1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ, bệnh lý, lâm sàng bệnh sán dây ở chó nuôi tại huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên và biện pháp phòng trị,

75 552 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 75
Dung lượng 2,7 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ngoài ra, đáng lo ngại hơn nữa là một số loài sán dây ký sinh trên chó cũng là tác nhân gây bệnh cho người và động vật nuôi khác: ấu trùng Cysticercus tenuicollis của loài sán dây Taenia

Trang 1

KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo : Chính quy

Chuyên ngành : Thú y Khoa : Chăn nuôi thú y

Khoá học : 2010 - 2015

Thái Nguyên, năm 2014

Trang 2

NÔNG XUÂN HUẾ

Tên đề tài:

"NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ, BỆNH LÝ, LÂM SÀNG BỆNH SÁN DÂY Ở CHÓ NUÔI TẠI HUYỆN PHÚ BÌNH, TỈNH THÁI NGUYÊN VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG TRỊ"

KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo : Chính quy

Chuyên ngành : Thú y Khoa : Chăn nuôi thú y

Khoá học : 2010 - 2015

Giáo viên hướng dẫn : TS Lê Minh

Giảng viên khoa Chăn nuôi Thú y – Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên

Thái Nguyên, năm 2014

Trang 3

Nguyên và thời gian thực tập tốt nghiệp tại cơ sở, nhờ sự nỗ lực của bản thân

và sự giúp đỡ của thầy cô, gia đình, bạn bè, em đã hoàn thành tốt đợt thực tập tốt nghiệp

Nhân dịp này em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Ban giám hiệu Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, các Phòng, Ban, các thầy cô giáo trong nhà trường và các thầy cô giáo trong Khoa Chăn nuôi Thú y đã tận tình giảng dạy và giúp đỡ em trong suốt thời gian học tập tại trường

Đặc biệt, em xin chân thành cảm ơn sự quan tâm, giúp đỡ của cô giáo

TS Lê Minh đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn em trong quá trình thực tập và giúp đỡ em hoàn thành tốt khóa luận tốt nghiệp

Đồng thời, em xin gửi lời cảm ơn tới Ban lãnh đạo cùng toàn thể cán bộ nhân viên Trạm Thú y huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên đã tạo điều kiện giúp đỡ em trong suốt quá trình thực hiện đề tài

Cuối cùng, em xin được bày tỏ lòng biết ơn gia đình, bạn bè đã luôn động viên giúp đỡ, tạo mọi điều kiện thuận lợi để em học tập và hoàn thành tốt quá trình thực tập tốt nghiệp

Nhân dịp này, em xin kính chúc toàn thể thầy, cô giáo trong Khoa Chăn nuôi Thú y sức khỏe, hạnh phúc và thành đạt Chúc cán bộ, nhân viên Trạm Thú y huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên công tác tốt Chúc các bạn sinh viên mạnh khỏe học tập tốt, thành công trong cuộc sống

Em xin chân thành cảm ơn!

Thái Nguyên, ngày 25 tháng 11 năm 2014

Sinh viên

Nông Xuân Huế

Trang 4

Trang

Bảng 4.1 Tỷ lệ và cường độ nhiễm sán dây ở chó theo thành phần loài

(qua mổ khám) 40

Bảng 4.2 Tỷ lệ nhiễm sán dây ở chó (qua xét nghiệm phân) 41

Bảng 4.3 Tỷ lệ nhiễm sán dây theo các tháng (qua xét nghiệm phân) 43

Bảng 4.4 Tỷ lệ nhiễm sán dây theo tuổi chó (qua xét nghiệm phân) 44

Bảng 4.5 Tỷ lệ nhiễm sán dây theo giống chó (qua xét nghiệm phân) 45

Bảng 4.6 Tỷ lệ và các biểu hiện lâm sàng chủ yếu của chó bị bệnh sán dây 47

Bảng 4.7 Bệnh tích đại thể ở cơ quan tiêu hoá chó bị bệnh sán dây 49

Bảng 4.8 Hiệu lực của thuốc tẩy sán dây cho chó trên diện hẹp 50

Bảng 4.9 Tỷ lệ chó an toàn sau khi dùng thuốc 52

Bảng 4.10 Hiệu lực của thuốc tẩy sán dây cho chó trên diện rộng 54

Bảng 4.11 Sử dụng thuốc đặc hiệu tẩy sán dây đại trà cho chó ở huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên 55

Trang 5

Hình 4.1 Biểu đồ tỷ lệ nhiễm sán dây chó qua xét nghiệm phân 42 Hình 4.2 Biểu đồ tỷ lệ nhiễm sán dây theo tuổi chó 45 Hình 4.3 Biểu đồ tỷ lệ nhiễm sán dây theo giống chó 46

Trang 6

KCTG : Ký chủ trung gian STT : số thứ tự

TT : thể trọng

kg : kilo gam

mg : mili gam Nxb : Nhà xuất bản

Tr : trang

Trang 7

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 2

1.3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 2

Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

2.1 Cơ sở khoa học của đề tài 3

2.1.1 Đặc điểm sinh học của sán dây ký sinh ở chó 3

2.1.1.1 Vị trí của sán dây chó trong hệ thống phân loại động vật học 3

2.1.1.2 Đặc điểm hình thái, cấu tạo của sán dây chó 7

2.1.1.3 Chu kỳ sinh học của sán dây chó 14

2.1.2 Bệnh do sán dây ký sinh gây ra ở chó 17

2.1.2.1 Đặc điểm dịch tễ học bệnh sán dây chó 17

2.1.2.2 Đặc điểm bệnh lý và lâm sàng của bệnh sán dây chó 19

2.1.2.3 Chẩn đoán bệnh sán dây ở chó 22

2.1.2.4 Phòng và trị bệnh sán dây cho chó 23

2.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 28

2.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 28

2.2.2 Tình hình nghiên cứu nước ngoài 31

Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 33

3.1 Đối tượng, thời gian, địa điểm nghiên cứu 33

3.2 Nội dung nghiên cứu 33

3.2.1 Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ bệnh sán dây ở chó tại các xã của huyện

Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên 33

3.2.2 Nghiên cứu bệnh lý và lâm sàng bệnh sán dây ở chó 34

Trang 8

3.3.1 Phương pháp xác định tình hình nhiễm sán dây ở chó 34

3.3.2 Phương pháp xác định tỷ lệ nhiễm sán dây chó theo các tháng 36

3.3.3 Phương pháp xác định tỷ lệ nhiễm sán dây theo lứa tuổi chó 36

3.3.4 Phương pháp xác định tỷ lệ nhiễm sán dây theo giống chó 36

3.3.5 Phương pháp theo dõi triệu chứng lâm sàng của chó bị bệnh sán dây 36

3.3.6 Phương pháp bố trí xác định bệnh tích đại thể ở cơ quan tiêu hóa do sán dây gây ra 37

3.3.7 Phương pháp đánh giá hiệu lực tẩy sán dây, độ an toàn của thuốc thử nghiệm 37

3.4 Phương pháp xử lý số liệu 38

Phần 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 40

4.1 Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ bệnh sán dây ở chó tại huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên 40

4.1.1 Tình hình nhiễm sán dây ở chó tại các xã của huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên 40

4.1.1.1 Tỷ lệ và cường độ nhiễm sán dây ở chó theo thành phần loài qua mổ khám 40

4.1.1.2 Tỷ lệ nhiễm sán dây ở chó tại các xã của huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên 41

4.1.2 Tỷ lệ nhiễm sán dây theo các tháng (qua xét nghiệm phân) 43

4.1.3 Tỷ lệ nhiễm sán dây theo tuổi chó (qua xét nghiệm phân) 44

4.1.4 Tỷ lệ nhiễm sán dây theo giống chó (qua xét nghiệm phân) 45

4.2 Nghiên cứu bệnh lý và lâm sàng bệnh sán dây chó 47

4.2.1 Tỷ lệ và những biểu hiện lâm sàng của chó bị bệnh sán dây 47

4.2.2 Bệnh tích đại thể ở cơ quan tiêu hoá của chó bị bệnh sán dây 48

Trang 9

4.3.2 Độ an toàn của thuốc tẩy sán dây cho chó 52

4.3.3 Xác định hiệu lực của thuốc tẩy sán dây cho chó trên diện rộng 54

4.3.4 Sử dụng thuốc đặc hiệu tẩy sán dây đại trà cho chó ở huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên 55

4.4 Đề xuất biện pháp phòng trị bệnh sán dây cho chó 56

Phần 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 58

5.1 Kết luận 58

5.2 Tồn tại 59

5.3 Đề nghị 59

TÀI LIỆU THAM KHẢO 60

Trang 10

Phần 1

MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề

Từ trước đến nay, chó luôn được xem là người bạn trung thành và thân thiết với con người Chó là một loài vật đặc biệt, qua nghiên cứu cho thấy chúng có giác quan rất phát triển, đặc biệt là khả năng thị giác và thính giác cao hơn rất nhiều so với con người, do đó từ xưa con người đã biết thuần hóa, huấn luyện, nuôi chó với nhiều mục đích khác nhau: làm cảnh, giữ nhà, làm chó nghiệp vụ, săn thú…

Việc chăn nuôi chó càng phát triển thì vấn đề dịch bệnh trên chó càng được con người quan tâm nhiều hơn, vì nguyên nhân thân thiết gần gũi mà con người có nguy cơ mắc phải một số bệnh nguy hiểm như là bệnh dại, nhiễm giun, sán…

Bệnh sán dây là một bệnh phổ biến ở đàn chó nước ta Vương Đức Chất

và Lê Thị Tài (2004) [1] cho biết, trên thế giới có khoảng 40 loài sán dây gây bệnh cho chó và các thú ăn thịt thuộc họ chó và mèo, một số loài sán dây gây bệnh cho chó mèo cũng là tác nhân gây bệnh cho người

