Câu 1: Nguồn gốc, danh xưng, quá trình phát triển của múa rối nước?Câu 2: nguồn gốc, danh xưng, quá trình phát triển của quan họ?Câu 3: Tính đa dạng và thống nhất trong Then?Câu 4: Xòe Thái? Câu 5: Tính dân gian, bác học, ngẫu hứng trong Đờn ca tài tử?CÂU 6: Yếu tố tín ngưỡng dân gian bản địa trong Then?Câu 7: Gía trị văn hóa tiêu biểu trong Then?Câu 8: Những kiêng kị của người làm then?Câu 9: Một số phường Múa rối nước dân gian vùng đồng bằng bắc bộ?Câu 10: So sánh hiện tượng nhập hồn trong then cấp sắc của người Tày với hầu bóng của người Kinh? Câu 11: Yếu tố saman giáo trong then?Câu 12: phân tích dấu ấn văn hóa nông nghiệp trong Múa rối nước?CÂU 13: vùng dân ca miền núi phía bắc?Câu 14: vùng dân ca đồng bằng trung du bắc bộ và cực bắc trung bộ?
Trang 1ĐỀ CƯƠNG MÔN 1 SỐ LOẠI HÌNH NTBD TRUYỀN THỐNG VN Câu 1: Nguồn gốc, danh xưng, quá trình phát triển của múa rối nước?
- Múa rối nước là một loại hình nghệ thuật sân khaausmf chỗ diễn của conrối là mặt nước, ao, hồ, hay bể rộng.(Tô Sanh)
- Múa rối nước là loại hình dân gian độc đáo cua người nông dân trồnglúa nước vùng ĐBSH ( Diệp Đình Hoa)
- Múa rối nước hay còn gọi là trò rối nước là một loại hình nghệ thuật sânkhấu dân gian truyền thống đọc đáo, một sáng tạo của người Việt Loại hình nàythường diễn vào dịp lễ, hội làng, ngày vui, Tết dùn con rối diễn trò, diễn kịch trênmặt nước
Như vậy có thể thấy rằng có rất nhiều định nghĩa khác nhau về múa rối nước.Sau đay chúng ta có thể đưa ra một số kết luân sau:
-MRN là loại hình dân gian độc nhất vô nhị chỉ có ở Việt nam
-Nó là sản phẩm trực tiếp và mang đậm dấu ấn văn hóa của cư dân trồng lúanước vùng ĐBSH
-Các thành tố của múa rối nước hình thành, tồn tai và phát triển không tách rờiyếu tố nước
-Sử sách ghi chép lại đã chứng minh từ “rối” của Việt Nam trước đây đọc là
“ổi lỗi” hay “khôi lỗi”.“nơi thủy đình có trò ổi lỗi :
Giữa Long Trì con rối giao tranhNgười kéo ra quân đỏ quân xanhĐám rước kiệu đi thần về phật ”
“Tam Sơn cột cháy nay còn đóCầu móng, thủy đình, ổi lỗi đâu?
Nguồn gốc
Múa rối nước (MRN) là loại hình nghệ thuật truyền thống quý giá của ViệtNam Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có công trình nào, nguồn tư liệu nào khẳngđịnh một cách thuyết phục Múa rối nước ra đời từ đâu và vào thời điểm cụ thể nào
Theo truyền thuyết ( huyền thoại ) lịch sử trò rối nước ra đời từ thời xây thành
Cổ La Kinh An Dương Vương, Năm 225 trước công nguyên
Trang 2Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có công trình nào, nguồn tư liệu nào khẳngđịnh một cách thuyết phục Múa rối nước ra đời từ đâu và vào thời điểm cụ thể nào.
Theo GS Trần Văn Khê và nhà nghiên cứu Nguyễn Huy Hồng thì nguồn gốc,xuất xứ của Múa rối nước cho đến nay không ai biết chính xác Cái mà hiện nay cácnhà nghiên cứu vẫn hay viện dẫn về nguồn gốc MRN là từ bia “Sùng thiện diên linh”.Bia “Sùng thiện diên linh” do thượng thư bộ hình của Lý Nhân Tông là Nguyễn CôngBật viết và dâng lên vua năm 1121 Nếu căn cứ vào bia thì có thể khẳng định MRN rađời từ thế kỷ XII, nhưng lại mâu thuẫn với lời văn trong bia: “Sau khi thể nghiệm lâuđời, thấy cái trò rất hay nên mới dâng cho nhà vua xem tại sông Lô” Đã “thể nghiệmlâu đời” thì MRN có thể có trước thế kỷ XI, XII Nhưng trước thời điểm đó, ta không
rõ diện mạo của MRN như thế nào
Các giai đoạn của múa rối nước ở Việt Nam:
- Thời kỳ thứ nhất: một trò chơi của nhân dân lao động, thợ thủ công, nông
dân, không phổ biến rộng Phạm vi một vài gia đình, dòng họ, địa phương Xuất hiệntrước thời Lý
- Thời kỳ thứ hai: Hình thành một nhóm người chơi rối của nhân dân lao động,
tiến lên xuất hiện gánh rối, phường rối, bắt đầu xuất hiện ở địa phương đông ngườixem, lan rộng ra các vùng lân cận Có thể có trước thời Lý, nhưng phát triển cựcthịnh nhất vào thời này rồi theo từng giai đoạn
Ở thời kỳ này đình, chùa, cung đình cũng biết đến, múa rối nước được diễntrong những ngày hội, ngày lễ lớn Có thể có từ trước thế kỷ XI nhưng rầm rộ nhất làvào thời Lý – Trần
- Thời kỳ thứ ba: Có nhiều cơ sở múa rối Có sự giao lưu, thi đấu, học hỏi, ảnh
hưởng lẫn nhau giữa các phường, gánh rối Nội dung chủ yếu phản ánh cuộc sống laođộng, sinh hoạt hàng ngày Các phường rối ghanh đua nhau tìm ra cái tôi để tôn vinhđơn vị mình và thu hút sự quan tâm của công chúng
- Thời kỳ thứ tư (1945 -1954) Sau cách mạng tháng Tám Mục đích chủ yếu
phục vụ công cuộc giải phóng dân tộc, phong trào phụng sự tổ quốc, coi nhẹ tính kinh
tế Nhiều kho tàng rối cả về cơ sở vật chất và nội dung bị mất mát do chiến tranh
Trang 3Tiết mục về lễ giáo phong kiến bị bãi bỏ dần, tiết mục lịch sử sản xuất và chiến đấuđược tăng cường.
