1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ bệnh do ấu trùng sán dây Cysticercus tenuicollis gây ra ở dê tại một số địa phương thuộc tỉnh Thái Nguyên và đề xuất biện pháp phòng chống.

66 394 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 66
Dung lượng 1,14 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Được sự nhất trí của Ban chủ nhiệm khoa Chăn nuôi Thú y, trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, sự đồng ý của cô giáo hướng dẫn và tiếp nhận của cơ sở, em tiến hành đề tài: “Nghiên cứu đặc

Trang 1

-  -

NGUYỄN THỊ LÝ

Tên đề tài:

NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ BỆNH DO ẤU TRÙNG SÁN DÂY

CYSTICERCUS TENUICOLLIS GÂY RA Ở DÊ TẠI MỘT SỐ ĐỊA PHƯƠNG

THUỘC TỈNH THÁI NGUYÊN VÀ ĐỀ XUẤT BIỆN PHÁP PHÒNG CHỐNG

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Thú y Khoa : Chăn nuôi - Thú y Khóa học : 2010 - 2014

Thái Nguyên – 2014

Trang 2

-  -

NGUYỄN THỊ LÝ

Tên đề tài:

NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ BỆNH DO ẤU TRÙNG SÁN DÂY

CYSTICERCUS TENUICOLLIS GÂY RA Ở DÊ TẠI MỘT SỐ ĐỊA PHƯƠNG

THUỘC TỈNH THÁI NGUYÊN VÀ ĐỀ XUẤT BIỆN PHÁP PHÒNG CHỐNG

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Trang 3

Để góp phần cho việc hoàn thành khóa luận đạt kết quả tốt, em luôn nhận được sự động viên, giúp đỡ của gia đình và bạn bè Em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành trước mọi sự giúp đỡ đó

Một lần nữa em xin được gửi tới thầy giáo, cô giáo và các bạn bè lời cảm ơn sâu sắc, lời chúc sức khỏe cùng những điều tốt đẹp nhất

Em xin chân thành cảm ơn!

Thái Nguyên, ngày tháng năm 2014

Sinh viên

Nguyễn Thị Lý

Trang 4

LỜI NÓI ĐẦU

Thực tập tốt nghiệp là giai đoạn cuối cùng của quá trình đào tạo tại trường Đây là giai đoạn sinh viên tiếp xúc với thực tiễn, củng cố lại những kiến thức đã học trên giảng đường Bên cạnh đó, giúp sinh viên vận dụng, học hỏi những kinh nghiệm trong sản xuất để nâng cao trình độ cũng như các phương pháp tổ chức và tiến hành nghiên cứu Tạo điều kiện cho bản thân có tác phong làm việc nghiêm túc, đúng đắn, có cơ hội vận dụng sang tạo vào thực tế sản xuất, góp phần vào công cuộc đổi mới đất nước, làm cho đất nước ngày càng phát triển

Được sự nhất trí của Ban chủ nhiệm khoa Chăn nuôi Thú y, trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, sự đồng ý của cô giáo hướng dẫn và tiếp nhận

của cơ sở, em tiến hành đề tài: “Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ bệnh do ấu trùng sán dây Cysticercus tenuicollis gây ra ở dê tại một số địa phương thuộc tỉnh Thái Nguyên và đề xuất biện pháp phòng chống”

Do bước đầu làm quen với công tác nghiên cứu khoa học, thời gian và năng lực bản thân còn hạn chế nên trong bản khóa luận này không tránh khỏi những sai sót Vì vậy, em mong nhận được ý kiến đóng góp của các thầy giáo,

cô giáo và các bạn bè đồng nghiệp để khóa luận hoàn thiện hơn

Em xin chân thành cảm ơn!

Trang 5

tại một số địa phương 40

Bảng 4.6 Tỷ lệ và cường độ nhiễm sán dây Taenia hydatigena ở chó tại

các địa phương 42

Bảng 4.7 Tương quan giữa tỷ lệ nhiễm sán dây Taenia hydatigena ở chó

và tỷ lệ nhiễm ấu trùng Cysticercus tenuicollis ở dê 43

Bảng 4.8 Triệu chứng lâm sàng chủ yếu của dê bị bệnh do ấu trùng

Cysticercus tenuicollis 45

Bảng 4.9 Tỷ lệ các khí quan có ấu trùng Cysticercus tenuicollis ký sinh và

khối lượng của ấu trùng ký sinh ở dê 46

Bảng 4.10 Bệnh tích đại thể ở các khí quan có ấu trùng Cysticercus tenuicollis

ký sinh ở dê 48

Trang 6

DANH MỤC HÌNH

Trang

Hình 4.1: Biểu đồ tỷ lệ nhiễm ấu trùng Cysticercus tenuicollis ở dê tại 3

huyện thuộc tỉnh Thái Nguyên 34

Hình 4.2: Biểu đồ tỷ lệ nhiễm ấu trùng Cysticercus tenuicollis ở dê theo

lứa tuổi 36

Hình 4.3: Biểu đồ tỷ lệ nhiễm ấu trùng Cysticercus tenuicollis ở dê theo

tính biệt 37

Hình 4.4: Biểu đồ tỷ lệ nhiễm ấu trùng sán dây Cysticercus tenuicollis

dê theo tháng điều tra 38

Hình 4.5: Biểu đồ tỷ lệ sán dây Taenia hydatigena ở chó tại các địa

phương 42

Hình 4.6: Đồ thị tương quan giữa tỷ lệ nhiễm sán dây Taenia hydatigena

ở chó và tỷ lệ nhiễm ấu trùng Cysticercus tenuicollis ở dê 44

Trang 8

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN i

LỜI NÓI ĐẦU ii

DANH MỤC BẢNG iii

DANH MỤC HÌNH iv

DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT v

MỤC LỤC vi

Phần 1: MỞ ĐẦU 1

1.1.Tính cấp thiết của đề tài 1

1.2 Mục đích của đề tài 2

1.3 Mục tiêu của đề tài 2

1.4 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài 2

1.4.1 Ý nghĩa khoa học 2

1.4.2 Ý nghĩa thực tiễn 2

Phần 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

2.1.Cơ sở khoa học của đề tài 3

2.1.1.Đặc điểm của ấu trùng Cysticercus tenuicollis 3

2.1.2 Đặc điểm sinh học của sán dây ký sinh ở chó 4

2.1.3 Đặc điểm dịch tễ học bệnh do ấu trùng Cysticercus tenuicollis và bệnh do sán dây chó gây ra 17

2.1.4 Đặc điểm bệnh lý và lâm sàng bệnh do ấu trùng Cysticercus tenuicollis gây ra 20

2.1.5 Chẩn đoán bệnh do ấu trùng Cysticercus tenuicollis và bệnh do sán dây chó gây ra 21

2.1.6 Phòng và trị bệnh do ấu trùng Cysticercus tenuicollis gây ra 23

2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước và ngoài nước 24

2.2.1.Tình hình nghiên cứu trong nước 24

2.2.2 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài 26

Trang 9

Phần 3 : ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 28

3.1 Đối tượng, vật liệu, thời gian và địa điểm nghiên cứu 283.2 Nội dung nghiên cứu 29

3.2.1 Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ bệnh do ấu trùng Cysticercus tenuicollis

gây ra ở dê tại một số huyện thuộc tỉnh Thái Nguyên 29

3.2.2 Nghiên cứu bệnh học của bệnh ấu trùng Cysticercus tenuicollis 29 3.2.3 Đề xuất biện pháp phòng trị bệnh do ấu trùng Cysticercus tenuicollis

gây ra ở dê 293.3 Bố trí thí nghiệm và phương pháp nghiên cứu 303.3.1 Bố trí thu thập mẫu và phương pháp xác định tình hình nhiễm ấu trùng

Cysticercus tenuicollis ở dê 30

3.3.2 Bố trí điều tra và phương pháp xác định tình hình nhiễm sán dây ở chó 31

3.3.3 Phương pháp nghiên cứu bệnh học bệnh ấu trùng Cysticercus

tenuicollis 33

3.3.4 Đề xuất biện pháp phòng chống bệnh do ấu trùng Cysticercus

tenuicollis gây ra tại một số địa phương thuộc tỉnh Thái Nguyên 33

3.3.5 Phương pháp xử lý số liệu 33

Phần 4 : KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 34

4.1 Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ bệnh do ấu trùng Cysticercus

tenuicollis gây ra ở dê tại một số địa phương thuộc tỉnh Thái Nguyên 34

4.1.1 Tình hình nhiễm ấu trùng Cysticercus tenuicollis ở dê tại một số địa

phương thuộc tỉnh Thái Nguyên 34

4.1.2 Nghiên cứu tương quan giữa tỷ lệ nhiễm ấu trùng Cysticercus

tenuicollis ở dê với tỷ lệ nhiễm sán dây Taenia hydatigena ở chó tại một số

địa phương thuộc tỉnh Thái Nguyên 39

4.2 Nghiên cứu bệnh học bệnh ấu trùng Cysticercus tenuicollis ở dê 45

Trang 10

4.2.1 Triệu chứng lâm sàng chủ yếu của dê bị bệnh ấu trùng Cysticercus

tenuicollis 45

4.2.2 Tỷ lệ các khí quan của dê có ấu trùng sán dây Cysticercus tenuicollis ký sinh và khối lượng ấu trùng 46

4.2.3 Bệnh tích đại thể ở các khí quan có ấu trùng Cysticercus tenuicollis ký sinh ở dê 47

4.3 Đề xuất biện pháp phòng chống bệnh ấu trùng sán dây Cysticercus tenuicollis gây ra trên dê tại một số địa phương thuộc tỉnh Thái Nguyên 49

