiễn, bảo vệ sức khỏe người
và vật nuôi
Trang 13PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI
2.1.1 Đặc điểm sinh học của sán dây ký sinh ở chó
2.1.1.1 Vị trí của sán dây chó trong hệ thống phân loại động vật học
Cho đến nay các hệ thống phân loại sán dây đã trải qua nhiều thay đổi, song dường như vẫn chưa được thống nhất và ổn định (Nguyễn Thị Kỳ, 2003 [9]) Theo Phan Thế Việt và cs, (1977 ) [26], Nguyễn Thị Kỳ (1994) [8], Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [15], Nguyễn Thị Kỳ (2003) [9], hệ thống phân loại của Việt Nam đã lựa chọn hệ thống phân loại của Schulz và Gvozldev (1970), để sắp sếp các loại sán dây phát hiện được ở người, thú nuôi, chim ở
Việt Nam Trong đó sán dây ở chó có vị trí như sau:
Trang 14Loài Dipylidium caninum Leuckart, 1758
Phân bộ Tta Skrjabin et Schulz, 1937
Họ Taeniidae Ludwig, 1886 Giống Taenia Linnaeus, 1758 Loài Taenia hydatigena Pallas, 1766 Loài Taenia pisiformis Bloch, 1780 Giống Echinococcus Rudolphi, 1801 Loài Echinococcus granulosus Batsch, 1786
Giống Multiceps Goeze, 1782 Loài Multiceps multiceps Leske, 1780 Phân bộ Mesocestoidata Skrjabin, 1940
Họ Mesocestoididae Perrier, 1897 Giống Mesocestoides, Wailand, 1863 Loài Mesocestoides lineatus Goeze, 1782
Nhiều tác giả như Phan Thế Việt và cs (1977) [26], Nguyễn Thị Kỳ (1994) [8], Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [15], khi đề cập đến thành phần loài sán dây ký sinh trên chó ở nước ta đều thống nhất rằng, các loài sán dây ký sinh trên chó
ở nước ta bao gồm: Diphyllobothrium mansoni, Diphyllobothrium reptans,
Dipylidium caninum, Taenia hydatigen, Taenia pisiformis, Multiceps multicep, Echinococcus granulosus, Mesocestoides lineatus
Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [10]: tính đến thời điểm hiện tại, người ta đã biết hơn 30 loài sán dây ký sinh ở loài ăn thịt gây bệnh cho
chó, mèo Chúng đều thuộc bộ Cyclophyllidea và Pseudophyllidea
Kết quả tổng hợp của Phạm Sỹ Lăng (2002) [14] cho biết, đến nay đã phát hiện được 18 loài sán dây ký sinh trên chó ở miền bắc Việt Nam
Nguyễn Thị Kỳ (1977) đã thống kê ở mèo nhà, cầy, chó Hà Nội có loài
Diphllobothrium reptans thuộc giống spirometa
Trang 15Theo Nguyễn Thị kỳ (2003) [9] cho biết ở Việt Nam hiện loài
Diphyllobothrium mansoni, Diphyllobothrium reptans còn chưa rõ vị trí phân
loại và không có mẫu Nguyễn Thị Kỳ (2003) [9] đã xem xét lại toàn bộ vị trí phân loại và tình trạng mẫu, tình hình nghiên cứu về từng loài
Hiện nay trên thế giới có khoảng 40 loài sán dây gây bệnh cho chó và các thú ăn thịt thuộc họ chó mèo (Vương Đức Chất và cs,2004 [1])
2.1.1.2 Đặc điểm hình thái, cấu tạo của sán dây chó
Cổ là những đốt sán nối tiếp sau đầu Đốt cổ của sán dây là đốt sinh trưởng, từ các đốt cổ sinh ra các đốt thân, cơ quan sinh sản ở các đốt cổ chưa hình thành rõ
Thân sán dây lại gồm ba loại đốt: những đốt chưa thành thục về sinh dục (ở gần cổ), cơ quan sinh dục chưa phát triển đầy đủ, chỉ thấy các cơ qua sinh
Trang 16dục đực Những đốt thành thục về sinh dục ở giữa thân, cơ quan sinh dục trong những đốt sán này đã phát triển đầy đủ, có đủ cả bộ phận sinh dục đực
và cái, có hệ bài tiết, cấu tạo mỗi đốt tương tự như mỗi cơ thể sán lá, chỉ khác
là không có hệ tiêu hóa Những đốt già ở cuối thân sán, bên trong đốt sán chứa tử cung với vô số sán dây Ở những đốt già bộ phận sinh dục đực bị thoái hóa Những đốt già thường xuyên được rời khỏi cơ thể sán và theo phân
ra ngoài (đặc điểm này thấy ở những loài sán dây thuộc bộ Cyclophyllidea)
Chiều dài của sán dây chó dao động từ 0,5 mm đến hàng chục mét Cơ thể sán dây phủ lớp biểu bì, đến lớp hạ bì, rồi đến lớp cơ vòng cơ dọc Phần bên trong chứa đầy nhu mô Bên trong lớp cơ chứa đầy các khí quan của sán Sán dây chó cũng giống các loài sán dây khác là không có hệ tiêu hóa, sán lấy thức ăn bằng phương thức thẩm thấu qua bề mặt cơ thể
Hệ thần kinh ở sán dây kém phát triển, gồm có hạch thần kinh trung ương nằm ở đầu, từ đó các dây thần kinh chạy dọc cơ thể Có 2 dây phát triển hơn nằm bên ngoài ống bài tiết và mỗi đốt nối với nhau bởi các cầu nối ngang
Hệ tuần hoàn và hệ hô hấp tiêu giảm Hô hấp theo kiểu yếm khí
Hệ bài tiết cấu tạo theo kiểu nguyên đơn thận, gồm 2 ống chính từ đầu sán đi về cuối thân và thông với lỗ bài tiết Ngoài ra ở mỗi đốt sán còn có những ống ngang nối liền với 2 ống chính
Hầu hết các loài sán dây là lưỡng tính: trong mỗi đốt thường có một
hệ sinh dục (gồm một hệ sinh dục đực và một hệ sinh dục cái) phát triển ở mỗi giai đoạn khác nhau Sự phát triển của hệ sinh dục theo một thứ tự nhất định: ở các đốt non cơ quan sinh dục chưa phát triển, sau đó hình thành các cơ qua sinh dục đực rồi đến cơ quan sinh dục cái Sau khi thụ tinh cơ quan sinh dục đực teo dần còn lại cơ quan sinh dục cái Ở các đốt già trứng chứa đầy trong tử cung
Trang 17Hệ sinh dục đực gồm tinh hoàn, ống dẫn tinh và các tuyến sinh dục Số lượng tinh hoàn trong mỗi đốt có từ một cho tới vài trăm và là dấu hiệu để phân loại mỗi loài Từ tinh hoàn có nhiểu ống dẫn tinh nhỏ đi ra và hợp lại với nhau thành ống dẫn tinh, ống này đổ vào cơ quan giao phối là lông gai Lông gai nằm trong nang lông gai Phần cuối ống dẫn tinh có thể phình ra gọi
là túi tinh Nếu túi tinh ở ngoài nang lông gai gọi là túi tinh ngoài, còn ở trong nang lông gai gọi là túi tinh trong Lông gai dùng để đưa vào lỗ sinh dục khi giao phối Nang lông gai và lông gai ở mỗi loài có hình dạng, kích thước và cấu tạo khác nhau
Hệ sinh dục cái có cấu tạo phức tạp hơn, gồm buồng trứng, ống dẫn trứng, ootyp, tuyến noãn hoàng, túi nhận tinh, thể mellis, và tử cung, thường có hai buồng trứng nằm giữa hoặc phía sau đốt sinh dục, ít khi ở phía trước Trứng thụ tinh đưa vào ootyp Tuyến noãn hoàng gồm nhiều bao noãn bé nằm trong nhu mô hoặc thành khối nằm hai bên đốt hoặc phía sau buồng trứng Từ tuyến noãn hoàng các chất dinh dưỡng đổ vào ootyp giúp cho việc hình thành trứng Tuyến vỏ tiết ra các chất cần thiết để hình thành trứng Trong ootyp trứng thụ tinh được hình thành, sau đó trứng rơi vào tử cung Cấu tạo tử cung của sán dây rất khác nhau Ở sán dây bậc
thấp (Pseudophyllidea), tử cung là những ống cong, dẫn từ ootyp đến lỗ
ngoài nằm ở mặt bụng của mỗi đốt Ở những đốt sán dây này trứng được thải ra ngoài tùy theo mức độ hình thành của trứng Ở sán dây bậc cao
(Cyclophyllidea), tử cung kín, không có lỗ ngoài Ở những đốt sán dây
này tử cung chứa đầy trứng trong đốt già và mỗi đốt thực chất biến thành một cái túi chứa trứng Trứng được rơi ra ngoài bằng cách nứt thành cơ thể của mỗi đốt Quá trình này thường được thực hiện ở môi trường ngoài,
ở nơi mà các đốt sán dây già được thải ra cùng với phân vật chủ
Trang 18Trứng sán dây thuộc bộ Cyclophyllidea hình tròn hoặc hơi bầu dục, có 4 lớp vỏ, trong có phôi 6 móc Còn trứng sán dây thuộc bộ Pseudophylldea
giống trứng sán lá một đầu có nắp (Nguyễn Thị Kim Lan và cs 1999 [13])
* Đặc điểm, hình thái, kích thước của một số loài sán dây ký sinh ở chó
- Gống Dipylidium Leuckart, 1863
Theo Nguyễn Thị Kỳ (1994) [8], Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [15] , Nguyễn Thị Kỳ (2003) [9] cho biết:
+ Loài Dypylidium caninum: cơ thể dài 15-17 cm, gồm 80-250 đốt