- Thời kỳ thứ năm (1954 – 1975): Hòa bình lặp lại trên miền Bắc Việt Nam.
Hoạt động rối và một số phường rối được phục hồi Múa rối trở thành tài sản của dântộc, được sự quan tâm và đầu tư duy trì, phát triển Thời kỳ lập lại hòa bình ở ĐôngDương 1954, các phường rối nước cổ truyền được phục hồi, phục vụ nhân dân địaphương là chủ yếu Năm 1956 Đoàn múa rối Trung ương được thành lập Đây là mốcquan trọng cho nghệ thuật múa rối Việt Nam
Thời kỳ này đã tổ chức nhiều cuộc liên hoan, hội diễn trao đổi kinh nghiệm vềmúa rối nước, những kịch bản rối nước đầu tiên từ trò tiến lên chuyện của Nhà hát
múa rối Trung ương: Thi hóa Rồng, Trần Hưng Đạo bình Nguyên đã thể hiện những
bước đầu trong công việc nghiên cứu phát triển và nâng cao các tiết mục rối nước
- Thời kỳ thứ sáu (1973 -1975)
Múa rối nước tiếp tục được phục hồi, nhiều tiết mục mới được ra đời Cácphường rối: Nam Chấn – Nam Định, Vĩnh Bảo – Hải Phòng, Nguyên Xá – TháiBình… đã có nhiều buổi diễn phối hợp, học hỏi và trao đổi kinh nghiệm…
- Thời kỳ thứ bẩy (1975 – 1986)
Ngày 30/4/1975 giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc Múa rối
từ Hà Nội lan truyền vào Nam Trình độ kỹ thuật và nghệ thuật của múa rối nướcnâng lên, từ nghệ thuật tạo hình, nghệ thuật biểu diễn, trang trí đến ánh sáng sânkhấu… Nhiều phường rối dân gian được phục hồi nhưng chỉ tồn tại “cầm cự” thậmchí lại tan rã
- Thời kỳ thứ tám (Từ sau Đổi mới 1986 đến nay)
Nhiều phường rối nước dân gian được quan tâm phục hồi và đầu tư Múa rốinước chuyên nghiệp khá phát triển
Nghệ thuật múa rối nước Việt Nam bước vào Sân khấu múa rối thế giới
và khẳng định được vị trí của mình
Ngày nay đối với bạn bè thế giới, múa rối nước là một nghệ thuật rất độcđáo của Việt Nam, hầu như người nước ngoài nào đi du lịch đến Việt Nam đều muốnđược thưởng thức những màn trình diễn múa rối nước
Trang 4Câu 2: nguồn gốc, danh xưng, quá trình phát triển của quan họ?
TRẢ LỜI
Danh xưng: Hai chữ Quan họ
Nghĩa của tên gọi Quan họ có nhiều cách giải thích khác nhau; có thể chiathành hai luồng chính:
+ Người dân vùng Quan họ truyền miệng về những cách giải thích của làngmình
+ Những người nghiên cứu giải thích theo sự khảo cứu của từng người
Trước hết, điểm qua những cách giải thích của người vùng Quan họ Người
vùng Quan họ thường giải thích bằng trí nhớ truyền miệng những thuyết tồn tại lâuđời ở làng mình
Người vùng Bịu (Hoài Thị, Bịu Sim huyện Tiên Du cũ) và vùng Diềm (Viêm
Xá, huyện Yên Phong), cho rằng gọi là hát Quan họ vì tiếng hát ấy là tiếng hát giữahai họ nhà quan kết bạn với nhau Truyền thuyết gắn tiếng hát với một người có thậttrong lịch sử là Trạng Bịu, tức Nguyễn Ðăng Ðạo, đỗ trạng nguyên khoa 1684, ngườiHoài Thượng, huyện Tiên Du, cho rằng ông có công đặt ra cách ca hát Quan họ
Người vùng Châm Khê (Bùi Xá, huyện Yên Phong) truyền rằng: lối hát Quan
họ là lối hát giữa quan viên họ nhà trai và quan viên họ nhà gái Vậy, tiếng hát củaquan viên hai họ được gọi tắt là hát Quan họ
Người vùng Chè, Quả Cam, Thị Cầu lại gắn tiếng hát Quan họ với nhữngtruyền thuyết Chuyện rằng: Chúa Trịnh Sâm đi du xuân, thấy một người con gáiđang cắt cỏ trên núi Chè (có nơi kể là núi Long Khám, có nơi kể là núi Qủa Cảm )vừa cắt cỏ vừa hát:
Tay cầm bán nguyệt xênh xang Bao nhiêu cây cỏ lai hàng tay ta
Tiếng hát hay khiến quan quân phải họ lại (dừng lại) để nghe Thấy người đẹp,hát hay, bài hát lại chứa đựng khẩu khí "trị, bình", chúa vời về cung, trở nên bà chúa.Dân gian cho là tiếng hát kia tạo nên sự may mắn, hạnh phúc nên đua nhau hát, nêntiếng hát lan rộng, ngày càng bầy đặt ra nhiều, trở thành lối hát gọi là hát Quan họ
Trang 5Cũng gần giống truyền thuyết trên nhưng lại gắn với cuộc du xuân cầu duyên,cầu tự của Lý Thánh Tông qua vùng Cầu Lự, Siêu Loại (Thuận Thành) và cô gái hát
ấy là ỷ Lan, sau thành nguyên phi, rồi hoàng hậu, rồi hoàng thái hậu nhà Lý Ngườivùng Hồi Quan (nay thuộc huyện Tiên Sơn) lại kể rằng: Lý Công Uẩn chạy giặc, dânmuốn cản quân quan giặc nên ùa ra đường hát làm quan quân phải họ lại, dừng lại, để