Phần 5 : KẾT LUẬN, TỒN TẠI VÀ ĐỀ NGHỊ 50

5.1 Kết luận 50

5.2.Tồn tại 51

5.3 Đề nghị 51

TÀI LIỆU THAM KHẢO 52

I Tài liệu tiếng Việt 52

II Tài liệu tiếng Anh 53

Trang 11

Phần 1

MỞ ĐẦU 1.1.Tính cấp thiết của đề tài

Ngành Chăn nuôi ở Việt Nam đang ngày càng phát triển mạnh góp phần quan trọng vào sự phát triển kinh tế của đất nước Tuy nhiên, khi chăn nuôi phát triển thì tình hình dịch bệnh của gia súc, gia cầm cũng ngày càng tăng lên

Sán dây Taenia hydatigena ký sinh và gây bệnh ở chó, chó sói, cáo và các thú ăn thịt khác Ấu trùng Cysticercus tenuicollis của sán dây Taenia

hydatigena ký sinh trên bề mặt các khí quan trong xoang bụng gây bệnh rất

nguy hiểm cho vật nuôi và kể cả người

Nguyễn Thị Kim Lan (2012) [9] cho biết, ấu trùng Cysticercus tenuicollis có dạng bọc, mang đầu sán dây Taenia hydatigena, có kích thước to, nhỏ không

đều nhau, bám ở bề mặt màng treo ruột, lách, gan, thận, Vì thế, trong quá trình giết mổ, có thể dễ nhầm lẫn với những bọc nước bình thường, từ đó không có biện pháp tiêu diệt ấu trùng, làm tăng nguy cơ nhiễm sán dây

Taenia hydatigena ở chó

Thái Nguyên là tỉnh có điều kiện tự nhiên thuận lợi để phát triển chăn nuôi trâu, bò, dê Dê cỏ ở Thái Nguyên có nhiều ưu điểm và được đưa vào danh mục vật nuôi cần bảo tồn nguồn gen Tuy nhiên, phương thức chăn nuôi vẫn là chăn thả tự do, chưa quan tâm đến việc phòng trị bệnh Đồng thời, chó được nuôi rất nhiều trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên theo hình thức nuôi thả rông, nếu chó bị nhiễm sán dây sẽ phát tán mầm bệnh, làm cho dê và các vật

nuôi khác bị bệnh ấu trùng Cysticercus tenuicollis

Hiện nay, bệnh do ấu trùng Cysticercus tenuicollis gây ra chưa có thuốc

điều trị đặc hiệu, chủ yếu chỉ điều trị triệu chứng Ngoài ra, khi bị nhiễm ấu trùng

sán dây Cysticercus tenuicollis thì vật chủ cũng không có những triệu chứng điển

hình nên việc chẩn đoán và điều trị đối với con vật còn sống rất khó khăn

Trang 12

Những vấn đề trên cho thấy, việc tìm hiểu đặc điểm dịch tễ bệnh ấu trùng

Cysticercus tenuicollis gây ra ở dê, để từ đó có biện pháp phòng chống thích hợp

là hết sức cần thiết Nghiên cứu này không những góp phần hạn chế tỷ lệ nhiễm bệnh ấu trùng sán dây cho dê, mà còn góp phần phòng chống bệnh sán dây ở chó, một số loài vật nuôi khác và cả người

Xuất phát từ thực tiễn trên, chúng tôi thực hiện đề tài: "Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ bệnh do ấu trùng sán dây Cysticercus tenuicollis gây ra ở

dê tại một số địa phương thuộc tỉnh Thái Nguyên và đề xuất biện pháp phòng chống"

1.2 Mục đích của đề tài

Có cơ sở khoa học để xác định biện pháp phòng chống bệnh do ấu trùng

Cysticercus tenuicollis gây ra ở dê hiệu quả và phù hợp với điều kiện chăn nuôi

ở tỉnh Thái Nguyên, từ đó có biện pháp phòng chống bệnh đạt hiệu quả cao

1.3 Mục tiêu của đề tài

Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ và bệnh học bệnh do ấu trùng Cysticercus

tenuicollis gây ra ở dê nuôi tại một số địa phương thuộc tỉnh Thái Nguyên

1.4 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài

1.4.1 Ý nghĩa khoa học

Kết quả của đề tài là những thông tin khoa học về đặc điểm dịch tễ và

bệnh học bệnh do ấu trùng Cysticercus tenuicollis gây ra ở dê nuôi tại một số

địa phương thuộc tỉnh Thái Nguyên

1.4.2 Ý nghĩa thực tiễn

Kết quả của đề tài là cơ sở khoa học để khuyến cáo người chăn nuôi áp

dụng các biện pháp phòng, trị bệnh do ấu trùng Cysticercus tenuicollis gây ra,

nhằm hạn chế tỷ lệ và cường độ nhiễm, hạn chế thiệt hại do bệnh gây ra trên

dê, góp phần nâng cao năng suất chăn nuôi, thúc đẩy nghề nuôi dê phát triển

Trang 13

Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1.Cơ sở khoa học của đề tài

2.1.1.Đặc điểm của ấu trùng Cysticercus tenuicollis

Theo Johannes Kaufmann (1996) [24], ấu trùng Cysticercus tenuicollis ký

sinh ở bề mặt gan, mỡ màng chài ở khoang bụng của cừu và gia súc Gia súc nhiễm ít ấu sán thường không có biểu hiện triệu chứng rõ ràng, trừ khi nhiễm số

lượng lớn ấu trùng ở nhu mô gan, tình trạng thiếu máu và chết có thể xảy ra

Ở nước ta, thấy ấu trùng Cysticercus tenuicollis ký sinh trên bề mặt

gan, lách, màng treo ruột, màng mỡ chài… của gia súc (Nguyễn Thị Kim Lan

và cs, 2008 [7])

Theo Nguyễn Thị Lê (1996) [12], ấu trùng Cysticercus tenuicollis là

những dạng hình túi có cổ mỏng, kích thước 8 – 80 x 8 – 100 mm, chứa dịch bên trong Thành bên trong túi có một đầu sán dây có cổ

Nguyễn Thị Kim Lan và cs (2012) [8] cho biết, ấu trùng Cysticercus

tenuicollis là một bọc có kích thước to nhỏ khác nhau, có thể bằng hạt đậu,

quả cam hoặc quả bưởi, trong bọc có nhiều nước Có một đầu sán bám vào màng trong của bọc, đầu sán có 4 giác bám, có 29 – 44 móc

Phạm Văn Khuê và Phan Lục (1996) [2] cho biết: căn bệnh là ấu trùng

Cysticercus tenuicollis ký sinh ở gan, màng mỡ chài, màng treo ruột, lách của

lợn, dê, cừu, bò, hươu, đôi khi thấy ở ngựa, người Kích thước ấu trùng khác nhau, có khi bằng hạt đậu, quả cam, hoặc to hơn, có hình bọc, bên ngoài là

mô liên kết, bên trong chứa thể dịch trong và một đầu sán trưởng thành, lộn ra

phía ngoài Ở những vùng nuôi nhiều chó tỷ lệ nhiễm ấu trùng Cysticercus

tenuicollis ở trâu, bò, dê, lợn càng nhiều Tỷ lệ nhiễm ấu trùng tăng dần theo

tuổi, điều này được các tác giả lý giải do thời gian tiếp xúc với căn bệnh tăng

Tình hình nhiễm ấu trùng Cysticercus tenuicollis của dê phụ thuộc vào

số chó nhiễm sán trưởng thành

Trang 14

2.1.2 Đặc điểm sinh học của sán dây ký sinh ở chó

2.1.2.1 Vị trí của sán dây chó trong hệ thống phân loại động vật học

Việc nghiên cứu sán dây ở Việt Nam được bắt đầu từ hơn 1 thế kỷ trước Năm 1870, Cande J lần đầu tiên mô tả loài sán dây

Diphyllobothrium latum tìm thấy ở người Nam Bộ (Việt Nam) Sau đó 10

năm mới xuất hiện các công trình nghiên cứu lẻ tẻ về một vài loài sán dây gây bệnh cho người Từ đó, việc nghiên cứu về thành phần sán dây ở người được chú ý hơn, rồi mở rộng phạm vi nghiên cứu sang một số động vật nuôi và một số động vật hoang dã

