Xuất phát từ những đòi hỏi trên, được sự đồng ý của khoa Chăn nuôi Thú y, được sự phân công của thầy, cô giáo hướng dẫn và sự tiếp nhận của Công ty CP Bình Minh, xã Phù Lưu Tế, huyện Mỹ
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NGUYỄN THỊ XUYÊN
Tên đề tài:
ĐIỀU TRA TÌNH HÌNH MẮC BỆNH PHÂN TRẮNG LỢN CON
VÀ BIỆN PHÁP ĐIỀU TRỊ BỆNH TẠI CÔNG TY
CP BÌNH MINH, HUYỆN MỸ ĐỨC HÀ NỘI
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Thú y
Khóa học : 2010 - 2015
Thái Nguyên, năm 2014
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NGUYỄN THỊ XUYÊN
Tên đề tài:
ĐIỀU TRA TÌNH HÌNH MẮC BỆNH PHÂN TRẮNG LỢN CON
VÀ BIỆN PHÁP ĐIỀU TRỊ BỆNH TẠI CÔNG TY
CP BÌNH MINH, HUYỆN MỸ ĐỨC HÀ NỘI
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành : Thú y
Giảng viên hướng dẫn : TS Phạm Thị Hiền Lương
Thái Nguyên, năm 2014
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong suốt thời gian nghiên cứu, để hoàn thành khóa luận của mình, tôi
đã nhận được sự chỉ bảo tận tình của cô giáo hướng dẫn, sự giúp đỡ của BCN khoa Chăn nuôi Thú y, và trang trại chăn nuôi lợn của công ty CP Bình Minh Tôi cũng nhận được sự cộng tác nhiệt tình của các bạn đồng nghiệp, sự giúp
đỡ, cổ vũ động viên của người thân trong gia đình
Nhân dịp này tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo TS Phạm Thị Hiền Lương đã rất tận tình và trực tiếp hướng dẫn tôi thực hiện đề tài và hoàn thành khóa luận này
Tôi xin cảm ơn BCN khoa Chăn nuôi Thú y đã tạo điều kiện thuận lợi
và cho phép tôi thực hiện đề tài tốt nghiệp đại học
Tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành tới Công ty CP Bình Minh, chủ trang trại, cùng toàn thể anh chị em công nhân trong trang trại về sự hợp tác giúp đỡ bố trí thí nghiệm, theo dõi các chỉ tiêu và thu thập số liệu làm cơ sở cho khóa luận này
Tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới gia đình, người thân cùng bạn bè đồng nghiệp đã giúp đỡ động viên tôi trong suốt thời gian hoàn thành khóa luận
Tôi xin chân thành cảm ơn tất cả!
Thái Nguyên, ngày 05 tháng 12 năm 2014
Sinh viên
Nguyễn Thị Xuyên
Trang 4MỤC LỤC
Trang
Trang bìa phụ i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục các từ viết tắt iv
Danh mục bảng biểu v
Danh mục biểu đồ vi
Lời mở đầu vii
PHẦN 1: CÔNG TÁC PHỤC VỤ SẢN XUẤT 1
1.1 Điều tra cơ bản về xã Phù Lưu Tế, huyện Mỹ Đức, Hà Nội 1
1.1.1 Điều kiện tự nhiên 1
1.1.2 Điều kiện kinh tế, xã hội 2
1.1.3 Tình hình sản xuất nông nghiệp 3
1.1.4 Quá trình thành lập và phát triển của Công ty CP Bình Minh 6
1.1.5 Đánh giá chung 9
1.2 Nội dung và phương pháp thực hiện công tác phục vụ sản xuất 10
1.2.1 Nội dung công tác phục vụ sản xuất 10
1.2.2 Biện pháp thực hiện 11
1.2.3 Kết quả công tác phục vụ sản xuất 11
1.3 Kết luận và đề nghị 20
1.3.1 Kết luận 20
1.3.2 Đề nghị 21
Phần 2: CHUYÊN ĐỀ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC 22
2.1 Đặt vấn đề 22
2.2 Tổng quan tài liệu 23
2.2.1 Cơ sở khoa học của đề tài 23
2.2.2 Một số loại thuốc để điều trị bệnh phân trắng lợn con tại công ty CP Bình Minh 27
Trang 52.2.3 Tình hình nghiên cứu trong nước và ngoài nước 30
2.3 Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu 37
2.3.1 Đối tượng nghiên cứu, địa điểm và thời gian nghiên cứu 37
2.3.2 Nội dung nghiên cứu 37
2.3.3 Phương pháp nghiên cứu 37
2.4 Kết quả và thảo luận 39
2.4.1 Tình hình mắc bệnh phân trắng ở lợn con tại Công ty CP Bình Minh 39
2.4.2 Hiệu quả điều trị bệnh phân trắng lợn con theo hai phác đồ 47
2.5 Kết luận và đề nghị 49
2.5.1 Kết luận 49
2.5.2 Tồn tại 50
2.5.3 Đề nghị 50
TÀI LIỆU THAM KHẢO 51 PHỤ LỤC
Trang 7DANH MỤC BẢNG BIỂU
Trang
Bảng 1.1 Diện tích và sản lượng một số cây trồng chính từ năm 2011 đến
năm 2013 4
Bảng 1.2 Số lượng gia súc, gia cầm của xã năm 2011 - 2013 5
Bảng 1.3 Lịch sát trùng trại lợn nái 14
Bảng 1.4 Lịch phòng bệnh của trại lợn nái 15
Bảng 1.5 Kết quả công tác phục vụ sản xuất 20
Bảng 2.1 Sơ đồ bố trí thí nghiệm 38
Bảng 2.2 Tỷ lệ lợn con mắc bệnh theo đàn và theo cá thể (%) 39
Bảng 2.3 Tỷ lệ lợn con mắc bệnh phân trắng theo lứa tuổi (%) 41
Bảng 2.4 Tỷ lệ lợn con mắc bệnh phân trắng theo tháng điều tra 43
Bảng 2.5 Tỷ lệ lợn con mắc bệnh phân trắng theo nhiệt độ và độ ẩm trong chuồng trại 44
Bảng 2.6 Tỷ lệ lợn con chết do bệnh phân trắng lợn con (%) 46
Bảng 2.7 Hiệu quả điều trị bệnh phân trắng lợn con theo hai phác đồ 47
Bảng 2.8 Chi phí thuốc thú y dùng trong điều trị bệnh phân trắng ở lợn con 49
