ÔN TẬP PHẢN TẬP LÀM VĂN Bài 15 và 16 - Nam được các nội dung chính của phần Tập làm văn đã học trong Ngữ văn 9, thấy được tính chất kết hợp của chúng với văn bản chung.. 220 Những kiến t
Trang 1ÔN TẬP PHẢN TẬP LÀM VĂN (Bài 15 và 16)
- Nam được các nội dung chính của phần Tập làm văn đã học trong Ngữ
văn 9, thấy được tính chất kết hợp của chúng với văn bản chung
- Thấy được tính kế thừa và phát triển của các nội dung tập làm văn học ở
lớp 9 bằng cách so sánh với nội dung các kiểu văn bản đã học ở lớp dưới/
BANG SO SANH TOM TAT Thuyết minh và miêu tả, giải thích có nhưng điểm khác nhau Co thé néu
lên sự khác nhau giữa thuyết minh và miêu tả bằng các điểm chủ yếu sau:
(Đối tượng của miêu tả thường là các
sự vật, con người, hoàn cảnh cụ thé)
- Có hư cấu tưởng tượng, không nhất
thiết phải trung thành với sự vật
- Dùng nhiều số liệu cụ thể, chỉ tiết
- Ứng dụng trong nhiều tình huống, cuộc sống, văn hóa, khoa học
- Thường theo một số yêu cầu giống nhau (mẫu)
- Bước 5: Chọn từ đặc sắc, đặt câu, dùng các biện pháp tu từ
Trong thục tế, các văn bản nghệ thuật không đơn thuần là loại miêu tả, tự
sự hay biểu cảm mà nó hòa trộn vào nhau, tạo nên một tác phẩm hoàn chỉnh
Muốn thuyết minh, lại cần sử dụng các phương pháp khác:
1 Phương pháp nêu định nghĩa
Ví dụ: Giun dat là động vật có đốt, gồm khoảng 2500 loài, chuyên sống ở
vung dat am
2 Phương pháp liệt kê
Ké ra làn lượt các đặc điểm, tính chat của sự vật theo một trật tự nào đó
3 Nêu ví dụ cụ thể
Phương pháp này giúp người đọc hiễu được sự lợi hại của một hiện tượng
nào đó
4 Phương pháp dùng số liệu (con sé)
Vi dụ: Ba nghề được trả lương cao nhất ở Mĩ đều liên quan đến việc chữa
tri co thé con người Các bác sĩ và nhà phẫu thuật có thu nhập cao nhất Tính
trung bình năm 2001 họ kiếm dược hơn 138 400 đô la mỗi người Tại Mĩ hiện
Trang 2có 598 000 người làm nghề này (có giấy phép hành nghê và bằng cấp hẳn
hoi) Các nha sĩ xếp hàng thứ 2, 152 000 nha sĩ ở Mĩ có thu nhập trung bình
129 030 đô là mỗi người (2001)
5 Phương pháp so sánh
Phương pháp so sánh có tác dụng làm nổi bật bản chất của ván đề cần
được thuyết minh
6 Phương pháp phân loại, phân tích
Đối với những loại sự vật đa dạng, người ta chia ra từng loại để trình bày
Đối với sự vật cso nhiều mặt, người ta chia ra từng mặt để thuyết minh
II GỢI Y TRA LOI CAU HỎI
7 (sgk tr.220) Các nội dung văn bản tự sự đã học ở lớp 9 tiếp tục giúp cho học
sinh hiểu sâu hơn về cách viết, cách thể hiện câu chuyện và nhân vật (do dùng
các yếu tố miêu tả, nghị luận, dùng lời đối thoại hay độc thoại, dùng ngôi kể này
hay ngôi kể khác)
8 (sgk tr.220) Trong một văn bản có đủ các yếu tố miêu tả, biểu cảm, nghị
luận mà vẫn gọi đó là văn bản tự sự Vì các yếu tố miêu tả, nghị luận, biểu cảm
chỉ là những yếu tố bổ trợ nhằm làm nỗi bật phương thức biểu đạt chính của
văn bản đó Trong thực tế khó có một văn bản nào đó chỉ vận dụng một
phương thức biểu đạt duy nhất
9 (sgk tr.220)
Đánh dấu x vào các ô trống mà kiểu văn bản chính có thể kết hợp với các
éu tố tương ứng trong nó
STT [Kiểu văn | Các yêu tố kết hợp với văn bản chính
bản Tự | Miêu | Nghị [ Biểu Thuyết Điều
(6 | Dieu hanh _, OL]
10 (sgk tr 220) Một só tác phẩm tự sự được học trong sách giáo khoa Ngữ
văn từ lớp 6 đến lớp 9 không phải bao giờ cũng phân biệt rõ bố cục ba phần:
Mở bài, Thân bài và Kết bài Tuy vậy bài viết tập làm văn kế chuyện của học
sinh văn phải có đủ ba phần đã nêu, bởi vì khi còn ngồi trên ghế nhà trường,
học sinh đang trong giai đoạn luyện tập, phải rèn luyện theo yêu cần "chuẩn
mực" của nhà trường Sau khi đã trưởng thành, học sinh có thé viết tự do, "phá
cách" như các nhà văn
11 (sgk tr 220) Những kiến thức và kĩ năng về kiểu văn bản tự sự của phần
Tập làm văn đã soi sáng cho rất nhiều trong việc đọc - hiểu văn bản - tác phẩm
văn học tương ứng trong sách giáo khoa Ngữ văn Chẳng hạn, khi học về các
yếu tố độc thoại, độc thoại và độc thoại nội tâm trong văn bản tự sự, các kiến
thức về tập làm văn đã giúp cho người đọc hiểu sâu hơn các đoạn trích Truyện
Kiêu cũng như truyện ngắn Làng của Kim Lân (Học sinh xem lại bài Đối thoai,
Trang 3độc thoại và độc thoại nội tâm trong văn bản tự sự, hoặc bài Miêu tả nội tâm
trong văn bản tự sự đã học để làm sáng tỏ)
12 (sgk tr 220) Những kiến thức và kĩ năng về các tác phẩm tự sự của phần
phân tích văn bản và phần Tiếng Việt tương ứng đã giúp học sinh học tốt hơn khi
làm bài văn kể chuyện Chẳng hạn, các văn bản tự sự trong sách Ngữ văn đã
cung cấp cho học sinh các đề tài, nội dung và cách kể chuyện, cách dùng các
ngôi kể, người kể chuyện, cách dẫn dắt, xây dựng và miêu tả nhân vật, sự việc
KIẾM TRA TỎNG HỢP CUÓI HỌC KÌ I
ĐÈ THAM KHẢO I
- TRAC NGHIEM (Mỗi câu trả lời đúng 0,25 điểm: tổng 2,5 điểm)
1 "Truyện Lục Vân Tiên" của Nguyễn Đình Chiễu có nội dung:
A đề cao lòng yêu nước thương dân
B ca ngợi đạo lí làm người
€._ lên án bọn thực dân Pháp xâm lược
D đả kích bọn người làm tay sai cho giặc
2 Trong đoạn "Lục Vân Tiên cứu Kiêu Nguyệt Nga", sau khi đánh tan bọn
cướp và cứu Kiều Nguyệt Nga, nhân vật Vân Tiên đã thể hiện:
A phong độ của người quân tử _ B lòng từ tâm của kẻ nhân ái
C nghĩa khí của bậc hào hiệp OD gồm ba câu trả lời trên
3 " Trước xe quân tử tạm ngồi,
Xin cho tiện thiếp lạy rồi se thưa"
Lời lẽ của Kiều Nguyệt Nga qua hai câu thơ trên chủ yếu thể hiện:
A cách xưng hô thật đúng mức _B lời nói văn vẻ, dịu dàng
C niềm cảm kích chân thành D vẻ đắm thắm, nết na
4 Đoạn trích "Lục Vân Tiên gặp nan" thuật lại một cơn hoạn nạn của Vân
Tiên khi chàng:
A duoc tin me mat giữa lúc chàng trên đường đi thỉ
B bị bon thầy cúng, thầy thuốc lừa dối đến mù mắt
C bị Trịnh Hâm lừa đẩy xuống sông sâu
D bị gia đình Võ Công bỏ vào hàng sâu để hãm hại
5 Động cơ hại người của Trịnh Hâm chủ yếu là do:
A._ hắn muốn đoạt khoa danh B bản chất độc ác
C long dé ki sinh ra tdi dc D bat nghia với bạn
6 Hành động hại người của Trịnh Hâm độc ác, vì hắn:
A đang tâm hãm hại người bị mù mắt, đang cơn hoạn nạn, không nơi
nương tựa
B rũ sạch nghĩa nhân, hại người bạn kết nghĩa đã từng xướng họa thơ văn
€ hại người có sự mưu, thừa lúc đêm khuya, xô Vân Tiên xuống vùng
nước mênh mông
D gồm ba câu trả lời trên
7 Đoạn trích trên được xây dung | dé khang định niềm tin của nhân dân là ở
hiền gặp lành, kết cấu này không giống kết cầu của đoạn truyện:
A._ Nguyệt Nga và dân làng bị cướp, được Vân Tiên giải cứu
B Vân Tiên bị Võ Công bỏ vào hang sâu, được Du thần và ông Tiều cứu ra
C Nguyét Nga bị công giặc Ô Qua, tự trầm mình, được Phật Quan Âm cứu
Trang 4
D Vân Tiên đánh giặc, lạc vào rừng sâu, được lão bà giúp
8 Câu sai về cách dùng từ là câu:
A Vào đêm khuya, đường phố rất vắng lặng
B Vào đêm khuya, đường phô rất im lặng
C Vào đêm khuya, đường phó rất vắng vẻ
D Vào đêm khuya, đường phó rất yên lặng
9 Câu có cách dùng từ đúng là câu:
A Những hoạt động từ thiện khiến chúng tôi rất cảm xúc
B Những hoạt động từ thiện của ông khiến chúng tôi rất xúc cảm
C Những hoạt động từ thiện của ông khiến chúng tôi rất rung động
D Những hoạt động từ thiện của ông khiến chúng tôi rất xúc động
Đề: Phân tích bài thơ Mùa xuân nho nhỏ của Thanh Hải
I MỞ BÀI:
- Giới thiệu về nhà thơ Thanh Hải:
Nhắc đến nhà thơ Thanh Hải, người ta thường nhớ đến bài Mô anh hoa nở
Đó là tác phẩm đánh dấu,sự thành công trong chặng đường sáng tác đầu tiên
của tác giả Cho đến cuối đời, tác giả còn đề lại một sáng tác đặc sắc Đó là bài
thơ Mùa xuân nho nhỏ, được viót vào một ngày đông trên đất Huế
II THÂN BÀI:
= Phan tích đoạn 1: Phân tích hình ảnh bông hoa tím biếc, phân tích biện
pháp đảo ngữ, phân tích từ cảm thán và tiếng hót con chim chiên chiện, phân
tích hình ảnh giọt long lanh
Nếu như hầu hết các nhà thơ tả cảnh xuân bằng mai vàng, đào thắm thì
mùa xuân trong thơ Thanh Hải lại được tượng trung bằng đóa hoa tím biếc
mọc giữa dòng sông xanh Nhưng hình ảnh này đã được xây dựng lại, được
diễn tả khác hơn: - ˆ
Mọc giữa dòng sông xanh Một bông hoa tíin biếc Nhờ biện pháp đảo ngữ, đóa hoa tím biếc đã hiện lên lung linh hơn, sống
động hơn, tràn trẻ sức sông hơn Kế đó, ý thơ được diễn tả bằng những từ
cảm thán:
Ơi! Con chim chiên chiện
Hót chỉ mà vang trời
Từ đó là cảm được một dòng cảm xúc rất dạt dào, mãnh liệt của tác giả
giữa khung cảnh mùa xuân quê hương Quê hương ở đât không mang tính
khái quát mà rất cụ thể là xứ Huế
Trang 5
Mùa xuân xứ Huế đã được khắc họa thật dung dị mà cũng thật "Huế" với
dòng sông xanh, với bông hoa tím biếc và tiếng hót chỉm chiền chiện vút cao
Nhưng mùa xuân trong thơ Thanh Hải đâu chỉ có thế! Tiếng chim đâu phải vút
lên rồi tan biến Nhà thơ đã viết tiếp:
Từng giọt long lanh rơi Tôi đưa tay tôi hứng
Tiếng chim ấy nào có tan biến, mà đọng thành những hạt lưu li trong vắt,
long lanh, chói ngời Làm sao có thể để nó rơi xuỗng vỡ tan? Hai bàn tay của
tác giả đã xòe ra, hứng lấy những giọt long lanh ấy Đó là hai bàn tay của một
hồn thơ dào dạt yêu đời, yêu mùa xuân của đất trời, của vũ trụ
- Phân tích đoạn 2: Phân tích hai bức tranh xuân dân tộc rất điển hình và
cân xứng, phân tích biện pháp điệp ngữ:
Mùa xuân đâu chỉ về với vũ trụ! Mùa Xuân còn về với con người nữa:
Mùa xuân người cảm súng © Lộc giắt đầy quanh lưng Mùa xuân người ra đồng
Lộc trải dài nương mạ
Tat cả như hồi hả Tat cả như xôn xao
Trong khổ thơ thứ hai, tác giả đã phác thảo hai bức tranh xuân dân tộc rất
điển hình và cân xứng Lộc non làm lá ngụy trang bảo vệ cho người chiến sĩ
trong từng bước chân đi bảo vệ đất nước Lộc xuân là từng ngon lửa, từng
nhánh mạ tươi non vươn lên giữa ruộng đồng của người sản xuất Biên pháp
điệp ngữ cuối đoạn thứ hai đã tạo ra một nhịp thơ dồn dập, diễn tả nhịp sống
bốn ngàn năm lịch sử, như một con ong, một con bướm phải lột xác dé bay lên
Nhưng hơn thé, tác giả đã chọn một hình ảnh đẹp hơn, chính xác hơn để diễn
tả hình ảnh Việt Nam
Đất nước như vì sao
Cứ đi lên phía truc
- Phân tích đoạn 3: Biện pháp ằn dụ, biện pháp điệp từ rất sáng tạo
Nhưng khi đất nước rực rỡ như một vì sao thì người dân phải làm sao để
sống xứng đáng trong tinh tú ấy? Niềm tự hào về dân tộc, niềm ước nguyện
muốn hiến dâng, muốn hòa nhập vào nhịp sống xuân của dân tộc đã thôi thúc
tác giả viết những câu thơ tuyệt đẹp:
Ta làm con chỉ hót
Ta làm một cành hoa
Ta nhập vào hòa ca
Một nót tram xao xuyén
Dung bién phap an du rat sáng tạo, nhà thơ Thanh Hải đã ngầm so sánh
cuộc sống của toàn dân tộc sau ngày hòa bình vui tươi như một bản hòa ca
Trong cái không khí réo rắt với đủ mọi cung bậc âm thanh, biện pháp điện
tử đồng thời được sử dụng dẻ diễn ta, niém tha thiét hién dang, tha thiét hoa
nhập vào cuộc sống vui tươi và sôi nổi ấy
Trang 6Phân tích đoan 4: Điệp ngữ dù là: một lí tưởng, một lẽ sống tuyệt vời: sống
hiến dâng, sống với tất cả một niềm xúc động thương yêu lăng thâm
Thật đáng quý, đáng yêu biết bao nếu ta biết rằng suốt một đời người, suốt
một đời thơ, Thanh Hải đã cống hiến nhiều tâm huyết cho sự nghiệp chung của
dân tộc, vậy mà ông chỉ khiêm tốn xin làm một nó trằm! Đó chính là một lí tưởng,
một lẽ sống tuyệt vời: sống hiến dâng, sống với tất cả một niềm xúc động thương
yêu lặng thằm Thật là một lẽ sóng xa lạ với những kẻ vị kỉ Lẽ sống ấy phải đâu
là một mong muốn nhát thời? Không, tác giả đã nuôi dưỡng và thực hiện cái lẽ
sống ấy từ tuổi thanh niên cho đến ngày tóc bạc:
Một mùa xuân nho nhỏ Lặng lẽ dâng cho đời
Dù là tuổi hai mươi
Dù là khi tóc bạc
Điệp ngữ dù là thể hiện một thái độ sống trọn vẹn cho cuộc đời chung, bất
chấp thời gian, bắt chấp tuổi tác
Phân tích đoạn cuối:
Chính vì thế mà tác giả đã quên cả con đau, quên cả mùa đông vẫn vương vắt
quanh mình để cắt lên câu hát êm đềm với những van bang tha thiết và êm ái:
Mùa xuân - ta xin hát Câu Nam Ai, Nam Bình Nước non ngàn dặm mình Nước non ngàn dặm tình
Nhịp phách tiền đắt Huế Tác giả mở đầu bài thơ bằng phong cảnh Huế, kết thúc bài thơ bằng âm
nhạc Hué, nhưng nó đã gói ghém một đề tài vượt xa không gian Huế, một đề tài
thật sâu xa, bằng nghệ thuật thật phong phú Đoạn đầu miêu tả mùa xuân của vũ
trụ, đoạn tiếp theo là hai bức tranh diễn tả sức xuân của dân tộc và kết bài là hồn
xuân của một con người, hồn xuân của một tác giả
ill KET BAI:
- Phát biểu cam nghi:
Hồn xuân ấy là một lẽ sống mà từng người trong chúng ta ngưỡng vọng và suy nghĩ
- Mở rộng: Sống đúng như viết, nhà thơ Thanh Hải đã làm được như thế Bài thơ của ông, sự nghiệp của ông chính là một nốt trầm giữa bản hòa ca văn học của dân tộc: một nốt tram nhiều luyến lay, da lam xuyến xao bao tắm lòng người thưởng thức Bên cạnh nót tram nay, Thanh Hải còn các nốt trằm khác như Mô anh hoa nở, Những đồng chí trung kiên
Thật đẹp biết bao và thật khó biét bao néu ta là một nốt tram “Thanh Hai’
ĐÈ THAM KHẢO II
A TRẮC NGHIỆM (Mỗi câu trả lời đúng 0,25 điểm; tổng 2,5 điểm)
1 Hai câu thơ:
Tưởng người dưới nguyệt chén đồng,
Tin sương luống những rày trông mai chờ
có nét đặc sắc nghệ thuật là:
A sử dụng ngôn ngữ một cách sáng tạo
B vận dụng điển cố một cách nhuần nhị
Trang 7C dién ta tam trạng bằng ngôn ngữ tinh tế
D vận dụng độc thoại nội tâm một cách tài tình
2 Hai câu thơ:
Sân Lai cách mắy nắng mưa
Có khi gốc tử đã vừa người ôm
có sử dụng:
A phép sosánh B.phépandu C.phép nhânhoá D điển cố
3 Hai câu thơ:
Buôn trông cửa bể chiều hôm, Thuyên ai thắp thoáng cánh buồm xa xa?
diễn đạt tâm trạng:
A buồn nhớ quê hương B tưởng nhớ người yêu
©€ xót xa cho duyên phận D lo lắng cho số phận
4 Lời nói của Mã Giám Sinh trong hai câu thơ:
“Hỏi tên rằng “Mã Giám Sinh"
Hỏi quê rằng "huyện Lâm Thanh cũng gần"
Đã không tuân thủ phương châm hội thoại nào?
A Phương châm về lượng B Phương châm về chát
Cc - Phương châm cách thức D Phương châm lịch sự
5 Để lột tả bản chất của Mã Giám Sinh, Nguyễn Du đã sử dụng thủ pháp đối
lập Ý nào dưới đây đúng với nhận xét trên?
A Đối lập giữa Mã Giám Sinh với gia đình Kiều
B Đôi lập giữa vai trò mà Mã Giám Sinh đang đóng với lời nói, cử chỉ, hành
vị của Mã
G Đối lập Mã Giám Sinh với Kiều
D Tất cả đều đúng
6 Mã Giám Sinh là đồng môn với nhân vật nào dưới đây?
A Tú Bà B Kim Trọng € Thúc Sinh D Mụ mối
7 Từ nào sau đây không phải là từ láy?
A, Banh bao B Nhan nhui C.Twtuan Dz Lung linh
8 Điểm không đúng khi chuyển câu có lời dẫn trục tiếp sang lời dẫn gián tiếp -
là:
A Phân biệt rõ lời thoại là của ai đang nói với ai
B Trong lời thoại có phần nào mà người nghe cần chuyển đến người thứ
ba, và người thứ ba đó là ai
€ Thêm vào trong câu những bổ ngữ và chủ ngữ thích hợp để mạch văn
được rõ
D Thuật lại lời nói hay ý nghĩ của người hoặc nhân vật và đặt dẫn chứng
trong dấu ngoặc kép
9 Từ “chân” được dùng với nghĩa gốc trong câu nào sau đây:
A Em có chân trong đội tuyển bơi lội Quận 3
B Anh em như chân với tay
Vợ chỗng như áo cởi ngay tức thì (Ca dao)
C Đề huê lưng túi gió trăng
Sau chân theo một vài thằng Con con
(Truyện Kiều) D Buôn trông nội cỏ dầu dâu
Chân mây nặt đắt một màu xanh xanh
-HDH NV9- -131-[RoYCOPY|
Trang 8(Truyện Kiều)
10 Từ “hỗn hợp" được dùng theo nghĩa của thuật ngữ trong câu:
A - Sức mạnh vô địch của đoàn quân Tây Sơn là một sức mạnh hỗn hợp
B Đề tập làm văn này thuộc dạng đề hỗn hợp
C_ Muối tự nhiên ở sông, hồ, ao, biển là một hỗn hợp
D Đó là một chương trình biểu diễn hỗn hợp nhiều tiết mục
B TỰ LUẬN
1 Tóm tắt nội dung bài “Bàn về đọc sách" (Chu Quang Tiêm) và chứng minh
rằng bài văn có sức thuyết phục cao (3 điêm)
2 Phân tích bài thơ “Bếp lừa” của Bằng Việt (4.5 diem)
Đọc sách là một con đường quan trọng để tích lũy, nâng cao học vấn Cần
kết hợp giữa đọc rộng và đọc sâu, giữa đọc sách thường thức với đọc sách
chuyên môn Việc đọc sách phải có kế hoạch, có mục đích kiên định chứ không
thể tùy hứng, phải vừa đọc vừa nghiền ngẫm Chu Quang Tiềm đã trình bày
những ý kiến xác đáng ấy bằng bài viết có lí lẽ, có dẫn chứng sinh động
Tính thuyết phục của bài văn
Bàn về đọc sách là bài viết có lí, có tình, có sức thuyết phục cao, do một số
nguyên nhân cơ bản gồm bố cục, cách viết
+ Nội dung gồm các ý kiến, nhận xét xác đáng, thấu lí đạt tình Bài viết là
kết quả của quá trình tích lũy kinh nghiệm, dày công Suy nghĩ, là những lời tâm
huyết của người đi trước muốn truyện lại cho thê hệ sau Đồng thời tác giả lại
phân tích cụ thể, bằng giọng chuyện trò, tâm tình để chia sẻ thành công, thất bại
» Bố cục chặt chẽ, ý kiến được dẫn dắt lôgic, từ việc nêu tam quan trọng, ý
nghĩa của việc đọc sách đến những khó khăn gặp phải khi đọc sách, dẫn đến
phương pháp đọc sách đạt hiệu quả tốt nhất
» Cách viết giàu hình ảnh và ví von thật cụ thể, thú vị: giống như ăn uống,
các thứ không tiêu hoá được càng dễ sinh-ra bệnh đau dạ dày, lối ăn tươi nuốt
sống, làm học vẫn giống như đánh trận ; như cưỡi ngựa qua chợ; trang trí bộ
mặt, như kẻ trọc phú khoe của; giống như con chuột chui vào sừng trâu, càng
chui sâu, càng hẹp
2 Phân tích bài thơ “Bếp lửa” của Bằng Việt (4,5 điểm)
I MỜ BÀI: Giới thiệu hoàn cảnh sang tac
Năm Át Dậu (1945) nạn đói ở miền đồng bằng Bắc Bộ đã giết chết hơn hai
triệu người dân vô tội Một chú bé lúc bấy giờ lên bốn tuổi lớn lên được đi du học
ở nước ngoài và sáng tác bài thơ Bếp lửa - một bài thơ viết về bà với những tình
cảm thật chân thành, cảm động Vậy sau đây, chúng ta hãy đi vào phân tích tác
phẩm đặc sắc này
II THÂN BÀI:
“Một bếp lửa chờn vờn sương sớm Một bếp lửa ấp iu, nồng đượm Cháu thương bà biết may nang mua”
Ngay ba câu thơ đầu, điệp ngữ "một bếp lửa" đã đi lién vai cdc tir lay “chon von’, 4p iu ggi cho ta cai cam giae mét cuộc sống ám áp với tình cảm chứa
chan Và ngay lập tức, hình ảnh người bà đã hiện lên Ở đây, bà không hiện lên
Trang 9“at
như một bà tiên, mà hiện lên trong trái tim thương xót của một đứa cháu nhớ về
người bà gian nan:
“Cháu thương bà biết may nắng mưa”
Từ đó, hồi ức dần dần trở về, dưới dòng thơ của tác giả:
“Lên bốn tuổi, cháu đã quen mùi khói
Năm ấy là năm đói mòn đói mỏi
Bồ đi đánh xe khô rạc ngựa gây
Chỉ nhớ khói hun nhèm mắt cháu
Nghĩ lại đến giờ sống mũi còn cay”
Ai đã từng sống qua, đã tìm hiểu về nạn đói năm Át Dậu với những bộ xương
người chết đói rải rác đó đây, vì bọn phát xít Nhật, mới thắm thía được cái từ “đói
mòn, đói mỏi" Đó là từ miêu tả cái cơn đói hoành hành, kéo dài triền miên khiến
con người chỉ còn hai con mắt sâu hoắm mở lờ đờ và một bộ da bọc xương bắt
động Trong tình hình ấy, cha của tác giả vẫn còn con ngựa để đi đánh xe cũng
là may mắn lắm Nhưng cái không khí nghèo túng của toàn xã hội cũng đã bao
phủ tất cả Có lẽ những nhánh củi khô đã đốt hết cả rồi, người bà phải lẫy những
cành cây tươi và ướt cuối cùng để đốt lửa:
“Chỉ nhớ khói hun nhèm mắt cháu
Nghĩ lại đến giờ sống mũi còn cay!"
Gần hai mươi năm sau, khói vẫn làm cay sống mũi tác giả Cái "cay" này đâu
phải là cay bởi khói từ củi ướt, củi tươi Mà là cái cay đắng vì những kỉ niệm đói
khổ của những người đã chết và người còn đang sống sau năm Át Dậu ấy, trong
đó có người bà của Bằng Việt:
“Tám năm ròng cháu cùng bà nhóm lửa
Tu hú kêu trên những cánh đồng xa
Khi tu hú kêu, bà còn nhớ không bà
Bà hay kê chuyện những ngày ở Huế Tiếng tu hú sao mà tha thiết thế
Mẹ cùng cha công tác bận không về Cháu ở cùng bà, bà bảo cháu nghe
Bà dạy cháu làm, bà chăm cháu học
Nhóm bếp lửa nghĩ thương bà khó nhọc
Tu hú ơi, chẳng đến ở cùng bà
Kéu chi hoài trên những cánh đồng xa?”
Qua đoạn thơ này, ta thấy hiện lên một căn nhà quạnh quẽ giữa đồng, chỉ
ham hút có một già, một trẻ Đứa trẻ ấy thì “ăn chưa no, lo chưa tới", còn người
bà thi 6m yéu hom hem Ba phải xoay sở nuôi thân mình, và nuôi cả cháu Được
thế đã là hay Vậy mà bà lại còn "bảo cháu làm, chăm cháu học" bên cạnh cái
bếp lửa Hình ảnh bếp lửa ở đây không ghi dấu cay đẳng nữa Mà nó là hình ảnh
một căn nhà áp áp nương náu để bà cháu sinh sống Người bà ở đây đã làm hết
bổn phận của người cha, người mẹ Vậy thì cha mẹ của cháu bé đâu? Hai người
khỏe mạnh áy đã cống hiến sức mình cho cuộc đấu tranh chống Pháp: "Mẹ cùng
cha công tác bận không về" Chỉ còn lại cảnh bà đùm bọc, dạy dỗ cháu giữa
những cánh đồng, và tiếng tu hú kêu thống thiết vọng về suốt "tám năm ròng
cháu cùng bà nhóm lửa" những lúc ay, chu bé Bằng Việt rất hiểu trái tim bà là trái
tim yêu thương, nhân hậu nên chú bé tin rằng nếu tu hú đến với bà, bà cũng sẽ
mở rộng lòng mà chia cho tu hú một ít ngô, ít gạo mà bà đã xoay xở được:
-HDH NV9- -133-(DO.Copy
Trang 10“Tu hú ơi! Chẳng đễn ở cùng bà Kêu chỉ hoài trên những cánh đồng xa”
Thật là một hình ảnh ngây thơ, thi vị của một tâm hồn tuổi nhỏ trong sáng và
nhân ái!
Nhưng kỉ niệm của chú bé ấy với bà đâu phải chỉ có nghèo khổ, ám áp và thi
vị! Kỉ niệm với bà còn là những tai nạn chiến tranh dữ dội:
“Năm giặc đốt làng cháy tàn cháy rụi Hàng xóm bón bên trở vê lằm lụi
Đỡ đần bà dựng lại túp lều tranh Vẫn vững lòng bà dặn cháu đỉnh ninh:
“Bố ở chiến khu, bỗ còn việc bố Mày có viết thư chớ kê này, kể nọ
Cứ bảo nhà vẫn được bình yên!"
Rồi sớm rồi chiêu lại bếp lửa bà nhen Một ngọn lửa lòng bà luôn ủ sẵn Một ngọn lửa chứa niềm tin dai dang
Giọng thơ như một lời kể ngâm ngùi, chân thật ẩn dấu một lòng kính nễ của
cháu với bà nhờ các từ đặc sắc: "Cháy tàn, cháy rụi, lằm lui, do dan ” “dinh
ninh" làm sáng lên hình ảnh một bà cụ Việt Nam chịu đựng, nhẫn nại, ‘hi sinh
lớn lao cho con chau và tổ quốc: Bà như một cây cỗ thụ vững chãi, xum xuê mà
trái ngọt bà cho là ngọn lửa của niềm tin trong tâm h: - cao rộng của bà:
Một ngọn lửa lòng bà luôn ủ sẵn
Một ngọn lửa chứa niềm tin dai dang
Vâng! Đó là một niềm tin của một người đã từng trải, luôn tin vào sức mạnh
của lẽ phải và sức mạnh của một dân tộc luôn đùm bọc nhau, dắt dìu nhau Vượt
qua bão giông, xan sẻ cho nhau từng miếng khoai, củ san với suy nghĩ " miếng
khi đói, gói khi no” Hình ảnh người bà như cây cỗ thụ gân guốc, xum xuê Dưới
những năm dài nghiệt ngã, bà vẫn thức khuya dậy sớm như không hề mỏi mệt
Hành động của bà như hành động của hàng ngàn, hàng vạn người phụ nữ Việt
Nam: nhóm ngọn lửa để sưởi ấm, để làm no lòng người thân:
“Nhóm bếp lửa ấp iu nòng đươm
Nhóm niềm yêu thương khoai sắn ngọt bùi
Nhóm nồi xôi gạo mới xẻ chung vui ”
Nhưng từ hành động nhóm lửa ấy của bà, chính bà cũng chẳng ngờ bà đã
nhóm dậy những gì cao quý nhất, thiêng liêng nhất của một con người: “Nhóm
dậy cả những tâm tình tuổi nhỏ”
Chỉ bằng bốn tiếng "tâm tình tuổi nhỏ” tác giả đã đưa chúng ta trở về với tuổi
thơ của chính mình Hau như ai sống li hương thì trong tim cũng có một góc quê
nhà Quê nhà như nguồn cội và bếp lửa của bà, của mẹ tuổi ấu thơ Nơi đó là
nơi ta nhớ mãi những kỉ niệm ấm áp hạnh phúc đầu đời bên những người thân
yêu, để từ đó ta ấp ủ ước mơ cho đến ngày khôn lớn, biến ước mơ thành hiện
thực Đối với một con người, *bếp lửa" là gìa đình, bếp lửa là chiếc nôi tinh than,
là quê hương và là nguôn cội người ây lớn lên cả về phan xác lẫn phần hồn
Chinh vi thé, khi Bằng Việt đã xa quê, xa bà xa bếp lửa đến ngàn trùng và đã có
"lửa trăm nhà”, khói trăm tàu nhưng cái bếp lửa đầu tiên trong đời ấy vẫn soi
sáng trai tim và erởi ấm tâm hồn nhà thơ Bằng Việt
Bài thơ đã ›ết thúc rồi nhưng vẫn vang vọng trong tâm hồn người đọc những
nhớ thương tha thiết, những thôn thức ngọt ngào của một chú bé yêu thương bà,
Trang 11
nhớ tiếc bà lúc xa quê “Bếp lửa" có một sức nóng thần kì sưởi ấm trái tim băng
giá của nhiều người Nó làm mỗi chúng ta phải nhớ về gia đình của mình, người
thân và nguồn cội của mình
M.L
BAI 17
NHUNG DUA TRE (Mac-xim Go+ro-k)
I KIEN THỨC CƠ BẢN
1 Những đứa trẻ là một đoạn trích trong chương IX của tiểu thuyết "Thời thơ ấu"
của nhà văn Nga Mác-xim Go-rơ-ki (1868-1936)
2 Thời thơ áu là cuốn tiểu thuyết gồm mười ba chương, kể về thời A-i-ô-sa (tên thân
mật của Mác-xim Go-rơ-ki) ở với ông bà ngoại vì bố mat sớm, mẹ đi lấy chồng
khác Bên hàng xóm là nhà ông đại tá Op-xi-an-ni-cép da già, sông với người vợ
kế và ba đứa con nhỏ mồ côi mẹ khoảng trên dưới 10 tuổi, trạc tuôi với A-li-ô-sa
Do tình cờ có lần A-li-ô-sa cùng hai đứa lớn con ông đại tá kéo dây gầu lên cứu
được thằng nhỏ chơi nghịch nhảy vào gầu rơi xuống giếng, nên mấy đứa trẻ
chơi thân với A-li-ô-sa, bất chấp sự cắm đoán của bó Đoạn trích trong sách giáo
khoa kẻ tiếp theo sự kiện đó
II GỢI Ý TRẢ LỜI CẤU Hỏi)
1 (sgk tr.233) Bài văn chia thành ba phần:
„ + Phần 1 (từ đầu đến "ấn em nó cúi xuống”): Tình bạn tuổi thơ trong sáng,
gan bó
+ Phản 2 (tiếp theo đến “Cắm không được đến nhà tao!"): Tình bạn bị cắm đoán
+ Phần 3 (còn lại): Tình bạn vẫn được duy trì
Chỉ tiết: những đứa trẻ, những con chim, truyện cổ tích, người dì ghẻ, người
bà xuất hiện ở phân 1 và cũng lại xuất hiện ở phần 3 tạo nên sự kết nói chặt chẽ
của truyện
2 (sgk tr.233)
Gọi ý:
Do tình cờ có lần A-li-ô-sa cùng hai đứa con ông đại tá kéo dây gàu lên cứu
được thang nhỏ chơi nghịch nhảy vào gầu rơi xuống giếng nên mấy đứa trẻ nhà
ông đại tá chơi thân với A-li-ô-sa Hoàn cảnh sống thiếu tình thương của những
đứa trẻ đã tạo nên tình bạn trong sáng giữa chúng
Hoàn cảnh giống nhau, cùng sống thiếu tình thương nên chúng trở nên thân
thiết Trong giọng kẻ, A-li-ô-sa còn bộc lộ lòng thông cảm, xót xa cho ba đứa trẻ
bạn của tác giả Dù chỉ là một đứa trẻ con, tác giả đã cố gắng bù đắp sự bat
hạnh của ba đứa trẻ bằng những lời an ủi của trẻ thơ Tình bạn tuổi thơ trong
trắng ấy đã để lại ấn tượng sâu sắc cho nhà văn, khiến ba mươi năm sau, ông
vẫn còn nhớ như in và thuật lại hết sức xúc động những kỉ niệm thời thơ áu
3 (sgk tr.233)
Gọi ý:
Hình ảnh ba đứa trẻ hàng xóm qua Sự cảm nhận tinh tế của A-li-Ô-sa:
- Khi may đứa trẻ kế chuyện mẹ chết, "chúng ngồi sát vào nhau giống như
những chú gà con” Hình ảnh giàu sức gợi tả và gợi cảm, thể hiện sự thông cảm
của A-li-ô-sa với các bạn nhỏ
Trang 12
~ Khi đại tá xuất hiện, quát thi ching: “tac thi cả máy đứa trẻ lặng lẽ bước ra
khỏi chiếc xe và đi vào nhà”, khiên tôi lại nghĩ đên những con ngỗng ngoan
ngoãn Sự so sánh chính xác này vừa cho thấy dáng dấp bên ngoài của ba đứa
- trẻ, vừa thể hiện thế giới nội tâm của chúng Chúng bị bố áp chế, cám đoán
Hơn nữa, 'tôi nhớ lại thì chưa bao giờ chúng nói một lời nào về bố và về di ghé”
Những lời kể của tác giả ân dấu một lòng xót thương cho những người bạn tuổi
thơ bất hạnh mà tác giả đã yêu thương với tắm lòng tha thiết vô tư mà không bù
đắp an ủi được nỗi bất hạnh của bọn trẻ
4 (sgk tr.233)
Gơi ý:
Chuyện đời thường và truyện cổ tích được lồng vào nhau trong nghệ thuật
kể chuyện của Go-rơ-ki: _
- Thông qua chỉ tiết về "dì ghẻ”, khi mấy đứa trẻ hàng xóm nhắc đến “mẹ
khác”, A-li-ô-sa liên tưởng ngay đên nhân vật mụ dì ghẻ độc ác trong truyện cỗ
tích Khi những đứa trẻ nói về "mẹ thậf, A-li-ô-sa cũng có những Suy nghĩ như
độc thoại nội tâm, lạc ngay vào không khí truyện cô tích
- Chỉ tiết người bà nhân hậu cũng được kể lại bằng giọng của truyện cổ tích:
Nghệ thuật kể chuyện đan xen giữa chuyện đời thường và truyện cô tích của
Mac-xim Go-ro-ki đã giúp cho đoạn trích Những đứa trẻ nói riêng và tác phẩm
Thời thơ ấu nói chung trở nên xúc động, nhất là đoạn euối:
- “Có lẽ tắt cả các bà déu rat tốt, bà tớ ngày trước cũng rất tốt
Nó thường nói một cách buồn bã: ngày trước, trước kia, đã có thời Hai em
nó cũng rất dễ thương, tôi tin yêu lắm, tôi luôn muốn làm cho chúng vui thích
Chu Quang Tiềm (1897-1986) là nhà Mĩ học và nhà lí luận văn học nỗi tiếng
Trung Quốc Ông viết nhiều tác phẩm sâu sắc, trong đó có tác phẩm “Tâm lí văn
nghệ” đã được dịch ra tiếng Việt
il GOLY TRA LO1 CAU HOI
1 (Ngữ văn 9, tập 2, tr.6)
Văn bản về ý nghĩa của việc đọc sách và phương pháp đọc sách
Các luận điểm của văn bản là:
+ Tầm quan trọng ý nghĩa của việc đọc sách
+ Các khó khăn, các thiên hướng sai lệch dễ mắc phải khi đọc sách
+ Bàn về phương pháp đọc sách
2 (Ngữ văn 9, tập 2, tr.6)
Ý nghĩa của sách trên con đường phát triển của nhân loại:
“Sách là kt: tàng quý báu cắt giữ di sản tinh thân nhân loại, cũng có thé nói
đó là những cột mốc trên con đường tiến hoá của học thuật? của nhân loại”
Trang 13s Sách đã ghi chép, cô đúc mọi tri thức, mọi thành tựu mà nhân loại đã đạt
được, tích lũy được qua từng thời đại và lưu truyền cho đến thời nay
» Nếu xoá bỏ các thành tựu mà loài người đã đạt được trong quá khứ và
sách vở, ta chỉ là kẻ đi giật lùi, lạc hậu
- Ý nghĩa đọc sách và việc đọc sách của mỗi người:
s Tiếp nhận tư tưởng, kinh nghiệm của nhân loại trong mấy nghìn năm qua
cho cuộc đời may mươi năm ngắn ngủi của mình
- Tầm quan trọng của việc đọc sách: Đối với con người, đọc sách là cách tốt
nhất để tiếp thu kinh nghiệm xã hội, kinh nghiệm sóng Đọc sách còn là sự chuẩn
bị để tiến hành cuộc trường chinh vạn dặm trên con đường học vấn, tích lũy tri
thức, khám phá và chỉnh phục thé giới
3 (Ngữ văn 9, tập 2, tr.6)
- Cân chọn sách vì:
Sự phát triên như vũ bão của khoa học kĩ thuật đã tạo nên sự bùng nỗ thông
tin Lượng sách in ra ngày cảng nhiều, nếu không có sự lựa chọn, xử lí | thong tin
khoa học, con người dễ bói rồi trước kho tàng tri thức không lồ dần đến những
nguy hại thường gặp:
+ Sách nhiều khiến cho người ta không chuyên sâu, dễ sa vào lối "ăn tươi
nuốt sống" chứ không kịp tiêu hoá, không biệt nghiền ngẫm, suy nghĩ nông cạn
+ Sách nhiều khiến người đọc lạc hướng lãng phí thời gian và sức lực với
những cuốn vô bổ
e Cần đọc kĩ, nghiên cứu sâu các sách, tài liệu cơ bản thuộc lĩnh vực chuyên
môn, chuyên sâu của mình
* Song song với điều đó, cần đọc các sách khoa học phổ thông, kề cận với
chuyên môn của mình vì không biết thông thì không thể chuyên
4 (Ngữ văn 9, tập 2, tr.7)
- Việc biết lựa chọn sách để đọc đã làm một điểm quan trọng thuộc phương
pháp đọc sách
- Không nên đọc lướt qua, doc chi dé trang trí tri thức
“Đọc sách không cốt lấy nhiều, không bằng chỉ lấy một quyễn mà đọc
mười lần”
- Doc it ma không suy nghĩ sâu xa, nếu đọc không nghĩ thì như cưỡi ngựa qua
chợ, tuy châu báu phơi đây chỉ tổ làm cho mắt hoa ý loạn, tay không mà về Thế gian
có biết bao người đọc sách chỉ đề trang trí bộ mặt như kẻ trọc phú khoe của
- Nên phân loại sách làm hai loại: loại 1 để có kiến thức pho thông Loại 2 là
sách chuyên môn, chuyên ngành 7
- Không nên đọc một cách tràn lan, theo kiểu hứng thú cá nhân mà cần đọc
có kế hoạch và có hệ thống Thậm chí, đổi với người nuôi chí lập nghiệp trong
một môn học thuật, đọc sách là một cuộc rèn luyện, một cuộc chuẩn bị âm thầm
và gian khổ
- Đọc sách không chỉ là việc học tập tri thức, mà còn là việc rèn luyện tính
cách học làm người
* Cách lập luận, trình bày phần này chủ yếu nhờ vào những hình ảnh ví
von, so sánh cụ thể, sinh: động ( như cưỡi ngựa qua chợ , như trọc phú
khoe của)
5 (Ngi van 9, tap 2, tr.7)
- Từ nội dung bài viết cho đến cách trình bày của tác giả đều đạt lí, thấu tình Các
ý kiến nhận xét đưa ra thật xác đáng, có lí lẽ chặt chẽ, vừa sinh động vừa dễ hiểu
Trang 14- Bài viết có bố cục chặt chẽ, hợp li, các ý được dẫn dắt rất tự nhiên
- Cách viết giàu hình ảnh và cách ví von thật cụ thể, thú vị: giống như ăn
uống, các thứ không tiêu hoá được Càng dễ sinh ra bệnh đau dạ dày, lối ăn
tươi nuốt sống, làm học vấn giống như đánh tran , như cưỡi ngựa qua chợ,
trang trí bộ mặt, như kẻ trọc phú khoe của, giống như con chuột chui vào sừng
trâu, càng chui sâu, càng hẹp
lll TONG KET
Đọc sách là một con đường quan trọng để tích lũy, nâng cao học vấn Ngày
nay sách nhiều, phải biết chọn sách mà đọc, đọc ít mà chắc còn hơn đọc nhiều
mà rỗng Cần kết hợp giữa đọc rộng với đọc sâu, giữa đọc sách thường thức với
đọc sách chuyên môn Việc đọc sách phải có kế hoạch, có mục đích kiên định
chứ không thể tùy hứng, phải vừa đọc vừa nghiền ngẫm Qua bài viết Bàn về
đọc sách, Chu Quang Tiềm đã trình bày những ý kiến xác đáng ấy một cách có lí
lẽ và bằng những dẫn chứng sinh động
KHỞI NGỮ
A KIEN THỨC CƠ BẢN
a) Khởi ngữ | là thành phần câu đứng trước chủ ngữ và nêu lên đề tài liên
quan được nói đến trong câu
Trước từ ngữ làm khởi ngữ, có thể cỏ sẵn hoặc dùng các quan hệ từ như
về, đối với và có thể thêm “thì” sau khởi ngữ
- Yếu tố ở khởi ngữ có thể được lặp lại bằng một từ thay thế:
Quyển sách này tôi đọc nó rồi
- Yếu tố ở khởi ngữ có thể tỉnh lược; tại vị trí tỉnh lược, có thể đặt yếu tố
tương đương (ví dụ trên)
b) Khởi ngữ có quan hệ gián tiếp với phần câu còn lại:
Một bài thơ hay không bao giờ ta đọc qua một lần mà bỏ xuống được
(Nguyễn Đình Thì)
IB GOLY TRA LOI CAU HO!
I Đặc điểm và công dụng của khởi ngữ
1 (Ngữ văn 9, tập 2, tr.7) Các thành phần in đậm đứng trước chủ ngữ (Chủ
ngữ của câu Còn anh, anh không ghìm nỗi xúc động là từ anh thứ hai; của câu
(b) là từ tôi, của câu (c) là chúng ta) Các từ in đậm đứng trước chủ ngữ để nêu
lên đề tài được nói đến trong câu
2 (Ngữ văn 9, tập 2, tr.7) Trước các từ này có thể có các từ: còn, đối với, vê
II Luyện tập
1 (Ngữ văn 9, tập 2, tr.8)
- Gợi ý: Tìm khởi ngữ bằng cách tìm các từ đứng trước chủ ngữ, có tác dụng
nêu lên đề tài của câu, làm cho người nghe chú ý theo dõi nội dung tiếp theo
Trang 15- Nêu ra luận điểm cơ bản làm tiền đề cho lập luận: học ván là của nhân loại
Sách là nơi ghỉ chép và lưu truyền học vấn, kho báu di sản tinh thần nhân loại
- Đưa ra giả thuyết: muốn tiến lên phía trước phải đọc sách để chiếm lĩnh
thành tựu nhân loại đã đạt được trong quá khứ (Câu bắt đầu bằng từ Nếu )
- Đưa ra giả thiết: không đọc sách là xoá bỏ thành tựu nhân loại đã đạt được
jong quá khứ sẽ đẩy lùi diém xuat phat hang nghin nam (Cad bắt đầu bằng từ
- Từ luận điểm cơ bản làm tiền đề cho lập luan va hai gid thigttac gid di dén
kết luận: Cẩn đọc sách, đọc sách là sự chuẩn bị đễ đi trên con đường học vấn
Kết luận này được trình bày trong giai đoạn tiếp theo ~
2 (Ngữ văn 9, tập 2, tr.10)
Phân tích lí do phải chọn đọc sách, tác giả nêu ý kiến:
- Sách nhiều khiến người ta không chuyên sâu Chọn sách mà đọc cho Kĩ,
vừa đọc vừa nghiền ngẫm mới có tác dụng
- Sách nhiều dễ bị lạc hướng Chọn sách quan trọng, cơ bản để-đọckhông
3 (Ngữ văn 9, tập 2, tr.10)
Tác giả phân tích tầm quan trọng của cách đọc sách như sau:
- Đọc sách không cần nhiều
- Quan trọng nhất là chọn cho tinh, đọc cho kĩ:
+ Đọc mười quyển sách không quan trọng không bằng đọc kĩ mười lần một
quyển sách quan trọng
+ Đọc Ít mà kĩ sẽ tạo thành nếp suy nghĩ sâu xa, tích lũy dan dần tri thức
- Đọc sách không phải để trang trí bộ mặt như kẻ trọc phú khoe của Đó là
cách đọc sách tự lừa dối mình, thễ hiện phẩm chất tầm thường, thấp kém
- Phải đọc cả hai loại sách: sách thông thường và sách chuyên môn Không
nên coi thường sách trì thức vì nó tạo nên nền văn hoá rộng cho chuyên môn
sâu Có như vậy mới có tri thức vững vàng
4 (Ngữ văn 9, tập 2, tr.10)
Phân tích là phương pháp nghị luận quan trọng, giúp ta trình bày các khía
cạnh khác nhau xung quanh một vẫn đề, một sự vật (Bàn về đọc sách là bàn về
tầm quan trọng của việc đọc sách với việc tích lũy học vấn, là bàn về việc chọn
sách để đọc, là bàn về cách đọc sách) Từ đó người đọc hiểu được nội dung của
vấn đề, sự vật
LUYỆN TẬP PHÂN TÍCH VÀ TONG HOP
Luyện tập vận dụng phép lập luận phân tích và tông hợp vào việc nhận diện
phương pháp lập luận của hai đoạn văn cho sẵn và vào việc viết một đoạn văn
1 (Ngữ văn 9, tập 2, tr.11)
a) Đoạn văn của Xuân Diệu phân tích cái hay của bài thơ Thu diéu Tac gia
đã sử dung thao tac tổng hợp và phân tích Câu đầu tiên nêu ra một nhận xét
khái quát được tổng hợp từ nhiều trường hợp cụ thé “Tho hay là hay cả hôn lẫn
xác, hay cả bài không thể tóm tắt thơ được mà phải đọc lại"
Trang 16Từ câu thứ hai, tác giả đi vào phân tích cái hay của bài Thu điếu về các
phương diện: bài thơ thú vị ở các điệu xanh; ở những cử động; ở các vần thơ
Mỗi điều hay khi phân tích đều được minh hoạ bằng các dẫn chứng cụ thể Nhờ
vậy bài viết luôn phảng phát không khí của Thu điều
b) Đoạn văn phân tích các nguyên nhân dẫn đến thành đạt của con người
trong đó nguyên nhân quan trọng là nguyên nhân chủ quan Tác giả đoạn văn
đưa ra từng nguyên nhân khách quan có thé dẫn tới sự thành đạt sau đó lại bác
bỏ vì không phải là nguyên nhân quyết định Cuối cùng tác giả chỉ ra "Rút cuộc,
mắu chốt của sự thành đạt là ở bản thân chủ quan mỗi người, ở tinh thân kiên trì
phán đầu học tập không mệt mỏi, lại phải trau dồi đạo đúc cho tốt đẹp"
2 (Ngữ văn 9, tập 2, tr.12)
Phân tích thực chất của lối học đối phó và nêu lên tac hại của nó
Một số gợi ý:
- Học đối phó là lối học như thế nào? -
+ Hàng ngày không ngó ngàng gì đến bài vở, chỉ khi sắp kiểm tra, sắp thi
mới học
+ Sắp thi, sắp kiểm tra, gặp thầy, gặp bạn nghe ngóng dé đoán đầu bài sẽ ra
vào nội dung nào Từ đó chỉ chúi mũi học máy bài đó, bỏ qua các bài khác
- Tác hại của thái độ học đối phó:
+ Học qua loa, nắm kiến thức lờ mờ, có nhiều chỗ hỗng Do đó học vấn
+ Tạo ra thói quen học tập, tránh thói làm việc tắc trách
3 (Ngữ văn 9, tập 2, tr.12) Lí do bắt buộc mọi người phải chọn sách mà đọc
+ Số lượng sách lớn, nhiều trong khi đó thời gian đọc sách của mỗi người có
hạn vì thế phải chọn sách mà đọc
+ Sách đa dạng về nội dung Trong từng nội dung, có sách đề cập đến vấn
đề quan trọng, có sách đề cập đến vấn đề không quan trọng bằng Vì thế cần
chọn sách quan trọng mà đọc
4 (Ngữ văn 9, tập 2, tr.12) Tóm lại, muốn đọc sách có hiệu quả phải chọn
những sách quan trọng nhất mà đọc cho kĩ, đồng thời cũng chú trọng đọc rộng
thích đáng, để hỗ trợ những việc nghiên cứu chuyên sâu
- Nguyễn Đình Thi (1924 - 2003) quê ở Hà Nội, là thành viên của tổ chức
Văn hoá Cứu Quốc do đảng Cộng sản thành lập từ 1943 Sau Cách mạng tháng
tám, ông làm Tổng thư kí Hội văn hoá Cứu quốc, đại biểu quốc hội khoá đầu
tiên Ông giữ chức tổng Thư kí hội văn nghệ Việt nam rất nhiều năm Hoạt động
khá đa dạng như làm thơ, viết văn, sáng tác nhạc, kịch, viết lí luận phê bình
~ Tiểu luận Tiếng nói của văn nghệ được ra đời năm 1948, in trong cuốn
“May van dé văn học"
Trang 17II GỢI Ý TRẢ LỜI CẤU Hỏi)
1 (Ngữ văn 9, tập 2, tr.17) Bài Tiếng nói của văn nghệ phân tích, khẳng định
sức mạnh lớn lao của văn nghệ đối với đời sống của con người qua hai nội dung
chính: (1) văn nghệ là mối dây đồng cảm kì diệu giữa nghệ sĩ với bạn đọc qua
những rung động mãnh liệt, sâu xa của trái tìm, (2) văn nghệ giúp cho con người
được sống phong phú hơn và tự hoàn thiện nhân cách, tâm hồn
Bài văn có thể bố cục như sau:
s Đoạn 1: “Tác phẩm nghệ thật nào một cách sống của tâm hồn”:
- Văn nghệ không chỉ phản ánh thực tại khách quan mà còn là nhận thức mới
mẻ, là tư tưởng, tình cảm của cá nhân nghệ sĩ, giúp ta thay đổi cách nhìn cách
nghĩ của ta
° Đoạn ae ‘Trong những trường | hop Nghé thuật là tiếng nói của tình cảm”:
- Tiếng nói của văn nghệ rất cần thiết với cuộc sống của con người, nhất là
trong hoàn cảnh những năm đầu kháng chiến
e Đoạn 3: “Nghệ thuật nói nhiễu đời sống tâm hôn cho xã hội”: Văn nghệ
có khả năng cảm hoá, có sức lôi cuốn thật kì diệu bởi đó là tiếng nói của tình
cảm, tác động tới con người qua những rung cảm sâu xa
2 (Ngữ văn 9, tập 2, tr.17) Khi sáng tạo một tác phẩm, nghệ sĩ gửi vào đó một
cách nhìn, một lời nhắn nhủ của riêng mình Nội dung của tác phẩm văn nghệ
đâu chỉ là câu chuyện, con người như xảy ra ở ngoài đời mà quan trọng hơn là
tư tưởng, tắm lòng của người nghệ sĩ gửi gắm trong đó
Tác phẩm văn nghệ không cất lên những lời thuyết lí khô khan mà chứa
đựng tất cả những say sưa, vui buồn, yêu ghét, mơ mộng của nghệ sĩ Nó mang
đến cho chúng ta bao rung động, bao ngỡ ngàng trước những điều tưởng chừng
đã rất quen thuộc
- Nội dung tiếng nói văn nghệ, từ đó, còn là rung cảm, nhận thức của từng
người tiếp nhận Nó sẽ được mở rộng, phát huy vô tận qua từng thế hệ người
đọc, người xem
Như thế, tiếng nói của văn nghệ khác với nội dung của các bộ môn khoa học
như dân tộc học, xã hội học, lịch sử, địa lí Những bộ môn khoa học này khám
phá, miêu tả và đúc kết bộ mặt tự nhiên hay xã hội, các quy luật khách quan
Văn nghệ tập trung khám phá, thể hiện chiều sâu tính cách, số phận con người,
thế giới bên trong của con người Nội dung chủ yếu của văn nghệ là hiện thực
mang tính cụ thể, sinh động, là đời sống tình cảm của con người qua cái nhìn và
- Trong những trường hợp con người bị ngăn cách đối với đời sống, văn
nghệ là sợi dây liên hệ giữa người đó với thế gidi bén ngoai
- Van nghé gop phan làm cho đời sống của chúng ta ngày càng đẹp đẽ, đáng
yêu hơn Một tác phẩm văn nghệ hay giúp con người cảm thấy yêu tin cuộc
sống, biết rung cảm và ước mơ trước cái đẹp
4 (Ngữ văn 9, tập 2, tr.17)
- Theo Tôn-xtôi: "Nghệ thuật không đứng ngoài trỏ vẽ cho ta đường ởi, nghệ
thuật vào đốt lửa trong lòng chúng ta, khiến chúng ta phải tự bước lên đường
ấy!" Tư tưởng của nghệ thuật không khô khan, trừu tượng mà lắng sâu, thám
DO-Copy,
Trang 18hoà vào những cảm xúc, những nổi niềm Từ đó, tác phẩm văn nghệ, qua cảm
xúc, đi vào nhận thức, tâm hồn chúng ta qua con đường tình cảm
- Khả năng kì diệu của văn nghệ được lí giải thật sâu sắc:
« Mở rộng khả năng của tâm hồn là cho con người được sống nhiều hơn với tat
cả vui buồn, yêu thương, căm hờn, biết nhìn, biết nghe một cách tinh tế, sâu sắc
* Giải phóng con người khỏi biên giới của chính mình, giúp con người tự xây
dựng mình
e Xây dựng đời sóng tâm hôn cho xã hội
- Tac phẩm văn nghệ chân chính đem lại cho người đọc một lí tưởng tiến bộ,
nhân đạo, bao giờ cũng có ý nghĩa, bằng một cách đặc biệt, không khô khan mà
chất tuyên truyền là cả sự sống con người
- Nghệ sĩ giới thiệu với chúng ta một cảm giác, tình tự, một tư tưởng bằng
cách làm sống dậy, hiển hiện ngay lên trong tâm hồn chúng ta cảm giác, tình tự,
tư tưởng ấy Cho nên tuy không mang hình thức tuyên truyền nhưng nghệ thuật
là một thứ tuyên truyền hiệu quả và sâu sắc hơn cả
5* (Ngữ văn 9, tập 2, tr.17)
- Bố cục hợp lí, liên kết chặt chẽ, tự nhiên
- Lập luận sắc sảo, vừa giải thích, chứng minh vừa bình luận sâu sắc
- Cách viết giàu hình ảnh, nhiều dẫn chứng để khẳng định các ý kiến, làm
tăng thêm sức hấp dẫn
CÁC THÀNH PHAN BIET LAP
ÍA KIEN THU'C CO’ BAN
Thanh phan tinh thái được ding dé thể hiện cách nhìn của người nói đối
với sự việc được nói đến trong câu
« Thành phần cảm thán được dùng để bộc lộ tâm lí của người nói (vui, buồn,
mừng, giận, .)
s Các thành phần tình thái, cảm than là những bộ phận không tham gia vào
việc diễm đạt nghĩa sự việc của câu nên được gọi là thành phần biệt lập
B GỢI Ý TRẢ LỚI CẤU HỘI
1 (Ngữ văn 9, tập 2, tr.18) Từ chắc (câu a), có lẽ (câu b) thê hiện nhận định của
người nói đối với độ tin cậy của nội dung đó (độ tin cậy của chắc cao hơn có lẽ)
2 (Ngữ văn 9, tập 2, tr.18) Nếu bỏ các từ ngữ này thì nội dung sự việc trong
các câu vẫn không thay đổi Các từ ngữ này dùng đê thê hiện thái độ của người
nói đối với sự việc hoặc đối với người nghe
II Thanh phan cam than
41 (Ngữ văn 9, tập 2, tr.18)
Các từ ngữ ỏ, trời ơi ở đây không chỉ sự vật hạy sự việc gì cả
2 (Ngữ văn 9, 2, tr.18) Chúng tôi hiểu được tại sao người nói kêu 4, trời ơi
là nhờ phần câu tiếp theo sau những tiếng này Chính những phan câu tiếp theo
sau các tiếng đó giải thích cho người nghe biết tại sao người nói cảm thán
-HDH NV9- “14350 Gppy
Trang 193 (Ngi van 9, tập 2, tr.18) Các từ ngữ in dam 6, trời ơï không dùng đề gọi ai
cả, chúng chỉ giúp người nói giãi bày lòng của mình
II Luyện tập
1 (Ngữ văn 9, tập 2, tr.19)
a) có lẽ b) chao ôi ©) hình như d) ngờ ngợ, chả nhẽ
2 (Ngữ văn 9, tập 2, tr.19)
Các từ tình thái chỉ độ tin cậy, xếp theo trật tự từ ít đến nhiều: dường như
(văn viết) hình như - có lẽ - chắc là - chắc hẳn - chắc chắn
3 (Ngữ văn 9, tập 2, tr 19) Trong ba từ “chắc, hình như, chắc chắn" thì “chắc
chắn” có độ tin cậy cao nhất, “hình nhu” có độ tin cậy thấp nhát Tác giả chọn sử
dụng từ “chắc”, là từ có độ tin cậy ít hơn chắc chắn và cao hơn hình như, vì
chiến tranh và nghĩa vụ với quê hương, đã lâu ông Sáu không gặp ¢ con, ông
không thể "chắc chắn” là bé Thu sẽ chạy xô vào lòng ông, ôm lấy cỗ ông ngày
gặp mặt
4 (Ngữ văn 9, tập 2, tr 19) Đoạn văn tham khảo nói về cảm xúc của em khi
biết tin hải phận bị lâm nguy:
“Chú Định bị
Bây giò là rất khuya, thực sự không còn sớm nữa, cháu đã định đi ngủ, mà
nghe bó đọc báo cho mẹ, thấy có một tin nói về những ngư dân Việt bị tàu Trung
Quóc bắt, cháu chợt nhớ đến chú vô cùng, và cháu tự hỏi: “giờ này chú đang làm
gì khi đã khoác vào mình màu áo của hải quân Việt Nam?” Thật là đau xót quái!
Đây là trích đoạn trong báo Lao động ngày 19/3/ 2009 chú Định ạ:
An Nam đồ chí là một tập sách bản đồ có các khảo chú vẻ toàn quốc và các
địa phương của VN Một nội dung như vậy là một tài liệu tham khảo sử địa học
quan trọng, mà giới nghiên cứu VN cả trong nước và quốc tế cho đến nay chưa
từng trích dẫn hoặc biết tới Niên đại soạn sách ghi sau bài tựa càng là một giá trị
quý hiếm: Vạn Lịch Mậu Thân thanh minh nhật Vạn Lịch (1573-1620) là niên
hiệu Vua Minh Thần Tông, năm Mậu Thân Vạn Lịch là năm 1608, cách nay đúng
401 năm
An Nam đồ chí là thư tịch bản đồ đầu tiên của Trung Quốc ghi tên cửa biển
Đại Trường Sa trong tờ bản đồ vẽ nước An Nam - tức VN
P@GS-TS Ngô Đúc Thọ kết ' luận: "Bắt cứ vì lí do gì, việc một viên quan binh
của nhà Minh giữ chúc Phó Tổng bình châu Quỳnh Nhai (tức đảo Hải Nam) ghi
tên Của biển Đại Trường Sa của VN trên bản đô An Nam, chứng tỏ người Trung
Hoa từ trước và từ triều Mình, triều Thanh đều thừa nhận hai quân đảo Hoàng
Sa-Trường Sa là thuộc VN" Về tài liệu nước ngoài, TS Nguyễn Nhã có một phát
hiện đặc biệt quan trọng, khi ông tiếp cận bản đỗ An Nam đại quốc hoạ đồ, do
Giám mục Taberd vẽ năm 1838 Tám bản đồ nằm trong cuốn từ điển được in ắn,
nên nó không phải là độc bản mà mức độ phô biến rộng rãi, đến được với nhiều
người - đặc biệt là giới học giả (đối tượng sử dụng chủ yếu của cuốn từ điển
này) Trên bản đô, quân đảo Hoàng Sa được viết bằng chữ "Cát Vàng" Và điều
đặc biệt nhất là, bản đô có ghi toạ độ và khi đối chiếu với só liệu hôm nay thì
hoàn toàn trùng khóp Đây là bản đồ cỗ duy nhất có ghi toa độ và cũng là bản đô
cỗ duy nhất có xác định toạ độ của Hoàng Sa
Ngoài ra, trên tap san The journal of the Asiatic society of Bengal, Vol VI
cũng đã đăng bài của giám mục Taberd, xác nhận Vua Gia Long đã thân chinh
vượt biển đến Hoàng Sa vào năm 1816 và long trọng treo cờ, chính thức giữ chủ
quyền quần đảo Paracels (Hoàng Sa, Cát Vàng)
Trang 20Hai tam bản đỗ do những người nước ngoài vẽ thực sự là một minh chứng
hùng hôn về chủ quyên của VN đối với hai quân đảo Hoàng Sa và Trường Sa'
Tại sao bọn Trung Quốc đã dám bắt giữ 33 tàu và 433 ngư dân tỉnh Quảng
Ngãi của chúng ta trong năm 2009 hả chú Định? Tại sao ngư dân ta phải nộp
phạt từ 50.000-70.000 nhân dân tệ đề được thả về?
Tại sao bọn Trung Quốc đã tich thu toàn bộ tài sản, phương tiện, hải sản,
nhiên liệu rồi dudi ra khỏi quân đảo Hoàng Sa? Thật là bắt công và vô luật lệt
Làm sao mà chúng ta có thể xem bọn ấy là “bạn hàng xóm” tốt được? Trái táo,
trái lê của bọn chúng bán trên nước ta ngày nay thật chẳng khác gì trái táo tam
độc của bà phù thủy đưa cho cô công chúa ngây thơ trong cỗ tích ngày xưa!
Không! Chúng ta thê không xem chúng là bạn ! Thật tội nghiệp cho các ngư dân
nước ta đang bị bọn Trung Quốc bức hại!"
NGHỊ LUẬN VỀ MỘT SỰ VIỆC,
HIỆN TƯỢNG ĐỜI SÔNG
lA KIỀN THỨC CƠ BẢN |
- Nghị luận về một sự việc, hiện tượng trong đời sống xã hội là bàn về các sự
việc, hiện tượng có ý nghĩa đối với xã hội, đáng khen, đáng chê hay có vấn đề
đáng suy nghĩ
- Vé nội dung của kiểu bài nghị luận phải nêu rõ được sự việc, hiện tượng có
van dé; phan tích mặt sai, mặt đúng, mặt lợi, mặt hại của nó; chỉ ra nguyên nhân
và bày tỏ thái độ, ý kiến nhân định của người viết
- Về hình thức, bài viết phải có bố cục mạch lạc; có luận điểm rõ ràng, luận
cứ xác thực; phép lập luận phù hợp; lời văn chính xác, sống động
- Muốn làm bài văn nghị luận về một sự việc, hiện tượng trong đời sống phải
tìm hiểu kĩ đề bài, làm dàn bài, viết bài và sửa lại
B GỢI Ý TRẢ LỜI CÂU HỎI
1 Tìm hiểu bài nghị luận một sự việc, hiện tượng đời sống
a) Trong văn bản trên, tác giả bàn luận về bệnh lề mè - là bệnh coi thường
giờ giấc của nhiều người khi thực hiện những công việc chung Biểu hiện như
Sau:
+ Trễ giờ ở các cuộc họp, các cuộc hội thảo
+ Quý thời gian của mình chứ không tôn trọng thời gian của kẻ khác
+ Tạo ra tập quán xấu: các giấy mời phải ghi som,
Tác giả đã quan tâm tới bệnh lề mề rất nhiều góc độ khác nhau Có nêu sự
kiện và có phát biểu suy nghĩ về sự việc đó
b) Nguyên nhân chính gây nên bệnh lề mề là:
- Không biết quý trọng thời gian trong các cơ quan, đoàn thể
~ Không coi mình là người có trách nhiệm đối với việc chung của mọi người
Trang 21
- Sự phân tích của tác giả về các tác hại của bệnh lề mè rất ngắn gọn, mạch
lạc và có sức thuyết phục cao
Chẳng hạn:
+ Nêu ý khái quát: Bệnh lề mè do thiếu tự trọng, thiếu tôn trọng người khác;
+ Triển khai cụ thé hon: Ho quý thời gian của mình mà không tôn trọng thời
gian của người khác;
+ Suy ra kết luận: Họ không có trách nhiệm với việc chung
qd)
+ Mở bài: Giới thiệu sự kiện, hiện tượng có vấn đề cần nghị luận
+ Thân Phân tích các mặt, liên hệ thực tế, đánh giá nhận định
+ Kết bài: Kết luận, khẳng định, phủ định, lời khuyên
- Bài làm cần lựa chọn góc độ riêng để phân tích, nhận định đưa ra ý kiến có
suy nghĩ và cảm thụ riêng của người viết
II Luyện tập
1 (Ngữ văn 9, tập 2, tr.21) Các sự việc hiện tượng tốt đáng biểu dương của
học sinh trong nhà trường, ngoài xã hội như: Phan đấu vượt khó, đoàn kết giúp
bạn trong học tập, giúp đỡ người neo đơn, tàn tật, giúp đỡ nạn nhân chát độc
màu da cam, hiếu thảo phụng dưỡng cha mẹ
- Mỗi đề đều yêu cầu hoc sinh phân tích sự việc, hiện tượng và nêu suy nghĩ
riêng của người viết bài
2 (Ngữ văn 9, tập 2, tr.21) Đây là hiện tượng xáu của thanh niên: những thói
quen hút thuốc lá đã trở thành tệ nạn gây hao tôn tiền bạc, tổn hại sức khỏe; thật
đáng viết một bài nghị luận về van dé này, có thé lấy nhan đề là bàn bạc về bệnh
nghiện thuốc lá
CÁCH LÀM BÀI NGHỊ LUẬN VỀ MỘT SỰ VIỆC
HIỆN TƯỢNG ĐỜI SÔNG
A KIEN THỨC CƠ BẢN
~- Muốn làm tốt bài văn nghị luận về một sự việc, hiện tượng đời sống, phải
` tìm hiểu kĩ đề bài, phân tích sự việc, hiện tượng đó để tìm ý, lập dàn bài, viết bài
và sửa chữa sau khi viết
- M@ bai: Giới thiệu sự việc, hiện tượng cần bàn luận
- Than lên hệ thực tế, phân tích các mặt; nêu đánh giá, nhận định
- Kết bài: et luận, khẳng định, phủ định, lời khuyên
- Bài làm cần lựa chọn góc độ riêng để phân tích, nhận định; đưa ra ý kiến,
suy nghĩ và cảm thụ riêng của người viết
B GOLY TRA LOI CAU HO]
I é bai nghi luan về một sự việc hiện tượng đời sống
a)- Những đề bài trên có điểm giống nhau là:
- Cùng bàn bạc về những sự việc, hiện tượng trong ‹ đời sống
- Cùng yêu cầu học sinh phát biểu ý kiến cá nhân của mình
Trang 22
b) BÀI THAM KHẢO
Dé: Bình luận câu:
"Lời nói chẳng mắt tiền mua,
Lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau”
BÀI THAM KHẢO
Dân gian Việt Nam xưa nay xem việc ăn và nói là hai việc quan trọng của
đời người Ông bà ta có nhiều thành ngữ, tục ngữ ca dao xoay quanh hai vấn
đề này, như các câu:
Học ăn, học nói, học gói, học mở
Người khôn ít nói, nghe nhiều Chim khôn kêu tiếng rảnh rang Người khôn ăn nói dịu dàng dễ nghe
Và hai câu ca dao sau đây được truyền tụng nhiều hơn là:
Lời nói chẳng mắt tiên mua,
Lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau
Để rút ra giá trị về bài học từ hai câu này, chúng ta hãy tìm hiểu ý nghĩa và
bàn bạc
Lời nói là công cụ diễn đạt ý nghĩa của con người Chỉ có con người là loài
thông minh nhất mới sáng tạo ra ngôn ngữ phong phú để én dat rd rang va ti
mỉ ý nghĩ trong đầu mình Một đứa trẻ một, hai tuổi đã bắt đầu "học nói" Càng
lớn lên nó càng được tìm hiểu, tìm hiểu và lựa lời Vậy lựa lời là gì? Lựa lời là
lựa chọn từ ngữ, lựa chọn cách diễn đạt ý, dùng từ và ngữ điệu trong lúc trình
bày ý nghĩ của mình
Lựa chọn mà nói cho vừa lòng nhau nghĩa là néu một người biết lựa chọn,
sử dụng ngôn ngữ một cách khéo léo, tế nhị sẽ làm vui lòng người nghe và
được người nghe đáp lại ý mình một cách vui vẻ
Như thế, lời khuyên của người xưa để lại chẳng chút nào thừa Hơn thế, nó
còn là một bài học sâu sắc, một lời nhắc nhở ân cần cho ta Đây còn là một
kinh nghiệm về cách đối nhân xử thế và rèn luyện nhân cách Vì sao như vậy?
Lí do thứ nhất là xã hội loài người là một xã hội có tổ chức, có văn hóa
Con người giao tiếp nhau bằng ngôn ngữ Ngôn ngữ có thể hòa giải mâu
thuẫn, chiến tranh Từ ngàn năm trước, trên thời gian đã có những "thuyết
khách" dùng nghệ thuật ngôn ngữ để hòa giải chiến tranh, đoàn kết các nước
như những liệt sĩ thời Chiến quốc bên Tàu
Xét cho kĩ, lời nói như một con dao sắc, nếu người sử dụng dao vụng về thì 3 trước tiên sẽ gây đau đón, thiệt hại cho mình và cả cho người Ngược lại, nếu
sử dụng lời nói khéo léo bằng cách chọn từ hay, ý đẹp và giọng điệu ôn tồnthì
dù có khiển trách ai, người ta cũng đổi giận làm vui, kính nễ và nghe theo lời
khuyên bảo của mình
Nếu người đều biết lựa lời mà nói thì mọi va chạm cá nhân sẽ nhẹ bớt, bớt
đi bao nhiêu trận gây gỗ, hiềm thù:
Lời nói chẳng mắt tiền mua,
Lụa lời mà nói cho vừa lòng nhau
Vi nhiều khi có tiền mà không biết lựa lời thì cũng không biết mua ở đâu dé
có được những lời hay ý đẹp mà nói với người đối diện Tiền không mua được
lời hay ý đẹp Chỉ trong những câu truyện cỗ tích Án Độ, ta mới thấy người ta
mang vàng đi mua lời vàng ý ngọc mà thôi Còn ở đời này thì đạo đức, học vấn
Trang 23và văn hóa mới mang khôn ngoan đến để người ta biết lựa lời Chính qua lời
nói, người nghe có thê đánh giá được trình độ và nhân cách của người nói
Tuy nhiên, đâu phải ai ai cung biết lựa lời Nhiều người có một thói xấu là
thích dùng lời nói để nói xấu, dèm pha người khác vì lòng ganh ghét Có người
lại thêu dệt, nói lưỡi đôi chiều đẻ đâm thọc, gây chia rẽ, thù oán giữa hai người
đang hòa thuận vui vẻ với nhau Có người lại vừa nói vừa rồng rít, nguyền rủa,
chì chiết, mia mai, làm cho người nghe cay đắng tủi nhục rồi căm ghét Người
dại dột hơn cả là nói năng không đúng lúc, không đúng người và không đúng
chỗ Thí dụ: Nói với người say, nói với người điên Người ta đang ngủ, đang ăn
hoặc đang bận rộn suy nghĩ về một việc khác, cũng dựng đầu lên mà gào thét
Những cách nói như vậy chẳng đem lại kết quả gì Người nghe không tiếp thu
được vì mệt nhọc, bực tức, vì coi (hường người nói thiếu văn minh, lich sự
Tuy nhiên, lựa lời để vừa lòng người nghe phải khác với sự xuê xoa, tránh
né phê phán những sai lầm, khuyết điểm của bạn bè, đồng nghiệp Những
người tố mà vào hùa với kẻ xấu đễ được vừa lòng nhau thì thật nguy hiểm và
sai lâm
Đối với những trường hợp đó, chúng ta cần phải lựa lời để chỉ ra lam lỗi
của bạn bè với thái độ chân thành, thằng thắn và với mục đích tốt, kèm theo
một giọng nói dễ nghe Như vậy, chắc chắn người lầm lỗi cũng phải suy nghĩ
va héi lỗi và ta mới thực sự xây dựng tình đoàn kết lâu dài
Xem trên báo chí ngày nay, thật tiếc cho những thanh thiếu niên nam nữ vì
những tị hiềm, xô xát cá nhân mà oán hờn nhau Người có lối thì tiếc một lời
xin lỗi, người hiểu làm cũng không đủ bình tinh dé hỏi nguyên do, chỉ nhớ đến
những thước phim bạo lực nước ngoài, rồi ra tay đánh nhau, người đứng cạnh
cũng chẳng dùng lời hay lẽ phải đề hòa giải, cuỗi cùng dân đến tai họa và án
mạng không lường
Lời nói chẳng mắt tiền mua,
Lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau
Cé giá trị khá sâu sắc Tuy rằng nó không đúng ở tất cả mọi hoàn cảnh
nhưng nó nhắc nhở mọi người phải biết "một câu nhịn, chín câu lành" biết "học
ăn, học nói" đễ rèn luyện nhân cách tốt và quan hệ tốt trong xã hội Khi còn là
học sinh, điều này vô cùng cần thiết với em Em cần phải học tập nhiều để biết
lựa lời đễ ngôn ngữ của mình luôn đạt hiệu quả như mong muốn và lời nói của
ta luôn mang đến an vui hạnh phúc cho mọi người thân yêu quen biết quanh ta
II Cách làm bài nghị luận về một sự việc hiện tượng đời sống
4 (Ngữ văn 9, tập 2, tr.23)
a) Đề thuộc loại nghị luận về một sự việc hiện tượng đời sống; nêu lên tắm
gương tốt của một học sinh hiếu thảo thông minh phụ giúp mẹ chăn nuôi và
trồng trọt Yêu cầu cụ thể của đề là nêu lên suy nghĩ của mình
b) Tìm ý: phân tích ý nghĩa những hành động của bạn Nghĩa, giải thích vì
sao Thành đoàn phát động phong trào học tập bạn Nghĩa? Những việc làm của
Nghĩa có khó không? Nếu mọi học sinh đều làm được như Nghĩa thì cuộc sống
Trang 24- Nếu sơ lược ý nghĩa của tắm gương Phạm Văn Nghĩa: Một học sinh biết
hiếu thảo, thông minh và sáng tạo, biết vận dụng những kiến thức đã học trong
nhà trường dé thay đỗi cuộc sống của mình
b) Thân bài
- Phân tích ý nghĩa việc làm của Phạm Văn Nghĩa:
+ Nghĩa thụ phần cho bắp, mang đến năng suất cao cho vườn bắp gia đình:
Cho chúng ta thấy em vừa là một đứa con ngoan, hiếu thảo trong việc giúp đỡ
mẹ trồng trọt, vừa là một học sinh biết vận dụng tri thức khoa học hiện đại vào '
đời sống để nâng cao cuộc sống hiện tại
+ Nghĩa còn nuôi heo, nuôi gà: vừa tham gia lao động sản xuất, vừa phụ giúp
kinh tế gia đình, Nghĩa vừa có thêm kinh nghiệm trong việc chăn nuôi
+ Nghĩa làm 1 cái tời để mẹ tưới nước cho khỏi mệt: Nghĩa là một thiếu niên
cần cù, sáng tạo và hiếu thảo
- Đánh giá việc làm của Phạm Văn Nghĩa: Việc làm của em Nghĩa thật là một
tấm gương sáng cho học sinh thời đại mới chúng em noi theo
- Đánh giá ý nghĩa của việc phát động phong trào học tập Phạm Văn Nghĩa:
Phong trào noi gương Phạm Văn Nghĩa là một phong trào hay, có ý nghĩa, khuyến
khích học sinh rèn luyện gương sáng về tính cần cù, sáng tạo và hiếu thảo
c) Kết bài
- Khái quát ý nghĩa của tắm gương Phạm Văn Nghĩa
- Rút ra bài học cho bản thân
3 (Ngữ văn 9, tập 2,, tr:25)
Sau khi các em đã làm nháp trên giấy, cần đọc lại và bd sung, sap xép y cho
hợp lí, sau đó viết thành câu, thành đoạn và bài văn hoàn chỉnh
4 (Ngữ văn 9, tap 2,, tr.25) Cần chú ý xem mỗi câu có đủ chủ ngữ, vị ngữ hay
không? Chính tả và cách dùng từ có chính xác không? Nếu phát hiện lỗi sai, cân
sửa ngay cho chính xác và cô gắng sao cho bài làm dễ xem, sạch sẽ Nếu cần
sửa chữa nhiều và còn đủ thời gian thì nên chép lại
III Luyện tập
Dựa trên câu chuyện kể về Nguyễn Hiền, trang 22 sách giáo khoa, để phát
biểu những niềm xúc cảm, Suy nghĩ và dự định của em về việc noi gương nghị
lực và chí học tập của Nguyễn Hiền Chú ý hai đặc điểm lớn cần khai triển:
- Ý chí vượt khó của cậu bé nhà nghèo Nguyễn Hiền
- Trí thông minh cúa Nguyễn Hiền khi lấy ' ¬ay giấy để học tap
- Két qua hoc tập đáng nhớ của ông quan Trạng Nguyễn Hiền
~ Tư cách nghiêm trang đĩnh đạc của Nguyễn Hiền
CHƯƠNG TRÌNH ĐỊA PHƯƠNG
(phần Tập làm văn)
Đề: Viết bài trình bày về hoạt động tết trồng cây ở địa phương em
Gợi ý:
- Địa phương em tỗ chức Tết trồng cây từ rất lâu để tưởng nhớ đến Bác Hồ,
người đã đề xướng việc trồng cây vào mỗi dịp xuân về
- Tổ chức Tết trồng cây tạo nên sự quan tâm, gắn bó của mỗi người đối với
thiên nhiên và xã hội Đối với thiên nhiên, Tết trồng cây làm cho mọi người có
điều kiện quan tâm đến thiên nhiên, môi trường Con người không chỉ sử dụng,
-HDH NV9- -1992,Copy
Trang 25khai thác cây cối, thiên nhiên mà còn có nghĩa vụ giữ gìn, bảo vệ và làm giàu
cho thiên nhiên Đối với xã hội, ngày Tết tròng cây làm cho mọi người chan hòa
với nhau trong một hoạt động vì lợi ích chung
- Bên cạnh ý nghĩa trên Tết trồng cây còn góp phần làm giàu đẹp cho cuộc
sống của mọi ngừi trong địa phương em, làm cho màu xanh bao phủ khắp nơi
Chúng ta đã làm lợi ích cho đất nước về nhiều mặt, làm giàu thêm cho cuộc
sống Nhân dân địa phương em trồng cây theo kế hoạch, theo kết quả nghiên
cứu khoa học, có mục đích tốt đẹp là phục vụ cuộc sông chung, không phải
trồng cây hoặc đốn cây một cách tùy tiện
- Việc tỗ chức đều đặn Tét trồng cây có ý nghĩa rất lớn đối với việc bảo vệ
môi trường thiên nhiên nói chung, việc phát triển cây xanh nói riêng Cây xanh
có một vai trò đặc biệt trong thiên nhiên, quan hệ và ảnh hưởng rất lớn đến
cuộc sóng của con người Do đó, địa phương em có gắng làm cho thêm cây
xanh, cho rừng cây ngày càng phát triển
- Cuối cùng, không chỉ ích lợi về nhiều mặt, trồng cây còn làm cho cuộc sống
của làng quê thêm tươi đẹp Có cây xanh mới có chim ríu rít chuyền cành, tán
cho ta bóng mát, hoa thơm, quả ngọt Thiên nhiên luôn gắn liền với cỏ cây hoa
lá, là hình bóng quê hương gân gũi và thân thiết với mỗi người ơ quê em
người như thé thương thân" Đó là những phẩm chất không ai có thể phủ
nhận bởi chúng đã được kiểm nghiệm và khẳng định trong lịch sử dựng nước
và giữ nước của dân tộc Tuy nhiên, không ai có thể toàn vẹn, cùng với những
phẩm chất cần luôn được phát huy, người Việt Nam chúng ta vẫn có những
mặt hạn chế phải sửa đổi Nhận thức được những mặt mạnh để phát huy, đồng
thời cũng nhận thức được những mặt còn yếu kém cần khắc phục là điều hết
sức cần thiết để mỗi con người nói riêng và cộng đồng Việt Nam nói chung
vươn lên tự hoàn thiện mình, không ngừng tiền bộ để đáp ứng những yêu cầu
mới của lịch sử đất nước
2 Bài viết của Phó Thủ Tướng Vũ Khoan trong dịp mở đầu thế kỉ mới đã nêu ra một cách chính xác và kịp thời những vấn đề thiết thực đối với con
người Việt Nam, đặc biệt là thế hệ trẻ, lực lượng quyết định sự thành công của
công cuộc xây dựng đất nước trong thế kỉ mới
II GOLY TRA LOI CAU HO]
1 (Ngữ: văn 9, tập 2, tr.0) - Thời điểm ra đời của bài viết:
Năm 2001 là thời điểm chuyển tiếp từ thé kỉ XX sang thế kỉ XXI, mang ý nghĩa
đặc biệt vì là năm chuyển giao giữa hai thế kỉ, trước giữa hai thiên niên kỉ
Công cuộc đổi mới ở nước ta vào cuối thế kỉ trước đã đạt được một số thành
quả vững chắc Bước sang thế kỉ mới, dân tộc ta đứng trước những yêu cầu và
nhiệm vụ to lớn là đưa đất nước đi vào thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa,
-150-
- HDH NV9- DO Copy
Trang 26vượt qua tình trạng chậm phát triển, nghèo nàn, lạc hậu để trở thành một nước
công nghiệp vào thời điểm năm 2020 Đặc biệt đối với thế hệ trẻ, chính họ là lực
lượng quyết định cho công cuộc xây dựng đất nước ở thế kỉ mới
2 (Ngữ văn 9, tập 2, tr.30)
Dàn ý
I Mở bài: Đễ bước vào thế kỉ mới, lớp trẻ Việt Nam cần nhận ra cái mạnh,
cái yếu của mình, để rèn luyện những thói quen tót, thích ứng với đà phát triển
của the giới
II Thân bài:
- Tét Tan Ti là thời gian chuyển tiếp của hai thế kỉ và hai thiên niên kỉ
- Con người là động lực phát triển của lịch sử, không gì bằng ta hãy chuẩn bị
hành trang cho con người
- Thế giới đang phát | triển nhanh chóng về khoa học công nghệ thông tin,
chúng ta cần thật nhiều nỗ lực mới hội nhập được vào nền kinh tế và văn hoá thế
giới Người Việt chúng ta có mặt mạnh, mặt yếu Cần phát huy mặt mạnh, hạn chế
mặt yếu mới hội nhập được vào nền kinh tế thế giới
- Muốn hội nhập vào nền kinh tế thế giới phải giải quyết 3 nhiệm vụ:
+ Thoát khỏi cảnh nghèo nàn, lạc hậu của nền kinh tế cũ
+ Day mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá
+ Can phat huy mặt mạnh, hạn ché mặt yếu của người Việt Nam
- Cái mạnh của người Việt ta là thông minh, nhạy bén với cái mới
- Điểm yếu của chúng ta là những lỗ hỗng về kiến thức do lối học vet, hoc
chay
- Tuy có cần cù nhưng chúng ta thiếu tỉ mỉ Trong lúc ấy người Nhật cũng
cần cù nhưng còn biết tính toán can trọng Chúng ta thiếu lo xa, “nước đến chân
mới nhảy”
- Ảnh hưởng phong cách làm ăn cũ, chúng ta thiếu khẩn trương, thiếu tôn
trọng những quy 4 định nghiêm ngặt của công việc
- Chúng ta can tăng cường đoàn kết, bỏ thói đố kị, nhỏ nhen, khôn vặt, không
coi trọng chữ tín trong thời đại in - tơ - nét toàn cầu như ngày nay
Ill Kết bài:
Mỗi người cần cố gắng rèn điểm mạnh, bỏ điểm yếu nếu muốn “sánh vai
cùng các cường quốc năm châu”
3 (Ngữ văn 9, tập 2, tr.30)
- Để chuẩn bị hành trang vào thế kỉ mới, v.zc chuẩn bị bản thân con người là
quan trọng nhất Đây là luận cứ quan trọng mở đầu, có ý nghĩa đặt ván đề
- Mở ra hướng lập luận cho toàn bài
- Những lí lẽ xác minh cho luận cứ này:
s Từ cỗ chí kim, bao giờ con người cũng là động lực phát triển của lịch sử
e Trong thế kỉ mà nền kinh tế tri thức sẽ phát triển mạnh mẽ thì vai trò con
người lại càng nỗi trội
4 (Ngữ văn 9, tập 2, tr.30)
a) Những điểm mạnh, điểm yếu của ta
- Thông minh, nhạy bén với cái mới nhưng thiếu kiến thức cơ bản, kém khả
năng thực hành, sức sáng tạo bị hạn chế do lối học nặng về lí thuyết
- Cần cù, sáng tạo nhưng thiếu tính tỉ mï, chưa có thói quen coi trọng nghiệm
ngặt quy trình công nghệ, chưa quen với cường độ khẩn trương
Trang 27- Đoàn kết, đùm bọc nhất là trong công cuộc chiến đấu chống ngoại xâm
nhưng lại thường dé ki trong việc làm ăn, trong lối sống
- Thích ứng nhanh giúp ta tận dụng cơ hội ứng phó với thách thức, đối với
tiến trình hội nhập nhưng kì thị kinh doanh, quen bao cấp, khôn vặt, không coi
trọng chữ tín trong kinh doanh
b) Những điểm mạnh, điểm yếu nêu trên có quan hệ đến nhiệm vụ đưa đất
nước đi lên công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong thời đại ngày nay Nhận thức
được điều đó, chúng ta có thé lấp đầy hành trang bằng những điểm mạnh, vứt
bỏ những điểm yêu
Lớp trẻ là những người làm chủ đất nước trong thế kỉ XXI phải nhận thức
điều đó đã hình thành những thói quen tốt đẹp ngay từ những việc nhỏ nhất
5 (Ngữ văn 9, tập 2, tr.30)
- Trước đây, ta thường thiên về khẳng định những ưu điểm của các phẩm
chất tốt đẹp của dân tộc, của con người Việt Nam Tuy nhiên, nếu chỉ nhìn
những chỗ mạnh mà bỏ qua những chỗ yếu kém sẽ dễ ngộ nhận, tự đề cao
quá mức, có tâm lí tự mãn Tâm lí này cản trở sự vươn lên phát triển đất nước
- Thái độ của tác giả là biết nhìn nhận vấn đề một cách khách quan, toàn
diện, khẳng định và trân trọng những phẩm chất tốt đẹp, đồng thời thẳng thắn
nêu lên những mặt yếu kém, không tự tôn hoặc tự ti dân tộc
6 (Ngữ văn 9, tập 2, tr.30)
- Thành ngữ, tục ngữ được sử dụng
« Nước đến chân mới nhảy
iệu cơm gap mam
e Nhiễu điều phủ lấy giá gương
e Trâu buộc ghét trâu ăn
« Boc ngắn cắn dài
- Đề cập đến ì những vấn đề vừa có ý nghĩa thời sự cấp thiết vừa có ý nghĩa
lâu dài, tác giả vẫn không dùng cách nói theo kiểu sách vở, uyên bác, mà bằng
cách diễn đạt giản dị, thiết thực, dựa trên cơ sở thực tiễn, ai cũng có thể cảm
nhận được, lại cảm nhận sâu sắc Những thành ngữ, tục ngữ được sử dụng
trong bài đã góp phần thể hiện cách nói trên
Ghi nhớ:
« Chuẩn bị hành trang bước vào thế kỉ mới, thế kỉ trẻ Việt Nam cần thay rõ
điểm mạnh và điểm yếu của con người Việt Nam, rèn cho mình những đức tính
và thói quen tốt
« Điểm mạnh của con người Việt Nam là thông minh, nhạy bén với cái mới,
cần cù sáng tạo, rất đoàn kết đùm bọc nhau trong thời kì chống | ngoại xâm Bên
cạnh đó cũng có nhiều điều yếu cần phải khắc phục: thiếu kiến thức cơ bản,
kém khả năng thực hành, thiếu đức tính tỉ mỉ, không coi trọng nghiêm ngặt quy
trình công nghệ, thiếu tính cộng đồng trong làm ăn
s Đề đưa đi nước đi lên, chúng ta cân phát huy những điểm mạnh, khắc
phục nhữi m yếu, hình thành những thói quen tốt ngay từ những việc nhỏ
III LUYỆN TẠP,
* Những dẫn chứng trong thực tế xã hội và nhà trường để làm rõ một số
điểm mạnh và điểm yếu của con người Việt Nam
Trang 28+ Cĩ chí tiến thủ, chịu khĩ học hỏi
Một số điểm yếu:
+ Thấy người khác cĩ thế mạnh hơn mình thường hay ghen tị
+ Khơng muốn người khác giỏi hơn mình vì thế tìm cách để kìm hãm, hoặc
làm giảm uy tín của họ
+ Một số bạn học sinh hay ăn cắp vặt, sẵn sàng quên đi việc học để sa vào
ban bi- a, trị chơi điện tử
CAC THANH PHAN BIET LẬP
s Thành phần phụ chú được dùng để bổ sung một số chỉ tiết cho nội dung
chính của câu Thành phần phụ chú thường được giữa hai dấu gạch ngang,
hai dấu phẩy, hai dấu ngoặc đơn hoặc giữa một dấu gạch ngang với một dâu
phẩy Nhiều khi thành phần phụ chú cịn được đặt sau dấu hai cham
1 Thành phần gọi đáp (TPGĐ) dùng để tạo quan hệ giao tiếp hoặc duy trì quan
hệ giao tiếp
2 Thành phần phụ chú (TPPC) dùng để bổ sung chỉ tiết cho nội dung chính của
câu (giải thích thêm từ ngữ, bày tỏ thái độ của người nĩi)
ÍB GỢI Ý TRẢ LỜI CÂU HỎI
| Thành phần gọi - đáp
1 (Ngữ văn 9, tập 2, tr.31) Từ này dùng để gọi, từ thưa ơng dùng để đáp
2 (Ngữ văn 9, tap 2, tr.31)
Những từ để gọi — đáp này khơng tham gia diễn đạt sự việc của câu
3 (Ngữ văn 9, tập 2, tr.31) Từ này trong câu (a) dùng để thiết lập cuộc thoại
(cĩ tác dụng mở đầu), cụm từ thưa ơng trong câu (b) dung để duy trì cuộc thoại
A Thanh phan phu cha
(Ngữ văn 9, tập 2, tr.32) Nếu lược bỏ các thành phần in đậm thì ý nghĩa của
sự việc khơng thay đổi, vì câu văn vẫn cịn đủ chủ ngữ và vị ngữ, bảo đảm nghĩa
chính, nội dung chính của câu
2 (Ngữ văn 9, tập 2, tr.32) Cụm từ “và cũng là đứa con gái duy nhất của anh"
chú thích cho đứa con gái đầu lịng
3 (Ngữ văn 9, tập 2, tr.32) Cụm chủ vị tơi nghĩ vậy giải thích việc lão khơng
hiểu tơi mới là điều suy đốn “tợ' chưa chắc đã đúng với "lão" và cũng là lí do đề
1 (sGK, tr.32) Các thành phần gọi đáp: này (để gọi), vâng (để đáp) Quan hệ
giữa người gọi và người đáp là quan hệ trên — dưới và là quan hệ thân mật
2 (Ngữ văn 9, tập 2, tr.32) Thành phần gọi dap: la Bau ơi Đây là lời gọi hướng
tới mọi người nĩi chung (bau, bí, giàn - ân dụ chỉ những người trong một nước, tuy
khác nhau nhưng cĩ quan hệ gắn: bĩ)
Trang 293 (Ngữ văn 9, tập 2, tr.33) Các thành phần phụ chú là:
a) Kể cả anh (bỗ sung cho chúng tôi, mọi người)
b) Các thây, cô giáo, các bậc cha mẹ, đặc biệt là những người mẹ giải thích
thêm cho những người nắm giữ chìa khoá của cánh cửa này bao gồm những ai
và ai có vai trò quan trọng nhật
c) Những người chủ thật sự của đắt nước trong thế kỉ mới giải thích cho lớp
trẻ hôm nay là ai trong tương lai
d) Có ai ngờ thê hiện thái độ ngạc nhiên của người nói — nhân vật “tôi”
4 (Ngi van 9, tap 2, tr.33)
a) liên quan tới “mọi người”
b) liên quan tới “những người nắm giữ chiếc chìa khoá của cánh cửa này”
c) liên quan tới “lớp trẻ”
đ) liên quan tới “Cô bé” và “mắt đen tròn”
5 (Ngữ văn 9, tập 2, tr.33) Đoạn văn tham khảo:
Học trò chúng ta sáng sáng cắp sách đi học - có khi còn đi học ca cniéu
chiều hay tối tối nữa - nhưng trong một trăm học sinh có mấy học sinh hăng hái
di học với niềm khát khao muốn mở mang kiến thức?
Nếu một người học sinh thực sự muốn mở mang kiến thức thì tại sao trước
lúc kiểm tra bài mới ngôi ôn bài? Tại sao lúc cô, thay giảng bài — ở trong lớp —
chúng ta không hiểu cũng không hỏi lại thay, cô mà đợi đến lúc làm bài không
được mới vội vàng hỏi bạn này, bạn khác, rồi vội vàng chép lia chép lia vào giấy
thi? Vậy có phải là một người học trò ham học? Hay đó chỉ là thói học vẹt và thái
độ đối phó mà thôi?
NGHỊ LUẬN XÃ HỘI - NGHỊ LUẬN VỀ MỘT
VÂN ĐỀ TƯ TƯỞNG ĐẠO LÍ
ÍA KIÊN THỨC CƠ BẢN |
- Nghị luận về một vấn đề tư tưởng đạo lí là bài nghị luận trình bày quan
niệm và đạo lí của các vấn đề thuộc lĩnh vực văn hoá, đạo đức, lối sông, tư
tưởng
- Bài nghị luận này phải làm sáng tỏ vấn đề tư tưởng, đạo lí đưa ra bàn bạc
bằng cách chứng minh, giải thích, so sánh, đối chiếu, phân tích ( ) Dé chi ra ché
đúng, chỗ sai của vấn đề đó, nhằm khẳng định quan niệm của người viết
- Bài viết phải có bố cục ba phần, có luận điểm đúng đắn, sáng tỏ, lời văn
chính xác, sinh động
B HƯỚNG DẪN TRẢ LỜI CÂU HỎI VÀ BÀI TẬP)
I Tim hiểu bài nghị luận về một vân đê tư tưởng, đạo lí
a) Văn bản Trï thức là sức mạnh bàn về vai trò của tri thức trong đời sống
b) Văn bản có ba phần:
+ Phần một là đoạn thứ nhất Đoạn này nêu ra tư tưởng nỗi tiếng của
Phơ-răng-xit Bê-cơn, của Lê-nin “Trí thức là sức mạnh”
+ Phần 2 gồm đoạn thứ hai và thứ ba Hai đoạn này đưa ra các dẫn chứng
chứng minh tri thức là sức mạnh trong lĩnh vực kĩ thuật, trong cuộc cách mạng
Trang 30+ Phan ba gồm đoạn bón Đoạn này xác định thái độ mọi người đối với tri thức
Đó là kết cấu ba phan: Mở bài, thân bài, kết bài
c) Các luận điểm trong bài đều là đúng đắn:
+ Tri thức là sức mạnh (Bê-cơn)
+ Ai có tri thức thì người ay có được sức mạnh (Lê-nin)
+ Tri thức đúng là sức mạnh (trong khoa học, kĩ thuật)
+ Tri thức cũng là sức mạnh của cách mạng
+ Tri thức có sức mạnh to lớn như thế nhưng đáng tiếc là còn không ít người
chưa biết quý trọng tri thức
d) Bài văn dùng phép lập luận phân tích từ luận điểm xuất phát, đưa ra các
luận điểm bộ phận đề làm sáng tỏ Sau đó dùng các dẫn chứng cụ thể để chứng
minh tính đúng đắn của từng luận điểm
e) Bài nghị luận về vấn đề tư tưởng, đạo lí bàn đến các vấn đề tương đối
trừu tượng thuộc phạm vi đời sống tinh thần của con người, của cộng đồng Bài
nghị luận về một sự kiện, hiện tượng đời sống, bàn đến các sự kiện, hiện tượng
đã xảy ra trong đời sống hàng ngày, các sự kiện, hiện tượng bình thường của
công đồng
II Luyện tập
a) Bai văn trong Thời gian là vàng thuộc loại nghị luận tư tưởng, đạo lí
b) Bài văn nghị luận về vai trò, giá trị của thời gian Luận điểm chính: “Vàng
thì mua được, thời gian không mua được Vàng có giá trị mà thời gian là vô giá”;
'Biết quý thời gian thì làm được bao nhiêu điều cho cuộc sống Bỏ phí thời gian
thì có hại và đề lại bao điều hối tiếc không kịp” -
c) Phép lập luận chủ yếu trong bài là phân tích và chứng minh Đề nói thời
gian là vô giá, tác giả đưa ra các luận điểm bộ phận: Thời gian là sự sống; Thời
gian là thắng lợi Mỗi luận điêm bộ phận này được các dẫn chứng tiêu biêu
chứng minh Do đó, bài viết ngắn gọn nhưng có sức thuyết phục cao
CUA LA PHONG TEN
| KIEN THUC CO’ BAN)
- Hi-pô-lit Ten (1828-1893) là triết gia, sử gia, nhà nghiên cứu văn học Pháp,
viện sĩ viện Hàn lâm Pháp, tác giả công trình nghiên cứu “La Phông-ten và thơ
ngụ ngôn của ông" (1853)
- Văn bản “Chó sói và cừu của La Phông-ten" trích từ chương II, phần thứ
hai của công trình trên
II GỢI Ý TRẢ LỜI CÂU HỎI
Đại ý bài văn:
Bằng cách so sánh hình tượng con cừu và con chó sói trong thơ ngụ ngôn
của La Phông-ten với những dòng nhà bác học Buy-phông (Buffon) việt về hai
-HDH NV9- “1585, Gory
Trang 31con vật ấy, tác giả H.Ten nêu bật đặc trưng của sáng tác nghệ thuật là hình
tượng văn học nghệ thuật
4 (Ngữ văn 9, tap 2, tr.41)
- Bài văn gồm hai đoạn:
* “Giọng chú cừu non tội nghiệp với bao nỗi buồn rầu và tốt bụng như
thế ”: Hình tượng con cừu trong thơ ngụ ngôn của La Phông-ten
* “Con chó sói còn ông dựng một vở hài kịch về sự ngu ngốc”: Hình tượng
chó sói trong thơ ngụ ngôn của La Phông-ten
- Trong cả hai đoạn, H.Ten đều phân tích hình tượng con cừu và con chó sói
trong thơ ngụ ngôn của La Phông-ten với lập luận: dẫn ra vài dòng viết về hai
con vật ấy của nhà khoa học Buy-phông đề so sánh
Mạch nghị luận trong cả hai phần cũng tương đối giống nhau, đều theo trật
tự ba phần: dưới ngòi bút của La Phông-ten - dưới ngòi bút của Buy-phông —
dưới ngòi bút của La Phông-ten được thê hiện qua một đoạn thơ cụ thể Cách
viết như vậy khiến cho bài văn trở nên sinh động, hấp dẫn hơn
2 (Ngữ văn 9, tập 2, tr.41)
Buy-phông viết về loài cừu và loài chó sói từ quan điểm của một nhà khoa
học, bởi vậy, các chỉ tiết giống như trong đời thực Ông không nói đến “sự thân
thương của loài cừu" cũng như “nỗi bắt hạnh của loài sói" bởi vì đó không phải là
đặc điểm tiêu biểu của chúng Những đặc điểm đó do con người “gan” cho loài
vật, không thể xuất hiện trong công trình nghiên cứu của một nhà khoa học
3 (Ngữ văn 9, tập 2, tr.41)
- Con cừu ở đây là một con cừu non Tác giả chọn một chú cừu non (con
Chiên) và nhân cách hoá nó ,
- Khi khắc hoạ tỉnh cách của cừu non, tác giả cũng căn cứ vào một trong
những đặc tính vốn có của loài cừu: hiền lành, nhát sợ, không biết trốn tránh nỗi
* Khí tôi còn chưa ra đời?
* Qua thật tôi chẳng có anh em
- Hình tượng con cừu trong thơ của La Phông-ten còn được sáng tạo bằng
nghệ thuật nhân cách hoá Nhà thơ cảm nhận được tình cảm thân thương và tốt
bụng, nhát là tình mẫu tử: Thật cảm động thay con cừu mẹ chạy tới cho đền
khi con đã bú xong
4 (Ngữ văn 9, tập 2, tr.41) Hình tượng chó sói trong truyện ngụ ngôn của La
Phông-ten được xây dựng dựa trên đặc tính vốn có của loài sói, đó là săn môi
Từ đó, tác giả nêu ra hai luận điểm:
- Chó sói là kẻ đáng cười (vì không kiếm nổi miếng ăn nên đói meo)
~ Chó sói còn là một kẻ đáng ghét vì nó làm hại đến người khác
Để làm sáng tỏ hai luận điểm trên, có thể phân tích hình tượng chó sói trong
thơ ngụ ngôn của La Phông-ten theo những gợi ý sau: `
+ Con sói được nói đến trong bài thơ là một con sói cụ thể, sinh động (gây
giơ xương, đi kiếm mồi, muốn ăn thịt cừu non )
+ Con chó sói được nhân cách hoá như hình tượng cừu dưới ngòi bút phóng
khoáng của nhà thơ và đặc trưng của thể loại ngụ ngôn
Trang 32- Biện pháp nhân hoá được sử dụng, con chó sói độc ác như một tên bạo
chúa khát máu, khi đói muốn bắt con mài thì đủ lời lẽ ngụy biện vô lí, vu cáo để
buộc tội đối phương như con người:
* May con nói xâu ta năm ngoái
+ Không phải mày thì anh mày đó!
» Quân bay có đứa nào kiễng sói đâu!
» Họ mách ta, ta phải báo thu
- Hình tượng con chó sói trong thơ La Phông-ten còn được sáng tạo bằng
những nét mới Đó là một tên cướp, nhưng khốn khỗ và bắt hạnh Chó sói dưới
ngòi bút của La Phông-ten ( ) chỉ là một gã vô lại luôn luôn đói dài
- Chó sói trong thơ ngụ ngôn của La Phông-ten đáng cười, nếu ta suy ra rằng
vì nó ngu ngồc, chẳng kiếm được cái gì để ăn nên mới đói meo (hài kịch của sự
ngu ngốc) nhưng chủ yếu là một con vật đáng ghét vì nó gian xảo, độc ác, bắt
nạt kẻ yếu (bi kịch của sự độc ác)
lll TONG KET|
Bằng cách so sánh hình tượng con cừu và con chó sói trong thơ ngụ ngôn
La Phông-ten với những dòng viết về hai con vật ấy của nhà khoa học Buy-
phông, H Ten nêu bật đặc trưng của sáng tác nghệ thuật là in đậm dấu ấn cách
nhìn, cách nghĩ riêng của nhà văn
LIEN KET CAU VA DOAN VAN
A KIEN THỨC CƠ BẢN
1 Khái niệm liên kết :
- Liên kết câu là hiện tượng một yêu tố chưa rõ nghĩa ở câu này được giải
thích bằng yếu tố rõ nghĩa ở câu khác, trên cơ sở đó hai câu chứa yếu tố này
liên kết được với nhau Liên kết đoạn văn với đoạn văn thực chất vẫn là liên kết
giữa câu với câu, nhưng hai câu này nằm ở hai đoạn văn khác nhau Š
- Việc sử dụng các từ ngữ cụ thé (các phương tiện cụ thể) vào việc liên kêt
câu với câu được gọi là phương thức liên kết hay phép liên kết
2 Nội dung và hình thức liên kết câu
- Về nội dung:
+ Các đoạn văn phải phục vụ chủ đề chung của văn bản, các câu phải phục
vụ chủ đề của đoạn văn (liên kết chủ đề)
+ Các đoạn văn và các câu phải được sắp xếp theo một trình tự hợp lí (liên
kết lôgic)
- Về hình thức:
Các biện pháp chính để liên kết các đoạn văn hoặc các câu trong đoạn văn:
+ Lặp ở câu (hoặc đoạn) đứng sau từ ngữ (hoặc câu) đã có ở câu (hoặc
+ Dùng ở câu (đoạn) đứng sau các từ ngữ đồng nghĩa, trái nghĩa, cùng
trường từ vựng với các từ ngữ đã có ở câu (đoạn) đứng trước
+ Sử dụng ở câu (đoạn) đứng sau các từ ngữ có tác dụng thay thê từ ngữ đã
có ở câu (đoạn) trước (ví dụ: đây, đó, ay ) h
+ Sử dụng ở câu (đoạn) đứng sau các từ ngữ biểu thị quan hệ với câu
(đoạn) đứng trước (ví dụ: nhưng, vì vậy, tuy nhiên, nhìn chung, tóm lại )
Trang 33B GỢI Ý TRẢ LỜI CÂU HỎI
I Khái niệm liên kết
4; (Ngữ văn 9, tập 2, tr 43) Đoạn văn trích dẫn bàn về tâm sự người nghệ sĩ
muôn gửi gắm trong tác phẩm ĩ
Vấn đề trên là bộ phận gắn với chủ đề chung của văn bản Tiếng nói của văn
nghệ
2 (Ngữ văn 9, tập 2, tr.43)
Cau 1: chỉ rõ vật liệu xây dựng nên tác phẩm
Câu 2: chỉ rõ tâm sự người nghệ sĩ gửi trong tac phẩm
Câu 3: chỉ rõ mục đích của tâm sự gửi trong tác phẩm
Ba câu trên có quan hệ với nhau và làm nôi rõ chủ đề của cả đoạn Cách sắp
xếp đi từ rộng đến hẹp, từ xa đến gần nhằm khẳng định chủ đề đoạn văn
3 (Ngữ văn 9, tập 2, tr.43)
Các câu được liên kết về mặt hình thức bằng các biện pháp:
+ Câu 2 dùng cụm từ "nhưng nghệ sĩ” đề đưa ra nội dung mới là sự bỗ sung
cho nội dung của câu trước đó
+ Câu 3 dùng từ anh thay thế cho từ nghệ sĩ ở câu 2, tạo sự liên kết giữa hai
câu
II Luyện tập
1 (Ngữ văn 9, tập 2, tr.44)
- Đoạn văn có chủ đề: chỗ mạnh và chỗ yếu của con người Việt Nam
- Đoạn văn có 5 câu: Hai câu đầu bàn về chỗ mạnh của con người Việt Nam
(câu 1 khẳng định chỗ mạnh của người Việt Nam là thông minh, nhạy bén với cái
mới Câu 2 chỉ rõ tác dụng của chỗ mạnh đó) Câu thứ 3 là câu chuyên, chỉ rõ bên
cái mạnh, người Việt Nam cũng có cái yếu Câu thứ 4, 5 chỉ rõ chỗ yếu của người
Việt Nam (câu thứ 4 nêu rõ hai điểm yếu nhát: những lỗ hỗng về kiến thức, khả năng
thục hành và sáng tạo bị hạn chế Câu thứ 5 chỉ rõ tác hại, nguy cơ do các điểm yếu
đó gây nên) Cách sắp xếp các câu trong đoạn như thế là chặt chẽ và hợp lí
2 (Ngữ văn 9, tập 2, tr.44)
- Nhưng nối câu 3 với câu 2 (từ chỉ quan hệ)
- Ấy là nối câu 4 với câu 3 (từ chỉ quan hệ)
- Lỗ hồng ở câu 4 và câu 5 (lặp từ ngữ)
- Thông minh ở câu 5 và ở câu 1 (lặp từ ngữ)
Các câu liên kết với nhau bằng các từ ngữ thay thế, từ ngữ đã có ở câu
trước (câu 2: bản chất trời phú áy ) bằng các từ ngữ biểu thị quan hệ với câu
trước (nhưng bên cạnh cái mạnh đó ấy là .)
BÀI 22
CON CO (Chế Lan Viên)
{-KIEN THỨC CƠ BẢN
1: Chế Lan Viên (1920-1989) tên khai sinh là Phan Ngọc Hoan, quê ở Cam
Lộ - Quảng Trị Trước Cách mạng tháng Tám, ông đã nỗi tiêng trong phong trào
Thơ mới qua tập Điêu fàn Sau Cách mạng tháng Tám, Chê Lan Viên đã có
Trang 34
những đóng góp lớn vào thành tựu của văn học kháng chiến, ông là một trong
những tên tuổi hàng đầu của nền thơ Việt Nam thế kỉ XX
2 Bài thơ Con cò được sáng tác năm 1962, in trong tập thơ Hoa ngày
thường, Chim báo bão Hình tượng con cò trong những câu hát ru đã thể hiện
những suy nghĩ sắc sảo và chan chứa cảm xúc của tác giả về tình mẹ và lời ru
II GỢI Y TRÁ LỚI CÂU H
1 (Ngữ văn 9, tập 2, tr.48)
- Bài thơ được phát triển từ một hình tượng bao trùm là hình tượng con cò trong
ca dao Trong ca dao, hình ảnh con cò thường ân dụ với người nông dân, người phụ
nữ trong cuộc sống day vat va, nhọc nhằn nhưng giàu phẩm chất tốt đẹp
- Trong đoạn đầu của bài thơ, tác giả có nhắc lại một số câu ca dao quen
thuộc hoặc những từ ngữ về hình ảnh con cò và mở rộng ý nghĩa biểu tượng để
biểu hiện lòng mẹ lớn lao, sâu nặng đối với con và những lời hát ru
2 (Ngữ văn 9, tập 2, tr.48)
- Doan I: Hình ảnh con cò qua những lời hát ru đến với tuổi thơ
- Đoạn II: Hình ảnh con cò đi vào tiềm thức của tuổi thơ, trở nên gần gũi và
theo cùng con người trên mọi chặng đường của cuộc đời
- Doan Ill: Từ hình ảnh con cò, suy nghĩ về ý nghĩa của lời ru và lòng mẹ đối
với cuộc đời mỗi con người
Bài thơ được bó cục theo sự phát triển của hình tượng trung tâm (con cò) trong
mối quan hệ đời người từ thuở ấu thơ đến lúc trưởng thành, suốt cả cuộc đời
Bay từ của phủ, bay về Đồng Đăng
Đậu phải cành mềm lộn cỗ xuống ao Ông ơi, ông vớt tôi nao
Tôi có lòng nào ông hãy xáo măng Tác giả vận dụng ca dao một cách linh hoạt, sáng tạo để gợi nhớ hình ảnh
con cò trong nếp nghĩ của dân tộc Việt Nam, đó là những người nông dân sống
trên đồng bằng khắp nước Việt là những phụ nữ nhọc nhăn, cam chịu, kiên nhẫn
nuôi con, chung thủy với chồng
4 (Ngữ văn 9, tập 2, tr.48)
- Con dù lớn vẫn là con của mẹ
Đi hết đời, lòng mẹ vẫn theo con
~ Một con cò thôi
Con cò mẹ hát Cũng là cuộc đời
Vỗ cánh qua nôi
- Hình tượng con cò là hình tượng người mẹ Việt Nam Những người mẹ
nhọc nhẳn, vô danh và thầm lặng, hi sinh và thương yêu con cho đến suốt đời
Sự hoá thân của người mẹ vào cánh cò mang nhiều ý nghĩa sâu xa, kết tụ
những hi sinh, gian khổ, nhọc nhằn để những lời yêu thương càng trở nên sâu
sắc, đằm thắm Câu thơ cuối là một hình ảnh rất đẹp Cánh cò vỗ qua nôi như
Trang 35dáng mẹ đang nghiêng xuống chở che, đang nói với con những lời tha thiết của
lòng mẹ
5 (Ngữ văn 9, tập 2, tr.48)
_- Thé tho tự do, nhịp ngắn, chậm diễn tả vẻ suy ngẫm như giọng tâm sự
thầm thì của mẹ bên tai con, làm cho bài thơ truyền cảm, như những lời thủ thỉ
tam tình của một người mẹ bên chiếc nôi con thơ
~ Hình tượng con cò là hình tượng cũ, được sáng tạo lại mới mẻ trong thơ
Chế Lan Viên, Những điệp ngữ như điệp khúc, như lời vỗ về “ngủ yên, ngủ yên,
ngủ yên” trong câu hát dân gian làm cho bài thơ có sức lay động Thí dụ:
Cò đứng ở quanh nôi
Cánh trắng cò bay theo gót đôi chân
Ill TONG KET|
e Khai thac hình tượng con cò trong những câu hát ru, bai tho Con cò của
Chế Lan Viên ngợi ca tình mẹ và ý nghĩa của lời ru đối với cuộc sống của
con người
e Bài thơ thành công trong việc vận dụng sáng tạo ca dao, có những câu thơ
đúc kết được những suy ngẫm sâu sắc
+ Trích dẫn a): Tác giả dùng biện pháp liên kết các từ ngữ biêu thị quan hệ
với câu đứng trước: “vẻ mọi mặt; “muốn được như thế”
+ Trích dẫn b): Tác giả dùng biện pháp liên kết là lặp lại từ ngữ đã có ở câu
trước cùng với từ để cho “sự sống ấy”
+ Trích dẫn c): Tác giả dùng biện pháp liên kết là từ ngữ biểu thị quan hệ với
đoạn trước: thật vậy; với câu trước: bởi vì Tác giả còn dùng phép lặp lại từ ngữ
đã có ở câu trước (câu thứ 3 có từ ngữ con người, câu thứ 4 lại lặp từ ngữ con
người)
+ Trích dẫn d): Tác giả dùng từ ngữ trái nghĩa để liên kết hai câu: câu 1 có
các từ: yếu đuối, hiển lành Câu 3 có các từ: ác — mạnh
2 (Ngữ văn 9, tập 2, tr.60) Các cặp từ trái nghĩa phân biệt đặc điểm của thời
gian vật lí với đặc điểm của thời gian tâm lí:
Thời gian vật lí Thời gian tâm lí
3 (Ngữ văn 9, tập 2, tr.50)
Chữa lỗi về liên kết nội dung:
a) Các câu không phục vụ chủ đề chung của đoạn văn 1
- Không thể chữa được l
b) Trong câu (2) và câu (3), từ thay thê nó (thay cho loài nhện) không thích
hợp
- Thay từ nó bằng từ chúng
Trang 364 (Ngữ văn 9, tập 2, tr 51)
+ Trích dẫn a: Câu thứ 3 dùng từ chỉ quan hệ về thời gian để nói với câu 2 là
chưa họp lí
+ Trích dẫn b: Câu 1 nêu ra địa điểm Bộ trưởng gặp bà con nông dân là “văn
phòng”, câu 2 lại nói địa điểm này là “hội trường" là không trùng nghĩa với nhau
trong trường hợp này
CÁCH LÀM BÀI NGHỊ LUẬN
VỀ MỘT VÂN ĐỀ TƯ TƯỞNG, ĐẠO LÍ
| ĐỀ BÀI NGHỊ LUẬN VỀ MỘT VẤN ĐỀ TƯ TƯỞNG, ĐẠO LÏ
a) Cac dé bai trén đều có điểm chung là bàn về một đề tài trong lãnh vực tư
tưởng hay đạo lí
b)_ Có các đề bài tương tự như những đề trên như;
Nước chảy đá mòn
-_ Không thây đỗ mày làm nên
- Thất bại là mẹ thành công
- _ Thật thà là cha mánh khoé
II CÁCH LÀM BÀI NGHỊ LUẬN VỀ MỘT VĂN ĐỀ TƯ TƯỞNG ĐẠO LI
Đề bài: Suy nghĩ của em về đạo lí “Uống nước nhớ nguồn”
1 Tìm hiểu đề và tìm ý:
- Thể loại đề: nghị luận
- Yêu cầu cụ thể: Nêu suy nghĩ của em về đạo lí “Uống nước nhớ nguồn”
- Cần có kiến thức chung về tục ngữ, cần hiểu rõ ý nghĩa câu này để giải
thích, chứng minh hay phát biểu ý kiến riêng
Tìm ý: Nên sử dụng các câu hỏi sau:
a) Câu tục ngữ “Uống nước nhớ nguôn" “mang ý nghĩa gì?
b) Tai sao chúng ta uống nước phải nhớ nguồn?
o)_ Nếu một người "Uống nước không nhớ nguôn" thì sao?
d)_ Ai đã có những hành động đẹp thể hiện thái độ
“Uống nước nhớ nguồn”
e) Chung ta rút ra bài học gì từ câu tục ngữ “Uống nước nhớ nguồn” này?
g)_ Bài học này có giá trị như thế nào? Có tác dụng ra sao?
2 Lap dàn bài:
a) Mo bai: Gidi thiệu câu tục ngữ và nêu ý nghĩa chung của nó
b) Thân bài:
- Giải thích ý nghĩa và tác dụng của câu tục ngữ “Uống nước nhớ nguôn”:
- Câu tục ngữ “Uống nước nhớ nguồn” mang ý nghĩa gì?
- Tại sao chúng ta uống nước phải nhớ nguồn?
~ Nếu một người “ Uống nước không nhớ nguồn" thì sao?
- Ai đã có những hành động dep thé hiện thái độ “Uống nước nhớ nguồn”
- Chúng ta rút ra bài học gì từ câu tục ngữ “Uống nước nhớ nguồn” này?
- Bai học này có giá trị như thế nào? Có tác dụng ra sao?
c) Kết luận:
- Khẳng định giá :rị của câu tục ngữ “Uống nước nhớ nguồn” này
Trang 37
- Nêu ý nghĩa câu tục ngữ này trong thời đại mới hôm nay
1 Thanh Hai (1930 - 1980) quê ở huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên - Huế
Ông hoạt động văn nghệ trong suốt những năm kháng chiến chống Pháp rồi
chống Mĩ và là một trong số những cây bút có công xây dựng nền văn học cách
mạng ở miền Nam thời kì đầu
2 Bài thơ Mùa xuân nho nhỏ thễ hiện niềm yêu mến thiết tha với cuộc sống, với
đất nước và ước nguyện của tác giả về một cuộc sống ngày càng tươi đẹp hơn
II GỢI Y LỜI CẤU HOI
1 (Ngữ văn 9, tập 2, tr.57)
- Bài thơ bắt đầu bằng những cảm xúc trực tiếp, hồn nhiên trước vẻ đẹp và
sức sống của mùa xuân Từ mùa xuân của thiên nhiên, cảm xúc thơ mở rộng ra
hình ảnh mùa xuân của đất nước, của cách mạng và cuối cùng là mùa xuân của
mỗi con người trong mùa xuân của quê hương, ước nguyện của tác giả là được nhập vào bản hoà ca cuộc đời bằng một nốt trâm xao xuyến của riêng mình
- Từ mạch cảm xúc trên, bài thơ có bó cục bồn đoạn:
+ Khổ thơ 1: Cảm xúc trước mùa xuân thiên nhiên đất trời
+ Khổ thơ 2, 3: Hình ảnh mùa xuân đất nước
» Khổ thơ 4, 5: Suy nghĩ và ước nguyện của nhà thơ
« Khổ thơ 6: Ca ngợi quê hương
2 (Ngữ văn 9, tập 2, tr.57) Từ mùa xuân của thiên nhiên, đất trời, nhà thơ cảm
nhận về mùa xuân của đát nước với những hình ảnh:
Mùa xuân người cầm súng
Tắt cả như xôn xao
Nhà thơ đón nhận mùa xuân với những suy nghĩ sâu lắng Trong cảm quan của nhà thơ, những cành lá ngụy trang gài trên lưng những người cầm súng
chính là lộc của mùa xuân: đi bảo vệ tổ quốc, người chiến sĩ như mang cả mùa xuân cho đất nước Những nương mạ xanh non của người ra đồng cũng chính là
lộc của mùa xuân, lộc trải dài nương mạ: họ đã đem mùa xuân đến mọi nơi trên
đất nước
3 (Ngữ văn 9, tập 2, tr.67) Trước mùa xuân của đất trời, nhà thơ ao ước được
góp phần của mình Một phần rát nhỏ bé, khiêm tốn:
- như là tiếng chim hót của chim
- như là hương sắc của hoa
~ như là một not tram trén bản hoà ca
Trang 38Đó là mùa xuân do con người làm ra: mùa xuân nho nhỏ Mùa xuân ấy được góp vào, được tạo nên khi con người ở tuổi thanh xuân và mái đầu đã bạc
Tác giả dùng đại từ xưng hô "ta" vừa là số ít mang sắc thái trang trọng, kiêu hãnh, vừa là số nhiều; vì vậy mà vừa nói được điều riêng lại diễn đạt được cái chung
4 (Ngữ văn 9, tập 2, tr.57) Bài thơ là tiếng nói tâm tình, là cảm hứng mùa xuân
Tác giả đã phát hiện được sự hoà hợp các tầng bậc mùa xuân Xuân của đất trời
- xuân của đất nước, của những người làm nên lịch sử - xuân trong lòng của mỗi
người
Sự thay đổi cách xưng hô, sử dụng cấu trúc điệp, lựa chọn từ ngữ chính xác
đã làm cho bài thơ vừa cụ thể lại vừa khái quát, vừa riêng vừa chung Nó là một
nốt tram, nhưng là nốt tram xao xuyến không hoà lẫn
Hai khổ thơ đầu hay ở sự liên tưởng từ, mùa xuân của đt trời đến mùa xuân của cá nhân Khổ thơ còn hay ở sự điệp cầu trúc: Ta làm, ta làm, ta nhập ; Dù
là, dù là Nó hay ở việc dùng đại từ số ít vừa số nhiều, tâm tình riêng, khát vọng chung
Tat cả làm cho bài thơ mang sức sống riêng, như là ước nguyện của đời người, như là châm ngôn cho cuộc sống
5 (Ngữ van 9, tap 2, tr.57) Đề tài mùa xuân là đề tài phong phú cho các thi
nhân thử bút Đã có rất nhiều bài thơ hay: về mùa xuân Nhà thơ Thanh Hải khá thành công khi thể hiện Một mùa xuân nho nhỏ - ước vọng khiêm tốn, mong muốn dâng hiến bản thân cho cuộc đời Hãy làm tiếng chim, làm sắc hoa, làm
nốt nhạc hoà vào bản hoà ca mùa xuân bát tận của đất trời
Tâm sự của nhà thơ trước mùa xuân là lặng lẽ dâng cho đời một mùa xuân nho nhỏ của chính cuộc đời mình, làm một nót trầm xao xuyến trong bản hoà ca
vĩ đại của đất nước vào xuân
I KIEN THỨC CƠ BAN
1 Nhà thơ Viễn Phương sinh năm 1928, quê ở tỉnh An Giang Ông là một trong những cây bút có mặt sớm nhất của ' lực lượng văn nghệ giải phóng ở miền Nam thời kì chống Mĩ cứu nước Thơ Viễn Phương thường nhỏ nhẹ, giàu tình cảm, khá quen thuộc với bạn đọc thời kháng chiến chống đế quốc Mi
2 Bai tho viéng lăng Bác được viết khi lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh được xây dựng xong, đất nước thống nhát, đồng bào miền Nam đã có thể thực hiện được mong ước ra viếng Bác Tron: niềm xúc động vô bờ của đoàn người vào lăng viếng Bác, Viễn Phương đã viết bài thơ này
Trang 39
II Gol Y TRA LỜI CÂU HỎI
1 (Ngữ văn 9, tập 2, tr.60) Bài thơ là tình cảm của người con Nam Bộ đối với
Bác, thể hiện mong muốn, tình cảm của quân dân miền Nam và cả nhân dân Việt
Nam với Bác - vị cha già, vị lãnh tụ muôn ngàn kính yêu của dân tộc
Trình tự biểu hiện:
- Đầu tiền là cảnh ở bên ngoài lăng với hình ảnh đậm nét nhất là hàng tre
trong sương sớm
- Tiếp đến là hình ảnh dòng người xếp hàng vào viếng lăng Bác
- Cảm xúc và suy ngẫm của tác giả khi vào trong lăng
- Mong ước của tác giả thiết tha được ở mãi bên Bác
2 (Ngữ văn 9, tập 2, tr.60)
+ Hàng tre như dài rộng mênh mông
+ Hàng tre xanh màu đất nước, màu Việt Nam -
+ Hàng tre kiên cường bắt khuất, hiên ngang (Bão láp mưa sa đứng thẳng hàng)
Tác giả không tả thực hàng tre, mà liên tưởng, nhân hoá, tượng trưng
Ý nghĩa của cách tả này cho thấy lăng Bác và tre thật gần gũi, thân thuộc
như những làng quê xanh lũy tre Đồng thời tác giả cũng nhằm thể hiện nét
tượng trưng cây côi mang màu đát nước, biểu tượng của dân tộc đã tập trung về
quanh Bác, canh giữ cho giác ngủ bình yên của Người
3 (Ngữ văn 9, tập 2, tr.60) Tình cảm được thể hiện độc đáo:
+ Tình cảm của mọi người đối với Bác thật vô tận
+ Ngày ngày thời gian lặp đi lặp lại khi mặt trời qua lăng
+ Ngày lại ngày những dòng người nối nhau đi trong một không gian đặc biệt: đi trong thương nhớ
+ Đặc sắc nhất là những con người, những tắm lòng đã kết thành tràng hoa
dâng lên Bác
- Khổ thơ thứ 3 tác giả tả cảnh trong lăng Bác và niềm xúc động khi thấy Bác
+ VAng trang như là tượng trưng
+ Lí trí thì nói rằng Bác đang trong giắc ngủ, vẫn còn sống mãi
+ Sự thật là Bác đã không còn nữa
- Khổ thứ 4 nhà thơ ước muốn:
+ Lam con chim hot
+ Làm hoa tỏa hương
+ Làm cây tre trung hiếu
Tắt cả để được quanh Người, canh gác cho Bác ngày đêm
4 (Ngữ văn 9, tập 2, tr.60)
- Thể thơ 5 chữ gắn liền với các điệu dân ca, nhát là dân ca miền Trung, có
âm hưởng nhẹ nhàng, tha thiết Cách gieo vần liền giữa các khổ thơ cũng góp
phần tạo nên sự liền mạch cho cảm xúc
- Kết hợp những hình ảnh tự nhiên giản dị (bông hoa tím, tiếng chim hót, vì sao ) với các hình ảnh giàu ý nghĩa biểu trưng, khái quát (đất nước như vì Sao )
- Tw thơ xoay quanh hình ảnh mùa xuân, từ mùa xuân của đất trời đến mùa
xuân của quê hương đất nước Cách cấu tứ như vậy khiến cho ý thơ luôn tập
trung, cảm xúc trong thơ không bị dàn trải
Trang 40
- giong điệu của bài thơ thể hiện đúng tâm trạng cảu tác giả, biến đổi phù hợp
với nội dung từng đoạn: vui, Say sưa ở đoạn đầu, trầm lắng, thiết tha khi bộc
bạch tâm niệm sôi nỗi, tha thiết ở đoạn kết
se Bài thơ Viếng lăng Bac thé hiện lòng thành kính và niềm xúc động sâu sắc
của nhà thơ và của mọi người đối với Bác Hồ khi vào lăng viếng Bác
s Bài thơ có giọng điệu trang trọng và tha thiết, nhiều hình ảnh ẩn dụ đẹp và
gợi cảm, ngôn ngữ bình dị mà cô đức
NGHỊ LUẬN VẺ TÁC PHÁM TRUYỆN
(HOẶC ĐOẠN TRÍCH)
« Nghị luận về tác phẩm truyện (hoặc đoạn trích) là trình bày những nhận
xét đánh giá của mình về nhân vật sự kiện, chủ đề hay nghệ thuật của một tác
phẩm cụ thé
e Những nhận Xét, đánh giá về truyện phải xuất phát từ ý nghĩa của cốt
truyện, tính cách, số phận của nhân vật và nghệ thuật trong tác phẩm được
người viết phát hiện và khái quát
« Các nhận xét, đánh giá về tác phẩm truyện (hoặc đoạn trích) trong bài
nghị luận phải rõ ràng, đúng đắn, có luận cứ và lập luận thuyết phục
« Bài nghị luận về tác phẩm truyện (hoặc đoạn trích) cần có bố cục mạch lạc,
có lời văn chuẩn xác, gợi cảm
B GỢI Y TRÄ LỜI CÃ LỚI CẤU \U HOI)
| Tim hiéu nghị luận về tác phẩm truyện (hoặc đoạn trích)
a) Vấn đề nghị luận của bài văn là: Những tác phẩm chất đáng yêu của
nhân vật anh thanh niên làm công tác khí tượng nơi Sapa Có thể đặt tên bài
văn là Sapa, nét đẹp thâm lặng đáng yêu hay Nét đẹp lặng lẽ của Sapa
b) Những câu văn nêu lên luận điểm của bài văn:
- "Dù được miêu tả nhiều hay ít, trực tiếp hay gián tiếp, nhân vật nào của
Sapa cũng hiện lên với nét cao quý đáng khâm phục Trong đó, anh thanh
niên - nhân vật chính của tác phẩm - đã đề lại cho chúng ta nhiêu án tượng khó
phai mờ" (Các câu nêu vấn đề nghị luận)
- "Trước tiên, nhân vật anh thanh niên này đẹp ở tắm lòng yêu đời, yêu
nghề, ở tinh thân trách nhiệm cao với công việc lắm gian khổ của mình" (Câu
nêu luận điểm)
- Công việc vất vả, có những đóng góp quan trọng cho đất nước, thế những
người thanh niên hiếu khách và sôi nỗi ấy lại rất khiêm tốn (Câu nêu luận
điểm)
- Cuộc sống của chúng ta được làm nên từ bao phan dau, hi sinh lớn lao và
thâm lặng? Những con người cần mẫn, nhiệt thành như anh thanh niên ấy thật
đáng trân trọng, thật đáng tin yêu" (Câu nêu luận điểm)
e) Từng luận điểm được phân tích, chứng minh một cách thuyết phục bằng
các dẫn chứng cụ thể trong tác phẩm Các luận cứ được sử dụng xác đáng,
sinh động rút ra từ những chỉ tiết, hình ảnh đặc sắc trong tác phẩm