Theo Tô Du và Xuân Giao (2006) [3] , sán dây ký sinh làm cho chó gầy yếu, suy nhược, thiếu máu, có hội chứng viêm ruột, giảm khả năng sinh sản

và sẽ chết do kiệt sức

Ngoài ra, đáng lo ngại hơn nữa là một số loài sán dây ký sinh trên chó cũng là tác nhân gây bệnh cho người và động vật nuôi khác: ấu trùng

Cysticercus tenuicollis của loài sán dây Taenia hydatigena ký sinh ở lợn, trâu,

bò, dê, kể cả ở người, gây ra bệnh ấu sán cổ nhỏ, hiện vẫn chưa có thuốc điều trị (Nguyễn Thị Kim Lan và cs, 1999) [10]

Ấu trùng sán dây Diphyllobothrium mansoni gây bệnh sán nhái ở người,

tạo thành các u ở mắt (Phạm Sỹ Lăng và cs, 2006) [13]

Trang 11

Những năm gần đây, chó được nuôi ở tỉnh Thái Nguyên khá nhiều Tuy nhiên, việc phòng trị bệnh ký sinh trùng ít được quan tâm, người ta cũng chỉ quan tâm đến ký sinh trùng ngoài da gây mất thẩm mỹ đối với con vật mà quên rằng ký sinh trùng đường tiêu hóa cũng rất nguy hiểm, đặc biệt là bệnh

do sán dây còn ít được chú ý Bên cạnh đó người dân chủ yếu nuôi chó theo phương thức thả rông, nếu chó bị nhiễm sán dây thì rất dễ phát tán mầm bệnh, làm tăng nguy cơ nhiễm bệnh cho người và súc vật khác

Xuất phát từ nhu cầu của thực tế trên, em thực hiện đề tài: "Nghiên cứu

đặc điểm dịch tễ, bệnh lý, lâm sàng bệnh sán dây ở chó nuôi tại huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên và biện pháp phòng trị"

1.2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

- Xác định được các loài sán dây gây bệnh và đặc điểm dịch tễ bệnh do sán

dây gây ra ở chó của 4 xã, thị trấn thuộc huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên

- Xác định đặc điểm bệnh lý lâm sàng của bệnh sán dây ở chó

- Sử dụng thuốc điều trị bệnh sán dây chó có hiệu quả

1.3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

* Ý nghĩa khoa học:

- Kết quả của đề tài là những thông tin khoa học bổ sung và hoàn thiện thêm các nghiên cứu về bệnh sán dây ở chó và biện pháp phòng trị trong điều kiện chăn nuôi hiện nay ở nước ta

* Ý nghĩa thực tiễn:

- Kết quả nghiên cứu là những minh chứng về tác hại của sán dây ký sinh ở đường tiêu hóa chó, đồng thời là những khuyến cáo có ý nghĩa cho những hộ gia đình nuôi chó ở huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên và các địa phương khác

- Có thể ứng dụng để chẩn đoán và phòng trừ bệnh sán dây cho chó, góp phần khống chế bệnh trong thực tiễn, bảo vệ sức khỏe con người và vật nuôi

Trang 12

Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 Cơ sở khoa học của đề tài

2.1.1 Đặc điểm sinh học của sán dây ký sinh ở chó

2.1.1.1 Vị trí của sán dây chó trong hệ thống phân loại động vật học

Nguyễn Thị Kỳ (1994) [8] cho biết: so với các nhóm giun sán khác thì sán dây ít được nghiên cứu hơn, nên những hiểu biết về thành phần loài sán dây còn chưa được đầy đủ

Việc nghiên cứu sán dây ở Việt Nam được bắt đầu từ hơn 1 thế kỷ trước

Năm 1870, Cande J lần đầu tiên mô tả loài sán dây Diphyllobothrium latum tìm

thấy ở người Nam Bộ (Việt Nam) Sau đó 10 năm mới xuất hiện các công trình nghiên cứu lẻ tẻ về một vài loài sán dây gây bệnh cho người Từ đó, việc nghiên cứu về thành phần sán dây ở người được chú ý hơn, rồi mở rộng phạm vi nghiên

cứu sang một số động vật nuôi và một số động vật hoang dã

Năm 1914, Casaux đã phát hiện được ở gan người hai nang sán Cysticercus

tenuicollis của loài sán Taenia hydatigena ký sinh ở chó

Năm 1925, Houdemer tiến hành nghiên cứu ký sinh trùng ở thú nuôi và

thú hoang Bắc Bộ cũng phát hiện thấy ấu trùng Cysticercus tenuicollis và loài sán Dipylidium caninum, đồng thời tác giả đã bổ sung thêm các loài trong đó

có loài Taenia hydatigena và Taenia pisiformis

Năm 1963, Trịnh Văn Thịnh đã có công trình tổng kết được hầu hết

những nghiên cứu trước đó, trong đó tác giả đã đề cập đến ấu trùng Coenurus

cerabralis của loài sán dây Multiceps multiceps ở cừu

Năm 1967 hai nhà ký sinh trùng học người Ba Lan là Drozdz và Malczewski đã công bố các loài sán dây ở động vật nhai lại 8 tỉnh miền Bắc,

trong đó có ấu trùng Cysticercus tenuicollis của loài Taenia hydatigena

Trang 13

Nguyễn Thị Kỳ (2003) [9] đã mổ khám 174 cá thể thuộc 21 loài của bộ ăn thịt, kết quả cho thấy, trong các loài mèo rừng, cầy giông, cầy hương, cày lỏn và

chó nhà được mổ khám phát hiện thấy các loài Spirometra erinaceieuropaei

Taenia hydatigena, Taenia pisifomis, Multiceps multiceps, Dipylidium caninum

Cho đến nay các hệ thống phân loại sán dây đã trải qua nhiều thay đổi, song dường như vẫn chưa được thống nhất và ổn định (Nguyễn Thị Kỳ, 2003 [9])

Faust E C và cs (1929) [32] đã lập nên một phân giống là Spirometra trong giống Diphyllobothrium Mueller (1935) [34] đã mô tả loài Diphyllobothrium

mansonoides trên mẫu vật tìm được từ chó và mèo ở vùng Syracus (New York)

Đến năm 1937 Muller đề xuất giống Spirometra và thống nhất đổi tên loài

Diphyllobothrium mansonoides thành loài Spirometra mansonoides

Rudolphi (1918) đã phát hiện ấu trùng của sán dây loài Spirometra erinacei

trên loài nhím ở châu Âu Faust E C và cs (1929) [32] cũng đã phát hiện ấu trùng loài này trên nhím ở Trung Quốc và dạng sán trưởng thành ở chó Khi nghiên cứu

về hệ enzym của loài Spirometra erinacei ở Nhật Bản và ở Australia, Fukumoto

S và cs (1992) [33] nhận xét hai loài sán này là giống nhau

Theo Phan Thế Việt và cs (1977) [26], Nguyễn Thị Kỳ (1994) [8], Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [15], Nguyễn Thị Kỳ (2003) [9], hệ thống phân loại sán dây của Việt Nam đã lựa chọn hệ thống phân loại của Schulz và Gvozdev (1970), để sắp xếp các loài sán dây phát hiện được ở người, chim, thú nuôi và hoang dại ở Việt Nam Trong đó, sán dây ký sinh ở chó có vị trí như sau:

Trang 14

Loài Spirometra erinaceieuropaei

Loài Dipylidium caninum Leuckart, 1758 Phân bộ Tta Skrjabin et Schulz, 1937

Họ Taeniidae Ludwig, 1886 Giống Taenia Linnaeus, 1758 Loài Taenia hydatigena Pallas, 1766 Loài Taenia pisiformis Bloch, 1780 Giống Echinococcus Rudolphi, 1801 Loài Echinococcus granulosus Batsch, 1786 Giống Multiceps Goeze, 1782

Loài Multiceps multiceps Leske, 1780 Phân bộ Mesocestoidata Skrjabin, 1940

Họ Mesocestoididae Perrier, 1897 Giống Mesocestoides, Wailand, 1863 Loài Mesocestoides lineatus Goeze, 1782

Nhiều tác giả như Phan Thế Việt và cs (1977) [26], Nguyễn Thị Kỳ (1994) [8], Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [15], khi đề cập về thành phần loài sán dây ký sinh trên chó ở nước ta đều thống nhất rằng, các loài sán dây ký sinh ở chó đã tìm

thấy ở Việt Nam gồm: Diphyllobothrium mansoni, Diphyllobothrium reptans,

Trang 15

Dipylidium caninum, Taenia hydatigena, Taenia pisiformis, Multiceps multicep, Echinococcus granulosus, Mesocestoides lineatus

Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [10]: tính đến thời điểm hiện tại, người ta đã biết hơn 30 loài sán dây ký sinh ở loài ăn thịt gây bệnh cho chó,

mèo Chúng đều thuộc bộ Cyclophyllidea và Pseudophyllidea

Kết quả tổng hợp của Phạm Sỹ Lăng (2002) [12] cho biết, đến nay đã phát hiện được 8 loài sán dây ký sinh trên chó ở miền Bắc Việt Nam

Việc mô tả hình thái các loài sán dây này còn có nhiều thiếu sót, một số loài chưa có mô tả trên mẫu vật Việt Nam Cande J (1870) là người đầu tiên

mô tả loài sán dây Diphyllobothrium latum tìm thấy ở người (Nam Bộ) Sau

này một số nhà ký sinh trùng học Việt Nam (Đỗ Dương Thái, Đặng Văn Ngữ, 1970; Đỗ Dương Thái, Trịnh Văn Thịnh, 1976) cho rằng, loài thuộc giống

Diphyllobothrium ký sinh ở người Việt Nam không phải là Diphyllobothrium latum mà là loài Diphyllobothrium mansoni Sự phán đoán này không dựa trên

mẫu nên không có sự mô tả loài Theo Yamaguti (1959), loài Diphyllobothrium

mansoni là tên đồng vật của loài Spirometra erinaceieuropaei thuộc giống Spirometra (họ Diphyllobothriidae)

Joyeux và Houdemer (1928), Nguyễn Thị Kỳ (1977) đã thống kê ở mèo

nhà, cầy, chó Hà Nội có loài Diphyllobothrium reptans Theo Yamaguti (1959), loài này thuộc giống Spirometra

Theo tài liệu mới nhất về họ Diphyllobothiidae của các tác giả Delaimure S L., Skrjabin A S., Serdukov A M (1985) Diphyllobothrium

mansoni không là tên đồng vật của một loài nào trong họ này Khi nói về lịch

sử nghiên cứu loài Diphyllobothrium latum, các tác giả còn cho rằng, loài

Spirometra erinaceieuropaei của vùng nam bán cầu là một định dạng sai lầm

và cho rằng chính loài này là Diphyllobothrium latum Tuy nhiên, các tác giả

có ý định xem xét vị trí phân loại của giống Spirometra Mueller, 1937 và

Trang 16

muốn coi giống này là giống chuẩn để thành lập họ Spirometridae (dẫn theo

Nguyễn Thị Kỳ, 2003 [9])

Nguyễn Thị Kỳ (2003) [9] cho biết: ở Việt Nam, hiện loài Diphyllobothrium

mansoni, Diphyllobothrium reptans còn chưa rõ vị trí phân loại và không có mẫu

Nguyễn Thị Kỳ (2003) [9] đã xem xét lại toàn bộ vị trí phân loại và tình

trạng mẫu, tình hình nghiên cứu về từng loài, đã tu chỉnh 1 loài Spirometra

erinaceieuropaei (Rudolphi, 1819) Mueller, 1937

Hiện nay trên thế giới có khoảng 40 loài sán dây gây bệnh cho chó và các thú ăn thịt thuộc họ chó mèo (Vương Đức Chất và cs, 2004 [1])

2.1.1.2 Đặc điểm hình thái, cấu tạo của sán dây chó

* Đặc điểm chung:

Phan Thế Việt và cs (1977) [26], Nguyễn Thị Kỳ (1994) [8], Nguyễn Thị

Lê và cs (1996) [15], Nguyễn Thị Kỳ (2003) [9] cho biết:

Sán dây chó có những đặc điểm của lớp sán dây nói chung: hình dải băng

màu trắng hoặc trắng ngà Cơ thể dài, dẹp theo hướng lưng bụng, chia thành ba phần: đầu, cổ, thân (gồm những đốt sau cổ, có hình dạng và cấu tạo khác nhau) Đầu sán dùng để bám vào thành ruột vật chủ, nên có những hình dạng, kích thước và các cơ quan bám đặc trưng Chiều rộng của đầu thường chỉ nhỏ hơn 1 mm, nhưng cũng có sán có đầu dài vài mm Cơ quan bám nằm trên đầu bao gồm rãnh bám hoặc giác bám, mõm, vòi và có nhiều móc Ở một số loài sán dây trên móc bám có các móc bé xếp thành nhiều hàng Giác bám là bộ phận đặc trưng của sán dây bậc cao Móc bám nằm ngay trên đầu hay ở phần cuối vòi, sắp xếp thành một hay hai hàng Số lượng móc ở các nhóm sán dây dao động từ vài móc đến vài trăm móc Ít khi vòi thiếu móc Kích thước, cấu tạo và số lượng móc cố định cho mỗi loài

Trang 17

Cổ là những đốt sán nối tiếp sau đầu Đốt cổ của sán dây là đốt sinh trưởng, từ các đốt cổ sinh ra các đốt thân, cơ quan sinh sản ở các đốt cổ chưa hình thành rõ

Thân sán dây lại gồm ba loại đốt: những đốt chưa thành thục về sinh dục (ở gần cổ), cơ quan sinh dục chưa phát triển đầy đủ, chỉ thấy cơ quan sinh dục đực Những đốt thành thục về sinh dục (ở giữa thân), cơ quan sinh dục trong những đốt sán này đã phát triển đầy đủ, có đủ cả bộ phận sinh dục đực và cái,

có hệ bài tiết, cấu tạo mỗi đốt tương tự như mỗi cơ thể sán lá, nhưng khác sán

lá là không có hệ tiêu hoá Những đốt già (ở cuối thân sán), bên trong đốt sán chứa đầy tử cung với vô số trứng sán dây Ở những đốt già, bộ phận sinh dục đực bị thoái hoá Những đốt già thường xuyên được rời khỏi cơ thể sán và theo

phân ra ngoài (đặc điểm này thấy ở những loài sán dây thuộc bộ Cyclophyllidea)

Chiều dài của sán dây chó dao động từ 0,5 mm đến hàng chục mét Cơ thể sán dây phủ lớp tiểu bì, đến lớp hạ bì, rồi đến lớp cơ vòng, cơ dọc Phần bên trong chứa đầy nhu mô Bên trong lớp cơ là các khí quan của sán Sán dây chó cũng giống các sán dây khác ở đặc điểm không có hệ tiêu hóa, sán lấy thức ăn bằng phương thức thẩm thấu qua bề mặt cơ thể

Hệ thần kinh ở sán dây kém phát triển, gồm có hạch thần kinh trung ương nằm ở trên đầu, từ đó có các dây thần kinh chạy dọc cơ thể Có hai dây phát triển hơn nằm bên ngoài ống bài tiết và mỗi đốt nối với nhau bởi các cầu nối ngang

Hệ tuần hoàn và hệ hô hấp tiêu giảm Hô hấp theo kiểu yếm khí

Hệ bài tiết của sán dây cấu tạo theo kiểu nguyên đơn thận, gồm 2 ống chính từ đầu sán đi về cuối thân và thông với lỗ bài tiết Ngoài ra, ở mỗi đốt sán còn có những ống ngang nối liền với 2 ống chính

Hầu hết các loài sán dây là lưỡng tính: Trong mỗi đốt thường có một hệ sinh dục (gồm một cơ quan sinh dục đực và một cơ quan sinh dục cái) phát triển ở các giai đoạn khác nhau, ít khi có hai hệ sinh dục hoặc hơn Sự phát

Trang 18

triển của hệ sinh dục theo một thứ tự nhất định: Ở các đốt non cơ quan sinh dục chưa phát triển, sau đó hình thành cơ quan sinh dục đực rồi đến cơ quan sinh dục cái Sau khi thụ tinh, cơ quan sinh dục đực teo dần còn lại cơ quan sinh dục cái Ở các đốt già, trứng chứa đầy trong tử cung

Hệ sinh dục đực gồm tinh hoàn, ống dẫn tinh và các tuyến sinh dục Số lượng tinh hoàn trong mỗi đốt có từ một đến hàng trăm và là dấu hiệu để phân loại mỗi loài Từ tinh hoàn có nhiều ống dẫn tinh nhỏ đi ra và hợp lại với nhau thành ống dẫn tinh, ống này đổ vào cơ quan giao phối là lông gai Lông gai nằm trong nang lông gai Phần cuối ống dẫn tinh có thể phình ra gọi là túi tinh Nếu túi tinh ở ngoài nang lông gai gọi là túi tinh ngoài, còn ở trong nang lông gai thì gọi là túi tinh trong Lông gai dùng để đưa vào lỗ sinh dục cái khi giao phối Nang lông gai và lông gai ở mỗi loài có hình dạng, kích thước và cấu tạo khác nhau

Hệ sinh dục cái có cấu tạo phức tạp hơn, gồm có buồng trứng, ống dẫn trứng, ootyp, tuyến noãn hoàng, túi nhận tinh, tuyến vò (thể Melis) và tử cung, thường có hai buồng trứng nằm giữa hoặc phía sau đốt sinh dục, ít khi ở phía trước Trong buồng trứng hình thành các tế bào sinh dục cái (tế bào trứng) Từ buồng trứng có ống gắn nối với âm đạo, mở ra ở huyệt sinh dục Ống này phình rộng ra gọi là túi nhận tinh Trứng thụ tinh được đưa vào ootyp Tuyến noãn hoàng gồm nhiều bao noãn bé nằm trong nhu mô hoặc thành khối nằm hai bên đốt hoặc phía sau buồng trứng Từ tuyến noãn hoàng các chất dinh dưỡng đổ vào ooptyp giúp cho việc hình thành trứng Tuyến vỏ tiết ra các sản phẩm cần thiết để hình thành trứng Trong ootyp, trứng thụ tinh được hình thành, sau đó trứng rơi vào tử cung Cấu tạo tử cung của sán dây

rất khác nhau Ở sán dây bậc thấp (Pseudophyllidea), tử cung là những ống

cong, dẫn từ ooptyp đến lỗ ngoài nằm ở mặt bụng của mỗi đốt Ở những đốt sán dây này trứng được thải ra ngoài tùy theo mức độ hình thành của trứng Ở

Trang 19

sán dây bậc cao (Cyclophyllidea), tử cung kín, không có lỗ ngoài Ở những

sán dây này tử cung chứa đầy trứng trong đốt già và mỗi đốt thực chất biến thành một cái túi chứa trứng Trứng được rơi ra ngoài bằng cách nứt thành cơ thể của đốt Quá trình này thường thực hiện ở môi trường ngoài, ở nơi mà các đốt sán dây già được thải ra cùng với phân vật chủ

Trứng sán dây bộ Cyclophyllidea hình tròn hoặc hơi bầu dục, có 4 lớp

vỏ, trong có phôi 6 móc Còn trứng sán dây bộ Pseudophyllidea giống trứng

sán lá, một đầu có nắp (Nguyễn Thị Kim Lan và cs, 1999) [10]

* Đặc điểm hình thái, kích thước của một số loài sán dây ký sinh ở chó:

- Giống Dipylidium Leuckart, 1863

Theo Nguyễn Thị Kỳ (1994) [8], Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [15], Nguyễn Thị Kỳ (2003) [9] cho biết:

+ Loài Dipylidium caninum: Cơ thể dài 15 – 17 cm, gồm 80 – 250 đốt

Đầu rộng 0,24 – 0,50 mm Đầu có vòi hình chóp, có 4 – 10 hàng móc, mỗi hàng có từ 16 – 20 móc, móc hàng trên cùng dài 0,013 – 0,016 mm, móc hàng cuối cùng dài 0,003 – 0,008 mm Lỗ sinh dục kép, mở ra ở hai bên đốt Túi sinh dục dài 0,1 – 0,3 mm, đáy hướng lên phía trên đốt Buồng trứng phân thùy hình quạt Tuyến noãn hoàng hình khối Đốt già chứa nang trứng, mỗi nang chứa 3 – 30 trứng, có kích thước 0,026 – 0,060 mm Phôi 6 móc có kích thước 0,020 – 0,036 mm

- Giống Taenia Linnaeus, 1758

Nguyễn Thị Kỳ (1994) [8], Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [15], Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [10], Nguyễn Thị Kỳ (2003) [9] cho biết:

+ Loài Taenia hydatigena: Dài 5000 mm gồm 550 – 700 đốt rất rộng

Đầu hình quả lê hay hình thận, đường kính 1 mm, vòi có 26 – 44 móc, xếp thành hai hàng, móc hàng trên dài 0,170 – 0,022 mm, có mỏm rất cong, móc hàng dưới dài 0,110 – 0,160 mm, có lưỡi rất cong, các giác bám gần

Trang 20

nhau và có đường kính 0,110 mm, cổ dài 0,500 mm Có 600 – 700 tinh hoàn ở giữa các ống bài tiết Xung quanh noãn hoàng, buồng trứng, ống dẫn tinh và âm đạo không có tinh hoàn, ống dẫn tinh có dạng túi hẹp uốn khúc nhiều, không có túi tinh Nang lông gai hình trụ dài 0,450 mm, rộng 0,130 mm, buồng trứng hai thùy ở nửa dưới của đốt, cạnh phía không lỗ lớn hơn phía có lỗ, noãn hoàng là ống hẹp kéo dài theo chiều ngang, thể Melis tròn ở giữa buồng trứng và noãn hoàng, phần đầu âm đạo phình rộng, sau hẹp dần, tới thùy buồng trứng tạo thành túi nhận tinh Ở các đốt già thân tử cung có 5 – 10 nhánh ngang, mỗi đầu tự do lại tạo thành các nhánh phụ, trứng bầu dục, dài 0,038 – 0,031 mm, rộng 0,034 – 0,035 mm,

vỏ dày 0,004 mm

Dạng ấu trùng Cysticercus tenuicollis gặp nhiều ở gan và xoang bụng

của lợn, trâu, bò, nhiều loài thú khác, kể cả người Ấu trùng này có dạng túi chứa đầy dịch trong Thành bên trong túi có một đầu sán dây, có cổ Đầu có móc và giác bám, đường kính của giác bám 0,099 – 0,310 mm, có 28 – 40 móc, xếp hai hàng, móc hàng trên dài 0,185 – 0,210 mm, móc hàng dưới dài 0,126 – 0,160 mm, vỏ trong của nang được bọc bằng vỏ ngoài, vỏ này bám vào thành mô cơ của vật chủ, kích thước của nang phụ thuộc vào nơi ký sinh của ấu trùng

+ Loài Taenia pisiformis: Sán dài 600 – 2000 mm và rộng 4,8 mm gồm

400 đốt, đường kính đầu 1,3 mm, vòi 0,515 – 0,640, có 34 – 48 móc xếp thành hai hàng, móc hàng trên dài 0,225 – 0,294 mm, có lưỡi rất cong Móc hàng dưới dài 0,132 – 0,177 mm, giác bám tròn hay bầu dục, đường kính 0,310 – 0,330 mm, cổ ở ngay sau đầu dài 1,7 mm Lỗ sinh dục xen kẽ không đều, các núm sinh dục hơi nhô ra Có 400 – 500 tinh hoàn, tròn hay bầu dục, đường kính 0,096 – 0,132 mm, ở toàn bộ khoảng trống giữa đốt trừ vùng noãn hoàng và buồng trứng Ống dẫn tinh bắt đầu từ túi tinh tròn có đường kính

Trang 21

0,210 – 0,350 mm, nang lông gai hình trụ hay bầu dục ngang, dài 0,460 – 0,800, rộng 0,130 – 0,140 mm, buồng trứng hai thùy, ở nửa dưới của đốt, những thùy bên hình thận và có kích thước như nhau, noãn hoàng hình ba góc, ở bờ dưới của đốt Thể Melis ở giữa noãn hoàng và buồng trứng, âm đạo

đi từ lỗ sinh dục, tạo thành túi nhận tinh ở sát thùy của buồng trứng Ở những đốt già, mỗi phần của thân tử cung có 8 - 14 nhánh bên, từ đó tạo thành các nhánh phụ, trứng tròn hay hơi bầu dục, đường kính 0,032 - 0,037 mm

- Giống Echinococcus Rudolphi, 1810

Phan Thế Việt và cs (1977) [26], Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [15], Nguyễn Thị Kỳ (2003) [9] cho biết:

+ Loài Echinococcus granulosus: Sán dài 2,7 - 3,4 mm, gồm 3 - 4 đốt

Đầu không lớn, có đường kính 0,258 - 0,369 mm, đường kính giác bám 0,098

- 0,133 mm, vòi 0,100 – 0,140 mm Có 36 - 40 móc vòi, thường thay đổi về kích thước và số lượng móc, móc hàng trên dài 0,032 – 0,043 mm, móc hàng dưới dài 0,020 – 0,036 mm, cán không thẳng và dài hơn lưỡi móc, đôi khi cán phình rộng hoặc có mỏm lớn Cơ quan sinh dục cái ở nửa dưới của đốt, buồng trứng gồm hai khối đặc hình bầu dục, nối với nhau bằng ống ngang hẹp, noãn hoàng dưới buồng trứng, thể Melis dưới buồng trứng và noãn hoàng, có 32 -

40 tinh hoàn Nang lông gai dài 0,025 – 0,026 mm, dài tới giữa đốt, lỗ sinh dục mở ra ở hai bên đốt, tử cung dài bằng chiều dài đốt già, có các nhánh bên với số lượng và hình dạng không giống nhau Trứng tròn hay bầu dục, đường kính từ 0,028 - 0,036 mm

Ấu trùng Echinococcus enilocularis ký sinh ở trâu, bò, dê Nó có dạng

túi, trong chứa đầy dịch, nang có hai vỏ, vỏ ngoài màu trắng sữa đôi khi hơi vàng, vỏ ngoài sinh ra vỏ trong, vỏ trong gọi là vỏ mầm, sinh ra từ phía trong xoang nang, mỏng, không màu, là thành mô sinh ra nang, có thể sinh ra một nang cùng lúc tạo thành đầu phôi và nang thứ hai (nang con)

Trang 22

- Giống Multiceps Goeze, 1782

Theo Nguyễn Thị Kỳ (1994) [8], Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [15], Nguyễn Thị Kỳ (2003) [9]:

+ Loài Multiceps multiceps: Sán dài 400 - 1000 mm, gồm 200 - 250 đốt,

rộng gần 5 mm Đầu hình quả lê và có đường kính 0,800 mm Vòi có đường kính 0,300 mm, có 22 - 32 móc, xếp thành hai hàng, móc hàng một dài 0,150

mm, hàng hai dài 0,090 – 0,130 mm Giác bám có đường kính 0,290 - 0,300

mm Cổ dài 2 - 3 mm Ống dẫn tinh bắt đầu ở phía có lỗ, gần thân giữa của tử cung, uốn khúc và đi vào nang lông gai Nang có dạng quả lê dài 0,315 – 0,350

mm, rộng 0,110 – 0,145 mm Buồng trứng có hình cánh bướm, ở gần bờ dưới đốt, hai thùy gần như bằng nhau và có hình bầu dục, noãn hoàng hình ba góc, ở sát bờ dưới đốt Thể Melis nhỏ ở giữa buồng trứng và noãn hoàng Âm đạo có dạng ống cong xuống một thùy của buồng trứng và phình rộng thành túi chứa tinh, tử cung có thân giữa và mỗi bên có 9 - 12 nhánh, trứng có đường kính 0,029 - 0,037 mm, có vỏ dày 0,004 mm

Ấu trùng Coenurus cerebralis là một nang lớn, hình tròn hay bầu dục, vỏ mờ

đục, mềm ở trong có rất nhiều đầu sán dính vào, trong nang là chất dịch không màu, số lượng dịch thay đổi phụ thuộc vào kích thước nang Kích thước nang khác nhau, phụ thuộc vào mức độ phát triển, vị trí não ký sinh và loại động vật

- Giống Mesocestoides Vaillant, 1863

Nguyễn Thị Kỳ (1994) [8], Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [15], Nguyễn Thị Kỳ (2003) [9] cho biết:

+ Loài Mesocestoides lineatus: Sán trưởng thành dài đến 2m Đầu không

có vòi, có móc bám và 4 giác bám Tử cung có dạng túi dọc nằm ở giữa đốt Kích thước trứng 0,040 – 0,060 x 0,035 – 0,043 mm Phôi 6 móc, đôi móc giữa dài hơn móc bên

Trang 23

2.1.1.3 Chu kỳ sinh học của sán dây chó

Theo Đỗ Dương Thái và Trịnh Văn Thịnh (1978) [20], chu kỳ sinh học của

sán dây khá phức tạp, tiến triển ở nhiều ký chủ liên tiếp Ở bộ Cyclophyllidae

trứng chứa thai trùng sáu móc đã hình thành Vào dạ dày ký chủ, thai trùng sáu

móc thành ấu trùng (đã mất móc) có cấu tạo và tên gọi khác nhau: Cysticercus,

Coenurus, Echinococcus, Cysticercoid Ở bộ Pseudophyllidae có hai thể ấu

trùng liên tiếp: Procercoid và Plerocercoid Những dạng ấu trùng này sống lâu

hay chóng ở KCTG và phải được một ký chủ cuối cùng thích hợp nuốt vào mới phát triển thành sán trưởng thành

Để hoàn thành vòng đời, sán dây ký sinh ở chó cần vật chủ trung gian là nhiều loài động vật khác nhau, có thể là động vật có xương sống, hoặc có thể

là động vật không xương sống Có loài cần 1 KCTG để hoàn thành vòng đời, nhưng cũng có loài cần 2 KCTG mới hoàn thành vòng đời

Các họ sán dây khác nhau có chu kỳ sinh học khác nhau Các loài sán dây:

Spirometra erinaceieuropae, Spirometra mansonoides, Dipylidium caninum, Taenia hydatigena, Taenia pisiformis, Multiceps multiceps ký sinh ở ruột của

chó Chó là vật chủ cuối cùng của sán, giúp sán hoàn thành vòng đời và ký sinh ở giai đoạn thành thục Cụ thể vòng đời của các loài sán dây thường gặp

ký sinh ở chó diễn ra như sau:

+ Loài Spirometra erinaceieuropae

Vòng đời phát triển của Spirometra erinaceieuropae có sự tham gia của

KCTG thứ nhất là các các loài giáp xác, KCTG bổ sung là cá Trứng được thải

ra ngoài theo phân chó không có phôi, ở trong nước, trứng nở ra ấu trùng có

những lông nhỏ xung quanh thân gọi là Coracidium, được vật chủ trung gian thứ nhất là các loài giáp xác thuộc giống Mesocyclops, Eucyclops nuốt Trong

cơ thể bọ nước, Coracidium phát triển thành dạng ấu trùng đặc biệt –

Procercoid Trong trường hợp cá nuốt phải bọ nước bị nhiễm Procercoid thì ấu

Trang 24

trùng Procercoid sẽ phát triển thành dạng ấu trùng mới - Plerocercoid Chó ăn

cá có ấu trùng Plerocercoid sẽ nhiễm sán, sau 15 – 18 ngày sẽ xuất hiện trứng

trong phân chó thải ra

+ Loài Spirometra mansonoides

Vòng đời phát triển cần có sự tham gia của KCTG thứ nhất là các loài

giáp xác nước ngọt (Copepods), KCTG thứ hai là những loài chim, rắn, bò

sát, lưỡng cư, động vật gặm nhấm Trứng theo phân chó ra ngoài, trải qua lần lượt các giai đoạn ở vật chủ trung gian thứ nhất và thứ hai, trở thành ấu trùng

gây bệnh Plerocercoid Chó ăn phải vật chủ trung gian chứa ấu trùng sẽ bị

nhiễm sán Sau 10 – 30 ngày ấu trùng phát triển thành sán trưởng thành

+ Loài Dipylidium caninum

Vòng đời của loài này có sự tham gia của KCTG là các loài bọ chét

giống Ctenocephalides Đốt sán già thải ra ngoài có mang theo nang trứng

Đốt sán vỡ ra, trứng ở ngoài tự nhiên được các vật chủ trung gian nuốt vào, phát triển thành ấu trùng Chó ăn phải bọ chét có ấu trùng sẽ bị nhiễm sán dây Sau 3 – 4 tuần ấu trùng phát triển thành sán dây trưởng thành

+ Loài Taenia hydatigena

KCTG là lợn, trâu, bò, dê, cừu Vòng đời bắt đầu từ khi đốt sán già rụng theo phân ra ngoài, vỡ ra, giải phóng trứng sán KCTG nuốt phải trứng sán, vào đến ruột, ấu trùng 6 móc nở ra và phát triển thành ấu trùng

gây bệnh Cysticercoid sau 3 tháng Chó ăn phải nội tạng của vật chủ trung

gian có ấu trùng sẽ bị nhiễm sán Sau 2 tháng ấu trùng phát triển thành sán dây trưởng thành

+ Loài Taenia pisiformis

Vòng đời phát triển cần có sự tham gia của KCTG là động vật gặm nhấm, chủ yếu là thỏ và thỏ rừng Các giai đoạn phát triển của ấu trùng thực hiện trong các vật chủ trung gian để trở thành ấu trùng cảm nhiễm sau 15 – 30 ngày Chó ăn phải nội tạng của thỏ có ấu trùng sẽ nhiễm sán

Trang 25

+ Loài Multiceps multiceps

Vòng đời của loài này cần có sự tham gia của vật chủ trung gian là dê, cừu Đốt sán già ra ngoài theo phân chó Đốt vỡ ra giải phóng trứng sán; dê, cừu - vật chủ trung gian ăn trứng sán vào cơ thể, trứng nở và phát triển thành ấu trùng cảm nhiễm ở óc dê, cừu sau 6 – 8 tháng Chó ăn phải óc vật chủ trung gian có ấu trùng sẽ nhiễm sán

Phan Thế Việt (1977) [26] đã mô tả: “Tất cả bề mặt của sán dây là một cái “mồm” khổng lồ Thức ăn ngấm qua “da” của sán dây Các loài sán dây thường tắm trong nguồn thức ăn giàu có của cơ thể vật chủ Cái mồm đã không cần, thì hệ tiêu hoá của chúng cũng không có Ăn và tiêu hoá đều qua

bề mặt cơ thể của sán dây” Hiện tượng rụng đốt của sán dây làm cho người ta

có thể nghĩ rằng: Cơ thể sán dây sẽ dần dần ngắn lại Song, không phải như vậy, bởi các đốt mới được sinh ra thay thế các đốt già đã rụng làm cho sán dây trở nên “trẻ lại” Sau đốt đầu là đốt cổ, người ta gọi đốt cổ là đốt sinh trưởng, từ đó sẽ mọc ra các đốt khác Các đốt mới sinh ra đẩy các đốt cũ lùi dần ra phía sau

Nguyễn Thị Kim Lan và cs (2008) [11] cho biết: Những đốt sán dây hầu như là những cơ thể độc lập với nhiều cơ quan riêng biệt và hoàn toàn độc lập Nhờ có sự hóa đốt mà khả năng sinh đẻ của sán dây tăng lên gấp bội Trong cùng một lúc, ở những đốt thành thục của sán dây có thể sinh ra hàng chục triệu trứng Ngoài ra, sự hóa đốt còn có lợi cho sán dây về những mặt khác Đó là, do có đốt sán già lần lượt đứt và thải ra môi trường bên ngoài mà

sự reo rắc trứng ở đó được thuận lợi hơn, bản thân sán dây thải bỏ đi những đốt già cỗi, đời nó hầu như từng thời được trẻ lại, có sức lực và năng lượng mới để phát triển những loạt đốt thành thục mới

Trang 26

2.1.2 Bệnh do sán dây ký sinh gây ra ở chó

2.1.2.1 Đặc điểm dịch tễ học bệnh sán dây chó

Đặc điểm dịch tễ bệnh do sán dây gây ra đã được nhiều tác giả đề cập đến Tuy nhiên, các nghiên cứu còn ít và chưa hệ thống nên chưa phản ánh đầy đủ những vấn đề liên quan đến sự phát sinh và phát triển của bệnh

Theo Trịnh Văn Thịnh (1977) [23]: chó săn thường nhiễm sán dây do ăn thịt thỏ chứa ấu trùng Chó của những người chăn cừu, chăn bò, chó ở lò sát sinh mắc sán do ăn phủ tạng của bò, cừu, lợn Chó nuôi trong nhà mắc sán do

ăn bọ chó trên mình nó chứa ấu trùng Ấu trùng sán ở thỏ, bò, cừu, lợn, bọ chó… là ấu trùng của những loài sán khác nhau, nên chó là một trong những loài vật bị nhiều loài sán dây ký sinh nhất

Skrjabin và Petrov (1963) [27] cho biết, nếu như đường xâm nhập của các giun sán địa lý thường là qua nước hoặc thức ăn bị nhiễm bẩn, thì nhiều loại giun sán sinh vật xâm nhập vào cơ thể ký chủ cuối cùng khi ký chủ đó ăn phải các mô và các cơ quan của KCTG chứa ấu trùng giun sán ở giai đoạn cảm

nhiễm Với cách xâm nhập này, chó sói cảm nhiễm sán dây Taenia hydatigena

do ăn phải cừu có ấu trùng sán

Theo Đỗ Dương Thái và Trịnh Văn Thịnh (1975) [19], chó nhiễm sán

dây loài Dipylidium canium do ăn phải các KCTG sống trên mình chó như

bọ, rận Chó nhiễm sán dây loài Taenia hydatigena do ăn phủ tạng loài nhai lại hay lợn chứa ấu trùng Cysticercus tenuicollis

Theo kết quả nghiên cứu của Dalimi A và cs (2006) [30], kiểm tra 83 chó ở

các tỉnh phía Tây của Iran cho thấy: có 38,55% chó nhiễm Dipylidium caninum; 53,01% chó nhiễm Taenia hydatigena; 7,23% chó nhiễm Taenia ovis; 4,82% chó nhiễm Multiceps multiceps; 13,25% chó nhiễm Echinococcus granulosus

Một nghiên cứu khác của Xhaxhiu D và cs (2010) [37] từ năm 2004 – 2009:

mổ khám 111 chó từ các vùng ngoại ô Tirana của Albania để kiểm tra giun sán

Trang 27

đường tiêu hóa, phát hiện được 3 loài sán dây là Dipylidium caninum (65,8%);

Taenia hydatigena (16,2%); Echinococcus granulosus (2,7%)

Ở nước ta, loài Dipylidium caninum, Taenia hydatigena, Taenia pisiformis,

Multiceps multiceps được phân bố rộng ở cả 3 vùng: đồng bằng, trung du, miền

núi với những kiểu khí hậu khác nhau (Nguyễn Thị Kỳ, 1994) [8]

Kết quả kiểm tra 130 mẫu phân chó của Lê Hữu Nghị, Nguyễn Văn Duệ (2000) [16] ở Thành phố Huế cho thấy: chó nhiễm sán dây từ rất sớm, giai đoạn sơ sinh đến 1 năm tuổi đã nhiễm với tỷ lệ cao Tỷ lệ nhiễm sán dây

Diphyllobothrium mansoni là 18,46%, Dipylidium caninum là 13,07%

Biến động nhiễm sán dây ở chó tùy theo giai đoạn tuổi Chó con bị nhiễm từ rất sớm Theo dõi 138 chó bị bệnh sán dây ở Hà Nội cho thấy, chó con từ 27-30 ngày tuổi đã bị nhiễm sán (Phạm Sỹ Lăng, 2002 [12])

