1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khai thác, xây dựng và sử dụng bài tập chương sóng ánh sáng vật lý 12 theo hướng củng cố, hệ thống hóa kiến thức và bồi dưỡng năng lực tự học cho học viên giáo dục thường xuyên

74 588 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 74
Dung lượng 1,2 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luật Giáo dục năm 2005 tiếp tục chỉ rõ: “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo của học sinh; phù hợp với từng đặc điểm của từng l

Trang 1

LỜI CẢM ƠN

Tác giả luận văn xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, Phòng đào tạo sau đại học, khoa vật lý trường ĐH Vinh - ĐH Sài Gòn đã tận tình hướng dẫn, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt khóa học

Xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc về sự hướng dẫn tận tình của thầy giáo hướng dẫn, PGS TS Lê Phước Lượng

Xin chân thành cảm ơn PGS TS Phạm Thị Phú cùng các thầy cô trong Khoa Vật lý đã có sự giúp đỡ và đóng góp ý kiến quí báu cho đề tài

Chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, thầy cô giáo và các em học viên TT GDTX quận Tân Phú đã giúp đỡ tôi trong khi thực nghiệm sư phạm

Cuối cùng tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn đối với gia đình, đồng nghiệp đã dành nhiều sự giúp đỡ, động viên tôi trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành đề tài này

Tác giả

Nguyễn Chí Trung

Trang 2

MỤC LỤC

Trang

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc củng cố, hệ thống hóa kiến thức và bồi dưỡng năng lực tự học thông qua hoạt động giải bài tập vật lý 4

1.1 Năng lực tự học 4

1.1.1 Năng lực 4

1.1.2 Tự học 4

1.1.3 Năng lực tự học 7

1.1.4 Vai trò của năng lực tự học trong việc phát triển tư duy của học viên 7

1.2 Bài tập vật lý 8

1.2.1 Khái niệm bài tập vật lý 8

1.2.2 Phân loại các bài tập vật lý 9

1.2.3 Các bước chung để giải bài tập vật lý 11

1.3 Vai trò của bài tập vật lý trong việc củng cố, hệ thống hóa kiến thức 13

1.3.1 Vai trò của việc củng cố, hệ thống hóa kiến thức trong dạy học vật lý 13

1.3.2 Vai trò của bài tập vật lý trong việc củng cố, hệ thống hóa kiến thức 14

1.4 Vai trò của bài tập vật lý trong việc bồi dưỡng năng lực tự học cho học viên 15

1.4.1 Các kỹ năng cần rèn luyện trong quá trình tự học của học viên giáo dục thường xuyên 15

1.4.2 Phương pháp bồi dưỡng năng lực tự học cho học viên giáo dục thường xuyên thông qua hoạt động giải bài tập vật lý 17

1.4.3 Vai trò của bài tập vật lý trong việc rèn luyện các kỹ năng tự học của học viên giáo dục thường xuyên 22

1.5 Tăng cường sử dụng bài tập vật lý theo hướng củng cố, hệ thống hóa kiến thức và bồi dưỡng năng lực tự học cho học viên giáo dục thường xuyên 23

1.5.1 Trong bước đặt vấn đề 23

1.5.2 Trong hình thành kiến thức mới 23

1.5.3 Trong bước củng cố, hệ thống hóa kiến thức 23

1.5.4 Trong bài tập về nhà 23

Trang 3

1.5.5 Trong Kiểm tra-Đánh giá 24

Kết luận chương 1 25

Chương 2 Khai thác, xây dựng và sử dụng bài tập theo hướng củng cố, hệ thống hóa kiến thức và bồi dưỡng năng lực tự học trong dạy học chương “Sóng ánh sáng” - Vật lý 12 26

2.1 Đặc điểm của chương “Sóng ánh sáng” 26

2.1.1 Vai trò và vị trí chương “Sóng ánh sáng” 26

2.1.2 Mục tiêu, nội dung dạy học chương “Sóng ánh sáng” 27

2.1.3 Cấu trúc logic chương “Sóng ánh sáng” 28

2.2 Thực trạng dạy học chương “Sóng ánh sáng” - Vật lý 12 28

2.2.1 Những thuận lợi và khó khăn của giáo viên và học sinh khi dạy và học chương “Sóng ánh sáng” 28

2.2.1.1 Thuận lợi 28

2.2.1.2 Khó khăn 29

2.2.2 Thực trạng việc sử dụng các bài tập trong dạy học chương “Sóng ánh sáng” của giáo viên hiện nay 29

2.3 Khai thác, xây dựng bài tập chương “Sóng ánh sáng” theo hướng củng cố, hệ thống hóa kiến thức và bồi dưỡng năng lực tự học cho học viên 30

2.3.1 Mục tiêu 30

2.3.2 Một số yêu cầu khi soạn thảo bài tập 30

2.3.3 Các nguyên tắc chung khi xây dựng các bài tập 30

2.3.4 Phương pháp soạn thảo bài tập 31

2.4 Phân loại bài tập chương “Sóng ánh sáng” 31

2.5 Một số giáo án dạy học chương “Sóng ánh sáng” 41

2.5.1 Giáo án 1 41

2.5.2 Giáo án 2 47

2.5.3 Giáo án 3 53

Kết luận chương 2 59

Chương 3 Thực nghiệm sư phạm 60

3.1 Mục đích 60

3.2 Nhiệm vụ 60

3.3 Đối tượng 60

Trang 4

3.4 Phương pháp 60

3.5 Tiến hành thực nghiệm sư phạm 61

3.6 Đánh giá thực nghiệm sư phạm 61

3.6.1 Đánh giá định tính 61

3.6.2 Đánh giá định lượng 62

3.6.3 Kiểm định giả thuyết thống kê 65

Kết luận chương 3 68

KẾT LUẬN CHUNG 69

TÀI LIỆU THAM KHẢO 70 PHỤ LỤC

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo nhằm tạo ra nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước đang là vấn đề được Đảng, Nhà nước hết sức quan tâm Đổi mới giáo dục nói chung và đổi mới phương pháp dạy học nói riêng là một trong những yêu cầu bức thiết của toàn xã hội đối với ngành giáo dục nước ta hiện nay

Nghị quyết Hội nghị lần thứ hai Ban chấp hành Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam (khóa VIII) về định hướng chiến lược phát triển giáo dục - đào tạo đã khẳng định:

“phải đổi mới phương pháp giáo dục và đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo cho người học ” Từ định hướng chiến lược này, trong

những năm qua ngành giáo dục đã có những chỉ đạo đổi mới phương pháp dạy học, quản

lý, tạo ra những chuyển biến và mang lại kết quả nhất định Cho đến nay nhiều văn bản chỉ đạo mới của Đảng, Chính phủ và Bộ Giáo dục - Đào tạo vẫn tiếp tục khẳng định lại định hướng đó

Luật Giáo dục (năm 2005) tiếp tục chỉ rõ: “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo của học sinh; phù hợp với từng đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh ”

Thực trạng sử dụng bài tập vật lý trong dạy học vật lý ở trường phổ thông, đặc biệt

là đối tượng học viên ở các trung tâm giáo dục thường xuyên là: đa số giáo viên sử dụng các bài tập vật lý nhìn từ góc độ lý luận và phương pháp dạy học vật lý còn nhiều bất cập, rập khuôn theo sách giáo khoa; vì thế hiệu quả học tập của học viên chưa cao, không phát huy được vai trò rèn luyện kỹ năng phân tích, giải bài tập và bồi dưỡng năng lực tự học của học sinh

Xuất phát từ các lý do trên, chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu: “Khai thác, xây dựng

và sử dụng bài tập chương “Sóng ánh sáng” - Vật lý 12 theo hướng củng cố, hệ thống hóa kiến thức và bồi dưỡng năng lực tự học cho học viên giáo dục thường xuyên”.

2 Mục đích nghiên cứu

Trang 6

Khai thác, xây dựng và sử dụng các bài tập vật lý chương “Sóng ánh sáng” - vật lý

12 nhằm giúp học viên giáo dục thường xuyên củng cố, hệ thống hóa kiến thức và bồi dưỡng năng lực tự học

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4 Giả thuyết khoa học

Nếu khai thác, xây dựng và sử dụng các bài tập theo hướng củng cố, hệ thống hóa kiến thức và bồi dưỡng năng lực tự học đảm bảo các yêu cầu về tính khoa học, sư phạm theo đề xuất thì sẽ góp phần nâng cao chất lượng dạy học vật lý ở Trung tâm GDTX

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

5.1 Nghiên cứu thực trạng sử dụng bài tập trong dạy học vật lý nói chung và chương “Sóng Ánh Sáng” – Vật lý 12 ở Trung tâm giáo dục thường xuyên nói riêng;5.2 Nghiên cứu cơ sở lý luận của việc dạy học các bài tập vật lý;

5.3 Nghiên cứu mục tiêu, nội dung kiến thức, kỹ năng chương “Sóng Ánh Sáng” - Vật lý 12;

5.4 Khai thác, xây dựng các bài tập vật lý chương “Sóng Ánh Sáng” - Vật lý 12 và xây dựng các phương án giảng dạy với các bài tập này;

5.5 Soạn thảo tiến trình dạy học một số kiến thức chương " Sóng ánh sáng " - Vật

lý lớp 12 theo hướng củng cố, hệ thống hóa kiến thức và bồi dưỡng năng lực tự học;5.6 Thực nghiệm sư phạm nhằm xác định mức độ phù hợp, tính khả thi và tính hiệu quả của các giáo án đã xây dựng với các bài tập theo hướng củng cố, hệ thống hóa kiến thức và bồi dưỡng năng lực tự học (tại Trung tâm giáo dục thường xuyên Tân Phú)

6 Phương pháp nghiên cứu

6.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết

- Nghiên cứu các văn kiện của Đảng, Nhà nước, Chính phủ và Bộ GD&ĐT về đổi mới và nâng cao chất lượng dạy học;

Trang 7

- Nghiên cứu chương trình, sách giáo khoa, sách giáo viên, sách bài tập, các tài liệu khác để phân tích cấu trúc logic, nội dung của các kiến thức dạy học chương “Sóng ánh sáng” - Vật lý 12;

- Nghiên cứu các loại bài tập vật lý và các phương pháp giải của chúng

6.2 Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm

- Điều tra thực trạng sử dụng bài tập trong dạy học chương “Sóng ánh sáng” - Vật

lý 12;

- Khai thác, xây dựng các bài tập theo hướng nói trên và phương án giảng dạy với các bài tập này của chương “Sóng Ánh Sáng” - Vật lý 12;

- Thực nghiệm sư phạm để kiểm tra giả thuyết khoa học của đề tài;

- Xử lý kết quả thực nghiệm sư phạm bằng phương pháp thống kê toán học

7 Dự kiến đóng góp mới của luận văn

- Về lý luận: Góp phần làm sáng tỏ thêm khả năng khai thác, xây dựng và sử dụng

các bài tập vật lý theo hướng củng cố, hệ thống hóa kiến thức và bồi dưỡng năng lực tự học cho học viên ở các Trung tâm giáo dục thường xuyên

- Về thực tiễn: Xây dựng được một số bài tập nhằm giúp học viên củng cố, hệ

thống hóa kiến thức và bồi dưỡng năng lực tự học

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC CỦNG CỐ, HỆ THỐNG HOÁ KIẾN THỨC VÀ BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC TỰ HỌC THÔNG QUA HOẠT

ĐỘNG GIẢI BÀI TẬP VẬT LÝ 1.1 Năng lực tự học

1.1.2 Tự học

Khái niệm về tự học (Self Directed Learning – SDL) bắt nguồn từ việc giáo dục cho người trưởng thành, là một giải pháp thực hiện bởi học viên người lớn ở tiểu học và trung

Trang 8

học Hiện nay, việc định nghĩa về tự học đã có nhiều thay đổi nhưng tựu trung lại có một

số quan điểm sau: Theo Bolhuis và Garrison thì “Tự học là sự tích hợp của việc tự quản lí với tự kiểm soát của người học, đó là quá trình mà người học tự theo dõi, đánh giá và điều chỉnh chiến lược nhận thức của mình Người học là chủ thể trong sự hợp tác chặt chẽ của GV và các bạn học cùng lớp”

Tác giả GS Nguyễn Cảnh Toàn cho rằng “Tự học là tự mình động não, suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ và có khi cả cơ bắp cùng với các phẩm chất của mình, rồi cả động cơ, tình cảm, cả nhân sinh quan, thế giới quan để chiếm lĩnh một lĩnh vực hiểu biết mới nào đó của nhân loại, biến lĩnh vực đó thành sở hữu của mình”

Tác giả Lưu Xuân Mới cho rằng “Tự học là hình thức hoạt động nhận thức của cá nhân nhằm nắm vững hệ thống tri thức và kĩ năng do chính bản thân người học tiến hành

ở trên lớp hoặc ở ngoài lớp, theo hoặc không theo chương trình và sách giáo khoa đã được qui định”

Nguyễn Kỳ viết “Tự học nghĩa là người học tích cực chủ động tự mình tìm ra bằng hành động của mình, tự thể hiện mình và hợp tác với các bạn, học bạn, học thầy và học mọi người Tự học là tự đặt mình vào tình huống học, vào vị trí của người tự nghiên cứu,

xử lí các tình huống, giải quyết các vấn đề đặt ra cho mình để nhận biết vấn đề, thu thập

xử lí thông tin cũ, xây dựng các giải pháp giải quyết vấn đề, thử nghiệm các giải pháp…”

Như vậy có thể hiểu, tự học là hoạt động độc lập chiếm lĩnh kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo…, kinh nghiệm lịch sử xã hội loài người nói chung và của chính bản thân người học

Đó là hoạt động nhận thức mang tính tích cực, chủ động, tự giác, phát huy cao độ vai trò của người học với sự hợp tác của thầy cô, bạn bè và các điều kiện học tập

Có nhiều cách tự học khác nhau như :

- Tự học giáp mặt: Những hoạt động học như nghe giảng, ghi chép bài, thảo luận nhóm, làm việc với sách, làm thí nghiệm, quan sát…của HV, được HV thực hiện một cách chủ động, tích cực thì đều được gọi là hoạt động tự học, hoạt động này diễn ra ngay trong quá trình dạy học với sự điều khiển trực tiếp của GV đứng lớp nên gọi là tự học giáp mặt

- Tự học không giáp mặt: Đó là sự tự học không có sự điều khiển trực tiếp của GV

mà do HV tự mình độc lập tiến hành với sự hỗ trợ của các phương tiện học tập để tự

Trang 9

mình chiếm lĩnh tri thức và tự mình đạt được các mục đích, nhiệm vụ học tập Tự học loại này có thể tồn tại ở ba mức:

+ Tự học mức cao: Người học tự học qua sách, qua các phương tiện thông tin Người học tự học tập một cách độc lập hoàn toàn

+ Tự học với sự hướng dẫn (hay điều khiển từ xa): Người học có sách giáo khoa, có các tài liệu hướng dẫn học tập hay có sự hướng dẫn thông qua các phương tiện thông tin như băng ghi hình, ghi tiếng, ti-vi, mạng, các phần mềm dạy học…Sự hướng dẫn tự học chủ yếu là sự hướng dẫn tư duy trong việc chiếm lĩnh tri thức, hướng dẫn phương pháp học tập, hướng dẫn tra cứu, hướng dẫn thí nghiệm Dưới sự hướng dẫn từ xa ấy, người học tự mình tiến hành các hành động học tập để hoàn thành các nhiệm vụ học tập Hiện nay hình thức tự học này rất được khuyến khích nhưng chất lượng của nó là vấn đề cần quan tâm

+ Tự học có sự hướng dẫn trên lớp của thầy: HV nhận nhiệm vụ và tự học ở nhà để

tự mình hoàn thành các nhiệm vụ học tập Có thể gọi hình thức này là tự học có hướng dẫn hay tự học sau giờ lên lớp Đối với người học nói chung và đối với HV nói riêng thì

tự học có vai trò rất quan trọng, tự học là chìa khóa tiến vào thế kỉ XXI, một thế kỉ với quan niệm học suốt đời, xã hội học tập Tự học là phương châm cơ bản, là mục tiêu chiến lược của giáo dục Việt Nam nói riêng và của thế giới nói chung:

- Tự học đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao chất lượng kiến thức và hiệu quả học tập Khi tự học, người học phải vận dụng các năng lực trí tuệ tới mức tối đa để tự mình giải quyết vấn đề Điều này đòi hỏi người học tự tìm tòi, đào sâu suy nghĩ, động não…từ đó tạo điều kiện cho việc thấu hiểu kiến thức sâu sắc hơn Lê-nin đã viết:

“Không có sự lao động tự lực thì không thể tìm thấy chân lí trong bất kì vấn đề hệ trọng nào và ai sợ tốn công sức thì không sao tìm ra sự thật được”

- Tự học là nội lực của người học, đóng vai trò cốt lõi của hoạt động học Như đã nói, kết quả của tự học bao giờ cũng là sự chiếm lĩnh kiến thức, biến kiến thức chung của nhân loại thành kiến thức riêng của mình Người biết tự học là người có khả năng thu thập và xử lí thông tin, biết vận dụng thông tin và biết tự kiểm tra, đánh giá hoạt động học tập của mình.Vì thế, người biết tự học là người có khả năng tự giải quyết vấn đề tốt,

có khả năng tự làm giàu kiến thức cho mình

- Tự học góp phần rèn luyện kĩ năng, cách học Khi tự học, các thao tác tư duy và thao tác chân tay được lặp đi lặp lại nhiều lần góp phần hình thành kĩ năng, phương pháp

Trang 10

học cho người học Tự học là cốt lõi của cách học Bác Hồ đã từng nói: “Về cách học phải lấy tự học làm cốt”

- Tự học có vai trò quan trọng trong việc rèn luyện tư duy Khi tự học, người học phải sử dụng các thao tác tư duy để giải quyết vấn đề, vì thế tư duy được rèn luyện một cách thường xuyên Các nhiệm vụ đặt ra ngày càng cao cùng với lượng kiến thức, kĩ năng, năng lực thu được ngày càng nhiều sẽ góp phần nâng cao dần khả năng tư duy của

- Trong quá trình đổi mới phương pháp giảng dạy trong giáo dục thì vai trò của người học đã có sự thay đổi, họ trở thành người giữ vai trò trung tâm, là chủ thể tích cực chủ động sáng tạo của quá trình học tập Bên cạnh việc học ở lớp dưới sự hướng dẫn của giáo viên thì người học còn phải tự nghiên cứu, tự tìm hiểu khám phá để lĩnh hội tri thức Không những thế, về mặt tâm lý học cũng cho thấy việc tự học sẽ làm cho người học phát huy được hết nội lực đem lại hiệu quả hơn trong quá trình học tập

- Tự học không những giúp học sinh không ngừng nâng cao chất lượng và hiệu quả học tập khi còn ngồi trên ghế nhà trường, mà còn trang bị cho các em năng lực, hứng thú, thói quen, có phương pháp tự học thường xuyên và suốt đời Qua đó giúp các em rèn luyện đức tính tự lập, ít phụ thuộc vào người khác đặc biệt là thầy cô ở trường Từ đó chất lượng học tập của các em sẽ được đánh giá thực chất hơn Có thể nói kinh nghiệm tự học của các em thường do người lớn truyền lại, do nhận biết được trong quan hệ giữa giáo viên và học sinh hoặc do thể nghiệm của bản thân, do tiếp thu qua sách, báo Kinh nghiệm tuy không có tính chất hệ thống, đôi khi còn thiếu tính chính xác, nhưng vẫn là

cơ sở, điều kiện rất cần thiết cho mọi hoạt động của các em Kinh nghiệm càng phong phú thì hoạt động càng dễ dàng đạt được hiệu quả cao

1.1.3 Năng lực tự học

Trang 11

- Năng lực tự học là thuộc tính riêng lẻ của mỗi cá nhân người học, nhờ được thuộc tính này mà con người hoàn thành tốt đẹp một hoạt động nào đó, mặc dù bỏ ra ít sức lao động mà vẫn đạt hiệu quả cao.

- Năng lực tự học là khả năng mỗi cá nhân tự hoàn thiện thông qua rèn luyện , trang

bị, bổ sung kiến thức cho mình thông qua bằng nhiều hình thức phương tiện

- Năng lực tự học môn vật lý của học sinh thể hiện ở chỗ bản thân mỗi học sinh biết

tự quan sát phân tích, biết dự đoán, kiểm chứng ….trên cơ sở đó rút ra kết luận, hình thành định luật vật lí Đồng thời tự hoàn thiện kiến thức học tại lớp, vận dụng để giải thích được hiện tượng vật lý trong thực tế, cũng như giải các bài tập theo yêu cầu của chương trình, bên cạnh đó còn biết đề xuất những vấn đề vương mắc trong học tập, cũng như một số hiện tượng vật lý thường gặp trong thực tế

- Năng lực tự học của học sinh còn thể hiện ở chỗ tự kiểm tra những kiến thức kỹ năng của mình, thông qua đó các em tự bổ sung những kiến thức còn thiếu

1.1.4 Vai trò của năng lực tự học trong việc phát triển tư duy của học viên

1.1.4.1 Phát huy năng lực của học chính là phát huy nội lực của học

- Để có được kiến thức học viên phải trải qua học tập : Học ở trường, học ở lớp, học

ở nhà, học ở bạn bè, học ờ mọi người… Nhưng kiến thức ấy chưa trở thành tài sản riêng của học viên Ở TT GDTX các kiến thức vật lý học chủ yếu ở giờ trên lớp, qua việc học tập học viên tích luỹ dần kiến thức cũng như kỹ năng cơ bản,biến kiến thức đã học thành của riêng cho mình để vận dụng và giải quyết một số vấn đề có liên quan trong quá trình khám phá ra kiến thức mới,hoặc giải quyết những vấn đề nâng cao Để có được điều đó học viên phải có phẩm chất năng tự học

- Trong thực tế việc học của học viên hiện nay chủ yếu là do ngoại lực tác động vào đó là: của gia đình, của xã hội của, của bạn bè … Do đó học viên có tư tưởng trông chờ ỷ lại, học viên không tự mình làm hoặc không muốn làm chỉ nhờ vào sự truyền thụ của GV “thầy làm sẵn ” Điều đó thường gặp trong thực tế nếu giao bài tập hơi khác so với bài thầy đã làm, học viên thường lúng túng không tự mình tìm ra hướng giải,hoặc cách gải, hoặc học tự mình không thể tiến hành

- Để khắc phục vấn đề trên thì phải phát huy nội lực của học viên là khâu then chốt quyết định hiệu quả học tập của học viên Do đó phát huy nội lực của học viên có ý nghĩa rất quan trọng giúp học tự chiếm lĩnh kiến thức mới

Trang 12

1.1.4.2 Phát huy năng lực tự học của học viên là khả năng giúp cho học viên tự học, tự rèn, tự nâng cao vì:

Học viên sau quá trình học tập tiếp thu kiến thức trên lớp các em phải tự thấm hiểu và vận dụng được kiến thức đã học muốn vậy đòi hỏi học viên phải tự cân đối thời gian học tập ở trường và thời gian học tập ở nhà trên cơ sở đó các em tự rèn luyện, tự trang bị, tự bổ sung kiến thức, kỹ năng cơ bản cần thiết Tự đào sâu mở rộng kiến thức, tự

hệ thống tổng hợp hoá kiến thức giúp các em hiểu kỹ, hiểu sâu, nắm chắc kiến thức đã học phục vụ hữu ích cho việc ôn tập kiểm tra Thông qua đó hình thành cho học những thói quen, giúp cho học viên yêu học tập và ý thức được học tập là một nhu cầu cần thiết, từ đó tự hình thành cho các em có động cơ và thái độ học tập đúng đắn

Tóm lại : Phát huy năng lực tự học của học không có nghĩa là khoán trắng cho học viên, để cho học tự tìm hiểu SGK, tự vận dụng kiến thức để giải quyết một vấn đề nào đó Song đối với người thầy phải chủ đạo cố vấn, thiết kế, xây dựng chương trình kế hoạch, điều hành tổ chức hoạt động một cách phù hợp, giúp học viên khám phá lĩnh hội, tiếp thu kiến thức theo một con đường và thời gian ngắn nhất

1.2 Bài tập vật lý

1.2.1 Khái niệm bài tập vật lý

Bài tập vật lý là một yêu cầu đặt ra cho người học, được người học giải quyết dựa trên cơ sở các lập luận lôgic, nhờ các phép tính toán, các thí nghiệm, dựa trên những kiến thức về khái niệm, định luật và các thuyết vật lý

Nội dung của bài tập phải đảm bảo các yêu cầu sau:

+ Nội dung của bài tập phải gắn với tài liệu thuộc chương trình đang học

+ Hiện tượng đang được nghiên cứu phải được áp dụng phổ biến trong thực tiển + Bài tập đưa ra phải là những vấn đề gần gũi với thực tế

+ Không những nội dung mà hình thức của bài tập cũng phải gắn với các điều kiện thường gặp trong cuộc sống Trong các bài tập không có sẵn dữ kiện mà phải tìm dữ kiện cần thiết ở các sơ đồ, bản vẽ kỹ thuật, ở các sách báo tra cứu hoặc từ thí nghiệm Bài tập

về hiện tượng vật lý trong viên hoạt hằng ngày cũng có một ý nghĩa to lớn Bài tập vật lý

là một phương tiện để giáo dục người học Tác dụng giáo dục của bài tập vật lý còn thể hiện ở chỗ: chúng là phương tiện hiệu quả để rèn luyện đức tính kiên trì, vượt khó, ý chí

và nhân cách của người học Việc giải bài tập vật lý có thể mang đến cho người học niềm phấn khởi sáng tạo, tăng thêm sự yêu thích bộ môn, tăng cường hứng thú học tập Bài tập

Trang 13

vật lý cũng là phương tiện kiểm tra mức độ nắm vững kiến thức và kỹ năng, kỹ xảo của người học Đồng thời nó cũng là công cụ giúp người học ôn tập, đào sâu, mở rộng kiến thức.

1.2.2 Phân loại các bài tập vật lý

Số lượng các bài tập Vật lí sử dụng trong thực tiễn dạy học hiện nay rất lớn, vì vậy cần có sự phân loại sao cho có tính tương dối thống nhất về mặt lí luận cũng như thực tiễn cho phép người giáo viên lựa chọn và sử dụng hợp lí các bài tập Vật lí trong dạy học Tùy thuộc vào mục đích sử dụng mà ta có nhiều cách phân loại bài tập vật lý khác nhau: Phân loại theo mục đích, phân loại theo nội dung, phân loại theo cách giải, phân loại theo mức độ khó dễ

1.2.2.1 Phân loại theo nội dung

Có thể chia làm hai loại:

- Bài tập có nội dung lịch sử Đó là những bài tập, những câu hỏi chứa đựng những kiến thức có đặc điểm lịch sử, những dữ liệu về thí nghiệm, về những phát minh, sáng chế hoặc về những câu chuyện có tính chất lịch sử

- Bài tập có nội dung cụ thể và trừu tượng Bài tập có nội dung cụ thể là bài tập trong

đó dữ liệu của đầu bài là cụ thể và người học có thể tự giải chúng dựa vào vốn kiến thức

cơ bản đã có Ưu điểm chính của bài tập cụ thể là tính trực quan cao và gắn vào đời sống Bài tập có nội dung trừu tượng là những bài tập mà dữ liệu đã cho là không cụ thể, nét nổi bật của bài tập trừu tượng là bản chất vật lý được nêu bật lên, nó được tách ra không lẫn lộn với các chi tiết không cơ bản

- Bài tập có nội dung theo phân môn Trong vật lý học người ta phân ra các chuyên ngành nhỏ để nghiên cứu và bài tập cũng được xếp loại theo các phân môn

- Bài tập có nội dung kỹ thuật tổng hợp Đó là các bài tập mà số liệu dữ kiện gắn với các số liệu thực tế trong các ngành kỹ thuật, công nghiệp, các bài tập này có ứng dụng thực tế

1.2.2.2 Phân loại theo cách giải

Có thể chia ra thành hai loại:

- Bài tập định tính: Đây là loại bài tập mà việc giải không đòi hỏi phải làm một phép tính nào hoặc chỉ là những phép tính đơn giản có thể nhẩm được Muốn giải bài tập này phải dựa vào khái niệm, những định luật vật lý đã học, xây dựng những suy luận lôgic, để xác lập mối liên hệ phụ thuộc vào bản chất giữa các đại lượng vật lý.Bài tập định tính có

Trang 14

tác dụng lớn trong việc củng cố những kiến thức đã học, giúp đào sâu hơn bản chất của hiện tượng vật lý, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn cuộc sống, rèn luyện năng lực quan sát, bồi dưỡng tư duy lôgic Vì vậy đây là loại bài tập có giá trị cao, ngày càng được sử dụng nhiều hơn

- Bài tập định lượng: Là bài tập mà khi giải nó phải thực hiện một loạt các phép tính

và thường được phân ra làm hai loại: bài tập tập dượt và bài tập tổng hợp Bài tập tập dượt là loại bài tập tính toán đơn giản, muốn giải chỉ cần vận dụng một vài định luật, một vài công thức, loại này giúp củng cố các kiến thức vừa học đồng thời giúp nắm kỹ hơn kiến thức và cách vận dụng nó Bài tập tổng hợp là loại bài tập tính toán phức tạp, muốn giải phải vận dụng nhiều khái niệm, nhiều công thức, loại này có tác dụng đặc biệt trong việc mở rộng, đào sâu kiến thức giữa các phần khác nhau của chương trình, đồng thời nó giúp người học biết tự mình lựa chọn những định luật, công thức cần thiết trong các định luật và các công thức đã học Tóm lại: Bài tập vật lý rất đa dạng, vì thế vấn đề phân loại được các bài tập của một phân môn là rất cần thiết để có thể học tốt phân môn đó

1.2.2.3 Phân loại theo trình độ phát triển tư duy

Có thể phân ra thành ba bậc của quá trình nhận thức

- Bài tập nhận biết, tái hiện, tái tạo lại Đó là những bài tập đòi hỏi người học nhận ra được, nhớ lại được những kiến thức đã học, đã được nêu trong tài liệu Đó là những câu hỏi về khái niệm, về định luật, về thuyết vật lý hoặc về các ứng dụng vật lý

- Bài tập hiểu, áp dụng Với các bài tập này thì những đại lượng đã cho có mối liên

hệ trực tiếp với đại lượng phải tìm thông qua một công thức, một phương trình nào đó mà người học đã học Bài tập loại này đòi hỏi người học nhận lại, nhớ lại mối liên hệ giữa các đại lượng đã cho và các đại lượng phải tìm Tiến trình luận giải ở dây đơn giản chỉ là một phương trình một ẩn số hoặc là giải thích một tính chất nào đó dựa vào đặc điểm, vào các tính chất vật lý đã học Sử dụng giải thích một hiện tượng vật lý, rèn luyện kỹ năng sử dụng thuật ngữ vật lý

- Bài tập vận dụng linh hoạt Loại bài tập này được sử dụng sau khi người học đã nghiên cứu tài liệu mới, nó có tác dụng củng cố, khắc sâu kiến thức đã lãnh hội được đồng thời nó bổ khuyết những gì mà trong giờ nghiên cứu tài liệu mới người học còn mơ

hồ, còn hiểu sai Với bài tập vận dụng linh hoạt đòi hỏi phải có khả năng vận dụng phối hợp những kiến thức mới học với những kiến thức trước đó Việc giải bài tập vận dụng linh hoạt phải phát triển ở người học tư duy logic, tư duy phân tích tổng hợp, đồng thời

Trang 15

thấy được mối liên hệ biện chứng giữa các kiến thức đã học Chính những bài tập vận dụng linh hoạt là cầu nối kiến thức trong sách vở với những vấn đề trong thực tế đời sống

và trong kỹ thuật

1.2.3 Các bước chung để giải bài tập vật lý

1.2.3.1 Hoạt động giải bài tập vật lý

Mục tiêu cần đạt tới khi giải một bài toán vật lý là tìm được câu trả lời đúng đắn, giải đáp được vấn đề đặt ra một cách có căn cứ khoa học chặt chẽ Quá trình giải một bài toán thực chất là tìm hiểu điều kiện của bài toán, xem xét hiện tượng vật lý được đề cập

và dựa trên các kiến thức về vật lý, tính toán để nghĩ tới mối liên hệ có thể của cái đã cho

và cái cần tìm sao cho thấy được cái phải tìm có mối liên hệ trực tiếp hoặc gián tiếp với cái đã cho, từ đó đi đến chỉ rõ được mối liên hệ tường minh trực tiếp của cái phải tìm với cái vơi cái đã biết nghĩa là đã tìm được lời giải đáp cho bài toán đặt ra Hoạt động giải bài toán vật lý có hai phần việc cơ bản quan trọng là:

+ Việc xác lập các mối liên hệ cơ bản, cụ thể dựa trên sự vận dụng kiến thức vật lý vào điều kiện cụ thể của bài toán đã cho

+ Sự tiếp tục luận giải, tính toán, đi từ mối liên hệ đã xác lập được đến kết quả cuối cùng của việc giải đáp vấn đề được đặt ra trong bài toán đã cho Sự nắm vững lời giải một bài toán vật lý phải thể hiện ở khả năng trả lời được câu hỏi: Việc giải bài toán này cần xác lập được mối liên hệ nào? Sự xác lập các mới liên hệ cơ bản này dựa trên sự vận dụng kiến thức vật lý nào? Vào điều kiện cụ thể gì của bài toán? Đối với bài tập định tính, ta không phải tính toán phức tạp nhưng vẫn cần phải có suy luận lôgic từng bước đi

để đến kết luận cuối cùng

1.2.3.2 Phương pháp giải bài tập vật lý

Xét về tính chất của các thao tác tư duy khi giải các bài tập vật lý người ta thường

dùng hai phương pháp sau

Phương pháp phân tích Theo phương pháp này điểm xuất phát là các đại lượng cần tìm Người giải phải tìm xem đại lượng chưa biết này có liên quan gì với các đại lượng vật lý khác, và khi biết được sự liên hệ này thì biểu diễn nó thành những công thức tương ứng, cứ làm như thế cho tới khi nào biểu diễn được hoàn toàn đại lượng cần tìm bằng những đại lượng đã biết thì bài toán đã được giải xong

Trang 16

Như vậy phương pháp này thực chất là đi phân tích một bài toán phức tạp thành những bài toán đơn giản hơn rồi dựa vào những quy tắc tìm lời giải mà lần lược giải các bài tập này, từ đó đi đến lời giải cho bài toán phức tạp trên

Phương pháp tổng hợp Theo phương pháp này suy luận không bắt đầu từ đại lượng cần tìm mà bắt đầu từ các đại lượng đã biết, có nêu trong đề bài Dùng công thức liên hệ các đại lượng này với các đại lượng đã biết, ta đi dần đến công thức cuối cùng

Nhìn chung, việc giải bài tập vật lý phải dùng chung hai phương pháp phân tích và tổng hợp Phép giải bắt đầu bằng phân tích các điều kiện của bài toán để hiểu đề bài và phải có sự tổng hợp kèm theo ngay để kiểm tra ngay lại mức độ đúng đắn của các sự phân tích ấy Muốn lập được kế hoạch giải phải đi sâu phân tích nội dung vật lý của bài tập, tổng hợp những dữ kiện đã cho với những quy luật vật lý đã biết ta mới xây dựng được lời giải và kết quả cuối cùng

1.2.3.3 Các bước chung giải bài toán vật lý

Từ phân tích về thực chất hoạt động giải bài toán, ta có thể đưa ra một cách khái quát các bước chung của tiến trình giải một bài toán vật lý và hoạt động chính trong các bước đó là

Bước 1: Tìm hiểu đầu bài

- Đọc, ghi ngắn gọn các dữ liệu xuất hiện và các đại lượng phải tìm

- Mô tả lại tình huống đã nêu trong đầu bài, vẽ hình minh họa

- Nếu đề bài yêu cầu thì phải dùng đồ thị hoặc làm thí nghiệm để thu được các dữ liệu cần thiết

Bước 2: Xác lập những mối liên hệ cơ bản của các dữ liệu xuất phát và các cái phải tìm

- Đối chiếu các dữ liệu xuất phát và các cái phải tìm, xem xét bản chất vật lý của những tình huống đã cho để nghĩ đến kiến thức, các định luật, các công thức có liên quan

- Xác lập các mối liên hệ cơ bản, cụ thể của các dữ kiện xuất phát từ cái phải tìm

- Tìm kiếm, lựa chọn các mối liên hệ tối thiểu cần thiết sao cho thấy được mối liên hệ giữa cái phải tìm với các dữ liệu xuất phát, từ đó có thể rút ra cái cần tìm

Bước 3: Rút ra kết luận cần tìm

- Từ các mối liên hệ cần thiết đã xác lập, tiếp tục luận giải, tính toán để rút ra kết quả cần tìm

Bước 4: Kiểm tra xác nhận kết quả

Trang 17

Để có thể xác nhận kết quả cần tìm, cần kiểm tra lại việc giải theo một hoặc một số cách sau đây?

- kiểm tra xem đã tính toán đúng chưa

- Kiểm tra xem thư nguyên có phù hợp hay chưa

- Kiểm tra kết quả bằng thực nghiệm xem có phù hợp hay chưa

- Giải bài toán theo các cách khác xem có giống kết quả hay không

Tuy nhiên trong nhiều bài tập, không nhất thiết phải tách bạch một cách cứng nhắc giữa bước 2 và bước 3 Tùy từng bài toán mà ta có thể kết hợp hai bước này trong tiến hành luận giải

1.3 Vai trò của bài tập vật lý trong việc củng cố, hệ thống hóa kiến thức

1.3.1 Vai trò của việc củng cố, hệ thống hóa kiến thức trong dạy học vật lý

Trong quá trình giảng dạy, việc củng cố và hệ thống hoá kiến thức là một vấn đề rất quan trọng, có thể là củng cố, hệ thống một kì, cả năm hoặc một chương với mục đích là:

- Trên cơ sở củng cố, hệ thống hóa kiến thức thầy vạch lại cho học viên thấy sự liên quan logic giữa các kiến thức đã học Thấy được những vấn đề cơ bản nổi lên trên chuỗi các kiến thức trong chương, hoặc trong phần giáo trình Chính vì vậy củng cố, hệ thống hóa kiến thức không phải chỉ là nhắc lại kiến thức một cách đơn giản mà phải làm nổi rõ vấn đề quan trọng, những điểm cần ghi nhớ hay nói cách khác ôn tập có sự nâng cao

- Từ mục đích, yêu cầu của củng cố, hệ thống hóa kiến thức, thêm nữa thời gian quy định cho công việc này lại rất ít cộng với tình hình thực tại của các lớp học viên, để cho việc củng cố, hệ thống hóa kiến thức có kết quả đòi hỏi phải chuẩn bị rất công phu

1.3.2 Vai trò của bài tập vật lý trong việc củng cố, hệ thống hóa kiến thức

Việc củng cố, hệ thống hóa kiến thức không chỉ giúp học viên hiểu được một cách

sâu sắc và đầy đủ những kiến thức quy định trong chương trình mà còn giúp các em vận dụng những kiến thức đó để giải quyết những nhiệm vụ của học tập và những vấn đề mà thực tiễn đã đặt ra Muốn đạt được diều đó, phải thường xuyên rèn luyện cho học viên những kỹ năng, kỹ xảo vận dụng kiến thức vào cuộc sống hằng ngày Kỹ năng vận dụng kiến thức trong bài tập và trong thực tiễn đời sống chính là thước do mức độ sâu sắc và vững vàn của những kiến thức mà học viên đã thu nhận được Bài tập vật lý với chức năng là một phương pháp dạy học có một vị trí đặc biệt trong dạy học vật lý ở trường phổ thông

Trang 18

Trước hết, vật lý là một môn khoa học giúp học viên nắm dược qui luật vận động của thế giới vật chất và bài tập vật lý giúp học viên hiểu rõ những qui luật ấy, biết phân tích và vận dụng những qui luật ấy vào thực tiễn Trong nhiều trường hợp mặt dù người giáo viên có trình bày tài liệu một cách mạch lạc, hợp lôgíc, phát biểu định luật chính xác, làm thí nghiệm đúng yêu cầu, qui tắc và có kết quả chính xác thì đó chỉ là điều kiện cần chứ chưa đủ để học viên hiểu và nắm sâu sắc kiến thức Chỉ thông qua việc giải các bài tập vật lý dưới hình thức này hay hình thức khác nhằm tạo điều kiện cho học viên vận dụng kiến thức đã học để giải quyết các tình huống cụ thể thì kiến thức đó mới trở nên sâu sắc và hoàn thiện.

Trong quá trình giải quyết các tình huống cụ thể do các bài tập vật lý đặt ra, học viên phải sử dụng các thao tác tư duy như phân tích, tổng hợp, so sánh, khái quát hóa , trừu tượng hóa …để giải quyết vấn đề, do đó tư duy của học viên có điều kiện để phát triển Vì vậy có thể nói bài tập vật lý là một phương tiện rất tốt để phát triển tư duy, óc tưởng tượng, khả năng độc lập trong suy nghĩ và hành động, tính kiên trì trong việc khắc phục những khó khăn trong cuộc sống của học viên

Bài tập vật lý là cơ hội để giáo viên đề cập đến những kiến thức mà trong giờ học lý

thuyết chưa có điều kiện để đề cập qua đó nhằm củng cố, hệ thống hóa kiến thức cho học

viên

Đặc biệt, để giải được các bài tập vật lý dưới hình thức trắc nghiệm khách quan học viên ngoài việc nhớ lại các kiến thức một cách tổng hợp, chính xác ở nhiều phần, nhiều chương, nhiều cấp học thì học viên cần phải rèn luyện cho mình tính phản ứng nhanh trong từng tình huống cụ thể, bên cạnh đó học viên phải giải thật nhiều các dạng

bài tập khác nhau để có được kiến thức tổng hợp, chính xác và khoa học

1.4 Vai trò của bài tập vật lý trong việc bồi dưỡng năng lực tự học cho học viên

Vai trò và tác dụng của bài tập vật lý xét về mặt phát triển tính tự lực của người học

và nhất là rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức đã lĩnh hội được thì vai trò của bài tập vật lý trong quá trình học tập có một giá trị rất lớn Bài tập vật lý được sử dụng ở nhiều khâu trong quá trình dạy học Ở đây tính tích cực của người học và do đó chiều sâu và độ vững chắc của kiến thức sẽ lớn nhất khi “tình huống có vấn đề” được tạo ra, trong nhiều trường hợp nhờ tình huống này có thể làm xuất hiện một kiểu bài tập mà trong quá trình giải người học sẽ phát hiện lại quy luật vật lý chứ không phải tiếp thu quy luật dưới hình thức có sẵn Bài tập là một phương tiện hình thành các khái niệm Bài tập là một phương

Trang 19

tiện phát triển tư duy vật lý cho người học Việc giải bài tập làm phát triển tư duy lôgic,

sự nhanh trí Trong quá trình tư duy có sự phân tích và tổng hợp mối liên hệ giữa các đại lượng vật lý đặc trưng Bài tập là một phương tiện rèn luyện kỹ năng vận dụng các kiến thức của người học vào thực tiễn Đối với việc giáo dục kỹ thuật tổng hợp bài tập vật lý

có ý nghĩa rất lớn, những bài tập này là một trong những phương tiện thuận lợi để người học liên hệ lý thuyết với thực hành, học tập với đời sống

1.4.1 Các kỹ năng cần rèn luyện trong quá trình tự học của học viên giáo dục thường xuyên

Kỹ năng tự học là khả năng thực hiện một hệ thống các thao tác tự tổ chức, tự điều khiển hoạt động tự học trên cơ sở vận dụng các kinh nghiệm có liên quan đến hoạt động

đó Có bao nhiêu loại hình học tập thì có bấy nhiêu loại hình kỹ năng chuyên biệt Các nhà nghiên cứu đã phân chia các kỹ năng tự học theo nhiều cách khác nhau Theo nhóm nghiên cứu ở Khoa Tâm lý - Giáo dục Trường Đại học Sư phạm I Hà Nội, kỹ năng tự học

có thể được phân thành 4 nhóm, đó là nhóm kỹ năng định hướng, nhóm kỹ năng thiết kế (lập kế hoạch), nhóm kỹ năng thực hiện kế hoạch và nhóm kỹ năng kiểm tra, đánh giá, rút kinh nghiệm Tác giả Vũ Trọng Rỹ thì cho rằng kỹ năng tự học của học sinh nói chung và của học viên GDTX nói riêng gồm 4 nhóm: kỹ năng nhận thức, kỹ năng thực hành, kỹ năng tổ chức, kỹ năng kiểm tra đánh giá

Tiếp thu những quan điểm trên, chúng tôi phân chia hoạt động tự học bao gồm các nhóm kỹ năng cơ bản sau:

Trang 20

- Học nhằm mục đích gì? Học vì yêu thích môn học, vì trách nhiệm với gia đình và

xã hội, hay vì để được khen, được đánh giá cao…

- Thái độ học tập ra sao? Học với tinh thần, thái độ nghiêm túc hay hời hợt qua loa

- Học như thế nào? Người học nên chọn phương pháp nào là phù hợp với bản thân

- Thứ nhất, người học phải xác định tính hướng đích của kế hoạch Đó có thể là kế

hoạch ngắn hạn, dài hạn, thậm chí kế hoạch cho từng môn, từng phần Kế hoạch phải được tạo lập thật rõ ràng, nhất quán cho từng thời điểm, từng giai đoạn cụ thể sao cho phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của mình

- Thứ hai, khi lập kế hoạch, người học phải chọn đúng trọng tâm, cần xác định được

cái gì là quan trọng để ưu tiên tác động trực tiếp và dành thời gian công sức cho nó

1.4.1.3 Kỹ năng thực hiện kế hoạch

Muốn thực hiện thành công kế hoạch mình đã tạo lập, người học cần có một số kỹ năng sau:

- Tiếp cận thông tin: lựa chọn và chủ động tiếp nhận thông tin từ nhiều nguồn

khác nhau và từ những hoạt động đã được xác định như đọc sách, nghe giảng, xem truyền hình, tra cứu từ Internet, làm thí nghiệm… Trong hoạt động này rất cần có sự tỉnh táo để chọn lọc thông tin một cách thông minh và linh hoạt

- Xử lí thông tin: việc xử lí thông tin trong quá trình tự học không bao giờ diễn

ra trong vô thức mà cần có sự gia công, xử lí mới có thể sử dụng được Quá trình này

có thể được tiến hành thông qua các kỹ năng ghi chép, phân tích, đánh giá, tóm lược, tổng hợp, so sánh…

Trang 21

- Vận dụng tri thức, thông tin: thể hiện qua việc vận dụng thông tin tri thức khoa

học để giải quyết các vấn đề liên quan như thực hành bài tập, thảo luận, xử lí các tình huống, viết bài thu hoạch…

- Trao đổi, phổ biến thông tin: việc trao đổi kinh nghiệm, chia sẻ thông tin tri

thức thông qua các hình thức: thảo luận, thuyết trình, tranh luận… là công việc cuối cùng của quá trình tiếp nhận tri thức

1.4.1.4 Kỹ năng tự kiểm tra, đánh giá, rút kinh nghiệm

Khi người học tự đánh giá được kết quả học tập của mình, người học sẽ tự đánh giá được năng lực học tập của bản thân, hiểu được cái gì mình làm được, cái gì mình chưa làm được để từ đó có hướng phát huy hoặc khắc phục Để có kỹ năng tự kiểm tra, đánh giá, học sinh cần:

- Tự trả lời câu hỏi trong sách giáo khoa bằng cách xác định yêu cầu của câu hỏi, dự kiến câu trả lời, tái hiện các kiến thức liên quan, tập trình bày câu trả lời trước nhóm hoặc trước lớp để tìm ra chỗ sai từ đó khắc phục

- Tự đặt câu hỏi để tự mình giải quyết hoặc thảo luận cùng bạn bè

- Làm các bài tập của thầy cô giao cho, hoặc các bài tập bản thân tự tìm kiếm sau đó

tự mình kiểm tra đáp án để rút kinh nghiệm…

1.4.2 Phương pháp bồi dưỡng năng lực tự học cho học viên giáo dục thường xuyên thông qua hoạt động giải bài tập vật lý

1.4.2.1 Giải pháp chung

Phát huy tiềm năng giáo dục

- Tiềm năng kiến thức :

Mỗi đơn vị kiến thức cung cấp cho học viên (Nội dung của SGK) thường ẩn chứa nhiều tiềm năng giáo dục Thông qua việc tiếp nhận kiến thức học viên được giáo dục về

tư tưởng, giáo dục về thế giới quan nhân viên quan duy vật biện chứng, Điều đó thể hiện khi hình thành cho học viên những định nghĩa , định luật vật lý Bên cạnh đó còn giáo dục cho các em những văn hoá khoa học: Tính đúng đắn, chính xác, gọn gàng, chặt chẽ , xúc tích…

- Tiềm năng của học :

+ Thông thường chúng ta thường nói “để học tốt phải có tố chất tốt” ( ý nói là trí thông minh )

Trang 22

+ Trí thông minh là một phẩm chất tổng hợp của trí tuệ nói chung và là một phẩm chất của trí tuệ nói riêng Khoa học tâm lý đã chứng minh được rằng trí thông minh của trẻ một phần là do bẩm viên nhưng cần phải thông qua môi trường giáo dục mới phát triển tối đa khả năng sẳn có đó

+ Cốt lõi trí thông minh là phẩm chất tư duy tích cực, độc lập sáng tạo linh hoạt trước những vấn đề thực tiễn hay lý luận và và sự liên quan chặt chẽ của nó với trình độ văn hoá của mỗi người

+ Trong bản thân mỗi con người ( HV ) thường tiêm ẩn một khả năng “thiên phú”

do đó việc giảng dạy của giáo viên phải biết khai thác “kích thích” vào đúng chỗ để đánh thức cái tiềm ẩn còn ngủ quên ấy

Do đó trong quá trình giảng dậy vật lý giáo viên phải biết khơi dậy, kích thích được trí tò mò, năng lực sáng tạo, lòng say mê học tập bộ môn, từ đó học viên tin tưởng vào khả năng học tập của mình

Tuy nhiên “trí thông minh phát triển tốt” cần phải được rèn luyện trong môi trường giáo dục Chắc chắn rằng, sẽ còn có học viên hạn chế bởi “tố chất” thì trong quá trình giảng dạy người thầy phải biết động viên, khích lệ và hướng dẫn cho các em có kế hoạch học tập, yêu cầu rèn luyện thích hợp để đạt được hiệu quả nhất định điều đó ông cha ta đúc kết “cần cù bù khả năng”

1.4.2.2 Những giải pháp cụ thể

a Đối với giáo viên

- Nắm vững toàn bộ những hệ thống kiến thức chương trình của mình giảng dạy Truyền thụ kiến thức một cách chính xác đầy đủ trong tiết dạy phải làm bật được trọng tâm của bài dạy Chú ý đào sâu và mở rộng kiến thức

- Làm chủ được từng đơn vị kiến thức bài dạy Sử dụng nhuần nhuyễn và linh hoạt các phương pháp dạy học để phát huy được tính chủ động tiếp nhận kiến thức của học viên , sử dụng đúng phương pháp đặc trưng của bộ môn, của bài học Khơi dậy tốt ba đối tượng học viên

- Bản thân thân của mỗi giáo viên không ngừng tự học tập tự trau dồi tay nghề Đồng thời là một tấm gương trong học tập để cho học viên noi theo Nắm chắc học lực của từng đối tượng học viên

- Về kỹ năng sư phạm: Lời nói trong quá trình giảng dạy môn vật lí giáo viên dùng lới nói để diễn tả phân tích hiên tượng , phát biểu định luật, định nghĩa …hoặc hướng dẫn

Trang 23

học viên Lời nói của giáo viên có tác dụng quyết định đến nhận thực của học viên do đó lời nói phải chính xác, rành mạch gọn gàng đầy đủ Giọng nói , nhịp điệu phải thích hợp

để lôi cuốn được người nghe

- Thí nghiệm thực hành: Đối với môn vật lý thông thường kết luận , định luật , … Điều rút ra từ kết quả thí nghiệm Do đó kỹ năng hướng dẫn làm thí nghiệm của giáo viên là hết sức quan trọng, là điều kiện cần và đủ để học viên làm thí nghiệm thành công

từ đó thuyết phục hấp dẫn cho học viên thông qua đó học hình thành kỹ năng và nắm bắt kiến thức một cách cách chắc chắn và bền vững Quyết định thành công của một bài lên lớp đối với môn vật lý

- Gieo vấn đề: Đây là khâu rất quan trọng trong quá trình giảng dạy để học viên suy nghĩ , tìm tòi và thấy có nhu cầu bức xúc cần phải giải quyết vấn đề mà người thầy đề ra,

từ đó kích thích sự ham hỏi , ham khám phá một vấn đề mới mà mình chưa biết Đặt vấn

đề thường được dùng khi giới thiệu bài mới , chuyển ý từ các phần, hoặc từ thí nghiệm giáo viên gieo vấn đề yêu cầu học viên phải tự giải quyết vấn đề đó

- Sử dụng các dụng cụ phương tiện dạy học: Giáo viên phải hướng dẫn được học viên biết sử dụng các dụng cụ dạy học , các em phải biết làm được thí nghiệm

+ Ví dụ học phải biết mắc được mạch điện theo sơ đồ , biết các dụng cụ đo như ampe kế, vôn kế, sử dụng thước, sử dụng cân, sử dụng bình chia độ …

+ Khi học viên tự làm thí nghiệm sẽ giúp các em nắm vững được kiến thức, đồng thời kích thích sự tưởng tượng, hứng thú cũng như say mê trong việc nghiên cưú khoa học

+ Trong điều kiện hiện nay trước chương trình SGK mới nói chung đồ dùng khá đầy đủ, đôi lúc đồ dùng giáo viên chưa được làm quen Vậy để khai thác đồ dùng dạy học có hiểu quả giáo viên cần phải nghiêm túc nghiên cứu đồ dùng trước, nếu làm được như vậy thì kết quả thí nghiệm trong một giờ lên lớp sẽ đạt hiệu quả Bên cạnh kỹ năng làm thí nghiệm giáo viên cần trao dồi các kỹ năng khác như: xử lí các tình huống sư phạm, xử lí các tình huống nảy viên trong giờ dạy, cách trình bày bảng

b Đối với giờ dạy trên lớp

Muốn phát huy khả năng tự học của học viên vấn đề bài soạn của giáo viên có ý nghĩa hết sức quan trong nó thể hiện ở chỗ:

- Định hướng việc tíêp thu kiến thức của từng đối tượng học viên : Muốn vậy giáo viên cần phải nắm vững các đối tượng học viên trên cơ sở đó thiết kế bài giảng phù hợp

Trang 24

Nội dung bài soạn cần phải có hệ thống câu hỏi mang tính tư duy của học viên, phù hợp với ba đối tượng học viên trong lớp.

- Rèn luyện cho học viên các kỹ năng cần thiết như : Kỹ năng tự học , tự tìm ra kiến thức mới và cách giải quyết kiến thức mới

- Bật rõ kiến thức trọng tâm , đào sâu mở rông kiến thức bài dạy

- Nâng cao hiệu quả giờ dạy

c Với học viên

Để tiếp thu kiến thức tốt trong các giờ học đòi hỏi mỗi hoc phải chuẩn bị bài ở nhà:

- Nắm vững kiến thức đã học cũng như hệ thống kiến thức đã học Học viên cần tiếp nhận kiến thức có hệ thống và hình thành dần những kỹ năng trong học tập bao gồm: Phương pháp học tập bộ môn, nghiên cứu thí nghiệm, kỹ năng giải bài tập

- Nếu không nắm kiến thức cũ thì không thể tiếp nhận có hiệu quả kiến thức mới

Để khắc phục trình trạng học viên hổng kiến thức từ các lớp dưới giáo viên cần phải khơi lại cho học viên như: Các khái niệm vật lý, định luật vật lý,công thức vật lý, kiến thức về toán học ….một cách thường xuyên Trên cơ sở đó, yêu cầu học viên nghiêm túc thực hiện theo hướng dẫn và yêu cầu của giáo viên

- Thực chất giảng dạy vật lý trung học ở TT GDTX là giáo viên giới thiệu thông báo, hướng dẫn những con đường đi tìm kiến thức mới trên nền kiến thức trước đó, từ tiết trước hoặc từ các lớp dưới mà các em đã được học…

- Vậy yêu cầu đối với học viên phải tự mình hệ thống kiến thức đã có, nắm chắc những khái niệm, định nghĩa định luật Có như vậy, các em mới đủ lực tự học, tự nghiên cứu tự khám phá kiến thức mới

- Nghiên cứu SGK: Đọc và nghiên cứu nội dung nội dung của bài học là khâu rất quan trọng, giúp HV tự mình tìm hiểu trước nội dung cần học Qua việc nghiên cứ trước SGK giúp học viên có thể phát hiện được kiến thức mới đồng thới sẽ nảy viên những thắc mắc, những vấn đề cần tìm hiểu để có yêu cầu tự giải quyết vấn đề đó

Đọc SGK thể hiện ở hai bước: đọc ở nhà, đọc ở lớp Khó khăn của dạng này giáo viên không thể kiểm tra được, học viên không tự lọc ra được những vấn đề quan trọng khi đọc, đôi khi học viên lại chú ý những thứ yếu và đi ra ngoài tầm mắt những luận đề

cơ bản Để việc tạo điều kiện cho học viên tự đọc sách có hiểu quả, giáo viên cần đưa ra câu hỏi, những vấn đề có liên quan đến bài học, đồng thời đưa ra câu hỏi mới phù hợp trước khi đọc sách chứ không phải sau khi đọc Từ đó định hướng cho học viên vấn đề

Trang 25

chủ yếu trong bài học Như vậy trong quá trình dạy học giáo viên cần tập cho học viên nghiên cứu tư liệu và dần dần học viên đạt được kỹ năng làm việc với sách một cách hoàn toàn độc lập chứ không còn trông chờ vào yêu cầu của giáo viên Trên cơ sở đó học viên tìm thấy điều căn bản trong sách phát hiện được sự tương quan giữa các đơn vị kiến thức theo một hệ thống lôgic.

- Trong thực tế trên thị trường có rất nhiều tài liệu tham khảo cho học viên tự đọc, các em không biết chọn tài liệu nào là phù hợp do đó giáo viên cần hướng dẫn giớ thiệu cho học viên đọc tài liệu tham khảo nào phục vục cho việc bổ ích cho học tập tránh tình trạng loạn sách

d Hướng dẫn làm việc ở nhà

Làm việc ở nhà là một trong những yếu tố cần thiết nhằm giúp cho tự củng cố, tự đào sâu, tự mở rộng, tự khám phá kiến thức Những công việc tự học ở nhà của học đối với môn vật lý đó là ôn tập nắm vững kiến thức đã học ở trên lớp, hệ thống hóa kiến thức

đã học, lập bảng biểu, lập bảng báo cáo thí nghiệm cho bài sau , vận dụng kiến thức đã học để giải bài tập do giáo viên yêu cầu, đối với học viên khá , giỏi cần phải đưa ra bài tập khó – bài tập nâng cao Với mỗi học viên việc học tập ở nhà còn thể hiện ở chỗ tự làm lại thí nghiệm đã làm trên lớp, biết tìm hiểu dụng cụ làm thí nghiệm và cách tiến hành làm cho bài sau sắp học thông qua nội dung kênh hình hướng dẫn trong sách

Để học viên làm việc ở nhà có hiệu quả giáo viên phải có những hướng dẫn, yêu cầu cụ thể, tránh yêu cầu chung chung, hình thức, đồng thời phải thường xuyên kiểm tra việc học viên chuẩn bị bài ở nhà và khuyến khích kịp thời những học viên thực hiện tốt trước lớp Đối với học viên: Cần có kế hoạch một cách khoa học sắp xếp thời gian học tập một cách thích hợp để học tập tốt các bộ môn khác, phân chia cụ thể thời gian nào học môn gì? làm việc gì? tất cả việc đó thể hiện trên thời gian biểu học ở nhà của học viên Việc học tập ở nhà của học viên giáo viên rất khó kiểm tra theo dõi do đó cần phải thường xuyên nhắc nhở, giao việc và kiểm tra một cách liên tục để các em hình thành thói quen ý thức tự học tự nghiên cứu, phối hợp với giáo viên bộ môn, với phụ huynh học viên, với cán sự lớp để theo dõi đôn đốc và có kế hoạch điều chỉnh kịp thời, uốn nắn và xây dựng nề nếp học tập của học viên

- Yêu cầu đối với học viên

+ Có góc học tập ở nhà

+ Có đầy đủ tài liệu , dụng cụ , phương tiện học tập

Trang 26

+ Có ý thức chấp hành tốt thời gian biểu học tập ở nhà

+ Biết tìm tòi sáng tạo để nắnm bắt thêm kiến thức, ngoài những điều đã học

+ Ham học, ham nghiên cứu tài liệu, biết tra cứu tài liệu, khả năng tự đọc hiểu tài liệu

+ Biết vận dụng kiến thức đã học để giải quyết những điều mới lạ

1.4.3 Vai trò của bài tập vật lý trong việc rèn luyện các kỹ năng tự học của học viên giáo dục thường xuyên

Giải BTVL là một trong những hình thức tập luyện chủ yếu và được tiến hành nhiều nhất Trong mỗi tiết học hoạt động giải BTVL tham gia vào quá trình:

- Hình thành và rèn luyện kĩ năng, kĩ xảo vận dụng kiến thức vào thực tiễn Theo M.A.Đanilov, “Kiến thức sẽ được nắm vững thật sự, nếu học viên có thể vận dụng thành thạo chúng hoàn thành vào những bài tập lí thuyết hay thực hành”

- Hình thành kiến thức mới (kể cả cung cấp các kiến thức thực tiễn), ôn tập những kiến thức đã học, củng cố kiến thức cơ bản của bài giảng Một đơn vị kiến thức mới, học viên chỉ có thể ghi nhớ khi được luyện tập nhiều lần

- Phát triển tư duy vật lí Trong thực tiễn dạy học, tư duy vật lí của học viên thường hiểu là kĩ năng quan sát hiện tượng vật lí, phân tích một hiện tượng phức tạp thành những

bộ phận thành phần và xác lập ở trong chúng những mối liên hệ giữa các mặt định tính và định lượng của các hiện tượng và của các đại lượng vật lí, đoán trước các hệ quả từ các lí thuyết và áp dụng được kiến thức của mình Trừ một số bài tập đơn giản chỉ đề cập đến một hiện tượng vật lí đa số các hiện tượng nêu lên trong những bài tập là phức tạp Để giải được chúng, phải phân tích hiện tượng phức tạp ấy thành các bài tập đơn giản Đồng thời thông thường trong quá trình giải quyết các tình huống cụ thể nêu lên trong bài tập, học viên phải vận dụng các thao tác tư duy để tìm hiểu, giải quyết vấn đề và rút ra kết luận cần thiết Nhờ thế, tư duy được phát triển và năng lực làm việc tự lực của học viên được nâng cao

- Kiểm tra đánh giá kiến thức, kĩ năng và kĩ xảo, đặc biệt là giúp phát hiện trình độ phát triển trí tuệ, làm bộc lộ những khó khăn, sai lầm của học viên trong học tập đồng thời giúp họ vượt qua những khó khăn và khắc phục các sai lầm đó

- Giáo dục tư tưởng đạo đức, kĩ thuật tổng hợp và hướng nghiệp Vật lí là một môn học liên quan đến nhiều hiện tượng trong đời sống Những kiến thức vật lí cũng được ứng

Trang 27

dụng trong kĩ thuật và cuộc sống hàng ngày Học viên khi giải BTVL là tìm đến bản chất của các vấn đề đó và áp dụng nó giải quyết các vấn đề của cuộc sống.

1.5 Tăng cường sử dụng bài tập vật lý theo hướng củng cố, hệ thống hóa kiến thức và bồi dưỡng năng lực tự học cho học viên giáo dục thường xuyên

1.5.1 Trong bước đặt vấn đề;

- Đây là khâu rất quan trọng trong quá trình giảng dạy để học viên suy nghĩ , tìm tòi và thấy có nhu cầu bức xúc cần phải giải quyết vấn đề mà người thầy đề ra, từ đó kích thích sự ham hỏi, ham khám phá một vấn đề mới mà mình chưa biết Đặt vấn đề thường được dùng khi giới thiệu bài mới , chuyển ý từ các phần, hoặc từ thí nghiệm giáo viên gieo vấn đề yêu cầu học viên phải tự giải quyết vấn đề đó Vì vậy giáo viên phải chú trọng khâu này khi sử dụng bài tập vật lý để định hướng giải quyết cho học viên

1.5.2 Trong hình thành kiến thức mới

- Hình thành kiến thức mới (kể cả cung cấp các kiến thức thực tiễn), ôn tập những kiến thức đã học, củng cố kiến thức cơ bản của bài giảng Một đơn vị kiến thức mới, học viên chỉ có thể ghi nhớ khi được luyện tập nhiều lần nhờ một hệ thống bài tập hợp lý

1.5.3 Trong bước củng cố, hệ thống hóa kiến thức

Bài tập vật lý là cơ hội để giáo viên đề cập đến những kiến thức mà trong giờ học lý thuyết chưa có điều kiện để đề cập qua đó cần tăng cường sử dụng bài tập vật lý nhằm

củng cố, hệ thống hóa kiến thức cho học viên.

1.5.4 Trong bài tập về nhà

Giao bài có tính đến kết quả lĩnh hội nhằm giúp học viên tiếp tục phát triển ý kiến, giúp chuẩn hoá tiếp thu bài sau

- Thông báo bài làm về nhà hướng dẫn cách thực hiện

- Đưa ra lời hướng dẫn về việc làm ở nhà

- Trình độ nội dung bài ở nhà, trình độ hướng dẫn, cách trình bày ghi chép ở bảng Tất cả các bước ở trên có thể bao quát được toàn bộ logic của hoạt động nhận thức - học tập của học viên trong quá trình lĩnh hội kiến thức

Mỗi bài học là một hệ thống trọn vẹn, nên có thể có nhiều cách phối hợp giữa các bước lí luận dạy học, có thể gộp các bước làm một ví dụ: Có thể gộp kiểm tra và chuẩn bị hoạt động nhận thức của học viên làm một hoặc bước 6 (củng cố kiến thức) có thể tạo thành bước chung Đồng thời lại có những bước không thay đổi ở các kiểu bài khác nhau

Trang 28

như: ổn định tổ chức, chuẩn bị cho học viên tích cực hoạt động nhận thức bước cơ bản bước tổng kết bài học.

1.5.5 Trong Kiểm tra-Đánh giá

- Các bài tập kiểm tra đánh giá kiến thức, kĩ năng và kĩ xảo giúp GV phát hiện trình

độ phát triển trí tuệ, làm bộc lộ những khó khăn, sai lầm của học viên trong học tập đồng thời giúp họ vượt qua những khó khăn và khắc phục các sai lầm đó

Trang 29

Kết luận chương 1

Trong chương này chúng tôi đã tập trung nghiên cứu và trình bày một cách có hệ thống những cơ sở lí luận và thực tiễn của việc sử dụng bài tập vật lý theo hướng bồi dưỡng rèn luyện năng lực tự học cho HV ở các TT GDTX hiện nay, cụ thể là:

- Làm rõ được các khái niệm tự học, năng lực tự học, kĩ năng tự học, hệ thống các

kĩ năng tự học trong dạy học vật lí Tự học là hoạt động độc lập chiếm lĩnh kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo…, kinh nghiệm lịch sử xã hội loài người nói chung và của chính bản thân người học; đó là hoạt động nhận thức mang tính tích cực, chủ động, tự giác, phát huy cao

độ vai trò của người học với sự hợp tác của thầy cô, bạn bè và các điều kiện học tập

- Trong quá trình dạy học vật lí, bài tập vật lý có vai trò rất quan trọng: bài tập vật lý là phương tiện rèn luyện cho HV các kĩ năng như thu thập thông tin; xử lí thông tin; giải quyết vấn đề một cách độc lập, vận dụng tri thức vào thực tiễn; tự kiểm tra, đánh giá

và tự điều chỉnh

- Đánh giá đượcthực trạng sử dụng bài tập vật lý để bồi dưỡng rèn luyện năng lực tự học cho học viên ở một số TT GDTX ở TP Hồ Chí Minh nói chung và ở TT.GDTX quận Tân Phú nói riêng

Trang 30

Chương 2 KHAI THÁC, XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG BÀI TẬP THEO HƯỚNG CỦNG CỐ, HỆ THỐNG HÓA KIẾN THỨC VÀ BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC TỰ HỌC TRONG DẠY HỌC CHƯƠNG “SÓNG ÁNH SÁNG” - VẬT LÝ 12

2.1 Đặc điểm của chương “Sóng ánh sáng”

2.1.1 Vai trò và vị trí chương “Sóng ánh sáng”

Theo phân phối chương trình của Bộ Giáo Dục và Đào Tạo, chương “Sóng ánh sáng” thuộc chương 5 SGK là phần kiến thức ở học kì 2 Số tiết học dành cho chương là

14 tiết trong đó có 9 tiết lí thyết, 2 tiết thực hành, 3 tiết bài tập Số bài học của chương là

8 bài trong đó 6 bài lí thuyết, 1 bài tập và 1 bài thực hành Cụ thể vị trí như sau:

TH

CS

VẬT LÝ PHỔ THÔNGT

- Tán sắc, nhiễu xạ, giao thoa ánh sáng

- Bước sóng và màu a.sáng

- Các loại quang phổ

- Thuyết điện từ & lượng tử

- Quang điện trong & ngoài - ứng dụng

- Hấp thụ và phản xạ lọc lựa a.sáng, màu sắc vật

- Sự phát quang Laze

và Sóng

VL hạt nhân

Trang 31

2.1.2 Mục tiêu, nội dung dạy học chương “Sóng ánh sáng”

2.1.2.1 Mục tiêu cơ bản chung của chương “sóng ánh sáng”

- Nắm được các hiện tượng tự nhiên về tán sắc ánh sáng, giao thoa, nhiễu xạ Từ

đó suy ra ánh sáng có tính chất sóng

- Phân biệt ánh sáng trắng và ánh sáng đơn sắc

- Nắm được cấu tạo và ứng dụng của máy quang phổ Nhận biết được các loại quang phổ và ứng dụng của nó Nắm được đặc điểm chính, bản chất, cách tạo và ứng dụng thực tế của các tia hồng ngoại, tia tử ngoại, tia X trong thang sóng điện từ

2.1.2.2 Mục tiêu cơ bản của từng bài trong chương “sóng ánh sáng”

o Bài 24 Tán sắc ánh sáng

 Mô tả được hiện tượng tán sắc ánh sáng qua lăng kính trong hai thí nghiệm của Newton và nêu được hiện tượng tán sắc là gì, giải thích hiện tượng tán sắc bằng hai giả thuyết của Newton

 Phân biệt được ánh sáng trắng và ánh sáng đơn sắc

o Bài 25 Giao thoa ánh sáng

 Nêu được hiện tượng nhiễu xạ ánh sáng là gì

 Mô tả được thí nghiệm về nhiễu xạ ánh sáng và thí nghiệm Young về giao thoa ánh sáng

 Nêu được vân sáng, vân tối là kết quả của sự giao thoa ánh sáng

 Nêu được điều kiện để xảy ra hiện tượng giao thoa ánh sáng

 Nêu được hiện tượng giao thoa, nhiễu xạ chứng tỏ ánh sáng có tính chất sóng Lập được các công thức cho vị trí của các vân sáng, vân tối, khoảng vân

 Nêu được mỗi ánh sáng đơn sắc có một tần số xác định (bước sóng xác định trong chân không)

 Nhớ được giá trị phỏng chừng của bước sóng với vài màu thông dụng: Đỏ, vàng, lục, lam, tím

 Giải được các bài toán về giao thoa ánh sáng đơn sắc

o Bài 26 Các loại quang phổ

 Mô tả được cấu tạo và công dụng của máy quang phổ lăng kinh

 Nêu được quang phổ liên tục, quang phổ phát xạ, quang phổ hấp thụ là gì Đặc điểm chính, cách phát và một số ứng dụng cụ thể của mỗi loại quang phổ

o Bài 27 Tia hồng ngoại và tia tử ngoại

Trang 32

 Nêu cách phát hiện tia hồng ngoại và tia tử ngoại.

 Nêu được tính chất công dụng nguồn phát của tia hồng ngoại và tử ngoại

 Nêu được sự giống và khác nhau giữa hai tia này và ánh sáng khả kiến

o Bài 28 Tia X

 Nêu được cách tạo, tính chất và bản chất của tia X

 Trình bày cấu tạo hoạt động của ống Culitgiơ

 Nhớ một số ứng dụng quan trọng của tia X

 Kể được tên của các vùng sóng điện từ kế tiếp nhau trong thang sóng điện từ

2.1.3 Cấu trúc logic chương “Sóng ánh sáng”

- Đội ngũ giáo viên bộ môn đoàn kết, tận tụy nhiệt tình trong công tác giảng dạy

- Phương pháp dạy học theo chuẩn kiến thức kỹ năng và theo hướng phát huy tính chủ động sáng tạo, tăng cường năng lực tự học của học viên

Trang 33

2.2.1.2 Khó khăn

- Thời gian bố trí trong quá trình giảng dạy cho mỗi tiết còn thiếu.

- Khă năng khái quát và tư duy logic của học viên còn hạn chế như:

+ Phần lớn học viên không nhớ công thức vật lí và một số kiến thức toán học + Chưa hệ thống hoá được kiến thức theo từng phần.

+ Chưa vận dụng được trong khi luyện tập, thực hành.

+ Chưa khái quát được các dạng bài tập cơ bản.

2.2.2 Thực trạng việc sử dụng các bài tập trong dạy học chương “Sóng ánh sáng” của giáo viên hiện nay

Như ta đã biết, hiện nay nhịp độ phát triễn của khoa học, kỹ thuật, công nghệ của mọi mặt đời sống xã hội nhanh chóng đến mức trong một đời người đã diễn ra nhiều thay đổi căn bản trong nhiều lĩnh vực, làm cho những tri thức thu nhận ở nhà trường không còn đủ nữa Con người phải tự lực thu nhận thêm tri thức mới, kỹ năng mới và phải biết phát hiện vấn đề, giải quyết vấn đề mới nảy sinh, biết sáng tạo trong từng công việc Nhưng với phương pháp dạy học truyền thống lại không làm được điều đó vì theo kiểu dạy học này chỉ dừng lại ở việc cung cấp kiến thức và rèn luyện kỹ năng áp dụng kiến thức theo mẫu có sẵn Mặc dù chúng ta đã cố cải tiến để cho HV tích cực, chủ động, sáng tạo nhưng vẫn trong khuôn khổ của các hoạt động thụ động Nó vẫn không thay đổi căn bản của vấn đề

Vì điều kiện cơ sở vật chất trường học, điều kiện xã hội còn thấp nên việc vận dụng phương pháp dạy học truyền thống còn ở mức tối thiểu nên càng không đáp ứng được yêu cầu mới của việc dạy học Ví dụ, kết quả thống kê qua nhiều thăm dò ý kiến về đánh giá thực trạng cách dạy và cách học vật lý trên địa bàn TP HCM ở ba đối tượng GV giảng dạy vật lý, tổ trưởng chuyên môn và Ban giám hiệu cho thấy sự nhất trí cao về những nhận định sau: “Trên lớp, Thầy làm việc nhiều hơn trò; Phương pháp giảng dạy nghèo nàn, đơn điệu, còn nặng về thuyết trình một chiều: Thầy giảng – trò nghe, thầy đọc – trò chép; giảng dạy còn nặng về lý thuyết, ít thực hành, xa rời thực tế; phương pháp giảng dạy lạc hậu, chưa đánh thức và khơi dậy tìm năng; GV ít quan tâm đến đặc điểm tâm sinh lý và nhu cầu hoạt động nhận thức tích cực của HV; GV ít chú trọng khâu luyện tập, bồi dưỡng, phát triễn năng lực tư duy sáng tạo cho HV (theo báo cáo khoa học của đề tài Tìm và thể nghiệm các phương pháp dạy và học Vật Lý ở TT GDTX ở TP.HCM theo phương pháp dạy học tích cực) Ngoài ra, cách đánh giá và kiểm tra kiến

Trang 34

thức của chúng ta cũng vẫn theo cách thức đã có từ mấy chục năm qua, vẫn chủ yếu là kiểm tra sự ghi nhớ, hiểu một số kiến thức cơ bản và vận dụng chúng để giải một số bài tập vật lý theo một số dạng nhất định và việc đánh giá cũng chỉ dựa trên các kết quả trên Trong khi đó không kiểm tra năng lực của HV về phương pháp nghiên cứu, về khả năng giải quyết vấn đề, về các năng lực hoạt động khác trong học tập vật lý như đề xuất giả thuyết, xây dựng thí nghiệm….Các hình thức kiểm tra cũng đơn điệu, chủ yếu là hình thức tự luận

2.3 Khai thác, xây dựng bài tập chương “Sóng ánh sáng” theo hướng củng cố,

hệ thống hóa kiến thức và bồi dưỡng năng lực tự học cho học viên

2.3.1 Mục tiêu

- Sử dụng một số bài tập trong phạm vi chương “Sóng ánh sáng” được biên soạn theo hướng củng cố, hệ thống hóa kiến thức nhằm giúp học viên rèn luyện và bồi dưỡng khả năng tự học

- Học viên tự giải được các dạng bài toán thuộc chương sóng ánh sáng, qua đó nâng cao khả năng tự học, phát triển các kỹ năng giải bài tập vật lý

2.3.2 Một số yêu cầu khi soạn thảo bài tập

- Người giáo viên phải dự tính được kế hoạch cho toàn bộ công việc về bài tập, với từng đề tài, từng tiết học cụ thể

- Sắp xếp các bài tập thành hệ thống, định kế hoạch và phương pháp sử dụng

- Khi dạy giải bài tập vật lí cần dạy cho học sinh biết vận dụng kiến thức để giải quyết các vấn đề đặt ra, rèn luyện cho người học kĩ năng giải các bài tập cơ bản thuộc các phần khác nhau trong chương trình vật lí

- Người giáo viên cần đặc biệt coi trọng việc rèn luyện tư duy và tính tự lập của học sinh

2.3.3 Các nguyên tắc chung khi xây dựng các bài tập

Hệ thống bài tập phải đảm bảo các tiêu chuẩn sau:

- Thông qua việc giải hệ thống bài tập, những kiến thức cơ bản, đã được xác định của đề tài phải được củng cố, ôn tập, hệ thống hóa và khắc sâu thêm

- Tính tuần tự tiến lên từ đơn giản đến phức tạp của các mối quan hệ giữa các đại lượng và các khái niệm đặc trưng cho các hiện tượng phải được mô tả trong hệ thống bài tập

Trang 35

- Mỗi bài tập phải đóng góp phần nào đó vào việc hoàn thiện kiến thức cho học sinh

- Hệ thống bài tập phải đa dạng về thể loại và phong phú về nội dung

- Các kiến thức toán lí được sử dụng trong bài tập phải phù hợp với trình độ của học sinh

- Số lượng bài tập được lựa chọn phải phù hợp với sự phân bố thời gian

2.3.4 Phương pháp soạn thảo bài tập

- Xác định mục đích sử dụng bài toán

- Xác định những kiến thức áp dụng để giải bài toán

- Giải bài toán đó theo phương pháp giải một bài tập vật lí một cách tỉ mỉ Tìm các cách giải bài toán đó (nếu có)

- Phát hiện được những khó khăn, sai lầm mà học sinh có thể gặp khi giải bài toán

- Soạn hệ thống các câu hỏi hướng dẫn học sinh vượt qua khó khăn

2.4 Phân loại bài tập chương “Sóng ánh sáng

Dạng 1: Vị trí vân sáng- vị trí vân tối- khoảng vân:

a- Khoảng vân: là khoảng cách giữa 2 vân sáng liền kề i =

a

D

Để A là vân sáng trung tâm thì k = 0 hay ∆d = 0

k = 0: ứng với vân sáng trung tâm

1( + λ

2

1( +

Trang 36

Hay vân tối thứ k: xk

Dạng 2: Khoảng cách giữa các vân

Loại 1- Khoảng cách vân cùng bản chất liên tiếp: l = (số vân – 1).i

Ví dụ: khoảng cách giữa 7 vân sáng liên tiếp: l = (7 – 1).i = 6i

Loại 2- Giữa một vân sáng và một vân tối bất kỳ:

Giả sử xét khoảng cách vân sáng bậc k và vân tối thứ k’, vị trí: xk

s = k.i; xk

T=(k – 0,5).i

Nếu:

+ Hai vân cùng phía so với vân trung tâm:∆x= x s kx t k'

+Hai vân khác phía so với vân trung tâm: k'

+ Nếu hai vân cùng phía so với vân trung tâm: ∆x=x t6 −x s5 =5,5i−5i=0,5i

+ Nếu hai vân khac phía so với vân trung tâm : ∆x=x t6+x s5=10,5i

Loại 3- Xác định vị trí một điểm M bất kì trên trường giao thoa cách vân trung tâm một khoảng x M có vân sáng hay vân tối, bậc mấy?

+ Lập tỉ số: xM

n

i =Nếu n nguyên, hay n ∈Z, thì tại M có vân sáng bậc k=n.

Nếu n bán nguyên hay n=k+0,5 với k ∈Z, thì tại M có vân tối thứ k +1

Ví dụ:

Một khe hẹp F phát ánh sáng đơn sắc bước sóng λ= 600nmchiếu sáng hai khe song song với F và cách nhau 1m Vân giao thoa được quan sát trên một màn M song song với màn phẳng chứa F1 và F2 và cách nó 3m Tại vị trí cách vân trung tâm 6,3m có

A.Vân tối thứ 4 B Vân sáng bậc 4

Trang 37

C Vân tối thứ 3 D Vân sáng bậc 3

Giải: Ta cần xét tỉ số

i x

3,

6 = là một số bán nguyên nên tại vị trí cách

vân trung tâm 6,3mm là một vân tối

Mặt khác x t =(k+

2

1 )i= 6,3 nên (k+

2

1)=3,5 nên k= 3 Vậy tại vị trí cách vân trung

tâm 6,3mm là một vân tối thứ 4 vậy chọn đáp án A

Dạng 3: Xác định số vân trên trường giao thoa:

- Trường giao thoa xét là chiều rộng của khu vực chứa toàn bộ hiện tượng giao thoa hứng được trên màn- kí kiệu L

- Số vân trên trường giao thoa:

+ Số vân sáng: Ns = 1+2. i

L

2+ Số vân tối: NT = 2. +0,5

2i L

- Số vân sáng, vân tối trong đoạn MN, với 2 điểm M, N thuộc trường giao thoa nằm 2 bên vân sáng trung tâm:

Trong một thí nghiệm về Giao thoa ánh sáng bằng khe I âng với ánh sáng đơn sắc λ

= 0,7 µm, khoảng cách giữa 2 khe s1,s2 là a = 0,35 mm, khoảng cách từ 2 khe đến màn quan sát là D = 1m, bề rộng của vùng có giao thoa là 13,5 mm Số vân sáng, vân tối quan sát được trên màn là:

Ngày đăng: 20/07/2015, 16:16

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2008), Vật lý 12 (Sách giáo khoa, Sách giáo viên), NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vật lý 12 (Sách giáo khoa, Sách giáo viên)
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2008
4. Chính phủ nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam (2001), Chiến lược phát triển giáo dục 2001 – 2010 (Ban kèm quyết định số 201/2001/QĐ-TTg ngày 28 tháng 12 năm 2001 của Thủ tướng chính phủ), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược phát triển giáo dục 2001 – 2010
Tác giả: Chính phủ nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2001
5. Hoàng Chúng (1983), Phương pháp thống kê toán học trong Khoa học giáo dục, NXB Giáo Dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp thống kê toán học trong Khoa học giáo dục
Tác giả: Hoàng Chúng
Nhà XB: NXB Giáo Dục
Năm: 1983
6. Nguyễn Văn Đồng (2003), Phương pháp giảng dạy Vật lý ở trường phổ thông, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp giảng dạy Vật lý ở trường phổ thông
Tác giả: Nguyễn Văn Đồng
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2003
7. Lê Đình, Trần Huy Hoàng (2005), Cơ sở khoa học của việc bồi dưỡng năng lực tự học, tự nghiên cứu cho sinh viên sư phạm ngành vật lý, Trường ĐHSP Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở khoa học của việc bồi dưỡng năng lực tự học, tự nghiên cứu cho sinh viên sư phạm ngành vật lý
Tác giả: Lê Đình, Trần Huy Hoàng
Nhà XB: Trường ĐHSP Huế
Năm: 2005
8. Lê Văn Giáo (2001), Giáo trình nghiên cứu bài tập vật lý phổ thông, Trường ĐHSP Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình nghiên cứu bài tập vật lý phổ thông
Tác giả: Lê Văn Giáo
Nhà XB: Trường ĐHSP Huế
Năm: 2001
9. Lê Văn Giáo (2001), Giáo trình Tích cực hóa hoạt động nhận thức của học sinh trong dạy học vật lý ở trường THPT, Trường ĐHSP Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Tích cực hóa hoạt động nhận thức của học sinh trong dạy học vật lý ở trường THPT
Tác giả: Lê Văn Giáo
Nhà XB: Trường ĐHSP Huế
Năm: 2001
10. Lê Văn Giáo, Lê Công Triêm, Lê Thúc Tuấn (2005), Một số vấn đề phương pháp dạy học trong vật lý ở trường THPT, Trường ĐHSP Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề phương pháp dạy học trong vật lý ở trường THPT
Tác giả: Lê Văn Giáo, Lê Công Triêm, Lê Thúc Tuấn
Nhà XB: Trường ĐHSP Huế
Năm: 2005
11. Nguyễn Kỳ (2003), Mô hình dạy học tích cực lấy học sinh làm trung tâm, Trường CBQL Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mô hình dạy học tích cực lấy học sinh làm trung tâm
Tác giả: Nguyễn Kỳ
Nhà XB: Trường CBQL Giáo dục
Năm: 2003
13. Nguyễn Thị Thiên Nga (2003), Nâng cao hiệu quả dạy học môn vật lý ở trường THPT thông qua các biện pháp tổ chức hoạt động tự học cho học sinh, Luận văn Thạc sĩKhoa học giáo dục, ĐHSP Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao hiệu quả dạy học môn vật lý ở trường THPT thông qua các biện pháp tổ chức hoạt động tự học cho học sinh
Tác giả: Nguyễn Thị Thiên Nga
Nhà XB: ĐHSP Huế
Năm: 2003
14. Quốc hội nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam (2006), Luật giáo dục năm, NXB Chính trị Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật giáo dục năm
Tác giả: Quốc hội nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2006
15. Nguyễn Bảo Hoàng Thanh (2001), Nghiên cứu việc phối hợp trắc nghiệm khách quan và trắc nghiệm tự luận nhằm cải tiến hoạt động đánh giá kết quả học tập vật lý ở bậc đại học, Luận án Tiến sĩ giáo dục, ĐH Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu việc phối hợp trắc nghiệm khách quan và trắc nghiệm tự luận nhằm cải tiến hoạt động đánh giá kết quả học tập vật lý ở bậc đại học
Tác giả: Nguyễn Bảo Hoàng Thanh
Nhà XB: ĐH Vinh
Năm: 2001
16. Nguyễn Đức Thâm (2002), Phương pháp dạy học vật lý ở trường phổ thông, NXB ĐHSP, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học vật lý ở trường phổ thông
Tác giả: Nguyễn Đức Thâm
Nhà XB: NXB ĐHSP
Năm: 2002
17. Nguyễn Đức Thâm, Nguyễn Ngọc Hưng (2001), Tổ chức hoạ t động nhận thức cho học sinh trong dạy học vật lý ở trường phổ thông, NXB ĐH Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổ chức hoạ t động nhận thức cho học sinh trong dạy học vật lý ở trường phổ thông
Tác giả: Nguyễn Đức Thâm, Nguyễn Ngọc Hưng
Nhà XB: NXB ĐH Quốc gia Hà Nội
Năm: 2001
20. Phạm Hữu Tòng (1989), Bài tập về phương pháp dạy bài tập vật lý, NXB Giáo dục Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài tập về phương pháp dạy bài tập vật lý
Tác giả: Phạm Hữu Tòng
Nhà XB: NXB Giáo dục Hà Nội
Năm: 1989
21. Phạm Hữu Tòng (1996), Hình thành kiến thức, kỹ năng, phát triển trí tuệ và năng lực sáng tạo của học sinh trong dạy học vật lý, NXB Giáo dục Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hình thành kiến thức, kỹ năng, phát triển trí tuệ và năng lực sáng tạo của học sinh trong dạy học vật lý
Tác giả: Phạm Hữu Tòng
Nhà XB: NXB Giáo dục Hà Nội
Năm: 1996
22. Phạm Hữu Tòng (2001), Lý luận dạy học vật lý ở trường trung học, NXB ĐHSP, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận dạy học vật lý ở trường trung học
Tác giả: Phạm Hữu Tòng
Nhà XB: NXB ĐHSP
Năm: 2001
24. Lê Công Triêm (2004), Giáo trình nghiên cứu chương trình vật lý phổ thông, Trường ĐHSP – ĐH Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình nghiên cứu chương trình vật lý phổ thông
Tác giả: Lê Công Triêm
Nhà XB: Trường ĐHSP – ĐH Huế
Năm: 2004
25. Lê Công Triêm (2001), “Bồi dưỡng năng lực tự học, tự nghiên cứu cho sinh viên đại học”, Tạp chí Giáo dục, số 8, trang 20-22 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bồi dưỡng năng lực tự học, tự nghiên cứu cho sinh viên đại học
Tác giả: Lê Công Triêm
Nhà XB: Tạp chí Giáo dục
Năm: 2001
27. Thái Duy Tuyên (2007), Phương pháp dạy học truyền thống và đổi mới, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học truyền thống và đổi mới
Tác giả: Thái Duy Tuyên
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2007

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.1. Kết quả học tập học kì I của HS hai lớp 12N3 và 12N4 năm học 2012- - Khai thác, xây dựng và sử dụng bài tập chương sóng ánh sáng  vật lý 12 theo hướng củng cố, hệ thống hóa kiến thức và bồi dưỡng năng lực tự học cho học viên giáo dục thường xuyên
Bảng 3.1. Kết quả học tập học kì I của HS hai lớp 12N3 và 12N4 năm học 2012- (Trang 64)
Bảng 3.3. Thống kê các điểm số, tần số và tần suất tích lũy của bài kiểm tra 1 tiết - Khai thác, xây dựng và sử dụng bài tập chương sóng ánh sáng  vật lý 12 theo hướng củng cố, hệ thống hóa kiến thức và bồi dưỡng năng lực tự học cho học viên giáo dục thường xuyên
Bảng 3.3. Thống kê các điểm số, tần số và tần suất tích lũy của bài kiểm tra 1 tiết (Trang 65)
Bảng 3.2. Cấu trúc hai chiều của bài kiểm tra một tiết của chương Sóng Ánh Sáng - Khai thác, xây dựng và sử dụng bài tập chương sóng ánh sáng  vật lý 12 theo hướng củng cố, hệ thống hóa kiến thức và bồi dưỡng năng lực tự học cho học viên giáo dục thường xuyên
Bảng 3.2. Cấu trúc hai chiều của bài kiểm tra một tiết của chương Sóng Ánh Sáng (Trang 65)
Bảng 3.5. Các tham số đặc trưng thống kê của nhóm đối chứng và thực nghiệm - Khai thác, xây dựng và sử dụng bài tập chương sóng ánh sáng  vật lý 12 theo hướng củng cố, hệ thống hóa kiến thức và bồi dưỡng năng lực tự học cho học viên giáo dục thường xuyên
Bảng 3.5. Các tham số đặc trưng thống kê của nhóm đối chứng và thực nghiệm (Trang 66)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w