Trang 8DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Trang
Biểu đồ 2.1 : Tỷ lệ lợn con mắc bệnh phân trắng theo tháng điều tra 44
Trang 9có trình độ chuyên môn có năng lực công tác Vì vậy, thực tập tốt nghiệp rất cần thiết đối với mỗi sinh viên cuối khoá học trước khi ra trường
Xuất phát từ những đòi hỏi trên, được sự đồng ý của khoa Chăn nuôi Thú y, được sự phân công của thầy, cô giáo hướng dẫn và sự tiếp nhận của Công ty CP Bình Minh, xã Phù Lưu Tế, huyện Mỹ Đức, Hà Nội chúng tôi đã
tiến hành đề tài: “Điều tra tình hình mắc bệnh phân trắng lợn con và biện pháp điều trị bệnh tại Công ty CP Bình Minh, huyện Mỹ Đức, Hà Nội”.Trong thời gian thực tập được sự giúp đỡ nhiệt tình của chủ trại, cán bộ
kỹ thuật và toàn bộ công nhân trong trại cùng với sự chỉ bảo tận tình của các thầy, cô giáo và sự nỗ lực của bản thân, tôi đã hoàn thành tốt nhiệm vụ và thu được một số kết quả nghiên cứu nhất định
Do bước đầu làm quen với công tác nghiên cứu khoa học, kiến thức chuyên môn chưa sâu, kinh nghiệm thực tế chưa nhiều và thời gian thực tập còn ngắn nên trong bản khóa luận này của tôi không tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót Tôi kính mong nhận được những ý kiến đóng góp quý báu của thầy, cô giáo cùng các bạn đồng nghiệp để bản khóa luận của tôi được hoàn thiện hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Trang 10PHẦN 1 CÔNG TÁC PHỤC VỤ SẢN XUẤT 1.1 Điều tra cơ bản về xã Phù Lưu Tế, huyện Mỹ Đức, Hà Nội
1.1.1 Điều kiện tự nhiên
1.1.1.1 Vị trí địa lý
Xã Phù Lưu Tế là một xã nằm trên địa bàn huyện Mỹ Đức, Hà Nội,
cách thị trấn Vân Đình 12 km về phía Nam
Xã Phù Lưu Tế có địa giới hành chính như sau: Phía Tây giáp xã Xuy
Xá, phía Nam giáp thị trấn Đại Nghĩa, phía Bắc giáp xã Hòa Xá của huyện Ứng Hòa, phía Đông giáp xã Phùng Xá
1.1.1.2 Điều kiện địa hình, đất đai
Phù Lưu Tế có địa hình tương đối bằng phẳng Toàn xã có tổng diện tích đất tự nhiên là 6,71km2 Trong đó đất nông nghiệp là 318,366 ha, chiếm 47,45%, đất phi nông nghiệp là 333,82 ha (chiếm 49,75%), đất chưa sử dụng
là 18,81 ha, chiếm 2,8%
Đất đai đa dạng, thích hợp với nhiều loại cây lương thực, thực phẩm và cây công nghiệp
1.1.1.3 Giao thông vận tải
Giao thông ở đây khá phát triển, thuận tiện cho việc giao lưu, đi lại của người dân địa phương Hầu hết các tuyến đường đã được trải nhựa hoặc rải cấp phối Ở các thôn còn tự xây dựng các đoạn đường tự quản Hiện nay, xã đang nâng cấp tuyến đường 430, đoạn chạy ra trục đường 21B đi Hà Nam
1.1.1.4 Điều kiện khí hậu thời tiết
Xã Phù Lưu Tế nằm trong khu vực đồng bằng Bắc Bộ nên khí hậu mang tính chất chung của khí hậu miền Bắc Việt Nam, khí hậu nhiệt đới gió mùa
- Lượng mưa hàng năm cao nhất là 2,157 mm, thấp nhất là 1,060 mm, trung bình là 1,567 mm, lượng mưa tập trung chủ yếu từ tháng 6 đến tháng 7 trong năm
Trang 11- Độ ẩm không khí trung bình hàng năm là 82%, độ ẩm cao nhất là 88%, thấp nhất là 67%
- Nhiệt độ trung bình trong năm là 21oC đến 23oC, mùa nóng tập trung vào tháng 6 đến tháng 7 Do ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc và gió mùa Đông Nam nên có sự chênh lệch về nhiệt độ trung bình giữa các mùa trong năm
- Về chế độ gió, gió mùa Đông Nam thổi từ tháng 3 đến tháng 10, gió mùa Đông Bắc thổi từ tháng 11 đến tháng 2 năm sau
1.1.2 Điều kiện kinh tế, xã hội
và gần trục đường giao thông chính, mật độ dân cư đông, sống tập trung hơn Dân tộc ở đây chủ yếu là dân tộc Kinh (chiếm 96%), bên cạnh đó còn
có một số dân tộc ít người như: Mường, Thái, H’Mông (chiếm 4%) Người dân trong xã cần cù trong lao động, sáng tạo trong sản xuất, đoàn kết trong nếp sống
1.1.2.2 Cơ cấu kinh tế
Phù Lưu Tế chủ yếu sản xuất lương thực, chăn nuôi gia súc-gia cầm, nuôi trồng thủy sản Nhờ được đầu tư hệ thống mương máng tốt mà người dân có thể trồng hai vụ lúa và một vụ hoa màu trong một năm Trong những năm gần đây, xã đã chú trọng chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo hướng sản xuất hàng hóa, nâng cấp hệ thống chợ nông thôn để phát triển thương mại Năm
2011, giá trị sản xuất công nghiệp, thủ công nghiệp, xây dựng trên địa bàn xã đạt 46.80 triệu đồng Ngành tiểu thủ công nghiệp chậm phát triển, rải rác còn một số hộ trồng dâu, nuôi tằm, dệt vải, đan cói…
Trang 121.1.2.3 Văn hóa xã hội
- Giáo dục:
Trong những năm gần đây ngành giáo dục của xã Phù Lưu Tế có những bước phát triển mạnh cả về số lượng và chất lượng giáo dục Xã đã đầu tư một số trang thiết bị, đồ dùng phục vụ cho giáo viên và học sinh trong quá trình dạy và học Trong xã có:
+ 2 trường mẫu giáo
+ 1 trường tiểu học
+ 1 trường trung học cơ sở
+ Trung tâm hướng nghiệp, bồi dưỡng chính trị huyện cũng được đặt tại xã Phù Lưu Tế
Xã đã phổ cập giáo dục Tiểu học và Trung học cơ sở
Đa số người dân có trình độ dân trí cao
1.1.3 Tình hình sản xuất nông nghiệp
1.1.3.1 Tình hình sản xuất ngành trồng trọt
Trồng trọt là ngành chiếm tỷ trọng lớn trong sản xuất nông nghiệp Diện tích và sản lượng của một số cây trồng chính được trình bày ở bảng 1.1:
Trang 13Bảng 1.1 Diện tích và sản lượng một số cây trồng chính
từ năm 2011 đến năm 2013 Năm
Cây
trồng
Diện tích (ha)
Sản lượng (tấn)
Diện tích (ha)
Sản lượng (tấn)
Diện tích (ha)
Sản lượng (tấn)
(Nguồn UBND xã Phù Lưu Tế)
Qua bảng 1.1 cho thấy: Mấy năm trở lại đây, diện tích và sản lượng một
số loại cây trồng chính có những biến động nhất định Lúa vẫn là cây trồng chủ đạo trên địa bàn xã, với tổng diện tích năm 2011 là 380 ha, sản lượng đạt 2.538 tấn, đến năm 2013, thì diện tích giảm xuống còn 186,7ha nhưng sản lượng đạt 1.344 tấn, tuy diện tích có giảm nhưng năng suất vẫn đạt 7,2 tấn/ha, là do người dân đã ứng dụng những tiến bộ khoa học kĩ thuật vào sản xuất, đưa năng suất lên cao Diện tích và sản lượng ngô giảm mạnh, thay vào đó là các cây công nghiệp và hoa màu ngắn ngày, nhưng đem lại năng suất cao như khoai tây, lạc, bắp cải, su hào,… vào sản xuất đã đem lại hiệu quả kinh tế cao cho người dân Nguyên nhân của sự thay đổi đó là do người dân thay đổi cơ cấu cây trồng, tăng vốn đầu tư cho những loại cây trồng đạt hiệu quả kinh tế Việc đưa các loại cây có giá trị vào sản xuất được chú trọng, cho nên năng suất và sản lượng cây trồng không ngừng được nâng lên
1.1.3.2 Tình hình sản xuất ngành chăn nuôi
Số lượng gia súc, gia cầm của xã có sự biến động qua 3 năm gần đây
Kết quả điều tra số lượng gia súc, gia cầm được trình bày ở bảng 1.2:
Trang 14Bảng 1.2 Số lượng gia súc, gia cầm của xã năm 2011 - 2013
Qua bảng 1.2 cho thấy:
- Chăn nuôi trâu, bò: Số lượng trâu giảm nhẹ qua các năm Năm 2011 toàn
xã có 138 con trâu, đến năm 2013, số lượng đàn trâu giảm xuống còn 115 con.Số lượng bò giảm từ 258 con trong năm 2011, xuống 235 con vào năm 2013
- Chăn nuôi lợn: Những năm gần đây trên địa bàn các xã xuất hiện một
số gia đình chăn nuôi từ 10 - 20 lợn nái sinh sản và vài trăm lợn thịt, cùng với
sự thành lập và phát triển của trang trại chăn nuôi gia công trên địa bàn huyện, do đó số lượng đàn lợn của xã không ngừng tăng lên qua các năm Năm 2011, số lượng là 9.898 con, đến năm 2013 số lượng tăng lên 12.000 con Nguyên nhân là một số công ty liên doanh như CP, Dabaco… tập trung đầu tư vốn và kỹ thuật, người dân thuê đất đai và nhân lực để hợp tác phát triển chăn nuôi
- Chăn nuôi gia cầm: Số lượng đàn gia cầm tăng lên rõ rệt Năm 2011,
số lượng đàn gia cầm là 46.658 con nhưng đến năm 2013 số lượng đàn đã tăng lên 54.000 con Có sự tăng lên không ngừng về số lượng đàn như vậy là
do mấy năm trở lại đây người chăn nuôi đã chú trọng hơn trong công tác chăm sóc, nuôi dưỡng, phòng trừ dịch bệnh, công tác tiêm phòng được thực hiện triệt để Giá bán sản phẩm chưa cao nhưng đã đem lại hiệu quả kinh tế cho người chăn nuôi
Trang 15* Công tác thú y: Huyện Mỹ Đức hàng năm đã tổ chức tốt kế hoạch tiêm phòng cho đàn gia súc, gia cầm Công tác kiểm tra xuất nhập con giống
và kiểm soát giết mổ được thực hiện nghiêm ngặt
Hiện nay, người dân đã nhận thức được lợi ích của việc tiêm phòng cho đàn gia súc, gia cầm nên công tác tiêm phòng đạt hiệu quả cao, góp phần làm giảm thiểu thiệt hại đối với sản xuất Hàng năm vào tháng 3 - 4 và tháng 9 – 10, Trạm Thú y huyện Mỹ Đức kết hợp với thú y cơ sở ở xã tiến hành tiêm phòng tất cả đàn trâu, bò, lợn, gia cầm và chó
- Với trâu, bò: Tiêm vaccine Tụ huyết trùng, Lở mồm long móng
- Với lợn: Tiêm vaccine Tụ dấu, Dịch tả, Tai xanh
- Với gia cầm: Tiêm vaccine cúm H5N1, Newcastle
Vì vậy, công tác thú y ở xã đã đảm bảo an toàn dịch bệnh cho đàn gia súc - gia cầm, thực hiện nghiêm Pháp lệnh thú y
1.1.4 Quá trình thành lập và phát triển của Công ty CP Bình Minh
1.1.4.1 Quá trình thành lập
Công ty CP Bình Minh nằm trên địa phận xã Phù Lưu Tế, huyện Mỹ Đức, Hà Nội Trang trại được thành lập năm 2008, là trại lợn gia công của Công ty Chăn nuôi CP Việt Nam (Công ty TNHH Charoen Pokphand Việt Nam) Hoạt động theo phương thức chủ trại xây dựng cơ sở vật chất, thuê công nhân, công ty đưa tới giống lợn, thức ăn, thuốc thú y, cán bộ kỹ thuật Hiện nay, trang trại do ông Nguyễn Sĩ Bình làm chủ trại, cán bộ kỹ thuật của Công ty Chăn nuôi CP Việt Nam chịu trách nhiệm giám sát mọi hoạt động của trang trại
1.1.4.2 Cơ cấu tổ chức của trang trại
Cơ cấu của trại được tổ chức như sau:
01 chủ trại
01 quản lý trại
02 quản lý kỹ thuật
26 công nhân
Trang 16Với đội ngũ công nhân trên, trại phân ra làm các tổ nhóm khác nhau như tổ chuồng đẻ, tổ chuồng nái chửa, nhà bếp Mỗi một khâu trong quy trình chăn nuôi, đều được khoán đến từng công nhân, nhằm nâng cao tinh thần trách nhiệm, thúc đẩy sự phát triển của trang trại
1.1.4.3 Cơ sở vật chất của trang trại
Công ty CP Bình Minh nằm ở khu vực cánh đồng rộng lớn thuộc thôn Trung, có địa hình tương đối bằng phẳng với diện tích là 10,2 ha Trong đó:
- Đất trồng cây ăn quả: 2,3 ha
- Đất xây dựng: 2,5 ha
- Đất trồng lúa: 2,4 ha
- Ao, hồ chứa nước và nuôi cá: 3 ha
Trang trại đã dành khoảng 0,5 ha đất để xây dựng nhà điều hành, nhà ở cho công nhân, bếp ăn, các công trình phục vụ cho công nhân và các hoạt động khác của trại
Khu chăn nuôi được quy hoạch bố trí xây dựng hệ thống chuồng trại cho 1200 nái cơ bản bao gồm: 6 chuồng đẻ (mỗi chuồng có 56 ô), 2 chuồng nái chửa (mỗi chuồng có 560 ô), 3 chuồng cách ly, 1 chuồng đực giống, cùng một số công trình phụ phục vụ cho chăn nuôi như: Kho thức ăn, phòng sát trùng, phòng pha tinh, kho thuốc
Hệ thống chuồng xây dựng khép kín hoàn toàn Phía đầu chuồng là hệ thống giàn mát, cuối chuồng có 3 quạt thông gió đối với các chuồng đẻ, 8 quạt thông gió đối với chuồng nái chửa và 2 quạt đối với chuồng cách ly, 2 quạt đối với chuồng đực Hai bên tường có dãy cửa sổ lắp kính Mỗi cửa sổ có diện tích 1,5m2, cách nền 1,2m, mỗi cửa sổ cách nhau 40cm Trên trần được lắp hệ thống chống nóng bằng tôn lạnh
Phòng pha tinh của trại được trang bị các dụng cụ hiện đại như: Máy đếm mật độ tinh trùng, kính hiển vi, thiết bị cảm ứng nhiệt, các dụng cụ đóng liều tinh, nồi hấp cách thủy dụng cụ và một số thiết bị khác
Trang 17Trong khu chăn nuôi, đường đi lại giữa các ô chuồng, các khu khác đều được đổ bê tông và có các hố sát trùng
Hệ thống nước trong khu chăn nuôi đều là nước giếng khoan Nước uống cho lợn được cấp từ một bể lớn, xây dựng ở đầu chuồng nái đẻ 6 và chuồng nái chửa 2 Nước tắm và nước xả gầm, phục vụ cho công tác khác, được bố trí từ tháp bể lọc và được bơm qua hệ thống ống dẫn tới bể chứa ở giữa các chuồng
1.1.4.4 Tình hình sản xuất của trang trại
* Công tác chăn nuôi:
Nhiệm vụ chính của trang trại là sản xuất con giống và chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật
Hiện nay, trung bình lợn nái của trại sản xuất được 2,45 - 2,47 lứa/năm
Số con sơ sinh là 11,23 con/đàn, số con cai sữa: 10,7 con/đàn Trại hoạt động vào mức khá theo đánh giá của Công ty Chăn nuôi CP Việt Nam
Tại trại, lợn con theo mẹ được nuôi đến 21 ngày tuổi, chậm nhất là
26 ngày thì tiến hành cai sữa và chuyển sang các trại chăn nuôi lợn giống của công ty
Trong trại có 18 con lợn đực giống được chuyển về cùng một đợt, các lợn đực giống này được nuôi nhằm mục đích kích thích động dục cho lợn nái
và khai thác tinh để thụ tinh nhân tạo Tinh lợn được khai thác từ 2 giống lợn Pietrain và Duroc Lợn nái được phối 3 lần và được luân chuyển giống cũng như con đực
Thức ăn cho lợn nái là thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh có chất lượng cao, được Công ty Chăn nuôi CP Việt Nam cấp cho từng đối tượng lợn của trại
* Công tác vệ sinh:
Hệ thống chuồng trại luôn đảm bảo thoáng mát về mùa hè, ấm áp về mùa đông Hàng ngày luôn có công nhân quét dọn vệ sinh chuồng trại, thu gom phân, nước tiểu, khơi thông cống rãnh, đường đi trong trại được quét dọn, phun thuốc sát trùng, hành lang đi lại được quét dọn và rắc vôi theo quy định
Công nhân, kỹ sư, khách tham quan khi vào khu chăn nuôi đều phải sát trùng tại nhà sát trùng, tắm bằng nước sạch trước khi thay quần áo bảo hộ lao động
Trang 18* Công tác phòng bệnh:
Trong khu vực chăn nuôi hạn chế đi lại giữa các chuồng, hành lang giữa các chuồng và bên ngoài chuồng đều được rắc vôi bột, các phương tiện vào trại được sát trùng một cách nghiêm ngặt ngay tại cổng vào Với phương
châm “phòng bệnh là chính” nên tất cả lợn ở đây đều được cho uống thuốc,
tiêm phòng vaccine đầy đủ
Quy trình phòng bệnh bằng vaccine luôn được trang trại thực hiện nghiêm túc, đầy đủ và đúng kỹ thuật Đối với từng loại lợn có quy trình tiêm riêng, từ lợn nái, lợn hậu bị, lợn đực, lợn con Lợn được tiêm vaccine ở trạng thái khỏe mạnh, được chăm sóc nuôi dưỡng tốt, không mắc các bệnh truyền nhiễm và các bệnh mạn tính khác để tạo được trạng thái miễn dịch tốt nhất cho đàn lợn Tỷ lệ tiêm phòng vaccine cho đàn lợn luôn đạt 100%
* Công tác trị bệnh:
Cán bộ kỹ thuật của trang trại có nhiệm vụ theo dõi, kiểm tra đàn lợn thường xuyên, các bệnh xảy ra ở lợn nuôi tại trang trại luôn được kỹ thuật viên phát hiện sớm, cách ly, điều trị ở ngay giai đoạn đầu, nên điều trị đạt hiệu quả từ 80 - 90% trong một thời gian ngắn Vì vậy, không gây thiệt hại
Trang 19Con giống tốt, thức ăn, thuốc chất lượng cao, quy trình chăn nuôi khép kín và khoa học đã mang lại hiệu quả chăn nuôi cao cho trang trại
1.1.5.2 Khó khăn
Dịch bệnh diễn biến phức tạp nên chi phí dành cho phòng và chữa bệnh lớn, làm ảnh hưởng đến giá thành và khả năng sinh sản của lợn
Trang thiết bị vật tư, hệ thống chăn nuôi đã cũ, có phần bị hư hỏng
Số lượng lợn nhiều, lượng nước thải lớn, việc đầu tư cho công tác xử lý nước thải của trại còn nhiều khó khăn
1.2 Nội dung và phương pháp thực hiện công tác phục vụ sản xuất
1.2.1 Nội dung công tác phục vụ sản xuất
1.2.1.1 Công tác chăn nuôi
Tìm hiểu về quy trình chăn nuôi các loại lợn: Lợn nái chửa, nái nuôi con, lợn con theo mẹ, lợn đực
Nắm vững đặc điểm của các giống lợn có ở trại
Tham gia công tác vệ sinh, chăm sóc nuôi dưỡng đàn lợn
Tham gia đỡ đẻ cho lợn nái, bấm số tai, bấm nanh, cắt đuôi cho lợn con, làm ổ úm cho lợn con
Tham gia công tác phát hiện lợn động dục và phối giống cho lợn nái động dục
Tham gia điều tra sổ sách của trại và lập sổ sách theo dõi từng cá thể, ghi chép các chỉ tiêu sinh lý sinh sản
Tiến hành đề tài nghiên cứu khoa học trên đàn lợn thí nghiệm của trang trại
1.2.1.2 Công tác thú y
Tiêm phòng vaccine cho đàn lợn theo quy trình tiêm phòng của trại Phun thuốc sát trùng chuồng trại, vệ sinh dụng cụ chăn nuôi theo quy trình vệ sinh thú y
Chẩn đoán và điều trị một số bệnh mà đàn lợn mắc phải trong quá trình thực tập
Tham gia vào các công tác khác của công ty như: chuyên môn, đoàn thể
Trang 20Vận dụng những kiến thức lý thuyết ở trường, lớp vào công việc chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho đàn lợn
Thực hiện bám sát cơ sở sản xuất và đi sâu kiểm tra, tìm hiểu quy trình chăn nuôi của trại
Khiêm tốn, hòa nhã với mọi người, không ngại khó, ngại khổ tham gia vào các công việc của trại
Thường xuyên xin ý kiến chỉ đạo của giáo viên hướng dẫn để có những bước đi đúng đắn
Trực tiếp tham gia chăm sóc, nuôi dưỡng đàn lợn thí nghiệm
Tham khảo sổ sách theo dõi của trại và trao đổi các vấn đề chuyên môn với cán bộ kỹ thuật trại và chủ trang trại
1.2.3 Kết quả công tác phục vụ sản xuất
Trong thời gian thực tập tại trang trại được sự giúp đỡ của ban lãnh đạo
và đội ngũ cán bộ công nhân viên trong trang trại cùng với sự cố gắng của bản
thân tôi đã thu được các kết quả sau:
1.2.3.1 Công tác chăn nuôi
Công tác vệ sinh trong chăn nuôi là một trong những khâu rất quan trọng Nếu công tác vệ sinh được thực hiện tốt thì gia súc ít mắc bệnh, sinh trưởng và phát triển tốt, chi phí thuốc thú y thấp, làm cho hiệu quả chăn nuôi cao hơn Do nhận thức rõ được điều này nên trong suốt thời gian thực tập, tôi
đã thực hiện tốt các công việc như:
Trang 21* Công tác chăm sóc nuôi dưỡng
Trong quá trình thực tập tại trang trại, tôi đã tham gia chăm sóc nái chửa, nái đẻ, tham gia đỡ đẻ, chăm sóc cho lợn con theo mẹ đến cai sữa Trực
vệ sinh, chăm sóc, theo dõi đàn lợn thí nghiệm Thực hiện quy trình chăm sóc nái chửa, nái chờ đẻ, nái đẻ, đàn lợn con theo mẹ đến khi cai sữa như sau:
- Đối với nái chửa:
Lợn nái chửa được nuôi chủ yếu ở chuồng nái chửa 1 và 2 Hàng ngày vào kiểm tra lợn để phát hiện lợn phối không đạt, lợn nái bị sảy thai, lợn mang thai giả, vệ sinh, dọn phân không để cho lợn nằm đè lên phân, lấy thức
ăn cho lợn ăn, rửa máng, phun thuốc sát trùng hàng ngày, xịt gầm, cuối giờ chiều phải chở phân ra khu xử lý phân Lợn nái chửa được ăn loại thức ăn
566, 567SF với khẩu phần ăn tùy theo tuần chửa, thể trạng, lứa đẻ như sau: Đối với nái chửa từ tuần chửa 1 đến tuần chửa 12 ăn thức ăn 566 với tiêu chuẩn 1,5 - 2 kg/con/ngày, cho ăn 1 lần trong ngày
Đối với nái chửa từ tuần 13 đến tuần chửa 14 ăn thức ăn 566 với tiêu chuẩn 2,5 - 3 kg/con/ngày, cho ăn 1 lần trong ngày
Đối với nái chửa từ tuần 15 trở đi được ăn thức ăn 567SF với tiêu chuẩn 3,5 - 4 kg/con/ngày, cho ăn 1 lần trong ngày
- Đối với nái đẻ:
Lợn nái chửa được chuyển lên chuồng đẻ trước ngày đẻ dự kiến 7 - 10 ngày Trước khi chuyển lợn lên chuồng đẻ, chuồng phải được dọn dẹp, sát trùng và cọ, rửa sạch sẽ Lợn chuyển lên phải được ghi đầy đủ thông tin lên bảng ở đầu mỗi ô chuồng Thức ăn của lợn chờ đẻ được cho ăn với tiêu chuẩn
ăn 3 kg/ngày, chia làm 2 bữa sáng, chiều
Lợn nái chửa trước ngày đẻ dự kiến 3 ngày, giảm tiêu chuẩn ăn xuống 0,5 kg/con/bữa
Khi lợn nái đẻ được 2 ngày tăng dần lượng thức ăn từ 0,5 - 5 kg/con/ngày chia làm hai bữa sáng, chiều Đối với nái nuôi con quá gầy hoặc nuôi nhiều con có thể cho ăn tăng lượng thức ăn lên 6 kg/con/ngày
Trang 22- Đối với đàn lợn con theo mẹ đến khi cai sữa:
+ Ngay sau khi đẻ ra lợn được tiến hành cắt rốn, bấm nanh
+ Lợn con 2 - 3 ngày tuổi được cắt số tai, cắt đuôi và tiêm sắt, cho uống thuốc phòng phân trắng lợn con và tiêu chảy
+ Lợn con 3 - 4 ngày tuổi cho lợn con uống thuốc phòng cầu trùng + Lợn con 4 - 5 ngày tuổi tiến hành thiến lợn đực
+ Lợn con được từ 4 - 6 ngày tuổi tập cho ăn bằng thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh 550SF
+ Lợn con được 16 - 18 ngày tuổi tiêm phòng dịch tả
+ Lợn con được 21 - 26 ngày tuổi tiến hành cai sữa cho lợn
* Thụ tinh nhân tạo cho lợn nái
- Bước 1: Trước khi dẫn tinh cho lợn nái, quan sát triệu chứng động dục
trước đó và đã xác định khoảng thời gian dẫn tinh thích hợp nhất
- Bước 2: Chuẩn bị dụng cụ
- Bước 3: Chuẩn bị tinh dịch đảm bảo về thể tích (80 - 100 ml) và
số lượng tinh trùng tiến thẳng trong một liều dẫn (1,5 - 2,0 tỷ tinh trùng tiến thẳng)
- Bước 4: Vệ sinh lợn nái
- Bước 5: Dẫn tinh
- Bước 6: Sau khi dẫn tinh xong, phải vệ sinh dụng cụ sạch sẽ Số lần
lợn nái được dẫn tinh trong 1 chu kỳ động dục là 3 lần và được ghi lại trên thẻ nái Sau khi dẫn tinh được 21 - 25 ngày phải tiếp tục quan sát, kiểm tra kết
Trang 23quả thụ thai, phát hiện những lợn cái động dục lại để kịp thời dẫn tinh lại Kết quả thụ thai ở kỳ động dục nào được ghi vào kết quả thụ thai của chu kỳ động dục ấy
từ chuồng nái chửa 2 xuống Lịch sát trùng được trình bày qua bảng 1.1
Bảng 1.3 Lịch sát trùng trại lợn nái
Thứ
Trong chuồng
Ngoài Chuồng
Ngoài khu vực chăn nuôi
Chuồng nái
Chuồng cách ly
Phun sát trùng toàn bộ khu vực
Phun sát trùng toàn
bộ khu vực Thứ 3 Phun sát
Trùng
Phun sát trùng + quét vôi đường đi
Quét hoặc rắc vôi đường đi Thứ 4 Xả vôi xút
Thứ 5 Phun ghẻ Phun sát trùng
+ Xả vôi, xút gầm Phun ghẻ Thứ 6 Phun sát
Trùng
Phun sát trùng + Rắc vôi
Phun sát trùng
Phun sát Trùng
Phun sát trùng Thứ 7 Vệ sinh
tổng chuồng Vệ sinh tổng chuồng
Vệ sinh tổng chuồng
Vệ sinh tổng khu
Trang 24* Công tác phòng bệnh
Quy trình tiêm phòng, phòng bệnh cho đàn lợn của trang trại được thực hiện tích cực, thường xuyên và bắt buộc Tiêm phòng cho đàn lợn nhằm tạo ra trong cơ thể chúng miễn dịch chủ động, chống lại sự xâm nhập của vi khuẩn, tăng sức đề kháng cho cơ thể
Sau đây là quy trình phòng bệnh bằng thuốc và vaccine cho các loại lợn
Bảng 1.4 Lịch phòng bệnh của trại lợn nái
Loại lợn Tuần tuổi Phòng
bệnh
Vaccine/
Thuốc/chế phẩm
Đường đưa
thuốc
Liều lượng (ml/con)
Lợn con
Lợn hậu
bị
Lợn nái
sinh sản
Định kỳ hàng năm vào tháng 4, 8, 12 tiêm phòng bệnh tổng đàn vaccine giả dại Begonia tiêm bắp 2 ml/con
Đối với lợn đực:
- Lợn đực hậu bị mới nhập về: 3 tuần tiêm phòng vaccine dịch tả Coglapest, 4 tuần tiêm phòng vaccine lở mồng long móng Aftopor, vaccine giả dại Begonia
- Lợn đực đang khai thác tiêm phòng vào tháng 5, tháng 11 vaccine dịch tả Coglapest Tháng 4, 8, 12 tiêm phòng vaccine lở mồng long móng Aftopor, vaccine giả dại Begonia
Trang 25* Công tác chẩn đoán và điều trị bệnh
Để điều trị bệnh cho gia súc đạt hiệu quả cao, thì việc phát hiện bệnh kịp thời và chính xác giúp ta đưa ra được phác đồ điều trị tốt nhất làm giảm tỷ
lệ chết, giảm thời gian sử dụng thuốc và giảm thiệt hại về kinh tế Vì vậy, hàng ngày tôi cùng cán bộ kỹ thuật tiến hành kiểm tra, theo dõi đàn lợn ở tất
cả các ô chuồng để phát hiện ra những con bị ốm Trong thời gian thực tập, chúng tôi đã gặp và điều trị một số bệnh sau:
- Bệnh viêm tử cung
+ Nguyên nhân: Là một quá trình bệnh lí phức tạp có thể do rất nhiều nguyên nhân: Công tác phối giống không đúng, do lợn mẹ đẻ khó, bị sát nhau phải can thiệp bằng tay hoặc dụng cụ trợ sản làm tổn thương, xây xát niêm mạc cổ tử cung và âm đạo tạo điều kiện thuận lợi cho vi khuẩn bên ngoài xâm nhập vào gây viêm Do sàn chuồng không được vệ sinh sạch, lợn nái không được vệ sinh sạch sẽ trước và sau khi đẻ Mặt khác, do kế phát từ một số bệnh truyền nhiễm như: Bệnh sảy thai truyền nhiễm và phó thương hàn (Văn Lệ Hằng và cs, 2008) [7]
+ Triệu chứng: Khi bị bệnh, lợn biểu hiện một số triệu chứng chủ yếu: Thân nhiệt tăng cao, ăn uống giảm, lượng sữa giảm, con vật đau đớn, có khi cong lưng rặn, tỏ vẻ không yên tĩnh Âm hộ sưng đỏ Từ cơ quan sinh dục thải
ra ngoài dịch viêm màu trắng đục hoặc phớt hồng, có mùi tanh, thối khắm + Điều trị: Hạn chế quá trình viêm lan rộng, kích thích tử cung co bóp thải hết dịch viêm ra ngoài và đề phòng hiện tượng nhiễm trùng cho cơ thể, chúng tôi tiến hành điều trị như sau:
Tiêm một liều Oxytocin: 3 - 5 ml/con
Tiêm Analgin: 1ml/10kgTT/1lần/ngày
Tiêm Vetrimoxin: 1ml/10kgTT/1lần/2ngày
Điều trị liên tục trong 3 - 6 ngày
+ Kết quả:
Điều trị 5 con, khỏi 4 con, loại 1 con
Trang 26- Bệnh viêm vú
+ Nguyên nhân: Do các loài vi khuẩn: Liên, tụ cầu trùng, E.coli xâm
nhập vào tuyến vú qua da, do xây xát núm vú do răng nanh lợn con mới sinh,
do lợn mẹ nhiều sữa ứ đọng tạo nên môi trường cho vi khuẩn phát triển, hoặc
do quá nhiều sữa làm căng nhức, gây viêm
Do vệ sinh chuồng trại kém, phân, nước tiểu không thoát hết, nhiệt độ chuồng trại quá lạnh, quá nóng
Do việc dùng thuốc sát trùng tẩy uế chưa hợp lý trong khu trang trại cũng như trong chuồng lợn nái trước và sau khi đẻ
Do kế phát từ các bệnh viêm âm đạo, tử cung
+ Triệu chứng: Lợn nái bỏ ăn, nằm một chỗ, sốt cao, không cho con bú Tất cả các bầu vú hay một vài bầu vú bị viêm, đỏ, đau, nóng, sưng; có con bị viêm nặng, bầu vú tím bầm lại, sờ nắn bầu vú thấy cứng
Tiêm Analgin: 1ml/10kgTT/1lần/ngày
Tiêm Vetrimoxin: 1ml/10kgTT/1lần/2ngày
Điều trị liên tục trong 3 - 5 ngày
+ Kết quả: Phát hiện và điều trị 3 con, khỏi 100%
- Bệnh phân trắng lợn con
+ Nguyên nhân: Bệnh phân trắng ở lợn con là một hội chứng hoặc một
trạng thái lâm sàng rất đa dạng Do trực khuẩn E.coli thuộc họ
Enterobacteriaceae, nhiều loại Samonella (S.choleraesuis, S.typhysuis…) và
đóng vai trò phụ là: Proteus, Steptococcus Trong điều kiện bình thường vi khuẩn E.coli khu trú tự nhiên trong đường tiêu hoá của lợn, chủ yếu ở cuối
Trang 27ruột non và suốt ruột già Vi khuẩn này sẵn sàng tấn công vào cơ thể lợn khi
cơ thể lợn gặp những điều kiện bất lợi (Phạm Sĩ Lăng và cs, 2003) [8]
Do hệ thống phòng vệ của lợn con chưa hoàn chỉnh trong những ngày đầu tiên như: Lượng axit trong dạ dày lợn con rất ít nên không đủ ngăn cản sự tấn công, xâm nhập và tăng sinh của vi khuẩn vào ruột và gây bệnh
Do việc nuôi dưỡng chăm sóc lợn mẹ chưa hợp lý, chuồng trại ẩm ướt, rét mướt, vệ sinh kém, sữa mẹ kém
+ Triệu chứng: Bệnh thường gặp ở lợn con từ 5 - 21 ngày tuổi Lợn tiêu chảy phân màu vàng trắng, trắng xám, sau đó là vàng xanh, mùi phân hôi tanh Lợn mất nước và mất chất điện giải gầy sút nhanh, bú kém, đi lại không vững Bệnh kéo dài thì bụng tóp lại, lông xù, hậu môn và đuôi dính phân bê bết Nếu không điều trị kịp thời thì lợn con chết rất nhanh
+ Điều trị:
Bệnh phân trắng lợn con có thể điều trị bằng nhiều loại thuốc Tại trang trại điều trị bằng thuốc sau:
Nova - Ampicol: 2 g/lít nước cho uống
Điều trị liên tục trong 3 - 4 ngày
+ Kết quả: Trong thời gian thực tập tại trang trại, tôi đã phát hiện và điều trị tổng số con mắc bệnh phân trắng là 43 con, trong đó điều trị khỏi là
38 con, đạt 83,37%
- Bệnh viêm phổi
+ Nguyên nhân: Do Mycoplasma hyopneumoniae gây ra Bệnh xảy ra
trên lợn con ngay từ khi mới sinh ra Bệnh xâm nhập chủ yếu qua đường hô hấp Do điều kiện chăn nuôi vệ sinh chuồng trại kém, thời tiết thay đổi…, do sức đề kháng của lợn giảm Bệnh thường lây lan do nhốt chung giữa con nhiễm bệnh và mắc bệnh do bú sữa của lợn mẹ bị bệnh
+ Triệu chứng: Lợn con còi cọc chậm lớn, lông xù, hở xương sống, khi thở hóp bụng lại Bình thường nghỉ ngơi lợn không ho, chỉ khi xua quấy rầy
Trang 28lợn mới ho (ho vào lúc sáng sớm hay chiều tối), nhiệt độ cơ thể bình thường hay tăng nhẹ
+ Điều trị:
Tylogenta : 1,5ml/con Tiêm bắp ngày/lần
Vetrimoxin : 1,5ml/con Tiêm bắp 2 ngày/lần
Điều trị trong 3 - 6 ngày
+ Kết quả : Điều trị khỏi 280 con trên 263 con mắc bệnh, đạt 92,93%
1.2.3.3 Công tác khác
Ngoài việc chăm sóc nuôi dưỡng đàn lợn và tiến hành nghiên cứu chuyên đề khoa học, tôi còn tham gia một số công việc khác như:
Đỡ đẻ cho lợn nái: 232 con
Thiến lợn đực: Thiến an toàn 1097 lợn đực
Tiêm Dextran - Fe cho lợn con: 2419 con
Xuất lợn con: 2700 con
Tỷ lệ an toàn đạt 100%
Kết quả công tác phục vụ sản xuất trong thời gian thực tập được tổng hợp trong bảng 1.5
Trang 29Bảng 1.5 Kết quả công tác phục vụ sản xuất
STT Nội dung công việc Số lượng
Trong quá trình thực tập tại trại tôi đã thu được một số kết quả như sau:
Về chuyên môn: Đã biết cách sử dụng một số loại vaccine, chẩn đoán
và điều trị một số bệnh thông thường xảy ra trên lợn, biết cách sử dụng thuốc, vận dụng một cách hợp lý giữa lý thuyết với thực tế
Trang 30Học hỏi được cách quản lý và sử dụng nguồn nhân lực, biết cách phân công công việc một cách hợp lý, có hiệu quả cao
Qua đó, giúp tôi mạnh dạn hơn, tự tin hơn vào khả năng của mình, hoàn thành tốt công việc được giao Từ đó làm cho tôi cảm thấy yêu ngành, yêu nghề hơn, chịu khó học hỏi kinh nghiệm của thầy cô giáo, bạn bè, đồng nghiệp đi trước kết hợp với kiến thức đã học ở trường, lớp
Qua quá trình thực tập tại cơ sở, tôi thấy từ lý thuyết đến thực hành còn một khoảng cách nhất định, nếu chỉ học lý thuyết thì chưa đủ, mà cần có sự kết hợp giữa lý thuyết với thực hành, phải biết cách áp dụng những kiến thức
đã học vào thực tế một cách linh hoạt, sáng tạo Vì vậy, tôi thấy việc đi thực tập tại các cơ sở sản xuất là rất cần thiết đối với bản thân tôi nói riêng, cũng như tất cả sinh viên nói chung trước khi tốt nghiệp ra trường
- Cần cung cấp nước uống đầy đủ cho lợn, hạn chế thấp nhất tình trạng thiếu nước uống cho lợn, nhất là trong những ngày nắng nóng
- Thay thế một số trang thiết bị, dụng cụ chăn nuôi bị cũ, hỏng để nâng cao năng suất lao động
- Công tác tiêm phòng và vệ sinh thú y cần thực hiện tốt hơn nữa
Trang 31Phần 2 CHUYÊN ĐỀ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
Chính vì thế mà Đảng và nhà nước đặc biệt quan tâm đến công tác giống và không ngừng nâng cao năng suất của ngành chăn nuôi lợn
Hàng loạt các vấn đề quản lý, kỹ thuật chăn nuôi lợn ở nước ta đã và đang được các nhà khoa học nghiên cứu giải quyết nhằm tiến kịp với trình độ chăn nuôi của các nước trong khu vực và trên thế giới đặc biệt nước ta là một nước thuộc khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng ẩm nên rất thích hợp cho các bệnh truyền nhiễm phát triển mạnh và lây lan nhanh Do đó sẽ gây ảnh hưởng không nhỏ đến ngành chăn nuôi lợn Ngoài ra các yếu tố như giống thức ăn dinh dưỡng, điều kiện khí hậu thì công tác thú y là rất quan trọng quyết định
sự thành bại của ngành chăn nuôi nói chung và chăn nuôi lợn nói riêng
Riêng trên lợn con trong điều kiện nóng ẩm như nước ta thì tình hình dịch bệnh xảy ra còn rất phức tạp đặc biệt là bệnh phân trắng ở lợn con ở các lứa tuổi khác nhau Bệnh phân trắng lợn con làm cho lợn gầy sút, khỏi còi cọc làm giảm năng suất nặng có thể chết cả đàn lợn con.vì vậy việc phòng và điều trị bệnh phân trắng lợn con là một vấn đề hết sức cần thiết
Xuất phát từ thực tế trên với sự giúp đỡ của cô giáo hướng dẫn, chúng
tôi tiến hành nghiên cứu chuyên đề: “Điều tra tình hình mắc bệnh phân
Trang 32trắng lợn con và biện pháp điều trị bệnh tại Công ty CP Bình Minh, huyện
- Xác định được phác đồ điều trị bệnh lợn con phân trắng hiệu quả
2.2 Tổng quan tài liệu
2.2.1 Cơ sở khoa học của đề tài
2.2.1.1 Đặc điểm sinh lý của lợn con
Sinh lý của lợn con theo mẹ là khả năng thích ứng của cơ thể từ môi trường trong bụng mẹ có nhiệt độ từ 38 – 40 0C ra môi trường bên ngoài có nhiệt độ thấp hơn, làm ảnh hưởng đến sự thành thục và hoàn thiện về chức năng của các cơ quan bên trong cơ thể lợn sơ sinh
+ Đặc điểm tiêu hóa của lợn con
Sau khi sinh ra, chức năng của các cơ quan trong cơ thể lợn con nhất là
cơ quan tiêu hoá chưa thành thục Hàm lượng HCl và các men tiêu hoá chưa hoàn thiện Thời gian đầu, dịch tiêu hoá ở lợn con thiếu cả về chất và lượng Lợn con trước một tháng tuổi hồn tồn không có HCl tự do vì lúc này lượng HCl tiết ra rất ít và nhanh chúng liên kết với niêm dịch
+ Cơ năng điều tiết thân nhiệt
Cơ năng điều tiết thân nhiệt của lợn con còn kém do:
- Hệ thần kinh của lợn con chưa phát triển hòan chỉnh Trung khu điều tiết thân nhiệt ở vỏ não mà não của gia súc là cơ quan phát triển muộn nhất ở
cả hai giai đoạn trong và ngoài thai
- Diện tích bề mặt của cơ thể lợn con so với khối lượng cơ thể cao hơn lợn trưởng thành nên lợn con dễ bị nhiễm lạnh (Đào Trọng Đạt và cs,1996) [7]