Năm 1914, Casaux đã phát hiện được ở gan người hai nang sán

Cysticercus tenuicollis của loài sán Taenia hydatigena ký sinh ở chó

Năm 1925, Houdemer tiến hành nghiên cứu ký sinh trùng ở thú nuôi và

thú hoang Bắc Bộ cũng phát hiện thấy ấu trùng Cysticercus tenuicollis và loài sán Dipylidium caninum, đồng thời tác giả đã bổ sung thêm các loài trong đó

có loài Taenia hydatigena và Taenia pisiformis

Năm 1963, Trịnh Văn Thịnh đã có công trình tổng kết được hầu hết

những nghiên cứu trước đó, trong đó tác giả đã đề cập đến ấu trùng Coenurus

cerabralis của loài sán dây Multiceps multiceps ở cừu

Năm 1967 hai nhà ký sinh trùng học người Ba Lan là Drozdz và Malczewski đã công bố các loài sán dây ở động vật nhai lại 8 tỉnh miền Bắc,

trong đó có ấu trùng Cysticercus tenuicollis của loài Taenia hydatigena

Nguyễn Thị Kỳ (2003) [4] đã mổ khám 174 cá thể thuộc 21 loài của

bộ ăn thịt, kết quả cho thấy, trong các loài mèo rừng, cầy giông, cầy

hương, cày lỏn và chó nhà được mổ khám phát hiện thấy các loài Taenia

hydatigena, Taenia isifomis, Multiceps multiceps, Spirometra europaei, Dipylidium caninum

Trang 15

erinacei-Cho đến nay các hệ thống phân loại sán dây đã trải qua nhiều thay đổi, song dường như vẫn chưa được thống nhất và ổn định (Nguyễn Thị Kỳ, 2003 [4])

Theo Phan Thế Việt và cs (1977) [20], Nguyễn Thị Kỳ (1994) [3] Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [12], Nguyễn Thị Kỳ (2003) [4], hệ thống phân loại sán dây của Việt Nam đã sắp xếp theo hệ thống phân loại của Schulz và Gvozdev (1970), để sắp xếp các loài sán dây phát hiện được ở người, chim, thú nuôi và hoang dại ở Việt Nam Trong đó, sán dây ký sinh ở chó có vị trí như sau:

Loài Dipylidium caninum Leuckart, 1758 Phân bộ Tta Skrjabin et Schulz, 1937

Họ Taeniidae Ludwig, 1886 Giống Taenia Linnaeus, 1758 Loài Taenia hydatigena Pallas, 1766 Loài Taenia pisiformis Bloch, 1780

Trang 16

Giống Echinococcus Rudolphi, 1801 Loài Echinococcus granulosus Batsch, 1786 Giống Multiceps Goeze, 1782

Loài Multiceps multiceps Leske, 1780 Phân bộ Mesocestoidata Skrjabin, 1940

Họ Mesocestoididae Perrier, 1897 Giống Mesocestoides, Wailand, 1863 Loài Mesocestoides lineatus Goeze, 1782

Nhiều tác giả như Phan Thế Việt và cs (1977) [20], Nguyễn Thị Kỳ (1994) [3], Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [12], khi đề cập về thành phần loài sán dây ký sinh trên chó ở nước ta đều thống nhất rằng, các loài sán dây ký sinh ở chó đã

tìm thấy ở Việt Nam gồm: Diphyllobothrium mansoni, Diphyllobothrium

reptans, Dipylidium caninum, Taenia hydatigena, Taenia pisiformis, Multiceps multicep, Echinococcus granulosus, Mesocestoides lineatus

Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [6]: tính đến thời điểm hiện tại, người ta đã biết hơn 30 loài sán dây ký sinh ở loài ăn thịt gây bệnh cho

chó, mèo Chúng đều thuộc bộ Cyclophyllidea và Pseudophyllidea

Kết quả tổng hợp của Phạm Sỹ Lăng (2002) [10] cho biết, đã phát hiện được 8 loài sán dây ký sinh trên chó ở miền Bắc Việt Nam

Việc mô tả hình thái các loài sán dây này còn có nhiều thiếu sót, một số loài chưa có mô tả trên mẫu vật Việt Nam Cande J (1870) là người đầu tiên mô tả

loài sán dây Diphyllobothrium latum tìm thấy ở người (Nam Bộ) Sau này một số

nhà ký sinh trùng học Việt Nam (Đỗ Dương Thái, Đặng Văn Ngữ, 1970; Đỗ Dương Thái, Trịnh Văn Thịnh, 1976) cho rằng, loài thuộc giống

Diphyllobothrium ký sinh ở người Việt Nam không phải là Diphyllobothrium latum mà là loài Diphyllobothrium mansoni Sự phán đoán này không dựa trên

mẫu nên không có sự mô tả loài Theo Yamaguti (1959), loài Diphyllobothrium

mansoni là tên đồng vật của loài Spirometra erinacei-europaei thuộc giống Spirometra (họ Diphyllobothriidae)

Trang 17

Theo tài liệu mới nhất về họ Diphyllobothiidae của các tác giả Delaimure S L., Skrjabin A S., Serdukov A M (1985) Diphyllobothrium mansoni không

là tên đồng vật của một loài nào trong họ này Khi nói về lịch sử nghiên cứu

loài Diphyllobothrium latum, các tác giả còn cho rằng, loài Spirometra

erinacei-europaei của vùng nam bán cầu là một định dạng sai lầm và cho rằng

chính loài này là Diphyllobothrium latum Tuy nhiên, các tác giả có ý định xem xét vị trí phân loại của giống Spirometra Mueller, 1937 và muốn coi giống này là giống chuẩn để thành lập họ Spirometridae (dẫn theo Nguyễn

Thị Kỳ, 2003 [4])

Nguyễn Thị Kỳ (2003) [4] cho biết: ở Việt Nam, hiện loài Diphyllobothrium

mansoni, Diphyllobothrium reptans còn chưa rõ vị trí phân loại và không có

mẫu Nguyễn Thị Kỳ (2003) [4] đã xem xét lại toàn bộ vị trí phân loại và tình

trạng mẫu, tình hình nghiên cứu về từng loài, đã tu chỉnh 1 loài Spirometra

erinacei- europaei (Rudolphi, 1819) Mueller, 1937

Hiện nay trên thế giới có khoảng 40 loài sán dây gây bệnh cho chó và các thú ăn thịt thuộc họ chó mèo (Vương Đức Chất và cs, 2004 [1])

2.1.2.2 Đặc điểm hình thái, cấu tạo của sán dây chó

* Đặc điểm chung:

Phan Thế Việt và cs (1977) [20], Nguyễn Thị Kỳ (1994) [3], Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [12], Nguyễn Thị Kỳ (2003) [4] cho biết:

Sán dây chó có những đặc điểm của lớp sán dây nói chung: hình dải

băng màu trắng hoặc trắng ngà Cơ thể dài, dẹp theo hướng lưng bụng, chia thành ba phần: đầu, cổ, thân (gồm những đốt sau cổ, có hình dạng và cấu tạo khác nhau)

Đầu sán dùng để bám vào thành ruột vật chủ, nên có những hình dạng, kích thước và các cơ quan bám đặc trưng Chiều rộng của đầu thường chỉ nhỏ hơn 1 mm, nhưng cũng có sán có đầu dài vài mm Cơ quan bám nằm trên đầu

Trang 18

bao gồm rãnh bám hoặc giác bám, mõm, vòi và có nhiều móc Ở một số loài sán dây trên móc bám có các móc bé xếp thành nhiều hàng Giác bám là bộ phận đặc trưng của sán dây bậc cao Móc bám nằm ngay trên đầu hay ở phần cuối vòi, sắp xếp thành một hay hai hàng Số lượng móc ở các nhóm sán dây dao động từ vài móc đến vài trăm móc Ít khi vòi thiếu móc Kích thước, cấu tạo và số lượng móc cố định cho mỗi loài

Cổ là những đốt sán nối tiếp sau đầu Đốt cổ của sán dây là đốt sinh trưởng, từ các đốt cổ sinh ra các đốt thân, cơ quan sinh sản ở các đốt cổ chưa hình thành rõ

Thân sán dây lại gồm ba loại đốt: những đốt chưa thành thục về sinh dục (ở gần cổ), cơ quan sinh dục chưa phát triển đầy đủ, chỉ thấy cơ quan sinh dục đực Những đốt thành thục về sinh dục (ở giữa thân), cơ quan sinh dục trong những đốt sán này đã phát triển đầy đủ, có đủ cả bộ phận sinh dục đực

và cái, có hệ bài tiết, cấu tạo mỗi đốt tương tự như mỗi cơ thể sán lá, nhưng khác sán lá là không có hệ tiêu hoá Những đốt già (ở cuối thân sán), bên trong đốt sán chứa đầy tử cung với vô số trứng sán dây Ở những đốt già, bộ phận sinh dục đực bị thoái hoá Những đốt già thường xuyên được rời khỏi cơ thể sán và theo phân ra ngoài (đặc điểm này thấy ở những loài sán dây thuộc

bộ Cyclophyllidea)

Chiều dài của sán dây chó dao động từ 0,5 mm đến hàng chục mét Cơ thể sán dây phủ lớp tiểu bì, đến lớp hạ bì, rồi đến lớp cơ vòng, cơ dọc Phần bên trong chứa đầy nhu mô Bên trong lớp cơ là các khí quan của sán Sán dây chó cũng giống các sán dây khác ở đặc điểm không có hệ tiêu hóa, sán lấy thức ăn bằng phương thức thẩm thấu qua bề mặt cơ thể

Hệ thần kinh ở sán dây kém phát triển, gồm có hạch thần kinh trung ương nằm ở trên đầu, từ đó có các dây thần kinh chạy dọc cơ thể Có hai dây phát triển hơn nằm bên ngoài ống bài tiết và mỗi đốt nối với nhau bởi các cầu nối ngang

Trang 19

Hệ tuần hoàn và hệ hô hấp tiêu giảm Hô hấp theo kiểu yếm khí

Hệ bài tiết của sán dây cấu tạo theo kiểu nguyên đơn thận, gồm 2 ống chính từ đầu sán đi về cuối thân và thông với lỗ bài tiết Ngoài ra, ở mỗi đốt sán còn có những ống ngang nối liền với 2 ống chính

Hầu hết các loài sán dây là lưỡng tính: Trong mỗi đốt thường có một hệ sinh dục (gồm một cơ quan sinh dục đực và một cơ quan sinh dục cái) phát triển ở các giai đoạn khác nhau, ít khi có hai hệ sinh dục hoặc hơn Sự phát triển của hệ sinh dục theo một thứ tự nhất định: Ở các đốt non cơ quan sinh dục chưa phát triển, sau đó hình thành cơ quan sinh dục đực rồi đến cơ quan sinh dục cái Sau khi thụ tinh, cơ quan sinh dục đực teo dần còn lại cơ quan sinh dục cái Ở các đốt già, trứng chứa đầy trong tử cung

Hệ sinh dục đực gồm tinh hoàn, ống dẫn tinh và các tuyến sinh dục Số lượng tinh hoàn trong mỗi đốt có từ một đến hàng trăm và là dấu hiệu để phân loại mỗi loài Từ tinh hoàn có nhiều ống dẫn tinh nhỏ đi ra và hợp lại với nhau thành ống dẫn tinh, ống này đổ vào cơ quan giao phối là lông gai Lông gai nằm trong nang lông gai Phần cuối ống dẫn tinh có thể phình ra gọi là túi tinh Nếu túi tinh ở ngoài nang lông gai gọi là túi tinh ngoài, còn ở trong nang lông gai thì gọi là túi tinh trong Lông gai dùng để đưa vào lỗ sinh dục cái khi giao phối Nang lông gai và lông gai ở mỗi loài có hình dạng, kích thước và cấu tạo khác nhau

Hệ sinh dục cái có cấu tạo phức tạp hơn, gồm có buồng trứng, ống dẫn trứng, ootyp, tuyến noãn hoàng, túi nhận tinh, tuyến vò (thể Melis) và tử cung, thường có hai buồng trứng nằm giữa hoặc phía sau đốt sinh dục, ít khi ở phía trước Trong buồng trứng hình thành các tế bào sinh dục cái (tế bào trứng) Từ buồng trứng có ống gắn nối với âm đạo, mở ra ở huyệt sinh dục Ống này phình rộng ra gọi là túi nhận tinh Trứng thụ tinh được đưa vào ootyp Tuyến noãn hoàng gồm nhiều bao noãn bé nằm trong nhu mô hoặc

Trang 20

thành khối nằm hai bên đốt hoặc phía sau buồng trứng Từ tuyến noãn hoàng các chất dinh dưỡng đổ vào ooptyp giúp cho việc hình thành trứng Tuyến vỏ tiết ra các sản phẩm cần thiết để hình thành trứng Trong ootyp, trứng thụ tinh được hình thành, sau đó trứng rơi vào tử cung Cấu tạo tử cung của sán dây

rất khác nhau Ở sán dây bậc thấp (Pseudophyllidea), tử cung là những ống

cong, dẫn từ ooptyp đến lỗ ngoài nằm ở mặt bụng của mỗi đốt Ở những đốt sán dây này trứng được thải ra ngoài tùy theo mức độ hình thành của trứng Ở

sán dây bậc cao (Cyclophyllidea), tử cung kín, không có lỗ ngoài Ở những

sán dây này tử cung chứa đầy trứng trong đốt già và mỗi đốt thực chất biến thành một cái túi chứa trứng Trứng được rơi ra ngoài bằng cách nứt thành cơ thể của đốt Quá trình này thường thực hiện ở môi trường ngoài, ở nơi mà các đốt sán dây già được thải ra cùng với phân vật chủ

Trứng sán dây bộ Cyclophyllidea hình tròn hoặc hơi bầu dục, có 4 lớp

vỏ, trong có phôi 6 móc Còn trứng sán dây bộ Pseudophyllidea giống trứng

sán lá, một đầu có nắp (Nguyễn Thị Kim Lan và cs, 1999) [6]

*Đặc điểm hình thái, kích thước của một số loài sán dây ký sinh ở chó:

- Giống Dipylidium Leuckart, 1863

Theo Nguyễn Thị Kỳ (1994) [3], Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [12], Nguyễn Thị Kỳ (2003) [4] cho biết:

+ Loài Dipylidium caninum: Cơ thể dài 15 – 17 cm, gồm 80 – 250 đốt

Đầu rộng 0,24 – 0,50 mm Đầu có vòi hình chóp, có 4 – 10 hàng móc, mỗi hàng có từ 16 – 20 móc, móc hàng trên cùng dài 0,013 – 0,016 mm, móc hàng cuối cùng dài 0,003 – 0,008 mm Lỗ sinh dục kép, mở ra ở hai bên đốt Túi sinh dục dài 0,1 – 0,3 mm, đáy hướng lên phía trên đốt Buồng trứng phân thùy hình quạt Tuyến noãn hoàng hình khối Đốt già chứa nang trứng, mỗi nang chứa 3 – 30 trứng, có kích thước 0,026 – 0,060 mm Phôi 6 móc có kích thước 0,020 – 0,036 mm

Trang 21

- Giống Taenia Linnaeus, 1758

Nguyễn Thị Kỳ (1994) [3], Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [12], và cs (1999) [6], Nguyễn Thị Kỳ (2003) [4] cho biết:

+ Loài Taenia hydatigena: Dài 5000 mm gồm 550 – 700 đốt rất rộng

Đầu hình quả lê hay hình thận, đường kính 1 mm, vòi có 26 – 44 móc, xếp thành hai hàng, móc hàng trên dài 0,170 – 0,022 mm, có mỏm rất cong, móc hàng dưới dài 0,110 – 0,160 mm, có lưỡi rất cong, các giác bám gần nhau và

có đường kính 0,110 mm, cổ dài 0,500 mm Có 600 – 700 tinh hoàn ở giữa các ống bài tiết Xung quanh noãn hoàng, buồng trứng, ống dẫn tinh và âm đạo không có tinh hoàn, ống dẫn tinh có dạng túi hẹp uốn khúc nhiều, không

có túi tinh Nang lông gai hình trụ dài 0,450 mm, rộng 0,130 mm, buồng trứng hai thùy ở nửa dưới của đốt, cạnh phía không lỗ lớn hơn phía có lỗ, noãn hoàng là ống hẹp kéo dài theo chiều ngang, thể Melis tròn ở giữa buồng trứng và noãn hoàng, phần đầu âm đạo phình rộng, sau hẹp dần, tới thùy buồng trứng tạo thành túi nhận tinh Ở các đốt già thân tử cung có 5 – 10 nhánh ngang, mỗi đầu tự do lại tạo thành các nhánh phụ, trứng bầu dục, dài 0,038 – 0,031 mm, rộng 0,034 – 0,035 mm, vỏ dày 0,004 mm

Dạng ấu trùng Cysticercus tenuicollis gặp nhiều ở gan và xoang bụng của

lợn, trâu, bò, nhiều loài thú khác, kể cả người Ấu trùng này có dạng túi chứa đầy dịch trong Thành bên trong túi có một đầu sán dây, có cổ Đầu có móc và giác bám, đường kính của giác bám 0,099 – 0,310 mm, có 28 – 40 móc, xếp hai hàng, móc hàng trên dài 0,185 – 0,210 mm, móc hàng dưới dài 0,126 – 0,160

mm, vỏ trong của nang được bọc bằng vỏ ngoài, vỏ này bám vào thành mô cơ của vật chủ, kích thước của nang phụ thuộc vào nơi ký sinh của ấu trùng

+ Loài Taenia pisiformis: Sán dài 600 – 2000 mm và rộng 4,8 mm gồm

400 đốt, đường kính đầu 1,3 mm, vòi 0,515 – 0,640, có 34 – 48 móc xếp thành hai hàng, móc hàng trên dài 0,225 – 0,294 mm, có lưỡi rất cong Móc

Trang 22

hàng dưới dài 0,132 – 0,177 mm, giác bám tròn hay bầu dục, đường kính 0,310 – 0,330 mm, cổ ở ngay sau đầu dài 1,7 mm Lỗ sinh dục xen kẽ không đều, các núm sinh dục hơi nhô ra Có 400 – 500 tinh hoàn, tròn hay bầu dục, đường kính 0,096 – 0,132 mm, ở toàn bộ khoảng trống giữa đốt trừ vùng noãn hoàng và buồng trứng Ống dẫn tinh bắt đầu từ túi tinh tròn có đường kính 0,210 – 0,350 mm, nang lông gai hình trụ hay bầu dục ngang, dài 0,460 – 0,800, rộng 0,130 – 0,140 mm, buồng trứng hai thùy, ở nửa dưới của đốt, những thùy bên hình thận và có kích thước như nhau, noãn hoàng hình ba góc, ở bờ dưới của đốt Thể Melis ở giữa noãn hoàng và buồng trứng, âm đạo

đi từ lỗ sinh dục, tạo thành túi nhận tinh ở sát thùy của buồng trứng Ở những đốt già, mỗi phần của thân tử cung có 8 - 14 nhánh bên, từ đó tạo thành các nhánh phụ, trứng tròn hay hơi bầu dục, đường kính 0,032 - 0,037 mm

- Giống Echinococcus Rudolphi, 1810

Phan Thế Việt và cs (1977) [20], Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [12], Nguyễn Thị Kỳ (2003) [4] cho biết:

+ Loài Echinococcus granulosus: Sán dài 2,7 - 3,4 mm, gồm 3 - 4 đốt

Đầu không lớn, có đường kính 0,258 - 0,369 mm, đường kính giác bám 0,098

- 0,133 mm, vòi 0,100 – 0,140 mm Có 36 - 40 móc vòi, thường thay đổi về kích thước và số lượng móc, móc hàng trên dài 0,032 – 0,043 mm, móc hàng dưới dài 0,020 – 0,036 mm, cán không thẳng và dài hơn lưỡi móc, đôi khi cán phình rộng hoặc có mỏm lớn Cơ quan sinh dục cái ở nửa dưới của đốt, buồng trứng gồm hai khối đặc hình bầu dục, nối với nhau bằng ống ngang hẹp, noãn hoàng dưới buồng trứng, thể Melis dưới buồng trứng và noãn hoàng, có 32 -

40 tinh hoàn Nang lông gai dài 0,025 – 0,026 mm, dài tới giữa đốt, lỗ sinh dục mở ra ở hai bên đốt, tử cung dài bằng chiều dài đốt già, có các nhánh bên

Trang 23

với số lượng và hình dạng không giống nhau Trứng tròn hay bầu dục, đường kính từ 0,028 - 0,036 mm

Ấu trùng Echinococcus enilocularis ký sinh ở trâu, bò, dê Nó có dạng

túi, trong chứa đầy dịch, nang có hai vỏ, vỏ ngoài màu trắng sữa đôi khi hơi vàng, vỏ ngoài sinh ra vỏ trong, vỏ trong gọi là vỏ mầm, sinh ra từ phía trong xoang nang, mỏng, không màu, là thành mô sinh ra nang, có thể sinh ra một nang cùng lúc tạo thành đầu phôi và nang thứ hai (nang con)

- Giống Multiceps Goeze, 1782

Theo Nguyễn Thị Kỳ (1994) [3], Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [12], Nguyễn Thị Kỳ (2003) [4]:

+ Loài Multiceps multiceps: Sán dài 400 - 1000 mm, gồm 200 - 250 đốt,

rộng gần 5 mm Đầu hình quả lê và có đường kính 0,800 mm Vòi có đường kính 0,300 mm, có 22 - 32 móc, xếp thành hai hàng, móc hàng một dài 0,150

mm, hàng hai dài 0,090 – 0,130 mm Giác bám có đường kính 0,290 - 0,300

mm Cổ dài 2 - 3 mm Ống dẫn tinh bắt đầu ở phía có lỗ, gần thân giữa của tử cung, uốn khúc và đi vào nang lông gai Nang có dạng quả lê dài 0,315 – 0,350 mm, rộng 0,110 – 0,145 mm Buồng trứng có hình cánh bướm, ở gần

bờ dưới đốt, hai thùy gần như bằng nhau và có hình bầu dục, noãn hoàng hình

ba góc, ở sát bờ dưới đốt Thể Melis nhỏ ở giữa buồng trứng và noãn hoàng

Âm đạo có dạng ống cong xuống một thùy của buồng trứng và phình rộng thành túi chứa tinh, tử cung có thân giữa và mỗi bên có 9 - 12 nhánh, trứng có đường kính 0,029 - 0,037 mm, có vỏ dày 0,004 mm

Ấu trùng Coenurus cerebralis là một nang lớn, hình tròn hay bầu dục,

vỏ mờ đục, mềm ở trong có rất nhiều đầu sán dính vào, trong nang là chất dịch không màu, số lượng dịch thay đổi phụ thuộc vào kích thước nang Kích thước nang khác nhau, phụ thuộc vào mức độ phát triển, vị trí não ký sinh và loại động vật

Trang 24

- Giống Mesocestoides Vaillant, 1863

Nguyễn Thị Kỳ (1994) [3], Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [12], Nguyễn Thị Kỳ (2003) [4] cho biết:

+ Loài Mesocestoides lineatus: Sán trưởng thành dài đến 2m Đầu không

có vòi, có móc bám và 4 giác bám Tử cung có dạng túi dọc nằm ở giữa đốt Kích thước trứng 0,040 – 0,060 x 0,035 – 0,043 mm Phôi 6 móc, đôi móc giữa dài hơn móc bên

2.1.2.3 Chu kỳ sinh học của sán dây chó

Theo Đỗ Dương Thái và Trịnh Văn Thịnh (1978) [15], chu kỳ sinh học của sán dây khá phức tạp, tiến triển ở nhiều ký chủ liên tiếp Ở bộ

Cyclophyllidae trứng chứa thai trùng sáu móc đã hình thành Vào dạ dày ký

chủ, thai trùng sáu móc thành ấu trùng (đã mất móc) có cấu tạo và tên gọi

khác nhau: Cysticercus, Coenurus, Echinococcus, Cysticercoid Ở bộ

Pseudophyllidae có hai thể ấu trùng liên tiếp: Procercoid và Plerocercoid

Những dạng ấu trùng này sống lâu hay chóng ở KCTG và phải được một ký chủ cuối cùng thích hợp nuốt vào mới phát triển thành sán trưởng thành

Để hoàn thành vòng đời, sán dây ký sinh ở chó cần vật chủ trung gian là nhiều loài động vật khác nhau, có thể là động vật có xương sống, hoặc có thể

là động vật không xương sống Có loài cần 1 KCTG để hoàn thành vòng đời, nhưng cũng có loài cần 2 KCTG mới hoàn thành vòng đời

Các họ sán dây khác nhau có chu kỳ sinh học khác nhau Các loài sán

dây: Spirometra erinacei-europae, Spirometra mansonoides, Dipylidium

caninum, Taenia hydatigena, Taenia pisiformis, Multiceps multiceps ký sinh

ở ruột của chó Chó là vật chủ cuối cùng của sán, giúp sán hoàn thành vòng đời và ký sinh ở giai đoạn thành thục Cụ thể vòng đời của các loài sán dây thường gặp ký sinh ở chó diễn ra như sau:

Trang 25

+Loài Spirometra erinacei-europae

Vòng đời phát triển của Spirometra erinacei-europae có sự tham gia

của vật chủ trung gian thứ nhất là các các loài giáp xác, KCTG bổ sung là cá Trứng được thải ra ngoài theo phân chó không có phôi, ở trong nước, trứng

nở ra ấu trùng có những lông nhỏ xung quanh thân gọi là Coracidium, được vật chủ trung gian thứ nhất là các loài giáp xác thuộc giống Mesocyclops,

Eucyclops nuốt Trong cơ thể bọ nước, Coracidium phát triển thành dạng ấu

trùng đặc biệt – Procercoid Trong trường hợp cá nuốt phải bọ nước bị nhiễm

Procercoid thì ấu trùng Procercoid sẽ phát triển thành dạng ấu trùng mới - Plerocercoid Chó ăn cá có ấu trùng Plerocercoid sẽ nhiễm sán, sau 15 – 18

ngày sẽ xuất hiện trứng trong phân chó thải ra

+ Loài Spirometra mansonoides

Vòng đời phát triển cần có sự tham gia của vật chủ trung gian thứ nhất

là các loài giáp xác nước ngọt (Copepods), vật chủ trung gian thứ hai là

những loài chim, rắn, bò sát, lưỡng cư, động vật gặm nhấm Trứng theo phân chó ra ngoài, trải qua lần lượt các giai đoạn ở vật chủ trung gian thứ nhất và

thứ hai, trở thành ấu trùng gây bệnh Plerocercoid Chó ăn phải vật chủ trung

gian chứa ấu trùng sẽ bị nhiễm sán Sau 10 – 30 ngày ấu trùng phát triển thành sán trưởng thành

+ Loài Dipylidium caninum

Vòng đời của loài này có sự tham gia của vật chủ trung gian là các loài

bọ chét giống Ctenocephalides Đốt sán già thải ra ngoài có mang theo nang

trứng Đốt sán vỡ ra, trứng ở ngoài tự nhiên được các vật chủ trung gian nuốt vào, phát triển thành ấu trùng Chó ăn phải bọ chét có ấu trùng sẽ bị nhiễm sán dây Sau 3 – 4 tuần ấu trùng phát triển thành sán dây trưởng thành

Trang 26

+ Loài Taenia hydatigena

KCTG là lợn, trâu, bò, dê, cừu Vòng đời bắt đầu từ khi đốt sán già rụng theo phân ra ngoài, vỡ ra, giải phóng trứng sán KCTG nuốt phải trứng sán, vào đến ruột, ấu trùng 6 móc nở ra và phát triển thành ấu trùng

gây bệnh Cysticercoid sau 3 tháng Chó ăn phải nội tạng của vật chủ trung

gian có ấu trùng sẽ bị nhiễm sán Sau 2 tháng ấu trùng phát triển thành sán dây trưởng thành

+ Loài Taenia pisiformis

Vòng đời phát triển cần có sự tham gia của vật chủ trung gian là động vật gặm nhấm, chủ yếu là thỏ và thỏ rừng Các giai đoạn phát triển của ấu trùng thực hiện trong các vật chủ trung gian để trở thành ấu trùng cảm nhiễm sau 15 – 30 ngày Chó ăn phải nội tạng của thỏ có ấu trùng sẽ nhiễm sán

+ Loài Multiceps multiceps

Vòng đời của loài này cần có sự tham gia của vật chủ trung gian là dê, cừu Đốt sán già ra ngoài theo phân chó Đốt vỡ ra giải phóng trứng sán; dê, cừu - vật chủ trung gian ăn trứng sán vào cơ thể, trứng nở và phát triển thành

ấu trùng cảm nhiễm ở óc dê, cừu sau 6 – 8 tháng Chó ăn phải óc vật chủ trung gian có ấu trùng sẽ nhiễm sán

Phan Thế Việt (1977) [20] đã mô tả: “Tất cả bề mặt của sán dây là một cái “mồm” khổng lồ Thức ăn ngấm qua “da” của sán dây Các loài sán dây thường tắm trong nguồn thức ăn giàu có của cơ thể vật chủ Cái mồm đã không cần, thì hệ tiêu hoá của chúng cũng không có Ăn và tiêu hoá đều qua

bề mặt cơ thể của sán dây” Hiện tượng rụng đốt của sán dây làm cho người ta

có thể nghĩ rằng: Cơ thể sán dây sẽ dần dần ngắn lại Song, không phải như vậy, bởi các đốt mới được sinh ra thay thế các đốt già đã rụng làm cho sán dây trở nên “trẻ lại” Sau đốt đầu là đốt cổ, người ta gọi đốt cổ là đốt sinh trưởng, từ đó sẽ mọc ra các đốt khác Các đốt mới sinh ra đẩy các đốt cũ lùi dần ra phía sau

Trang 27

2.1.3 Đặc điểm dịch tễ học bệnh do ấu trùng Cysticercus tenuicollis và bệnh do sán dây chó gây ra

2.1.3.1 Đặc điểm dịch tễ học bệnh do ấu trùng Cysticercus tenuicollis

Bệnh Cysticercus tenuicollis xảy ra trên toàn thế giới, chủ yếu ở khu vực

nông thôn Tỷ lệ nhiễm ở các khu vực thay đổi rất nhiều Dịch bất ngờ có thể xảy ra do điều kiện khí hậu có lợi cho sự tồn tại của trứng trong đồng cỏ hoặc các hoạt động của động vật hoang dã mang bệnh (Junquera P., 2013) [25] Wondimu A., Abera D., Hailu Y (2011) [28] cho biết: tỷ lệ nhiễm ấu

trùng Cysticercus tenuicollis trên dê ở Ethiopia là 21,01% và đã gây thiệt hại

lớn về kinh tế

Theo Over H T và cs (1992), tỷ lệ nhiễm ấu trùng Cysticercus

tenuicollis của dê ở Argentina là 25%, của cừu và dê ở Etiopia là 37% và

16%; cừu ở Thổ Nhĩ Kỳ là 57% và ở Ấn Độ là 37% Các nước ở khu vực Đông Nam châu Á đều thấy nhiễm ấu sán cổ nhỏ (dẫn theo Nguyễn Thị Kim Lan, 2012 [8])

Mổ khám 589 dê có nuôi ở các tỉnh Thái Nguyên và Bắc Kạn thấy tỷ lệ nhiễm ấu sán cổ nhỏ ở dê là 23,8% và cường độ nhiễm sán là 1 - 18 ấu sán/dê Tuổi gia súc càng cao thì tỷ lệ nhiễm càng tăng lên và mức độ nhiễm càng nặng hơn (Nguyễn Thị Kim Lan, 1999) [5]

Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (2012) [9] đã mổ khám 1273 trâu, bò, lợn của ba huyện thành tỉnh Phú Thọ phát hiện 294 con nhiễm ấu sán

Cysticercus tenuicollis (23,10%), trong đó tỷ lệ ở trâu biến động từ 10,59 –

31,78%, ở bò từ 9,82 - 28,10% và ở lợn từ 10,28 - 37,66% với cường độ

nhiễm từ 1 - 56 ấu sán/con Tương quan giữa tỷ lệ nhiễm sán dây Taenia

hydatigena ở chó và tỷ lệ nhiễm ấu sán Cysticercus tenuicollis ở trâu, bò, lợn

là tương quan thuận rất chặt với hệ số tương quan R = 0,881; 0,990 và 0,997

Theo Phạm Văn Khuê và Phan Lục (1996) [2]:

Trang 28

- Phân bố của bệnh: phổ biến khắp các vùng, lợn nước ta nhiễm khoảng 44% Ở những nơi nuôi nhiều chó, bệnh càng phổ biến và gây nhiều thiệt hại

- Biến động nhiễm ấu sán theo tuổi: nhìn chung tỷ lệ nhiễm tăng dần theo tuổi lợn, vì số lần tiếp xúc với căn bệnh tăng theo tuổi

trâu, bò, dê thả trên bãi chăn ít bị hơn

2.1.3.2 Đặc điểm dịch tễ học sán dây Taenia hydatigena

Đặc điểm dịch tễ bệnh do sán dây gây ra đã được nhiều tác giả đề cập đến Tuy nhiên, các nghiên cứu còn ít và chưa hệ thống nên chưa phản ánh đầy đủ những vấn đề liên quan đến sự phát sinh và phát triển của bệnh

Theo Trịnh Văn Thịnh (1977) [18]: chó săn thường nhiễm sán dây do

ăn thịt thỏ chứa ấu trùng Chó của những người chăn cừu, chăn bò, chó ở lò sát sinh mắc sán do ăn phủ tạng của bò, cừu, lợn Chó nuôi trong nhà mắc sán

do ăn bọ chó trên mình nó chứa ấu trùng Ấu trùng sán ở thỏ, bò, cừu, lợn, bọ chó… là ấu trùng của những loài sán khác nhau, nên chó là một trong những loài vật bị nhiều loài sán dây ký sinh nhất

Theo Đỗ Dương Thái và Trịnh Văn Thịnh (1978) [15], chó nhiễm sán

dây loài Dipylidium canium do ăn phải các KCTG sống trên mình chó như bọ, rận Chó nhiễm sán dây loài Taenia hydatigena do ăn phủ tạng loài nhai lại hay lợn chứa ấu trùng Cysticercus tenuicollis

Theo kết quả nghiên cứu của Dalimi A và cs (2006) [23], kiểm tra 83 chó

ở các tỉnh phía Tây của Iran cho thấy: có 38,55% chó nhiễm Dipylidium caninum;

Trang 29

53,01% chó nhiễm Taenia hydatigena; 7,23% chó nhiễm Taenia ovis; 4,82% chó nhiễm Multiceps multiceps; 13,25% chó nhiễm Echinococcus granulosus

Theo kết quả nghiên cứu của Yotko K và cs (2009) [30], tỷ lệ nhiễm

loài Taenia hydatigena của chó ở vùng Tây Bắc Bulgaria là 47,85%

Một nghiên cứu khác của Xhaxhiu D và cs (2010) [29] từ năm 2004 – 2009: mổ khám 111 chó từ các vùng ngoại ô Tirana của Albania để kiểm tra

giun sán đường tiêu hóa, phát hiện được 3 loài sán dây là Dipylidium caninum (65,8%); Taenia hydatigena (16,2%); Echinococcus granulosus (2,7%)