Dịch tễ học của bệnh sán dây ở chó liên quan chặt chẽ đến số lượng chó nuôi và chế độ kiểm soát giết mổ Ở những nơi mà chế độ kiểm soát sát sinh không chặt chẽ thì chó dễ mắc bệnh sán dây do ăn phải những khí quan của gia súc có ấu trùng (Nguyễn Thị Kim Lan và cs, 1999 [10])

Tuổi thọ của sán trưởng thành dài, có thể tới hàng chục năm nên loài ăn thịt mang sán là nguồn gieo rắc căn bệnh nguy hiểm Mỗi đốt sán chửa chứa hàng nghìn trứng sán Chó mang trứng sán phát tán khắp nơi

Sức đề kháng của mầm bệnh ở ngoài tự nhiên cũng góp phần vào sự phát triển của bệnh Trứng sán dây có sức đề kháng mạnh ở ngoại cảnh, có thể sống lâu ở những nơi ẩm ướt Trứng bị diệt dưới ánh nắng chiếu trực tiếp và một số thuốc sát trùng

Nghiên cứu dịch tễ học bệnh sán dây Dipylidium caninum gây ra, Phạm

Sỹ Lăng (2002) [12] cho biết: bệnh lây nhiễm quanh năm, đặc biệt là vào các tháng thời tiết ấm áp (từ mùa xuân đến đầu mùa thu) khi các côn trùng trung gian phát triển mạnh

Trang 28

Sán dây là động vật sống ký sinh trong ruột động vật có xương sống, trong chu trình phát triển chúng cần sự tham gia của một hoặc hai vật chủ trung gian, vật chủ chứa Vì vậy sự phân bố của sán dây phụ thuộc rất nhiều vào vật chủ Ngoài quy luật phân bố của vật chủ, quy luật sinh thái học của cả vật chủ và sán dây là yếu tố quan trọng nhất chi phối sự khác nhau về tỷ lệ nhiễm sán dây ở vật chủ (Nguyễn Thị Kỳ, 2003 [9])

2.1.2.2 Đặc điểm bệnh lý và lâm sàng của bệnh sán dây chó

* Đặc điểm gây bệnh của sán dây ký sinh ở chó

Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [10], trong quá trình ký sinh sán dây gây ra những tác hại lớn cho chó, biểu hiện ở những tác động sau:

Móc và giác bám của sán trưởng thành làm tổn thương niêm mạc ruột và

mở đường cho vi khuẩn vào cơ thể Sán dây tiết độc tố làm ký chủ rối loạn thần kinh (có triệu chứng bại liệt hoặc gần giống chó dại) Sán lấy dinh dưỡng của ký chủ làm con vật gầy yếu, chậm lớn, suy dinh dưỡng Nếu nhiều, sán cuộn lại làm tắc hoặc thủng ruột

Tác hại của sán dây chó gây ra thể hiện qua 4 tác động sau:

- Tác động cơ giới: Với số lượng lớn ký sinh, sán dây dùng giác bám bám sâu vào niêm mạc ruột, gây tổn thương, viêm ruột và xuất huyết

- Tác động tiết độc tố: Trong quá trình ký sinh, sán dây tiết ra độc tố Độc tố có thể là sản phẩm các tuyến tiết ra hoặc các chất bài tiết của sán dây, tác động đến hệ thần kinh, làm cho chó mệt mỏi, kém ăn Chó con bị bệnh cấp tính có thể bỏ ăn, tiêu chảy,…

- Tác động chiếm đoạt chất dinh dưỡng: sán nuôi dưỡng bản thân bằng cách thẩm thấu dinh dưỡng qua toàn bộ bề mặt cơ thể Do số lượng sán nhiều và tồn tại trong thời gian kéo dài làm chó gầy yếu, thiếu máu, giảm sức đề kháng

Trang 29

- Tác động mang trùng: Sán bám chặt vào niêm mạc, gây tổn thương, phá vỡ phòng tuyến thượng bì, tạo điều kiện cho vi khuẩn từ môi trường xâm nhập gây nên các bệnh ghép với bệnh ký sinh trùng

* Đặc điểm bệnh lý và lâm sàng của bệnh sán dây chó

Theo Trịnh Văn Thịnh (1977) [23], chó chỉ phát thành triệu chứng nếu

có quá nhiều sán: đau bụng, đi tả, ăn không đều, ngứa hậu môn, có khi bị co giật; cuối cùng thiếu máu, gầy rạc Chó thường ỉa ra những đốt sán lòng thòng

ở hậu môn, chó cọ hậu môn vào tường để đẩy sán ra

Đỗ Dương Thái và Trịnh Văn Thịnh (1978) [20] cho biết: bệnh tích thường thấy ở chó bị bệnh sán dây là viêm niêm mạc ruột non ở chỗ sán ký sinh, có khi thấy ruột tụt đoạn nọ vào đoạn kia và tắc ruột nếu sán rất nhiều cuộn lại

Chó nhiễm sán có thể ỉa chảy, da khô hoặc giảm cân, đôi khi có hiện tượng cắn phía sau hoặc chạy xung quanh (Seymour Weiss, 1996 [35])

Nhiễm nhẹ triệu chứng lâm sàng không rõ Khi nhiễm nặng, con vật có thể bị nôn mửa, viêm ruột cata mạn tính, ăn ít, ngứa hậu môn Một số trường hợp có triệu chứng giả dại, 4 chân run giật hoặc bị liệt (Nguyễn Thị Kim Lan

và cs, 1999 [10])

Vương Đức Chất và Lê Thị Tài (2004) [1] cho biết: thể cấp tính thường gặp ở chó từ 1 – 4 tháng tuổi, biểu hiện kém ăn, nôn mửa liên tục do sán bám vào vách ruột gây ra những tổn thương niêm mạc và kích thích gây nôn Chảy máu ruột do đầu sán có nhiều móc bám vào vách ruột nên phân có màu xám hoặc đỏ tươi Viêm ruột thứ phát do những vi khuẩn đường ruột bội nhiễm:

E.coli, Staphylococcus aureus Rối loạn tiêu hóa làm chó lúc táo, lúc tiêu

chảy, trong phân có niêm mạc ruột tróc ra và có lẫn những đốt sán rụng ra Nếu không được chăm sóc tốt và điều trị kịp thời, tỷ lệ chết cao 60 – 70% do viêm ruột, mất máu, mất nước và rối loạn điện giải

Trang 30

Thể mãn tính thường gặp ở dạng trưởng thành: chó ăn ít, gầy còm, rối loạn tiêu hóa, viêm ruột mãn, trong phân có đốt sán già rụng ra, khi ra ngoại cảnh đốt sán vẫn cử động được Giai đoạn cuối chó biểu hiện hội chứng thần kinh: run rẩy, hoặc ngơ ngác nằm lỳ một chỗ, hoặc trở nên dữ tợn Nếu không được điều trị chu đáo chó trưởng thành có thể chết trong trạng thái thiếu máu kéo dài và kiệt sức

Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (2006) [13], bệnh sán dây ở thể cấp: chỉ chiếm 30% số chó nhiễm sán, thường thấy ở chó non dưới 6 tháng tuổi Sán gây ra các tổn thương ở ruột, tạo điều kiện cho các vi khuẩn gây bệnh xâm nhập vào

tổ chức ruột, gây hội chứng viêm ruột cấp Vật bệnh thể hiện: nôn mửa liên tục, ỉa chảy nặng, phân tanh khắm và đôi khi có xuất huyết ruột Chó thường chết sau 3 – 5 ngày nếu như không được điều trị kịp thời Ở chó con còn thấy hiện tượng rối loạn thần kinh do độc tố của sán kích thích thần kinh trung ương như: ngơ ngác, run rẩy, đi siêu vẹo…

Thể mãn tính: chiếm tỷ lệ cao, biểu hiện rõ nhất là chó bệnh gầy còm

xơ xác, thiếu máu, rụng lông, trông như chỉ còn da bọc xương, nhưng chó vẫn ăn khỏe Ngoài ra chó còn bị rối loạn tiêu hóa kéo dài, khi táo bón, khi

ỉa chảy, hay nôn khan

Bệnh gây hậu quả nghiêm trọng với chó con, có thể gây tắc nghẽn ruột Nhìn chung sán dây ở chó thường vô hại, nhưng khi nhiễm với số lượng lớn

có thể gây viêm đường tiêu hóa, gây tiêu chảy

Theo Tô Du và Xuân Giao (2006) [3], chó bị bệnh sán dây thường gầy yếu, suy nhược, thiếu máu do thiếu dinh dưỡng, viêm ruột, giảm khả năng sinh sản, chết do kiệt sức

Đặc biệt trong bệnh sán dây ở chó trưởng thành, chó vẫn ăn khỏe, nhưng gầy rạc dần, trong phân phát hiện thấy đốt sán già, những đốt sán khi ra ngoài vẫn cử động được trong vài giờ (Phạm Sỹ Lăng và cs, 2009 [14])

Trang 31

2.1.2.3 Chẩn đoán bệnh sán dây ở chó

Để chẩn đoán bệnh do sán dây gây ra, có thể dựa vào triệu chứng lâm sàng, tuy nhiên phần lớn chó mắc bệnh thường không có biểu hiện đặc trưng

và khó phân biệt, vì vậy phải kết hợp với việc kiểm tra phân tìm đốt sán

Đỗ Dương Thái và Trịnh Văn Thịnh (1978) [20] cho biết: việc chẩn đoán

dễ khi chó ỉa ra những đốt sán và thường lòng thòng ở hậu môn, gây ngứa

Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [10], (2008) [11]:

- Đối với chó còn sống: Kiểm tra phân tìm trứng sán và đốt sán dây

Nếu số lượng đốt sán trong phân nhiều thì có thể trực tiếp tìm đốt sán trong phân Trường hợp chó nhiễm nhẹ, chỉ có ít đốt sán thì xét nghiệm phân tìm đốt sán và mảnh đốt bằng phương pháp lắng cặn Benedek (1943), cho cặn lên đĩa Petri màu đen tìm đốt sán bằng kính lúp Có thể dùng phương pháp Fulleborn tìm trứng sán dây Đối với sán dây bộ Pseudophyllidea tử cung có lỗ thông ra bên ngoài nên trứng được đẻ ra bên ngoài, do vậy kể cả khi trong ruột chó có sán dây ký sinh nhưng không tìm thấy được đốt sán trong phân vẫn có thể kết luận chó nhiễm sán qua việc xét nghiệm phân tìm trứng Cũng có thể tìm được trứng sán khi đốt sán già vỡ ra đối với sán dây thuộc bộ Cyclophyllidea

Trứng sán dây bộ Cyclophyllidea hình tròn hoặc hơi bầu dục, có 4 lớp Trong có phôi 6 móc Trứng sán dây bộ Pseudophyllidea giống trứng sán lá: hình bầu dục, một đầu có nắp, bên trong chứa phôi bào

- Đối với chó đã chết hoặc những con nghi mắc bệnh còn sống: có

thể mổ khám để kiểm tra bệnh tích và tìm sán trưởng thành

Theo Valerie Foss (2003) [38], chó nhiễm sán loài Dipylidium

caninum là chủ yếu và có thể dễ dàng chẩn đoán được khi đốt già rụng ra

ngoài giống như những hạt gạo dính trên lông đuôi

Trang 32

Phạm Sỹ Lăng và cs (2006) [13] cho biết, dựa vào việc kiểm tra đốt sán trong phân vật bệnh để khẳng định là chó bị mắc bệnh sán dây

Chu Thị Thơm và cs (2006) [25] cho rằng: để xác định tên của sán dây trưởng thành một cách chính xác, thân sán dây để chết tự nhiên trong nước sạch phải được ép mỏng trong cồn etylic 700 Sau đó nhuộm Carmine, rút hết nước trong mẫu vật, làm trong và gắn thành tiêu bản trên phiến kính để chẩn đoán, xác định tên khoa học của các loài sán dây

2.1.2.4 Phòng và trị bệnh sán dây cho chó

* Điều trị:

Chữa bệnh sán dây phải nhằm đạt ba yêu cầu:

+ Trước hết phải tiêu diệt sán dây: Để tẩy sán dây cho chó phải dùng thuốc hướng ký sinh trùng, không độc đối với ký chủ Nên chọn thuốc có hiệu lực cao đối với sán dây, tức là phải loại thải được cả các đốt thân và đốt đầu của sán dây, nếu đốt đầu vẫn còn sót lại, chỉ sau một thời gian ngắn, nó sản sinh các đốt thân thành con sán hoàn chỉnh mới; đồng thời thuốc ít nguy hiểm đối với chó, giá thành hợp lý và dễ dùng nhất

+ Phải ngăn chặn để chó không tái nhiễm

+ Phải tăng cường sức đề kháng của chó: cho ăn nhiều, đủ dinh dưỡng, khoáng và vitamin Giữ gìn vệ sinh tốt, dùng thuốc chữa các triệu chứng nếu có Theo Phạm Khắc Hiếu (2009) [4], hiện nay trên thị trường có nhiều loại thuốc mới có tác dụng tốt và có nhiều chủng, loại, nhất là thuốc chống các

loài sán dây thuộc giống Taenia và giống Dipylidium

* Các Salicilanilid

+ Niclosamid:

- Cơ chế tác dụng: Niclosamid ức chế quá trình phosphoryl hóa trong cơ thể sán

Thuốc có tác dụng tốt đối với các loài thuộc giống Taenia và giống Dipylidium

Trang 33

- Dược động học: hấp thu kém ở ruột Phần đã hấp thu cũng nhanh phân hủy, thải trừ nhanh

- Tác dụng phụ: ở chó liều gấp 3 lần liều điều trị đã gây thoái hóa gan

và suy thận

Phạm Sỹ Lăng (1992) cho biết: tẩy cho 67 trường hợp chó nhiễm sán dây, thấy tỷ lệ sạch sán và khỏi bệnh đạt 85% khi dùng Yomesan (còn có tên

là Niclosamid (dẫn theo Phạm Sỹ Lăng và cs, 2009 [14])

Theo Phạm Đức Chương và cs (2003) [2]: cơ chế tác dụng của Niclosamid là ức chế sự hấp thu đường và ngăn cản quá trình phosphoryl hóa trong ty lạp thể của sán dây Sự phong tỏa chu trình Krep dẫn đến tích lũy acid lactic và giết chết sán Sự kích thích quá mức hoạt động của adenosine triphosphate (ATP) của ty lạp thể có thể liên quan đến tác dụng của Niclosamid với sán dây Sán dây chết và bị nát trong đường tiêu hóa trước khi rời ký chủ, vì vậy không tìm thấy đầu và đốt sán trong phân gia súc được tẩy

* Các dẫn xuất của Isoquinolin và Benzazephin

Cho đến nay, các thuốc nhóm này là những thuốc chống sán dây có hiệu quả nhất, ít độc nhất

+ Praziquantel: Là dẫn xuất của pirazino – Iso quinolin

- Cơ chế tác dụng:

Tác dụng diệt sán dây nhanh Thuốc làm co thắt ngay lập tức các cơ của sán, tiếp đó là liệt và chết Thuốc còn làm tổn thương lớp vỏ bọc của sán Thuốc đặc biệt tốt với sán trưởng thành, cũng tác dụng tốt với các ấu trùng

- Dược động học:

Hấp thu tốt, nhanh ở ruột Từ máu lại qua niêm mạc ruột để vào ống ruột Thuốc nằm ẩn trong các tuyến Lieberkun Niêm mạc ruột và các chất tiết ở ruột bao bọc lấy đầu con sán, tẩm thuốc lên đầu sán, như vậy tốt hơn những thuốc tác dụng theo hướng lumen (khoang), tức là thuốc ở trong lòng ống ruột

Trang 34

Thuốc phân bố đồng đều ở tất cả các tổ chức khí quan, thuốc vượt qua hàng rào máu – não Các dạng phân hủy của thuốc được thải qua nước tiểu

- Tác dụng phụ: thuốc ít độc Ở chó dùng liều gấp 40 lần liều điều trị cũng chỉ gây nôn là dấu hiệu nặng nhất Sử dụng được cho gia súc có chửa

- Liều lượng: 10mg/kg TT Cho chó uống trước khi đẻ 10 ngày và chó con uống thuốc sau khi đẻ 4 tuần

Nguyễn Thị Quyên (2011) [17] đã dùng Prziquantel tẩy sán dây cho chó

ở Phú Thọ, hiệu lực tẩy đạt trên 96% và an toàn đối với chó

Tuzer E và cs (2010) [36] đã nghiên cứu hiệu quả của thuốc Praziquantel tiêm để điều trị sán dây ở chó Tác giả đã tiến hành thí nghiệm

trên 26 chó nhiễm sán dây, trong đó có 14 chó nhiễm Dipylidium caninum, 8 chó nhiễm Taenia spp., 2 chó nhiễm Echinococcus granulosus và 2 chó nhiễm cả hai loài Dipylidium caninum, Taenia spp với liều 0,1 ml/ kg thể

trọng Thí nghiệm được theo dõi chặt chẽ, nhốt riêng từng chó để kiểm tra sự thải phân Kết quả, sau 2 hoặc 3 ngày dùng thuốc không thấy mẫu phân nào dương tính, không có phản ứng phụ nào xảy ra, hiệu quả tẩy trừ là 100%

+ Espirantel: tác dụng diệt sán dây tốt, đặc biệt sán dây ở các loài ăn thịt

- Tác dụng phụ: chó liều gấp 90 lần liều điều trị cũng không gây độc

- Liều lượng: 5,5mg/kg thể trọng

Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [10], để tẩy sán dây có thể dùng:

- Arecolin, uống hoặc trộn thức ăn liều 2 – 3 mg/kgTT Trước khi cho uống thuốc cho chó nhịn đói 16 – 20 giờ Để đề phòng con vật nôn mửa có thể cho uống 1 – 2 giọt dung dịch iod trước khi cho uống Areconlin 15 – 20 phút

- Arecolin, tiêm dưới da liều 20 – 50 mg/con (tương đương 4 – 10 ml dung dịch arecolin 0,5%) Nếu cần, có thể tiêm nhắc lại sau 1 giờ

Trang 35

Bùi Thị Tho (2003) [24] cho biết: Arecolin là ancoloid có trong hạt cau, hạt cọ Cơ chế tác dụng của thuốc là làm tê liệt hệ thần kinh trung ương của sán, nhất là đầu và các đốt chưa thành thục Sán bị tê liệt không bám vào ruột

và được bị đẩy ra ngoài theo phân

Vương Đức Chất và Lê Thị Tài (2004) [1] cũng cho biết:

- Niclosamide: dạng bột màu vàng, cho uống với liều 80 – 100 mg/kgTT Thuốc chỉ cho uống một nửa liều vào buổi sáng khi chưa cho ăn Sau đó 1 giờ cho uống nốt nửa liều còn lại 3 giờ sau khi uống thuốc mới cho ăn bình thường, sau 6 – 10 giờ sán bị chết và theo phân ra ngoài Sau 20 ngày nếu vẫn phát hiện thấy đốt sán trong phân chó phải tẩy lại lần 2 theo đúng quy trình như lần đầu

- Lopatol: thuốc do hãng CIBA (Thụy Sĩ) sản xuất Thuốc có hiệu lực cao tẩy sán dây cho chó, mèo (tẩy sán sạch 80 – 85%), an toàn, không gây phản ứng phụ Có thể dùng cho chó từ 3 tuần tuổi Thuốc có thể uống trực tiếp hay trộn với một ít thức ăn Chỉ uống một lần, liều 50mg/kg TT Cho chó uống khi đói

và sau đó 1 – 2 giờ cho ăn uống bình thường, không phải kiêng hay nhịn ăn Nếu chưa sạch sán có thể tẩy lại lần 2 sau một tuần như quy trình lần đầu