Lý Công Uẩn chạy thoát Tuy chi tết khác nhau, nhưng các truyền thuyết trên đềugiải thích Quan họ là tiếng hát làm quan quân phải họ lại, dừng lại
Như vậy, qua truyền thuyết dân gian, ít nhất, tên gọi Quan họ được giải thích bằng 4 nghĩa:
- Tiếng hát họ nhà quan
- Tiếng hát quan viên hai họ trong đám cưới
- Tiếng hát hay, làm quan quân họ lại, dừng lại
- Tiếng hát giữa hai làng kết chạ, kết họ, do một vị quan nào đấy tác thành
Ý kiến của một số nhà nghiên cứu về tên gọi Quan họ có mặt khác
Các tác giả cuốn sách Dân ca Quan họ Bắc Ninh cho Quan họ là danh từ kép
chỉ nhóm người ca hát với ý nghĩa coi trọng Và lối hát, tiếng hát gắn liền với tập thểgọi là Quan họ nên cũng gọi là hát Quan họ
Trong một tham luận đọc tại hội nghị khoa học về sưu tầm, nghiên cứu Quan
họ lần thứ 4, năm 1971, Mấy ý kiến về vấn đề tìm hiểu nguồn gốc dân ca Quan họ, Lê Thị Nhâm Tuyết, Viện Dân tộc học, đã giành một phần tham luận để "tìm hiểu nguồn gốc của cái tên Quan họ " Tác giả cho rằng từ quan không phải là một từ Hán - Việt
vay mượn mà đã có từ thời Hùng Vương trong từ kép quan lang là một từ Việt cổtrước khi nhập vào từ quan Hán Việt, và có nghĩa là người đàn ông Còn từ họ chỉmột cộng đồng gắn theo máu mủ, huyết thống, và đã có nhiều thời kỳ cộng đồng nàymang ý nghĩa vai trò của những đơn vị xã hội (những công xã thị tộc), sau này thànhnhững làng
Do những lý do lịch sử những công xã thị tộc ấy có thể tách ra làm hai (hoặcnhiều hơn), những người đàn ông trong họ (Quan họ) mới tách ra, dẫn dân mình (họmình) về làng gốc chơi và hát theo tục lệ, nên lối chơi và hát ấy cũng được gọi tên làhát Quan họ như trường hợp hát quan làng hát đám cưới - Tày, Nùng Tác giả đã giả
Trang 6định như vậy sau khi so sánh thấy hát quan làng, gọi tên như vậy để chỉ một loại dân
ca đám cưới, chỉ vì một điều giản dị: "Quan làng là người đại diện cao nhất của họnhà trai có thẩm quyền bàn bạc về tất cả mọi việc liên quan tới nghi lễ và tổ chứccưới hỏi với nhà gái Quan làng phải thuộc nhiều bài hát đám cưới để đối lại với họnhà gái ""
Nhà nghiên cứu văn học dân gian nổi tiếng Vũ Ngọc Phan, trong bài viết Mấy
ý kiến sơ bộ về dân ca Quan họ, theo tác giả, Quan họ là tiếng hát của quan viên họ
Lý hát để mừng vua khi vua về thăm quê hương
Nhìn chung lại, sự giải thích về tên gọi Quan họ thì có nhiều, nhưng chưa cócách giải thích nào có thể coi là hoàn toàn thoả đáng Vấn đề còn phải tiếp tục nghiêncứu Có lẽ hiện nay nhiều người nghiêng về cách giải thích: Quan họ là quan viên họnhà trai và quan viên họ nhà gái trong đám cưới; tiếng hát này, chặng đường đầu gắnliền với hát đám cưới, giữa quan viên hai họ, nên được gọi tắt là tiếng hát Quan họsau này, trở thành tiếng hát hội, tiếng hát họp bạn, v.v của trai gái, tiếng hát phongtục của cả cộng đồng một vùng, tiếng hát ấy vẫn được gọi là hát Quan họ
Nguồn gốc và Quá trình phát triển của Quan Họ
Đây là vấn đề phức tạp và chưa được giải quyết Nhưng cũng cần nắm một số
ý kiến chính
Cuốn sách Dân ca Quan họ Bắc Ninh đã giành nhiều trang viết đề cập đến
nguồn gốc và quá trình phát triển của dân ca Quan họ
Về nguồn gốc lâu đời, sau khi so sánh những yếu tố giống nhau, các tác giảgiới thiệu những giả thuyết có căn cứ là: Quan họ có chung nguồn gốc lâu đời với hátLượn của người Tày, hát Đang của người Mường, hát Ghẹo ở Phú Thọ, hát Xoan ởHạc Trì (Phú Thọ)
Các tác giả cho rằng muốn tìm nguồn gốc lâu đời của tiếng hát Quan họ, ta cóthể tìm thấy ở hình ảnh của đôi nam nữ giao chân tay nhau ngồi hát đã ghi lại trêntrống đòng Ngọc Lũ (Nam Hà) và Hoàng Hạ (Hà Tay cũ), cách đây khoảng gần 3000năm trước tức là vào thời gian ấy đã có hát giao duyên nam nữ Lối hát ấy, đến thế kỷ
XV vẫn tiếp diễn, phát triển gọi là hát Lý Liên (Theo Đại Việt sử ký toàn thư) Cùngthời với trống đồng Ngọc Lũ và Hoàng Hạ có khu làng cổ 3000 năm cũ trên đất Quan
Trang 7họ tìm thấy qua khu di chỉ khảo cổ học sơ kỳ thời đại Đồng thau Từ Sơn Tác giả kếtluận: “Nguồn gố lâu đời nhất của Quan họ, chúng ta có thể tìm thấy ở đây”.
Nhưng các tác giả đều cho rằng, lối chơi và tiếng hât Quan họ không ngừngbiến đổi theo thời gian Vì vậy hệ thống bài ca và lề lối mà ta nhận biết được hômnay, về cơ bản là sản phẩm sáng tạo của những thế kỷ sau, nhất là những thế kỷ củathời kỳ phong kiến độc lập sau này với những mốc lịch sử đáng ghi nhận:
(1) Thời Lý – Trần (1010 – 1400) với những thành tựu rực rỡ của việc xây
dựng văn hóa văn minh Đại Việt, nhất là sự nở rộ của những thành tựu văn hóa, nghệthuật dân gian, dân tộc, sự trân trọng yêu quý am hiểu văn hóa nghệ thuật của cáctriều Lý, Trần cùng với ý thức tự tôn dân tộc phát triển, tất cả đã ảnh hưởng trực tiếpđến bước tiến của Quan họ, có thể đã tạo nên một bước ngoặt đáng kể, đưa Quan họ
từ hình thức giao duyên cổ sơ chuyển sang một sinh hoạt ca hát có lề lối, quy củ vàtrình độ nghệ thuật mới
(2) Thời Lê, nhất là từ thời Lê Thánh Tông (thế kỷ XV) trở đi, thời thịnh
trị, trong đó có những bước tiến mới trong lĩnh vực văn học của đất nước, lại thêmđội ngũ trí thức ngày càng đông đảo trên quê hương Quan họ, khiến đội ngũ sáng tạođối với Quan họ ngày càng được bổ sung với những trình độ mới
Đến thê skyr XVIII trở đi, khi nghệ thuật thơ ca trong hệ thống truyện Nômtiến tới những đỉnh cao, thì dân ca Quan họ mới mang trong mình nó “những ngữngôn hình tượng thực đẹp, thực tế nhị và một nội dung trữ tình thật sâu sắc”
Về mặt làn điệu âm nhạc, sau thế kỷ XIII, cũng mở ra sự giao lưu rộng rãi Nam “nên các nhạc điệu, ca hát miền Nam, miền Trung, các điệu Lý, Dặm, phườngVải được dịp đến Bắc Ninh nhiều hơn trước và có ảnh hưởng nhiều đến dân caQuan họ”
Bắc-(3) Những năm đầu thế kỷ XX, nghệ thuật Chèo, Nhà Tơ, Cải lương Nam
Bộ, ca Huế phát triển gia nhập vào Quan họ, khiến nhiều bài được Quan họ cảibiên từ hát Chèo (Con chim khoan đề, Gánh vàng đi đổ, Trống cơm ) từ hát Nhà Tơ(ca Trù) như: Nhất Quế nhị lan, Giọng Quỳnh, Chim khôn đỗ nóc thầu dầu, Bút huêthảo
Trang 8Có ý kiến cho rằng phần lớn những giá trị nghệ thuật âm nhạc và thơ ca Quan
họ là phần sáng tạo của con người cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, nhất là những bài
có làn điệu âm nhạc và lời ca hay Ý kiến này căn cứ vào sự trau chuốt của lời ca và
sự mở rộng về giao lưu về âm nhạc Quan họ với âm nhạc nhiều miền của đất nước,nhất là bài bản trong hệ thống giọng Vặt
Về quá trình phát triển của dân ca Quan họ, nhiều ý kiến lấy mốc thời Lý, Trần(XI-XIV) rồi thời Lê sơ (XV), thời Lê Trung Hưng (XVIII), thời Nguyễn (XIX) lànhững chặng tiến triển khác nhau, đua dần dân ca Quan họ đạt đến những đỉnh caocủa cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX
Câu 3: Tính đa dạng và thống nhất trong Then?
Giống như các hình thức văn hóa tín ngưỡng dân gian khác Then chịu sự tácđộng của quy luật truyền lan của folklore mà đặc trưng của nó là tính tương đồng và
dị biệt
Trên thực tế cho thấy, mặc dù có những điểm giống nhau cơ bản về phươngthức cũng như nội dung hành lễ nhưng đi vào cụ thể vẫn tìm thấy sự khác nhau ở mỗidòng then, thể hiện qua văn bản hành lễ, hình thức diễn xướng và ở hệ thống điệnthần,
Câu 4: Xòe Thái? + Trình bày 1 loại hình nghệ thuật mà em thích?
Dân tộc Thái là một trong những dân tộc vốn có nền dân vũ khá phong phú.Một trong những điệu múa phổ biến nhất của dân tộc này là những điệu xòe duyêndáng, dịu dàng làm say mê ngây ngất lòng người
Múa xòe còn có tên khác là "Xe khăm khen"
Múa xòe có từ bao giờ không ai nhớ nổi, chỉ biết từ xa xưa, người Thái vùngcánh đồng Mường Lò (Yên Bái) đã có câu hát: “Không xòe không vui/Không xòecây ngô không ra bắp/Không xòe cây lúa không trổ bông/Không xòe trai gái khôngthành đôi” Vì thế mà chẳng cuộc vui, ngày hội nào của đồng bào Thái đất này có thểvắng bóng những điệu xòe, dù là ngày vui nhỏ của mỗi gia đình hay lễ lớn của cả bản
cả làng "Anh không xòe thì hoa héo đi/ Em không xòe trời xuân qua đi "
Trang 9Nghệ nhân Lò Văn Biến, người đã có nhiều năm nghiên cứu về văn hóa đồngbào Thái Tây Bắc lý giải, do sống giữa thiên nhiên hùng vỹ, cùng với sự cần cù, tinhthần sáng tạo trong công cuộc chinh phục thiên nhiên, nên mỗi khi hoàn thành mộtcông việc trọng đại, người Thái Mường Lò lại nắm tay nhau quanh đống lửa, nhảymúa ăn mừng Những điệu xòe hình thành từ đó.
Xòe có thể phân chia ra làm hai hình thức chính đó là xòe vòng và xòe biểu diễu:
Xòe vòng là hình thức múa tập thể sơ khai nhất, là nét sinh hoạt vui chơi củangười Thái xưa và nay
Xòe biểu diễn là hình thức xòe phát triển vào những năm 1940 và do gái xòebiểu diễn
Đặc điểm của muá xoè :
Không gian, thời gian, đối tượng tham gia diễn xướng:
Địa điểm tổ chức múa xòe vòng thường diễn ra ở các bãi đất trống, ở sân nhà,trên sân khấu, dưới gốc cây hoặc nhà văn hóa thôn, bản vào những ngày vui như lễhội, tết Xíp xí, lễ mừng cơm mới, mừng nhà mới, cúng giỗ Xên bản, Xên mường,sinh hoạt Hạn khuống
Nếu như xòe vòng là một điệu múa tập thể vui nhộn, số người tham gia khônghạn chế, không phân biệt già trẻ, trai gái, tôn giáo, đẳng cấp Mọi người đều có quyềnvui và được phép nắm tay nhau nhảy múa Thì xòe biểu diễn là do gái xòe biểu diễn
Âm nhạc:
Âm nhạc và dàn nhạc của xoè thông thường là một chiếc trống, 2 hoặc 3 cáichiêng, một đôi chũm chọe và mấy ống tre dỗ trên máng gỗ Có khi còn dùng cả pí,khèn bè, tính tẩu Cũng là dàn nhạc và nhịp điệu ấy, nhưng tuỳ lúc và tính chất buổixòe mà cách đánh và chuyển âm khác nhau
Tuỳ từng vùng, nhạc cụ làm nền có khác nhau Nếu như ở Quỳnh Nhai (SơnLa) các điệu xoè uyển chuyển trong tiếng đàn tính, thì ở Mường Lò (Yên Bái) cácđiệu xoè sôi nổi, bay bướm, trong nhịp trống, chiêng, khèn, pí…
Một số điệu xòe cổ:
Xoè vòng (Xé vóng): Đây là điệu xoè cổ nhất, bởi sự đơn giản trong bước vũ
Trang 10Múa xòe Thái là một điệu múa tập thể vui nhộn, số người tham gia không hạnchế, không phân biệt già trẻ, trai gái, tôn giáo, đẳng cấp Mọi người đều có quyền vui
và được phép nắm tay nhau tiến lùi theo nhịp trống 2/4
Người múa xòe đứng thành vòng tròn nắm tay nhau, thường thì nam, nữ đanxen Vòng xòe ban đầu ít người thì một vòng nhỏ hẹp; nhiều người thì vòng lớn,nhiều hơn nữa thì vòng tròn kép: vòng lớn ngoài, vòng nhỏ trong Nếu vòng đơn thìvòng xòe quay ngược chiều kim đồng hồ, nếu vòng xòe kép thì các vòng xòe quayngược chiều nhau trông rất đẹp mắt
Nếu số người chơi nhiều lên nữa, hội xoè được thiết kế thành các vòng trònđồng tâm, “tâm” được xác định bởi một hũ rượu cần hoặc một đống lửa (nếu vào banđêm) Khi ấy, vòng xoè này vận động theo chiều kim đồng hồ, thì vòng xoè kia vậnđộng theo hướng ngược lại Tuỳ theo tính chất của từng cuộc vui, nếu là vòng xoèđám cưới hoặc tiệc mừng nhà mới chẳng hạn, về cuối xoè vòng có thể tách ra thànhxoè cụm, xoè nhóm hoặc xoè đôi
Điệu xoè thể hiện sự gắn kết bền vững của cộng đồng, chuyên chở khát vọngmột cuộc sống ấm no, hạnh phúc trong sự vận động không ngừng của đất trời, vạnvật
Từ điệu xoè vòng, dần dần phát triển thành các điệu xoè cổ khác ẩn chứanhững ý nghĩa nhân sinh lớn lao:
Điệu vòng tròn vỗ tay (ỏm lọm tốp mứ):
Các vũ công bước theo vòng tròn từ trái qua phải rồi ngược lại, nhảy co từngchân và đồng thời vỗ tay theo nhịp trống, tạo nên không khí vui tươi, rộn rã, thể hiệnniềm vui của cộng đồng sau mùa vụ bội thu, săn bắt thú rừng, mừng nhà mới, đámcưới, hội xuân…
Điệu bổ bốn (phá xí): Người tham gia xếp thành hai hàng từ hai bên, quay mặt
vào nhau, tay trong tay, tiến vào tạo thành vòng tròn Từ vòng tròn trung tâm toả rathành bốn vòng tròn nhỏ xung quanh như bông hoa ban năm cánh Các vòng tròn nhỏlúc biến thể thành các hình vuông, lúc tạo thành các hình thoi hoặc hình bình hành,các vũ công vừa biến đổi tạo hình, vừa nhún bước theo nhịp trống, tay đan chạm vàonhau trong bước tiến
Trang 11Điệu xoè diễn tả tình đoàn kết gắn bó keo sơn Cuộc sống dẫu muôn vàn khókhăn gian khổ, lúc thắng lợi, lúc chưa thành, thậm chí anh em ly tán, nhưng tìnhngười không bao giờ thay đổi Lòng người luôn hướng về cội, tin vào sức mình, vươnlên chiến đấu và chiến thắng.
Điệu xoè còn mang bóng dáng quan niệm về vũ trụ, triết lý âm dương ngũhành một cách tinh tế và sâu sắc
Điệu tiến lùi (đổn hôn): Các vũ công từ hai bên tiến ra xen kẽ nhau tạo thành
vòng tròn, tiến lên rồi lùi lại so le chéo nhau dịch chuyển theo chiều kim đồng hồ, haitay xoè ngang thắt lưng Điệu xoè thể hiện tình đoàn kết keo sơn, dẫu hoàn cảnh vàcuộc sống như thế nào, vẫn còn mãi tình người cao đẹp
Điệu nâng khăn mời rượu (Khắm khăn mơi lảu):
Động tác uyển chuyển, hai tay nâng khăn mời rượu Biểu đạt tình cảm và tấmlòng của chủ nhà với khách quý vì chén rượu đậm đà men lá rừng, men tình người
Điệu tung khăn (nhôm khăn): khăn piêu được quàng qua cổ, hai tay cầm khăn
piêu tung lên theo nhịp chân nhẹ nhàng, uyển chuyển, thể hiện niềm vui đạt đượcthành quả lao động và sự khéo tay thêu chiếc khăn piêu, đức tính cần cù của ngườiphụ nữ Thái
Từ các điệu xoè cổ ấy, dần dần các nghệ nhân sáng tạo nên nhiều điệu xoèkhác mô phỏng cuộc sống muôn mầu: Lấy nước, hái bông, múa quạt, dệt vải, bẫythú… Ngắm các điệu xoè Thái Tây Bắc mà như thấy được cuộc sống chiến đấu, laođộng, tư tưởng tình cảm cùng những quan niệm về vũ trụ, đất trời, lửa nước,
Những ý nghĩa nhân sinh cao đẹp ẩn chứa trong từng bước vũ Nếu các điệuxòe vòng, hấp dẫn bởi sự sôi nổi, mạnh mẽ, lôi cuốn mọi đối tượng tham gia, khôngcần luyện tập, thì các bài xòe điệu lại làm say lòng người bởi sự tinh tế, thướt tha,uyển chuyển
Điều thú vị là khi xoè, các nữ vũ công bao giờ cũng dùng khăn piêu làm đạo
cụ, khi vắt trên vai, khi nâng trên tay, khi tung lên như ánh cầu vồng làm tăng độduyên dáng và truyền cảm của các điệu xoè
Xòe đã đóng góp vai trò quan trọng vào kho tàng múa dân gian cổ truyền
Trang 12Xòe vòng là hình thức múa dân gian phản ánh cuộc sống lao động, thể hiệngiấc mơ của người dân về cuộc sống thanh bình, ước muốn ấm no hạnh phúc Saunhững ngày lao động vất vả của đồng bào dân tộc vùng cao, đêm đêm dưới ánh trăng,bên đống lửa bập bùng tiếng trống, chiêng vang lên như mời gọi bạn xòe đến quâyquần cùng nắm tay lung linh trong đêm hội xòe Múa xòe giúp con người quên đinhững mệt nhọc của cuộc sống thường nhật, để rồi sau hội xòe, trở lại với cuộc sốngđời thường, con người thấy yêu lao động, yêu cuộc sống hơn.
Từ trước tới nay, xòe vòng luôn giữ một vai trò quan trọng trong đời sống vănhóa và đã trở thành món ăn tinh thần không thể thiếu của người Thái: ở nơi đâu,trong bất kỳ không gian, hoàn cảnh nào ta cũng dễ dàng bắt gặp người dân đang xòe:
trong không gian linh thiêng của của lễ “Then Kin Pang”, xên bản, xên mường; trong
không vui vẻ ấm của tết đến xuân về; trong niềm vui, đoàn kết của gia chủ trong lễmừng lên nhà mới…
Xòe còn là nơi con người gửi gắm tình yêu của đồng bào dân tộc Khi tham giavòng xòe trai gái được gần nhau, được lựa chọn bạn xòe, là nơi để thể hiện tình cảmriêng tư
Vòng xòe gắn kết tình cảm con người với nhau
Hiện nay, trong xu thế hội nhập của đất nước có sự giao thoa, ảnh hưởng củavăn hóa nước ngoài nên Nghệ thuật Xòe truyền thống của dân tộc Thái đang có nguy
cơ bị mai một
Bên cạnh những điệu xòe truyền thống diễn ra trong sinh hoạt cộng đồng đãxuất hiện và đan xen những điệu nhảy và âm nhạc hiện đại, ít nhiều đã phá vỡ tínhnguyên bản của Nghệ thuật Xòe truyền thống Cùng với nó là sự biến đổi về âm nhạc,nhiều nơi đã thay thế nhạc truyền thống bằng âm nhạc hiện đại
Các biện pháp bảo tồn
Tuyên truyền cho người dân thấy được ý thức và trách nhiệm của mình trongviệc giữ gìn bản sắc văn hóa của mình
Chính sách của Đảng và Nhà nước như:
Đưa nhiều đội múa xòe thôn bản tham gia các hội diễn, hội thi, qua đó giúpngười dân tự nhận thức được giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc mình
Trang 13Cử cán bộ trung tâm xuống các bản "ba cùng" với dân khôi phục xòe vòng và
các điệu múa xòe cổ
Cần phải đề xuất các trường nghệ thuật Tây Bắc cần có chuyên ngành đào tạocán bộ làm công tác phong trào văn hóa cơ sở
Câu 5: Tính dân gian, bác học, ngẫu hứng trong ĐCTT?