Đầu rộng 0,24-0,50 mm Đầu có hình vòi chóp, có 4-10 hàng móc, mỗi hàng có từ 16-20 móc, móc hàng trên cùng dài 0,013-0,016 mm, móc hàng cuối cùng dài 0,003-0,008mm Lỗ sinh dục kép, mở ra ở hai bên đốt Túi sinh dục dài 0,1- 0,3 mm, đáy hướng lên phía trên đốt Buồng trứng phân thùy hình quạt Tuyến noãn hoàng hình khối Đốt già chứa nang trứng, mỗi nang chứa 3-30 trứng, có kích thước 0,026-0,060mm Phôi 6 móc có kích thước 0,020-0,036 mm
- Giống Taenia Linnaeus, 1758
Theo Nguyễn Thị Kỳ (1994) [8], Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [15], Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [10], Nguyễn Thị Kỳ (2003) [9] cho biết:
+ Loài taenia hydatigena: dài 5000mm gồm 550 – 700 đốt rất rộng Đầu
hình quả lê hay hình thận, đường kính 1mm, vòi có 26-44 móc, xếp thành 2 hàng, móc hàng trên dài 0,170-0,022 mm, có mỏm rất cong, móc hàng dưới dài 0,11-0,16 mm, có lưỡi rất cong và có đường kính 0,11mm, có cổ dài 0,5
mm Có 600-700 tinh hoàn ở giữa các ống bài tiết Xung quanh noãn hoàng, buồng trứng, ống dẫn tinh và âm đạo không có tinh hoàn, ống dẫn tinh có dạng túi hẹp uấn khúc nhiều, không có túi tinh Nang lông gai hình trụ dài 0,45 mm, rộng 0,13 mm, buồng trứng 2 thùy ở nửa dưới của đốt, cạnh phía
Trang 19không lỗ lớn hơn phía có lỗ, noãn hoàng là ống hẹp kéo theo chiều ngang, thể melis tròn ở giữa buồng trứng và noãn hoàng, phần âm đạo phình rộng sau hẹp dần, tới thùy buồng trứng tạo thành túi nhận tinh ở các đốt già thân tử cung có 5-10 nhánh ngang, mỗi đầu tự do tạo thành các nhánh phụ, trứng bầu dục, dài 0,038-0,031 mm, rộng 0,034-0,035 mm, vỏ dày 0,04 mm
Dạng ấu trùng Cysticercus tenuicollis gặp nhiều ở gan và xoang bụng
của lợn, trâu, bò và nhiều thú khác, kể cả người Ấu trùng này có dạng túi chứa đầy dịch trong Thành bên trong túi có một đầu sán dây, có cổ Đầu
có có móc và giác bám, đường kính của giác bám 0,099-0,310 mm, có 20 – 40 móc, xếp hai hàng, móc hàng trên dài 0,185 – 0,210 mm, móc hàng dưới dài 0,126 – 0,160 mm, vỏ trong của nang được bọc bằng vỏ ngoài, vỏ này bám vào thành mô cơ của vật chủ , kích thước của nang phụ thuộc vào nơi ký sinh của ấu trùng
+ Loài Taenia pisiformis: sán dài 600- 2000 mm và rộng 4,8 mm gồm
400 đốt, đường kính đầu 1,3 mm, vòi 0,515 – 0,640 mm, có 34 – 48 móc xếp thành 2 hàng móc trên dài 0,225 – 0,294 mm, có lưỡi rất cong Móc hàng dưới dài 0,132 – 0,177 mm, giác bám tròn hay bầu dục, đường kính 0,310 – 0,330 mm, cổ ở ngay sau đầu dài 1,7 mm Lỗ sinh dục xem kẽ không đều, các núm sinh dục hơi nhô ra Có 400 – 500 tinh hoàn, tròn hay bầu dục, đường kính 0,096 – 0,132 mm, ở toàn bộ khoảng trống giữa đốt trừ vùng noãn hoàng và buồng trứng Ống dẫn tinh bắt đầu từ túi tinh tròn có đường kính 0,210 – 0,350 mm, nang lông gai hình trụ hay bầu dục ngang, dài 0,46 – 0,8, rộng 0,13 – 0,14 mm, buồng trứng 2 thùy, ở nửa dưới của đốt, những thùy bên hình thận và có kích thước như nhau, noãn hoàng hình ba góc, ở bờ dưới của đốt Thể melis ở giữa noãn hoàng và buồng trứng ở những đốt già, mỗi phần của tử cung có 8 – 14 nhánh bên, từ đó tạo thành các nhánh phụ, trứng tròn hay hơi bầu dục, đường kính 0,032 – 0,037 mm
Trang 20- Giống Echinococcus Rudophi, 1810
Theo Phan Thế Việt và cs (1977) [26], Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [15], Nguyễn Thị Kỳ (2003) [9] cho biết:
+ Loài Echinococcus granulosus: sán dài 2,7 – 3,4 mm, gồm 3 – 4
đốt Đầu không lớn, có đường kính 0,258 – 0,369 mm, đường kính giác bám 0,098 – 0,133 mm, vòi 0,1 – 0,13 mm Có 36 – 40 móc vòi, thường thay đổi về kích thước và số lượng móc, móc hàng trên dài 0,032 – 0,043
mm, móc hàng dưới dài 0,020-0,036 mm, cán không thẳng và dài hơn lưỡi móc, đôi khi cán phình rộng hoặc có mỏm lớn Cơ quan sinh dục cái ở nửa dưới của đốt, buồng trứng gồm hai khối đặc hình bầu dục, nối với nhau bằng ống ngang hẹp, noãn hoàng dưới buồng trứng, thể melis dưới buồng trứng và noãn hoàng, có 32 -40 tinh hoàn Nang lông gai dài 0,025-0,026
mm, dài tới giữa đốt, lỗ sinh dục mở ra ở hai bên đốt, tử cung dài bằng chiều dài đốt già, có các nhánh bên với số lượng và chiều dài không giống nhau Trứng tròn hay bầu dục, đường kính từ 0,028-0,036 mm
Ấu trùng Echinicoccus enilocularis ký sinh ở trâu, bò, dê Nó có dạng túi
trong chứa đầy dịch nang có hai vỏ, vỏ ngoài màu trắng sữa đôi khi hơi vàng,
vỏ ngoài sinh ra vỏ trong, vỏ trong gọi là vỏ mầm, sinh ra từ phía trong xoang nang, mỏng, không màu, là thành mô sinh ra nang, có thể sinh ra một nang cùng lúc tạo thành đầu phôi và nang thứ 2 ( nang con)
- Giống Multiceps Goeze, 1972
Theo Nguyễn Thị Kỳ (1994) [8], Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [15], Nguyễn Thị Kỳ (2003) [9]:
+ Loài Multiceps: sán dài 400-1000 mm, gồm 200 -250 đốt, rộng gần 5
mm Đầu hình quả lê có đường kính 0,8 mm Vòi có đường kính 0,3 mm, có
22 -32 móc, xếp thành 2 hàng, móc hàng 1 dài 0,15 mm, hàng 2 dài 0,09-0,13
mm Giác bám có đường kính 0,29 – 0,3 mm Cổ dài 2-3 mm Ống dẫn tinh
Trang 21bắt đầu ở phía có lỗ, gần thân giữa của tử cung, uốn khúc và đi vào nang lông gai Nang có dạng quả lê dài 0,315- 0,35 mm, rộng 0,11-0,145 mm Buồng trứng có dạng hình cánh bướm, ở gần bờ dưới đốt hai thùy gần như bằng nhau
và có hình bầu dục, noãn hoàng hình ba góc, ở sát bờ dưới đốt Thể melis nhỏ
ở giữa buồng trứng và noãn hoàng Âm đạo có dạng ống cong xuống một thùy của buồng trứng và phình rộng thành túi chứa tinh, tử cung có thân giữa
và mỗi bên có 9-12 nhánh, trứng có đường kính 0,029-0,037 mm, có vỏ dày
0,004 mm Ấu trùng Coenurus cerebralis là một nang lớn, hình tròn hay bầu
dục, vỏ mờ đục, vỏ mềm ở trong có rất nhiều đầu sán dính vào, trong nang là chất dịch không màu, số lượng dịch thay đổi tùy theo kích thước nang Kích thước nang khác nhau, phụ thuộc vào mức độ phát triển, vị trí não ký sinh và loại động vật
- Giống Mesocestoides Vaillant, 1863
Theo Nguyễn Thị Kỳ (1994) [8], Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [15], Nguyễn Thị Kỳ (2003) [9] cho biết:
+ Loài mesocestoides lineatus: sán trưởng thành dài đến 2m Đầu không
có vòi, có móc bám và 4 giác bám Tử cung có dạng túi dọc nằm ở giữa đốt Kích thước trứng 0,04-0,06 x 0,035-0,043 mm Phôi 6 móc, đôi móc giữa dài hơn móc bên
- Giống Multiceps Goeze, 1782
Theo Nguyễn Thị Kỳ (1994) [8], Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [15], Nguyễn Thị Kỳ (2003) [9]:
+ Loài Multiceps multiceps: sán dài 400 - 1000 mm, gồm 200 - 250 đốt,
rộng gần 5 mm Đầu hình quả lê và có đường kính 0,800 mm Vòi có đường kính 0,300 mm, có 22 - 32 móc, xếp thành hai hàng, móc hàng một dài 0,150
mm, hàng hai dài 0,090 – 0,130 mm Giác bám có đường kính 0,290 - 0,300
mm Cổ dài 2 - 3 mm Ống dẫn tinh bắt đầu ở phía có lỗ, gần thân giữa của tử cung, uốn khúc và đi vào nang lông gai Nang có dạng quả lê dài 0,315 – 0,350
mm, rộng 0,110 – 0,145 mm Buồng trứng có hình cánh bướm, ở gần bờ dưới
Trang 22đốt, hai thùy gần như bằng nhau và có hình bầu dục, noãn hoàng hình ba góc, ở sát bờ dưới đốt Thể Melis nhỏ ở giữa buồng trứng và noãn hoàng Âm đạo có dạng ống cong xuống một thùy của buồng trứng và phình rộng thành túi chứa tinh, tử cung có thân giữa và mỗi bên có 9 - 12 nhánh, trứng có đường kính 0,029 - 0,037 mm, có vỏ dày 0,004 mm
Ấu trùng Coenurus cerebralis là một nang lớn, hình tròn hay bầu dục, vỏ mờ
đục, mềm ở trong có rất nhiều đầu sán dính vào, trong nang là chất dịch không màu, số lượng dịch thay đổi phụ thuộc vào kích thước nang Kích thước nang khác nhau, phụ thuộc vào mức độ phát triển, vị trí não ký sinh và loại động vật
2.1.1.3 Chu kỳ sinh học của sán dây chó
Theo Đỗ Dương Thái và Trịnh Văn Thịnh (1978) [21], chu kỳ sinh học của sán dây khá phức tạp, tiến triển ở nhiều ký chủ liên tiếp Ở bộ
Cyclophyllidae trứng chứa thai trùng 6 móc đã hình thành Vào dạ dày ký
chủ, thai trùng 6 móc thành ấu trùng (đã mất móc) có cấu tạo và tên gọi khác nhau: Cysticercus, Coenurus, Echinococcus, Cysticercoid Ở bộ
Pseudophyllidae có hai thể ấu trùng liên tiếp: Procercoid và Plerocercoid
Những dạng ấu trùng này sống lâu hay chóng ở KCTG và phải được một ký chủ thích hợp nuốt vào mới phát triển thành sán trưởng thành
Để hoàn thành vòng đời, sán dây ký sinh ở chó cần vật chủ trung gian là nhiều loài động vật khác nhau, có thể là động vật có xương sống Có loài cần
1 ký chủ trung gian để hoàn thành vòng đời, nhưng cũng có loài cần hai KCTG mới hoàn thành vòng đời
Các họ sán dây khác nhau có chu kỳ sinh học khác nhau Các loài sán
dây: Spirometra erinacei-europae, Spirometra mansonoides, Dipylidium
caninum, Taenia hydatigena, Taenia pisiformis, Multiceps ký sinh ở ruột của
chó Chó là vật chủ cuối cùng của sán, giúp sán hoàn thành vòng đời và ký sinh ở gian đoạn thành thục Cụ thể vòng đời của các loài sán dây ký sinh thường gặp ở chó diễn ra như sau:
Trang 23+ Loài Spirometra erinacei-europae có sự tham gia của vật chủ trung gian
thứ nhất là các loài giáp xác, KCTG bổ xung là cá Trứng được thải ra ngoài theo phân chó không có phôi, ở trong nước, trứng nở ra ấu trùng có những lông nhỏ
xung quanh thân gọi là Coracidium, được vật chủ trung gian thứ nhất là các loài giáp xác thuộc giống Mesocyclops, Eucyclops nuốt Trong cơ thể bọ nước,
Coracidium phát triển thành dạng ấu trùng đặc biệt – Procercoid Trong trường
hợp cá nuốt phải Procercoid thì ấu trùng này sẽ phát triển thành dạng ấu trùng mới – Plerocercoid Chó ăn cá có ấu trùng Plerocercoid sẽ nhiễm sán, sau 15-18
ngày sẽ xuất hiện trứng trong phân chó thải ra
+ Loài Spirometra mansonoides
Vòng đời phát triển cần có sự tham gia của vật chủ trung gian thứ nhất là
các loài giáp xác nước ngọt (Copepods), vật chủ trung gian thứ hai là các loài
chim, rắn, bò sát, lưỡng cư, động vật gặm nhấm Trứng theo phân chó ra ngoài, trải qua lần lượt các giai đoạn ở vật chủ trung gian thứ nhất và thứ hai,
trở thành ấu trùng gây bệnh Plerocercoid Chó ăn phải vật chủ trung gian
chứa ấu trùng sẽ bị nhiễm sán Sau 10 -30 ngày ấu trùng phát triển thành sán trưởng thành
+ Loài Dipylidium caninum
Vòng đời của loài này có sự tham gia của vật chủ trung gian là các loài
bọ chét giống Ctenocephalides Đốt sán già thải ra ngoài có mang theo nang
trứng Đốt sán vỡ ra, trứng ở ngoài tự nhiên được các vật chủ trung gian nuốt vào, phát triển thành ấu trùng Chó ăn phải bọ chét có ấu trùng sẽ bị nhiễm sán dây Sau 3-4 tuần ấu trùng phát triển thành sán dây trưởng thành
+ Loài Taenia hydatigena
KCTG là lợn, trâu, bò, dê cừu Vòng đời bắt đầu từ khi đốt sán già rụng theo phân ra ngoài, vỡ ra, giải phóng trứng sán KCTG nuốt phải trứng sán,
Trang 24vào đến ruột, ấu trùng 6 móc nở ra và phát triển thành ấu trùng gây bệnh
Cysticercoid sau 3 tháng Chó ăn phải nội tạng của vật chủ trung gian có
ấu trùng sẽ ị nhiễm sám Sau 2 tháng ấu trùng phát triển thành sán dây trưởng thành
+ Loài Taenoa pisiformis
Vòng đời cần có sự tham gia của vật chủ trung gian là động vật gặm nhấm, chủ yếu là thỏ và thỏ rừng Các giai đoạn phát triển của ấu trùng thực hiện trong các vật chủ trung gian để trở thành ấu trùng cảm nhiễm sau 15 – 30 ngày Chó ăn phải nội tạng của thỏ có ấu trùng sẽ nhiễm sán
+Loài Multiceps Multiceps
Vòng đời của loài này cần có sự tham gia của vật chủ trung gian là dê, cừu Đốt sán già ra ngoài theo phân chó Đốt vỡ ra giải phóng trứng sán: dê, cừu - vật chủ trung gian ăn trứng sán vào cơ thể, trứng nở và phát triển thành
ấu trùng cảm nhiễm ở óc dê, cừu sau 6-8 tháng Chó ăn phải óc vật chủ trung gian có ấu trùng sẽ bị nhiễm sán
Theo Phan Thế Việt (1977) [26] đã mô tả: ‘‘tất cả bề mặt của sán dây là một cái mồm khổng lồ Thức ăn ngấm qua da của sán dây Các loài sán dây thường tắm trong nguần thức ăn giàu có của cơ thể vật chủ Cái mồm đã không cần thì hệ tiêu hóa của chúng cũng không có Ăn và tiêu hóa đều qua
bề mặt cơ thể của sán dây’’ Hiện tượng rụng đốt của sán dây là cho người ta
có thể nghĩ rằng: cơ thể sán dây sẽ dần dần ngắn lại Song, không phải như vậy, bởi các đốt mới được sinh ra thay thế các đốt già đã rụng là cho sán dây trở nên “trẻ lại’’ sau đốt đầu là đốt cổ, người ta gọi là đốt cổ là đốt sinh trưởng, từ đó sẽ mọc ra các đốt khác Các đốt mới sinh ra đẩy các đốt cũ lùi dần ra phía sau
Nguyễn Thị Kim Lan và cs (2008) [14] cho biết: những đốt sán dây hầu như là những cơ thể độc lập với nhiều cơ quan riêng biệt và hoàn toàn độc lập Nhờ có sự hóa đốt mà khả năng sinh sản của sán dây tăng lên gấp bội
Trang 25Trong cùng một lúc, ở những đốt thành thục của sán dây có thể sinh ra hàng chục triệu trứng Ngoài ra, sự hóa đốt còn có lợi cho sán dây về những mặt khác Đó là, do có đốt sán già lần lượt đứt và thải ra ngoài môi trường bên ngoài mà sự reo rắc trứng ở đó được thuận lợi hơn, bản thân sán dây thải bỏ đi những đốt già cỗi, đời nó hầu trẻ dần lại, có sức lực và năng lượng mới để phát triển những loạt đốt thành thục mới
2.1.2 Bệnh do sán dây ký sinh gây ra ở chó
2.1.2.1 Đặc điểm dịch tễ học bệnh sán dây chó
Đặc điểm dịch tễ bệnh do sán dây gây ra đã được nhiều tác giả đề cập đến Tuy nhiên, các nghiên cứu còn ít và chưa hệ thống nên chưa phản ánh đầy đủ những vấn đề liên quan đến sự phát sinh và phát triển của bệnh
Theo Trịnh Văn Thịnh (1977) [22]: chó săn thường nhiễm sán dây do ăn thịt thỏ chứa ấu trùng Chó của những người chăn cừu, chăn bò, chó ở lò sát sinh mắc sán do ăn phủ tạng của bò, cừu, lợn Chó nuôi trong nhà mắc sán do
ăn bọ chó trên mình nó chứa ấu trùng Ấu trùng sán ở thỏ, bò, cừu, lợn, bọ chó… Là ấu trùng của những loài sán khác nhau, nên chó là một trong những loài vật bị nhiều loài sán dây ký sinh nhất
Theo Đỗ Dương Thái và Trịnh Văn Thịnh (1978) [23], chó nhiễm sán
dây loài Dipylidium canium do ăn phải các KCTG sống trên mình chó như
bọ, rận Chó nhiễm sán dây loài Taenia hydatigena do ăn phủ tạng loài nhai lại hay lợn chứa ấu trùng Cysticercus tenuicollis
Nguyễn Thị Kỳ (1994) [8] cho biết, các loài Dipylidium caninum, Taenia
hydatigena, Taenia pisiformis, Multiceps multiceps được phân bố rộng ở
cả 3 vùng: đồng bằng, trung du, miền núi với những kiểu khí hậu khác nhau Dịch tễ học của bệnh sán dây ở chó liên quan chặt chẽ đến số lượng chó nuôi và chế độ kiểm soát giết mổ Ở những nơi mà chế độ kiểm soát sát sinh
Trang 26không chặt chẽ thì chó dễ mắc bệnh sán dây do ăn phải những khí quan của gia súc có ấu trùng (Nguyễn Thị Kim Lan và cs, 1999 [10])
Tuổi thọ của sán trưởng thành dài, có thể tới hàng chục năm nên loài ăn thịt mang sán là nguồn gieo rắc căn bệnh nguy hiểm Mỗi đốt sán chửa chứa hàng nghìn trứng sán Chó mang trứng sán phát tán khắp nơi
Sức đề kháng của mầm bệnh ở ngoài tự nhiên cũng góp phần vào sự phát triển của bệnh Trứng sán dây có sức đề kháng mạnh ở ngoại cảnh, có thể sống lâu ở những nơi ẩm ướt
Kết quả kiểm tra 130 mẫu phân chó của Lê Hữu Nghị, Nguyễn Văn Duệ (2000) [17] ở Thành phố Huế cho thấy: chó nhiễm sán dây từ rất sớm, giai đoạn sơ sinh đến 1 năm tuổi đã nhiễm với tỷ lệ cao
Theo Phạm Sỹ Lăng (1992), biến động nhiễm sán dây ở chó tùy theo giai đoạn tuổi Chó con bị nhiễm từ rất sớm Theo dõi 138 chó bị bệnh sán dây ở Hà Nội cho thấy, chó con từ 27-30 ngày tuổi đã bị nhiễm sán (Phạm Sỹ Lăng, 2002 [12])
Nghiên cứu dịch tễ học bệnh sán dây Dipylidium caninum gây ra,
Phạm Sỹ Lăng (2002) [14] cho biết: bệnh lây nhiễm quanh năm, đặc biệt là vào các tháng thời tiết ấm áp (từ mùa xuân đến đầu mùa thu) khi các côn
trùng trung gian của sán dây như: Ctenocephalides canis, Ctenocephaides
felis phát triển mạnh
Sán dây là động vật sốngu ký sinh trong ruột động vật có xương sống, trong chu trình phát triển chúng cần sự tham gia của một hoặc hai vật chủ trung gian, vật chủ chứa Vì vậy sự phân bố của sán dây phụ thuộc rất nhiều vào vật chủ Ngoài quy luật phân bố của vật chủ, quy luật sinh thái học của cả vật chủ và sán dây là yếu tố quan trọng nhất chi phối sự khác nhau về
tỷ lệ nhiễm sán dây ở vật chủ (Nguyễn Thị Kỳ, 2003 [9])
Trang 272.1.2.2 Đặc điểm bệnh lý và lâm sàng bệnh sán dây chó
Theo Trịnh Văn Thịnh (1977) [22], chó chỉ phát thành triệu chứng nếu
có quá nhiều sán: đau bụng, đi tả, ăn không đều, ngứa hậu môn, có khi bị co giật; cuối cùng thiếu máu, gầy rạc Chó thường ỉa ra những đốt sán lòng thòng
ở hậu môn, chó cọ hậu môn vào tường để đẩy sán ra
Đỗ Thái Dương và Trịnh Văn Thịnh (1978) [21] cho biết: bệnh tích thường thấy ở chó bị bệnh sán dây là viêm niêm mạc ruột non ở chỗ sán ký sinh, có khi thấy ruột tụt đoạn nọ vào đoạn kia và tắc ruột nếu sán rất nhiều cuộn lại
Chó nhiễm sán có thể ỉa chảy, da khô hoặc giảm cân, đôi khi có hiện tượng cắn phía sau hoặc chạy xung quanh (Seymour Weiss, 1996 [32]) Nhiễm nhẹ triệu chứng lâm sàng không rõ Khi nhiễm nặng, con vật có thể bị nôn mửa, viêm ruột cata mãn tính, ăn ít, ngứa hậu môn Một số trường hợp có triệu chứng giả dại, 4 chân run giật hoặc bị liệt (Nguyễn Thị Kim Lan
và cs, 1999 [10])
Vương Đức Chất và Lê Thị Tài (2004) [1] cho biết: thể cấp tính thường gặp ở chó từ 1 – 4 tháng tuổi, biểu hiện kém ăn, nôn mửa liên tục do sán bám vào vách ruột gây ra những tổn thương niêm mạc và kích thích gây nôn Chảy máu ruột do đầu sán có nhiều móc bám vào vách ruột nên phân có màu xám hoặc đỏ tươi Viêm ruột thứ phát do những vi khuẩn đường ruột bội nhiễm: E.coli, Staphylococcus aureus Rối loạn tiêu hóa làm chó lúc táo, lúc tiêu chảy, trong phân có niêm mạc ruột tróc ra và có lẫn những đốt sán rụng
ra Nếu không được chăm sóc tốt và điều trị kịp thời, tỷ lệ chết cao 60 – 70%
do viêm ruột, mất máu, mất nước và rối loạn điện giải
Thể mạn tính thường gặp ở dạng trưởng thành: chó ăn ít, gầy còm, rối loạn tiêu hóa, viêm ruột mãn, trong phân có đốt sán già rụng ra, khi ra ngoại cảnh đốt sán vẫn cử động được Giai đoạn cuối chó biểu hiện hội chứng thần
Trang 28kinh: run rẩy, hoặc ngơ ngác nằm lỳ một chỗ, hoặc trở nên dữ tợn Nếu không được điều trị chu đáo chó trưởng thành có thể chết trong trạng thái thiếu máu kéo dài và kiệt sức
Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (2006) [13], bệnh sán dây ở thể cấp: chỉ chiếm 30% số chó nhiễm sán, thường thấy ở chó non dưới 6 tháng tuổi Sán gây ra các tổn thương ở ruột, tạo điều kiện cho các vi khuẩn gây bệnh xâm nhập vào
tổ chức ruột, gây hội chứng viêm ruột cấp Vật bệnh thể hiện: Nôn mửa liên tục, ỉa chảy nặng, phân tanh khắm và đôi khi có xuất huyết ruột Chó thường chết sau 3– 5 ngày nếu như không được điều trị kịp thời Ở chó con còn thấy hiện tượng rối loạn thần kinh do độc tố của sán kích thích thần kinh trung ương như: ngơ ngác, run rẩy, đi siêu vẹo…
Thể mãn tính: chiếm tỷ lệ cao, biểu hiện rõ nhất là chó bệnh gầy còm xơ xác, thiếu máu, rụng lông, trông như chỉ còn da bọc xương, nhưng chó vẫn ăn khỏe Ngoài ra chó còn bị rối loạn tiêu hóa kéo dài, khi táo bón, khi ỉa chảy, hay nôn khan
Bệnh gây hậu quả nghiêm trọng với chó con, có thể gây tắc nghẽn ruột Nhìn chung sán dây ở chó thường vô hại, nhưng khi nhiễm với số lượng lớn
có thể gây viêm đường tiêu hóa, gây tiêu chảy
Theo Tô Du và Xuân Giao (2006) [3], chó bị bệnh sán dây thường gầy yếu, suy nhược, thiếu máu do thiếu dinh dưỡng, viêm ruột, giảm khả năng sinh sản, chết do kiệt sức
Đặc biệt trong bệnh sán dây ở chó trưởng thành, chó vẫn ăn khỏe, nhưng gầy rạc dần, trong phân phát hiện thấy đốt sán già, những đốt sán khi ra ngoài vẫn cử động được trong vài giờ (Phạm Sỹ Lăng và cs, 2009 [14])
2.1.2.3 Chẩn đoán bệnh sán dây ở chó
Để chẩn đoán bệnh do sán dây gây ra có thể dựa trên triệu chứng lâm sàng, tuy nhiên phần lớn chó mắc bệnh không có biểu hiện đặc trưng và khó phân biệt, vì vậy phải kết hợp với việc kiểm tra phân tìm đốt sán
Trang 29Đỗ Dương Thái và Trịnh Văn Thịnh (1978) [21] cho biết:việc chẩn đoán dễ khi chó mắc bệnh thải ra những đốt sán và thòng lòng dưới hậu môn gây ngứa Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [10], (2008) [11]:
- Đối với chó còn sống: kiểm tra phân tìm trứng sán và đốt sán dây
Nếu số lượng đốt sán trong phân nhiều thì có thể trực tiếp tìm đốt sán trong phân Trường hợp chó nhiễm nhẹ, chỉ có ít đốt sán thì xét nghiệm phân tìm đốt sán và mảnh đốt bằng phương pháp fulleborn tìm trứng sán dây
- Đối với chó đã chết hoặc những con nghi mắc bệnh còn sống: có thể
mổ khám để kiểm tra bệnh tích và sán trưởng thành
Phạm Sỹ Lăng và cs (2006) [13] cho biết , dựa vào việc kiểm tra đốt sán trong phân vật bệnh để khẳng định là chó mắc bệnh sán dây
Chu Thị Thơm và cs (2006) [25] cho rằng: để xác định tên của một loài sán dây trưởng thành một cách chính sác, thân sán dây để chết tự nhiên trong nước sạch phải được ép mỏng trong cồn etylic 700 Sau đó nhuộm Carmine, rút hết nước trong vật mẫu, làm trong và gắn thành tiêu bản trên phiến kính để chẩn đoán, xác định tên khoa học của các loài sán dây
Các tác giả Phạm văn Khuê và phan lục (1996) [7], Nguyễn Thị Kim Lan
và cs (1999) [10]; Vương Đức Chất và Lê Thị Tài (2004) [1]; Phạm Sỹ Lăng và
cs (2006) [13], đã đề xuất biện pháp phòng bệnh sán dây ở chó như sau:
- Định kì tẩy sán dây cho chó 4 lần/ năm
- Diệt KCTG của các loài sán dây bằng cách: thường xuyên tắm cho chó mèo; định kì tẩy uế, vệ sinh chuồng và cũi nhốt chó và môi trường xung
Trang 30quanh; hàng ngày dọn chuồng, thu nhặt phân đổ vào hố ủ Định kì kiểm tra phân phát hiện mầm bệnh và theo dõi chó bệnh để dự phòng
- Cho chó ăn thức ăn chín, ăn sạch và uống sạch
- Kiểm soát việc giết mổ chó chặt chẽ, không cho chó ăn những bộ phận
là Niclosamide (dẫn theo Phạm Sỹ Lăng và cs, 2009 [14])
Theo Vương Đức Chất và Lê Thị Tài (2004) [1] sử dụng Niclosamide cho uống với liều 80-100mg/kg TT Thuốc chỉ cho uống một nửa liều vào buổi sáng khi chưa cho ăn Sau đó 1 giờ cho uống nốt nửa liều còn lại 3 giờ sau khi uống thuốc mới cho ăn bình thường, sau 6-10 giờ sán bị chết và theo phân ra ngoài Sau 20 ngày nếu vẫn phát hiện thấy đốt sán trong phân chó phải tẩy lại lần 2 theo đúng quy trình như lần đầu
Vương Đức Chất và Lê Thị Tài (2004) [1] đưa ra nguyên tắc điều trị: tẩy sán kết hợp điều trị triệu chứng và trợ sức kết hợp nuôi dưỡng tốt
- Tẩy sán dây cho chó mèo có thể sử dụng các loại thuốc sau:
+ Niclosamide: cho uống với liều 80-100 mg/kg TT Cho uống một nửa liều vào buổi sáng khi chưa cho ăn Sau đó 1 giờ uống nốt nửa liều còn lại 3 giờ sau khi uống thuốc mới cho ăn bình thường, sau 6-10 giờ sán bị chết và theo phân ra ngoài
Sau 20 ngày nếu vẫn phát hiện thấy đốt sán trong phân chó phải tẩy lại lần trên theo đúng quy trình trên