- Mebendazol: cho chó uống với liều 80 – 100mg/kg TT Thuốc chia làm 3 lần uống trong 3 ngày để tẩy sán dây

Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (2006) [12], nguyên tắc điều trị là tẩy sán kết hợp với điều trị hội chứng viêm ruột do sán gây ra cho vật bệnh Để điều trị triệu chứng có thể dùng các loại thuốc sau:

- Điều trị viêm ruột: Biseptol, Trimethoxazol 24%, chống nôn: Atropin 1% , chống chảy máu ruột: vitamin K

- Bổ sung các thuốc trợ lực, tăng sức đề kháng cơ thể như:

+ Truyền huyết thanh mặn ngọt đẳng trương: 100 – 150ml/10kgTT/ngày Glucoza 30%: Tiêm mạch máu với liều 3 – 5 ml/con

Trang 36

+ B.complex tiêm bắp, liều 3 - 5ml/ngày

+ Vitamin B12: chống thiếu máu

Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [10], Vương Đức Chất và Lê Thị Tài (2004) [1], Lê Thị Tài và cs (2006) [18] đề cập đến một số bài thuốc nam dùng để tẩy sán dây cho chó có hiệu quả cao như:

- Nước sắc hạt cau: hạt cau 100g (giã nhỏ), nước sạch 500ml Đun sôi,

cô đặc còn lại 20 ml, lọc bỏ bã, cho uống liều 5 – 10 ml/kg TT Trước khi cho uống, cho nhịn ăn 4 – 5 giờ Sau nửa giờ uống nước sắc hạt cau, cho uống thuốc tẩy (Na2SO4 hoặcMgSO4)

- Hạt bí đỏ: Hạt bí đỏ sống, bóc vỏ, giã nhuyễn hòa nước cho chó ăn vào sáng sớm lúc đói

Liều: Chó: 60 – 80 hạt/con

Mèo: 30 – 40 hạt/con

- Hạt bí đỏ phối hợp với nước sắc hạt cau: Nhân hạt bí đỏ: 50 – 100g, cho chó ăn vào sáng sớm lúc đói Hạt cau 60 – 80g cho thêm nước, đun sôi, sắc đặc cho uống, sau khi uống nửa giờ cho uống liều thuốc tẩy (Na2SO4 hoặcMgSO4) Nước sắc hạt cau có tác dụng làm tê liệt đầu sán, hạt bí ngô có tác dụng làm

tê liệt khúc giữa và khúc đuôi con sán Do đó sự phối hợp này sẽ tẩy sán được triệt để hơn

- Tẩy sán theo dược thư của Pháp: Vỏ lựu khô tán vừa phải 60g, nước sạch 1000ml Ngâm vỏ lựu trong nước khoảng 6 giờ, sau đó sắc còn 300ml, lọc bỏ bã, cho uống vào buổi sáng, chia làm 2 – 3 lần, mỗi lần cách nhau 30 phút Sau khi cho uống liều cuối cùng 2 giờ thì cho uống 1 liều thuốc tẩy

* Phòng bệnh:

Theo Skajabin (1963), muốn diệt trừ bệnh giun sán thì phải dự phòng có tính chất chủ động; dùng tất cả các phương pháp cơ giới, vật lý (ánh sáng, nhiệt độ), hóa học (thuốc), sinh vật học (sinh vật nọ tiêu diệt sinh vật kia) để

Trang 37

tiêu diệt giun sán trên cơ thể ký chủ, tiêu diệt giun sán ở tất cả các giai đoạn phát dục (trứng, ấu trùng, giun sán trưởng thành)

Các tác giả Phạm Văn Khuê và Phan Lục (1996) [7], Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [10]; Vương Đức Chất và Lê Thị Tài (2004) [1]; Tô Du và Xuân Giao (2006) [3]; Phạm Sỹ Lăng và cs (2006) [13], Bùi Quý Huy (2006) [6] đã đề xuất biện pháp phòng bệnh sán dây ở chó như sau:

- Định kỳ tẩy sán dây cho chó 4 lần/năm

- Diệt KCTG của các loài sán dây bằng cách: thường xuyên tắm cho chó mèo; định kỳ tẩy uế, vệ sinh chuồng, cũi nhốt chó và môi trường xung quanh; hàng ngày dọn chuồng, thu nhặt phân đổ vào hố ủ Định kì kiểm tra phân phát hiện mầm và theo dõi chó bệnh để tẩy dự phòng

- Cho chó ăn thức ăn chín, ăn sạch và uống sạch

- Có chế độ kiểm soát sát sinh chặt chẽ, không cho chó ăn những bộ phận có ấu trùng

- Không thả rông chó mèo, không cho chó bệnh tiếp xúc với bên ngoài

để hạn chế lây nhiễm mầm bệnh

Theo Valerie Foss (2003) [37], định kỳ phun thuốc diệt ve, rận 2 lần/năm, và cứ 3 tháng lại dùng thuốc tẩy sán dây, không cho chó ăn sống các phủ tạng, khí quan của cừu, lợn, trâu bò…

2.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước

2.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước

Nguyễn Thị Kỳ (1994) [8] cho biết: so với các nhóm giun sán khác thì sán dây ít được nghiên cứu hơn, nên những hiểu biết về thành phần loài sán dây còn chưa được đầy đủ

Việc nghiên cứu sán dây ở Việt Nam được bắt đầu từ hơn 1 thế kỷ trước

Năm 1870, Cande J lần đầu tiên mô tả loài sán dây Diphyllobothrium

latum tìm thấy ở người Nam Bộ (Việt Nam) Sau đó 10 năm mới xuất hiện các

Ngày đăng: 01/09/2020, 12:00

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 4.2. Tỷ lệ nhiễm sán dây ở chó (qua xét nghiệm phân) - Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ, bệnh lý, lâm sàng bệnh sán dây ở chó nuôi tại huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên và biện pháp phòng trị,
Bảng 4.2. Tỷ lệ nhiễm sán dây ở chó (qua xét nghiệm phân) (Trang 50)
Hình 4.1. Biểu đồ tỷ lệ nhiễm sán dây chó qua xét nghiệm phân - Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ, bệnh lý, lâm sàng bệnh sán dây ở chó nuôi tại huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên và biện pháp phòng trị,
Hình 4.1. Biểu đồ tỷ lệ nhiễm sán dây chó qua xét nghiệm phân (Trang 51)
Bảng 4.4. Tỷ lệ nhiễm sán dây theo tuổi chó (qua xét nghiệm phân) - Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ, bệnh lý, lâm sàng bệnh sán dây ở chó nuôi tại huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên và biện pháp phòng trị,
Bảng 4.4. Tỷ lệ nhiễm sán dây theo tuổi chó (qua xét nghiệm phân) (Trang 53)
Hình 4.2. Biểu đồ tỷ lệ nhiễm sán dây theo tuổi chó - Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ, bệnh lý, lâm sàng bệnh sán dây ở chó nuôi tại huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên và biện pháp phòng trị,
Hình 4.2. Biểu đồ tỷ lệ nhiễm sán dây theo tuổi chó (Trang 54)
Hình 4.3. Biểu đồ tỷ lệ nhiễm sán dây theo giống chó - Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ, bệnh lý, lâm sàng bệnh sán dây ở chó nuôi tại huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên và biện pháp phòng trị,
Hình 4.3. Biểu đồ tỷ lệ nhiễm sán dây theo giống chó (Trang 55)
Hình 4.3 minh họa rõ hơn tỷ lệ nhiễm sán dây theo giống chó, qua sự cao  thấp của các cột trong biểu đồ cho thấy cao nhất là cột biểu thị tỷ lệ nhiễm của  chó nội, thấp nhất là cột biểu thị tỷ lệ nhiễm của chó ngoại - Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ, bệnh lý, lâm sàng bệnh sán dây ở chó nuôi tại huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên và biện pháp phòng trị,
Hình 4.3 minh họa rõ hơn tỷ lệ nhiễm sán dây theo giống chó, qua sự cao thấp của các cột trong biểu đồ cho thấy cao nhất là cột biểu thị tỷ lệ nhiễm của chó nội, thấp nhất là cột biểu thị tỷ lệ nhiễm của chó ngoại (Trang 56)
Bảng 4.7. Bệnh tích đại thể ở cơ quan tiêu hoá chó bị bệnh sán dây - Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ, bệnh lý, lâm sàng bệnh sán dây ở chó nuôi tại huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên và biện pháp phòng trị,
Bảng 4.7. Bệnh tích đại thể ở cơ quan tiêu hoá chó bị bệnh sán dây (Trang 58)
Bảng 4.8. Hiệu lực của thuốc tẩy sán dây cho chó trên diện hẹp - Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ, bệnh lý, lâm sàng bệnh sán dây ở chó nuôi tại huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên và biện pháp phòng trị,
Bảng 4.8. Hiệu lực của thuốc tẩy sán dây cho chó trên diện hẹp (Trang 59)
Bảng 4.9. Tỷ lệ chó an toàn sau khi dùng thuốc - Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ, bệnh lý, lâm sàng bệnh sán dây ở chó nuôi tại huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên và biện pháp phòng trị,
Bảng 4.9. Tỷ lệ chó an toàn sau khi dùng thuốc (Trang 61)
Bảng 4.10. Hiệu lực của thuốc tẩy sán dây cho chó trên diện rộng - Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ, bệnh lý, lâm sàng bệnh sán dây ở chó nuôi tại huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên và biện pháp phòng trị,
Bảng 4.10. Hiệu lực của thuốc tẩy sán dây cho chó trên diện rộng (Trang 63)
Bảng 4.11. Sử dụng thuốc đặc hiệu tẩy sán dây đại trà cho chó ở - Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ, bệnh lý, lâm sàng bệnh sán dây ở chó nuôi tại huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên và biện pháp phòng trị,
Bảng 4.11. Sử dụng thuốc đặc hiệu tẩy sán dây đại trà cho chó ở (Trang 64)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm