1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Những cơ hội và thách thức đối với doanh nghiệp Việt Nam khi thực hiện FTA Việt Nam-Liên minh hải quan Nga-Belarus-Kazakhstan

58 920 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 58
Dung lượng 913,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1.Tính tất yếu của đề tài Hiệp định thương mại tự do (FTA) có thể nói là xu thế tất yếu của tiến trình phát triển kinh tế thế giới. Hiệp định này mang lại lợi ích đa phương cho tất cả các quốc gia cùng ký kết hiệp định. Với Việt Nam, việc đã và sẽ ký Hiệp định thương mại tự do là những nỗ lực tích cực để hội nhập kinh tế thế giới. Việc ký kết các Hiệp định thương mại tự do (FTA) đã giúp tăng kim ngạch thương mại giữa các quốc gia, đa dạng hóa thị trường sản phẩm trong nước, tận dụng được lợi thế cạnh tranh của mỗi nước. Khu vực dịch vụ cũng được mở rộng đáng kể nhờ FTA và có thể góp phần làm tăng hiệu suất cho toàn bộ nền kinh tế; thúc đẩy đầu tư và cải tiến công nghệ, nhờ đó dịch chuyển năng suất và tăng đầu ra. FTA với Liên minh Hải quan mở ra cho Việt Nam cơ hội đẩy mạnh xuất khẩu hàng hóa, dịch vụ và đầu tư sang thị trường đầy tiềm năng này, cũng như thu hút đầu tư trực tiếp từ các quốc gia đối tác đến Việt Nam. Danh mục hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam và các thành viên Liên minh Hải quan không mang tính cạnh tranh, mà ngược lại bổ trợ cho nhu cầu sản xuất và tiêu dùng của các bên. Việc cắt giảm/xóa bỏ thuế quan sẽ thúc đẩy các doanh nghiệp Việt Nam đa dạng hóa các mặt hàng xuất khẩu, tận dụng các lợi thế so sánh của Việt Nam như hàng may mặc, thủy sản, điện tử, đồ gỗ…giúp cải thiện cơ cấu nhập khẩu của Việt Nam trong khi không làm ảnh hưởng nhiều đến khả năng cạnh tranh ngành của Việt Nam. Đứng trước hình hình hiện nay, khi Việt Nam thực hiện FTA với liên minh hải quan, các doanh nghiệp trong nước sẽ tận dụng được nhiều cơ hội tốt, song cũng phải đối mặt với những thách thức tất yếu nảy sinh trong quá trình hội nhập. Đây là những vấn đề cần phải nghiên cứu có hệ thống để đưa ra những giải pháp kịp thời, phù hợp.. Trên cơ sở đó, đề xuất những giải pháp chiến lược nhằm đẩy mạnh phát triển quan hệ thương mại quan hệ kinh tế với các nước trong liên minh hải quan. Chính vì thế, việc quyết định chọn nghiên cứu và phân tích đề tài này là hết sức cần thiết và hợp lí.

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN VIỆN THƯƠNG MẠI VÀ KINH TẾ QUỐC TẾ

BỘ MÔN: KINH TẾ QUỐC TẾ

HẢI QUAN NGA-BELARUS-KAZAKHSTAN

Thời gian thực tập : ĐỢT II NĂM 2014 - 2015

Giảng viên hướng dẫn : Th.S LÊ TUẤN ANH

Hà Nội - 2015

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tác giả đề tài có lời cam đoan danh dự về công trình nghiên cứu củamình, cụ thể:

Tôi tên là : Hàn Đức Biên

Sinh ngày: 15 tháng 02 năm 1993 – Tại : Bắc Giang

Quê quán: Bắc Giang

Hiện đang là sinh viên lớp Kinh tế quốc tế 53C, chuyên ngành Kinh tếquốc tế, Viện Thương mại và Kinh tế quốc tế, trường Đại học Kinh tế quốc dân

Mã số sinh viên : CQ530369

Cam đoan đề tài : Những cơ hội và thách thức của doanh nghiệp Việt Namkhi thực hiện FTA Việt Nam-Liên minh hải quan Nga-Belarus-kazkhstan

Giáo viên hướng dẫn : Ths Lê Tuấn Anh

Đề tài được thực hiện tại trường Đại học Kinh tế quốc dân

Đề tài này là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu và kết luậnnghiên cứu trình bày trong đề tài chưa từng được công bố ở các nghiên cứu khác.Các số liệu, nguồn trích dẫn trong đề tài được chú thích nguồn gốc rõ ràng, minhbạch

Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về lời cam đoan danh dự của mình

Hà Nội ngày 18 tháng 05 năm 2015

Tác giả

Hàn Đức Biên

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Với lòng biết ơn sâu sắc, tôi xin chân thành cảm ơn Ths Lê Tuấn Anh người đã nhiệt tình hướng dẫn, tạo điều kiện giúp đỡ tôi nghiên cứu, phân tích vàhoàn thành đề tài này Cùng với vốn tri thức giàu có và kinh nghiệm dày dạn củamình, cô đã truyền đạt cho tôi những kiến thức quí báu, làm nền tảng cho quátrỉnh thực tập sau này

-Tôi xin gửi lời cảm ơn đến các thầy cô giảng viên Viện Thương mại Kinh

tế quốc tế trường Đại học Kinh tế quốc dân đã hết lòng giảng dạy, tận tình chỉbảo cho tập thể sinh viên thực hiện nghiên cứu đạt kết quả tốt nhất

Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn các thành viên lớp Kinh tế quốc tế 53C đãcùng tôi đóng góp, trao đổi và chia sẻ những vấn đề cần thiết trong suốt quá trìnhnghiên cứu và hoàn thiện

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Trang 4

MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC BẢNG

DANH MỤC BIỂU

LỜI MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI TỰ DO VÀ NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA FTA VIỆT NAM-LIÊN MINH HẢI QUAN NGA-BELARUS-KAZKHSTAN 3

1.1 Tổng quan chung về hiệp định thương mại tự do(FTA) 3

1.1.1 Khái niệm Hiệp định thương mại tự do FTA 3

1.2 Tổng quan chung về Liên minh hải quan 4

1.2.1 Khái niệm Liên minh hải quan 4

1.2.2 Đôi nét về Liên minh hải quan Nga-Belarus-Kazkhstan 4

1.3 Khái quát về FTA Việt Nam-Liên minh hải quan Nga-Belarus-Kazkhstan 8

1.3.1 Nội dung hiệp định 8

1.3.2 Nội dung cơ bản của Hiệp định thương mại tự do FTA 8

1.3.3 Tình hình tham gia Hiệp định thương mại tự do của Việt Nam 11

1.3.4 Quá trình đàm phán 13

CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH NHỮNG CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC CỦA DOANH NGHIỆP VIỆT NAM KHI THỰC HIỆN FTA VIỆT NAM-LIÊN MINH HẢI QUAN NGA-BELARUS-KAZKHSTAN 19

2.1 Thực trạng hợp tác kinh tế Việt Nam-Liên minh hải quan 19

2.1.1 Tổng quan về tình hình hợp tác kinh tế Việt Nam – Liên minh Hải quan 19

2.1.2 Việt Nam – Liên bang Nga 20

2.1.2 Việt Nam – Belarus 26

2.1.3 Việt Nam – Kazakhstan 30

2.2 Những cơ hội cho doanh nghiệp Việt Nam khi tham gia FTA 34

Trang 5

2.3 Những thách thức đối với doanh nghiệp Việt Nam khi tham gia FTA 38

CHƯƠNG 3 : ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP CHO DOANH NGHIỆP VIỆT NAM KHI THAM GIA FTA VIỆT NAM-LIÊN MINH HẢI QUAN NGA-BELARUS-KAZKHSTAN 41

3.1 Định hướng nhằm phát triển quan hệ thương mại hoặc quan hệ kinh tế Việt Nam với các nước trong Liên minh hải quan 41

3.2 Giải pháp nhằm tận dụng những cơ hội của FTA đối với doanh nghiệp Việt Nam 42

3.2.1 Giải pháp từ phía nhà nước 42

3.2.2 Giải pháp từ phía doanh nghiệp 46

KẾT LUẬN 49

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 50

Trang 6

DANH MỤC BẢNG Bảng 2.1 Kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang các nước thuộc Liên minh hải quan giai đoạn 2007-2014 19 Bảng 2.2: Thứ hạng và tỷ trọng xuất khẩu, nhập khẩu giữa Việt Nam và Nga năm 2014 21 Bảng 2.3: Thống kê kim ngạch và tỷ trọng mặt hàng xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam sang Nga năm 2014 23 Bảng 2.4: Thống kê kim ngạch và tỷ trọng mặt hàng nhập khẩu chủ yếu của Việt Nam từ Nga năm 2014 25 Bảng 2.5 : Kim ngạch xuất khẩu, nhập khẩu, tốc độ tăng/giảm, cán cân thương mại giữa Việt Nam và Kazakhstan giai đoạn 2007-2014 32 Bảng 2.6 : Kim ngạch xuất khẩu, nhập khẩu một số nhóm hàng chính của Việt Nam với Kazakhstan năm 2012-2014 33

Trang 7

DANH MỤC BIỂU

Biểu đồ 2.1: Kim ngạch xuất khẩu, nhập khẩu và cán cân thương mại giữa Việt Nam và Nga giai đoạn 2010-2014 22 Biểu đồ 2.2: Cơ cấu mặt hàng xuất khẩu Việt Nam sang Nga năm 2014 24 Biểu đồ 2.3: Cơ cấu mặt hàng nhập khẩu Việt Nam từ Nga năm 2014 26 Biểu đồ 2.4: Kim ngạch hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu và cán cân thương mại giữa Việt Nam và Belarus giai đoạn 2009 - 2014 28 Biểu đồ 2.5: Cơ cấu hàng xuất khẩu của Việt Nam sang Belarus trong năm 2014 29 Biểu đồ 2.6: Cơ cấu hàng nhập khẩu của Việt Nam từ Belarus trong năm 2014 29 Biểu đồ 2.7: Kim ngạch xuất khẩu, nhập khẩu, tốc độ tăng/giảm, cán cân thương mại giữa Việt Nam và Kazakhstan giai đoạn 2007-2014 31 Biểu đồ 2.8 Cơ cấu hàng xuất khẩu của Việt Nam với Kazakhstan trong năm 2014 33 Biểu đồ 2.9 Cơ cấu hàng nhập khẩu của Việt Nam với Kazakhstan trong năm 2014 34 Biểu đồ 2.10 : Dự báo tổng kim ngạch thương mại song phương Việt Nam- Liên minh hải quan khi thực hiện FTA đến năm 2020 37

Trang 8

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính tất yếu của đề tài

Hiệp định thương mại tự do (FTA) có thể nói là xu thế tất yếu của tiến trìnhphát triển kinh tế thế giới Hiệp định này mang lại lợi ích đa phương cho tất cảcác quốc gia cùng ký kết hiệp định Với Việt Nam, việc đã và sẽ ký Hiệp địnhthương mại tự do là những nỗ lực tích cực để hội nhập kinh tế thế giới Việc kýkết các Hiệp định thương mại tự do (FTA) đã giúp tăng kim ngạch thương mạigiữa các quốc gia, đa dạng hóa thị trường sản phẩm trong nước, tận dụng đượclợi thế cạnh tranh của mỗi nước Khu vực dịch vụ cũng được mở rộng đáng kểnhờ FTA và có thể góp phần làm tăng hiệu suất cho toàn bộ nền kinh tế; thúc đẩyđầu tư và cải tiến công nghệ, nhờ đó dịch chuyển năng suất và tăng đầu ra

FTA với Liên minh Hải quan mở ra cho Việt Nam cơ hội đẩy mạnh xuấtkhẩu hàng hóa, dịch vụ và đầu tư sang thị trường đầy tiềm năng này, cũng nhưthu hút đầu tư trực tiếp từ các quốc gia đối tác đến Việt Nam Danh mục hànghóa xuất khẩu của Việt Nam và các thành viên Liên minh Hải quan không mangtính cạnh tranh, mà ngược lại bổ trợ cho nhu cầu sản xuất và tiêu dùng của cácbên Việc cắt giảm/xóa bỏ thuế quan sẽ thúc đẩy các doanh nghiệp Việt Nam đadạng hóa các mặt hàng xuất khẩu, tận dụng các lợi thế so sánh của Việt Nam nhưhàng may mặc, thủy sản, điện tử, đồ gỗ…giúp cải thiện cơ cấu nhập khẩu củaViệt Nam trong khi không làm ảnh hưởng nhiều đến khả năng cạnh tranh ngànhcủa Việt Nam

Đứng trước hình hình hiện nay, khi Việt Nam thực hiện FTA với liên minhhải quan, các doanh nghiệp trong nước sẽ tận dụng được nhiều cơ hội tốt, songcũng phải đối mặt với những thách thức tất yếu nảy sinh trong quá trình hội nhập.Đây là những vấn đề cần phải nghiên cứu có hệ thống để đưa ra những giải phápkịp thời, phù hợp Trên cơ sở đó, đề xuất những giải pháp chiến lược nhằm đẩymạnh phát triển quan hệ thương mại quan hệ kinh tế với các nước trong liênminh hải quan Chính vì thế, việc quyết định chọn nghiên cứu và phân tích đề tàinày là hết sức cần thiết và hợp lí

Trang 9

hải quan.

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Những cơ hội và thách thức đối với doanh nghiệp Việt Nam khi thực hiệnFTA Việt Nam-Liên minh hải quan Nga-Belarus-Kazakhstan

4 Phương pháp nghiên cứu

- Nghiên cứu tài liệu về các nghiên cứu có liên quan

- Phương pháp phân tích, thống kê, so sánh, tổng hợp

Chương 1: Cơ sở lý luận về Hiệp định thương mại tự do và nội dung cơ

bản của FTA Việt Nam-Liên minh hải quan Nga-Belarus-Kazkhstan;

Chương 2: Phân tích những cơ hội và thách thức của doanh nghiệp Việt

Nam khi thực hiện FTA Việt Nam-Liên minh hải quan Nga-Belarus-Kazkhstan;

Chương 3: Định hướng và giải pháp cho doanh nghiệp Việt Nam khi tham

gia FTA Việt Nam-Liên minh hải quan Nga-Belarus-Kazkhstan

Trang 10

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI TỰ DO

VÀ NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA FTA VIỆT NAM-LIÊN MINH HẢI QUAN

NGA-BELARUS-KAZKHSTAN 1.1 Tổng quan chung về hiệp định thương mại tự do(FTA)

1.1.1 Khái niệm Hiệp định thương mại tự do FTA

1.1.1.1 Quan niệm truyền thống (trước năm 1990):

Tại GATT 1947 trong điều XXIV –điểm 8b đã đưa ra quan niệm đầu tiên vềhiệp định thương mại tự do: “FTA là một nhóm gồm hai hoặc nhiều các lãnh thổthuế quan trong đó thuế và các quy định thương mại khác sẽ bị dỡ bỏ đối vớiphần lớn các mặt hàng có xuất xứ từ các lãnh thổ đó và được trao đổi thương mạigiữa các lãnh thổ thuế quan đó.”

Ngoài ra tại điều XXIV-khoản 5 của hiệp định này cũng đã nêu rõ: “khuvực mậu dịch tự do được hình thành thông qua một hiệp định quá độ [interimagreement]” Như vậy có thể thấy GATT 1947 mới chỉ nêu ra khái niệm về Khuvực Thương mại tự do tuy nhiên khi phân tích khái niệm này ta có thể thấy được

tư tưởng của GATT về Hiệp định Thương mại tự do Trong khái niệm này cónhững điểm chú ý:

- Thứ nhất, trong một Khu vực Thương mại tự do thì các nước thành viêncam kết giảm thuế và các quy định thương mại khác

- Thứ hai, đối tượng cắt giảm thuế và giảm các quy định thương mại khác làvới các mặt hàng có xuất xứ từ các nước thành viên trong Khu vực Thương mại

tự do

- Thứ ba, khái niệm này cho thấy GATT mới chủ yếu quan tâm đến thươngmại hàng hóa Đây cũng là điều dễ hiểu vì theo tiến trình lịch sử, quan hệ thươngmại giữa các nước thời kỳ này chủ yếu tập trung vào trao đổi mua bán hàng hóahữu hình

Qua đó có thể thấy quan niệm truyền thống về FTA mới chỉ dừng lại ởphạm vi thương mại hàng hóa hữu hình và mức độ cam kết tự do hóa mới chỉdừng ở cắt giảm thuế quan và giảm thiểu một số quy định thương mại khác

1.1.1.2 Quan niệm hiện đại (từ năm 1990 đến nay):

Trang 11

Khái niệm FTA đã được mở rộng hơn về phạm vi và sâu hơn về cam kết tự

Khái niệm FTA được sử dụng rộng rãi ngày nay không còn được hiểu trongphạm vi hạn hẹp của những thỏa thuận hội nhập khu vực và song phương có cấp

độ liên kết kinh tế “nông” của giai đoạn trước, mà đã được dùng để chỉ các thỏathuận hội nhập kinh tế “sâu” giữa hai hay một nhóm nước với nhau Ngoài ratrong một số trường hợp Hiệp định thương mại tự do có thể được gọi dưới một sốtên gọi khác nhau như EPA (Hiệp định đối tác kinh tế) nhưng về bản chất vẫnkhông thay đổi

1.2 Tổng quan chung về Liên minh hải quan

1.2.1 Khái niệm Liên minh hải quan

Lãnh thổ hải quan là một lãnh thổ được quyền duy trì biểu thuế quan vànhững quy định thương mại một cách độc lập Như vậy, mỗi nước là một lãnhthổ hải quan Nhưng cũng có những lãnh thổ hải quan không phải là một nước, ví

dụ như Hong Kong, Macau

Liên minh hải quan hay liên minh thuế quan (Custom union: CU) được hiểu

là liên minh quốc tế được thành lập nhằm tăng cường hơn nữa mức độ hợp tácgiữa các thành viên Đây là một liên minh trong đó những nội dung về các thỏathuận được đưa ra trong Khu vực mậu dịch tự do (Free Trade Area), tức là ràocản thương mại giữa các nước thành viên được xóa bỏ

1.2.2 Đôi nét về Liên minh hải quan Nga-Belarus-Kazkhstan

Trang 12

1.2.2.1 Vị thế của Liên minh hải quan trên thế giới

Hiệp ước thành lập lãnh thổ hải quan thống nhất và thành lập một liên minhhải quan giữa Nga, Belarus và Kazakhstan được ký kết vào tháng mười năm

2007 Liên minh Hải quan (LMHQ) Nga, Belarus và Kazakhstan là một khu vựcvới tổng diện tích hơn 20 triệu km2, dân số khoảng 170 triệu người; với tiềmnăng phát triển kinh tế năng động, GDP của cả ba nước gộp lại đạt khoảng 2nghìn tỷ USD và tổng giá trị thương mại đạt khoảng 900 tỷ USD; trữ lượng tàinguyên thiên nhiên phong phú, với tổng trữ lượng dầu mỏ của ba nước gộp lạivào khoảng 90 tỷ thùng dầu, chiếm khoảng 17% xuất khẩu toàn thế giới Tổnggiá trị của ba nền kinh tế Nga, Belarus và Kazakhstan trong năm 2013 đã vượtcon số 2.200 tỷ USD trong khi tổng sản lượng công nghiệp lên tới 1.500 tỷ USD

Dự đoán, tổng GDP của Nga, Belarus và Kazakhstan vào năm 2030 sẽ tăng thêmkhoảng 900 tỷ USD, nhờ các tác động tích cực từ việc hội nhập kinh tế thông quaEEU Trong ba năm qua, kim ngạch thương mại của Liên minh Hải quan Nga -Belarus - Kazakhstan đã tăng 50% (tương đương 23 tỷ USD) lên 66,2 tỷ USDtrong năm 2013 Giá trị trao đổi thương mại của Nga với Belarus và Kazakhstanđứng thứ 3 trong tổng cán cân thương mại của Nga, chỉ sau Liên minh châu Âu(EU) và Trung Quốc

Với vị thế nền kinh tế lớn thứ 6 thế giới hiện nay, Nga sẽ giữ vai trò "hạtnhân" của LMHQ Năm 2013, thâm hụt ngân sách và nợ chính phủ của Nga chỉ ởcác mức tương đương 1,3% GDP và 13% GDP, thấp hơn nhiều so với các mức3,3% GDP và 87% của EU Theo số liệu của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), tàikhoản vãng lai của Nga dự kiến thặng dư ở mức tương đương 2,1% GDP năm

2014 Tỷ lệ thất nghiệp của Nga hiện ở mức 5,4%

Trong khi đó, Kazakhstan là một quốc gia có mức thu nhập trung bình trênvới GDP bình quân đầu người đạt gần 13.000 USD năm 2013 Với nhu cầu trongnước mạnh mẽ, sản lượng dầu mỏ tăng và sản lượng nông nghiệp hồi phục, kinh

tế của Kazakhstan tăng trưởng 6% năm 2013, so với mức 5% năm 2012 Tỷ lệdân số sống dưới mức nghèo của Kazakhstan đã giảm từ 41% năm 2001 xuốngcòn 4% năm 2009 (tính theo chuẩn nghèo của quốc tế) Điều đáng lưu ý là mụctiêu phát triển và gia nhập nhóm 30 nền kinh tế phát triển hàng đầu thế giới vào

Trang 13

năm 2050 của Kazakhstan sẽ phụ thuộc vào khả năng chuyển đổi từ mô hình tăngtrưởng phụ thuộc vào tài nguyên thiên nhiên sang mô hinh tăng trưởng cân bằnghơn và thực hiện tiến trình hiện đại hóa xã hội để đạt được sự tăng trưởng toàndiện và cải thiện nhanh hơn các thành tựu xã hội

Thành viên còn lại của EEU là Belarus cũng có những thành tựu kinh tế rấtđáng chú ý Thâm hụt thương mại của Belarus đã cải thiện từ mức 13,5% GDPnăm 2010 xuống còn 3% GDP năm 2011, và chuyển sang trạng thái thặng dư4,6% GDP năm 2012 Còn tài khoản vãng lai của Belarus cũng giảm từ mứcthâm hụt 9,4% GDP năm 2011 xuống còn không đầy 3% GDP năm 2012 Kinh

tế Belarus dự kiến tăng trưởng 3,3% năm 2014 với động lực chủ chốt là thươngmại bán lẻ dự kiến tăng tới 18,2%

Ngày 29/5/2014, các nhà lãnh đạo Nga, Belarus và Kazakhstan đã ký thỏathuận thành lập Liên minh kinh tế Á - Âu (EEU) và sẽ chính thức đi vào hoạtđộng từ ngày 1/1/2015, sau khi Quốc hội ba nước tham gia thông qua.Tổngthống Putin cho hay đây là một thỏa thuận có ý nghĩa đặc biệt và quan trọng.Trong khi đó, theo Tổng thống Kazakhstan Nursultan Nazarbayev, liên minh mớinày sẽ là “một cầu nối giữa Phương Đông và Phương Tây” EEU bảo đảm sự hợptác kinh tế chặt chẽ hơn và tạo ra một trung tâm kinh tế mạnh mẽ và hấp dẫn, mộtthị trường lớn trong khu vực với tổng dân số hơn 170 triệu người Các nước EEU

sở hữu trữ lượng tài nguyên thiên nhiên khổng lồ, trong đó chiếm gần 20% trữlượng khí đốt và gần 15% trữ lượng dầu mỏ của thế giới Theo các chuyên giakinh tế, Nga, Belarus và Kazakhstan có ngành công nghiệp phát triển, tiềm năngmạnh mẽ vể nhân lực và văn hóa Vị trí địa lý chiến lược cho phép Nga, Belarus

và Kazakhstan thành lập những tuyến đường vận chuyển hậu cần thuận lợi,không chỉ mang ý nghĩa khu vực mà cả trên toàn cầu, kết nối về mình nhữngdòng chảy thương mại lớn của châu Âu và châu Á Các thành viên EEU sẽ thựchiện chính sách phối hợp trong các lĩnh vực quan trọng của nền kinh tế là ngànhnăng lượng, công nghiệp, nông nghiệp và giao thông vận tải Công dân của cácnước thuộc EEU sẽ có thể làm việc tại bất kỳ quốc gia nào trong phạm vi liênminh này mà không phải qua những thủ tục quan liêu phức tạp không cần thiết.Nga, Belarus và Kazakhstan nhất trí giảm thiểu thuế quan đối với hàng hóa của

Trang 14

nhau và các doanh nghiệp sẽ được tiếp cận với thị trường dịch vụ chung Tại thờiđiểm khi nền kinh tế toàn cầu đang trong tình trạng khủng hoảng kéo dài, hoạtđộng chung trong khuôn khổ một tổ chức lớn của khu vực sẽ mang lại hiệu quảcao nhất Với việc tăng cường hội nhập kinh tế trong không gian giữa EU và khuvực châu Á đang phát triển nhanh chóng, các nước thành viên EEU đã thành lậpmột khối kinh tế mới, có khả năng đem lại một mô hình hợp tác bình đẳng hơn

và đa trung tâm cho nền kinh tế thế giới EEU sẽ là khu vực tự do thương mạigiữa châu Âu và châu Á, và sẽ là một cấu trúc mở và bất kỳ quốc gia nào, khôngchỉ những nuớc thuộc CIS hay Liên minh Hải quan, đều có thể tham gia Hiệntại, hai quốc gia Trung Á là Armenia và Kyrgyzstan (với giá trị nền kinh tế tươngứng 20 tỷ USD và 13 tỷ USD) dự kiến sẽ tham gia EEU vào cuối năm nay cònmột ứng viên tiềm năng khác là Thổ Nhĩ Kỳ Trong khi Trung Quốc dự định tăngcường hợp tác với các nước EEU trong việc trao đổi thông tin hải quan đối vớihàng hóa và dịch vụ, Ấn Độ và Israel cũng đề xuất thiết lập chế độ thương mại

ưu đãi với EEU.Như vậy, sự quan tâm nói trên của một số nền kinh tế, trong đó

có cả các nước mới nổi lớn như Trung Quốc và Ấn Độ, là minh chứng rõ ràngcho thấy triển vọng trở thành một thế lực kinh tế mới trên trường quốc tế củaEEU hoàn toàn không phải là "hữu danh vô thực" Một thị trường chung lớn nhất

sẽ được hình thành trong không gian các nước hậu Liên Xô và EEU dự kiến làmột trung tâm kinh tế hùng mạnh trong tương lai

1.2.2.2 Quan hệ với Việt Nam

Trong quan hệ thương mại với LMHQ, những mặt hàng có tăng trưởng xuấtkhẩu cao của Việt Nam là: gạo, các mặt hàng thực phẩm, hàng may mặc, đồ da,

đồ gỗ; hàng xuất khẩu của Nga sang Việt Nam - dầu mỏ và khí ga, thịt (bò, ngựa,cừu, dê), các sản phẩm sữa, ô tô và phụ tùng; Belarus – hàng may mặc, ô tô vàphụ tùng, thiết bị vận tải; và Kazakhstan - hàng may mặc, đồ da, các sản phẩmdầu mỏ, than đá

Danh mục hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam sang các thành viên LMHQ vàcủa các thành viên LMHQ sang Việt Nam không mang tính cạnh tranh mà mangtính bổ trợ cho nhu cầu sản xuất và tiêu dùng của các bên Việc cắt giảm/xóa bỏ

Trang 15

thuế quan sẽ thúc đẩy các doanh nghiệp Việt Nam mở rộng chủng loại hàng hóaxuất khẩu, tận dụng các lợi thế so sánh của Việt Nam như hàng may mặc, thủysản, điện tử, đồ gỗ, Cũng nhờ tính bổ trợ hàng hóa này mà việc nhập khẩu cácmặt hàng mà phía LMHQ có thế mạnh sẽ giúp cải thiện cơ cấu các mặt hàngnhập khẩu của Việt Nam, trong khi không làm ảnh hưởng nhiều đến khả năngcạnh tranh ngành của Việt Nam Thông qua FTA, việc hợp tác giữa các bên sẽhiệu quả hơn, khi các bên tận dụng các lợi thế không chỉ trong lĩnh vực thươngmại hàng hóa mà cả trong các lĩnh vực dịch vụ và đầu tư Đặc biệt là khi Liênminh kinh tế Á-Âu (EEU) thành lập sẽ tạo ra những cơ hội vô cùng to lớn chokinh tế Việt Nam.

1.3 Khái quát về FTA Việt Nam-Liên minh hải quan Kazkhstan

Nga-Belarus-1.3.1 Nội dung hiệp định

Phạm vi và lĩnh vực điều chỉnh của hiệp định thương mại tự do Việt Liên minh hải quan Nga-Belarus-Kazakhstan (VCUFTA) bao gồm 8 nhómchính:

Nam Thương mại hàng hóa

1.3.2 Nội dung cơ bản của Hiệp định thương mại tự do FTA

1.3.2.1 Tự do thương mại hàng hóa:

Trang 16

Thứ nhất, về thuế và các rào cản thương mại phi thuế: Trong các FTA một

nội dung không thể thiếu đó là cam kết dỡ bỏ các rào cản thuế quan và phi thuếđối với hàng hóa Các bên cam kết dần dần xóa bỏ thuế quan, áp dụng mức thuếsuất 0% đối với hầu hết các mặt hàng và thường quy định cụ thể các danh mụcnhư: Danh mục hàng hóa dỡ bỏ thuế ngay, Danh mục hàng hóa cắt giảm thuế dầndần với lộ trình cắt giảm thuế, Danh mục hàng nhạy cảm, Danh mục loại trừkhông đưa vào cắt giảm Hiện nay ngày càng có ít mặt hàng nằm trong danh sáchloại trừ hơn, các mặt hàng trong danh sách loại trừ thường là nhóm hàng nôngphẩm, những hàng hóa liên quan đến an ninh, văn hóa, phong tục tập quán củaquốc gia Còn lại hầu hết các mặt hàng thông thường đều nằm trong danh mụccắt giảm thuế

Bên cạnh đưa ra các danh mục cắt giảm thuế cụ thể, FTA còn đưa ra lộ trình

cụ thể cho việc thực hiện các cam kết trên của các nước thành viên Lộ trình nàyđược đàm phán dựa trên tiềm lực, khả năng tự do hóa của mỗi quốc gia và thậmchí là tính chất riêng của một số mặt hàng

Trong các FTA ngày nay, các cam kết không chỉ dừng lại ở việc quy định

dỡ bỏ các hàng rào thuế mà còn quy định cả về các biện pháp hạn chế định lượng

và các rào cản kỹ thuật thương mại khác

Thứ hai, Về xuất xứ hàng hóa: Một FTA thường bao gồm quy chế về xuất

xứ hàng hóa Nội dung của quy chế này là quy định một hàm lượng nội địa nhấtđịnh Hàng hóa nhập khẩu vào nước đối tác phải đáp ứng được tỷ lệ nội địa đómới được hưởng những ưu đãi về thuế hơn so với hàng hóa từ nước thứ ba

Ngoài ra, FTA còn có thể có những quy định về mặt thủ tục hải quan nhằmđơn giản hóa thủ tục, hài hòa với những tiêu chuẩn quốc tế và từ đó tạo thuận lợicho thông thương hàng hóa FTA còn có thể đưa ra điều khoản về Thương mạikhông qua giấy tờ với mục đích khuyến khích phát triển thương mại điện tử giữacác bên

1.3.2.2 Tự do hóa thương mại dịch vụ

FTA ngày nay thường bao gồm cả nội dung tự do hóa thương mại dịch vụ,

có nghĩa là các nước tham gia hiệp định cam kết mở cửa thị trường dịch vụ chonhau, tuy nhiên phạm vi và mức độ mở cửa lớn hay nhỏ trong các FTA còn tùy

Trang 17

thuộc vào quốc gia tham gia ký kết Các nước đang phát triển ký kết với nhau thìmức độ tự do hóa trong thương mại dịch vụ thường không cao bằng trong thươngmại hàng hóa Nhưng nếu FTA có sự tham gia của Mỹ hay một số nước pháttriển khác thì thường đòi hỏi mức độ tự do hóa dịch vụ rất cao, thậm chí là đòihỏi mở cửa tuyệt đối.

1.3.2.3 Tự do hóa đầu tư

Các cam kết hướng tới tự do hóa đầu tư ngày càng xuất hiện nhiều trong cácFTA, đặc biệt là các FTA có sự tham gia của các nước phát triển Nội dung củacác cam kết này thường là quy định dỡ bỏ các rào cản đối với nhà đầu tư củanước đối tác, tạo điều kiện thuận lợi cho họ ký kết đầu tư, ví dụ: bảo vệ các nhàđầu tư và hoạt động đầu tư, áp dụng quy chế đối xử quốc gia đối với các chủ đầu

tư và hoạt động đầu tư, cấm các biện pháp cản trở đầu tư, đảm bảo bồi thườngthỏa đáng trong trường hợp quốc hữu hóa, đảm bảo tự do lưu chuyển thanhkhoản…

1.3.2.4 Thúc đẩy hợp tác kinh tế giữa các nước tham gia ký kết hiệp định

Trong một FTA, một nội dung thường thấy nữa đó là các thỏa thuận hợptác trong nhiều lĩnh vực nhằm thúc đẩy quan hệ và hợp tác kinh tế giữa các nướcđối tác Có thể kể ra đây một số lĩnh vực thường được cam kết hợp tác như: pháttriển nguồn nhân lực, du lịch, nghiên cứu khoa học công nghệ, dịch vụ tài chính,công nghệ thông tin và viễn thông, xúc tiến thương mại và đầu tư, phát triển cácdoanh nghiệp vừa và nhỏ, phát thanh truyền hình và các lĩnh vực chia sẻ thôngtin khác

1.3.2.5 Một số cam kết khác

Điều khoản về sở hữu trí tuệ cũng được đưa vào trong nhiều “FTA thế hệmới” Các bên thường cam kết tiến hành các biện pháp thích hợp nhằm tạo điềukiện thuận lợi cho việc sử dụng cơ sở dữ liệu về quyền sở hữu trí tuệ của họ mộtcách rộng rãi đối với công chúng và thuận lợi hóa quy trình cấp bằng sáng chế.Một số lĩnh vực hay được nhắc đến như: vấn đề tiếp cận thị trường dược phẩm,các sản phẩm sinh học, bí mật, bản quyền về việc tiếp cận thông tin, phát thanhtruyền hình…

Trang 18

Ngoài ra, Mỹ hay một số nước phát triển khác còn đưa vào trong cácFTA của mình các vấn đề như mua sắm chính phủ, cạnh tranh, môi trường vàlao động Đây là những FTA có phạm vi và mức độ cam kết tự do hóa rất sâurộng và đòi hỏi mở cửa rất lớn thị trường nên các nước đang phát triển muốntham gia các FTA này thường gặp khá nhiều khó khăn, bất lợi và thườngphải chịu thiệt thòi.

1.3.3 Tình hình tham gia Hiệp định thương mại tự do của Việt Nam

Việt Nam chính thức tiến hành công cuộc Đổi mới năm 1986 và đi kèm với

đó là quá trình thực thi chính sách mở cửa Trong nửa đầu thập kỷ 1990 ViệtNam đã tiến hành bình thường hóa quan hệ với các nước lớn và các nước lánggiềng Sang nửa sau thập kỷ 1990 đến nay Việt Nam tích cực hội nhập với nềnkinh tế thế giới và khu vực thông qua ký kết hiệp định khung với EU (1995),tham gia AFTA (1996) và làm chủ nhà Hội nghị Thượng đỉnh ASEAN (1998),tham gia APEC (1998) và làm chủ nhà Hội nghị cấp cao APEC (2006), ký kếtBTA với Mỹ (2000) và hưởng PNTR (2006), ký kết Hiệp định đầu tư với NhậtBản (2003), trở thành thành viên của WTO (2006)

Hiện tại Việt Nam đang đàm phán 6 Hiệp định thương mại tự do (FTA) vớirất nhiều các đối tác trong đó có các đối tác lớn như Hoa Kỳ, EU, Nhật Bản, HànQuốc… Sau đây là danh sách liệt kê các hiệp định thương mại tự do songphương và đa phương mà Việt Nam đã, đang và sẽ ký kết

Một số Hiệp định thương mại tự do (FTA) tiểu biểu Việt Nam đã và đang

ký kết có thể kể đến:

Khu vực Mậu dịch Tự do ASEAN (viết tắt là AFTA từ các chữ cái đầucủa ASEAN Free Trade Area) là một hiệp định thương mại tự do đa phương giữacác nước trong khối ASEAN Theo đó, sẽ thực hiện tiến trình giảm dần thuếquan xuống 0-5%, loại bỏ dần các hàng rào thuế quan đối với đa phần các nhómhàng và hài hòa hóa thủ tục hải quan giữa các nước Hiệp định về AFTA được kýkết vào năm 1992 tại Singapore Ban đầu chỉ có sáu nước

làBrunei, Indonesia, Malaysia, Philippines, Singapore và Thái Lan (gọi chung là

Trang 19

ASEAN-6) Các nước Campuchia, Lào, Myanma và Việt Nam (gọi chung làCLMV) được yêu cầu tham gia AFTA khi được kết nạp vào khối này.

Việt Nam – Nhật Bản Hiệp định đối tác kinh tế Việt Nam-Nhật Bản làmột hiệp định tự do hóa thương mại, dịch vụ, bảo hộ đầu tư và khuyến khíchthương mại điện tử giữa Việt Nam và Nhật Bản Đây là hiệp định tự do hóathương mại song phương đầu tiên của Việt Nam và là hiệp định đối tác kinh tếthứ mười của Nhật

Sau 9 phiên đàm phán chính thức và nhiều phiên đàm phán không chínhthức, hai bên đã hoàn tất thỏa thuận nguyên tắc vào tháng 9 năm 2008 và chínhthức ký hiệp định vào ngày 25 tháng 12 năm 2008 Hiệp định gồm 14 chương về

14 lĩnh vực và 129 quy định hướng đến 7 mục tiêu cơ bản: (a) tự do hóa và thuậnlợi hóa thương mại hàng hóa giữa các Bên; (b) đảm bảo bảo vệ sở hữu trí tuệ vàthúc đẩy hợp tác trong lĩnh vực này; (c) thúc đẩy hợp tác và phối hợp trong việcthực hiện hiệu quả các luật cạnh tranh của mỗi Bên; (d) tạo thuận lợi cho dichuyển của thể nhân giữa hai Bên; (e) cải thiện môi trường kinh doanh của mỗiBên; (f) thiết lập khuôn khổ để tăng cường hợp tác chặt chẽ hơn trong các lĩnhvực nhất trí trong Hiệp định này; (g) xây dựng các thủ tục hiệu quả để thực thiHiệp định này, và để giải quyết các tranh chấp

Việt Nam – EU hai bên bắt đầu tiến hành đàm phán từ tháng 6/2012, hiệntại đã trải qua 12 vòng đàm phán, vòng đàm phán gần đây nhất vừa diễn ra từngày 23 đến ngày 27 tháng 3 năm 2015 tại Hà Nội EU hiện là đối tác thươngmại lớn thứ 2 của Việt Nam Đặc điểm nổi bật trong cơ cấu xuất nhập khẩu giữaViệt Nam và EU là tính bổ sung rất lớn, ít mang tính cạnh tranh đối đầu trực tiếp.Với tham vọng đàm phán một hiệp định toàn diện bao gồm không chỉ các camkết về mở cửa thị trường mà cả các vấn đề đầu tư, môi trường, cạnh tranh, pháttriển bền vững…FTA VN-EU nếu được ký kết sẽ có tác động rất lớn đến từngngành và toàn bộ nền kinh tế Việt Nam Hai bên sẽ tiếp tục có các cuộc gặp trongthời gian tới để hoàn thiện gói cam kết, trình Lãnh đạo đưa ra quyết định cuốicùng, quá trình đàm phán dự tính sẽ kết thúc vào tháng 6/2015

TPP Hiệp định Đối tác kinh tế chiến lược xuyên Thái Bình Dương với sựtham gia của 12 nước thành viên nằm ven bờ Thái Bình Dương (Việt Nam, Hoa

Trang 20

Kỳ, Canada, Mexico, Peru, Chile, Brunei, Singapore, Malaysia, Úc, NewZealand, Nhật Bản) Đàm phán Hiệp định TPP bắt đầu từ tháng 3 năm 2010, đãtrải qua 19 vòng đàm phán, rất nhiều phiên giữa kỳ, nhiều cuộc gặp songphương, và nhiều cuộc viếng thăm giữa lãnh đạo các nước Mục tiêu ban đầu củaHiệp định là giảm 90% các loại thuế xuất nhập khẩu giữa các nước thành viêntrước ngày 01 tháng 01, 2006 và cắt giảm bằng không tới năm 2015 Đàm phánTPP hiện đang là một trong những đàm phán thương mại quan trọng nhất củaViệt Nam, bao gồm không chỉ các vấn đề về mở cửa thị trường hàng hóa và dịch

vụ mà còn cả những vấn đề phi thương

Ngoài ra còn có các Hiệp định thương mại tự do khác Việt Nam đã và đangtham gia đàm phán:

ASEAN - Ấn Độ (AIFTA)

ASEAN – Australia/New Zealand (AANZFTA)

ASEAN – Hàn Quốc (AKFTA)

ASEAN – Nhật Bản (AJFTA)

ASEAN – Trung Quốc (ACFTA)

Việt Nam – Chile (VCFTA)

Việt Nam – EFTA

RCEP (ASEAN +6)

ASEAN – EU

Việt Nam – Hàn Quốc

Việt Nam – Liên minh hải quan Nga-Belarus-Kazkhstan (VCUFTA) sẽ được trình bày chi tiết trong nội dung đề án dưới đây.

Ngoài ra, Hiệp định tự do thương mại Việt Nam – Canada đang trong giaiđoạn xem xét

1.3.4 Quá trình đàm phán

Cho đến nay quá trình đàm phán về Hiệp định thương mại tự do Việt Liên minh hải quan Nga-Belarus-Kazkhstan đã trải qua 6 vòng

Nam-1.3.4.1 Vòng đàm phán thứ nhất

Trang 21

Chiều 28/3, tại Trụ sở Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng

và Chủ tịch Ban Thường trực Ủy ban Kinh tế Á – Âu Viktor Khristenko đã tuyên

bố chính thức khởi động đàm phán Hiệp định thương mại tự do (FTA) Việt Nam– Liên minh Hải quan Nga, Belarus, Kazakhstan (LMHQ) Hai trưởng đoàn đàmphán là Bộ trưởng Bộ Công Thương Vũ Huy Hoàng và Bộ trưởng phụ tráchThương mại của Ủy ban Kinh tế Á – Âu Andrey Slepnev đã ký thông báo chung

về phiên làm việc đầu tiên của hai đoàn đàm phán FTA giữa Việt Nam vàLMHQ Tại vòng đàm phán đầu tiên, các bên thảo luận chi tiết về phạm vi vàlĩnh vực điều chỉnh của Hiệp định, cơ cấu và phương thức đàm phán

1.3.4.2 Vòng đàm phán thứ hai

Từ ngày 20-25/6/2013, Phiên đàm phán thứ hai Hiệp định Thương mại tự

do giữa Việt Nam và Liên minh Hải Quan Belarus, Kazakhstan và Nga đã đượcdiễn ra tại Matxcova, Liên bang Nga

Tại Phiên đàm phán thứ hai, hai Bên đã thảo luận các nội dung của Hiệpđịnh, bao gồm thương mại hàng hóa, thương mại dịch vụ, đầu tư, hợp tác hảiquan, SPS, TBT, pháp lý - thể chế…; tìm hiểu kỹ phương pháp tiếp cận đàmphán của từng bên

Hai Bên đều đi đến khẳng định sẽ đàm phán một hiệp định thương mại tự

do phù hợp với các quy tắc của Tổ chức Thương mại Thế giới, đồng thời có sựcân nhắc phù hợp đến những lĩnh vực nhạy cảm của mỗi nước và sự chênh lệch

về trình độ phát triển giữa các Bên Đôi bên đã đạt được thống nhất bước đầu tạicác chương về hàng hóa, dịch vụ, đầu tư và di chuyển thể nhân, quy tắc xuất xứ,hợp tác về hải quan…

1.3.4.3 Vòng đàm phán thứ ba

Chiều 13/9, tại thủ đô Minsk của Belarus, phiên đàm phán thứ ba Hiệp địnhthương mại tự do Việt Nam-Liên minh hải quan (gồm Nga, Kazakhstan, Belarus)

đã kết thúc tốt đẹp sau 5 ngày làm việc

Trong 5 ngày làm việc, 10 nhóm đàm phán của các bên đã tích cực thảoluận các vấn đề: thương mại hàng hóa, quy tắc xuất xứ hàng hóa, thương mạidịch vụ, quản lý hải quan và thuận lợi hóa thương mại, dịch vụ đầu tư, sở hữu trítuệ, các vấn đề pháp lý-thể chế, phòng vệ thương mại Các bên đánh giá vòng

Trang 22

đàm phán thứ ba diễn ra trong không khí xây dựng, tích cực, hợp tác và thẳngthắn với mục đích hài hòa quan điểm và cân bằng lợi ích của các bên, đã đạtđược những tiến bộ đáng kể so với vòng thứ ba diễn ra ở Moskva Đặc biệt cácbên đã hoàn tất cơ bản một số chương của Hiệp định mà hai bên không còn khácbiệt Việt Nam và Liên minh hải quan đã thống nhất phần lớn văn hiệp định tạicác nội dung như: cạnh tranh, hàng rào kỹ thuật trong thương mại, tiêu chuẩn antoàn thực phẩm và kiểm dịch động, thực vật, hải quan và phát triển bền vững.Đối với những nội dung còn lại, hai bên sẽ khẩn trương hoàn thiện văn bản vàtích cực trao đổi trong thời gian giữa hai phiên đàm phán thứ ba và thứ tư.

Hai bên thống nhất tiếp tục thúc đẩy quá trình tham vấn nội bộ và trao đổithông tin bằng mọi hình thức, đẩy nhanh hơn nữa tiến độ đàm phán giữa kỳ trongcác nhóm nhằm hoàn tất cơ bản văn bản toàn hiệp định FTA Việt Nam-Liênminh hải quan trước cuối năm 2013 để sang năm 2014 bắt đầu đàm phán các nộidung sâu hơn về kỹ thuật

1.3.4.4 Vòng đàm phán thứ tư

Chiều 14/2, phiên đàm phán thứ tư cấp Bộ trưởng Hiệp định Thương mại tự

do (FTA) giữa Việt Nam và Liên minh Hải quan Belarus, Kazakhstan và Nga tạithành phố Đà Nẵng

Đôi bên đã thống nhất cơ bản về đa số các nội dung "lời văn" của Hiệp địnhtại phiên đàm phán và đạt được mục tiêu kết thúc phần lớn lời văn của Hiệp địnhvào cuối năm 2013 và hướng tới kết thúc đàm phán Hiệp định FTA Việt Nam-Liên minh Hải quan Belarus, Kazakhstan và Nga vào cuối năm 2014 Bên cạnh

đó, hai bên đã thống nhất tiếp tục thúc đẩy quá trình tham vấn nội bộ và trao đổithông tin bằng mọi hình thức, đẩy nhanh tiến độ đàm phán của các nhóm để tiếptục đàm phán tại phiên thứ 5, dự kiến tổ chức từ ngày 31/3-4/4/2014 tại Cộng hòaKazakhstan

Các nhóm đàm phán về thương mại hàng hóa; phòng vệ thương mại; quytắc xuất xứ; quản lý hải quan và thuận lợi hóa thương mại; TBT; SPS; dịch vụ,đầu tư và di chuyển thể nhân; sở hữu trí tuệ; các vấn đề khác; mua sắm chính phủ

và pháp lý- thể chế đã thể hiện nỗ lực và sự linh hoạt cao nhất nhằm hoàn thành

Trang 23

1.3.4.5 Vòng đàm phán thứ năm

Từ ngày 31/3 đến 4/4, phiên đàm phán thứ 5 Hiệp định Thương mại tự do(FTA) giữa Việt Nam và Liên minh Hải quan - gồm 3 nước Belarus, Kazakhstan

và Nga - đã diễn ra tại thành phố Almaty của Kazakhstan

Đặt mục tiêu kết thúc đàm phán Hiệp định vào cuối năm 2014, các nhómđàm phán đã hết sức nỗ lực để đạt kết quả đàm phán về lời văn trong các chươngcủa Hiệp định, trong khi một số chương đã bước đầu đi vào đàm phán nội dung.Với tinh thần thẳng thắn cùng xây dựng và hiểu biết lẫn nhau, trên nguyên tắccân bằng lợi ích có tính đến điều kiện đặc thù của cả hai bên, hai đoàn Việt Nam

và Liên minh Hải quan đã cơ bản thống nhất toàn bộ lời văn của một số chươngtại phiên đàm phán này như hàng hóa, công nghệ điện tử trong thương mại Đồng thời, hai bên đã tiếp tục trao đổi sâu và cụ thể về bản Phụ lục của hiệpđịnh, đặc biệt là trong các lĩnh vực Thương mại hàng hóa và Quy tắc xuất xứ.Nhằm thúc đẩy tiến độ đàm phán chung, hai bên đã thống nhất tổ chức phiên họpgiữa kỳ cho các nhóm Thương mại hàng hóa; Phòng vệ thương mại; Quy tắc xuấtxứ; Dịch vụ, đầu tư và di chuyển thể nhân; Sở hữu trí tuệ

1.3.4.6 Vòng đàm phán thứ sáu

Vòng đàm phán thứ sáu diễn ra từ 16/6 đến 20/6 tại thành phố Sochi, Liênbang Nga, các nhóm công tác của Việt Nam và Liên minh Hải quan (CU) đều đặtquyết tâm giải quyết dứt điểm các vấn đề còn tồn đọng để sớm hoàn tất các nộidung của Hiệp định

Ở mỗi nội dung cụ thể, các thành viên tham gia đàm phán đã khẩn trươngtrao đổi thẳng thắn, trực tiếp những khía cạnh còn chưa thống nhất để đến ngàycuối cùng, hai bên hoàn tất thêm lời văn các chương về Thương mại hàng hóa vàMua sắm Chính phủ, đồng thời đã thu hẹp đáng kể những khác biệt ở nội dungHợp tác về Hải quan; Quy tắc xuất xứ; Sở hữu trí tuệ

Với các vấn đề có nội dung chủ yếu mang tính kỹ thuật, đòi hỏi thêm thờigian đàm phán như Quy tắc xuất xứ; Mở cửa thị trường về Thương mại Hànghóa; Thương mại dịch vụ; đầu tư và Di chuyển thể nhân, hai bên đã thể hiệnthiện chí, nỗ lực để có cách tiếp cận chung bảo đảm nguyên tắc cân bằng lợi ích

Trang 24

Hai Bộ trưởng cũng giao nhiệm vụ cho các nhóm đàm phán tiếp tục trao đổigiữa kỳ để thống nhất toàn bộ nội dung còn tồn tại trước khi diễn ra vòng đàmphán thứ 7 vào tháng Chín và hoàn tất vào cuối năm nay.

Hai bên cũng thống nhất sẽ tiến hành vòng đàm phán phán thứ 8, vòng đàmphán cuối cùng vào 8-13/12/2014 tại Việt Nam

6 nhóm đàm phán của các bên về thương mại hàng hóa; thương mại dịch

vụ, đầu tư và di chuyển thể nhân; quy tắc xuất xứ; phòng vệ thương mại; hợp tác

về hải quan và thuận lợi hóa thương mại và các vấn đề về pháp lý và thể chế đãlàm việc liên tục từ ngày 8/12 cho đến 13/12/2014

Hiện, hai Bên đã kết thúc thêm lời văn của Chương về Hợp tác về hải quan,

cơ bản kết thúc lời văn của tất cả các Chương còn lại như Thương mại dịch vụ,đầu tư và di chuyển thể nhân, Quy tắc xuất xứ, Phòng vệ Thương mại và các nộidung về pháp lý - thể chế

Như vậy, các nội dung chính của Hiệp định Thương mại tự do giữa ViệtNam và Liên minh Hải quan Belarus, Kazakhstan và Nga đã được thống nhất.Những vấn đề còn lại chủ yếu là một số chi tiết cụ thể hóa, các vấn đề mang tính

kỹ thuật và chỉnh sửa lời văn cũng đã được hai bên cơ bản thống nhất

Trang 25

Hai bên đã thống nhất ký thông báo về kết thúc cơ bản đàm phán và tiếp tụcthúc đẩy quá trình trao đổi, tham vấn nội bộ để nhanh chóng hoàn tất những vấn

đề kỹ thuật còn lại để có thể ký kết Hiệp định vào đầu năm 2015

Trang 26

CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH NHỮNG CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC CỦA DOANH NGHIỆP VIỆT NAM KHI THỰC HIỆN FTA VIỆT NAM-LIÊN

MINH HẢI QUAN NGA-BELARUS-KAZKHSTAN 2.1 Thực trạng hợp tác kinh tế Việt Nam-Liên minh hải quan

2.1.1 Tổng quan về tình hình hợp tác kinh tế Việt Nam – Liên minh Hải quan

Hiện nay, Việt Nam được chọn là đối tác đầu tiên Liên minh hải quan Belarus- Kazakhstan đàm phán FTA Cùng với việc Nga trở thành thành viênWTO và xúc tiến ký kết FTA giữa Việt Nam với Liên minh Hải quan là nhữngđiều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp Việt Nam đẩy mạnh xuất khẩu vào thịtrường này, đồng thời mở ra thêm thị trường tiêu dùng hàng hóa rộng lớn

Nga-Bảng 2.1 Kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang các nước thuộc Liên

minh hải quan giai đoạn 2007-2014

Nguồn: Vinanet/Báo Công Thương điện tử, vietnamese.ruvr.ru

Từ bảng 2.1 có thể thấy xu hướng xuất khẩu giữa Việt Nam với Liên minhhải quan nhìn chung tăng qua các năm Về kim ngạch nhập khẩu tăng nhanhtrong giai đoạn từ năm 2007-2009, sau đó có sự sụt giảm đáng kể cho đến năm

2013 thì có dấu hiệu tăng trở lại

Cụ thể, theo số liệu của Tổng cục hải quan, tổng kim ngạch trao đổi hànghóa giữa Liên minh hải quan và Việt Nam năm 2013, so với năm 2012, tăng179%, đạt 4205,9 triệu USD Tuy nhiên sang năm 2014 tổng kim ngạch trao đổihàng hóa giữa Việt Nam và Liên minh hải quan giảm 31,59%, dạt 2877,4 triệuUSD, chủ yếu là do kim ngạch 2 chiều giữa VIệt Nam và Nga có sự sụt giảmđáng kể nguyên nhân bởi chịu ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính Nganăm 2014

Trang 27

Quan sát bảng trên có thể thấy kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam vớiNga chiểm tỷ trọng rất lớn trong tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Namvới các nước thuộc LMHQ Trong khi đó kim ngạch xuất nhập khẩu với 2 nướcBelarus và Kazakhstan vẫn dừng lại ở những con số khiêm tốn Có kết quả nhưvậy sở dĩ là do các hợp định hợp tác song phương tuy đã được ký kết trên nhiềulĩnh vực nhưng vẫn còn mang tính hình thức, không phát huy được hiệu lực.Doanh nghiệp hai bên chưa có cơ sở pháp lý chắc chắn để thiết lập quan hệ lâudài với nhau.

Vì thế, việc sớm thành lập FTA với Liên minh hải quan sẽ giúp Việt Nam

có cơ hội thâm nhập thị trường Liên minh hải quan sớm hơn, với các điều kiện

ưu đãi hơn các đối tác khác đặc biệt là Trung Quốc, giúp đẩy mạnh xuất khẩuhàng hóa, dịch vụ và đầu tư của Việt Nam, nhất là trong bối cảnh nền kinh tế thếgiới còn chưa ổn định như hiện nay

Như vậy, hiệp định FTA toàn diện song phương sẽ là điều kiện cần và đủ đểtạo hành lang pháp lý thông thoáng, tăng sức cạnh tranh của hàng hóa, khơithông dòng chảy thương mại Khi đó, xuất khẩu của Nga sang Việt Nam có thểtăng 75%, Belarus tăng 83%, Kazakhstan tăng 83%; xuất khẩu từ Việt Nam sangNga tăng 63%, Belarus tăng 41% và Kazakhstan tăng 8%

2.1.2 Việt Nam – Liên bang Nga

Liên bang Nga được coi là nòng cốt của Liên minh hải quan, điều đó cũngđược thể hiện rõ ràng thông qua tỷ trọng kim ngạch xuất nhập khẩu của ViệtNam với Nga trong tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam với Liên minhhải quan (chiếm tới 95%) Nếu như từ năm 2010 trở về trước, cán cân thươngmại (CCTM) của Việt Nam luôn nhập siêu trong buôn bán thị trường Nga, thì từnăm 2011, hàng hóa của nước ta đã được xuất khẩu mạnh sang thị trường này,cán cân thương mại đã nghiêng về phía Việt Nam Đây là dấu hiệu khả quan chothương mại Việt Nam

Nga là đối tác thương mại quan trọng của Việt Nam trong nhiều năm qua,xếp thứ 6 trong tổng số các thị trường thuộc khu vực châu Âu của Việt Namtrong năm 2014 Tính chung tất cả các thị trường trên thế giới Nga là đối tácthương mại lớn thứ 23 của Việt Nam, trong đó là thị trường xuất khẩu hàng hóalớn thứ 25 của các doanh nghiệp Việt Nam và ở chiều ngược lại Nga là nguồnhàng nhập khẩu lớn thứ 19 Tuy nhiên, kim ngạch thương mại hai chiều ViệtNam – Nga chỉ chiếm gần 1% trong tổng kim ngạch thương mại của Việt Namvới thế giới Điều này chưa thực sự tương xứng với tiềm năng của hai nước

Trang 28

Bảng 2.2: Thứ hạng và tỷ trọng xuất khẩu, nhập khẩu giữa Việt Nam và

Nga năm 2014

khẩu

Nhậpkhẩu

Xuất nhậpkhẩu

Tỷ trọng so với tổng kim ngạch của Việt Nam

Thứ hạng trong tổng số các thị trường châu Âu

của Việt Nam

Kim ngạch xuất khẩu sang thị trường Nga bị suy giảm chủ yếu do giảmmạnh ở nhóm hàng điện thoại các loại & linh kiện (giảm 670 triệu USD), máy vitính sản phẩm điện tử & linh kiện (giảm 380 triệu USD)

Trang 29

Nguồn: Tổng cục Hải quan, “Sơ bộ tình hình xuất nhập khẩu Việt Nam –Nga

trong năm 2014”

Biểu đồ 2.1: Kim ngạch xuất khẩu, nhập khẩu và cán cân thương mại giữa

Việt Nam và Nga giai đoạn 2010-2014

Từ biểu đồ trên cho thấy cán cân TM giữa Việt Nam và Nga luôn ở trạngthái thặng dư trong giai đoạn 2011-2014, duy chỉ có năm 2010 Việt Nam nhậpsiêu 169 triệu USD Năm 2013 xuất khẩu của Việt Nam sang Nga đạt mức kỷ lục2599,4 triệu USD và cán cân TM thặng dư 1225,9 triệu USD, tăng gấp hơn 4 lần

so với năm 2012 Sang năm 2014 , cả kim ngạch xuất khẩu và nhập khẩu đềugiảm đáng kể, cán cân TM chỉ thặng dư 803 triệu USD, giảm 34,5% so với năm

2013 Nguyên nhân của sự sụt giảm này là do cuộc khủng hoảng tài chính ở Ngađầu năm 2014

Ngày đăng: 21/07/2015, 08:27

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1 Kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang các nước thuộc Liên - Những cơ hội và thách thức đối với doanh nghiệp Việt Nam khi thực hiện FTA Việt Nam-Liên minh hải quan Nga-Belarus-Kazakhstan
Bảng 2.1 Kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang các nước thuộc Liên (Trang 26)
Bảng 2.2: Thứ hạng và tỷ trọng xuất khẩu, nhập khẩu giữa Việt Nam và - Những cơ hội và thách thức đối với doanh nghiệp Việt Nam khi thực hiện FTA Việt Nam-Liên minh hải quan Nga-Belarus-Kazakhstan
Bảng 2.2 Thứ hạng và tỷ trọng xuất khẩu, nhập khẩu giữa Việt Nam và (Trang 28)
Bảng 2.4: Thống kê kim ngạch và tỷ trọng mặt hàng nhập khẩu chủ yếu của - Những cơ hội và thách thức đối với doanh nghiệp Việt Nam khi thực hiện FTA Việt Nam-Liên minh hải quan Nga-Belarus-Kazakhstan
Bảng 2.4 Thống kê kim ngạch và tỷ trọng mặt hàng nhập khẩu chủ yếu của (Trang 32)
Bảng 2.5 : Kim ngạch xuất khẩu, nhập khẩu, tốc độ tăng/giảm, cán cân thương mại  giữa Việt Nam và Kazakhstan giai đoạn 2007-2014 - Những cơ hội và thách thức đối với doanh nghiệp Việt Nam khi thực hiện FTA Việt Nam-Liên minh hải quan Nga-Belarus-Kazakhstan
Bảng 2.5 Kim ngạch xuất khẩu, nhập khẩu, tốc độ tăng/giảm, cán cân thương mại giữa Việt Nam và Kazakhstan giai đoạn 2007-2014 (Trang 39)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w