Ở nước ta, các loài Dipylidium caninum, Taenia hydatigena, Taenia

pisiformis, Multiceps multiceps được phân bố rộng ở cả 3 vùng: đồng bằng, trung

du, miền núi với những kiểu khí hậu khác nhau (Nguyễn Thị Kỳ, 1994) [3]

Kết quả kiểm tra 130 mẫu phân chó của Lê Hữu Nghị, Nguyễn Văn Duệ (2000) [13] ở Thành phố Huế cho thấy: chó nhiễm sán dây từ rất sớm, giai đoạn sơ sinh đến 1 năm tuổi đã nhiễm với tỷ lệ cao

Biến động nhiễm sán dây ở chó tùy theo giai đoạn tuổi Chó con bị nhiễm từ rất sớm Theo dõi 138 chó bị bệnh sán dây ở Hà Nội cho thấy, chó con từ 27 – 30 ngày tuổi đã bị nhiễm sán (Phạm Sỹ Lăng, 2002 [10])

Dịch tễ học của bệnh sán dây ở chó liên quan chặt chẽ đến số lượng chó nuôi và chế độ kiểm soát giết mổ Ở những nơi mà chế độ kiểm soát sát sinh không chặt chẽ thì chó dễ mắc bệnh sán dây do ăn phải những khí quan của gia súc có ấu trùng (Nguyễn Thị Kim Lan và cs, 1999 [6])

Tuổi thọ của sán trưởng thành dài, có thể tới hàng chục năm nên loài ăn thịt mang sán là nguồn gieo rắc căn bệnh nguy hiểm Mỗi đốt sán chửa chứa hàng nghìn trứng sán Chó mang trứng sán phát tán khắp nơi

Sức đề kháng của mầm bệnh ở ngoài tự nhiên cũng góp phần vào sự phát triển của bệnh Trứng sán dây có sức đề kháng mạnh ở ngoại cảnh, có thể sống lâu ở những nơi ẩm ướt

Trang 30

Sán dây là động vật sống ký sinh trong ruột động vật có xương sống, trong chu trình phát triển chúng cần sự tham gia của một hoặc hai vật chủ trung gian, vật chủ chứa Vì vậy sự phân bố của sán dây phụ thuộc rất nhiều vào vật chủ Ngoài quy luật phân bố của vật chủ, quy luật sinh thái học của cả vật chủ và sán dây là yếu tố quan trọng nhất chi phối sự khác nhau về tỷ lệ nhiễm sán dây ở vật chủ (Nguyễn Thị Kỳ, 2003 [4])

2.1.4 Đặc điểm bệnh lý và lâm sàng bệnh do ấu trùng Cysticercus tenuicollis gây ra

2.1.4.1 Đặc điểm gây bệnh của ấu trùng Cysticercus tenuicollis

Các vật chủ trung gian bị nhiễm bệnh khi ăn phải thức ăn hoặc nước

bị nhiễm trứng hoặc phân mang trứng sán Ô nhiễm thức ăn có thể xảy ra thông qua phân chó Trứng có thể tồn tại ngoài môi trường trong vài tháng

Trong quá trình hoàn thành giai đoạn ấu trùng Cysticercus tenuicollis

ở KCTG, các ấu trùng 6 móc chui qua niêm mạc ruột, theo máu đến bề mặt gan, màng treo ruột, phổi, gây ra những tổn thương lớn ở các cơ quan này (Woinshet Sa mmuel – Girma G Zewde, 2010 [27])

Khi nhiễm nhẹ, các chức năng rối loạn không rõ Thai 6 móc của ấu sán chui qua thành ruột, sau 24h vào gan, dừng lại ở các nhánh tĩnh mạch cửa, rồi vào gan đào thành rãnh, gây viêm gan cấp tính, có khi viêm màng bụng

Ấu trùng di hành chui qua mặt gan vào xoang bụng, ký sinh ở màng treo ruột, màng mỡ chài, lách, gan

Trong gan, ấu trùng di chuyển qua các mô gan tới các bề mặt gan (lớp thanh mạc) trong thời gian khoảng 30 ngày Trên bề mặt các cơ quan khác trong xoang bụng nó hình thành các nang nước Phát triển thành u nang cần 35 đến 55 ngày sau khi nhiễm bệnh Các nang này có thể lây nhiễm cho chó trong vài tháng (Junquera P., 2013) [25]

Trang 31

2.1.4.2 Đặc điểm bệnh lý và lâm sàng của bệnh do ấu trùng Cysticercus tenuicollis gây ra

Ấu trùng Cysticercus tenuicollis di chuyển qua gan gây hủy hoại trầm

trọng mô gan và các bệnh lý nhìn thấy trong gan tương tự như quan sát thấy trong bệnh sán lá gan (Junquera P., 2013) [25]

Theo Phạm Văn Khuê và Phan Lục (1996) [2] bệnh thường ở thể mãn tính, triệu chứng không rõ ràng Khi bị nặng, giai đoạn đầu con vật gầy yếu, hoàng đản, tiếp đó là viêm màng bụng cấp tính, thường sốt cao, khi ấn mạnh vào bụng con vật đau, bụng to và căng, một số trường hợp thấy xoang bụng xuất huyết Khi bị bệnh ở thể cấp tính gan sưng to, mặt gan gồ ghề, màng fibrin phủ kín, có nhiều điểm tụ huyết, có nhiều rãnh do ấu trùng di hành trong gan Thời

kỳ đầu nhiều nước trong, thời kỳ cuối nước màu vàng Một vài trường hợp viêm màng bụng cấp tính có nhiều dịch thẩm xuất lẫn máu, đầu sán có trong dịch đó

Ấu trùng Cysticercus tenuicollis thường gây bệnh không nghiêm trọng cho

gia súc, nhưng nhiễm trùng nặng có thể gây viêm gan chấn thương khi nhiều ấu trùng di chuyển qua gan Trường hợp nặng có thể tử vong, chủ yếu là ở động vật non Thiệt hại kinh tế chủ yếu là do sự tổn thương của gan và các cơ quan khác

Các ấu trùng của sán dây Taenia hydatigena gây thiệt hại lớn trong

chăn nuôi do tác hại gây bệnh và tỷ lệ tử vong cao (Abidi và cs, 1989) [21]

Sự di chuyển của Cysticercus tenuicollis trong gan gây ra xuất huyết và viêm

phúc mạc (Blazek và cs, 1985 [22])

2.1.5 Chẩn đoán bệnh do ấu trùng Cysticercus tenuicollis và bệnh do sán dây chó gây ra

2.1.5.1 Chẩn đoán bệnh do ấu trùng Cysticercus tenuicollis gây ra

Theo Junquera P., (2013) [25], cho đến nay chẩn đoán bệnh do ấu trùng

Cysticercus tenuicollis chỉ có thể thực hiện khi gia súc chết

Vật còn sống rất khó chẩn đoán, có thể chọc dò để tìm đầu sán trong dịch xoang ngực và bụng Thường chẩn đoán dễ dàng sau khi chết, bằng cách mổ con vật, tìm ấu sán nơi chúng ký sinh (Phan Lục và Phạm Văn Khuê, 1996) [2]

Trang 32

2.1.5.2 Chẩn đoán bệnh sán dây ở chó

Để chẩn đoán bệnh do sán dây gây ra, có thể dựa vào triệu chứng lâm sàng, tuy nhiên phần lớn chó mắc bệnh thường không có biểu hiện đặc trưng

và khó phân biệt, vì vậy phải kết hợp với việc kiểm tra phân tìm đốt sán

Đỗ Dương Thái và Trịnh Văn Thịnh (1978) [15] cho biết: việc chẩn đoán

dễ khi chó ỉa ra những đốt sán và thường lòng thòng ở hậu môn, gây ngứa

Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [6], (2008) [7]:

- Đối với chó còn sống: Kiểm tra phân tìm trứng sán và đốt sán dây

Nếu số lượng đốt sán trong phân nhiều thì có thể trực tiếp tìm đốt sán trong phân Trường hợp chó nhiễm nhẹ, chỉ có ít đốt sán thì xét nghiệm phân tìm đốt sán và mảnh đốt bằng phương pháp lắng cặn Benedek (1943), cho cặn lên đĩa Petri màu đen tìm đốt sán bằng kính lúp Có thể dùng phương pháp Fulleborn tìm trứng sán dây Đối với sán dây bộ

Pseudophyllidea tử cung có lỗ thông ra bên ngoài nên trứng được đẻ ra bên

ngoài, do vậy kể cả khi trong ruột chó có sán dây ký sinh nhưng không tìm thấy được đốt sán trong phân vẫn có thể kết luận chó nhiễm sán qua việc xét nghiệm phân tìm trứng Cũng có thể tìm được trứng sán khi đốt sán già

vỡ ra đối với sán dây thuộc bộ Cyclophyllidea

Trứng sán dây bộ Cyclophyllidea hình tròn hoặc hơi bầu dục, có 4 lớp trong có phôi 6 móc Trứng sán dây bộ Pseudophyllidea giống trứng sán lá:

hình bầu dục, một đầu có nắp, bên trong chứa phôi bào

- Đối với chó đã chết hoặc những con nghi mắc bệnh còn sống: có thể

mổ khám để kiểm tra bệnh tích và tìm sán trưởng thành

Theo Valerie Foss (2003) [26], chó nhiễm sán loài Dipylidium caninum

là chủ yếu và có thể dễ dàng chẩn đoán được khi đốt già rụng ra ngoài giống như những hạt gạo dính trên lông đuôi

Phạm Sỹ Lăng và cs (2006) [11] cho biết, dựa vào việc kiểm tra đốt sán trong phân vật bệnh để khẳng định là chó bị mắc bệnh sán dây

Trang 33

Chu Thị Thơm và cs (2006) [19] cho rằng: để xác định tên của sán dây trưởng thành một cách chính xác, thân sán dây để chết tự nhiên trong nước sạch phải được ép mỏng trong cồn etylic 700 Sau đó nhuộm Carmine, rút hết nước trong mẫu vật, làm trong và gắn tiêu bản trên phiến kính để chẩn đoán, xác định tên khoa học của các loài sán dây

2.1.6 Phòng và trị bệnh do ấu trùng Cysticercus tenuicollis gây ra

2.1.6.1 Điều trị bệnh

Ấu trùng sán dây Taenia hydatigena gây bệnh ấu sán sổ nhỏ ở người,

lợn, trâu, bò, dê, cừu…, hiện vẫn chưa có thuốc điều trị (Nguyễn Thị Kim Lan và cs, 1999 [6])

Theo Junquera P., 2013 [25], việc sử dụng thường xuyên thuốc trị giun

sán không được chỉ định để ngăn ngừa gia súc nhiễm với Cysticercus

tenuicollis Có báo cáo cho rằng albendazole và praziquantel có hiệu quả,

nhưng chỉ ở liều lượng cao hơn so những điều trị thông thường Song hiệu lực của thuốc chưa được khẳng định

2.1.6.2 Phòng bệnh

Phá vỡ chu kỳ lây nhiễm liên quan đến việc kiểm soát chu kỳ giữa chó và các vật chủ trung gian Điều trị cho chó thường xuyên với thuốc trị giun, sán để tiêu diệt sán dây và ngăn ngừa chó ăn thịt cừu, dê sống, hoặc

ăn bộ phận nội tạng có ấu trùng sán dây là cần thiết để kiểm soát chu kỳ sinh học của sán dây Hạn chế ô nhiễm đến mức tối thiểu bằng cách dọn dẹp phân chó cũng sẽ giúp hạn chế bệnh Điều này có thể thực hiện được trong không gian nhỏ, nhưng kiểm soát của phân chó trên thực tế là khó khăn Ký sinh trùng cũng có thể lây truyền giữa nai hoang dã và chó sói Bắc Mỹ Khu vực đồng cỏ và cỏ khô hay thức ăn lưu trữ nên được rào chắn

để giữ cho chó sói Bắc Mỹ và chó hoang dã khác vào Cách phòng ngừa tốt

nhất là hạn chế sự nhiễm trứng sán Taenia hydatigena vào nguồn thức ăn,

nước uống của vật nuôi (Junquera P., 2013) [25]

Ngày đăng: 01/09/2020, 12:00

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 4.1. Tỷ lệ và cường độ nhiễm ấu trùng Cysticercus tenuicollis - Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ bệnh do ấu trùng sán dây Cysticercus tenuicollis gây ra ở dê tại một số địa phương thuộc tỉnh Thái Nguyên và đề xuất biện pháp phòng chống.
Bảng 4.1. Tỷ lệ và cường độ nhiễm ấu trùng Cysticercus tenuicollis (Trang 44)
Bảng 4.2. Tỷ lệ và cường độ nhiễm ấu trùng Cysticercus tenuicollis ở dê - Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ bệnh do ấu trùng sán dây Cysticercus tenuicollis gây ra ở dê tại một số địa phương thuộc tỉnh Thái Nguyên và đề xuất biện pháp phòng chống.
Bảng 4.2. Tỷ lệ và cường độ nhiễm ấu trùng Cysticercus tenuicollis ở dê (Trang 46)
Bảng 4.3. Tỷ lệ và cường độ nhiễm ấu trùng Cysticercus tenuicollis ở dê - Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ bệnh do ấu trùng sán dây Cysticercus tenuicollis gây ra ở dê tại một số địa phương thuộc tỉnh Thái Nguyên và đề xuất biện pháp phòng chống.
Bảng 4.3. Tỷ lệ và cường độ nhiễm ấu trùng Cysticercus tenuicollis ở dê (Trang 47)
Bảng 4.3 và hình 4.3 thấy: - Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ bệnh do ấu trùng sán dây Cysticercus tenuicollis gây ra ở dê tại một số địa phương thuộc tỉnh Thái Nguyên và đề xuất biện pháp phòng chống.
Bảng 4.3 và hình 4.3 thấy: (Trang 48)
Bảng 4.5. Thành phần và sự phân bố các loài sán dây ký sinh ở chó nuôi - Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ bệnh do ấu trùng sán dây Cysticercus tenuicollis gây ra ở dê tại một số địa phương thuộc tỉnh Thái Nguyên và đề xuất biện pháp phòng chống.
Bảng 4.5. Thành phần và sự phân bố các loài sán dây ký sinh ở chó nuôi (Trang 50)
Bảng 4.6. Tỷ lệ và cường độ nhiễm sán dây Taenia hydatigena ở chó tại - Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ bệnh do ấu trùng sán dây Cysticercus tenuicollis gây ra ở dê tại một số địa phương thuộc tỉnh Thái Nguyên và đề xuất biện pháp phòng chống.
Bảng 4.6. Tỷ lệ và cường độ nhiễm sán dây Taenia hydatigena ở chó tại (Trang 52)
Bảng 4.7. Tương quan giữa tỷ lệ nhiễm sán dây Taenia hydatigena - Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ bệnh do ấu trùng sán dây Cysticercus tenuicollis gây ra ở dê tại một số địa phương thuộc tỉnh Thái Nguyên và đề xuất biện pháp phòng chống.
Bảng 4.7. Tương quan giữa tỷ lệ nhiễm sán dây Taenia hydatigena (Trang 53)
Hình 4.6: Đồ thị tương quan giữa tỷ lệ nhiễm sán dây Taenia hydatigena - Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ bệnh do ấu trùng sán dây Cysticercus tenuicollis gây ra ở dê tại một số địa phương thuộc tỉnh Thái Nguyên và đề xuất biện pháp phòng chống.
Hình 4.6 Đồ thị tương quan giữa tỷ lệ nhiễm sán dây Taenia hydatigena (Trang 54)
Bảng 4.8. Triệu chứng lâm sàng chủ yếu của dê bị bệnh do ấu trùng - Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ bệnh do ấu trùng sán dây Cysticercus tenuicollis gây ra ở dê tại một số địa phương thuộc tỉnh Thái Nguyên và đề xuất biện pháp phòng chống.
Bảng 4.8. Triệu chứng lâm sàng chủ yếu của dê bị bệnh do ấu trùng (Trang 55)
Bảng 4.9. Tỷ lệ các khí quan có ấu trùng Cysticercus tenuicollis ký sinh và - Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ bệnh do ấu trùng sán dây Cysticercus tenuicollis gây ra ở dê tại một số địa phương thuộc tỉnh Thái Nguyên và đề xuất biện pháp phòng chống.
Bảng 4.9. Tỷ lệ các khí quan có ấu trùng Cysticercus tenuicollis ký sinh và (Trang 56)
Bảng 4.10. Bệnh tích đại thể ở các khí quan có ấu trùng Cysticercus tenuicollis - Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ bệnh do ấu trùng sán dây Cysticercus tenuicollis gây ra ở dê tại một số địa phương thuộc tỉnh Thái Nguyên và đề xuất biện pháp phòng chống.
Bảng 4.10. Bệnh tích đại thể ở các khí quan có ấu trùng Cysticercus tenuicollis (Trang 58)
Hình 1: Mổ khám dê tìm ấu - Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ bệnh do ấu trùng sán dây Cysticercus tenuicollis gây ra ở dê tại một số địa phương thuộc tỉnh Thái Nguyên và đề xuất biện pháp phòng chống.
Hình 1 Mổ khám dê tìm ấu (Trang 65)
Hình 2: Ấu trùng Cys. - Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ bệnh do ấu trùng sán dây Cysticercus tenuicollis gây ra ở dê tại một số địa phương thuộc tỉnh Thái Nguyên và đề xuất biện pháp phòng chống.
Hình 2 Ấu trùng Cys (Trang 65)
Hình 5: Ấu trùng Cys. - Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ bệnh do ấu trùng sán dây Cysticercus tenuicollis gây ra ở dê tại một số địa phương thuộc tỉnh Thái Nguyên và đề xuất biện pháp phòng chống.
Hình 5 Ấu trùng Cys (Trang 66)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm