1.3 Các cột mốc quan trọng trong hợp tác kinh tế của các nước ASEAN Ngày 8/8/1967: Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á ASEAN được thành lập trên cơ sở Tuyên bố Băng-cốc với mục tiêu là tăn
Trang 2LỜI MỞ ĐẦU
Thế giới đang trong quá trình toàn cầu hoá, khu vực hoá nền kinh tế Tiến trình toàn cầu hoá mở ra cho các quốc gia cả những quốc gia phát triển và đang phát triển những cơ hội thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội
Theo xu thế chung của Thế giới, Việt Nam đã và đang từng bước cố gắng chủ động hội nhập nền kinh tế Đây không phải là mục tiêu nhiệm vụ nhất thời mà là vấn đề mang tính chất sống còn đối với nền kinh tế của Việt Nam Hội nhập quốc tế vừa là cơ hội đồng thời cũng là thách thức đối với các doanh nghiệp Việt Nam trong công cuộc tìm được chỗ đứng của mình trên thị trường quốc tế Trình độ phát triển kinh tế của nước ta còn thấp hơn rất nhiều so với các nước trong khu vực và thế giới Một trong những yếu kém hiện nay của toàn nền kinh tế nói chung và của các doanh nghiệp nói riêng đó là sức cạnh tranh trên thị trường cả trong nước lẫn nước ngoài Việc nhìn nhận được những cơ hội và thách thức của mình sẽ giúp cho các doanh nghiệp Việt Nam rút ra những bài học bổ ích và tìm được lời giải đúng nhất trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế
ASEAN là một tổ chức hợp tác khu vực liên Chính phủ bao gồm cả 10 quốc gia Đông Nam Á trong đó có Việt Nam, là một thực thể chính trị-kinh tế quan trọng ở Châu Á - Thái Bình Dương và là đối tác không thể thiếu trong chính sách khu vực của các nước lớn
và các trung tâm quan trọng trên thế giới
Việt Nam gia nhập ASEAN đã mở ra một cánh cửa hội nhập mới mang lại nhiều cơ hội cũng như thách thức đối với các doanh nghiệp Việt Nam
Nhìn nhận được vấn đề trên, nhóm đã quyết định chọn đề tài tiểu luận: “Việt Nam và các khu vực mậu dịch tự do của ASEAN với các nước Cơ hội và thách thức đối với hoạt động Xuất nhập khẩu của Việt Nam”
Để hoàn thành đề tài này chúng em đã nhận được sự giúp đỡ rất lớn từ cô Võ Thanh Thu, chúng em xin chân thành cảm ơn cô đã tạo điều kiện giúp đỡ chúng em hoàn thành đề tài này Tuy nhiên, đề tài còn nhiều hạn chế và không tránh khỏi thiếu sót, chúng em rất mong được sự đóng góp ý kiến của cô để đề tài có thể đi vào thực tiễn
Trang 3MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1
MỤC LỤC 3
CHƯƠNG 1: VÀI NÉT VỀ LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA ASEAN 6
1.1 Mục tiêu hoạt động ban đầu của ASEAN 6
1.2 Đặc điểm lớn 7
1.3 Các cột mốc quan trọng trong hợp tác kinh tế của các nước ASEAN 8
CHƯƠNG 2: CÁC CHƯƠNG TRÌNH HỢP TÁC VỀ KINH TẾ CỦA ASEAN 15
2.1 Mục tiêu của AFTA 15
2.2 Nội dung cơ bản của 09 chương trình hợp tác kinh tế 15
2.2.1 Hợp tác trong lĩnh vực thương mại 15
2.2.2 Hợp tác trong lĩnh vực hải quan 16
2.2.3 Hợp tác lĩnh vực công nghiệp (AICO) 17
2.2.4 Chương trình hợp tác trong lĩnh vực nông,lâm, ngư nghiệp và lương thực 18
2.2.5 Chương trình hợp tác về đầu tư 18
2.2.6 Chương trình hợp tác trong lĩnh vực dịch vụ 20
2.2.7 Chương trình hợp tác trong lĩnh vực khoáng sản và năng lượng 21
2.2.8 Chương trình hợp tác trong lĩnh vực Ngân hàng 21
2.2.9 Các chương trình hợp tác kinh tế khác 22
2.3 Chương trình cắt giảm thuế quan có hiệu lực chung (CEPT) 22
2.3.1 Nội dung của chương trình CEPT 22
2.3.2 Điều kiện để được hưởng thuế nhập khẩu ưu đãi theo chương trình CEPT 25
2.3.3 Lộ trình thược hiện chương trình cắt giảm thuế quan có hiệu lực chung (CEPT) của các nước ASEAN 26
Trang 42.4 Các cam kết của Việt Nam trong Khu vực Mậu dịch tự do ASEAN (AFTA) 26
2.4.1 Khung thời gian thực hiện CEPT của Việt Nam 27
2.4.2 Nguyên tắc xây dựng chương trình CEPT của Việt Nam 28
CHƯƠNG 3: CỘNG ĐỒNG ASEAN 30
3.1 Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AFC) 30
3.1.1 Quá trình hình thành 30
3.1.2 Nội dung chính của Cộng đồng ASEAN 31
3.2 So sánh giữa ASEANS và EU 37
3.2.1 So sánh bối cảnh ra đời, mục tiêu, nguyên tắc hội nhập 37
3.2.2 So sánh về trình độ và mức độ hội nhập 38
3.2.3 Bài học kinh nghiệm cho ASEAN qua sự hội nhập của EU 40
CHƯƠNG 4: CÁC CHƯƠNG TRÌNH HỢP TÁC CỦA ASEAN VỚI CÁC NƯỚC NGOÀI KHỐI 43
4.1 ASEM – Diễn đàn Châu Âu 43
4.2 Hiệp định thương mại tự do ASEAN – Trung Quốc (CAFTA) 44
4.2.1 Giới thiệu về Hiệp định khung CAFTA 44
4.2.2 Nội dung hiệp định CAFTA: 45
4.3 Hiệp định thành lập khu vực thương mại tự do ASEAN – Úc – Newzealand (Hiệp định AANZFTA) 49
4.4 Hiệp định thành lập khu vực thương mại tự do ASEANs – Hàn Quốc (AKFTA) 50
4.5 Hiệp định thành lập khu vực thương mại tự do ASEANs - Ấn Độ (AIFTA) 50
4.6 Đối tác kinh tế toàn diện ASEANs – Nhật Bản (AJCEP) 50
CHƯƠNG 5: QUAN HỆ THƯƠNG MẠI, ĐẦU TƯ GIỮA ASEANs VÀ VIỆT NAM 52
5.1 Về hoạt động thương mại 52
5.2 Về hoạt động đầu tư FDI với các nước ASEAN 56
5.2.1 Đầu tư của các nước ASEAN vào Việt Nam tính tới tháng 12/2014 56
Trang 55.2.2 Đầu tư của Việt Nam vào các nước vào ASEAN 58
5.3 Đánh giá sự tác động của AFTA đến nền kinh tế Việt Nam 58
5.3.1 Những tác động tích cực: 58
5.3.2 Những thách thức của AFTA đến nền kinh tế Việt Nam: 58
CHƯƠNG 6: MỐI QUAN HỆ GIỮA VIỆT NAM – TRUNG QUỐC KHI HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI TỰ DO ASEAN-TRUNG QUỐC (CAFTA) CÓ HIỆU LỰC 60
6.1 Lộ trình giảm thuế 60
6.2 Tình hình thương mại hàng hóa 63
6.3 Trong lĩnh vực đầu tư: 69
6.4 Cơ hội và thách thức của Việt Nam khi hiệp định tự do thương mại ASEAN – Trung Quốc có hiệu lực 71
6.4.1 Cơ hội 71
6.4.2 Thách thức 72
CHƯƠNG 7: GIẢI PHÁP 75
7.1 Giải pháp cấp bách cần thực hiện 75
7.1.1 Siết chặt hoạt động kiểm soát tại biên giới để ngăn chặn tối đa hiện tượng buôn lậu 75
7.1.2 Tăng cường hiệu quả công tác kiểm tra chất lượng hàng hóa nhập khẩu qua biên giới nhằm giải quyết ngay các bất cập hiện nay liên quan tới hàng hóa kém chất lượng, nguy hại tới cộng đồng nhập khẩu qua biên giới 76
7.1.3 Triệt để cải cách thủ tục hành chính trong hoạt động xuất nhập khẩu 76
7.2 Giải pháp thực hiện trong lâu dài 77
7.2.1 Xem xét lại chính sách xuất nhập khẩu tiểu ngạch 77
7.2.2 Tăng cường hiệu quả sử dụng các ưu đãi thuế quan từ các FTA 77
Trang 6CHƯƠNG 1: VÀI NÉT VỀ LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ
PHÁT TRIỂN CỦA ASEAN
Hiệp hội các nước Đông Nam Á (The Association of Southeast Asians Nations – ASEAN) được thành lập ngày 08/08/1967 sau khi Bộ Trưởng Ngoại giao các nước Indonesia, Malaysia, Philippines, Singapore và Thái Lan ký bản tuyên bố ASEAN (hay được gọi là tuyên bố Băng cốc) Mười bảy năm sau, ngày 08/01/1984 Brunei Ddaruarruxalam được kết nạp vào ASEAN, Việt Nam gia nhập 07/1995 và tháng 07/1997 Lào và Mianma đã trở thành hội viên chính thức của ASEAN, 30/04/1999 Campuchia trở thành hội viên cuối cùng của tổ chức
Như vậy đến nay ASEAN gồm 10 nước với:
Tổng diện tích: 4.800.000 km2 (7/2014)
Tổng dân số: 586 triệu người (7/2014)
Tổng GDP là: 2.310 tỷ USD năm 2012
1.1 Mục tiêu hoạt động ban đầu của ASEAN
Mục tiêu ban đầu của ASEAN nhằn giữ gìn sự ổn định và an ninh trong khu vực, tức
là tổ chức ASEAN lúc đầu được xem là khối mang màu sắc chính trị là chủ yếu, mặc dù tuyên bố Băng Cốc 08/081967 nêu rõ mục tiêu hoạt động của ASEAN bao gồm 7 điểm:
Thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế, tiến bộ xã hội và phát triển văn hóa khu vực thông qua các nỗ lực chung trên tinh thần bình đẳng và hợp tác nhằm tăng cường cở sở trong một cộng đồng các nước Đông Nam Á hòa bình thịnh vượng
Thúc đẩy hòa bình và ổn định khu vực bằng việc tôn trọng công lý và nguyên tắc luật pháp trong quan hệ giữa các nước trong vùng và tuân thủ các nguyên tắc của Hiến chương Liên hiệp quốc
Thúc đẩy sự cộng tác tích cực và giúp đỡ lẫn nhau trong các vấn đề cùng quan tâm trên các lĩnh vực kinh tế, xã hội, văn hóa, khoa học – kỹ thuật và hành chính
Trang 7 Giúp đỡ lẫn nhau dưới các hình thức đào tạo và cung cấp các phương tiện nghiên cứu trong các lĩnh vực giáo dục, chuyên môn, kỹ thuật và hành chính
Cộng tác có hiệu quả hơn, để sử dụng tốt hơn nền nông nghiệp và các ngành công nghiệp của nhau, mở rộng mậu dịch kể cả việc nghiên cứu các vấn đề buôn bán hàng hóa giữa các nước, cải thiện các phương tiện giao thông liên lạc và nâng cao mức sống nhân dan
Thúc đẩy việc nghiên cứu về Đông Nam Á
Duy trì sự hợp tác chặt chẽ cùng có lợi với các tổ chức quốc tế và các khu vực có tôn chỉ và mục đích tương tự và tìm kiếm cách thức nhằm đạt được sự họp tác chặt chẽ hơn giữa các tổ chức này
1.2 Đặc điểm lớn
Trong hơn 33 năm hoạt động đầu tiên của mình, sự hợp tác về kinh tế giữa các nước ASEAN còn đạt ở mức độ thấp, hiệu quả mang lại chưa cao là do các nguyên nhân:
Sự hoạt động của ASEAN trong quá khứ được thực hiện như một tổ chức chính trị
Liên kết ASEAN không phải là liên kết giữa các quốc gia thuần nhất về chính trị và kinh tế mà ngược lại đây là liên minh của một nhóm các nước rất khác biệt nhau về thể chế chính trị, tôn giáo và trình độ phát triển kinh tế hơn nữa giữa các nước hội viên vẫn còn có những mâu thuẫn về tranh chấp lãnh thổ mà cho đến nay chưa được giải quyết
ASEAN là tập hợp gồm các nước đang phát triển nhỏ và vừa nên kinh tế của các nước ASEAN có tính chất cạnh tranh hơn là bổ sung cho nhau
Hầu hết các nước ASEAN đều rất coi trọng thị trường bên ngoài như Mỹ, EU, Nhật, Canada, Hàn Quốc… coi đây là những thị trường chủ lực, giúp họ thực hiện chính sách hướng ngoại nên kim ngạch buôn bán giữa các nước ASEAN với nhau chỉ đạt khoảng 25% tổng kim ngạch của khối này buôn bán với bên ngoài Đây cũng là biểu hiện trong quá khứ của các nước ASEAN chưa thực sự coi trọng sự hợp tác phối hợp kinh tế và buôn bán giữa các nước trong khu vực Trong 10 năm trở lại đây vai trò của ASEAN ngày càng tăng cường trở thành thế lực kinh tế chính trị mạnh không những ở Châu Á mà còn trên thế giới, hầu hết các khối, các nước lớn trên thế giới: Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Úc Newzenland, EU, Hoa kỳ, Ấn Độ, Nga
Trang 8đều muốn có quan hệ mang tính pháp lý với ASEAN thông qua các hiệp định song phương hoặc đa phương
1.3 Các cột mốc quan trọng trong hợp tác kinh tế của các nước ASEAN
Ngày 8/8/1967: Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) được thành lập trên cơ
sở Tuyên bố Băng-cốc với mục tiêu là tăng cường hợp tác kinh tế, văn hoá-xã hội giữa các nước thành viên, tạo điều kiện cho các nước hội nhập sâu hơn với khu vực và thế giới
Năm 1971: ASEAN ra Tuyên bố về Khu vực Hòa bình, Tự do và Trung lập (ZOPFAN), nhấn mạnh quyết tâm của các nước ASEAN trong việc đảm bảo việc công nhận
và tôn trọng Đông Nam Á là một khu vực hòa bình, tự do và trung lập, không có sự can thiệp dưới bất kỳ hình thức và phương cách nào của các nước ngoài khu vực Theo đó, các quốc gia Đông Nam Á cũng cam kết phối hợp nỗ lực mở rộng các lĩnh vực hợp tác để góp phần tăng cường sức mạnh, tình đoàn kết và mối quan hệ gắn bó hơn nữa
Năm 1976: Hiệp ước Thân thiện và Hợp tác ở Đông Nam Á ( TAC) và Tuyên bố về
sự Hòa hợp ASEAN Mong muốn thúc đẩy hòa bình và ổn định khu vực thông qua việc tôn trọng công lý và luật pháp và nâng cao khả năng tự cường khu vực của các nước ASEAN tiếp tục được thể hiện trong Hiệp ước về Thân thiện và Hợp tác ở Đông Nam Á (TAC), được các Nhà lãnh đạo ký thông qua ngày 24/2/1976 tại Bali, In-đô-nê-xia nhân dịp Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ nhất Hiệp ước gồm 5 chương, 20 điều, nêu mục đích, nguyên tắc, cam kết của các quốc gia thành viên duy trì quan hệ thân thiện, hợp tác và giải quyết hòa bình các tranh chấp Hiệp định đã đặt nền móng cho việc xây dựng chuẩn mực ứng xử giữa các quốc gia ở khu vực nhằm thúc đẩy nền hòa bình vĩnh viễn, sự thân thiện và hợp tác giữa nhân dân các quốc gia tham gia Hiệp ước.Cùng với quá trình ASEAN mở rộng quan hệ đối ngoại của ASEAN, các Đối tác của ASEAN đã lần lượt tham gia vào Hiệp ước TAC Do đó, Hiệp ước đã được sửa đổi 3 lần: Lần thứ nhất vào ngày 15/12/1987 bằng nghị định thư mở rộng văn kiện cho các quốc gia ngoài Đông Nam Á tham gia vào TAC; lần thứ hai vào ngày 25/7/1998 với nghị định thư quy định sự đồng thuận cần thiết của tất cả các quốc gia thành viên ASEAN để các quốc gia ngoài ASEAN có thể tham gia TAC; và lần thứ ba vào ngày 23/7/2010 bằng nghị định thư cho phép các tổ chức quốc tế/khu vực, trong đó có EU, tham
Trang 9gia TAC Cùng với việc ký kết TAC, tại Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ nhất, các nước ASEAN cũng ra Tuyên bố về sự Hòa hợp ASEAN (Tuyên bố Bali), khẳng định các nỗ lực thúc đẩy hòa bình, tiến bộ, phồn vinh và phúc lợi của nhân dân các nước thành viên và cam kết mở rộng hợp tác ASEAN trong các lĩnh vực kinh tế, xã hội, văn hóa và chính trị
Năm 1992: Hiệp định Khung về tăng cường hợp tác kinh tế ASEAN và thỏa thuận về Khu vực Mậu dịch Tự do ASEAN (AFTA): Trong quá trình hội nhập và phát triển của Hiệp hội, hợp tác kinh tế luôn là một trụ cột quan trọng, mở đầu với việc ký kết “Hiệp định Khung về tăng cường hợp tác kinh tế ASEAN” vào dịp Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ
tư, tổ chức tại Singapore từ ngày 27-28/1/1992 Hiệp định đã tạo khuôn khổ căn bản cho hợp tác ASEAN trên sáu lĩnh vực, bao gồm: Thương mại và công nghiệp; Khoáng sản và năng lượng; Tài chính và ngân hàng; Lương thực, nông và lâm nghiệp; Giao thông vận tải và bưu chính - viễn thông Nhân dịp này, 5 nước thành viên ban đầu của ASEAN cũng ký thỏa thuận về lập Khu vực Mậu dịch Tự do ASEAN(AFTA), đặt nền tảng quan trọng cho mở rộng hợp tác kinh tế-thương mại và xây dựng Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC) sau này
Năm 1994: Diễn đàn khu vực ASEAN (ARF) được thành lập: Hợp tác về chính trị-an ninh trong ASEAN và giữa ASEAN với các đối tác cũng ngày càng được củng cố và phát triển Một trong những kết quả tiêu biểu của quá trình này là Diễn đàn Khu vực ASEAN (ARF) được khởi xướng và đi vào hoạt động từ tháng 7/1994, với sự tham gia của 18 nước trong và ngoài khu vực (Bao gồm 6 nước thành viên ASEAN, Mỹ, Nhật, Trung Quốc, Nga, Canada, Liên minh châu Âu, Australia, New zealand, Việt Nam, Lào, Hàn Quốc và Papua Niu Ghinê) Đến nay ARF đã trở thành một diễn đàn an ninh thường niên và là một cơ chế quan trọng cho hợp tác chính trị-an ninh ở Đông Á, với 27 thành viên, gồm toàn bộ 10 Quốc gia thành viên ASEAN, 10 bên đối thoại của ASEAN (Mỹ, Nhật, Trung Quốc, Nga, Ấn
Độ, Hàn Quốc, Ô-xtrây-lia, Niu Di-lân, Ca-na-da, Liên minh Châu Âu) và các nước Papua Niu Ghi-nê, Mông Cổ, Bắc Triều Tiên, Pakistan, Bangladesh, Sri Lanka, Đông Timor
Năm 1995 ký kết Hiệp ước về khu vực Đông Nam Á không vũ khí hạt nhân (SEANWFZ): Một trong những thành tố cơ bản của Tuyên bố Kuala Lumpur năm 1971 là ý tưởng thiết lập khu vực Đông Nam Á không có vũ khí hạt nhân Tuy nhiên, do những khó
Trang 10khăn nội bộ của các nước thành viên cũng như bối cảnh chính trị của khu vực, đề xuất chính thức của ý tưởng này chỉ được đưa ra vào giữa những năm 1980 Sau 10 năm đàm phán, Hiệp ước về Khu vực Đông Nam Á không có Vũ khí Hạt nhân được chính thức ký tại Bangkok ngày 15/12/1995, nhân dịp Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ năm Theo đó, các bên tham gia Hiệp ước không được phát triển, sản xuất, tìm cách sở hữu, kiểm soát hoặc lắp đặt vũ khí hạt nhân; Không cung cấp nguồn hoặc các vật liệu hoặc thiết bị hạt nhân cho các quốc gia không có vũ khí hạt nhân Hiệp định được đi kèm một Nghị thư mở ngỏ cho sự tham gia của các nước sở hữu vũ khí hạt nhân, bao gồm Trung Quốc, Pháp, Nga, Anh và Hoa Kỳ Hiện nay các nước ASEAN đang tiến hành tham vấn, thúc đẩy 5 quốc gia này tham gia vào Nghị định thư
Tháng 12/1997 ASEAN đã thông qua Tầm nhìn ASEAN 2020: Nhân kỷ niệm 30 năm ngày thành lập Hiệp hội, Hội nghị cấp cao ASEAN không chính thức lần II (Kuala Lumpur, Malaysia, tháng 12/1997) đã thông qua văn kiện quan trọng Tầm nhìn ASEAN
2020, nêu định hướng phát triển lớn của ASEAN trong những thập kỷ đầu thế kỷ 21, hướng tới mục tiêu xây dựng một tập hợp hài hòa các dân tộc ở Đông Nam Á, sống trong hòa bình,
ổn định và thịnh vượng, gắn kết chặt chẽ với nhau trong mối quan hệ đối tác năng động và một cộng đồng của các xã hội đùm bọc lẫn nhau Theo đó, Tầm nhìn ASEAN 2020 cũng nêu những mục tiêu cụ thể trong các lĩnh vực chính trị, an ninh, kinh tế, xã hội, văn hoá và quan hệ đối ngoại Đây là văn bản có ý nghĩa đối với quá trình phát triển của Hiệp hội, đặt nền tảng cho việc hình thành và thực hiện các mục tiêu xây dựng Cộng đồng ASEAN
Năm 2002: ASEAN và Trung Quốc ký Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC): Trước những căng thẳng do tranh chấp trên biển Đông giữa một số nước thành viên ASEAN và Trung Quốc, Ngoại trưởng 10 nước ASEAN và Trung Quốc đã tiến hành đàm phán và ký Tuyên bố về Cách ứng xử của các bên ở biển Đông (DOC) vào ngày 4/11/2002 tại Phnôm Pênh Tuyên bố nêu cam kết của các bên ký kết giải quyết bằng biện pháp hòa bình các tranh chấp, không sử dụng vũ lực và thông qua đàm phán giữa các bên liên quan Các bên cũng cam kết kiềm chế, không làm phức tạp thêm tình hình; Thực thi các biện pháp xây dựng lòng tin, tổ chức đối thoại và trao đổi quan điểm giữa các quan chức quốc phòng,
Trang 11quân sự của các bên tranh chấp; Đồng thời nghiên cứu và tiến hành các hoạt động hợp tác trên các lĩnh vực bảo vệ môi trường biển, nghiên cứu khoa học biển, an toàn hàng hải và thông tin liên lạc, tìm kiếm cứu hộ cứu nạn và phòng chống tội phạm xuyên quốc gia Các nước ASEAN và Trung Quốc sau đó đã thông qua Quy tắc Hướng dẫn thực thi DOC vào ngày 20/7/2011 tại Bali, In-đô-nê-xia, bên lề Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN (AMM) lần thứ 44 Quy tắc Hướng dẫn là văn bản tái khẳng định cam kết của các nước ASEAN và Trung Quốc trong việc thực thi đầy đủ và nghiêm túc DOC, thúc đẩy hòa bình,
ổn định, an ninh, an toàn hàng hải, hợp tác xây dựng lòng tin và giải quyết các tranh chấp bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế, đặc biệt là Công ước Luật biển của Liên hợp quốc (UNCLOS) Đây là một bước tiến có ý nghĩa đối với quá trình giải quyết các tranh chấp ở biển Đông, tạo điều kiện để các bên tiến hành hợp tác xây dựng lòng tin, hướng tới xây dựng bộ Quy tắc Ứng xử (COC) có tính ràng buộc pháp lý đối với các bên ở biển Đông
Năm 2003: Thông qua Tuyên bố về sự hòa hợp ASEAN II: Tại Hội nghị Cấp cao lần thứ 9 (Bali, In-đô-nê-xi-a, tháng 10/2003), ASEAN đã ra Tuyên bố Hòa hợp ASEAN II (hay còn gọi là Tuyên bố Ba-li II), chính thức hóa việc thực hiện ý tưởng về 3 trụ cột của Cộng đồng ASEAN Tuyên bố khẳng định quyết tâm của các nước ASEAN xây dựng Cộng đồng ASEAN dựa trên ba trụ cột: Cộng đồng An ninh (ASC), Cộng đồng Kinh tế (AEC) và Cộng đồng Văn hoá-Xã hội (ASCC); Đồng thời cũng phác thảo những ý tưởng lớn của từng Cộng đồng
Năm 2005: Hội nghị Cấp cao Đông Á (EAS): Một mốc lớn khác trong tiến trình hội nhập và phát triển của ASEAN là Hội nghị Cấp cao Đông Á (EAS) lần thứ nhất, được tổ chức tại Kuala Lumpur, Malaysia tháng 12/2005, với sự tham gia của nguyên thủ các nước thành viên ASEAN, Australia, Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản, Hàn Quốc và New Zealand Tại Hội nghị này, Lãnh đạo các nước đã ký Tuyên bố chung về Cấp cao Đông Á, trong đó
đề ra mục tiêu, nguyên tắc, lĩnh vực và các phương thức chính cho hoạt động của EAS Theo
đó, EAS sẽ là diễn đàn của các Lãnh đạo đối thoại về các vấn đề chiến lược nhằm hỗ trợ mục tiêu xây dựng cộng đồng ở khu vực Đông Á; Là một tiến trình mở và thu nạp, trong đó
Trang 12ASEAN giữ vai trò chủ đạo, bổ sung và hỗ trợ cho các diễn đàn khu vực khác hiện có, họp hàng năm do ASEAN chủ trì nhân dịp Cấp cao ASEAN Lãnh đạo các nước đã nhất trí xác định 5 lĩnh vực hợp tác ưu tiên (Trong số gần 20 lĩnh vực được đề cập đến trong thảo luận) gồm năng lượng, tài chính, giáo dục, thiên tai và bệnh dịch Nhân dịp kỷ niệm 5 năm thành lập EAS, Hội nghị Cấp cao EAS lần thứ 5 (Tổ chức ngày 30/10/2010 tại Hà Nội) đã thông qua Tuyên bố Hà Nội kỷ niệm 5 năm thành lập tiến trình EAS, trong đó khẳng định lại các nguyên tắc, mục tiêu, thể thức và các lĩnh vực hợp tác ưu tiên trong EAS Theo đó, ngoài 5 lĩnh vực ưu tiên, các Lãnh đạo EAS cũng nhất trí mở rộng hợp tác Diễn đàn ra các vấn đề chính trị-an ninh; Tiến hành 2 nghiên cứu song song về khả năng thiết lập Khu vực Mậu dịch Tự do Đông Á là CEPEA (Đối tác Kinh tế Toàn Diện Đông Á) và EAFTA (Khu vực Mậu dịch Tự do Đông Á) Hội nghị Cấp cao EAS-5 cũng ra quyết định mời Nga và Mỹ chính thức tham gia Cấp cao Đông Á bắt đầu từ Cấp cao EAS-6 cuối năm 2011 tại Indonesia
Tại Hội nghị Cấp cao Đông Á lần thứ 6 (Tổ chức ngày 19/11/2011 tại Ba-li, Indonesia, Nga và Mỹ đã tham gia với tư cách Thành viên Chính thức của EAS Các Lãnh đạo EAS đã ra “Tuyên bố EAS về các Nguyên tắc Quan hệ cùng có lợi”
Tháng 1/2007: Quyết định đẩy nhanh tiến trình xây dựng Cộng đồng ASEAN và xây dựng Hiến chương ASEAN: Để kịp thích ứng với những chuyển biến nhanh chóng và phức tạp của tình hình quốc tế và khu vực cũng như trên cơ sở những thành tựu của ASEAN trong
40 năm qua, nhất là kết quả thực hiện Chương trình Hành động Viên Chăn (VAP), Lãnh đạo các nước ASEAN tháng 1/2007 đã quyết tâm đẩy nhanh tiến trình liên kết nội khối dựa trên
cơ sở pháp lý là Hiến chương ASEAN, nhất trí vì mục tiêu hình thành Cộng động ASEAN vào năm 2015 (Thay vì vào năm 2020 như thỏa thuận trước đây)
Tháng 11/2007: Hướng tới mục tiêu xây dựng cộng đồng, ASEAN đã nỗ lực xây dựng và Hiến chương ASEAN được ký ngày 20 tháng 11 năm 2007 tại Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ 13 Hiến chương ra đời, tạo tư cách pháp nhân cho ASEAN là một tổ chức hợp tác khu vực; Đồng thời cũng tạo cơ sở pháp lý và khuôn khổ thể chế để gia tăng liên kết
và hợp tác ASEAN, giúp xây dựng ASEAN trở thành một tổ chức gắn kết hơn và hoạt động
Trang 13hiệu quả hơn, trước mắt là hỗ trợ mục tiêu hình thành Cộng đồng ASEAN Sự ràng buộc về pháp lý cùng với sự đổi mới về bộ máy tổ chức và phương thức hoạt động của ASEAN sẽ giúp thực hiện nghiêm túc các thỏa thuận, nâng cao chất lượng và hiệu quả hợp tác, làm cho ASEAN trở thành một thực thể chính trị-kinh tế ngày càng gắn kết hơn
Ngày 15/12/2008: Hiến chương ASEAN có hiệu lực
Tháng 2/2009: Lộ trình xây dựng Cộng đồng ASEAN được các nhà Lãnh đạo ASEAN thông qua tại Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ 14 tại Cham Am Hua Hin, Thái Lan, bao gồm các Kế hoạch tổng thể xây dựng các Cộng đồng trụ cột Chính trị-An ninh, Kinh tế và Văn hóa Xã hội ASEAN
Kế hoạch công tác về Sáng kiến Liên kết ASEAN giai đoạn II (2009-2015), như một văn kiện kế tục Chương trình Hành động Viên chăn (VAP), giúp ASEAN đẩy mạnh các nỗ lực thu hẹp khoảng cách phát triển, gia tăng liên kết khu vực và thực hiện thành công mục tiêu xây dựng Cộng đồng cũng đã được thông qua dịp này
Năm 2009: Uỷ ban Liên chính phủ ASEAN về Nhân quyền (AICHR) được thành lập Năm 2010: Kế hoạch Tổng thể về Kết nối ASEAN (MPAC): Để hỗ trợ đắc lực cho tiến trình hội nhập và xây dựng Cộng đồng ASEAN, đồng thời đảm bảo vai trò trung tâm của ASEAN trong cấu trúc khu vực năng động đang hình thành, các nước ASEAN đã nhất trí tăng cường kết nối ASEAN và giữa ASEAN với khu vực Tại Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ 17 diễn ra vào tháng 12/2010 tại Hà Nội, các Nhà Lãnh đạo ASEAN đã thông qua
Kế hoạch Tổng thể về Kết nối ASEAN (MPAC), trong đó đề ra các biện pháp cụ thể thực hiện kết nối ASEAN về hạ tầng, thể chế và người dân Việc tăng cường kết nối có ý nghĩa quan trọng, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế trong ASEAN, tạo thuận lợi cho mạng lưới sản xuất chung, thúc đẩy thương mại nội khối, thu hút đầu tư vào khu vực; Đồng thời tăng cường nữa gắn kết về văn hóa và lịch sử giữa các quốc gia thành viên
Quyết định mở rộng Hội nghị Cấp cao Đông Á cho Nga và Mỹ tham gia; Quyết định triệu tập Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng ASEAN mở rộng (ADMM+), gồm các BT QF
Trang 14ASEAN và 8 nước đối thoại Uỷ ban Thúc đẩy và Bảo vệ Quyền của Phụ nữ và Trẻ em (ACWC) được thành lập
Tháng 11/2011: Tuyên bố Bali về Cộng đồng ASEAN trong Cộng đồng ASEAN trong Cộng đồng các Quốc gia Toàn cầu (Tuyên bố Hòa hợp Bali III): Bên cạnh việc dành
ưu tiên thực hiện hiệu quả và đúng hạn mục tiêu xây dựng Cộng đồng ASEAN vào năm
2015, các quốc gia thành viên ASEAN cũng chú trọng các nỗ lực nhằm nâng cao vai trò và
vị thế của Hiệp hội trên trường quốc tế Trên cơ sở đó, tại Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ
19 tổ chức tại Bali, Indonesia từ ngày 17-19/11/2011, các Nhà Lãnh đạo ASEAN đã ký thông qua “Tuyên bố Bali về Cộng đồng ASEAN trong Cộng đồng các Quốc gia Toàn cầu” Tuyên bố khẳng định quyết tâm cũng như cam kết của các nước ASEAN xây dựng lập trường, quan điểm chung trong việc hợp tác ứng phó với các vấn đề toàn cầu; nâng cao vai trò và tiếng nói của ASEAN tại các cơ chế quốc tế như Liên hợp quốc (UN), Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), Diễn đàn Hợp tác Kinh tế Châu Á-Thái Bình Dương (APEC)…, qua đó đóng góp tích cực hơn vào các nỗ lực chung nhằm duy trì môi trường hòa bình, ổn định cho phát triển trong khu vực cũng như trên thế giới
Trang 15CHƯƠNG 2: CÁC CHƯƠNG TRÌNH HỢP TÁC VỀ KINH TẾ CỦA
ASEAN
2.1 Mục tiêu của AFTA
Thúc đẩy buôn bán giữa các nước trong khu vực nhờ chế độ thế quan ưu đãi (CEPT)
và các ưu đãi khác
Tăng khả năng cạnh tranh của ASEAN trên trường quốc tế
Tăng sức hấp dẫn của môi trường đầu tư nhằm thu hút vốn FDI
Xây dựng các cơ chế và điều kiện chung thúc đẩy phát triển kinh tế của các nước thành viên
2.2 Nội dung cơ bản của 09 chương trình hợp tác kinh tế
2.2.1 Hợp tác trong lĩnh vực thương mại
• PTA
Đây là cấp độ thấp nhất của liên kết kinh tế, theo đó các quốc thủ tướng tham gia hiệp định dành các ưu đãi về thuế quan và phi thuế quan cho hàng hóa của nhau, tạo thành các khu vực thương mại ưu đãi vùng (Preferential Trade Area) Trong các thỏa thuận này, thuế quan và hàng rào phi thuế quan có thể vẫn còn, nhưng thấp hơn so với khi áp dụng cho quốc gia không tham gia hiệp định Một ví dụ về thỏa thuận thương mại ưu đãi là Hiệp định về Thỏa thuận Thương mại Ưu đãi ASEAN được ký kết tại Manila năm 1977và được sửa đổi năm 1995; hay Khu vực Thương mại Ưu đãi Đông và Nam Phi tồn tại từ năm 1981 đến năm 1994; hay như các hiệp định dành ưu đãi thương mại (hay tối huệ quốc) mà một số nước phát triển có thể dành cho các nước đang phát triển
• ATIGA
ATIGA là hiệp định toàn diện đầu tiên của ASEAN điều chỉnh toàn bộ thương mại hàng hóa trong nội khối và được xây dựng trên cơ sở tổng hợp các cam kết đã được thống nhất trong CEPT/AFTA cùng các hiệp định, nghị định thư có liên quan
Linh hoạt hơn CEPT (Hiệp định thương mại hàng hóa được ban hành từ 1992), ATIGA quy định rõ số dòng thuế được lùi thời hạn xóa bỏ thuế quan đến năm 2018 với
Trang 16nhóm bốn nước Campuchia, Lào, Myanma, Việt Nam (CLMV), đồng thời, cho phép tạm ngừng hoặc điều chỉnh cam kết thực hiện nghĩa vụ cắt giảm, xóa bỏ thuế quan giữa các nước trong khối ASEAN
Ngoài mục tiêu xóa bỏ hàng rào thuế quan, ATIGA hướng nỗ lực chung của ASEAN
để xử lý tối đa các hàng rào phi thuế quan, hợp tác hải quan và vệ sinh, kiểm dịch đồng thời xác lập mục tiêu hài hòa chính sách giữa các thành viên ASEAN trong bối cảnh xây dựng AEC
2.2.2 Hợp tác trong lĩnh vực hải quan
Thực hiện thống nhất phương pháp định giá tính thuế hải quan giữa các nước ASEAN
Hiện nay các nước thành viên ASEAN đang áp dụng các phương pháp định giá tính thuế hải quan khác nhau, nên đã tạo ra một hàng rào cản trở thương mại và gây khó khăn cho việc thực hiện hiệp định về mậu dịch tự do Do đó, các nước ASEAN đã thoả thuận hợp tác nhằm hài hoà phương pháp định giá hải quan GTV của GATT từ năm 2000 Đây là phương pháp công bằng, trung lập và phù hợp với thực tế thương mại
-Thực hiện hài hoà các tủ tục hải quan trong 2 lĩnh vực:
+ Mẫu khai báo CEPT chung – Common ASEAN CEPT form Tờ hải quan ASEANs được Hội nghị Tổng cục hải quan ASEANs lần thứ 13 (11/2005) thong qua và có hiệu lực từ ngày tháng 1 năm 2006
+ Đơn giản hoá thủ tục xuất khẩu, nhập khẩu ở các khâu:
• Thủ tục khai báo hàng hoá khi nhập khẩu
• Thủ tục nộp khai báo hàng hoá khi nhập khẩu
• Kiểm tra hàng hoá
• Cấp giấy chứng nhận xuất xứ hồi tố (để giảm thuế)
• Hoàn thuế
Việc đơn giản hoá thủ tục hải quan sẽ được tiến hành dựa trên những hướng dẫn tại công ước Kyoto – Công ước quốc tế về thủ tục hải quan Thủ tục hải quan sẽ được hài hoà
Trang 17hoá trên các nguyên tắc: rõ ràng, thống nhất, thúc đẩy tính hiệu quả và đơn giản trong quản
lý hải quan
Hải quan các nước ASEAN cũng đã thống nhất thiết lập các “hành lang xanh” (Green lines) – cửa giải quyết thủ tục hải quan dành cho các sản phẩm được nhập khẩu theo Chương trình CEPT – tại hải quan cửa khẩu của từng nước thành viên
- Thực hiện áp dụng một danh mục biểu thuế hài hoà thống nhất của ASEAN
Trong thương mại quốc tế, việc hài hoà hoá và chi tiết hoá danh mục biểu thuế nhập khẩu là rất cần thiết để tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình xác định đúng tên gọi của hàng hoá nhập khẩu để áp dụng đúng thuế suất
Hiện nay, ASEAN đang xây dựng một danh mục biểu thuế hài hoà chung ASEAN (AHTN) Danh mục biểu thuế này sẽ dựa trên phiên bản mới nhất của hệ thống Hài hoà miêu tả và mã số hàng hoá do Tổ chức Hải quan Thế giới (WCO) ban hành Danh mục AHTN chỉ có tối đa là 7000 dòng thuế và được áp dụng từ năm 2000 ASEAN còn đồng thời thực hiện các sáng kiến về tạo thuận lợi cho thương mại, tích cực thúc đẩy đơn giản hoá thủ tục hải quan, xoá bỏ các rào cản phi thuế quan, thiết lập cơ chế “hải quan một cửa ASEAN” và Cơ sở dữ liệu chung ASEAN
2.2.3 Hợp tác lĩnh vực công nghiệp (AICO)
Từ khi thành lập ASEAN đến nay đã có 5 chương trình hợp tác giữa các nước thành viên trong lĩnh vực công nghiệp
- Các dự án công nghiệp ASEAN (AIP ASEAN Industrial projects) được thông qua tại Hội nghị thượng đỉnh ASEAN lần thứ 1 (1976)
- Bổ sung công nghiệp ASEAN (AIC – ASEAN Industrial Complementation) đưa ra 6/1991
- Các liên doanh công nghiệp ASEAN (AIJV – ASEAN Industrial Joint Venture) bắt đầu từ 1/1983
- Liên kết sản xuất chung Nhãn Mác (BBC – Brand Brand Complementation) khởi đầu từ 10/1988
Trang 18- Chương trình hợp tác công nghiệp (ASEAN Industrial Cooperation – AICO) được
ký tại Singapore 27/04/1996 chính thức có hiệu lực từ ngày 1/11/1996 nó là chương trình thay thế BBC và AIJC
Mục đích của AICO là khuyến khích liên kết sản xuất giữa các xí nghiệp của các nước ASEAN, kể cả các xí nghiệp vừa và nhỏ, và sử dụng có hiệu quả nguồn lực của ASEAN Các sản phẩm được sản xuất bởi các xí nghiệp tham gia chương trình AICO được hưởng mức ưu đã thuế quan tối đa của Chương trình CEPT là 0 – 5% và các khuyến khích phi thuế khác do từng nước quy định Như vậy, đây là sự đẩy nhanh thực hiện AFTA trước thời hạn đối với các sản phẩm được chế tạo bởi các liên kết sản xuất trong ASEAN
2.2.4 Chương trình hợp tác trong lĩnh vực nông,lâm, ngư nghiệp và lương thực
Hợp tác về cây trồng
Hợp tác về chăn nuôi
Hợp tác về đào tạo, khuyến nông
Hợp tác khuyến khích thương mại nông lâm sản
Hợp tác về thủy sản
Hợp tác về lương thực: ký kết hiệp định thành lập quỹ an ninh lương thục nhằm giúp
đỡ nhau khi xảy ra tình hình khẩn cấp
Chương trình hợp tác và thuận lợi hóa
Chương trình xúc tiến và thuận lợi hóa
Chương trình tự do hóa
Mỗi nước ASEAN sẽ tự vạch ra kế hoạch hành động cụ thể hóa các chương trình nói trên Cứ mỗi năm 1 lần, các kế hoạch của từng quốc gia sẽ đucợ rà soát lại để đảm bảo tiến độ thực hiện AIA
2.2.5 Chương trình hợp tác về đầu tư
AIGA
Ngày 15/12/1987 những nhà lãnh đạo phụ trách các vấn đề kinh tế của các nước ASEAN 6 đã kí kết hiệp định hợp tác về đầu tư mang quy mô toàn ASEAN đầu tiên có tên
Trang 19là Hiệp định Khuyến khích và bảo hộ đầu tư (Agreement for the Promotion and Protection
of Investments (AIGA) để tiến hành hợp tác sâu hơn trong lĩnh vực đầu tư trong khu vực Hiệp định Khuyến khích và bảo hộ đầu tư có hiệu lực từ ngày 2/8/1988, sau đó được sửa đổi một lần vào năm 1996 Hiệp định này khá ngắn, chỉ bao gồm 13 điều khoảnvới mục tiêu chung là bảo vệ đầu tư như đảm bảo đối xử công bằng, bình đẳng trong đầu tư, các quy định về quốc hữu hóa và bồi thường, quyền chuyển vốn và lợi nhuận về nước của nhà đầu
tư, thế quyền, cơ chế giải quyết tranh chấp giữa các thành viên của hiệp định
AIA
Để các nước ASEAN tăng cường đầu tư vào nhau và thu hút vốn từ các khu vực khác
đã cùng nhau ký kết Hiệp định về khuyến khích và bảo hộ đầu tư ASEAN và Bangkok 12/1995
Và ký hiệp định về thành lập khu đầu tư ASEAN (AIA – ASEAN Investment Area) Thực chất của AIA là:
- Hợp tác để thu hút vốn đầu tư trực tiếp vào ASEAN từ các nguồn trong và ngoài nước
- Dành nguyên tắc đãi ngộ quốc gia (NT – National Treatment) cho các nhà đầu tư của ASEAN vào năm 2010 và cho tất cả các nhà đầu tư vào năm 2020
- Mở cửa tất cả các ngành công nghiệp cho đầu tư của các nhà đầu tư ASEAN vào năm 2010 và cho tất cả các nhà đầu tư vào năm 2020
- Thúc đẩy sự di chuyển vốn, lao động có tay nghề, công nghệ giữa các nước thành viên ASEAN
Để thực hiện nội dung của hiệp định AIA, ASEAN đề ra 3 chương trình:
- Chương trình hợp tác và thuận lợi hoá
- Chương trình xúc tiến và nhận thức
- Chương trình tự do hoá
Trang 20Mỗi nước ASEAN sẽ tự vạch ra các kế hoạch hành động để cụ thể hoá các chương trình nói trên Cứ mỗi 2 năm 1 lần, các kế hoạch của từng quốc gia sẽ được rà soát lại để đảm bảo tiến độ thực hiện AIA
2.2.6 Chương trình hợp tác trong lĩnh vực dịch vụ
Tại hội nghị thượng đỉnh lần thứ 5 tại Thái Lan 1995, các nước ASEAN đã cùng ký kết hiệp định khung về hợp tác trong lĩnh vực dịch vụ
Mục tiêu của hiệp định này là:
Đẩy mạnh hợp tác giữa các nước thành viên ASEAN trong lĩnh vực dịch vụ nhằn nâng cao hiệu quả và khả năng cạnh tranh, đa dạng hóa năng lực sản xuất, cung cấp và phân phối dịch vụ trong nội bộ cũng như ra ngoài khu vực
Xóa bỏ đáng kể các hàng rào hạn chế thương mại dịch vụ giữa các thành viên
Thực hiện tự do hóa thương mại dịch vụ bằng cách mở rộng và thực hiện sâu sắc hơn những cam kết mà các nước đã đưa ra tai WTO vì mục đích thực hiện khu vực mậu dịch tự
do đối với dịch vụ ASEAN
Hội nghị thượng đỉnh ASEAN lần thứ 5 tháng 12 năm 1995 tại Bankok, Thái Lan đã quyết định chọn 7 lĩnh vực dịch vụ quan trọng là tái chính, vô tuyến viễn thông, vận tải hàng hải, vận tải hàng không, du lịch, dịch vụ kinh doanh và dịch vụ xây dựng để bước đầu xây dựng tự do hóa thương mại dịch vụ Các cuộc đàm phán đã được bắt đầu từ 1/1/1996 các Bộ trưởng kinh tế ASEAN đã ký được Nghị Định thực hiện cam kết đợt đầu về du lịch gồm các lĩnh vực: Bưu chính viễn thông và dịch vụ Các nước thành viên ASEAN đã hoàn thành việc đàm phán về dịch vụ ở các lĩnh vực còn lại vào 31/1/1998
Các nước còn thỏa thuận sẽ thực hiện công nhận lẫn nhau trình độ giáo dục, kinh nghiệm, giấy chứng nhận cho những người cung cấp dịch vụ để tạo điều kiện thuận lợi cho việc cung cấp dịch vụ giữa các nước
Đến năm 2010, trong lĩnh vực thương mại dịch vụ, 9/10 nước ASEAN đã hoàn thành gói cam kết dịch vụ theo hiệp định khung về Thương mại dịch vụ ASEAN (AFAS), bao trùm 65 phân ngành dịch vụ Ngoài ra, về dịch vụ, ASEAN đã thiết lập được thỏa thuận
Trang 21công nhân lần nhau đối với hướng dẫn viên du lịch trong khu vực theo Bộ tiêu chuẩn chung
về năng lực của nhân viên ngành du lịch
2.2.7 Chương trình hợp tác trong lĩnh vực khoáng sản và năng lượng
Nội dung các chương trình này là:
Xây dựng chương trình hành động chung
Có 9 dự án hợp tác về khoáng sản với sự hợp tác của các nước là các bên đối thoại của ASEAN
Ký kết hiệp định hợp tác về năng lượng năm 1986 và được sửa đổi bổ sung năm 1995 Hiện nay nước ASEAN đang soạn thảo Kế hoạch tổng thể về phát triển và sử dụng khí đốt
2.2.8 Chương trình hợp tác trong lĩnh vực Ngân hàng
Hợp tác trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng, thuế, kiểm toán và bảo hiểm giữa các nước ASEAN đã đóng góp quan trọng hỗ trợ cho các hoạt động thương mại, đầu tư và hợp tác công nghiệp trong khu vực
Chương trình hợp tác nổi bật nhất là thỏa thuận trao đổi (Swap Arangement) giữa các ngân hàng trung ương và các cơ quan tiền tệ ASEANđược hý kết tại hội nghị thượng đỉnh lần thứ 2 (8/1997) nhằm cung cấp kịp thời các khoản tín dụng ngắn hạn cho các thành viên đang gặp khó khăn trong thanh toán quốc tế Thỏa thuân này hết hạn năm 1992 và được gia hạn thêm 5 năm, cho đến 5/8/1997
Sau cuộc khủng hoảng tiền tệ của các nước trong khu vực 1997 – 1999, đặc biệt sau cuộc khủng hoảng kinh tế tài chính thế giới 2008 – 2009 ASEAN có dự kiến xây dựng đồng tiền chung để giảm bớt sự lệ thuộc vào đồng đô la Mỹ đang chi phối hoạt động thương mại quốc tế của các nước thành viên
Để xây dựng cộng đồng kinh tế ASEANs vào năm 2015 tại Hội nghị Bộ trưởng tài chính 16 diễn ra tại Nha Trang Việt Nam vào ngày 8/4/2010 (AFMM16) đặt ra mục tiêu: Trong khu vực ASEANs đồng vốn tự do luân chuyển; để chủ đầu tư có thể thực hiện mở cửa thị trường chứng ở mỗi nước Tuy nhiên, tiến trình mở cửa phải phù hợp với điều kiện kinh
tế ở mỗi nước
Trang 22Lộ trình hội nhập Tài chính – tiền tệ khu vực ASEAN (RIA-Fin) được thông qua năm
2003 nhằm phát triển thị trường tài chính – tiền tề theo chiều sâu và thúc đẩy hợp tác qua biên giới giữa các thị trường Sau khi kế hoạch Tổng thể Cộng Đồng kinh tế ASEAN (AEC Blueprint) được thông qua tại Hội nghị thượng đỉnh ASEAN vào tháng 11/2007 với mục tiêu đẩy nhanh tiến độ hội nhập trong khu vực vào năm 2015 thay vì 2020, các nhóm công tác được thành lập (4 nhóm) với mục tiêu đẩy nhanh tiến độ thực hiện nội dung hợp tác và hài hòa các mục tiêu của RIA-Fin theo Kế hoạch Tổng thể
Nhiệm vụ của nhóm công tác về phát triển thị trường vốn là theo dõi, đôn đốc các hoạt động trong hợp tác phát triển thị trường vố khu vực ASEAN Nhóm công tác đã xác định một trong các hành động ưu tiên trong năm 2010-2011 là thúc đẩy hội nhập thị trường trái phiếu thông qua bộ “Các chỉ số thị trường vốn ASEAN” Bộ chỉ số (do Singapore xây dựng)
sẽ được sử dụng như một “Biểu đánh giá” để cập nhật tình hình phát triển thị trường vốn tại các nước ASEAN bắt đầu từ năm 2015
Tóm lại, sự hợp tác giữa các nước ASEAN mang tính toàn diện, nhiều mặt và các nước có những bước tiến rất xa trong việc xây dựng mậu dịch Trong lĩnh vực: giao thông vận tải Thông tin liên lạc, sở hữu trí tuệ
2.3 Chương trình cắt giảm thuế quan có hiệu lực chung (CEPT)
2.3.1 Nội dung của chương trình CEPT
Thực chất của chương trình CEPT là các nước thành viên ASEAN đạt được thỏa thuận giàm thuế quan chung xuống còn ở mức 0%-5% trong thương mại nội bộ các nước
Trang 23ASEAN trong vòng 10 năm, bắt đầu từ ngày 1/1/1993 và hoàn thành vào ngày 1/1/2003 Các sản phẩm thực hiện giảm thuế nhập khẩu do các nước hội viên ASEAN tự đề nghị căn
cứ vào điều kiện hoàn cảnh kinh tế mỗi nước Chương trình CEPT thực hiện theo 4 danh mục
Để thực hiện CEPT, mỗi nước đều phải phân loại hàng hóa theo 4 danh mục sau:
Danh mục giảm thuế nhập khẩu (IL- Instruction list)
Danh mục loại trừ tạm thời (TEL-Temporary Exclusion list)
Danh mục loại trừ hoàn toàn ( GEL-general exclusion list)
Danh mục hàng nhạy cảm (SL-Sensitive list)
Danh mục giảm thuế NK-IL:
Danh mục này do các nước thành viên ASEAN tùy vào điều kiện kinh tế của mình tự nguyện đề nghị nằm trong 2 cấp độ cắt giảm: Một là các sản phẩm cắt giảm thuế nằm trong chương trình cắt giảm cấp tốc ( Fast track), hai là chương trình bình thường ( Normal track)
Danh mục các sản phẩm tạm thời chưa giảm thuế TEL:
Nhận thấy rằng các quốc gia thành viên ASEAN còn gặp nhiều khó khăn trong việchoạch định chính sách tự do hóa thương mại, để tạo thuận lợi cho các thành viên có 1 thời gian ổn định trong 1 số lĩnh vực cụ thể nhằm tiếp tục các chương trình đầu tư đã được
CEPT
Danh mục sản phẩm giảm thuế nhập khẩu (IL)
Chương trình cắt
giảm nhanh giảm thông thường CHương trình cắt
Danh mục sản phẩm tạm thời chưa giảm thuế ( TEL)
Danh mục sản phẩm loại trừ hoàn toàn (GEL)
Danh mục nông sản chưa chế biến (SL)
Trang 24đưa ra trước khi tham gia kế hoạch CEPT hoặc có thời gian chuyển hướng đối với 1 số sản phẩm trọng yếu… Hiệp định CEPT cho các nước thành viên ASEAN được đưa ra 1 số sản phẩm tạm thời chưa thực hiện kế hoạch giảm thuế theo kế hoạch CEPT Các sản phẩm trong doanh mục loại trừ tạm thời sẽ không được hưởng nhượng bộ từ các thành viên Tuy nhiên danh mục này chỉ có tính tạm thời và sau 1 khoảng thời gian nhất định các quốc gia phải đưa
ra toàn bộ các sản phẩm này vào danh mục giảm thuế
Danh mục sản phẩm loại trừ hoàn toàn – GEL:
Danh mục này bao gồm các sản phẩm không tham gia hiệp định CEPT Các sản phẩm trong danh mục này phải là các sản phẩm ảnh hưởng đến an ninh quốc gia, đạo đức xã hội; cuộc sống, sức khỏe con người, động thực vật, đến việc bảo tồn các giá trị văn hóa nghệ thuật, di tích lịch sử khảo cổ Việc cắt giảm thuế cũng như xóa bỏ các biện pháp phi thuế đối với các mặt hàng sẽ không được xem xét đến các chương trình CEPT
Danh mục các sản phẩm nông sản chưa chế biến nhạy cảm (SL):
Theo hiệp định CEPT 1992, các sản phẩm nông sản chưa được chế biến không được đưa vào thực hiện kế hoạch CEPT Tuy nhiên, theo hiệp định CEPT sửa đổi, các sản phẩm nông sản chưa chế biến này sẽ tùy vào điều kiện kinh tế từng quốc gia được đưa 3 loại danh mục khác nhau là: Danh mục giảm thuế; Danh mục loại trừ tạm thời và danh mục các sản phẩm chưa chế biến nhạy cảm Nông sản chưa chế biến được đưa vào CEPT bao gồm các sản phẩm: Thịt, cá, sữa, súc sản, cà phê, chè, ngũ cốc, hạt có dầu, dầu mỡ động vật, thịt chín, đường, coca, đồ uống, thuốc lá…
Từ 1/1/2010, Brunei, Indonesia, Malaysia, Philippines, Singapore và Thái Lan sẽ hoàn thành nhiệm vụ xóa bỏ thuế quan đối với hầu hết các nước tham gia khu vực mậu dịch
tự do ASEAN Theo đó, các nước ASEAN 6 đã hoàn thành việc xóa bỏ thuế quan đối với 7.881 dòng thuế cuối cùng chương trình ưu đãi thuế quan có hiệu lực chung (CEPT), nhằm thực hiện khu vực thương mại tự do ASEAN (CEPT-AFTA) Việc giảm thuế NK sẽ nâng tổng số dòng thuế đạt thuế suất được cắt giảm lên 54.457 dòng, đạt 99,11% trong tổng số dòng thuế của các nước ASEAN 6 Việc hoàn thành mục tiêu tự do hóa thuế quan của các nước ASEAN 6 làm giảm mức thuế quan trung bình của nước này từ 0,79% năm 2009 xuống còn 0,05% ở năm 2010 Tính đến ngày 31/12/2009, ASEAN 6 còn 487 dòng thuế
Trang 25quan tương ứng với 0,89% trong tổng số dòng thuế của các nước ASEAN 6 vẫn được duy trì trong các danh mục SL, HSL và GEL ASEAN 4 bao gồn Việt Nam, Lào, Campuchia, Mianma sẽ thực hiện xong CEPT vào năm 2015
2.3.2 Điều kiện để được hưởng thuế nhập khẩu ưu đãi theo chương trình CEPT
Một số sản phẩm khi xuất khẩu sang các nước thuộc nội bộ ASEAN muốn được hưởng chế độ thuế quan ưu đãi theo chương trình CEPT thì phải đồng thời thỏa mãn 4 điều kiện sau đây:
Sản phẩm đó phải nằm trong danh mục cắt giảm của cả nước nhập khẩu và nước xuất khẩu, phải có mức thuế quan (Nhập khẩu) bằng hoặc thấp hơn 20%
Sản phẩm đó phải có chương trình giảm thuế được hội đống AFTA thông qua
Sản phẩm đó phải là 1 sản phẩm của khối ASEAN, tức phải thỏa mãn yêu cầu hàm lương xuất xứ từ các nước thành viên ASEAN (Hàm lương nội địa) ít nhất là 40% Công thức 40% hàm lượng ASEAN như sau:
Giá trị nguyên vật liệu, bộ
x 100% < 60% Giá FOB
Giá trị nguyên vật liệu, bộ phận, các sản phẩm là đầu vào nhập khẩu từ các nước không phải là thành viên ASEAN là giá CIF tại thời điểm nhập khẩu Giá trị nguyên vật liệu, bộ phận, các sản phẩm là đầu vào không xác định được xuất xứ là giá các xác định ban đầu trước khi đưa vào chế biến trên lãnh thổ của nước xuất khẩu là thành viên ASEAN
Để xác định sản phẩm có đủ điều kiện được hưởng ưu đãi thuế quan theo chương trình CEPT hay không, mỗi nước thành viên hàng năm xuất bản tài liệu trao đổi ưu đãi CEPT (CCEM) của nước mình, trong đó thể hiện các sản phẩm có mức thuế quan theo CEPT và các sản phẩm đủ điều kiện hưởng ưu đãi thuế quan của các nước thành viên
Hàng nhập khẩu phải được vận chuyển thẳng tới nước xuất khẩu
Trang 26Hàng hóa được coi là vận chuyển thẳng hay còn gọi là “giao thẳng” tứ nước xuất khẩu sang nước nhập khẩu trong ASEAN khi đáp ứng 1 trong 3 trường sau đây:
Hàng hóa được vận tải thẳng từ nước xuất khẩu sang nước nhập khẩu không đi qua 1 lãnh thổ của 1 nước thứ 3
Ví dụ: Hàng vận chuyển từ cảng Malaysia đến cảng Đà Nẵng, Việt Nam
Hàng hóa quá cảnh qua các nướng thành viên ASEAN
Ví dụ: Hàng Thái Lan bằng đường thủy hoặc đường bộ qua Campuchia nhập khẩu vào Việt Nam
Hàng hóa quá cảnh qua các nước láng giềng của ASEAN do yêu cầu của vận tải hoặc bảo quản hàng hóa thuận lợi
Ví dụ: Hàng hóa vận chuyển từ Indonesia sang Hong Kong tới cảng Thành phố Hồ Chí Minh
2.3.3 Lộ trình thược hiện chương trình cắt giảm thuế quan có hiệu lực chung
(CEPT) của các nước ASEAN
Các nước ASEAN đang đi đúng lộ trình cam kết cắt giảm thuế CEPT của ASEAN trong đó có Việt Nam
2.4 Các cam kết của Việt Nam trong Khu vực Mậu dịch tự do ASEAN (AFTA)
Trở thành thành viên của ASEAN từ năm 1995, bắt đầu thực hiện Hiệp định ưu đãi thuế quan có hiệu lực chung (CEPT) nhằm thiết lập AFTA từ năm 1996 nhưng Việt Nam chỉ thực sự cắt giảm thuế quan từ năm 1999 khi nhóm các mặt hàng đầu tiên từ Danh mục loại trừ tạm thời (TEL) được chuyển vào cắt giảm thuế quan theo CEPT Theo quy định của Hiệp định CEPT, các mặt hàng của Việt Nam được chia thành 2 nhóm chính:
Nhóm các mặt hàng cắt giảm và xoá bỏ thuế quan:
Chiếm hầu hết các mặt hàng, có lộ trình giảm thuế từ năm 1996, giảm thuế suất xuống mức 0% - 5% vào năm 2006 và xoá bỏ thuế quan vào năm 2015, với một số mặt hàng được linh hoạt đến 2018 Ngoài ra, các mặt hàng công nghệ thông tin (Phù hợp với diện mặt hàng của WTO) sẽ được xoá bỏ thuế quan trong 3 năm: 2008-2010 Đồng thời các mặt hàng thuộc lĩnh vực ưu tiên hội nhập (12 lĩnh vực) sẽ được xoá bỏ sớm hơn là vào năm 2012
Trang 27(thay vì 2015), trong đó có 9 lĩnh vực hàng hoá gồm: Gỗ và sản phẩm gỗ, ôtô, cao su, dệt may, sản phẩm nông nghiệp, thuỷ sản, điện tử, công nghệ thông tin, y tế (Thiết bị, thuốc men)
Nhóm hàng nông sản nhạy cảm:
Gồm 89 dòng thuế là các mặt hàng nông sản chưa chế biến, gồm một số loại gạo, hoa quả, thực phẩm, đường Những mặt hàng này không phải xoá bỏ thuế quan, có lộ trình giảm thuế từ năm 2004 xuống mức thuế suất cao nhất là 5% vào năm 2013 (Trừ mặt hàng đường
là 2010)
Để bảo vệ sức khỏe con người, môi trường, giá trị văn hóa, đạo đức hay an ninh, quốc phòng, các nước được phép loại trừ (Không phải cắt giảm thuế) những mặt hàng vì mục đích này Trên cơ sở đó, mỗi nước đã tự xây dựng một Danh mục các mặt hàng để loại trừ khỏi phạm vi thực hiện CEPT (GEL) và đã đưa vào đó những mặt hàng mang tính bảo
hộ Chính vì vậy, trong vài năm gần đây, các nước đã ráo riết rà soát danh mục GEL để đưa vào cắt giảm thuế những mặt hàng không phù hợp Từ năm 2005 đến nay, Việt Nam đã đưa nhiều mặt hàng GEL vào thực hiện CEPT, trong đó quan trọng nhất là các thiết bị truyền phát (Rađa, điện thoại di động…), đồ uống có cồn (Rượu, bia) và ô tô, xe máy Danh mục GEL hiện nay của Việt Nam vẫn còn các mặt hàng mà các nước ASEAN cho là không phù hợp, gồm: Thuốc lá (Thuốc lá điếu và nguyên liệu), xăng dầu
Nhằm tiến tới tự do hóa hoàn toàn (Ít nhất là về mặt thuế quan), ASEAN đã quyết định không chỉ dừng lại ở việc giảm thuế xuống 0% -5% mà sẽ xóa bỏ thuế quan vào năm
2010 đối với ASEAN 6 (gồm Brunei, Indonesia, Malaysia, Philipin, Singapore và Thái Lan)
và năm 2015 với một số linh hoạt đến 2018 (7% tổng số dòng thuế) đối với CLMV Đến năm 2015, cơ bản các mặt hàng sẽ được xóa bỏ thuế quan trong khuôn khổ này
2.4.1 Khung thời gian thực hiện CEPT của Việt Nam
Theo quy định của CEPT và Nghị định thư về việc tham gia của Việt Nam vào Hiệp định CEPT, Việt Nam có nghĩa vụ thực hiện Hiệp định CEPT như sau:
Thực hiện chương trình CEPT từ 01/01/1996 và hoàn thành vào 01/01/2006
Trang 28 Trước khi bắt đầu thực hiện CEPT, Việt Nam phải công bố danh mục thực hiện CEPT, bao gồm danh mục Loại trừ hoàn toàn (GEL), danh mục loại trừ tạm thời (TEL) và danh mục cắt giảm thuế ngay (IL) Ngoài ra, từ năm 1995 phải công bố danh mục Nông sản chưa chế biến nhạy cảm và nhạy cảm cao (SL)
Để đảm bảo hiệu lực thi hành, các nước thành viên ASEAN phải ban hành văn bản pháp lý công bố lịch cắt giảm thuế thực hiện hiệp định CEPT cho toàn bộ giai đoạn 10 năm (đối với Việt Nam là 01/01/1996 đến 01/01/2006)
Lịch trình cắt giảm thuế được quy định cụ thể như sau:
Đến cuối giai đoạn (01/01/2006), thuế suất đối với toàn bộ các mặt hàng trong danh mục IL và TEL phải được cắt giảm xuống 0% -5%
Đối với danh mục IL: Đến 01/01/2006 các mặt hàng có thế suất trên 20% phải được giảm xuống bằng 20% mức chênh lệch giữa thuế suất gốc và mức 20% Trong các năm tiếp theo tiếp tục cắt giảm cho đến khi đạt 0% -5% vào 01/01/2006 Các mặt hàng có thuế suất dưới 20% sẽ phải đặt thuế suất bằng 0% -5% vào 01/01/2003
Đối với danh mục TEL: Trong vòng 5 năm, bắt đầu từ ngày 01/01/1999 và kết thúc vào 01/01/2003, mặt hàng thuộc TEL phải được đưa vào danh mục cắt giảm thuế, mỗi năm chuyển 20% số mặt hàng Sau khi được đưa vào danh mục IL, việc cắt giảm phải được thực hiện ít nhất 2-3 năm một lần và mỗi lần giảm không ít hơn 5% Từ 01/01/2001, các mặt hàng có thuế suất trên 20% phải được giảm ngay xuống 20% khi đưa vào cắt giảm Mỗi năm phải ban hành văn bản pháp lý thể hiện việc chuyển các mặt hàng vả cắt giảm thuế đó
Các mặt hàng thuộc Danh mục SEL bắt đầu giảm thuế từ 01/01/2004 và kết thúc vào 01/01/2003 với thuế suất cuối cùng bằng 0% -5%
2.4.2 Nguyên tắc xây dựng chương trình CEPT của Việt Nam
Không gây ảnh hưởng lớn đến nguồn thu ngân sách
Bảo hộ hợp lý cho nền sản xuất trong nước
Trang 29 Tạo điều kiện khuyến khích việc chuyển giao kỹ thuật, đổi mới công nghệ cho nền sản xuất trong nước
Hợp tác các nước ASEAN trên cơ sở các quy định của Hiệp định CEPT để tranh thủ
ưu đãi, mở rộng thị trường cho xuất khẩu và thu hút đầu tư nước ngoài
Hiện nay, Việt Nam thực hiện xong các cam kết của AFTA và đang tích cực cùng với các thành viên khác ASEAN xây dựng một cộng đồng bắt đầu năm 2015
Trang 30trọng Tầm nhìn ASEAN 2020, với mục tiêu tổng quát là đưa Hiệp hội trở thành “một nhóm hài
hoà các dân tộc Đông Nam Á, gắn bó trong một cộng đồng các xã hội đùm bọc lẫn nhau” Để
triển khai Tầm nhìn 2020, Hội nghị Cấp cao ASEAN 6 (Hà Nội, tháng 12/1998) đã thông qua
Chương trình Hành động Hà Nội (HPA) cho giai đoạn 1999-2004, trong đó đề ra các biện pháp/hoạt động cụ thể để thúc đẩy hợp tác ASEAN trên các lĩnh vực chính trị-an ninh, kinh tế, văn hóa-xã hội và quan hệ đối ngoại Do chịu tác động nặng nề của cuộc khủng hoảng tài chính khu vực năm 1997-1998, nên hợp tác ASEAN nói chung và việc thực hiện các dự án trong khuôn khổ HPA nói riêng giai đoạn này chủ yếu tập trung vào khôi phục và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế trong khu vực cũng như khắc phục những hậu quả về mặt xã hội của cuộc khủng hoảng đối với các nước thành viên
Tháng 10/2003, Lãnh đạo các nước ASEAN đã ký Tuyên bố Hòa hợp ASEAN II
(hay còn gọi là Tuyên bố Ba-li II), nhất trí đề ra mục tiêu hình thành Cộng đồng ASEAN vào năm 2020 với ba trụ cột chính: Cộng đồng An ninh (ASC), Cộng đồng Kinh tế (AEC) và Cộng đồng Văn hóa-Xã hội (ASCC); đồng thời khẳng định ASEAN sẽ tiếp tục đẩy mạnh và mở rộng quan hệ với các đối tác bên ngoài, vì mục tiêu chung là hòa bình, ổn định và hợp tác cùng có lợi
ở khu vực Để triển khai và kế tục Chương trình Hành động Hà Nội (HPA), ASEAN đã đề ra Chương trình Hành động Viên Chăn (VAP) cho giai đoạn 2004-2010 và các Kế hoạch hành động (KHHĐ) để xây dựng ba trụ cột Cộng đồng về chính trị-an ninh, kinh tế và văn hóa-xã hội, trong đó có hợp phần quan trọng là thực hiện Sáng kiến Liên kết ASEAN (IAI) nhằm giúp thu hẹp khoảng cách phát triển trong ASEAN với kế hoạch hành động và các dự án cụ thể
Trang 31 Để kịp thích ứng với những chuyển biến nhanh chóng và phức tạp của tình hình quốc
tế và khu vực cũng như trên cơ sở những thành tựu của ASEAN trong 40 năm qua nhất là kết quả thực hiện Chương trình Hành động Viên Chăn (VAP), Lãnh đạo các nước ASEAN tháng 1/2007 đã quyết tâm đẩy nhanh tiến trình liên kết nội khối dựa trên cơ sở pháp lý là Hiến chương ASEAN, nhất trí mục tiêu hình thành Cộng đồng ASEAN vào năm 2015 (thay vì vào năm 2020 như thỏa thuận trước đây)
Theo đó, ASEAN đã khẩn trương xúc tiến xây dựng các Kế hoạch tổng thể (Blueprint) để xây dựng Cộng đồng Chính trị-An ninh (APSC), Cộng đồng Kinh tế (AEC) và Cộng đồng Văn hóa-Xã hội (ASCC), trong đó đề ra mục tiêu và thời hạn hoàn thành đối với từng biện pháp/hoạt động cụ thể
Tại Hội nghị Cấp cao ASEAN-13 (tháng 11/2007), Lãnh đạo các nước đã ký Hiến chương ASEAN nhằm tạo cơ sở pháp lý và khuôn khổ thể chế cho gia tăng liên kết khu vực, trước mắt là hỗ trợ mục tiêu hình thành Cộng đồng ASEAN vào năm 2015 Hiến chương đã chính thức có hiệu lực ngày 15/12/2008
Hội nghị Cấp cao ASEAN-14 (tháng 2/2009) đã thông qua Lộ trình xây dựng Cộng đồng ASEAN kèm theo 3 Kế hoạch tổng thể xây dựng 3 trụ cột Cộng đồng ASEAN và Kế hoạch công tác về IAI giai đoạn 2 (2008-2015), đây là một văn kiện quan trọng như một chương trình hành động tổng thể đề ra khuôn khổ và các bước triển khai cụ thể để ASEAN tiếp tục đẩy mạnh nỗ lực thực hiện mục tiêu xây dựng Cộng đồng ASEAN vào năm 2015, kế tục Chương trình Hành động Viên Chăn (VAP)
3.1.2 Nội dung chính của Cộng đồng ASEAN
Mục tiêu tổng quát của Cộng đồng ASEAN là xây dựng Hiệp hội thành một tổ chức
hợp tác liên Chính phủ liên kết sâu rộng hơn và ràng buộc hơn trên cơ sở pháp lý là Hiến chương ASEAN; nhưng không phải là một tổ chức siêu quốc gia và không khép kín mà vẫn
mở rộng hợp tác với bên ngoài
Cộng đồng ASEAN sẽ được hình thành dựa trên 3 trụ cột là Cộng đồng Chính trị-An ninh, Cộng đồng Kinh tế và Cộng đồng Văn hóa-Xã hội Quan hệ đối ngoại của ASEAN
Trang 32cũng như mục tiêu thu hẹp khoảng cách phát triển trong ASEAN (nhất là: IAI) được lồng ghép vào nội dung của từng trụ cột Cộng đồng ASEAN
Cộng đồng Chính trị - An ninh ASEAN (APSC)
Trong Tuyên bố Hòa hợp ASEAN II (Tuyên bố Bali II), thông qua tại Hội nghị Cấp cao ASEAN-9 (Bali, In-đô-nê-xi-a, tháng 9/2003), Cộng đồng An ninh ASEAN (ASC) được xác định là một trong 3 trụ cột của Cộng đồng ASEAN, nhằm “đưa hợp tác chính trị-an ninh ASEAN lên tầm cao mới, để các quốc gia trong khu vực sống hòa bình với nhau và với thế giới trong một môi trường bình đẳng, dân chủ và hòa hợp”
Khởi nguồn từ sáng kiến của In-đô-nê-xia, ASC (sau này được đổi tên thành Cộng đồng Chính trị-An ninh (APSC)) là bước phát triển cao hơn của các nỗ lực hợp tác chính trị-
an ninh của ASEAN Các hoạt động cụ thể nhằm xây dựng Cộng đồng Chính trị-An ninh ASEAN được đề ra trong các chương trình lớn của ASEAN như Chương trình Hành động Cộng đồng An ninh ASEAN (ASC POA) năm 2004; Chương trình Hành động Viên-chăn (VAP) năm 2004 và Kế hoạch tổng thể APSC 2009-2015
Kế hoạch tổng thể xây dựng Cộng đồng Chính trị-An ninh ASEAN được thông qua tại Hội nghị cấp cao ASEAN 14 năm 2009 xác định 3 thành tố chính của APSC gồm: (1) Xây dựng một cộng đồng dựa trên các giá trị và chuẩn mực chung; (2) Tạo dựng một khu vực gắn kết, hòa bình và tự cường với trách nhiệm chung đối với an ninh toàn diện; (3) Hướng tới một khu vực năng động và rộng mở với bên ngoài trong một thế giới ngày càng liên kết và tùy thuộc (An ninh toàn diện là một khái niệm được sử dụng rộng rãi ở châu Á-Thái Bình Dương, được hiểu bao gồm các mối đe dọa quân sự và phi quân sự với mỗi quốc gia)
Dưới thành tố đầu tiên của APSC, ASEAN đang đẩy mạnh hợp tác về chính trị, hình thành và chia sẻ các chuẩn mực thể hiện trong Hiệp ước Thân thiện và Hợp tác (TAC), Hiệp ước về Khu vực Đông Nam Á không có Vũ khí hạt nhân (SEANWFZ), Tuyên bố về Ứng xử của các bên trên Biển Đông (DOC), thúc đẩy hợp tác an ninh biển v.v Để cụ thể hóa thành
tố thứ 2, ASEAN tập trung hợp tác xây dựng lòng tin, thúc đẩy đối thoại, hiểu biết lẫn nhau nhằm ngăn ngừa xung đột, thúc đẩy hợp tác về quốc phòng-an ninh, nghiên cứu các biện
Trang 33pháp giải quyết xung đột một cách hòa bình và hợp tác kiến tạo hòa bình sau xung đột cũng như hợp tác trên các lĩnh vực an ninh phi truyền thống Theo thành tố thứ 3, ASEAN tích cực tăng cường vai trò trung tâm trong hợp tác khu vực và xây dựng cộng đồng, mở rộng quan hệ với các đối tác bên ngoài, nỗ lực phát huy vị trí là động lực chính trong một cấu trúc khu vực mở, minh bạch và thu nạp
Các lĩnh vực hợp tác trong trụ cột Cộng đồng Chính trị-An ninh ASEAN ngày càng được thúc đẩy và đi vào chiều sâu: hợp tác quốc phòng được đẩy mạnh qua cơ chế Hội nghị
Bộ trưởng Quốc phòng ASEAN (ADMM) và ADMM Mở rộng (ADMM+) với 8 Đối tác; hợp tác đảm bảo an ninh biển được thúc đẩy theo khuôn khổ Diễn đàn Biển ASEAN (AMF)
và Diễn đàn Biển ASEAN Mở rộng (EAMF); Ủy ban liên Chính phủ ASEAN về Nhân quyền (AICHR) được thành lập theo quy định của Hiến chương và ASEAN lần đầu tiên đã thông qua Tuyên bố về Nhân quyền (AHRD), khẳng định cam kết hợp tác thúc đẩy và bảo
vệ các quyền tự do cơ bản của người dân trong khu vực; Viện hòa bình hòa giải ASEAN (AIPR) được thành lập nhằm hỗ trợ nghiên cứu các biện pháp về hòa bình và hòa giải trong khu vực…
Nhằm củng cố và duy trì vai trò trung tâm trong cấu trúc khu vực đang định hình, ASEAN không ngừng mở rộng và làm sâu sắc hơn quan hệ hợp tác toàn diện, cùng có lợi với các Đối tác, thúc đẩy và làm phong phú các diễn đàn đối thoại và hợp tác ở khu vực do ASEAN chủ trì như ASEAN+1, ASEAN+3, Cấp cao Đông Á (EAS), Diễn đàn Khu vực ASEAN (ARF), Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng ASEAN mở rộng (ADMM+) v.v., tạo điều kiện khuyến khích các Đối tác tham gia đóng góp tích cực, xây dựng, trên cơ sở tôn trọng các mục tiêu và nguyên tắc quan hệ mà ASEAN đã đề ra, đối với các vấn đề liên quan đến hòa bình, ổn định và phát triển ở khu vực cũng như hỗ trợ ASEAN tăng cường liên kết và xây dựng Cộng đồng
Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC):
AEC là một trong 3 trụ cột quan trọng của Cộng đồng ASEAN nhằm thực hiện các mục tiêu đề ra trong Tầm nhìn ASEAN 2020, và được khẳng định lại trong Tuyên bố Hòa hợp ASEAN (Tuyên bố Bali II): tạo dựng một khu vực kinh tế ASEAN ổn định, thịnh
Trang 34vượng và cạnh tranh cao, nơi có sự di chuyển tự do của hàng hóa, dịch vụ và đầu tư, di chuyển tự do hơn của các luồng vốn, phát triển kinh tế đồng đều và giảm nghèo, thu hẹp khoảng cách chênh lệch về kinh tế-xã hội
Kế hoạch trung hạn 6 năm lần thứ hai của ASEAN (2004-2010) nhằm thực hiện Tầm nhìn 2020, Chương trình hành động Viên Chăn (VAP), đã xác định rõ hơn mục đích của AEC là tăng cường năng lực cạnh tranh thông qua hội nhập nhanh hơn, nhằm thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế của ASEAN
Kế hoạch tổng thể xây dựng Cộng đồng Kinh tế ASEAN một bộ phận của Lộ trình xây dựng Cộng đồng 2009-2015 đã xác định các biện pháp chính mà ASEAN sẽ thực hiện
để xây dựng một thị trường chung và cơ sở sản xuất thống nhất bao gồm: dỡ bỏ thuế quan
và các hàng rào phi thuế quan; thuận lợi hóa thương mại, hài hòa hóa các tiêu chuẩn sản phẩm (hợp chuẩn) và quy chế, giải quyết nhanh chóng hơn các thủ tục hải quan và xuất nhập khẩu, hoàn chỉnh các quy tắc về xuất xứ, tạo thuận lợi cho dịch vụ, đầu tư, tăng cường phát triển thị trường vốn ASEAN và tự do lưu chuyển hơn của dòng vốn, thuận lợi hóa di chuyển thể nhân v.v., song song với việc củng cố mạng lưới sản xuất khu vực thông qua đẩy mạnh kết nối về cơ sở hạ tầng, đặc biệt là trong các lĩnh vực năng lượng, giao thông vận tải, công nghệ thông tin và viễn thông, cũng như phát triển các kỹ năng thích hợp
Các biện pháp nói trên đều đã và đang được các nước thành viên ASEAN triển khai
cụ thể thông qua các thỏa thuận và hiệp định quan trọng như Hiệp định Khu vực Mậu dịch
Tự do ASEAN (AFTA) và Hiệp định Thương mại Hàng hóa ASEAN (ATIGA), Hiệp định khung ASEAN về dịch vụ (AFAS), Hiệp định khung về Khu vực Đầu tư ASEAN (AIA) và Hiệp định Đầu tư Toàn diện ASEAN (ACIA), Hiệp định khung về Hợp tác Công nghiệp ASEAN (AICO), Lộ trình Hội nhập Tài chính và Tiền tệ ASEAN, v.v … Thành tựu đáng
kể nhất trong xây dựng AEC tới nay là ASEAN đã cơ bản giảm được thuế quan cho các mặt hàng trong danh sách giảm thuế về từ 0-5% từ năm 2010 đối với 6 nước thành viên ban đầu
và vào 2015 với 4 nước thành viên mới, hình thành nên một thị trường mở không còn các rào cản thuế quan đối với hàng hóa Nói cách khác, AEC là mô hình liên kết kinh tế khu vực dựa trên nâng cao những cơ chế liên kết kinh tế hiện có của ASEAN, có bổ sung thêm hai nội dung mới là tự do di chuyển lao động và di chuyển vốn tự do hơn
Trang 35Nhằm xây dựng một khu vực cạnh tranh về kinh tế, ASEAN thúc đẩy chính sách cạnh tranh, bảo vệ người tiêu dùng, bảo vệ sở hữu trí tuệ, phát triển cơ sở hạ tầng, thương mại điện tử v.v Hướng tới mục tiêu phát triển kinh tế đồng đều, ASEAN đã thông qua và đang triển khai Khuôn khổ ASEAN về Phát triển Kinh tế Đồng đều (AFEED), trong đó đáng chú ý là hỗ trợ các nước thành viên mới, khuyến khích các doanh nghiệp nhỏ và vừa phát triển Mở rộng hội nhập vào nền kinh tế toàn cầu, ASEAN đẩy mạnh triển khai các FTA với 6 đối tác lớn là Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Ấn Độ, Ôx-trây-lia và Niu Di-lân, đồng thời tích cực đàm phán xây dựng Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực (RCEP) nhằm tạo ra một không gian kinh tế mở ở Đông Á
Cộng đồng Văn hóa-Xã hội ASEAN (ASCC)
Mục tiêu cơ bản của trụ cột thứ ba thể hiện trong Tuyên bố Hòa hợp ASEAN (Bali II) và Kế hoạch Tổng thể xây dựng Cộng đồng Văn hóa-Xã hội ASEAN (ASCC) là góp phần xây dựng một Cộng đồng ASEAN lấy con người làm trung tâm; có trách nhiệm xã hội nhằm xây dựng tình đoàn kết và thống nhất bền lâu giữa các quốc gia và dân tộc ASEAN bằng cách tiến tới một bản sắc chung; xây dựng một xã hội chia sẻ, đùm bọc, hòa thuận và rộng mở nơi mà cuộc sống, mức sống và phúc lợi của người dân được nâng cao
Tầm nhìn 2020 đã nêu ý tưởng về một cộng đồng khu vực có những nhân tố sau: nhận thức rõ về các mối quan hệ lịch sử, di sản văn hóa, gắn bó với nhau bởi bản sắc khu vực được tăng cường; gắn kết và đùm bọc nhau về mặt xã hội, trong đó nghèo đói, suy dinh dưỡng không còn là vấn đề lớn; gia đình, đơn vị cơ bản của xã hội, quan tâm chăm sóc lẫn nhau, đặc biệt là trẻ em, vị thành niên, phụ nữ và người già; những người khuyết tật được quan tâm đặc biệt; công bằng xã hội và nền pháp trị được đề cao; không ma túy; có khả năng cạnh tranh cao; một ASEAN „xanh và sạch‟, có sự tham gia của nhiều hơn của người dân, tập trung vào vấn đề phúc lợi và nhân phẩm con người
Cộng đồng Văn hóa-Xã hội ASEAN sẽ có mối quan hệ bổ trợ chặt chẽ và tạo thuận lợi cho việc hình thành Cộng đồng Chính trị-An ninh cũng như Cộng đồng Kinh tế ASEAN
Mục tiêu xây dựng Cộng đồng Văn hóa-Xã hội ASEAN được cụ thể hóa thông qua các chương trình hợp tác cụ thể như Kế hoạch hành động Cộng đồng Văn hóa-Xã hội
Trang 36ASEAN (ASCC POA) năm 2004, Chương trình Hành động Viên-chăn (VAP) năm 2004 và hiện nay là Kế hoạch tổng thể ASCC 2009-2015
Kế hoạch Tổng thể xây dựng Cộng đồng Văn hóa-Xã hội ASEAN gồm 6 thành tố chính: (i) Phát triển con người (ii) Phúc lợi và bảo hiểm xã hội (iii) Các quyền và bình đẳng
xã hội (iv) Đảm bảo môi trường bền vững (v) Tạo dựng bản sắc ASEAN (vi) Thu hẹp khoảng cách phát triển và 40 thành tố cùng với 340 biện pháp thực hiện trong giai đoạn 2009-2015 cũng như thể chế thực hiện và giám sát
Các hoạt động hợp tác trong khuôn khổ Kế hoạch tổng thể ASCC đang được thúc đẩy trên nhiều lĩnh vực và tập trung vào 6 thành tố chính kể trên Về phát triển nguồn nhân lực: ASEAN khuyến khích phát triển giáo dục suốt đời và sử dụng ICT như những phương tiện thúc đẩy nền giáo dục ASEAN và nâng cao nhận thức về ASEAN Về phúc lợi và bảo trợ xã hội: ASEAN tập trung hợp tác y tế ngăn ngừa và kiểm soát bệnh dịch truyền nhiễm, HIV và AIDS, các bệnh dịch truyền nhiễm mới nổi khác; giảm nghèo, đảm bảo an ninh lương thực, năng lượng, xây dựng ASEAN không có ma túy, dự phòng và ứng phó thiên tai thảm họa v.v Về các quyền và công bằng xã hội: ASEAN đẩy mạnh hợp tác thúc đẩy và bảo vệ quyền của các nhóm đối tượng yếu thế như phụ nữ, trẻ em, người già, người khuyết tật, người lao động di cư ; Về bảo đảm bền vững môi trường: ASEAN tăng cường hợp tác ứng phó với các thách thức môi trường xuyên biên giới như ô nhiễm khói mù, chất thải, bảo
vệ môi trường biển, đa dạng sinh học, ứng phó biến đổi khí hậu Về xây dựng bản sắc ASEAN và nâng cao ý thức cộng đồng: ASEAN chú trọng gìn giữ và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của khu vực, thúc đẩy trao đổi văn hóa, giao lưu nhân dân, đề cao nguyên tắc thống nhất trong đa dạng, tăng cường sự hiểu biết và chia sẻ giữa người dân về văn hóa, lịch sử, tôn giáo và văn minh
Đẩy mạnh kết nối và thu hẹp khoảng cách phát triển
Để hỗ trợ mục tiêu xây dựng Cộng đồng, ASEAN đã thông qua và đang tập trung triển khai Kế hoạch tổng thể về Kết nối ASEAN, nhằm tăng cường kết nối khu vực trên cả 3 nội dung là kết nối hạ tầng cứng (giao thông vận tải); hạ tầng mềm (thể chế) và con người, hướng tới mở rộng kết nối ra toàn khu vực Đông Á; đồng thời tích cực thúc đẩy các nỗ lực
Trang 37thu hẹp khoảng cách phát triển trong Hiệp hội thông qua các Chương trình công tác thực
hiện Sáng kiến Liên kết ASEAN (IAI)
3.2 So sánh giữa ASEANS và EU
3.2.1 So sánh bối cảnh ra đời, mục tiêu, nguyên tắc hội nhập
Bối cảnh ra đời: Sau thế chiến thứ hai (năm 1945), Tây Âu đổ nát, và nước gây ra
cuộc chiến này lại là quốc gia lớn nhất nằm ngay giữa châu Âu (nước Đức) Vì vậy, nguyện vọng được sống trong nền hòa bình vĩnh viễn để cùng nhau phát triển kinh tế và hóa giải mối hận thù truyền thống giữa hai quốc gia lớn nhất châu Âu nằm cận kề nhau: Đức - Pháp, xóa bỏ tận gốc rễ nguy cơ chiến tranh, là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến sự ra đời vào năm 1951 của Cộng đồng Than, Thép châu Âu (ECSC), tiền thân của Liên minh châu Âu (EU) Điều đó cũng phù hợp với khát vọng hòa bình, hợp tác chính trị và kinh tế của các nước châu Âu láng giềng khác
Thời gian ra đời của EU và Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) tuy cách nhau gần 2 thập kỷ, nhưng cả hai tổ chức này đều chịu ảnh hưởng và sự chi phối mạnh mẽ của trật tự thế giới hai cực dưới thời Chiến tranh lạnh Điểm khác biệt sâu xa dẫn đến sự ra đời của
EU chính là sự chín muồi của thời điểm biến ý tưởng và nguyện vọng thống nhất châu Âu thành
hiện thực Chính vì vậy mà trong hơn nửa thế kỷ tồn tại, EU luôn bộc lộ xu hướng phát triển chung là ngày càng thu hẹp tính chất là một tập hợp các quốc gia dân tộc có chủ quyền Có lẽ
đây là điểm khác biệt cơ bản nhất quy định mọi sự khác nhau giữa mô hình EU và ASEAN(1)
EU có dân số hơn 500 triệu người, bao gồm 27 nước thành viên, diện tích hơn 4 triệu km2, GDP khoảng 12.000 tỉ USD, bình quân đầu người khoảng 24.000 USD/năm Kể từ khi ra đời đến nay, EU đã trải qua 6 lần mở rộng Còn ASEAN có dân số khoảng 592 triệu người của 10 nước thành viên, diện tích gần 4,9 triệu km2
, GDP khoảng 1.000 tỉ USD, bình quân đầu người khoảng 2.000 USD/năm Kể từ khi ra đời, ASEAN đã trải qua 4 lần mở rộng Như vậy, xét về trình độ phát triển, hai tổ chức khu vực này rất khác nhau Dân số và diện tích ASEAN đều lớn hơn EU, nhưng quy mô nền kinh tế (GDP) của EU lớn gấp 12 lần ASEAN, GDP bình quân đầu người của EU cũng lớn gấp 12 lần ASEAN
Trang 38 Mục tiêu khi thành lập: Động cơ ra đời của EU (mà tiền thân là tổ chức Cộng đồng
Than, Thép châu Âu - ECSC) trước hết là nhằm tăng cường hợp tác, liên kết các ngành sản xuất cơ bản của 2 nước Pháp, Đức và 4 nước đồng minh khác là Italia, Bỉ, Hà Lan, Luxembourg
là than và thép vào một cơ quan điều phối chung Như thế, sự thống nhất châu Âu được thực hiện bắt đầu từ lĩnh vực kinh tế, thương mại và trong một thị trường chưa rộng Còn đối với 5 nước thành viên ban đầu của ASEAN gồm Thái Lan, Malaysia, Singapore, Indonesia, Philippines, động cơ ra đời trước hết là liên kết và hợp tác về chính trị, an ninh, chịu sự ảnh hưởng sâu sắc của Chiến tranh lạnh
Về nguyên tắc hội nhập: EU được xây dựng trên nguyên tắc liên bang, sự liên kết,
hội nhập được bắt đầu từ kinh tế, dần dần chuyển sang chính trị; xây dựng các thể chế chung vững chắc, đồng thời giữ vai trò hạt nhân, bản sắc dân tộc của các nước thành viên, trên cơ sở
luật pháp vững vàng Còn các nước ASEAN đề ra nguyên tắc hội nhập kiểu hợp bang, lỏng lẻo
về xây dựng thể chế, giữ vững vai trò độc lập của các nước thành viên, theo nguyên tắc đồng thuận, bắt đầu từ liên kết về an ninh, chính trị, sau đó dần dần chuyển sang liên kết kinh tế, văn hóa, xã hội, nhưng chưa đạt được những hiệu quả vững chắc
Các nước EU ngày càng liên kết sâu sắc hơn, còn các nước ASEAN đã tích cực điều
chỉnh theo xu hướng xây dựng một liên minh chính trị, kinh tế, văn hoá - xã hội vững chắc, sự
liên kết ngày càng có hiệu quả, sâu sắc, chặt chẽ hơn, chiếm địa vị cao và có uy tín trên trường quốc tế
và phát triển kinh tế (OECD), như CH Séc, Hungary…
Trang 39 Trái lại, các nước ASEAN, trình độ phát triển kinh tế vào thời điểm ra đời 1967), nói chung, thuộc mức thấp so với mặt bằng chung trên thế giới Cho đến nay, trình độ phát triển kinh tế giữa các thành viên cũng vẫn rất khác nhau Tại 5 nước thành viên sáng lập là Thái Lan, Malaysia, Singapore, Indonesia, Philippines, thu nhập bình quân đầu người hiện nay khoảng 2400 - 3000 USD Brunei có thu nhập rất cao nhờ xuất khẩu dầu lửa, 4 nước còn lại là Việt Nam, Myanmar, Lào, Campuchia có mức thu nhập bình quân khoảng 600 - 1000 USD/người Như vậy, khoảng cách thu nhập giữa 5 nước thành viên cũ và 4 nước thành viên mới là rất khác nhau, khoảng từ 3- 4 lần
(8-8- Về trình độ, mức độ hội nhập, liên kết của EU và ASEAN cũng rất khác nhau Các nước EU ngay từ khi ra đời (năm 1951) đã bắt đầu xây dựng các cộng đồng kinh tế (năm 1951
và năm 1957) sau đó dần dần đề ra việc xây dựng liên minh hải quan (năm 1968), thị trường thống nhất, liên minh kinh tế - tiền tệ (năm 1999), mà đỉnh cao là sự ra đời đồng tiền chung euro (năm 2002) Còn các nước ASEAN đến năm 1992 mới ký kết Hiệp định khung tăng cường hợp tác kinh tế và quyết định hình thành Khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA), một hình thức liên kết thấp hơn thị trường chung, nếu xét ở mức độ mở cửa của nền kinh tế thị trường Đến tháng 12-2005, tại Hội nghị Thượng đỉnh các nước Đông Nam Á ở Malaysia, các nước đã thảo luận về đề án đồng tiền chung châu Á, với tên gọi ACU (Asian Currency Unit) Từ năm 2006, Ngân hàng Phát triển châu Á bắt đầu chuẩn bị đưa ra đồng tiền chung châu Á, để 20-30 năm sau (đến năm 2026 hoặc 2036) đồng ACU trở thành đồng tiền chung châu Á
Sự khác nhau giữa EU và ASEAN thể hiện không chỉ ở trình độ phát triển và hội nhập kinh tế, mà còn ở ý tưởng chiến lược liên kết châu Âu được thực hiện có bài bản, theo định hướng rõ ràng, được điều chỉnh theo sự biến động của hoàn cảnh Sau khi có kết quả khả quan của liên kết kinh tế, các nước EU mới thúc đẩy liên kết chính trị 15 năm sau khi đã hoàn thành việc xác lập thị trường chung, các nước EU mới ký Đạo luật châu Âu thống nhất với các thỏa thuận cải thiện hợp tác trong lĩnh vực đối ngoại, an ninh, các quy chế pháp lý trong hợp tác chính trị… Khi Hiệp ước Maastricht được ký kết vào tháng 12-1991, EU mới có một văn kiện chính thức về liên minh chính trị EU luôn bị phàn nàn là khi đàm phán về thương mại, người ta thấy rõ tư cách siêu quốc gia của tổ chức này, còn khi bàn đến các lợi ích chính trị - an ninh thì lại phải thảo luận với từng nước thành viên riêng rẽ Đây là điểm khác so với ASEAN
Trang 40 Một sự khác biệt có thể thấy rất rõ nữa là mức độ liên kết nội khối của ASEAN thấp hơn rất nhiều so với sự liên kết nội khối của EU Tuy ASEAN đã có AFTA, có sự liên kết kinh
tế theo hướng ngày càng chặt chẽ hơn, nhưng quan hệ nội khối vẫn còn hạn chế Trong nhiều năm nay, buôn bán nội khối của ASEAN vẫn chỉ dừng lại ở mức trên 20%, các nước thành viên của ASEAN chủ yếu buôn bán với bên ngoài, không phải buôn bán nội khối, thu hút đầu tư cũng từ bên ngoài Trái lại, ở các nước EU, buôn bán nội khối là chủ yếu, lên đến 50%, ở một số nước thành viên, con số này lên đến 80%
Giữa EU và ASEAN cũng có sự khác biệt trong chính sách đối ngoại, mặc dù cả 2 khối đều hướng ngoại, nghĩa là đều hướng mạnh ra hợp tác với bên ngoài, với các đối tác, các thể chế toàn cầu và đều phấn đấu cho một thế giới đa cực Các nước EU, đặc biệt từ sau khi Hiệp ước Maastricht có hiệu lực (năm 1993), đã thực hiện chính sách đối ngoại và an ninh chung Việc tuân thủ chính sách đối ngoại và an ninh chung của các nước thành viên EU được xem xét, đánh giá bằng luật pháp nghiêm ngặt Đặc biệt, sau khi Hiệp ước Lisbon có hiệu lực (tháng 12-2009), EU đã có chức danh “đại diện cấp cao về chính sách đối ngoại và an ninh”, thường gọi là Cao ủy Đối ngoại, hay Bộ trưởng Ngoại giao” của EU, kiêm phó chủ tịch Ủy ban châu Âu Từ đây, EU có tiếng nói thống nhất với thế giới về chính sách đối ngoại của cả Liên minh Trong khi đó, về chính sách đối ngoại, 10 nước ASEAN có nhiều điểm tương đồng, nhất
là các chính sách về hòa bình, ổn định, hợp tác, phát triển quan hệ với bên ngoài, nhưng từng quốc gia lại có những khác biệt, có những định hướng khác nhau Do cơ sở pháp lý không chặt chẽ, chỉ dựa trên nguyên tắc đồng thuận, nên mức độ hội nhập ở các vấn đề, kể cả vấn đề đối ngoại của ASEAN cũng lỏng lẻo hơn với EU
3.2.3 Bài học kinh nghiệm cho ASEAN qua sự hội nhập của EU
Thứ nhất, do EU là mô hình liên kết, hội nhập mang hai dạng thức vừa liên bang (liên kết xây dựng nhà nước siêu quốc gia) vừa hợp bang (liên kết giữa các quốc gia có chủ quyền), trong đó chất liên bang nhiều hơn, còn ASEAN thì ngược lại Vì vậy, tham khảo
mô hình liên kết của EU, các nước ASEAN cần nhất thiết không học tập máy móc, mà phải tính đến những nét đặc thù của mình Cần nghiên cứu bổ sung những kết quả mà EU đã đạt được, đặc biệt là kinh nghiệm xây dựng ngôi nhà chung EU về hiến pháp (hiến pháp chung