1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu tác động cuả Quy định chế độ bảo hiểm cháy, nổ bắt buộc đến hoạt động triển khai nghiệp vụ bảo hiểm cháy tại Công ty BHDK Khu vực Tây Bắc

109 652 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu tác động cuả Quy định chế độ bảo hiểm cháy, nổ bắt buộc đến hoạt động triển khai nghiệp vụ bảo hiểm cháy tại Công ty BHDK Khu vực Tây Bắc
Người hướng dẫn Th.s Nguyễn Ngọc Hương
Trường học Công ty Bảo hiểm Dầu khí Khu vực Tây Bắc
Chuyên ngành Bảo hiểm
Thể loại Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Năm xuất bản 2007
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 109
Dung lượng 1,22 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cháy, nổ hàng năm gây thiệt hại hàng nghìn tỷ đồng, làm hàng trăm người chết và bị thương.

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

Cháy, nổ hàng năm gây thiệt hại hàng nghìn tỷ đồng, làm hàng trăm ngườichết và bị thương Cháy có thể xảy ra bất cứ khi nào, ở đâu và với bất cứ ai Conngười dù luôn có ý thức phòng cháy nhưng vẫn không thể xoá bỏ hoàn toàn nguy cơcháy, nổ Hậu quả do cháy thường rất lớn, đôi khi mang tính chất thảm hoạ

Để đối phó với cháy, nổ con người đã sử dụng rất nhiều biện pháp khácnhau như hạn chế sử dụng vật liệu dễ cháy , thực hiện PCCC Tuy nhiên để đối phóvới hậu quả do cháy gây ra, bảo hiểm được coi là hữu hiệu hơn cả Bảo hiểm cháy rađời từ rất sớm (thế kỷ 17) và cho đến nay nó luôn là nghiệp vụ không thể thiếu tại tất

cả các công ty bảo hiểm phi nhân thọ trên thế giới

Nghị định 130/2006/NĐ-CP của chính phủ ngày 8 tháng 11 năm 2006 Quyđịnh chế độ bảo hiểm cháy nổ bắt buộc ra đời đã góp phần hoàn thiện hơn nữa cácvăn bản pháp luật trong lĩnh vực bảo hiểm Nghị định 130/2006/NĐ-CP đã - đang và

sẽ có rất nhiều ảnh hưởng đến hoạt đồng của thị trường bảo hiểm cháy, nổ Việt Namnhư cầu về sản phẩm này sẽ gia tăng, nhu cầu về thoả mãn dịch vụ có chất lượngcao tăng, ý thức của khách hàng về bảo hiểm thay đổi, doanh thu của các Công tybảo hiểm phi nhân thọ tăng

Em lựa chọn đề tài “Nghiên cứu tác động cuả Quy định chế độ bảo hiểm cháy, nổ bắt buộc đến hoạt động triển khai nghiệp vụ bảo hiểm cháy tại Công ty BHDK Khu vực Tây Bắc” với mong muốn được tìm hiểu sâu hơn về nghiệp vụ bảo

hiểm cháy, về tác động của Nghị định 130/2006/NĐ-CP đến thị trường bảo hiểmViệt Nam, và đặc biệt là đến Công ty BHDK Tây Bắc- đơn vị em thực tâp trong 4tháng qua Trong quá trình nghiên cứu, em cũng đưa ra một số kiến nghị nhằm đẩymạnh quá trình chiếm lĩnh thị phần, tăng doanh thu và uy tín của BHDK Tây Bắc

Đề tài được nghiên cứu dưới góc độ một chuyên đề thực tập tốt nghiệp,trong phạm vi hoạt động của BHDK Tây Bắc

Phương pháp nghiên cứu được sử dụng bao gồm phương pháp thống kê,tổng hợp phân tích, và so sánh

Trang 2

Bố cục của đề tài gồm 3 phần:

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ BẢO HIỂM VÀ BẢO HIỂM CHÁY, NỔ.

CHƯƠNG 2: HOẠT ĐỘNG TRIỂN KHAI NGHIỆP VỤ BẢO HIỂM CHÁY TẠI

CÔNG TY BẢO HIỂM DẦU KHÍ KHU VỰC TÂY BẮC.

CHƯƠNG 3 : MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM TRIỂN KHAI TỐT NHẤT NGHIỆP

VỤ BẢO HIỂM CHÁY TẠI CÔNG TY BẢO HIỂM DẦU KHÍ KHU VỰC TÂY BẮC SAU NGHỊ ĐỊNH SỐ 130/2006/NĐ-CP CỦA CHÍNH PHỦ

Em xin gửi lời cảm ơn trân trọng tới Th.s Nguyễn Ngọc Hương và các chuyênviên tại BHDK Tây Bắc đã giúp đỡ em trong quá trình thực hiện

Hà Nội, tháng 4 năm 2007.

Trang 3

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ BẢO HIỂM

BẢO HIỂM CHÁY, NỔ

1.1 TỔNG QUAN VỀ BẢO HIỂM.

1.1.1 Lý luận chung về bảo hiểm.

Nhu cầu an toàn đối với con người là vĩnh cửu, lúc nào con người cũngtìm cách bảo về bản thân và tài sản của mình trước những bất hạnh của số phận.Bảo hiểm ra đời nhằm đáp ứng nhu cầu phòng vệ chính đáng này Qua quá trìnhphát triển của bảo hiểm, đặc biệt là bảo hiểm thương mại, chúng ta nhận thấy,ban đầu bảo hiểm chỉ mang tính chất sơ khai, tự phát với phạm vi nhỏ hẹp Donhu cầu thực tiễn, dần dần các khái niệm về bảo hiểm cũng đã được hình thành

và phát triển ở hầu hết các quốc gia trên thế giới Trên thực tế, có nhiều kháiniệm về bảo hiểm, nó tuỳ thuộc vào quan niệm của từng lĩnh vực bao gồm luật,kinh tế học, lịch sử học, khoa học thực tế, lý thuyết rủi ro và xã hội học mà cáckhái niệm có nhiều điểm khác nhau Khái niệm về bảo hiểm, luôn bao gồm cảbảo hiểm thương mại và bảo hiểm xã hội, bởi hai hình thức này chỉ phân biệt bởitính thương mại (kinh doanh rủi ro)và tính xã hội (cân bằng thu chi) Dưới đây,xin trình bày một số định nghĩa về bảo hiểm đang được thừa nhận trên thế giới,tại các quốc gia các nghiệp đoàn, và các công ty bảo hiểm

Theo Uỷ ban thuật ngữ bảo hiểm của Hiệp hội bảo hiểm và rủi ro Hoa Kỳthì: "Bảo hiểm là sự tập trung các tổn thất bất ngờ bằng việc chuyển giao nhữngrủi ro gây ra cho NBH khi họ cam kết bồi thường những tổn thất này, cung cấpcác quyền lợi bằng tiền khác khi tổn thất xảy ra hoặc cung cấp các dịch vụ liênquan đến rủi ro”

Theo Hiệp hội các nhà bảo hiểm Anh thì: "Bảo hiểm là sự thoả thuận qua

đó một bên (Người bảo hiểm ) hứa sẽ thanh toán cho bên kia (NĐBH hayNTGBH) một khoản tiền nếu có sự cố xảy ra gây tổn thất tài chính cho ngườibảo hiểm Trách nhiệm thanh toán những tổn thất này được chuyển giao từNTGBH đến người bảo hiểm Để chấp nhận trách nhiệm thanh toán này, NBHđòi NĐBH một khoản tiền, đó là phí bảo hiểm”

Trang 4

Khái niệm được sử dụng tại một số trường đại học và thị trường bảo hiểmChâu Á: "Bảo hiểm là biện pháp chia nhỏ tổn thất của một người hay một số ítngười cho nhiều người có cùng khả năng chịu rủi ro nào đó thông qua việc tổchức ra một quỹ tài chính tập trung huy động từ các cá nhân, tổ chức tham giabảo hiểm dưới dạng phí bảo hiểm, để bồi thường hoặc bù đắp những tổn thất donhững rủi ro đó gây ra”

Khi xem xét bảo hiểm từ khía cạnh những bên liên quan khác nhau đếnhợp đồng bảo hiểm, bảo hiểm được định nghĩa như sau:

Từ phía người được bảo hiểm, bảo hiểm là tổ chức hợp lý một nhómngười có chung một loại rủi ro có thể xảy ra Các khoản đóng góp về tài chínhcủa họ cho phép bồi thường những thiệt hại mà một số người trong nhóm phảigánh chịu khi có tổn thất Nhờ có bảo hiểm mà tổn thất sẽ nhẹ đi nếu chia sẻ chonhiều người và là gánh nặng nếu một vài người phải gánh chịu tất cả

Trên giác độ của người cung cấp dịch vụ bảo hiểm, ở đây là các doanhnghiệp bảo hiểm, bảo hiểm là hoạt động kinh doanh mà trong đó, người bảohiểm sẽ chấp nhận những rủi ro đối với tài sản hoặc con người của người đượcbảo hiểm trên cơ sở người được bảo hiểm thanh toán một khoản phí nhất định

Một cách tổng quát, bảo hiểm là một nghiệp vụ, qua đó một bên là ngườiđựơc bảo hiểm chấp nhận trả một khoản phí gọi là phí bảo hiểm cho chính mìnhhoặc cho người thứ ba khác để trong trường hợp có rủi ro xảy ra nằm trong phạm

vi bảo hiểm sẽ được trả mọt khoản bồi thường từ người bảo hiểm, là người chịutrách nhiệm với những rủi ro đã cam kết và đền bù thiệt hại theo luật thống kê

Tất cả những định nghĩa khác nhau về bảo hiểm, tựu chung lại đều làmbật lên bản chất của bảo hiểm là sự chuyển giao rủi ro giữa nhà bảo hiểm vàngười tham gia bảo hiểm trên cơ sở một quỹ tiền tệ tập trung Vậy rủi ro chính làmột trong những yếu tố góp phần cơ bản cho sự hình thành, ra đời và phát triểncủa bảo hiểm

Khái niệm rủi ro liên quan đến sự không chắc chắn, và rủi ro luôn đượchiểu là sự không chắc chắn liên quan đến việc xảy ra một tổn thất Rủi ro luônbao gồm trong nó yếu tố không may mắn và không lường trước được, về khả

Trang 5

năng xảy ra của nó, về thời gian và không gian xảy ra, về mức độ nghiêm trọngcủa rủi ro và hậu quả của nó.

Có rất nhiều nguyên nhân để xảy ra rủi ro, nhưng có thể tập hợp rủi rovào ba nhóm chính:

Thứ nhất là nhóm các rủi ro do thiên tai gây ra như bão, lũ lụt, hạn hán,động đất, sét, lốc, sương muối, dịch bệnh, sóng thần làm ảnh hưởng đến đờisống và sức khoẻ của con người

Thứ hai là nhóm rủi do do biến động cuả khoa học và công nghệ

Thứ ba, là nhóm rủi ro môi trường xã hội, những rủi ro này chịu tác độngcuả nhiều yếu tố và ảnh hưởng trực tiếp đến mọi thành viên trong xã hội như ốmđau, dịch bệnh, mất việc làm, trộm cắp, hoả hoạn

Bất kể nguyên nhân gì, khi xảy ra rủi ro thường gây ra cho con ngườinhững khó khăn trong cuộc sống như mất hoặc giảm thu nhập, phá hoại nhiều tàisản, làm ngưng trệ hoạt động sản xuất và kinh doanh của các tổ chức, doanhnghiệp cá nhân, và làm ảnh hưởng đến đời sống kinh tế- xã hội nói chung

Để đối phó với các rủi ro có hai nhóm biện pháp đối phó với rủi ro và hậuquả của rủi ro gây ra - đó là nhóm các biện pháp kiểm soát rủi ro và nhóm cácbiện pháp tài trợ rủi ro

Nhóm các biện pháp kiểm soát rủi ro bao gồm các biện pháp né tránh rủi

ro, ngăn ngừa tổn thất, giảm thiểu rủi ro:

Tránh né rủi ro tức là tìm ra phương thức hành động khác không có dấuhiệu của bất cứ yếu tố nào có thể dấn tới rủi ro

Ngăn ngừa tổn thất được sử dụng để đưa ra các hành động làm giảm tổnthất hoặc giảm mức thiệt hại do tổn thất gây ra khi không thể né tránh được dù đãtìm mọi cách

Nhóm biện pháp tài trợ rủi ro Biện pháp tài trợ rủi ro gồm các biện phápchấp nhận rủi ro và bảo hiểm (Đây là các biện pháp phải được thực hiện trướckhi rủi ro xảy ra, nhằm mục đích giảm thiểu hậu quả tổn thất do rủi ro gây ra, nếucó)

Trang 6

+ Chấp nhận rủi ro, tức là người gặp rủi ro tự chấp nhận khoản tổn thất.Còn gọi là tự bảo hiểm Có hai hình thức chấp nhận rủi ro, gồm chấp nhận mộtcách chủ động và chấp nhận thụ động Hiệu quả của hai hình thức này không cao

do rơi vào tình huống thụ động, sử dụng không hiệu quả đồng vốn, hoặc sai lệchtrong tính toán lập quỹ dự phòng

+Bảo hiểm: bảo hiểm ngày nay đã trở thành một lựa chọn không thể thiếutrong hầu hết các chương trình quản lý rủi ro của các tổ chức cũng như các cánhân.Do nó khắc phục được hầu hết các nhược điểm của các biện pháp khác.Bảo hiểm chính là sự lựa chọn tối ưu của các chương trình quản lý rủi ro Rủi rođược chuyển giao từ người tham gia bảo hiểm sang nhà bảo hiểm Người thamgia bảo hiểm nhận được sự tư vấn cho các chương trình kiểm soát rủi ro và đềphòng hạn chế tổn thất, nhận được khoản tiền bồi thường nhanh chóng, đủ, kịpthời khi sự kiện bảo hiểm xảy ra

Ngày nay, với những lợi ích thiết thực của bảo hiểm đối với mọi thànhviên, đơn vị tham gia bảo hiểm, khái niệm bảo hiểm đã trở nên ngày một gắn bó

và gần gũi với con người, với các đơn vị sản xuất kinh doanh

1.1.2 Lịch sử ra đời và phát triển của bảo hiểm.

Như tất cả các ngành khác, bảo hiểm ra đời do nhu cầu khách quan củađời sống kinh tế xã hội đòi hỏi Đó là nhu cầu được bảo vệ, giúp đỡ, chia sẻ hoạnnạn khi rủi ro, tổn thất xảy ra như đã trình bày trên đây

Bảo hiểm có nguồn gốc rất xa xưa trong lịch sử nền văn minh nhân loại

mà thậm chí cho đến bây giờ người ta vẫn chưa xác định được bảo hiểm xuấthiện khi nào Từ thời nguyên thuỷ loài người sống bằng nghề săn bắn, họ đã biết

dự trữ những gì săn bắt được Đến một giai đoạn phát triển hơn, trong nhữngcộng đồng dân cư nhỏ, hoặc trong một gia đình, nhóm gia đình đã hình thànhmột khối lượng lương thực dự trữ nhất định, được dùng tương trợ lẫn nhau khimùa màng thất bát Đây là hình thức sơ khai của bảo hiểm

Đến thế kỷ XV, khi châu Âu thực hiện những chuyến khai phá tới Châu

Á và Châu Mỹ, mở đường cho cuộc cách mạngg thương mại, ý tưởng về thànhlập một quỹ chung để đối phó với rủi ro đã hình thành khá rõ ràng Việc tìm ra

Trang 7

châu lục mới, vùng đất mới, tạo ra hoạt động thương mại giữa những nơi nàyphát triển ngày một nhanh chóng Đặc biệt là hình thức vận chuyển bằng đườngbiển Theo dó, bảo hiểm, nhất là bảo hiểm hàng hải cũng phát triển theo Bởi lẽ,những người chủ hàng, những người bỏ vốn đầu tư vào những chuyến đi mạohiểm đó nhận thấy cần phải chia sẻ những rủi ro để tránh tình trạng một số nhàđầu tư bị mất trắng khoản đầu tư của mình do những con tàu gặp nạn trên biển,hoặc bị biến mất một cách bí ẩn Để đáp ứng nhu cầu này, nhu cầu chia nhỏ tổnthất, người ta đã có hai phương án Cách thứ nhất là thành lập một liên doanh cóvốn cổ phần, theo đó, một nhóm đầu tư cùng đầu tư vào một đội thuyền chở hàngchung, cùng chia sẻ rủi ro khi tổn thất và phân chia lợi nhuận mà liên doanh thuđược (Phuơng án này rất gần với hình thức các chủ hàng trên con đường tơ lụanổi tiếng đã chia nhỏ hàng hoá của mình thành hàng trăm phần nhỏ, mỗi lạc đà

sẽ chở một lượng hàng mà trong đó bao gồm nhiều phần hàng hoá của các chủhàng khác nhau Lạc đà nào bị cướp, tổn thất được chia đều cho các chủ hàng,mỗi người tổn thất một phần nhỏ trong tổng số hàng.) Cách thứ hai là bảo hiểm,theo cách này các nhà buôn và các chủ tàu thuyền chấp nhận trả một khoản tiềnnhất định cho một cá nhân hay tổ chức, người mà đảm bảo rằng nếu hàng hoáhoặc tàu thuyền của họ bị tổn thất do một số nguyên nhân nhất định nào đó họ sẽđược trả một khoản tiền để bù đắp thiệt hại xảy ra

Bảo hiểm hàng hải là lĩnh vực ra đời sớm nhất Năm 1347, hợp đồng bảohiểm hàng hải đầu tiên được phát hành tại Genoa-Ý Năm 1424, công ty bảohiểm đầu tiên, Marietime Insurance Company ra đời Năm 1583, xuất hiện hợpđồng bảo hiểm, mà cho đến nay được coi là cổ xưa nhất Năm 1667, sau vụ cháykhủng khiếp tại London, làm hơn 13000 ngôi nhà bị cháy, hàng nghìn người thiệtmạng vào năm 1666, công ty bảo hiểm hoả hoạn đầu tiên trên thế giới có tên

“Fire Office” hoạt động tại Anh Sau bảo hiểm hoả hoạn là các quỹ bảo hiểmnhân thọ cũng xuất hiện từ nhu cầu của cuộc sống, nhu cầu được chăm lo chotương lai

Từ cuối thế ký 19, cuộc đại cách mạng khoa học kỹ thuật trên toàn thếgiới diễn ra sôi động, mang lại nhiều thành tựu, làm xuất hiện nhiều ngành nghề

Trang 8

kinh doanh mới Cùng với đó là sự gia tăng nhanh chóng các rủi ro có nguyênnhân xuất phát từ nhóm rủi ro do biến động của khoa học công nghệ Đây là điềukiện thuận lợi đẩy mạnh sự phát triển bảo hiểm với những sản phẩm như bảohiểm ôtô, máy bay, xây dựng lắp đặt

Sự ra đời và phát triển của bảo hiểm là một sự đáp ứng đòi hỏi kháchquan của cuộc sống đối với những biến động về tài chính do các sự cố bất ngờgây ra Tham gia bảo hiểm tạo điều kiện khôi phục nhanh chóng thiệt hại, gópphần sớm ổn định cuộc sống và sản xuất Ngành bảo hiểm tại tất cả các quốc giatrên thế giới đóng vai trò không thể thay thế trong các trung gian tài chính, gópmột phần lớn vào sự vững mạnh của thị trường tài chính và sự ổn định của nềnkinh tế quốc dân

1.1.3 Chức năng, vai trò, tác dụng của bảo hiểm

Mục đích của bảo hiểm: là đem lại sự an tâm, an toàn về mặt tài chính

cho người tham gia bảo hiểm trước những rủi ro có thể xảy ra

Chức năng của bảo hiểm :xây dựng quỹ tài chính an toàn, tăng trưởng ổn

định, bồi thường đúng đủ, kịp thời

Vai trò của bảo hiểm :được biết đến một cách tổng quát nhất, như là một

công cụ an toàn thực hiện chức năng bảo vệ con người, bảo vệ tài sản cho xã hội

Cụ thể:

 Đối với từng người dân: Bảo hiểm đảm bảo về mặt tài chính nhằmkhắc phục hậu quả bất ngờ khi gặp phải rủi ro liên quan đến tính mạng, tìnhtrạng sức khoẻ và tài sản mà họ sở hữu

 Đối với các doanh nghiệp: Tham gia bảo hiểm là chuyển giao rủi ro,

ổn định sản xuất, nhanh chóng khắc phục hậu quả khi rủi ro xảy ra bằng STBT

 Đối với ngân hàng thương mại: Bảo hiểm là nhà đầu tư lớn, sử dụngnhiều dịch vụ tín dụng, và đưa lại nhiều hợp đồng tín dụng không cần bảo lãnhcủa ngân hàng

 Đối với hoạt động sản xuất nông nghiệp: hỗ trợ đắc lực cho nhà nôngkhôi phục sản xuất khi gặp rủi ro, thiên tai, đảm bảo cho sản xuất và lưu thônghàng hoá nông nghiệp không bị ngưng trệ gián đoạn

Trang 9

 Hoạt động bảo hiểm phát triển còn góp phần cải thiện môi trườngđầu tư, giảm thiểu rủi ro trong đầu tư tạo ra môi trường thuận lợi cho việc hợptác kinh tế, kỹ thuật, thương mại và thu hút vốn đầu tư nước ngoài Mặt kháchoạt động bảo hiểm còn mang về cho kinh té quốc dân một khoản ngoại tệ đángkể.

 Bảo hiểm là nhà tư vấn quản trị rủi ro hàng đầu trong xã hội Doanhnghiệp bảo hiểm vì lợi ích của bản thân, xã hội, người tham gia bảo hiểm coitrọng xây dựng các công trình đề phòng hạn chế tổn thất

 Thị trường bảo hiểm:, Là một trung gian tài chính bên cạnh ngânhàng, thị trường chứng khoán

Tác dụng của bảo hiểm: Bảo hiểm có rất nhiều tác dụng khác nhau:

 Dàn trải tổn thất (phân tán rủi ro

 Bảo vệ: Tham gia bảo hiểm là bảo vệ cho tính mạng tình trạng sứckhoẻ và tài sản trước nguy cơ xảy ra tổn thất

 Đề phòng hạn chế tổn thất

 Ổn định đời sống sản xuất kinh của người được bảo hiểm

 Tạo sự an tâm về mặt tinh thần cho người tham gia bảo hiểm

 Kích thích tiết kiệm

 Đầu tư phát triển kinh tế

 Đẩy mạnh tín dụng

 Tạo công ăn việc làm cho người lao động

Với những lợi ích kể trên, bảo hiểm đã ra đời từ rất lâu và ngày càng pháttriển

1.1.4 Nguyên tắc hoạt động của bảo hiểm.

Hoạt động bảo hiểm thương mại phải tuân thủ theo các nguyên tắc chungsau đây:

Nguyên tắc 1: Phải tuân theo luật hợp đồng

Hợp đồng là căn cứ pháp lý để giải quyết những vấn đề pháp lý vềsau.Các hợp đồng bảo hiểm nhất thiết phải là các văn bản pháp lý thể hiện nhữngquy định cơ bản của luật pháp

Trang 10

Nguyên tắc 2: Lựa chọn rủi ro.

Nhà bảo hiểm được lựa chọn các rủi ro được bảo hiểm, chỉ rủi ro không

ai lường trước được mới được chấp nhận Thậm chí với những rủi ro bất ngờnhà bảo hiểm cũng có thể từ chối bảo hiểm hay chỉ chấp nhận một hay một số rủi

ro trong đó để tiến hành bảo hiểm

Nguyên tắc 2: Nguyên tắc phân tán rủi ro

Sau khi chấp nhận rủi ro của bên tham gia bảo hiểm, đến lượt mình, nhàbảo hiểm cũng có thể gặp phải rủi ro và rất dễ dẫn đến tình trạng phá sản Đểtránh phá sản, đảm bảo hoạt động kinh doanh, nhà bảo hiểm phải tiến hành phântán rủi ro hai cách:

+ Đồng bảo hiểm

+Tái bảo hiểm

Nguyên tắc 3: Nguyên tắc có quyền lợi có thể được bảo hiểm đối vớingười mua bảo hiểm

Quyền lợi được bảo hiểm tức là chủ thể tham gia mua bảo hiểm phảichứng minh được mối liên hệ đối với đối tượng được bảo hiểm Thông thường,quyền lợi được bảo hiểm liên quan tới tài sản, trách nhiệm, con người

Nguyên tắc 4: Số đông bù số ít

Chỉ có số đông người tham gia bảo hiểm thì mới có cơ sở hình thànhquỹ bảo hiểm đủ lớn, rủi ro mới thực sự được san sẻ …

Nguyên tắc 5: Nguyên tắc tín nhiệm tuyệt đối

Khách hàng và nhà bảo hiểm tin tưởng tuyệt đối vào sự trung thực củahai bên trong cung cấp thông tin liên quan đến hợp đồng bảo hiểm

Nguyên tắc 6: Nguyên tắc bồi thường

Được áp dụng trong các hợp đồng bảo hiểm tài sản, trách nhiệm Theo

đó, số tiền bồi thường không thể lớn hơn quyền lợi bảo hiểm mà họ có

Nguyên tắc thế quyền:

Tránh trường hợp người gây thiệt hại không thể tiến hành bồi thường chongười bị hại, và trường hợp số tiền bồi thường nhận được của người đựơc bảohiểm lớn hơn tổn thất thực tế, người ta áp dụng nguyên tắc này Nhà bảo hiểm

Trang 11

được phép thế quyền (thay quyền) người được bảo hiểm đòi tổn thất thuộc phầntrách nhiệm của người gây thiệt hại.

Nguyên tắc 8: Đóng góp bồi thường Trong trường hợp, một tổn thấtđược bảo hiểm bằng nhiều đơn bảo hiểm, bảo hiểm trùng, các doanh nghiệp cùngtham gia bảo hiểm có nghĩa vụ đóng góp bồi thường khi tài sản bị tổn thất

Nguyên tắc 9: Nguyên nhân trực tiếp, được hiểu là nguyên nhân đủ mạnh

và có tác dụng làm chuyển động cả một chuỗi sự kiện dẫn đến một kết quả màkhông cần có sự can thiệp cuả bất kỳ một lực nào khác phát sinh và phát huy tácdụng từ một nguồn độc lập nào khác Nguyên nhân trực tiếp không nhất thiết lànguyên nhân đầu tiên hay cuối cùng, nhưng nó phải là nguyên nhân chủ yếu

1.1.5 Phân loại bảo hiểm.:

1.1.5.1 Theo đối tượng bảo hiểm:

+Bảo hiểm xã hội

+Bảo hiểm y tế

+Bảo hiểm thất nghiệp

+ Bảo hiểm thương mại

1.1.5.2 Theo tính chất rủi ro hoặc theo luật kinh doanh bảo hiểm:

+Bảo hiểm nhân thọ

+Bảo hiểm phi nhân thọ

(Bảo hiểm cháy nổ nằm trong mảng bảo hiểm phi nhân thọ, là loại nghiệp

vụ bảo hiểm tài sản, trách nhiệm dân sự và các nghiệp vụ bảo hiểm con ngườiphi nhân thọ)

.1.1.5.3 Theo kỹ thuật quản lý quỹ tài chính:

+Bảo hiểm quản lý theo kỹ thuật phân chia

+Bảo hiểm quản lý theo kỹ thuật tồn tích

Cách phân chia thứ hai, sử dụng phổ biến hơn cả

1.2 TỔNG QUAN VỀ BẢO HIỂM CHÁY NỔ.

1.2.1 Cháy và sự cần thiết của bảo hiểm cháy.

Có rất nhiều khái niệm khác nhau về bảo hiểm cháy, tuy nhiên theo luậtPCCC hiện nay cháy được hiểu là trường hợp xảy ra cháy không kiểm soát được

Trang 12

có thể gây thiệt hại về người, tài sản và ảnh hưởng môi trường.( Điều 3-LuậtPCCC)

Theo số liệu thống kê, hàng năm trên thế giới có khoảng 5 triệu vụ cháylớn, nhỏ gây thiệt hại hàng trăm tỷ đôla Các vụ cháy không chỉ xảy ra ở cácnước có nền kinh tế chậm phát triển mà còn xảy ra ở các nước có nền kinh tếphát triển như Anh, Pháp, Mỹ nơi mà nền khoa học, công nghệ đã đạt đến đỉnhcao của sự hiện đại và an toàn thì cháy vẫn xảy ra ngày một tăng cả về số lượng

và mức độ nghiêm trọng Mỹ môĩ năm có khoảng 2.4 triêụ vụ cháy, làm chếttrên 300 000 người và thiệt hại 1.8 tỷ đôla Ở Viêt Nam xảy ra rất nhiều vụ cháykhác nhau, Giá trị thiệt hại lớn, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống ngườidân cũng như tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

Cho đến thời điểm năm 2007, tình hình cháy nổ tại Việt Nam được thống

kê như sau:

Năm 1962-1991: Tổng số vụ cháy xảy ra là 566 036 vụ cháy, thiệt hại vậtchất 948 tỷ đồng, làm chết 2574 người, các vụ cháy lớn ngày một gia tăng

Năm 1990: Số vụ cháy đã xảy ra là 902 vụ, làm chết và bị thương 380người, thiệt hại 11,5 tỷ đồng

Năm 1992-1993 tổng số vụ cháy là 1710 vụ, làm chết 213 người, bịthương 348 người, thiệt hại 114, 76 tỷ đồng

Từ năm 1996 đến 2003, tổng số vụ cháy xảy ra là 8015 vụ, bình quân

1003 vụ mỗi năm, thiệt hại trên 1000 tỷ đồng, cháy lớn chiếm 2.47% tổng số vụcháy nhưng thiệt hại lại chiếm tới 67.25% tổng thiệt hại Thiệt hại về tài sản giaiđoạn này, tăng gấp 20 lần so với cả giai đoạn 1986 đến 1995 Trong số các vụcháy, phần lớn xảy ra ở đô thị, đến 62% Về đối tượng gây cháy, 70,1% xuấtphát từ thành phần kinh tế tư nhân, và nhà dân

Ngày 14-7-1994: Vụ cháy chợ đồng Xuân Hà Nội, thiệt hại 14 tỷ đồng ,

2364 hộ kinh doanh bị thiệt hại

Ngày 26-06-1996: Cháy kho xăng dầu 131 Thuỷ Nguyên, thiệt hại 31 tỷđồng

Ngày 18-11-1996: Cháy công ty giầy Đồng Nai, thiệt hại 12 tỷ đồng

Trang 13

Năm 2001, vụ cháy tại Vising Pack thiệt hại trên 1,4 triệu $.

Ngày 29-10-2002: Cháy lớn tại trung tâm thương mại ITC Thành phố HồChí Minh làm chết 60 người, trên 100 người bị thương, thiẹt hại 1,1 tỷ đồng chotoà nhà và 100 tỷ đồng cho các tài sản khác

01-04-2003: Cháy ở Interfood, thiệt haị 70 tỷ đồng

03-03-04: Chaý ở nhà máy giày Pouyuen, thiệt hại 9000 m² nhà xưởng,thiệt hại trên 4,4 triệu $

Năm 2005, tại Thành phố Hồ Chí Minh, xảy ra 270 vụ, giảm 92 vụ( 35%) so với năm 2004 Tổng thiệt hại về tài sản ước tính khoảng 21 tỷ 248triệu đồng, làm chết 13 người, bị thương 50 người

Ngày 29/12/2006 Tại Thành phố Qui Nhơn, xảy ra vụ cháy chợ QuiNhơn, thiệt hại 120 tỷ đ

Năm 2006, cả nước xảy ra 1648 vụ cháy cơ sở sản xuất kinh doanh vànhà dân, làm chết 53 người, bị thương 154 người

Riêng tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh, hai trung tâm kinh tế quantrọng nhất nước, xảy ra tình trạng cháy nổ nhiều nhất nước Theo thống kê củaphòng PCCC, riêng thành phố Hồ Chí Minh năm 2004 đã xảy ra 293 vụ cháy,làm chết 11 người, thiệt hại tài sản 58,7 tỷ đồng Số vụ cháy xảy ra trên toànthành phố gia tăng 24 vụ, thêm 3 người chết, 11 ngưòi bị thương và thiệt hạihàng tỷ đồng so với 2003 Năm 2007, những tháng đầu năm ,từ tháng 1 đếntháng 3, tại Hà Nội xảy ra 49 vụ cháy Tại thành phố Hồ Chí Minh, chỉ riêngtháng 3/2007 cũng xảy ra 49 vụ cháy,làm chết 3 người và thiệt hại 9,8 tỷ đồng

Có thể thấy rằng cháy có thể xảy ra bất cứ lúc nào, bất cứ ở đâu, với bất

cứ ai, dù đã có ý thức PCCC nhưng vẫn không thể xoá bỏ hoàn toàn nguy cơcháy nổ và tổn thất do cháy gây ra thường rất lớn, có khi mang tính chất thảmhoạ

Hoả hoạn là vấn đề nhức nhối của xã hội, và là một trong những rủi rodiễn ra khá phổ biến ở tất cả các nước trên thế giới, Hậu quả thường rất rất lớn(cả tài sản và con người, và việc gián đoạn kinh doanh); đồng thời ảnh hưởngnghiêm trọng đến môi trường sống Tại Indonesia, mỗi năm các vụ cháy rừng tạo

Trang 14

ra 1400 triệu tấn Cácbonđioxit (CO2); Hà Lan là 80 triệu tấn Các vụ cháy rừng

ở Indonesia là một vấn đề to lớn, thời gian gần đây, các vụ cháy ngày càng tăngthêm Hậu quả từ những vụ cháy là khói bụi được tạo ra từ đó phủ xuống cả mộtvùng dân cư rộng lớn, có khi tới hàng tuần lễ, khiến cho người, động vật, câytrồng đều không có khí thở Mặc dù tất cả các nước trên thế giới đều rất coitrọng công tác phòng cháy chữa cháy, tuy nhiên hoả hoạn vẫn xảy ra

Để đối phó với cháy, con người đã sử dụng rất nhiều biện pháp khácnhau như các biện pháp PCCC, đào tạo nâng cao trình độ kiến thức và ý thức,thông tin tuyên truyền về PCCC Tuy nhiên để đối phó với hậu quả do cháy gây

ra thì bảo hiểm được coi là biện pháp hữu hiệu nhất Do trước khi ký kết hợpđồng bảo hiểm, nhà bảo hiểm đã tiến hành đánh giá rủi ro, dù hợp đồng có được

kí kết hay không thì đây cũng vẫn là lời cảnh báo đối với các chủ tài sản Khitham gia bảo hiểm hoả hoạn, vì lợi ích trực tiếp của mình, nhà bảo hiểm luônluôn phối hợp với chủ tài sản để tư vấn cho họ về công tác PCCC, về an toàn vệsinh lao động, về phương án PCCC, thậm chí phối hợp với lực lượng PCCC đểphối hợp tập dượt các phương án đối phó khi hoả hoạn xảy ra Chính vì vậy, làmcho tất cả các bên đều có ý thức về PCCC và luôn sẵn sàng PCCC Hơn nữa, nếutham gia bảo hiểm, nhà bảo hiểm luôn luôn phân công, cử cán bộ thường xuyêntheo dõi công tác này, điều này làm công tác đề phòng hạn chế tổn thất rất hiệuquả Nếu không may hoả hoạn xảy ra, nhà bảo hiểm sẽ có biện pháp bồi thườngkịp thời để giúp chủ tài sản nhanh chóng ổn định hoạt động sản xuất kinh doanh,khắc phục kịp thời việc gián đoạn kinh doanh Chính vì những lý do nêu trênđây, bảo hiểm cháy ra đời là sự cần thiết khách quan đối với mỗi nền kinh tế trênthế giới cũng như đối với mỗi ngành, mỗi cơ quan, mỗi doanh nghiệp…

Tác dụng của bảo hiểm cháy cũng là một trong những nhân tố giải thích

về sự cần thiết của bảo hiểm cháy

Lịch sử ra đời của bảo hiểm cháy là một minh chứng rõ nét cho tác dụngcủa nó Vào thời kỳ Trung đại, Phục hưng, ở châu Âu vẫn chưa có hệ thốngphòng cháy chữa cháy hữu hiệu Khi cháy xảy ra, người bị hại thường dựa vào

sự giúp đỡ của phường hội Phải đến năm 1666, sau vụ cháy lớn ở Luân Đôn kéo

Trang 15

dài trong nhiều ngày, người ta mới ý thức được tầm quan trọng của việc thiết lập

hệ thống PCCC và bồi thường cho người bị thiệt hại.Năm 1667 ở Anh xuất hiệnmột số văn phòng cung cấp dịch vụ phòng cháy chữa cháy và bảo hiểm cháy.Năm 1864 công ty bảo hiểm cháy đầu tiên (công ty Friendly Society) ra đời, hoạtđộng trên nguyên tắc tương hỗ, sau đó hàng loạt các công ty bảo hiểm cháy khácđược thành lập và dần lan rộng sang các nước káhc trên lục địa châu Âu Ngàynay, nghiệp vụ bảo hiểm cháy được tiến hành ở hầu hết các nước trên thế giới vàngày càng phát triển

Khi bảo hiểm cháy đi vào hoạt động tại các quốc gia, người ta nhận thấynhững tác động tích cực của nó đến đời sống kinh tế, xã hội của người dân nhưsau:

 Tích cực góp phần đề phòng, hạn chế hiện tượng cháy nổ xảy ra trong

xã hội, từ đó góp phần đảm bảo an toàn xã hội

 Giúp người dân nâng cao tinh thần ý thức PCCC

 Trực tiếp góp phần giúp các cơ quan, doanh nghiệp nhà máy ổn địnhsản xuất kinh doanh, làm cho quá trình kinh doanh diễn ra liên tục

 Nghiệp vụ này ra đời đã giúp các công ty bảo hiểm nhân thọ trên thếgiới tăng doanh thu, lợi nhuận, đồng thời tạo thêm công ăn việc làm cho xã hội

Ở Việt Nam, nghiệp vụ bảo hiểm cháy được triển khai từ cuối năm 1989.Qua một số năm thực hiện nghiệp vụ này ngày càng phát triển Năm 2000 doanhthu phí bảo hiểm cháy đạt 16200000 USD (khoảng 259 200 triệu đồng), đến năm

2006 đạt 517 tỷ đồng, chiếm 6.36 % tổng doanh thu phí tất cả các nghiệp vụ.,đứng sau nghiệp vụ bảo hiểm xe cơ giới chiếm 34,73%, nghiệp vụ sức khoẻ vàtai nạn con người chiếm 14.6234%, và nghiệp vụ bảo hiểm tài sản và thiệt hạichiếm 19.1494% Tốc độ tăng trưởng của nghiệp vụ bảo hiểm cháy nổ năm 2006

là 10.6%, đứng thứ 4 sau nghiệp vụ bảo hiểm Bảo hiểm tài sản và thiệt hại(35.2%), bảo hiểm con người (14.5%), bảo hiểm hàng hoá vận chuyển nội địa(19.8%) và đứng trước các nghiệp vụ khác như bảo hiểm hàng không (5%),bảo hiểm sức khoẻ con người (15%), bảo hiểm xe cơ giới (6.9%) Như vậy mức

Trang 16

độ tăng trưởng của bảo hiểm cháy năm qua vẫn chưa phản ánh đúng tiềm năngcủa nó

1.2.2 Những nội dung cơ bản của bảo hiểm cháy.

1.2.2.1 Đặc điểm của rủi ro hoả hoạn.

Rủi ro hoả hoạn có đặc điểm:

-Xảy ra ở bất cứ lúc nào, ở đâu mà không ai lường trước được (dù đã cóbiện pháp đề phòng) Theo thống kê trên thế giới, nguyên nhân chủ yếu do chậpđiện, do sự bất cẩn của con người, do thời tiết và do khí hậu…Trong đó

-Hậu quả, thiệt hại do hoả hoạn gây ra là rất lớn, đôi khi mang tính chấtthảm hoạ Cháy trên diện rộng làm rất nhiều tài sản bị thiêu huỷ, người chết và bịthương

-Hoả hoạn vẫn có thể khống chế được, vẫn có thể đề phòng và hạn chếtổn thất nếu các tổ chức, cá nhân có ý thức phối hợp với nhau để chống lại sựhoành hành của ngọn lửa

-Hoả hoạn xảy ra thường liên quan đến cả những thiệt hại cuả bên thứba.Nhất là tại các thành phố có mật độ dân cư và cơ sở, doanh nghiệp lớn Kèmtheo cháy, người ta thường thấy khói đen, và thậm chí sự đổ sụp của các vật liệuxây dựng nhà cửa gây ra ảnh hưởng tới tài sản, con người xung quanh

-Đối với các đơn vị sản xuất kinh doanh, khi hoả hoạn xảy ra, thường làmgián đoạn kinh doanh và làm thiệt hại rất lớn thu nhập kinh doanh

1.2.2.2 Đối tượng của bảo hiểm cháy.

-Là tất cả các loại tài sản thuộc quyền sở hữu, hoặc quản lý hợp pháp củacác đơn vị, tổ chức cá nhân thuộc mọi thành phần kinh tế trong xã hội Tuy nhiên

để giúp cho việc tính phí bảo hiểm được chính xác, công tác bồi thường đượcnhanh chóng, đồng thời để giúp người tham gia bảo hiểm nhận biết một cách rõràng thực trạng tài sản tham gia bảo hiểm hoả hoạn của mình, nhà bảo hiểm chiađối tượng bảo hiểm như sau:

 Công trình xây dựng, vật kiến trúc đã đưa vào sử dụng (trừ đất đai

 Máy móc thiết bị, phương tiện lao động phục vụ sản xuất kinh doanh

 Vật tư hàng hoá, nguyên nhiên vật liệu dự trữ trong kho

Trang 17

 Nguyên nhiên vật liệu, sản phẩm dở dang, thành phẩm đang trong dâytruỳên sản xuất.

 Các loại tài sản khác như: Kho, bãi ,chợ, nhà hàng, khách sạn, câyxăng…

1.2.2.3 Phạm vi bảo hiểm cháy.

Là giới hạn các rủi ro được bảo hiểm, giới hạn trách nhiệm của các nhàbảo hiểm Nhìn chung, các công ty bảo hiểm trên thế giới đều giới hạn tráchnhiệm bồi thường của mình ở các loại thiệt hậi và chi phí sau:

 Thiệt hại do rủi ro được bảo hiểm gây ra

 Chi phí cần thiết và hợp lý để hạn chế bớt tổn thất về tài sản trong vàsau khi cháy

 Chi phí dọn dẹp hiện trường sau khi cháy

Tuy nhiên để phạm vi bảo hiểm thể hiện rõ trong các qui tắc bảo hiểm,nhà bảo hiểm luôn luôn đưa ra hai loại rủi ro đựơc bảo hiểm bao gồm:

Thứ nhất: Rủi ro hoả hoạn (rủi ro chính hay rủi ro cơ bản, hoặc rủi ro nhóm A):

Rủi ro này thực chất gồm ba phần, cháy, sét và nổ

- Cháy được bảo hiểm phải được hội tụ đủ 3 yếu tố:

Khi có đủ 3 điều kiện đó và có thiệt hại về vật chất do những nguyênnhân được cho là hợp lý gây ra, những thiệt hại đó sẽ được bồi thường cho dù đó

là do bị cháy hay do nhiệt hoặc khói gây ra

-Sét: Người được bảo hiểm sẽ được bồi thường khi tài sản bị phá huỷ trựctiếp do sét hoặc sét đánh gây ra cháy Nếu sét đánh mà không phát lửa hoặc

Trang 18

không phá huỷ trực tiếp tài sản thì không thuộc phạm vi trách nhiệm bồi thường.Cần lưu ý, sét đánh phá huỷ trực tiếp các thiết bị điện tử thì được bồi thường, cònsét đánh làm thay đổi dòng điện dẫn đến thiệt hại cho thiết bị điện thử htì khôngđược bồi thường.

-Nổ: Nổ trong rủi ro, phạm vi bảo hiểm bao gồm:

+Nồi hơi phục vụ sinh hoạt

+Hơi đốt phục vụ sinh hoạt, thắp sáng hoặc sưởi ấm trong một ngôi nhàkhông phải nhà xưởng làm các công việc sử dụng hơi đốt

+Các trường hợp nổ gây ra hoả hoạn đã nghiễm nhiên được bảo hiểm.Như vậy ở đây chỉ còn lại những thiệt hại do nổ mà không gây cháy

Những trường hợp liên quan tới nổ dưới đây không cần chú ý khi tiếnhành bồi thường trong hợp đồng bảo hiểm cháy, nổ:

 Tổn thất hoặc thiệt hại do nổ nhưng không gây cháy thì không đượcbồi thường, trừ trường hợp nổ nồi hơi hoặc khí phục vụ sinh hoạt, với điều kiện

là sự nổ đó không phải do các nguyên nhân loại trừ

 Tổn thất hoặc thiệt hại do cháy xuất phát từ nổ thì được bồi thường,với điều kiện là sự nổ đó không phải là do các nguyên nhân bị loại trừ

 Tổn thất hoặc thiệt hại do nổ xuất phát từ cháy: Thiệt hại ban đầu docháy được bồi thường nhưng những tổn thất do hậu quả của nổ thì không

Bên cạnh rủi ro chính thì có các rủi ro phụ Các rủi ro này chỉ có thể được bảohiểm khi đi kèm theo rủi ro chính, tuỳ thuộc vào quyết định của người tham giabảo hiểm Các rủi ro phụ bao gồm: máy bay và các phương tiện hàng khôngkhác hoặc thiết bị trên các phương tiện đó rơi vào, nổi loạn, bạo động dân sự,đình công, bể xưởng, động đất, lửa ngầm dưới đất, giông bão, hệ thống chữacháy rò rỉ nước…

Trong các nghiệp vụ bảo hiểm, đều có những rủi ro loại trừ Trên thực tế

có những rủi ro không thể bảo hiểm được Vì thế, trong bảo hiểm cháy, các loạitrừ được áp dụng như sau:

Trang 19

-Tổn thất do hành động cố ý hoặc đồng loã của người được bảo hiểm gâyra.

-Những tổn thất về:

+ Hàng hoá nhận uỷ hay ký gửi trừ khi những hàng hoá đó được xácnhận trong giấy chứng nhận bảo hiểm là được bảo hiểm, và người được bảo hiểmtrả thêm phí theo tỷ lệ phí qui định

+ Tiền bạc, hàng, kim loại, đã quý, chứng khoán, tem phiếu, thư bảo lãnh,bản vẽ thiết kế, số sách kinh doanh, tài liệu lưu trữ trong máy tính điện tử, bảnmẫu, văn bằng, khuôn mẫu, bản vẽ, tài liệu thiết kế trừ khi những hạng mục nàyđược xác nhận trong giấy chứng nhận bảo hiểm là được bảo hiểm…

+ Chất nổ nhưng không bao gồm nhiên liệu xăng dầu

+ Người, động vật và thực vật sống

+ Những tài sản mà vào thời điểm xảy ra tổn thất được bảo hiểm theo đơnbảo hiểm Hàng hải, hoặc lẽ ra được bảo hiểm theo đơn bảo hiểm Hàng hải, trừphần thiệt hại vượt quá số tiền được bồi thường theo đơn bảo hiểm Hàng hảihoặc lẽ ra được bảo hiểm theo đơn bảo hiểm Hàng hải

+ Tài sản bị cướp hay bị mất cắp Trong trường hợp tài sản bị cướp, mấtcắp trong khi xảy ra hoả hoạn mà người được bảo hiểm không chứng mình được

là mất cắp thì vẫn được bồi thường

+Những thiệt hại mang tính chất hậu quả dưới bất kỳ hình thức nào, trừthiệt hại về tiền thuê nhà được xác nhận trong giấy chứng nhận bảo hiểm là đượcbảo hiểm

+ Những thiệt hại gây cho bên thứ ba

+ Những thiệt hại trong phạm vi mức miễn thường

1.2.2.4 Giá trị bảo hiểm và số tiền bảo hiểm.

Giá trị bảo hiểm (GTBH) là giá trị của tài sản được bảo hiểm Giá trị này là giá trị thực tế hoặc giá trị mua mới

Tài sản được bảo hiểm thường có giá trị rất lớn như: nhà cửa, công trình,máy móc thiết bị, phương tiện vận tải, hàng hoá, vật tư trong kho Có thể xácđịnh GTBH như sau:

Trang 20

-GTBH của các ngôi nhà (nhà xưởng, văn phòng, nhà ở) được xác địnhtheo giá trị mới hoặc giá trị còn lại.

+Giá trị mới là gía trị mới xây chảu ngôi nhà bao gồm cả chi phí khảo sátthiết kế

+Giá trị còn lại là giá trị mới trừ đi hao mòn sử dụng theo thời gian

-GTBH của máy móc thiết bị và các loại tài sản cố định khác được xácđịnh trên cơ sở giá mua mới (bao gồm cả chi phí vận chuyển, lắp đặt nếu có)hoặc giá trị còn lại

-GTBH của thành phẩm và bán thành phẩm được xác định trên cơ sở giáthành sản xuất

-GTBH của hàng hoá mua về để trong kho, cửa hàng được xác định theogiá mua cộng với chi phí vận chuyển

Số tiền bảo hiểm (STBH) là giới hạn bồi thường tối đa của người bảohiểm trong trường hợp tài sản được bảo hiểm bị tổn thất toàn bộ STBH còn làcăn cứ để xác định phí bảo hiểm Vì thế, xác định chính xác STBH có ý nghĩađặc biệt quan trọng Cơ sở xác định STBH là GTBH

Trong điều kiện hiện nay, quy mô sản xuất kinh doanh có xu hướng ngàycàng đựơc mở rộng do đó số lượng và giá trị tài sản cũng tăng lên Đối với cáctài sản cố định, việc xác định STBH căn cứ vào GTBH của tài sản Đối cới cáctài sản lưu động, giá trị thường xuyên biến động Vì vậy, STBH có thể xác địnhtheo giá trị trung bình hoặc giá trị tối đa

Nếu bảo hiểm theo gía trị trung bình, người được bảo hiểm ước tình vàthông báo cho công ty bảo hiểm biết gía trị số hàng hoá trung bình có trongkho, trong cửa hàng Trong thời gian bảo hiểm giá trị trung bình này được coi làSTBH

Khi tổn thất xảy ra thuộc phạm vi bảo hiểm, công ty bảo hiểm bồi thườngthiệt hại thực tế nhưng không vượt quá giá trị trung bình đã khai báo

Nếu bảo hiểm theo giá trị tối đa thì người được bảo hiểm ước tình vàthông báo cho công ty bảo hiểm biết giá trị số lượng hàng hóa tối đa có thể đạtvào một thời điểm nào đó trong thời gian bảo hiểm Phí bảo hiểm được tính trên

Trang 21

cơ sở gía trị tối đa và thường được thu trước 75% Khi tổn thất xảy ra thuộcphạm vi bảo hiểm, công ty bảo hiểm bồi thường thiệt hại thực tế nhưng khôngvượt quá gía trị tối đa đã khai báo Đầu mỗi tháng, mỗi quý (tuỳ theo sự thoảthuận của 2 bên), người được bảo hiểm thông báo cho công ty bảo hiểm số hàngtối đa thực có trong tháng, trong quý trước đó Cuối thời hạn bảo hiểm, trên cơ

sở các gía trị được thông báo, công ty bảo hiểm tính giá trị số hàng tối đa bìnhquân của cả thời hạn bảo hiểm và tính lại phí bảo hiểm Nếu phí tính được trên

cơ sở số giá trị tối đa bình quân nhiều hơn số phí bảo hiểm đã nộp thì người đượcbảo hiểm trả thêm cho công ty bảo hiểm số phí còn thiếu

Trong thời gian bảo hiểm, tổn thất thuộc phạm vi bảo hiểm được ngườibảo hiểm bồi thường và số tiền bồi thường (STBT) vượt quá giá trị tối đa bìnhquân thì phí bảo hiểm được tính dựa vào số tiền bồi thường đã trả Trong trườnghợp này số tiền được bồi thường được coi là STBH

Việc áp dụng bảo hiểm theo giá trị tối đa rất phức tạp, đòi hỏi người bảohiểm phải biết giá trị hàng hoá được bảo hiểm, theo dõi chặt chẽ số hàng hoá đótrong suốt thời gian hiểm Những tài sản có giá trị lớn công ty bảo hiểm khó cóthể tái bảo hiểm vì tính phí phức tạp và khó khặn

Ngược lại bảo hiểm theo giá trị trung bình lại đơn giản, dễ theo dõi Nếumột loại hàng hoá được bảo hiểm giá trị ít biến động trên thị trường áp dụngphương pháp này rất thuận tiện

1.2.2.5 Phí bảo hiểm cháy.

Phí vảo hiểm chính là giá cả của dịch vụ bảo hiểm Mức phí cao hay thấpphụ thuộc chủ yếu vào đối tượng được bảo hiểm, xác suất rủi ro cho đối tượngbảo hiểm trong một số năm trước đó

Phí bảo hiểm cháy được tính theo công thức:

Trang 22

Có rất nhiều yếu tố làm ảnh hưởng đến biểu phí vì đối tượng của bảohiểm cháy đa dạng về chủng loại, mức độ rủi ro Nếu một công ty có hệ thốngPCCC tốt không thể đóng một mức phí giống như một công ty khác có hệ thốngPCCC kém Bởi vậy không thể áp dụng cho một biểu phí cố định cho tất cả cácloại công trình, tài sản của những công ty có mức độ rủi ro khác nhau và việcphòng cháy khác nhau Thông thường các công ty bảo hiểm áp dụng các tỷ lệ phíkhác nhau cho tất cả ngành sản xuất kinh doanh, dịch vụ sau đó điều chỉnh tỷ lệphí theo các yếu tố tăng (giảm) phí Trên thực tế, một số yếu tố cơ bản sau ảnhhưởng đến biểu phí:

-Vật liệu xây dựng: Tuỳ theo các yếu tố kết hợp vật liệu xây dựng có thểchịu đựng được lâu dài hay không đối với sức nóng, người ta chia làm 3 loại:

+Vật liệu nặng khó bắt lửa và có khả năng chịu lửa tốt như bê tông, cốtthép, đá…loại này được sử dụng để xây dựng công trình loại D

+Vật liệu trung gian: Là vật liệu nhiều chất hoá học trộn với vật liệu thiênnhiên, khả năng chịu lửa không tốt bằng vật liệu nặng, loại này được sử dụng đểxây dựng công trình loại N

+Vật liệu nhẹ: Loại này dễ bắt lửa và không có sức chịu lửa, thường được

để xây dựng công trình loại L

-Ảnh hưởng của các tầng nhà: Khi xảy ra hoả hoạn, lửa hoặc hơi nóng sẽđược truyền lên qua các tầng nhà, qua các cầu thang lên xuống, qua lỗ hổng hoặcqua cửa sổ làm cho các tầng nhà có thể bị sập kéo các thiệt hại bên trong Do đó,sức chịu đựng của các tầng nhà cũng là một yếu tố ảnh hưởng đến phí bảo hiểm

- Phòng cháy, chữa cháy: Đây là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đếnviệc tính phí Công tác PCCC là một yếu tổ để điều chỉnh phí bảo hiểm Nếucôgn tác PCCC được trang bị tốt để hạn chế thấp nhất rủi ro xảy ra thì phí bảohiểm sẽ được tính thấp hơn Vị trí gần hay xa nguồn nước, đội cứu hoả…cũngảnh hưởng đến phí bảo hiểm

-Cách phân chia đơn vị rủi ro: Theo khoảng cách phân chia hoặc tườngchống cháy Các đơn vị rủi ro càng gần nhau, phí bảo hiểm càng cao và ngượclại

Trang 23

-Bao bì đóng gói, chủng loại hàng hoá, cách thức xếp đặt: Tuỳ từng loạihàng hoá, bao gói hay cách thức xếp đặt hàng hoá mà phí bảo hiểm phải căn cứvào đó mà xác định.

Tỷ lệ phí bảo hiểm cháy thường được chia làm 2 bộ phận: Tỷ lệ phí thuần

Khi xác định tỷ lệ phí thuần thường phải căn cứ vào só liệu thống kê

trong một số năm trước đó như: Tổng số đơn vị rủi ro tham gia bảo hiểm cháy;

số đơn vị rủi ro bị cháy; tổng số tiền bảo hiểm cháy; số tiền bồi thường bảo hiểm cháy…Đơn vị rủi ro trong bảo hiểm cháy được hiểu là nhóm tài sản tách biệt khỏi nhóm tài sản khác vói khoảng cách không cho phép ngọn lửa từ nhóm này lan sang nhóm khác (tuy nhiên khoảng cách gần nhất không dưới 12m)

Có 2 phương pháp xác định tỷ lệ phí thuần:

-Xác định theo phân loại, cụ thể là kết hợp các đơn vị rủi ro có thể sosánh được với nhau về cùng một loại, tính tỉ lệ cho mỗi loại, xem xét các yếu tốẩnh hưởng tới tỉ lệ phí (vật liệu xây dựng, công tác PCCC…)

-Xác định tho danh mục: tiến hành theo 3 bứơc:

Bước 1: Rà soát lại danh mục tài sản tham gia bảo hiểm sau đó tiến hànhphân loại theo các danh mục khác nhau,

Bứơc 2: Căn cứ vào ngành nghề sản xuất kinh doanh để cọn ra một tỷ lệphí thích hợp trong bảng tỷ lệ phí có sẵn

Bước 3: Điều chỉnh tỷ lệ phí theo các yếu tố tăng, giảm phí…Việc điềuchỉnh căn cứ vào các yếu tố như vật liệu xây dựng, PCCC…Tất cả những yếu tốnày đều có thể làm tăng hoặc giảm tỷ lệ phí Các công ty bảo hiểm thường quyđịnh như sau:

+Loại D: Giảm tối đa 10% phí bảo hiểm trong biểu phí

+Loại N: Giữ nguyên tỷ lệ phí

Trang 24

+Loại L: Tăng tối đa 10% phí bảo hiểm trong biểu phí.

Căn cứ vào các yếu tố đó, công ty bảo hiểm có cơ sở để quyết định kýhay không ký hợp đồng bảo hiểm cháy

Trong nghiệp vụ bảo hiểm cháy, công ty bảo hiểm cần phải quan tâm đếncác yếu tố làm giảm mức độ rủi ro vì những yếu tố này là cơ sở để giảm mức phí

cơ bản Tuy nhiên, tổng mức giảm phí về các thiết bị và phương tiện phòng cháy,chữa cháy của mỗi đơn vị rủi ro không quá 45% Các yếu tố làm tăng rủi rothường bao gồm:

 Thiết bị phòng cháy, chữa cháy;

 Việc trực, kiểm tra, canh gác;

 Thiết bị phương tiện chữa cháy như:

 Công trình có hệ thống phun nước;

 Có hệ thống dập cháy bằng CO2;

 Có hệ thống tự động dập cháy bằng CO2;

 Có ôtô chữa cháy và nhân viên chữa cháy;

 Gần đội cứu hoả công cộng

Khi xem xét việc tăng giảm phí, nhân viên bảo hiểm phải đi thực địa,xem xét một cách nghiêm túc, đặc biệt khi xem xét các yếu tố này cần hết sứckhách quan, sau đó hai bên thoả thuận với nhau trước khi ký hợp đồng

Tỷ lệ phụ phí: R2 được nhà bảo hiểm kế hoạch hoá từ trước, và duy nhấtchỉ phụ thuộc vào thời hạn bảo hiểm và công tác quản lý rủi ro sau khi ký kếthợp đồng Thông thường phí bảo hiểm thường rất lớn nên người tham gia bảohiểm có thể nộp phí một lần hoặc nhiều lần là do 2 bên thoả thuận

Trong nghiệp vụ này, còn áp dụng các mức miễn thường Tuỳ theo từngloại tài sản được bảo hiểm mà mức miễn thường được quy định khác nhau.Thông thường, trong bảo hiểm cháy áp dụng mức miễn thường có khấu trừ tốithiểu là 2% STBH nhưng không dưới 100 USD trên mỗi vụ tổn thất và tối đakhông quá 2.000 USD trên mỗi vụ tổn thất Đây là mức miễn thường bắt buộckhông được giảm phí Nếu người tham gia bảo hiểm muốn lựa chọn mức miễn

Trang 25

thường cao hơn để được giảm phí thì sẽ có thoả thuận riêng về mức miễn thường

và tỷ lệ giảm phí

1.2.2.6 Thời hạn bảo hiểm.

Thông thường thời hạn bảo hiểm là một năm và tính từ khi người thamgia bảo hiểm nộp phí cho đến thời điểm 16h ngày cuối cùng của thời hạn bảohiểm Sau khi kết thúc thời hạn bảo hiểm, người được bảo hiểm có thể đóng phítiếp và yêu cầu tái tục hợp đồng bảo hiểm

1.2.2.7 Giám định trong bảo hiểm cháy.

- Khi tài sản của người được bảo hiểm bị hoả hoạn, người tham gia phảikịp thời thông báo bằng văn bản, hoặc điện thoại, điện tín để cho nhà bảo hiểmđược biết Nội dung thông báo, ít nhất phải đảm bảo 3 nội dung sau:

 Địa điểm, thời gian xảy ra hoả hoạn

 Đối tượng thiệt hại

 Dự báo nguyên nhân gây ra hoả hoạn

Sau khi nhận được nội dung thông báo này, nhà bảo hiểm phải cử ngaynhân viên bảo hiểm hoặc người đại diện tới hiện trường để tổ chức công tác giámđịnh

- Giám định hoả hoạn là một công việc hết sức phức tạp đối với nhà bảohiểm vì tài sản tham gia bảo hiểm và tài sản bị tổn thất rất đa dạng, giá cả ở cácthời điểm khác nhau là rất khác nhau Hiện trường rất dễ bị xáo trộn, nhân chứngcủa các vụ hoả hoạn cũng như lời khai của nhân chứng cũng hết sức khác nhau

Chính vì vậy, giám định viên bảo hiểm hoả hoạn phải có nghiệp vụ, đượcđào tạo bài bản, đặc biệt khi giám định, tuỳ theo tính chất và đặc điểm của từngnghiệp vụ hoả hoạn, nhà bảo hiểm có thể mời thêm chính quyền địa phương,công an cùng tham gia giám định

Khi giám định cần chú ý các vấn đề:

 Thời điểm ban đầu xảy ra hoả hoạn và thời điểm kết thúc hoả hoạn

 Nguyên nhân gây hoả hoạn

 Thống kê lại tài sản đã bị thiệt hại

 Lấy lời khai của các nhân chứng có liên quan

Trang 26

 Xem xét lại toàn bộ công tác PCCC và ngăn ngừa thiệt hại suốt thờigian xảy ra hoả hoạn.

Sau đó lập biên bản giám định tại hiện trường Biên bản này, có thể có rấtnhiều chữ ký của các bên tham gia giám định và chứng kiến Ví dụ cơ quan điềutra, cơ quan công an, thuế vụ, PCCC, kiểm toán…

Căn cứ vào biên bản giám định, công ty bảo hiểm dự trù số tiền bồithường một lần hay nhiều lần cho người tham gia bảo hiểm

Cách 1: Bồi thường theo qui tắc tỷ lệ số tiền bảo hiểm

Mục đích của bồi thường theo tỷ lệ số tiền bảo hiểm là tránh cho công tybảo hiểm phải chịu những phiền toái về khiếu nại đồng thời ngăn ngừa ngườitham gia bảo hiểm lợi dụng bảo hiểm Theo cách này, việc bồi thường được quiđịnh:

+ Nếu thời điểm xảy ra tổn thất mà STBH nhỏ hơn giá trị thực tế của tàisản được bảo hiểm thì:

STBT =Giá trị tổn thất thực tế x STBH Giá trị bảo hiểm

+Trường hợp STBH bằng GTBH của tài sản tại thời điểm xảy ra tổn thấtthì STBH ngang bằng với giá trị tổn thất thực tế

+ Nếu tại thời điểm xảy ra tổn thất mà giá trị thực tế của tài sản trên thịtrường lớn hơn giá trị của tài sản khi tham gia bảo hiểm theo đánh giá thì STBT

sẽ là:

STBT =Giá trị tổn thất thực tế (1)x Giá trị tài sản khi tham gia bảo hiểm (2)

Giá trị tài sản tại thời điểm xảy ra tổn thất.(3)+Trong thời hạn bảo hiểm, tài sản bị tổn thất và được bảo hiểm theo hìnhthức bảo hiểm trùng, với lớn hơn 1 hợp đồng thì trách nhiệm bồi thường của mỗi

Trang 27

công ty được phân bổ theo hạn mức trách nhiệm mà mình bảo hiểm, theo tỷ lệ

Cụ thể:

STBT = (1) x (2) (3) x Tỷ lệ bảo hiểm

Cách 2: Bồi thường theo quy tắc tỷ lệ phí

Trong trường hợp, người tham gia bảo hiểm vì lý do nào đó chưa đóng đủ

số phí bảo hiểm cho thời hạn một năm, xảy ra tổn thất, nhà bảo hiểm tiến hànhbồi thường như sau:

STBT = (1) x Phí bảo hiểm đã đóng Phí bảo hiểm lẽ ra phải đóng

Trang 28

CHƯƠNG 2: HOẠT ĐỘNG TRIỂN KHAI NGHIỆP VỤ

BẢO HIỂM CHÁY TẠI CÔNG TY BẢO HIỂM DẦU KHÍ

KHU VỰC TÂY BẮC

2.1 GIỚI THIỆU VỀ TỔNG CÔNG TY CP BẢO HIỂM DẦU KHÍ VIỆT NAM VÀ CÔNG TY BẢO HIỂM DẦU KHÍ TÂY BẮC.

2.1.1 Tổng Công ty Cổ phần Bảo hiểm dầu khí Việt Nam

2.1.1.1 Khái quát chung.

“Trung thành và tận tụy với khách hàng”

Bảo hiểm Dầu khí ra đời nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển của ngành Dầukhí, một ngành kinh tế trọng điểm của đất nước với lượng vốn đầu tư rất lớn vàmang tính quốc tế cao Trong quá trình xây dựng một tập đoàn Dầu khí quốc gia,ngoài việc quản lý các dự án dầu khí trong nước, Tổng Công ty Dầu khí ViệtNam (Petro Việt Nam) đang từng bước mở rộng hoạt động, vươn mạnh ra thịtrường quốc tế Để đảm bảo định hướng phát triển của ngành Dầu khí, Petro ViệtNam đã quyết định thành lập Công ty Bảo hiểm dầu khí (BHDK), tên giao dịchquốc tế là PV Insurance Với nhiệm vụ xây dựng chương trình quản lý rủi ro, bảođảm an toàn tài sản, cũng như các hoạt động của ngành, đồng thời trực tiếp kinhdoanh sinh lợi để tăng tiềm lực tài chính Kể từ khi thành lập đến nay, Công tyBảo hiểm dầu khí đã trưởng thành và phát triển mạnh mẽ, khẳng định là mộttrong những nhà bảo hiểm phi nhân thọ hàng đầu tại Việt Nam

Liên tục trong nhiều năm gần đây, Tổng Công ty Cổ phần Bảo hiểm Dầukhí Việt Nam đã phát huy lợi thế về thương hiệu, năng lực tài chính và tính

Trang 29

chuyên nghiệp đạt chuẩn quốc tế để vươn lên dẫn đầu thị trường BH Việt Nam ởlĩnh vực BH năng lượng, xây dựng lắp đặt, tài sản, tham gia tích cực vào thịtrường BH hàng hải, tranh thủ sự ủng hộ của các nhà thầu Dầu khí, các chủ dự

án để triển khai BH cho các công trình trọng điểm của đất nước

Từ ngày thành lập đến nay, sự phát triển của công ty được đánh dấu bằngcác mốc quan trọng sau:

Năm 1996:Công ty bảo hiểm dầu khí được thành lập theo quyết định số12/BT ngày 23/01/1996 của Bộ trưởng chủ nhiệm Văn phòng chính phủ- giấyphép đăng ký kinh doanh số 110356 ngày 26/01/1996 trên cơ sở Bảo hiểm Y tếDầu khí Là một doanh nghiệp nhà nước xếp hạng I và là thành viên của Tổngcông ty Dầu khí Việt Nam, có phạm vi hoạt động trên toàn lãnh thổ Việt Nam vànước ngoài Những ngày đầu thành lập, công ty đặt trụ sở tại: Số 10 - Điện BiênPhủ- Hà Nội Với nhân sự mỏng và hầu như chưa có kinh nghiệm hoạt động bảohiểm Hoạt động kinh doanh lúc bấy giờ còn phụ thuộc nhiều vào mối quan hệvới các công ty bảo hiểm khác Năm đầu, doanh thu của BHDK chỉ mới đạt mức

50 tỷ đồng

Từ 1996 đến năm 2000: Sau những khó khăn ban đầu, BHDK đã nhanhchóng khẳng định được vị thế của doanh nghiệp Doanh thu bình quân hàng nămcủa BHDK những năm này đã đạt con số 100 tỷ đồng/ năm, đóng góp vào ngânsách nhà nước 48 tỷ đồng/ năm, lợi nhuận là 30 tỷ đồng/ năm Năm 1998 lần đầutiên doanh thu đạt trên 100 tỷ đồng

Năm 2001: Thảm hoạ 11/9 xảy ra tại Hoa Kỳ đã làm rung động nền kinh

tế thế giới, đặc biệt có tác động mạnh mẽ đến thị trường tài chính và bảo hiểmquốc tế Nhiều công ty bảo hiểm đã bị phá sản hoặc rút khỏi thị trường PVI lànhà bảo hiểm duy nhất thu xếp chương trình bảo hiểm năng lượng tại Việt Namcũng phải đối mặt với sự kiện này Vảo thời điểm khó khăn đó, nhận được sự chỉđạo của lãnh đạo công ty, BHDK vẫn vững vàng đối mặt với thách thức Thịtrường bảo hiểm thế giới đóng băng, PVI phải gồng mình để vượt qua thời điểmkhó khăn nhất PVI là nhà bảo hiểm duy nhất có hợp đồng tái bảo hiểm cố định

ra nước ngoài về năng lượng đảm bảo an toàn, hiệu quả cho các hợp đồng bảo

Trang 30

hiểm PVI khẳng định thành công vị thế trên thị trường bảo hiểm trong nước vàquốc tế qua con số doanh thu đạt 187 tỷ đồng, gấp 2 lần doanh thu năm 2000.Năm 2001 PVI còn vinh dự nhận được bằng khen của thủ tướng chính phủ vìthành tích xuất sắc giai đoạn 1998-2000

Từ năm 2002 đến 2004: tiếp tục khẳng định hình ảnh của Công ty bảohiểm chuyên nghiệp, vốn lớn năng lực tài chính mạnh, trình độ nghiệp vụ chuyênmôn của nhân viên cao Doanh thu của doanh nghiệp liên tục tăng qua các năm,vinh dự nhận được hàng loạt phần thưởng cao quý của nhà nước trong nhữngnăm này Năm 2002 nhận cờ thi đua “Đơn vị dẫn đầu phong trào thi đua” Năm

2004 nhận giải thưởng “Sao vàng đất Việt” - phần thưởng cho thương hiệu mạnhđược người tiêu dùng bình chọn và Huân chương lao động hạng ba từ Chủ tịchnước

Năm 2005: Hoạt động kinh doanh tiếp tục phát triển, doanh nghiệp duytrì tốt vị thế trên thị trường Việt Nam và quốc tế Công ty kiểm soát được thịtrường bảo hiểm năng lượng Việt Nam và là doanh nghiệp duy nhất xây dựngđược hợp đồng năng lượng duy nhất của Việt Nam tại thị trường Lloyd’sLondon

Năm 2006, Công ty BHDK hoàn thành vượt mức kế hoạch kinh doanhđược Tổng công ty Dầu khí Việt Nam giao 160% và tiến hành cổ phần hoá

Thực hiện cổ phần hoá của Bộ Công nghiệp và Tổng công ty Dầu khíViệt Nam tháng 9/2006, Lãnh đạo và Ban đổi mới doanh nghiệp Công ty Bảohiểm dầu khí đã rất tích cực triển khai các Quyết định này và ngày 29/12/2006công ty đã khép lại năm 2006 bằng việc bán đấu giá 11.729.000 cổ phần củaCông ty tại Trung tâm giao dịch chứng khoán Hà Nội và Thành phố Hồ ChíMinh Đánh giá chung lại kết quả cổ phần hoá, BHDK đã đạt được 3 kỷ lục caonhất từ trước đến nay Đó là thời gian tiến hành cổ phần hoá nhanh nhất (hơn 3tháng); Số người đăng ký mua cổ phần lớn nhất (trên 8000 Nhà đầu tư); Mức giátrúng thầu cao nhất đật 215.000đ/ 1 cổ phiếu, mức giá trúng thầu trung bình160.205đ/ 1 cổ phiếu, mức giá trúng thầu thấp nhất 142.200đ/ 1 cổ phiếu

Trang 31

Năm 2007: Đánh dấu bằng tiến trình cổ phần hoá được hoàn thành Và

từ 20/3/2007 Công ty bảo hiểm Dầu khí hoạt động dưới hình thức Tổng công ty

cổ phần Bảo hiểm dầu khí Việt Nam Với hình thức mới, phù hợp với xu hướngphát triển của nền kinh tế, hứa hẹn nhiều bước đột phá trong quá trình phát triển

Trang 32

Cù ng với doanh thu mà BHDK đã đạt được, mức đóng góp vào ngân sáchnhà nướcliên tục tăng qua các năm Sau mười năm hoạt động Bảo hiểm Dầu khí đãđóng góp gần 350 tỷ đồng cho ngân sách, chỉ tính riêng giai đoạn 2001 - 2005 đãđóng góp xấp xỉ 300 tỷ đồng Thành công đó tiếp tục được khẳng định bằng sự kiệnhai tổ chức DNV và Quacert tái cấp Chứng nhận chứng chỉ ISO vào tháng 11 năm

2005 Đây là sự đánh giá khách quan, khẳng định chiến lược phát triển đúng đắn củaCông ty và thành công trong nghệ thuật quản lý của Ban Giám đốc, cộng với sự cốnghiến nhiệt tình, sáng tạo không ngừng của tập thể đội ngũ nhân viên toàn Công ty

2.1.1.2 Sơ đồ cơ cấu tổ chức của công ty.

Để vươn lên vị thế một trong những doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọđứng đầu thị trường bảo hiểm Việt Nam, BHDK từ ngày đầu thành lập đến nay đã

có nhiều thay đổi trong cơ cấu tổ chức Việc cải tiến bộ máy quản lý luôn là yêu cầucấp thiết nhằm tìm ra một mô hình hiệu quả hơn, nhiều ưu việt hơn và phát huymạnh mẽ năng lực của các phòng ban, cán bộ công nhân viên toàn công ty

Biểu đồ nợp ngân sách qua các năm

Trang 33

Với sự lớn mạnh của tổng công ty bảo hiểm dầu khí, cơ cấu tổ chức cũngdần được điều chỉnh để tìm ra một mô hình hợp lý nhất.

Hiện nay, sau khi tiến hành cổ phần hoá, sơ đồ tổ chức của Tổng công ty

Cổ phần Bảo hiểm Dầu khí Việt Nam như sơ đồ sau:

ĐẠI HỘI CỔ ĐÔNG HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ

BAN TỔNG GIÁM ĐỐC

BAN KIẺM SOÁT

CÁC CÔNG TY LIÊN DOANH & PVI THAM GIA GÓP VỐN

CÁC CÔNG TY LIÊN DOANH & PVI THAM GIA GÓP VỐN

BAN TIN HỌC THÔNG TIN

BAN ĐẦU TƯ

PVI KV KHÁNH HOÀPVI KV KHÁNH HOÀ

PVI KV NAM ĐỊNHPVI KV NAM ĐỊNH

PVI KHU VỰC ĐỒNG NAI

PVI KHU VỰC ĐỒNG NAI

PVI KV BẮC TRUNG BỘ PVI KV BẮC TRUNG BỘ

PVI NAM TRUNG BỘPVI NAM TRUNG BỘ

PVI KV ĐÔNG BẮCPVI KVĐÔNG BẮC

PVI KV TÂY NAMPVI KVTÂY NAM

PVI KV TÂY BẮCPVI KVTÂY BẮC

PVI VŨNG TÀU

PVI KV DUYÊN HẢIPVI KV DUYÊN HẢI

PVI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH PVI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Trang 34

2.1.1.2.1 Đại hội cổ đông: gồm tất cả các cổ đông có quyền biểu quyết, là

cơ quan quyết định cao nhất của Công ty Có quyền quyết định loại cổ phần đượcbán, cổ tức hàng năm, bầu và miễn nhiễm thành viên Hội Đồng quản trị , Ban kiểmsoát; thông qua báo cáo tài chính hàng năm

2.1.1.2.2 Hội đồng quản trị: Là cơ quan quản lý Công ty, có toàn quyền

nhân danh công ty để quyết định mọi vấn đề liênquan đến mục đích, quyền lợi củacông ty, trừ những vấn đề thuộc thẩm quyền của Đại hội cổ đông

2.1.1.2.3 Ban Tổng Giám đốc: Thực hiện quản lý công ty, đứng đầu là Tổng

Giám đốc, phụ trách điều hành hoạt động hàng ngày của công ty, chịu trách nhiệmtrước hội đồng quản trị về các quyền và nhiệm vụ được giao Tổng Giám đốc có 4Phó Tổng Giám đốc hỗ trợ trong các mảng khác nhau

2.1.1.2.4 Ban kiểm soát : Thực hiện công tác kiểm tra tính hợp lý, hợp pháp

trong quản lý, điều hành hoạt động kinh doanh, thẩm định báo cáo tài chính hàngnăm

2.1.1.2.5 Các công ty liên doanh & PVI tham gia góp vốn: PVI tham gia liên

doanh, góp vốn ở nhiều công ty khác nhau; ví dụ Công ty du lịch PVI,

2.1.1.2.6 Trụ sở công ty: Gồm các ban:

2.1.1.2.6.1 Ban hành chính pháp chế:

Nhiệm vụ chính gồm:

-Thực hiện tuyển dụng, đào tạo, sắp xếp cán bộ, nâng lương, đề bạt, khenthưởng và kỷ luật đối với các cán bộ của các phòng ban trong công ty

-Xây dựng tiêu chuẩn chức danh định biên của các phòng

-Xem xét đề nghị uỷ quyền cho các chi nhánh về việc thuê trụ sở làm việc

2.1.1.2.6.2 Ban Kế hoạch và phát triển kinh doanh.

Chức năng : tham mưu và giúp Tổng giám đốc công ty trong việc chỉ đạohoạch định chiến lược kinh doanh, kế hoạch dài hạn và ngắn hạn, tính toán hiệu quảkinh tế, phát triển kinh doanh và đầu tư xây dựng cơ bản

Nhiệm vụ: Thực hiện công việc quản lý theo các quy trình, qui định thuộc

hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO 9001-2001 của công ty, gồm:

a.Công tác kế hoạch thống kê:

b.Công tác phân tích hiệu quả các hoạt động kinh doanh:

c.Công tác đầu tư xây dựng cơ bản:

Trang 35

2.1.1.2.6.3 Ban Tài chính kế toán:

Phòng kế toán thực hiện xây dựng các chỉ tiêu về chi phí và lợi nhuận hàngnăm của công ty và các chi nhánh

Phân tích hiệu quả kinh doanh của các đơn vị

Kết hợp với các phòng ban và chi nhánh trong xây dựng các dự án đầu tư

trong công ty.

2.1.1.2.6.4 Ban giám định bồi thường.

Phòng thực hiện công việc tiếp nhận, xem xét tính hợp lệ của hồ sơ khiếunại và xét giải quyết bồi thường

2.1.1.2.6.5 Ban Tổ chức nhân sự

Tham mưu và giúp Tổng giám đốc chỉ đạo công tác pháp chế, thư ký quảntrị….Cập nhật, lưu trữ các văn bản luật và dưới luật liên quan đến hoạt động kinhdoanh bảo hiểm của công ty Kiểm tra giám sát việc thực hiện nội quy lao động.Sắp xếp lịch làm việc của ban Tổng giám đốc, lưu trữ hồ sơ chỉ đạo của Ban Tổnggiám đốc…Là đầu mối trong công tác mua trang thiết bị, duy tu sửa chữa nhà cửa

và in ấn, thông tin quảng cáo cho công ty…

2.1.1.2.6.6 Ban Tin học thông tin.

Nhằm thực hiện chiến lược xây dựng Bảo hiểm Dầu khí thành một thươnghiệu mạnh trong tập Đoàn Dầu khí, có quy mô hoạt động toàn cầu, sẵn sàng hộinhập với kinh tế khu vực và thế giới, Công ty Bảo hiểm Dầu khí đặc biệt chú trọngđến việc đầu tư cho công nghệ thông tin, một biện pháp không thể thiếu để tăngnăng lực cạnh tranh trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm…Phòng Tin học thôngtin ngoài quản lý hệ thống thông tin trong doanh nghiệp, xây dựng, áp dụng nhữngquy trình quản lý bằng tin học còn tổ chức nâng cao trình độ cho cán bộ nhân viêntrong công ty…

2.1.1.2.6.7 Ban bảo hiểm năng lượng.

Ban bảo hiểm Năng lượng có nhiệm vụ tiến hành kinh doanh các dịch vụbảo hiểm năng lượng bao gồm các công việc từ khâu tiếp thị, chào bán bảo hiểm,cấp đơn bảo hiểm và tư vấn bảo hiểm cho khách hàng Phòng Bảo hiểm Năng lượngđược ra đời từ năm 1996 ngay từ ngày đầu thành lập Công ty Bảo hiểm Dầu khínhằm thực hiện nhiệm vụ chính của Tập đoàn Dầu khí Việt Nam giao phó là tư vấn,

Trang 36

2.1.1.2.6.8 Ban bảo hiểm kỹ thuật.

Ban có chức năng kinh doanh, tham mưu và giúp Giám đốc Công ty chỉ đạokinh doanh theo đúng pháp luật trong lĩnh vực Bảo hiểm kỹ thuật, công trình, xâydựng lắp đặt, tài sản, trách nhiệm, bảo hiểm trọn gói cho các dự án hạ nguồn củangành dầu khí

Thực hiện các công việc kinh doanh do Giám đốc phân công

Thực hiện công việc kinh doanh theo các quy định, quy trình gồm: Tiếp thị,đánh giá rủi ro trước khi cấp đơn, cấp đơn bảo hiểm, phân tán rủi ro

Thực hiện hợp tác với các Công ty bảo hiểm, các môi giới bảo hiểm có quan

hệ kinh doanh

Trực tiếp giao dịch với khách hàng, đàm phán với khách hàng, và các đốitác theo quy định của công ty

2.1.1.2.6.9 Ban bảo hiểm hàng hải.

Là một phòng kinh doanh mũi nhọn của công ty với ba loại hình dịch vụchính: Bảo hiểm thân tàu, Bảo hiểm hàng hoá, Bảo hiểm trách nhiệm dân sự chủtàu Phòng luôn đạt doanh thu trên 100 tỷ đồng mỗi năm

2.1.1.2.6.10 Ban Bảo hiểm dự án

Nhiệm vụ của phòng là phát triển các dịch vụ ngoài ngành Nghiên cứu thịtrường, tìm kiếm khách hàng, nắm bắt tiềm năng tham gia bảo hiểm Từ đó đưa ragiải pháp tiếp cận thị trường

2.1.1.2.6.11 Ban tái bảo hiểm.

Chức năng nhiệm vụ chính của phòng là thu xếp tái bảo hiểm hiệu quả và antoàn cho các dịch vụ vượt mức giữ lại của Công ty

Phối hợp với các đơn vị kinh doanh trong việc đàm phán các chương trìnhchào phí bảo hiểm cạnh tranh từ thị trường quốc tế

Kinh doanh nhận tái bảo hiểm với trong nước và quốc tế

2.1.1.2.6.12 Ban đầu tư

Nhiệm vụ của phòng là sử dụng nguồn vốn của công ty và quỹ dự phòngBảo hiểm-hình thành từ hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty và quỹ dựphòng để đem đầu tư sinh lợi

Trang 37

2.1.1.2.7 Các công ty thành viên:

Khối công ty bao gồm các công ty thành viên Các công ty, trước được gọi

là chi nhánh, là đơn vị trực thuộc Công ty Bảo hiểm dầu khí Việt Nam Thực hiệnnhiệm vụ kinh doanh theo phân cấp và phân vùng được Công ty giao Các chinhánh luôn nhận được sự hỗ trợ và ủng hộ mạnh mẽ của Tổng Công ty cả về tàichính cũng như về đào tạo nhân lực

Hiện tại Công ty có 15 công ty thành viên và một văn phòng khu vực:

-Công ty BHDK Hà Nội Trụ sở Tại Láng Hạ

- Công ty BHDK Vũng Tàu Trụ sở tại: Vũng Tàu

- Công ty BHDK Thành phố Hồ Chí Minh Trụ sở tại Hồ Chí Minh

- Công ty BHDK khu vực Duyên Hải -Trụ sở tại: Hải Phòng

- Công ty BHDK khu vực Tây Bắc Trụ sở tại: Hà Tây

- Công ty BHDK khu vực Tây Nam Trụ sở tại: Cần Thơ

- Công ty BHDK khu vực Nam Trung Bộ Trụ sở tại: Quảng Ngãi

- Công ty BHDK khu vực Bắc Trung Bộ Trụ sở tại: Đà Nẵng

- Công ty BHDK khu vực Đông Bắc Trụ sở tại: Quảng Ninh

-Công ty BHDK Đồng Nai Trụ sở: Đồng Nai

-Công ty BHDK Đông Đô Trụ sở: Hà Nội

- Công ty BHDK khu vực Nam Định Trụ sở Nam Định

- Công ty BHDK Đà Nẵng Trụ sở Đà Nẵng

-Công ty BHDK Sài Gòn Trụ sở Thành phố Hồ Chí Minh

- Văn Phòng II Bảo hiểm dầu khí Việt Nam- Khu vực phía Nam Trụ sởThành phố Hồ Chí Minh

2.1.3 Các lĩnh vực hoạt động kinh doanh của công ty và sản phẩm cung cấp.

2.1.3.1 Lĩnh vực hoạt động kinh doanh:

2.1.3.1.1 Kinh doanh bảo hiểm:

 Bảo hiểm năng lượng

 Bảo hiểm hàng hải

 Bảo hiểm kỹ thuật

 Bảo hiểm tài sản

Trang 38

 Bảo hiểm con người.

 Bảo hiểm y tế tự nguyện

 Bảo hiểm chi phí y tế và vận chuyển cấp cứu

 Bảo hiểm khác

2.1.3.1.2 Kinh doanh tái bảo hiểm:

 Nhượng tái bảo hiểm

 Nhận tái bảo hiểm

2.1.3.1.3 Dịch vụ khác:

+ Hoạt động tư vấn bảo hiểm và quản lý rủi ro.

+ Thực hiện các dịch vụ giám định tổn thất, đại lý giám định, giải

quyết bồi thường và đòi người thứ 3

2.1.3.2 Các loại hình bảo hiểm.

2.1.3.2.1 Bảo hiểm năng lượng.

 Bảo hiểm trách nhiệm toàn diện đối với những thiệt hại về người và tàisản của các nhà điều hành thuê khai thác dầu khí, các nhà thầu khoan và các nhàthầu cung ứng dịch vụ cho giếng dầu hoặc khí

 Bảo hiểm mọi rủi ro xà lan khoan hoặc giàn khoan di động

 Bảo hiểm mọi rủi ro giàn khoan cố định

 Bảo hiểm mọi rủi ro thiết bị giếng khoan dầu và khí

 Bảo hiểm thăm dò và phát triển năng lượng (Bảo hiểm khống chế giếng)

 Bảo hiểm dự án xây dựng lắp đặt ngoài khơi

2.1.3.2.2.Bảo hiểm hàng hải:

 Bảo hiểm thân tàu.(Hull)

 xBảo hiểm trách nhiệm dân sự.(P&I)

 Bảo hiểm tai nạn thuyền viên

 Bảo hiểm hàng hoá vận chuyển đường không, đường sắt, đường bộ,đường thuỷ

2.1.3.1.6 Bảo hiểm kỹ thuật.

 Bảo hiểm mọi rủi ro xây dựng

 Bảo hiểm mọi rủi ro lắp đặt

 Bảo hiểm đổ vỡ máy móc

2.1.3.1.7 Bảo hiểm tài sản.

Trang 39

 Bảo hiểm mọi rủi ro tài sản.

 Bảo hiểm hoả hoạn và rủi ro đặc biệt

 Bảo hiểm tiền gửi

 Bảo hiểm trộm cắp

2.1.3.1.8 Bảo hiểm trách nhiệm.

 Bảo hiểm trách nhiệm cho người thứ 3

 Bảo hiểm trách nhiệm sản phẩm

 Bảo hiểm trách nhiệm cộng đồng

 Bảo hiểm bồi thường trách nhiệm nghề nghiệp

 Điều khoản bồi thường cho người lao động trong các trường hợp cácdoanh nghiệp xây dựng, lắp đặt (bắt buộc)

2.1.3.1.9 Bảo hiểm con người.

 Bảo hiểm tai nạn cá nhân

 Bảo hiểm sinh mạng

 Bảo hiểm trợ cấp nằm viện và phẫu thuật

 Bảo hiểm du lịch trong nước

 Bảo hiểm người Việt Nam đi du lịch nước ngoài

 Bảo hiểm tai nạn cá nhân đối với người nước ngoài, mức trách nhiệmtrên 10.000$

2.1.3.1.10 Bảo hiểm xe cơ giới.

 Bảo hiểm TNDS của chủ xe cơ giới đối với người thứ ba và đối với hànhkhách trên xe

 Bảo hiểm TNDS của chủ xe đối với hàng hoá chở trên xe

 Bảo hiểm tai nạn lái phụ xe và người ngồi trên xe máy và người ngồi trênôtô

 Bảo hiểm vật chất xe

2.1.3.1.11 Bảo hiểm y tế tự nguyện.

2.1.3.1.12 Bảo hiểm chi phí y tế và vận chuyển cấp cứu.

2.1.3.1.13 Bảo hiểm khác

2.1.2 Công ty BHDK khu vực Tây Bắc.

2.1.2.1 Hoạt động kinh doanh.

Trang 40

- Trụ sở đặt tại: Tầng 5- Toà nhà Machinco- Số 10 Trần Phú- Hà Đông- HàTây.

-Khu vực thị trường đảm nhận: Thực hiện khai thác bảo hiểm ngoài ngànhtại 13 tỉnh thành Tây Bắc Việt Nam, bao gồm: Sơn La, Lai Châu, Hoà Bình, VĩnhPhúc, Thái Nguyên, Lào Cai, Yên Bái, Hà Tây, Lạng Sơn, Bắc Giang, BắcNinh Tập trung khai thác bảo hiểm ngoài ngành Dầu khí (tức chỉ khai thác tạinhững đơn vị có số vốn góp của Tập đoàn Dâu khí nhỏ hơn 50% vốn điều lệ)

-Cơ cấu tổ chức: Gồm một ban giám đốc và 7 phòng ban

Các phòng đều có chức năng nhiệm vụ tương đương với phòng tương ứngtại Tổng công ty

-Số lượng cán bộ: 35 cán bộ, phân về các phòng, theo cơ cấu:

Ban giám đốc: gồm 1 giám đốc và hai phó giám đốc

 Giám đốc điều hành toàn bộ hoạt động của công ty

 Phó Giám đốc thứ nhất: Được uỷ quyền ký duyệt khai thác cấp đơn,hợp đồng, giấy chứng nhận cho các phòng kinh doanh khu vực tại Hà Nội đối vớitất cả các Nghiệp vụ bảo hiểm với mức trách nhiệm theo phân cấp của Công ty giaocho chi nhánh

 Phó Giám đốc thứ hai: Thực hiện công việc theo uỷ quyền của giámđốc, được ký duyệt khai thác cấp đơn đối với các nghiệp vụ bảo hiểm xe cơ giới vàbảo hiểm con người Được ký các đơn, hợp đồng, giấy chứng nhận bảo hiểm mứctối đa là 50% theo mức trách nhiệm phân cấp của công ty đối với chi nhánh

7 phòng ban bao gồm: Phòng BHTS, Phòng BHKT Phòng BHHH PhòngGĐ_BT, Phòng Hành chính- Kế toán, Phòng quản lý đại lý, và Phòng Kinh doanhkhu vực I

2.1.2.2 Đặc điểm kinh tế xã hội tại khu vực thị trường Tây Bắc mà chi nhánh đảm nhận:

Là thị trường tương đối rộng, nằm gần Hà Nội, dân cư đông, có một số tỉnhnhư Hà Tây, Bắc Ninh, Vĩnh Phúc, Lạng Sơn được xem như những điạ phươngnăng động trong thu hút vốn đầu tư Quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá diễn ranhanh chóng, từng ngày, từng giờ Nhà xưởng, máy móc, văn phòng…liên tụcđược xây dựng và đưa vào sử dụng Đời sống người dân nâng cao, nhận thức được

về bảo hiểm tiến triển theo chiều hướng thuận lợi Do vậy, việc triển khai các loại

Ngày đăng: 12/04/2013, 08:27

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng   3:   Tình   hình   khai   thác   bảo   hiểm   cháy,   nổ   tại   BHDK   Tây   Bắc   các   năm. - Nghiên cứu tác động cuả Quy định chế độ bảo hiểm cháy, nổ bắt buộc đến hoạt động triển khai nghiệp vụ bảo hiểm cháy tại Công ty BHDK Khu vực Tây Bắc
ng 3: Tình hình khai thác bảo hiểm cháy, nổ tại BHDK Tây Bắc các năm (Trang 64)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w