Vận tải quốc tế nói chung và vận tải biển nói riêng là điều kiện tiên quyết để buôn bán quốc tế phát triển
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Vận tải quốc tế nói chung và vận tải biển nói riêng là điều kiện tiênquyết để buôn bán quốc tế phát triển Vận tải biển đảm bảo chuyên chở khốilượng xuất nhập khẩu lớn, làm thay đổi cơ cấu hàng hóa và thị trường buônbán quốc tế Vận tải biển được coi là lĩnh vực xuất khẩu vô hình, cải thiệncán cân thanh toán của một quốc gia
Việt Nam được coi là một trong số không nhiều quốc gia trên thế giới cótiềm năng rất lớn về hoạt động kinh tế hàng hải Bởi vì với bờ biển dài trên3.260 km có nhiều vũng, vịnh, cửa sông gần kề với Thái Bình Dương rấtthuận tiện cho việc phát triển cảng biển, đội tàu, các cơ sở công nghiệp đóngsửa chữa tàu biển và thực hiện các loại hình dịch vụ hàng hải- thương mạikhác Ngoài ra, nước ta còn nằm gần tuyến hàng hải quốc tế quan trọng nốiliền với các trung tâm kinh tế phát triển mạnh nhất và sôi động nhất của thếgiới hiện nay Hơn nữa với vị thế về địa lý và nhân lực, Việt Nam còn có thểđóng vai trò quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế hướng ra biển củamột số quốc gia láng giềng không gần biển hoặc ven biển nhưng không đủđiều kiện để phát triển ngành hàng hải của mình Những yếu tố trên tạothành lợi thế của ngành hàng hải nước ta
Là tập đoàn Tài chính- Bảo hiểm hàng đầu tại Việt Nam, qua gần 10năm triển khai nghiệp vụ bảo hiểm thân tàu, Bảo Việt Hà Nội đã thu đượcrất nhiều kết quả Với mong muốn tìm hiểu sâu hơn về nghiệp vụ bảo hiểm
thân tàu nên em đã chọn đề tài: “ Tình hình giải quyết khiếu nại bồi thường trong bảo hiểm thân tàu tại Bảo Việt Hà Nội” để nghiên cứu.
Chuyên đề thực tập của em ngoài phần mở đầu và kết luận còn baogồm:
Trang 2Chương 1: Khái quát chung về bảo hiểm thân tàu và công tác giải
quyết khiếu nại bồi thường
Chương 2: Thực trạng công tác giải quyết khiếu nại bồi thường trong
bảo hiểm thân tàu tại Bảo Việt Hà Nội
Chương 3: Một số kiến nghị đối với công tác giải quyết bồi thường
trong bảo hiểm thân tàu tại Bảo Việt Hà Nội
Qua đây, em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Cô giáo- Tiến sỹ PhạmThị Định đã giúp đỡ, chỉ bảo cho em trong suốt quá trình thực hiện chuyên
đề thực tập Em cũng xin cảm ơn các thầy, cô giáo trong bộ môn Bảo hiểm,các anh chị cán bộ tại Phòng Hàng Hải- Công ty bảo hiểm Hà Nội đã nhiệttình giúp đỡ , tạo điều kiện cho em trong thời gian qua
Mặc dù đã có nhiều cố gắng trong việc tìm tòi nghiên cứu, tìm hiểuthực tế đối với nghiệp vụ bảo hiểm thân tàu nhưng chuyên đề không thểtránh khỏi những thiếu sót Em rất mong nhận được ý kiến đóng góp của cácthầy, cô giáo và các bạn để chuyên đề thực tập được hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Trang 3
CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ BẢO HIỂM THÂN TÀU VÀ CÔNG TÁC
GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI BỒI THƯỜNG
1.1 Sự cần thiết khách quan phải bảo hiểm thân tàu
1.1.1 Vai trò của giao thông đường thuỷ
Từ xa xưa vận tải đường thuỷ trở thành ngành kinh tế quan trọng củamột quốc gia.Theo thống kê của tổ chức hàng hải Thế giới, mỗi năm có tới
90 % lượng hàng hóa được vận chuyển bằng con đường này Điều đó cũng
dễ hiểu bởi trái đất của chúng ta với 2/3 diện tích là biển Không ai có thểphủ nhận được lợi ích kinh tế của giao thông đường thuỷ đem lại Hàng năm
nó trực tiếp hoặc gián tiếp tạo ra một khoản lợi nhuận khổng lồ chiếm tỷtrọng lớn trong tổng sản phẩm quốc nội
Giao thông đường thuỷ có rất nhiều những ưu điểm và nhược điểmnhưng vai trò của nó thì không thể phủ nhận Giao thông đường thuỷ thôngsuốt, đi du lịch, thưởng thức những sắc cảnh thiên nhiên hùng vĩ thơ mộng.Đồng thời thông qua phương tiện giao thông đường thuỷ cho phép chúng tavận chuyển được một khối lượng hàng rất lớn mà bất cứ phương tiện vận tảinào khác không thể cạnh tranh được về giá cả
Bên cạnh đó hoạt động buôn bán thương mại bằng đường thuỷ chophép thiết lập nhiều mối quan hệ ngoại giao cũng như trao đổi hàng hóa vớicác nước khác Song song với hoạt động buôn bán, giao thông đường thuỷcòn giúp các chiến sỹ biên phòng, cảnh sát biển tăng cường kiểm tra, kiểmsoát để bảo vệ những người đi biển, lãnh hải Tổ quốc
Với vai trò hết sức to lớn như vậy nên chúng ta luôn củng cố và phát
triển giao thông đường thuỷ Theo định kỳ phải nạo vét đường sông, xâydựng lại các hoa tiêu, đào tạo đội ngũ có trình độ và có năng lực xây dựng
Trang 4đèn báo hiệu để đề phòng và giảm thiểu tổn thất mà tai nạn giao thôngđường thuỷ có thể gây ra.
1.1.2 Sự cần thiết của bảo hiểm thân tàu
1.1.2.1 Sự ra đời và phát triển của bảo hiểm thân tàu
Nói đến bảo hiểm hàng hải không thể không nói đến nước Anh và
Lloyd’s Thế kỷ 17, nước Anh đã có ngành ngoại thương phát triển với độitàu buôn mạnh nhất thế giới và trở thành trung tâm thương mại và hàng hảilớn nhất thế giới Tàu chở hàng của các nước đều tập trung hai bên bờ sôngTimes- Luân đôn và tàu buôn của Anh cũng có mặt ở hầu khắp cảng của cácnước trên thế giới lúc bấy giờ Với sự phát triển sớm về thương mại và hànghải, nước Anh cũng là nước sớm có những nguyên tắc thể lệ hàng hải, bảohiểm hàng hải như mẫu hợp đồng bảo hiểm, luật bảo hiểm hàng hải 1906(Marine Insurance Act 1906) Những luật lệ này khá hoàn chỉnh và đượcnhiều nước trên thế giới áp dụng
Khoảng thế kỷ 17, luồng buôn bán cà phê giữa Anh và các nước rất
phát đạt Những người buôn bán cà phê đã thành lập một sở giao dịch cà phêgọi là Lloyd’s coffee house ở phố Twoer Street London, đứng đầu là mộtngười Anh tên là Lloyd, thuyền trưởng về hưu
Khoảng 1691-1692, Lloyd đặt chế độ thông báo thương mại và phát
hành một bản tin về hàng hoá và tàu Lúc đầu bản tin này chỉ được lưu hànhnội bộ trong Lloyd’s coffee house nhằm thu hút hội viên và khách hàng của
nó Nhưng về sau ảnh hưởng của nó bành trướng một cách nhanh chóngkhông chỉ đối với Lloyd, nước Anh mà cả ở Châu Âu và khắp thế giới Năm 1779, các hội viên của Lloyd đã thu thập tất cả các nguyên tắc
bảo hiểm hàng hải quy thành một hợp đồng chung gọi là hợp đồng Lloyd.Hợp đồng này được Quốc hội Anh thông qua Cho đến trước năm 1982, nóvẫn được nhiều nước áp dụng Hiện nay Lloyd là một trong số ít các công ty
Trang 5bảo hiểm lớn nhất thế giới, với 400 nghiệp đoàn khai thác bảo hiểm và chinhánh thế giới.
Ngày nay, cùng với sự tăng trưởng không ngừng của hoạt động ngoại
thương, bảo hiểm hàng hải cũng phát triển một cách mạnh mẽ Một trongnhững loại hình bảo hiểm hàng hải lớn nhất là bảo hiểm thân tàu Do đó, nóiđến lịch sử bảo hiểm hàng hải thì cũng chính là nói đến sự ra đời và pháttriển của bảo hiểm thân tàu
Tại Việt Nam, hoạt động vận chuyển hàng hoá đã có từ rất lâu nhưng
bảo hiểm thân tàu lại không phát triển tương xứng Đến năm 1986, trongQuyết định số 179TC/ QĐ-BH ngày 8/7/1986, bộ trưởng Bộ tài chính đãcho phép Tổng công ty bảo hiểm Việt Nam tiến hành bảo hiểm theo nguyêntắc tự nguyện đối với:
“- Thân tàu thuyền đánh cá (gồm vỏ, máy tàu thuyền, máy móc khai
thác, chế biến, nghiên cứu khoa học và trang bị hàng hải),
- Ngư lưới cụ và trang bị đánh bắt thuỷ hải sản,
- Trách nhiệm dân sự của chủ thuyền đánh cá,
- Tai nạn thuyền viên,
- Rủi ro chiến tranh đối với tàu thuyền đánh cá.”
Cùng với Quyết định trên, Bộ tài chính cũng ban hành Quy tắc bảo
hiểm vật chất và trách nhiệm dân sự đối với tàu thuyền đánh cá Còn đối vớitàu biển hoạt động trong và ngoài nước thì theo thông lệ quốc tế, Tổng công
ty bảo hiểm Việt Nam cũng áp dụng quy tắc ITC
Năm 1990, Bộ tài chính lại tiếp tục ban hành Quyết định số
254/TC/QĐBH về việc cho phép Tổng công ty bảo hiểm Việt Nam tiếnhành bảo hiểm tàu và thuyền viên
Năm 1993, Nghị định 100/CP của Chính phủ đã bổ sung thêm một số
loại hình doanh nghiệp bảo hiểm như công ty cổ phần bảo hiểm, công ty liên
Trang 6doanh bảo hiểm, công ty bảo hiểm 100% vốn nước ngoài, công ty bảo hiểmtương hỗ Đồng thời, Bộ tài chính cũng ra Quyết định số 927/TC/QĐ/TCNHngày 18/8/1995 về việc sửa đổi phạm vi áp dụng các quy tắc, điều khoản,biểu phí bảo hiểm.
Đến nay, nghiệp vụ bảo hiểm hàng hải liên tục phát triển và đổi mới
không ngừng để cho phù hợp với yêu cầu của khách hàng
1.1.2.2 Sự cần thiết phải bảo hiểm thân tàu
Tàu thuỷ là phương tiện vận tải thuỷ tiện lợi, giá thành vận chuyển rẻ
Nhưng tốc độ chậm, hành trình dài ngày trên biển nên thường chịu nhiều rủi
ro, gây tổn thất lớn cho các chủ tàu Theo thống kê của các hãng sản xuất vàsửa chữa, hàng năm trên thế giới có khoảng 7.000 vụ tai nạn tàu biển làmthiệt hại hàng tỷ đô la
Đội tàu thuỷ Việt Nam tuy không lớn , nhưng những vụ tổn thất cũng
gây không ít khó khăn cho các chủ tàu Chẳng hạn, tàu Vân Đồn mắc cạn tạiNhật ngày 26/2/1987 làm thiệt hại 2,887 triệu USD (chưa kể hàng hoá); tàuHải Âu 2 bi đắm ở Trung Quốc tháng 7/1991 thiệt hại 2,812 triệu USD; tàu
Hà Thành mắc cạn và đắm ở Nhật Bản ngày 8/2/1998 thiệt hại 1,31 triệuUSD
Qua đây ta thấy, tổn thất đối với tàu hoặc do tàu gây ra thường rất lớn
Việc triển khai bảo hiểm thân tàu tại Việt Nam là hết sức cần thiết
1.1.3 Tác dụng của bảo hiểm thân tàu
Ta thầy rằng, mỗi một nghiệp vụ bảo hiểm được triển khai đều nhằm
bảo vệ khách hàng Nghiệp vụ bảo hiểm thân tàu từ khi được triển khai ởViệt Nam liên tục phát triển do nó có những tác dụng sau đây:
Thứ nhất, tác dụng rõ nét của bảo hiểm thân tàu là khắc phục hậu quả
rủi ro, đảm bảo ổn định đời sống và hoạt động sản xuất kinh doanh cho cácchủ tàu Con tàu là tài sản lớn, nó đáng giá cả một gia sản Vì vậy, khi xảy
Trang 7ra tổn thất, chủ tàu ngoài việc phải bỏ ra chi phí sửa chữa những bộ phận hưhỏng trên con tàu của mình, những chi phí này có thể đã rẩt lớn, mà có khicòn phải bỏ ra những chi phí nhằm bồi thường cho những tổn thất do contàu của mình gây ra trong trách nhiệm đâm va Không những thế, trongtrường hợp tổn thất toàn bộ, chủ tàu còn mất toàn bộ giá trị con tàu Việcnày có thể sẽ khiến cho họ lâm vào cành khốn cùng Bảo hiểm thân tàu rađời đã góp phần giảm nhẹ gánh nặng tài chính cho chủ tàu, giúp họ có thểtiếp tục công việc sản xuất kinh doanh của mình Đôi khi con tàu có đượckhông phải hoàn toàn là vốn của chủ tàu mà có thể là vốn vay ngân hàng.Khi rủi ro tai nạn bất ngờ xảy ra gây thiệt hại nặng nề đến con tàu được hìnhthành từ vốn vay ấy, làm gián đoạn khả năng kinh doanh Lúc đó, người chủtàu không những gặp khó khăn trong việc sửa chữa con tàu mà việc thựchiện cam kết với người cho vay cũng khó được thực hiện Một lần nữa nếungười đi vay mua bảo hiểm thì việc bồi thường của bảo hiểm lại giúp người
đi vay tiếp tục được hoạt động sản xuất kinh doanh, đủ khả năng thanh toánlãi và gốc vay phải trả
Thứ hai, bảo hiểm thân tàu giúp cho hành trình của con tàu được an
toàn hơn Điều đó không có nghĩa là những người đi trên tàu không biết về những qui định, qui tắc an toàn đường biển, đường sông mà có thể vì một lý
do nào đó họ sơ suất chưa kịp thực hiện những biện pháp đề phòng hạn chế tổn thất Nhưng một khi đã tham gia bảo hiểm, người bảo hiểm sẽ yêu cầu chủ tàu phải cam kết tàu đủ khả năng đi biển ngay khi thời hạn bảo hiểm có hiệu lực Có nghĩa là con tàu phải đảm bảo các yêu cầu sau:
-Tàu có đầy đủ trang thiết bị ở trong tình trạng hoạt động tốt để tàu cóthể đối phó với những tai nạn thông thường ở biển trong suốt hành trình,ngay cả khi tàu bắt đầu khởi hành Điều này buộc chủ tàu phải luôn luônquan tâm chăm sóc con tàu của mình ở mọi lúc mọi nơi
Trang 8-Việc chất xếp hàng hóa trên tàu chuyên chở phải đảm bảo trọng tải,
đảm bảo cho tàu cân đối, sắp xếp hàng hoá thích hợp khôn gây ra tổn thất.Bởi vì chất xếp thương mại sai quy cách có thể làm cho hàng hoá bị xô đẩysang một phía, chao đảo trên tàu, dẫn đến tàu lật nghiêng hoặc bị đắm Việc
dỡ hàng không đồng đều có thể làm tàu lật úp gây tổn thất cho tàu
- Tàu phải đảm bảo đầy đủ nhiên liệu, lương thực thực phẩm và trangthiết bị thích ứng với từng đoạn trên suốt hành trình
- Tàu phải biên chế đầy đủ người làm việc, có đội ngũ sỹ quan thuỷ
thủ thuyền viên thực sự giúp ích cho tàu
- Người được bảo hiểm phải có đầy đủ khả năng tài chính ngay cả khi
gặp thiên tai, tai nạn phát sinh thêm chi phí
Tất cả những yêu cầu trên một mặt giúp cho công việc đề phòng và
hạn chế tổn thất của phía người được bảo hiểm, mặt khác giúp cho hànhtrình của con tàu được an toàn hơn Và như vậy, những tuyến đường biểnthông suốt, những chuyến tàu cập bến an toàn, những lô hàng giao đúng hẹn đã góp phần thắt chặt tình hữu nghị giữa các quốc gia, thúc đẩy sự giaolưu buôn bán toàn cầu
1.2 Nội dung cơ bản của bảo hiểm thân tàu
1.2.1 Một số khái niệm
Bảo hiểm thân tàu là một nghiệp vụ bảo hiểm khó, nó có nhiều thuậtngữ không chỉ liên quan đến lĩnh vực bảo hiểm mà còn liên quan đến lĩnhvực hàng hải Vì vậy, chúng ta cùng tìm hiểu một số thuật ngữ sau:
Tàu thuỷ
Tàu thuỷ là một công trình kỹ thuật nổi, có thể dịch chuyển trên mặtnước hoặc ngầm dưới nước, theo hướng đã định, với tốc độ cần thiết vàchuyên chở hàng hoá, hành khách hay thực hiện một số nhiệm vụ khác tuỳ
Trang 9theo đặc tính sử dụng của tàu Theo qui định của pháp luật Việt Nam, tàu,thuyền được chia ra thành phương tiện thuỷ nội địa và tàu biển.
Theo khoản 8, điều 5, nghị định 40/CP ngày 07/07/1996 của Chínhphủ, thì phương tiện thuỷ nội địa bao gồm:
“ a Tàu, thuyền có động cơ hoặc không có động cơ;
b Bè mảng;
c Các cấu trúc nổi được sử dụng vào mục đích giao thông, vận tải hoặc kinh doanh dịch vụ trên đường thủy nội địa.”
Thân tàu và các trang thiết bị trên tàu
Thân tàu thông thường là vật thể có hình thon dài, bên ngoài đượcgiới hạn bởi các mặt cong ba chiều, có hình dáng thoát nước, nhằm đảm bảokhi tàu chạy có sức cản của nước và không khí nhỏ nhất
Thân tàu là một trong những bộ phận chính của con tàu Ngoài ra,một
bộ phận quan trọng cũng cần phải kể đến là trang thiết bị trên tàu Các thiết
bị này được bố trí bên trong tàu Đó có thể là các thiết bị động lực làm chotàu chuyển động, thiết bị cung cấp năng lượng cho tàu, hay các thiết bịnhằm ngăn ngừa ô nhiễm do dầu, do chất lỏng độc mà trong quá trình hoạtđộng của mình tàu có khả năng gây ra Đó cũng là các trang bị hàng hải giúpcho việc điều khiển tàu được chính xác và đảm bảo an toàn trong khi hànhtrình như la bàn, ra đa, máy đo sâu, v.v… thiết bị thông tin vô tuyến điện
Trọng tải tàu (Deadweigh Tonnage- DWT)
Trọng tải tàu là sức chở của tàu Trọng tải toàn phần của tàu được đo bằnghiệu số giữa trọng lượng tàu đầy hàng và trọng lượng tàu không hàng Trọngtải tịnh hay trọng tải thực dụng của tàu được đo bằng trọng tải toàn phần trừ
đi trọng lượng các vật phẩm cung ứng trên tàu Trọng tải tịnh của tàu chính
là trọng lượng hàng hoá thương mại thực tế mà tàu có thể chuyên chở được
Trang 10Tuỳ theo loại tàu, trọng tải tịnh có thể nhỏ hơn 10-25% so với trọngtải toàn phần của tàu Trọng tải của tàu có thể đo bằng đơn vị tấn phổ thông(1000 kg), tấn dài (1016 kg) hoặc tấn ngắn (907 kg).
Cấp hạng của tàu (Class of Ship)
Tàu biển có dung tích lớn từ 100 GRT trở lên khi đóng phải có sựgiám sát của một cơ quan đăng kiểm được thừa nhận Cơ quan này sẽ đề racác qui tắc, quy trình kỹ thuật, tiêu chuẩn để xếp hạng các loại tàu bằng thépvơi máy chính, máy phụ, các máy móc thiết bị tương ứng Tàu được trang bịhiện đại, đảm bảo chất lượng kinh doanh, khai thác thì được phân cấp hạngcao Sau khi tàu được đóng xong và chạy thử thành công, cơ quan đăngkiểm có liên quan sẽ cấp giấy chứng nhận cấp hạng Giấy chứng nhận cấphạng nói rõ khả năng đi biển của tàu, tức là tàu có độ bền, chắc, kín nước và
có thể vận chuyển hàng hoá an toàn
Cấp hạng do các hãng đăng kiểm nổi tiếng cấp là một bằng chứng tuyệtđối tin tưởng đối với các công ty bảo hiểm 10 Hội viên của Hiệp hội phâncấp tàu biển Quốc tế có uy tín rất cao thực hiện kiểm tra và cấp giấy chứngnhận cho đại bộ phận tàu biển của thể giới, ví dụ như: Lloyd’s Register ofShipping, London; America Bureau of Shipping, New york; Bureau Viritas,Paris; v.v…
1.2.2 Đối tượng và phạm vi của bảo hiểm thân tàu
1.2.2.1 Đối tượng bảo hiểm thân tàu
Đối tượng bảo hiểm thân tàu thuỷ là toàn bộ con tàu bao gồm vỏ tàu,máy móc, trang bị của tàu Trong bảng kê khai chủ tàu phải nêu rõ tên tàu,cảng đăng ký, quốc tịch tàu, năm và nơi đóng tàu, trọng tải…đồng thời chủtàu phải đảm bảo ba điều kiện qui định sau:
- Tàu đủ khả năng đi biển
- Quốc tịch tàu không thay đổi trong suốt thời gian bảo hiểm
Trang 11- Hành trình con tàu phải hợp pháp
Những qui định này được giải thích rõ ràng và chủ tàu phải tuân thủđúng qui định
1.2.2.2 Phạm vi bảo hiểm thân tàu
Xác định phạm vi bảo hiểm là xác định những rủi ro được bảo hiểmlàm căn cứ xét bồi thường Rủi ro được bảo hiểm được chia làm hai nhóm:
a, Rủi ro được bảo hiểm
Bao gồm bốn rủi ro chính là mắc cạn, chím đắm, cháy nổ, đâm va vàcác rủi ro như hành vi vi phi pháp của thuyền trưởng và thuỷ thủ đoàn, mấttích, cướp biển
- Mắc cạn: Là hiện tượng đáy tàu sát liền với đáy biển hoặc nằm trên
một chướng ngại vật khác làm cho tàu không thể di chuyển được Trước khimắc cạn người thuyền trưởng có thể lường trước hoặc cũng không thể lườngtrước được Bị mắc cạn do thuỷ triều hay do tàu đi qua kênh đào, sông rạchthì theo quy định của bảo hiểm đó là rủi ro lường trước được Bị mắc cạn dogiông bão, địch đuổi mà tàu phải buộc rời khỏi hành trình thì rủi ro đó làkhông lường trước được Bị mắc cạn do tàu thuỷ có nguy cơ bị đắm cố tìnhlao vào chỗ cạn là nguyên nhân gián tiếp gây ra tổn thất vẫn thuộc phạm vibảo hiểm và không phân biệt tổn thất đó xảy ra trước hay sau khi mắc cạn
- Chìm đắm : Khi tàu chìm hẳn xuống nước không thể tiếp tục cuộc
hành trình nữa thì mới gọi là chìm đắm Nếu tàu chỉ ngập một phần hoặccòn bập bềnh trên mặt nước thì không được gọi là chìm đắm Cũng cótrường hợp do tính chất của hàng hoá nên tàu không thể chìm sâu hơn cho
dù nước vào rất nhiều vẫn được coi là rủi ro đắm tàu
- Cháy: Cháy tàu do nhiều nguyên nhân sau:
+ Do thiên nhiên gây ra như sét đánh
Trang 12+ Do sơ suất của những người đi trên tàu gây ra như hút thuốc, nhóm lửa.
+ Do chủ tâm của con người như cố ý phóng hoả nhằm mục đích đentối nào đó
Cháy là rủi ro gây thiệt hại rất lớn, đối với cháy tàu trên biển thì lạicàng nghiêm trọng hơn so với cháy ở trên bờ vì khó dập tắt Nếu chỉ gặp rủi
ro cháy, hành trình của tàu bị gián đoạn thì mới gọi là cháy thuộc phạm vibảo hiểm Thông thường cháy là phải có sức nóng, có ánh sáng Tuy nhiên,cũng có trường hợp lửa cháy chỉ ngầm mà không phát ra ánh sáng, hoặccháy mà không tìm ra được nguyên nhân Do đó, cháy to hay cháy nhỏ cũngđều thuộc phạm vi bảo hiểm Bảo hiểm sẽ nhận bồi thường trong trường hợpcháy do sét đánh hoặc do hơi khói Ngoài ra người bảo hiểm còn bồi thườngđối với cháy do sơ suất hay vô ý của thuyền trưởng hay thuỷ thủ Bảo hiểmcũng chịu bồi thường nếu tàu hay hàng hoá cháy trong hoàn cảnh bất đắc dĩnhư phải cố tình đốt cháy tàu để tránh khỏi bị dập tắt hoặc khỏi bị tiêu diệt,hoặc để loại trừ một mầm bệnh nào đó Nhưng bảo hiểm không bồi thườngnếu bốc cháy tự phát do bản thân hàng hoá gây ra Muốn thế bảo hiểm phảichứng minh là hàng hoá đã xếp lên tàu trong tình trạng không thích hợp.Tuy nhiên, nếu tàu bốc cháy tự phát mà cháy lan sang các hàng hóa khác thìngười bảo hiểm phải chịu trách nhiệm về những hàng hoá lây sang này
- Đâm va: Đâm va ở đây được giới hạn trong phạm vi giữa tàu với tàu
như thuyền, xà lan, ca nô, tàu kéo, tàu bị đắm dưới biển, mỏ neo hay thuyềncủa con tàu Đâm va giữa tàu với các vật thể nổi, vật thể di động như tảngbăng trôi đâm va với đá ngầm, cầu hay các công trình được xây dựng trênbiển, trên cạn…
- Hành vi phi pháp của thuyền trưởng và thuỷ thủ: là những người
không đồng sở hữu với chủ tàu đối với con tàu Đó là những hành động
Trang 13phạm pháp, xảo trá, lường gạt hoặc những sai lầm cố ý của thuyền trưởng,thuỷ thủ làm ảnh hưởng đến quyền lợi của chủ tàu Nó loại trừ những hành
vi như sai lầm về cách xét đoán, giải quyết vấn đề hoặc do bất cẩn thôngthường gây ra Hành vi phi pháp còn bao gồm những hành động như buônlậu của thuyền trưởng, lái tàu đi chệch hướng quy định vì mục đích riêng,làm đắm tàu hoặc tàu bị giữ… để phục vụ cho lợi ích riêng của thuyềntrưởng hay của thuỷ thủ Nếu thuyền trưởng cũng là người đóng góp cổphần sở hữu con tàu thì khi họ có những hành động kể trên tức là họ làmảnh hưởng đến quyền lợi của người khác, đó cũng là hành vi phi pháp.Trong trường hợp chủ tàu biết được việc làm của thuyền trưởng, của thuỷthủ mà không tìm cách ngăn cản họ thì đó lại không thuộc hành vi phi phápcủa họ
- Mất tích: là hiện tượng tàu không đến cảng đã quy định và sau một
thời gian hợp lý nào đó cũng không nhận được một tin tức gì về con tàu đónữa Thời gian quy định để chờ đợi tàu có bị mất tích hay không phụ thuộcvào loại tàu, loại hàng, tính chất và độ dài của cuộc hành trình cũng như phụthuộc vào luật lệ của từng nước Ở Pháp thường người ta quy định là 6tháng, đối với những chuyến đi xa có thể là một năm Nhưng với nước Anhthì không như vậy mà họ tuỳ từng trường hợp cụ thể để giải quyết sao chohợp lý nhất Còn về trách nhiệm của nhà bảo hiểm, luật hàng hải năm 1996
đã quy định nếu một chiếc tàu có bảo hiểm bị mất tích, sau một thời gianhợp lý mà không nhận được một tin tức gì về con tàu đó thì coi như tổn thấttoàn bộ thực tế Vì vậy, trong trường hợp khi tàu bị mất tích, bảo hiểm chịutrách nhiệm như những rủi ro được bảo hiểm
- Cướp biển: Trước đây nạn cướp biển được xem là một phần của rủi
ro chiến tranh, nhưng ngày nay cướp biển là rủi ro rất hay xảy ra Có những
vụ cướp biển thiệt hại lớn đến người và của cải Những người đi biển không
Trang 14khỏi lo sợ mối nguy hiểm này trong cuộc hành trình, do đó cần phải đượcbảo hiểm để họ yên tâm hơn Ngày nay nạn cướp biển được coi như là sự
mở rộng của quy mô trộm cắp
c, Rủi ro loại trừ
- Hành vi sơ xuất, lỗi lầm cố ý của người được bảo hiểm Đây là vấn đề
có tính nguyên tắc vì người bảo hiểm và người được bảo hiểm có chung mộtquyền lợi là giá trị con tàu được bảo hiểm
- Chậm trễ hành trình: Chậm trễ do không phải để cứu nạn, bị tai nạndẫn đến tổn thất cho con tàu
- Tàu không đủ khả năng đi biển như không đủ máy móc, trang thiết bị,không có giấy phép hoạt động hoặc hoạt động ngoài phạm vi quy địnhkhông vì nguyên nhân lãnh nạn, giấy đăng kiểm bị đình chỉ hoặc hết hạn
1.2.3 Giá trị bảo hiểm và số tiền bảo hiểm thân tàu
1.2.3.1 Giá trị bảo hiểm (Insured Value)
Giá trị bảo hiểm của tàu là tổng giá trị của tàu lúc bắt đầu bảo hiểm, kể
cả máy móc, trang thiết bị dụng cụ, đồ đạc, phụ tùng, đồ dự trữ, lương thực,thực phẩm cho thuỷ thủ, tiền lương ứng trước, các chi phí cần thiết để chuẩn
bị cho chuyến đi, cộng với phí bảo hiểm toàn bộ tàu
Ở Việt Nam, giá trị bảo hiểm của tàu được xác định trên cơ sở giá trịthực tế của tàu Giá trị thực tế của tàu được xác định theo giá tàu thuyền trênthị trường trong nước hoặc thị trường quốc tế cùng loại
Giá trị bảo hiểm ghi trên hợp đồng bảo hiểm là giới hạn trách nhiệm cao nhất mà người bảo hiểm nhận trách nhiệm bồi thường đối với một vụ tổn thất
1.2.3.2 Số tiền bảo hiểm (Insured Amount)
Số tiền bảo hiểm là toàn bộ hay một phần giá trị bảo hiểm do người được bảo hiểm yêu cầu và được bảo hiểm Nếu số tiền bảo hiểm ghi trong
Trang 15hợp đồng lớn hơn giá trị bảo hiểm thì phần vượt quá giá trị bảo hiểm không được thừa nhận Tại Việt Nam nếu số tiền bảo hiểm thấp hơn giá trị thực tế thì người bảo hiểm sẽ nhận bảo hiểm theo hình thức dưới giá trị hoặc theo hình thức TLO.
1.2.4 Phí bảo hiểm thân tàu
Phí bảo hiểm là số tiền mà người tham gia (chủ tàu) nộp cho công ty bảo hiểm trên cơ sở STBH và tỷ lệ phí bảo hiểm
Phí bảo hiểm thân tàu bao gồm:
- Phí bồi thường cho tổn thất toàn bộ;
- Phí bồi thường tổn thất bộ phận bao gồm các chi phí sửa chữa tạm thời, chính thức và chưa sửa chữa
- Phụ phí gồm chi phí quản lý, chi phí đề phòng hạn chế tổn thất, chi phí tuyên truyền quảng cáo v.v…
Vậy:
Phí bảo Phí bồi Phí bồi Phụhiểm = thường tổn + thường tổn + phíthân tàu thất toàn bộ thất bộ phận khác Phí bồi thường tổn thất toàn bộ = Số tiền bảo hiểm x Tỷ lệ phí Tỷ lệ
phí phụ thuộc vào độ tuổi, tầm vóc và trang thiết bị của tàu Tàu càng già(trên 15 tuổi), tầm vóc càng lớn trang thiết bị càng kém hiện đại…thì tỷ lệphí càng càng cao
Phí bồi thường tổn thất bộ phận phụ thuộc vào tình trạng bảo dưỡng,
sửa chữa, vào tuyến đường và phạm vi hoạt động của tàu, vào tình trạng tổnthất của các năm trước đó của đội tàu (trên tuyến đường)
Phụ phí khác thì phụ thuộc vào chi phí quản lý hành chính, chi phí đề phònghạn chế tổn thất, lập quỹ dự phòng, tỷ lệ lạm phát mất giá đồng tiền v.v…
Trang 16Cũng như các nghiệp vụ khác, phí bảo hiểm thân tàu phải đóng ngay sau khihợp đồng có hiệu lực Nếu tàu ngừng hoạt động liên tục (30 ngày trở lên)sau khi đã đóng phí, bảo hiểm sẽ hoàn lại phí (do tàu ngừng hoạt động) Mỗinước, có qui định riêng về tỷ lệ hoàn phí bảo hiểm cho tàu ngừng hoạt độngliên tục (30 ngày trở lên) phù hợp vời điều kiện bảo hiểm của nước đó.
Số phí Số ngày ngừng
Số phí bảo hiểm Tỷ lệ phí hoạt động
= đóng x hoàn lại x
Hoàn lại cả năm Số ngày trong năm (365)
1.2.5 Hợp đồng bảo hiểm thân tàu
1.2.5.1 Khái niệm hợp đồng bảo hiểm
Hợp đồng bảo hiểm là hợp đồng được ký kết giữa người bảo hiểm vàngười được bảo hiểm mà theo đó, người bảo hiểm sau khi nhận được mộtkhoản tiền gọi là phí bảo hiểm do người được bảo hiểm đóng thì có tráchnhiệm bồi thường cho người được bảo hiểm các tổn thất mà họ phải gánhchịu do các hiểm hoạ gây ra thuộc phạm vi bảo hiểm
1.2.5.2 Hình thức hợp đồng bảo hiểm thân tàu
Hợp đồng bảo hiểm phải được trình bày trên một bản viết đó là đơn
bảo hiểm Các đơn bảo hiểm đều được in sẵn, mỗi nước có cách trình bàyriêng về hình thức nhưng cơ cấu nội dung cơ bản là giống nhau
Về phương diện tài chính, đơn bảo hiểm là một thứ chứng từ gốc để tìm
cơ sở giải quyết bồi thường, tính toán tổn thất; còn về mặt pháp lý, đó là mộtvăn bản gốc làm cơ sở giải quyết khiếu nại
Có hai loại hợp đồng bảo hiểm:
- Hợp đồng bảo hiểm chuyến: là hợp đồng bảo hiểm thân tàu từ địađiểm này đến địa điểm khác trong một cuộc hành trình
Trang 17- Hợp đồng bảo hiểm thời hạn (thời gian): là hợp đồng bảo hiểm chomột con tàu trong một khoảng thời gian nhất định, có thể là 3 tháng, 6 thánghay một năm.
Do đó, tuỳ thuộc vào loại hợp đồng bảo hiểm mà công ty bảo hiểm sẽ cấp đơn bảo hiểm với giá trị tương ứng như thoả thuận trong hợp đồng 1.2.5.3 Nội dung của hợp đồng bảo hiểm thân tàu
Nội dung của hợp đồng bảo hiểm thân tàu rất chặt chẽ, đầy đủ và đượcghi rõ ràng, dễ hiểu Bao gồm những nội dung chính sau đây:
- Những thông tin liên quan đến ngươi bảo hiểm và người tham gia bảohiểm;
- Nguyên tắc chung;
- Luật, điều khoản áp dụng;
- Phí bảo hiểm;
- Công tác đề phòng hạn chế tổn thất;
- Phạm vi bảo hiểm, số tiền bảo hiểm;
- Những hướng dẫn trong trường hợp xảy ra tổn thất;
- Trách nhiệm bồi thường;
- Thời hạn khiếu nại, hiệu lực của hợp đồng;
1.2.5.4 Các chủ thể liên quan trong hợp đồng bảo hiểm thân tàu
Cũng như các hợp đồng bảo hiểm tài sản khác, hợp đồng bảo hiểmthân tàu cũng có hai bên là người bảo hiểm và người tham gia bảo hiểm hayngười được bảo hiểm
Thực chất người bảo hiểm là các doanh nghiệp bảo hiểm Đó là nhữngdoanh nghiệp được thành lâp nhằm thực hiện các hoạt động kinh doanh bảohiểm và tái bảo hiểm Vì con tàu là một tài sản lơn nên phía người bảo hiểm
có thể là một doanh nghiệp hay nhiều doanh nghiệp cùng đồng bảo hiểmcho con tàu đó
Trang 18Các công ty bảo hiểm có trách nhiệm bồi thường tổn thất thuộc phạm
vi bảo hiểm trong trường hợp có tổn thất xảy ra cho chủ tàu (người được bảohiểm) Quyền lợi người bảo hiểm được hưởng chính là mức phí mà họ thuđược
Con tàu tham gia bảo hiểm hay người được bảo hiểm chính là ngườichủ sở hữu tài sản Họ tham gia bảo hiểm nhằm mục đích tìm kiếm sự antoàn cho con tàu của mình
Người tham gia bảo hiểm- người được bảo hiểm có thể là chủ tàu, chủhàng, thuyền trưởng (nếu thuyền trưởng cũng có quyền sở hữu con tàu),người thuê tàu, có thể là một cá nhân, một tập thể các chủ sở hữu hoặc làmột doanh nghiệp
1.2.5.5 Trách nhiệm của các bên trong hợp đồng bảo hiểm thân tàu
Cả hai bên người bảo hiểm và người được bảo hiểm đều có tráchnhiệm và nghĩa vụ phải thực hiện theo như cam kết trong hợp đồng bảohiểm.Trách nhiệm của các bên được thể hiện như sau:
a, Người bảo hiểm
- Giải thích người được bảo hiểm về các điều kiện , điều khoản, quyền
và nghĩa vụ của họ;
- Chịu trách nhiệm bảo hiểm vơi Số tiền bảo hiểm giá trị bảo hiểm
tại thời điểm bảo hiểm;
- Đề ra các biện pháp cùng người tham gia đề phòng hạn chế tổn thất;
- Trách nhiệm về thời gian: bắt đầu từ 24h ngày ký kết hợp đồng đến24h ngày hết hạn hợp đồng, nếu tàu còn ở ngoài khơi thì gia hạn hợp đồngcho đến khi tàu về đến cảng cuối cùng
- Trách nhiệm về không gian: nếu hợp đồng ghi rõ tại cảng quy địnhthì hiệu lực hợp đồng bắt đầu hi tàu về đến cảng phải là tàu đủ điều kiện bảohiểm và khoảng thời gian để tàu về đến cảng phải là thời gian hợp lý Nếu vi
Trang 19phạm thì người bảo hiểm có quyền từ bỏ hợp đồng Nếu thay đổi hành trìnhkhông được sự chấp thuận của người bảo hiểm thì họ có quyền từ bỏ tráchnhiệm của mình Việc từ bỏ trách nhiệm phải được giải thích bằng văn bản;
- Phối hợp với bên người được bảo hiểm để giải quyết yêu cầu củangười thứ ba đòi bồi thường về những thiệt hại thuộc trách nhiệm bảo hiểmtrong trường hợp xảy ra tai nạn đâm va
b, Người được bảo hiểm
Khi tham gia bảo hiểm, chủ tàu phải khai báo với người bảo hiểm mộtcách đầy đủ các đặc trưng pháp lý của đối tượng được bảo hiểm, bao gồm:
- Tên tàu: Mỗi tàu khi đưa vào hoạt động đều mang một tên riêng biệt
và bắt buộc phải ghi vào sau đuôi tàu Trong trường hợp gặp tàu trùng tên,thì các tàu được phân biệt dựa vào quốc tịch của tàu;
- Nơi và năm đóng tàu: người tham gia bảo hiểm phải ghi đầy đủ năm
và nơi đóng con tàu được bảo hiểm để người bảo hiểm theo dõi tàu và chấtlượng tàu khi đóng;
- Loại tàu: là tàu chở hàng, tàu chở dầu hay tàu chở khí đốt v.v…Vớimỗi loại tàu khác nhau có mức độ nguy hiểm khác nhau và tỷ lệ phí mỗi loạinày khác nhau;
- Cảng đăng ký: là cảng chủ tàu đóng trụ sở;
-Quốc tịch tàu: nơi chủ tàu cho con tàu của mình đăng ký quốc tịch đểmang cờ tàu;
- Cấp tàu;
- Dung tích/ trọng tải của con tàu: được đo bằng GRT/DWT;
Ngoài ra, chủ tàu phải cam kết đủ ba điều kiện sau:
Thứ nhất, tàu đủ khả năng đi biển ngay khi thời hạn bảo hiểm có hiệu
lực
Trang 20Thứ hai, quốc tịch tàu không đổi trong suốt thời gian bảo hiểm Việc
lựa chọn quốc tịch tàu để cắm cờ tàu phụ thuộc quyền của chủ tàu và tuỳthuộc vào mục đích, nhiệm vụ kinh doanh của con tàu Người bảo hiểmmuốn quốc tịch tàu không thay đổi để lường trước các rủi ro tổn thất do việcthù địch, đối địch hoặc hành động có tính chất chiến tranh gây ra
Thứ ba, hành trình của con tàu phải hợp pháp Trong thời gian hiệu
lực của hợp đồng bảo hiểm có thể phát sinh những lệnh bao vây cấm vậnphong toả, bắt giữ kiềm chế hàng hoá hoặc con tàu chuyên chở hàng hoá đó.Nếu chủ tàu không từ bỏ hành trình vi phạm một trong những lệnh trên thìđược coi là hành trình bất hợp pháp
Ngoài những cam kết trên, theo hợp đồng bảo hiểm người được bảohiểm còn có những trách nhiệm sau:
- Đóng phí bảo hiểm đầy đủ;
- Khi đã ký xong hợp đồng bảo hiểm phải thực hiện các biện phápnhằm phòng ngừa hoặc hạn chế tổn thất phát triển Người bảo hiểm cóquyền từ chối bồi thường phần thiệt hại do người được bảo hiểm không thựchiện nghĩa vụ đó gây ra;
- Khi xảy ra tổn thất thuộc phạm vi trách nhiệm của hợp đồng bảo hiểm
thì phải kịp thời báo ngay cho người bảo hiểm hoặc giám định viên đã đượcchỉ định tại nơi xảy ra tai nạn để yêu cầu giám định tổn thất và cấp biên bảngiám định Biên bản giám định không do giám định viên bảo hiểm hoặcngười đại lý giám định được chỉ định lập thì sẽ không có giá trị để làm cơ sởgiải quyết bồi thường
1.2.5.6 Thời hạn bảo hiểm
Thời hạn bảo hiểm thường là từ 3 tháng đến 1 năm, bắt đầu tính từ 24
giờ của ngày ký kết hợp đồng đến 24 giờ của ngày kết thúc hợp đồng theo
Trang 21giờ địa phương của chủ tàu hoặc giờ địa phương của nơi ký kết hợp đồng,nếu không qui định thì coi như theo như GMT.
Nếu khi hết hạn hợp đồng mà tàu đang ở ngoài biển, đang bị nạn hoặcmất tích thì tàu vẫn được bảo hiểm theo một tỷ lệ phí bảo hiểm của tháng,miễn là có thông báo cho người bảo hiểm trước khi bảo hiểm hết hiệu lực,cho đến khi tàu đến cảng kế tiếp an toàn hoặc nếu tàu đang bị nạn thì chođến khi tàu đã an toàn
Hiệu lực bảo hiểm của tàu sẽ tự động chấm dứt khi phát sinh một
trong những trường hợp sau đây:
- Người bảo hiểm không nộp phí bảo hiểm đầy đủ và đúng hạn theoqui định;
- Thay đổi nơi đăng kiểm của tàu mà không thông báo cho người bảo
hiểm biết bằng văn bản;
- Tàu bị đình chỉ hoạt động hoặc giấy phép hoạt động của tàu bị thuhồi hay hết hạn;
- Tàu được chuyển chủ;
- Giấy chứng nhận đủ khả năng đi biển và giấy chứng nhận cấp hạngcủa tàu bị hết hiệu lực hay hết thời hạn Tuy nhiên, trường hợp giấy phéphoạt động và các giấy tờ đăng kiểm của tàu là hợp lệ nhưng hết thời hiệu màtàu còn đang ở ngoài khơi thì việc chấm dứt hiệu lực bảo hiểm sẽ được hoãnlại cho đến khi tàu đến cảng kế tiếp đầu tiên
1.3 Công tác giải quyết khiếu nại bồi thường trong bảo hiểm thân tàu
1.3.1 Vai trò công tác giải quyết khiếu nại bồi thường
Theo thoả thuận trong hợp đồng bảo hiểm, khi có các sự kiện bảo
hiểm xảy ra, DNBH phải có trách nhiệm và nghĩa vụ bồi thường hoặc chi trảtiền bảo hiểm cho người thụ hưởng quyền lợi bảo hiểm Để được bồi thườnghoặc chi trả, bên tham gia bảo hiểm tiến hành khiếu nại đòi bồi thường hoặc
Trang 22chi trả đối với doanh nghiệp bảo hiểm Vì vậy, công tác giải quyết khiếu nạibồi thường đối với doanh nghiệp bảo hiểm có ảnh hưởng rất lớn đến uy tíncủa công
Bồi thường và chi trả tiền bảo hiểm là vấn đề trọng tâm của hoạt động
kinh doanh bảo hiểm Bởi vì khi mua bảo hiểm, có nghĩa là khách hàng đãtrả tiền cho các SPBH và DNBH cam kết bồi thường hoặc chi trả tiền bảohiểm một cách nhanh chóng và đầy đủ nếu không may họ bị tổn thất Chínhvào thời điểm tổn thất xảy ra, phía khách hàng thường bị những “cú sốc” lớn
về tinh thần, đặc biệt là trong những trường hợp người được bảo hiểm bị tửvong hay thương tật toàn bộ vĩnh viễn (trong BHCN) Vào lúc này thì nănglực, sự trung thực, tính hiệu quả, sự tế nhị và tính nhân đạo của DNBH đượcthừa nhận qua cách xử sự của mình với các nạn nhân của sự kiện được bảohiểm Nếu giải quyết tốt thì đó là cách quảng cáo tốt nhất đối với một doanhnghiệp bảo hiểm Nhận thức được vai trò của công tác bồi thường và chi trảbảo hiểm nên nhiều công ty bảo hiểm trên thế giới đã nêu thành những triết
lý kinh doanh
“ Hãy đối xử với khách hàng theo cách mà bạn muốn được đối xử trong trường hợp bạn gặp tổn thất”.
( Công ty BHTS Clubb Corporation)
Các công ty bảo hiểm quốc tế đã tổng kết, khái quát hoá vai trò của
công tác bồi thường và chi trả tiền bảo hiểm như sau:
“ Nếu giải quyết bồi thường hoặc chi trả nhanh chóng và chính xác,khách hàng cũng sẽ nhanh chóng khắc phục được những tổn thất về mặt tàichính để từ đó ổn định cuộc sống, ổn định sản xuất kinh doanh và nâng caoniềm tin vơi doanh nghiệp bảo hiểm Từ đó, giúp doanh nghiệp giữ đượckhách hàng truyền thống và mở ra triển vọng khai thác được những kháchhàng tiềm năng trong tương lai”
Trang 23( Jêrôme- Trường quôc gia bảo hiểm Paris)
Trên cơ sở triết lý này, các doanh nghiệp đề ra các mục tiêu cụ thểđối với công tác bồi thường tổn thất, đó là giải quyết bồi thường nhanhchóng, kịp thời, chuyên nghiệp và công bằng với thái độ thông cảm, tinhthần trung thực
1.3.2 Nội dung công tác giải quyết khiếu nại bồi thường
Nội dung chính của công việc giải quyết khiếu nại bao gồm hai khâuquan trọng là: giám định tổn thất và giải quyết bồi thường, chi trả
1.3.2.1 Giám định tổn thất
Giám định tổn thất được thực hiện bởi các chuyên viên giám định Tuỳ
theo từng nước, tưng loại hình doanh nghiệp bảo hiểm, và từng nghiệp vụbảo hiểm khác nhau mà quy chế về chuyên viên giám định bảo hiểm cũngkhác nhau Ở những nước phát triển, chuyên viên giám định do DNBH trựctiếp chỉ định và lựa chọn Nhưng phần lớn các nước chuyên viên giám định
là chính nhân viên của các doanh nghiệp bảo hiểm
Chuyên viên giám định bảo hiểm phải công minh, cận thận và hiểubiết một cách thấu đáo về từng nghiệp vụ bảo hiểm mà mình phụ trách Phảithi hành công vụ một cách mẫn cán, chấp hành nghiêm chỉnh những chỉ thị,
ý kiến của doanh nghiệp bảo hiểm Được phép mời các cộng sự làm việcnhưng phải có ý kiến của doanh nghiệp bảo hiểm, nếu là chuyên viên giámđịnh của doanh nghiệp bảo hiểm Nếu chuyên viên giám định do DNBH chỉđịnh, lựa chọn sẽ được uỷ nhiệm một số quyền hạn nhất định, song khôngđược nhượng lại sự uỷ quyền này cho người khác, lợi ích của họ phải độclập với lợi ích của người tham gia bảo hiểm
a, yêu cầu
Thứ nhất, ghi nhận thiệt hại chính xác, kịp thời khách quan và trung
thực Ghi nhận thiệt hại tức là ghi lại thực trạng và xác định thiệt hại, mức
Trang 24độ trầm trọng và nguyên nhân gây thiệt hại Và đảm bảo tính khách quan,trong giám định thân tàu có thể cần có sự chứng kiến, phối hợp của bên thứ
ba như công an điều tra Những thiệt hại được ghi nhận phải thể hiện trong “Biên bản giám định”
Thứ hai, đề xuất các biện pháp bảo quản và phòng ngừa thiệt hại phải
kịp thời và đúng hạn Khi rủi ro tổn thất xảy ra, chuyên viên giám định cónghĩa vụ can thiệp để giảm thiểu độ trầm trọng của tổn thất và tình trạng giatăng thiệt hại
Thứ ba, những thông tin mà giám định viên cung cấp cho người bảo
hiểm phải kịp thời bởi vì nó là bằng chứng để tiến hành công tác giải quyếtkhiếu nại bồi thường thân tàu sau đó
b, Qui trình giám định tổn thất
Giám định bảo hiểm chỉ chấp nhận yêu cấu giám định trong trườnghợp xảy ra tai nạn, có tổn thất, thuộc phạm vi trách nhiệm bảo hiểm Vì vậy,đối với những trường hợp phát hiện không thuộc phạm vi bảo hiểm cần có ýkiến ngay để bên tham gia bảo hiểm có hướng giải quyết
Tuỳ từng nghiệp vụ bảo hiểm mà tổ chức giám định tổn thất cho phùhợp Có thể khái quát qui trình giám định tổn thất cho phù hợp Có thể kháiquát qui trình giám định theo các bước sau đây:
- Chuẩn bị giám định: Trước khi tiến hành giám định phải chuẩn bị đầy
đủ các loại giấy tờ cần thiết liên quan đến đối tượng bảo hiểm như: Đơn bảohiểm hoặc giấy yêu cầu bảo hiểm, bảng kê chi tiết các loại tài sản được bảohiểm, giấy ra viện, các chứng từ, hoá đơn sửa chữa, thay thế,… Ngoài ra,nếu cần thiết phải chuẩn bị hiện trường giám định, thống nhất thời gian vàđịa điểm giám định, tổ chức mời các bên có liên quan trong khi giám định
- Tiến hành giám định: Công việc giám định phải được tiến hành khẩn
trương, ý kiến của chuyên viên giám định đưa ra phải chuẩn xác hợp lý và
Trang 25nhất quán Với những nghiệp vụ bảo hiểm phải giám định ngày, chuyên viêngiám định phải bám sát hiện trường để theo dõi, thu thập thông tin và đưa racác phương án giải quyết phù hợp Trong quá trình giám định phải tập trungvào các công việc sau đây:
+ Kiểm tra đối tượng giám định;
- Lập biên bản giám định: Đây là tài liệu chủ yếu để xét duyệt bồi
thường hoặc chi trả bảo hiểm và khiếu nại người thứ ba Vì vậy, nội dungvăn bản này phải đảm bảo tính trung thực, chính xác, rõ ràng cụ thể Thôngthường biên bản giám định được lập ở hiện trường và sau khi thống nhất lấychữ ký của các bên có liên quan Biên bản giám định chỉ cấp cho người cóyêu cầu giám định Không được tiết lộ nội dung giám định cho những ngườikhác khi chưa có yêu cầu của doanh nghiệp bảo hiểm
Cũng như trong bảo hiểm hàng hóa, việc giám định tổn thất trong bảohiểm thân tàu cũng phải do người giám định hoặc công ty giám định củangười bảo hiểm hoặc do người bảo hiểm uỷ quyền Việc giám định có thể cóthuyền trưởng và những nhân chứng khác chứng kiến Phí giám định dongười yêu cầu giám định trả và được bồi thường nếu tổn thất thuộc tráchnhiệm bảo hiểm
Giá cả và nơi sửa chữa tàu phải thông báo cho người bảo hiểm biết.Người bảo hiểm có quyền tham gia ý kiến và quyết định về nơi sửa chữa,giá cả và giám sát nơi sửa chữa
Trang 26Nếu người được bảo hiểm vi phạm quy định này thì người bảo hiểm sẽtrừ 15% số tiền được chấp nhận bồi thường.
1.3.2.2 Bồi thường và chi trả tiền bảo hiểm
Nếu như công tác giám định tàu giúp cho người bảo hiểm xác định
được bảo hiểm đúng đối tượng tham gia bảo hiểm hoặc đề phòng hạn chếtổn thất được hiệu quả hơn thì công tác bồi thường tổn thất trong bảo hiểmthân tàu cũng có vai trò không kém phần quan trọng
Trình tự giải quyết bồi thường hoặc chi trả tiền bảo hiểm được tiếnhành như sau:
a, Mở hồ sơ khách hàng
Khi nhận được biên bản giám định tổn thất và các giấy tờ có liên quan,
bộ phận giải quyết bồi thường phải mở hồ sơ khách hàng và ghi lại theo thứ
tự số hồ sơ và thời gian Sau đó kiểm tra, đối chiếu vơi bản hợp đồng gốc vềcác thông tin liên quan đến bản kê khai tổn thất Tiếp theo phải thông báocho khách hàng là đã nhận được đầy đủ các giấy tờ có liên quan, nếu thiếuloại giấy tờ nào cũng phải thông báo để nhanh chóng bổ sung hoàn thiện hồ
sơ bồi thường
b, Xác định số tiền bồi thường
Trong bảo hiểm thân tàu hồ sơ khiếu nại đòi bồi thường bao gồm:
- Thư khiếu nại;
- Báo cáo hàng hải, báo cáo tai nạn hoặc tổn thất có xác nhận của chínhquyền nơi xảy ra tai nạn hoặc bến đến đầu tiên;
- Biên bản giám định của người bảo hiểm hoặc người được người bảohiểm uỷ quyền;
- Hoá đơn, chứng từ liên quan đến chi phí bồi thường;
- Văn bản, thư từ liên quan đến việc đòi người thứ ba bồi thường;
Trang 27- Những giấy tờ khác như: trích sao nhật ký hàng hải, nhật ký máy, nhật
- Biên bản giám định tổn thất và bản kê khai tổn thất;
- Điều khoản, điều kiện của hợp đồng bảo hiểm;
- Bảng theo dõi số phí bảo hiểm đã nộp:
- Số tiền vay trên hợp đồng (nếu có);
- Thực tế chi trả của người thứ ba (nếu có)
c, Thông báo bồi thường
Sau khi STBT được xác định, DNBH sẽ thông báo chấp nhận bồithường và đề xuất các hình thức bồi thường: Thanh toán bằng tiền mặt, sửachữa tài sản, thay thế mới tài sản Nếu số tiền bồi thường hoặc chi trả quálớn, DNBH có thể thoả thuận với khách hàng về kỳ hạn thanh toán, thờigian, lãi suất trả chậm…
Phần lớn các vụ tổn thât được giải quyết bồi thường hoặc chi trả rấtnhanh chóng, ngay sau khi khách hàng tập hợp được các giấy tờ chứng minhcần thiết cùng với đơn khiếu nại hoặc ngay sau khi chuyên viên giám địnhxác định được số tiền thiệt hại do tổn thất gây ra và lập biên bản giám định.Tuy nhiên, trong một số trường hợp, việc thanh toán bồi thường, chi trả đòihỏi thời hạn dài, khiến khách hàng phật ý
Trong bảo hiểm thân tàu thời hạn thanh toán tiền bồi thường là trongvòng 60 ngày kể từ ngày nhận đầy đủ hồ sơ khiếu nại Nếu người bảo hiểm
Trang 28từ chối thì người được bảo hiểm phải có ý kiến trong vòng 60 ngày kể từngàygửi giấy thông báo từ chối, nếu không coi như chấp thuận.
d, Truy đòi người thứ ba
Cuối cùng bộ phận thanh toán bồi thường phải áp dụng các biện pháp
để tiến hành truy đòi người thứ ba nếu họ có liên đới trách nhiệm trongtrường hợp tổn thất xảy ra hoặc với các nhà bảo hiểm khác trên thị trườngtái bảo hiểm Thực hiện truy đòi cũng phải nhanh chóng, kịp thời để quản lýtốt các nghiệp vụ bảo hiểm mà kết quả của chúng có liên quan nhiều đến kếtquả truy đòi như: Bảo hiểm xe cơ giới, tàu thuỷ,…
Quá trình giải quyết các khiếu nại là quá trình đòi hỏi sự giao tiếpthường xuyên với khách hàng Khi gặp rủi ro gây ra tổn thất nhiều kháchhàng luôn ở trong tâm trạng mất phương hướng, bối rối nên bộ phận giảiquyết khiếu nại phải có phong cách phục vụ văn minh, có tinh thần hợp tácvới sự nhiệt tình trung thực, thái độ tôn trọng biết cảm thông với những mấtmát của khách hàng Vấn đề khiếu nại của khách hàng chủ yếu tập trung ởkhâu giám định tổn thất, bồi thường hoặc chi trả tiền bảo hiểm Song khôngchỉ có vậy, trong quá trình thực hiện hợp đồng, khách hàng còn khiếu nạithắc mắc nhiều vấn đề khác liên quan đến đại lý, môi giới, khai thác viênbảo hiểm,… Tất cả những khiếu nại và thắc mắc đó đều phải được giảiquyết nhanh chóng, kịp thời có tình có lý trên tinh thần hợp tác đúng phápluật
Trang 29CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI BỒI THƯỜNG
TRONG BẢO HIỂM THÂN TÀU TẠI BẢO VIỆT HÀ NỘI
2.1 Giới thiệu chung về Bảo Việt Hà Nội
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển
Công ty Bảo Hiểm Hà Nội ( Bảo Việt Hà Nội) thành lập năm 1980theo quyết định số 1125/QĐ- BTC ngày 14/11/1980 của Bộ tài chính Banđầu Công ty có tên là “Chi nhánh Bảo hiểm Thành Phố Hà Nội”, trực thuộcTổng công ty Bảo hiểm Việt Nam, với nhiệm vụ là tổ chức hoạt động kinhdoanh bảo hiểm thương mại trên địa bàn thành phố Hà Nội
Từ sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, đất nước có nhữngchuyển mình căn bản, từ cơ chế hành chính quan liêu bao cấp sang cơ chếthị trường, thừa nhận nhiều thành phần kinh tế cơ bản, khuyến khích đầu tưnước ngoài Thị trường hàng hoá cũng như thị trường vốn trong nước sôiđộng đặt ngành bảo hiểm trước những yêu cầu mới trong sự nghiệp thúc đẩyphát triển kinh tế đất nước Đáp ứng yêu cầu đó, ngày 17/02/1989, Bộ tàichính đã ra quyết định 27/TCQĐ-TCCB chuyển “Chi nhánh Bảo hiểmThành Phố Hà Nội” thành “công ty Bảo hiểm Hà Nội” gọi tắt là Bảo Việt
Hà Nội (BVHN) Ngày 4/3/1989, Tổng công ty Bảo hiểm Việt Nam raquyết định 230/TCCB-BH phê chuẩn điều lệ tổ chức và hoạt động của BảoViệt Hà Nội, đặt trụ sở chính tại 15C Trần Khánh Dư-Quận Hoàn kiếm-HàNội, với 26 phòng trực thuộc trong đó có 5 phòng quản lý và 21 phòng trựctiếp kinh doanh trải khắp trên địa bàn 14 quận huyện trong Thành phố
Cùng với thời gian, quy mô và vị thế của Công ty bảo hiểm Hà Nộingày càng lớn mạnh và đã khẳng định trên thị trường Trong quá trình pháttriển, Công ty đã không ngừng mở rộng hệ thống quản lý và phục vụ khách
Trang 30hàng, hiện tại công ty đã cung cấp hơn 50 sản phẩm bảo hiểm khác nhau đểđáp ứng nhu cầu của thị trường.
Trải qua hơn 26 năm, Bảo Việt Hà Nội đã không ngừng lớn mạnh cả
về chiều rộng lẫn chiều sâu Từ lúc thành lập Chi nhánh chỉ có 7 người vớimột phòng nhỏ làm trụ sở đến nay Bảo Việt Hà Nội đã có trụ sở khang trangvới gần 160 cán bộ và 14 văn phòng đại diện ở tất cả các quận huyện, cùngmạng lưới đại lý, cộng tác viên phủ kín các địa bàn dân cư trên thành phố
Hà Nội, sẵn sàng phục vụ nhu cầu bảo hiểm đa dạng của các cá nhân và tổchức kinh tế, các nhà đầu tư cũng như mọi thành phần kinh tế khác Doanhthu hàng năm từ chỗ 30 triệu đồng đến nay đã đạt hơn 200 tỷ đồng, trởthành một đơn vị chủ lực của Tổng Công ty Bảo hiểm Việt Nam
Ngày 28/11/2005 Thủ tướng chính phủ đã ra quyết định310/2005/QĐ-TTg phê duyệt đề án cổ phần hóa Tổng Công ty Bảo hiểmViệt Nam( Bảo Việt) và thí điểm thành lập Tập đoàn Tài chính- Bảo HiểmBảo Việt Quyết định của Thủ tướng Chính phủ là một quyết định có ýnghĩa đặc biệt vì nó hàm chứa bên trong 3 vấn đề lớn:
Một là, cổ phần hóa Tổng Công ty Bảo Hiểm Việt Nam ( cả Tổng
Công ty)
Hai là, chuyển đổi mô hình tổ chức của Tổng Công ty Bảo hiểm Việt
Nam từ mô hình Tổng Công ty Nhà nước sang mô hình công ty mẹ- công tycon
Ba là, hình thành tập đoàn kinh tế mới- Tập đoàn Tài chính- Bảo Hiểm
Bảo Việt
Quyết định của Chính phủ đã có hiệu lực, việc thực hiện cổ phần hóaTổng Công ty Bảo hiểm Việt Nam và thí điểm thành lập Tập đoàn Tàichính- Bảo hiểm Bảo Việt đang khởi động khẩn trương Đây là một sứ mệnhcao cả nhưng trách nhiệm cũng rất lớn của những người thực hiện Quyết
Trang 31định, sự thành công trong thực hiện một số chủ trương mới có tính thí điểmcủa Nhà nước trong quyết định 310/2005/QĐ-TTg sẽ có ý nghĩa lớn trongđiều chỉnh chính sách của Nhà nước ta về đổi mới trong doanh nghiệp nhànước trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế.
2.1.2 Tổ chức bộ máy hoạt động.
Trong những năm gần đây, thị trường bảo hiểm Việt Nam nói chung
và thị trường bảo hiểm Hà Nội nói riêng đã có nhiều biến động đáng kể.Nghị định 100/CP ban hành ngày 18/12/1993 và nghị định 74/CP ban hànhngày 14/6/1997 của Chính phủ về việc cho phép nhiều doanh nghiệp thuộccác thành phần kinh tế ( Nhà nước, cổ phần, liên doanh, 100% vốn nướcngoài và các văn phòng đại diện nước ngoài) tham gia kinh doanh bảo hiểmtại Việt Nam đã phá vỡ thế độc quyền của Bảo Việt Sự xuất hiện của cáccông ty này buộc Bảo Việt Hà Nội phải không ngừng cải thiện, nâng caochất lượng dịch vụ của mình thì mới đảm bảo khả năng đứng vững trongcạnh tranh Một trong những biện pháp quan trọng đó là thay đổi cơ cấu tổchức văn phòng công ty Theo cơ cấu tổ chức mới, song song với nhiệm vụkhai thác khách hàng, văn phòng công ty còn có chức năng quản lý và giámsát hoạt động của các văn phòng địa phương trực thuộc Bởi vậy ngoài cácphòng ban phụ trách các vấn đề tổ chức nhân sự, hành chính, kế toán…những phòng nghiệp vụ ngoài nhiệm vụ trực tiếp tiến hành kinh doanh còn
có chức năng quản lý giúp đỡ các văn phòng tại các quận huyện trong việcquan hệ với khách hàng, đánh giá rủi ro, xử lý giám định và bồi thườngkhiếu nại
Với phương châm “phục vụ khách hàng một cách tốt nhất để phát triển” BVHN không ngừng đổi mới phong cách làm việc, nâng cao trình độ
nghiệp vụ để phục vụ khách hàng ngày một tốt hơn Đặc biệt BVHN đã liêntục củng cố kiện toàn bộ máy, tổ chức sắp xếp và đào tạo cán bộ cho phù