ĐCTT mang đậm giá trị văn hóa đặc trưng của người dân Nam Bộ
ĐCTT là loại hình nghệ thuật dân gian độc đáo được sáng tạo dựa trên dòngnhạc lễ, nhã nhạc cung đình Huế và những giai điệu ngọt ngào, sâu lắng của dân camiền Trung, miền Nam Đây là loại hình nghệ thuật kết hợp giữa tiếng đờn, lời ca vàđiệu diễn, vừa phản ánh tinh hoa văn hóa ngàn năm văn hiến của dân tộc ta, vừamang những nét đặc sắc của người dân phương Nam cần cù, chân chất, phóngkhoáng, nghĩa hiệp, can trường và rất đỗi nhân văn
- ĐCTT là nghệ thuật duy nhất không phụ thuộc vào không gian văn hóa, hoặccác không gian trình diễn theo mùa vụ, cứ hứng lên thì chơi, gặp nhau thì chơi và hội
hè, ma chay, cưới hỏi cũng đều chơi Đó là một lối hòa đàn trác tuyệt mà ở đấy tínhngẫu hứng được đặt lên trên hết Tính ngẫu hứng ấy, thú vị ở chỗ mỗi lần đánh mộtbản đàn thì hầu như đó là những cuộc đối thoại bằng âm thanh
Có lẽ đây là một trong những nghệ thuật ngẫu hứng gần như duy nhất ở nước
ta Chính cách thể hiện tự nhiên, bình dị và hết sức ngẫu hứng tạo thành cốt cáchriêng có của loại hình nghệ thuật này Mất tính ngẫu hứng sẽ làm cho ĐCTT trở nênnhạt nhẽo
Theo GS.TS Trần Văn Khê, người ta nói chơi ĐCTT chứ không nói biểu diễnĐCTT Nó là một nghệ thuật tức hứng, chơi không có tính trước, không ai nói trướcvới ai, khi những người có cùng sở thích ngồi lại với nhau cùng chơi, cùng tức hứngtại chỗ thì họ bắt đầu thả hồn, hòa nhịp vào tiếng đàn, lời ca đầy phấn khích Họkhông câu nệ trang phục, lễ nghi, có gì dùng nấy Thế mới là ĐCTT!
Như vậy, tính ngẫu hứng, tự nhiên chính là đặc trưng nguyên gốc làm nên giátrị độc đáo của nghệ thuật ĐCTT được hầu hết các nhà nghiên cứu, các soạn giả,nghệ sĩ nổi tiếng thừa nhận
Trang 14Nhạc Tài tử cũng là một nghệ thuật âm nhạc tinh hoa nhất trong nền âm nhạc
cổ truyền dân tộc Việt Nam
Do có nguồn gốc từ nhã nhạc cung đình Huế, cho nên ngay từ ban đầu nó đãmang tính bác học: Làn điệu chính thống, ca từ chọn lọc mang nhiều ý nghĩa, người
ca diễn phải có kinh nghiệm, kỹ năng
Hơn nữa ĐCTT cũng là loại hình âm nhạc dựa trên nền tảng “Thang âm ngũcung” (gồm 5 âm chính: Hò, xự, xang, xê, cống và một số âm phụ) nên mang tính báchọc ở: nhạc khí, bài bản, âm thanh, phong cách chơi biến hóa theo quy luật âm -dương, ngũ hành, bát quái
Nhưng qua sự sàng lọc và sáng tạo của người Nam Bộ, ĐCTT càng lúc càngtrở nên đơn giản và thân thiện, nhất là từ khi có sự hiện diện của dân ca, ĐCTT càngtrở nên gần gũi với người lao động, dễ ca dễ diễn hơn Bởi lẽ đó mới nói ĐCTT vừabác học, vừa bình dân
Ngoài ra, Theo giáo sư Trần Văn Khê thì nhạc Tài tử mang tính “tâm tấu”,ngẫu hứng nên phong cách chơi rất bình dân mà tao nhã Chơi nhạc khi nhàn rỗi, chơi
để tìm bạn tri âm, không nề hà tiền bạc, không nhất thiết có tính sân khấu Hình thứcsinh hoạt của ĐCTT rất bình dân, thường chỉ là một không gian sống thường nhậtnhư trên ghe thuyền, dưới bến nhà, trong vườn cây nương rẫy, dưới đêm trăng thanhgió mát, sông nước mênh mang, với vài ba cái ghế đẩu hay manh bao, chiếc chiếu.Nhạc cụ chỉ là vài cây đờn: tranh, kìm, cò, độc huyền, gáo, tỳ bà, tam, tiêu, sáo, songlang
Vì vậy mà tuy ra đời muộn so với một số thể loại âm nhạc cổ truyền khác, songsức sống, sự lan tỏa và tầm ảnh hưởng của nghệ thuật ĐCTT đối với công chúng hếtsức mạnh mẽ, cả trong nam, ngoài bắc, và cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài
CÂU 6: Yếu tố tín ngưỡng dân gian bản địa trong Then?
Các yếu tố tín ngưỡng dân gian bản địa
Tín ngưỡng dân gian bản địa là những yếu tố cơ bản, cốt lõi trong Then, baogồm: vật linh giáo, tín ngưỡng phồn thực, thờ Mẫu, thờ cúng tổ tiên…
a.Vật linh giáo
Trang 15Ngoài các dụng cụ hành nghề mang đặc trưng nghề nghiệp ra, điểm khác biệtlớn nhất để phân biệt phương thức hành lễ của các thầy Then với các dạng thầy cúngkhác (Tào, Mo…) chính là các biểu tượng thờ cúng của họ Ở cả Then và Pụt đều cóhai biểu tượng thờ cúng đáng chú ý là quả trứng và chim én Đây là hai vật có mặthầu hết trong các nghi lễ của các thầy mà qua đó ta thấy được quan niệm vật linh giáotrong tín ngưỡng sơ khai bản địa người Tày.
Về biểu tượng quả trứng: Trong quan niệm của người tày, nguồn gốc của muônloài đều được bắt đầu từ quả trứng Vì vậy, quả trứng được coi là tiền thân của conngười, là tượng trưng cho sự trong trắng, thanh cao, lương thiện bởi nó là cội nguồnchứa đựng linh hồn và phần lõi của bản thể con người Vì thế mà nó có ý nghĩa đặcbiệt đối với những người hành nghề Then, Pụt Trong các hình thức cúng bái nóichung của người tày thì chỉ có các nghi lễ của Then, Pụt mới dùng quả trứng Điềunày cho thấy dấu ấn bản địa của tục dùng trứng làm vật thờ cúng trong Then, Pụt củangười Tày
Về biểu tượng chim én: trong quan niệm của người Tày, én là một con vậtthiêng, tượng trưng cho khát vọng về tình yêu và hạnh phúc Hình tượng chim éntrong Then có ý nghĩa:
+Chim én là sứ giả thay mặt thầy then truyền tin lên thiên giới
+sứ mệnh cao cả của én được ví với công việc có ý nghĩa thiêng liêng của thầythen là cứu nhân độ thế mang lại niềm vui và hạnh phúc cho muôn nhà
Như vậy, quả trứng là biểu tượng đặc trưng cho công cụ hành nghề của then thìchim én lại là biểu tượng nghề nghiệp của then, về mặt nào đó nó tượng trưng chochính bản than thầy then
Có thấy rằng, tín ngưỡng dân gian đi vào thế giới tâm linh của Then, Quả trứng
và chim én là 2 biểu tượng mang đậm yếu tố bản địa đặc trưng cho hình thức tínngưỡng này
b.Tín ngưỡng phồn thực
Cũng giống như người Kinh, người Tày chịu ảnh hưởng sâu sắc của tư duynông nghiệp lúa nước với đặc trưng là tín ngưỡng phồn thực, chủ yếu là sự sinh sôinảy nở
Trang 16Đặc biệt, trong phép hành nghề của dòng Then Quảng Uyên có sự tôn thờ cơthể người phụ nữ, cụ thể là phép “tưởng” (dồn sự tập trung) để tưởng tượng về các bộphận kín của cơ thể người vợ trong quá trình hành lễ, kể cả hoạt động giao phối Biểuhiện của việc thờ sinh thực khí được thể hiện qua cách hiểu về 3 bát hương trongmâm cúng của họ: hai bát hương (gạo) ở hai bên chính là hai bầu vú của bà vợ, làmnhiệm vụ giám hương ở nhà, bát hương chính giữa là quả tim Các thầy cho biết, đây
là một bí pháp trong nghề, các vị tiền bối truyền lại, hậu thế cứ thế làm theo chứkhông biết vì sao
Tín ngưỡng phồn thực được thể hiện trong then cấp sắc Quảng Uyên qua cáctrò diễn đối thoại giữa thân then và các nhân vật then gặp trên đường đi, chủ đề xoayquanh chuyện quan hệ tình dục nam nữ
Như vậy, trong đạo của những người làm then, tín ngưỡng phồn thực cũng đãgóp mặt, thể hiện 1 cách dân dã ước nguyện về sự thịnh vượng trong nghề nghiệp củahọ
c.Tín ngưỡng thờ Mẫu
Tuy không phát triển thành một hệ thống thờ cúng có quy mô, bề thế như ởngười Kinh nhưng việc thờ Mẫu cũng có một vị trí quan trọng trong đời sống tâmlinh của người Tày
Có hai hình ảnh người mẹ chi phối đời sống tâm linh của người Tày Trước hếtphải kể đến mẹ Pụt Luông (Mẹ Phật Lớn), được coi là Mẹ Cả của mường Trời vớilòng từ bi, khoan dung, độ lượng, luôn chăm lo đến những đứa con ở trần gian Thứhai là Mẻ Bióc, Mẻ Va (tức Mẹ Hoa) là người Mẹ chủ về trông coi sự sinh sản vànuôi dưỡng trẻ nhỏ
Là đối tượng quan trọng trong các nghi thức thờ cúng của người Tày, nùng nênMỗi gia đình người Tày, nùng đều có bát hương thờ Mẹ Hoa được đặt riêng hoặcchung với bàn thờ tổ tiên
Việc thờ Mẫu nói chung cũng có ảnh hưởng sâu sắc đến tín ngưỡng của Then,Pụt Cả mẹ Pụt Luông và Mẹ Hoa đều là những đối tượng thờ cúng chính trong tínngưỡng Then, Pụt Trong quan niệm của họ thì Pụt Luông chính là người khai sinh ranghề hát Then, hát Pụt được đồng nhất với Mẹ Quan Âm
Trang 17Thờ cúng Mẹ Hoa là một trong những nội dung cơ bản trong các nghi lễ hànhnghề của các thầyThen Hình tượng Mẹ Hoa khi vào trong Then đã được sinh độnghóa dưới nhiều dáng vẻ khác nhau và trở nên gần gũi với trí tưởng tượng dân gian.
Như vậy, tín ngưỡng thờ mẹ mà khởi nguyên là những ước nguyện về cuộcsống đủ đầy, hạnh phúc của dân gian khi vào trong Then đã được hoàn thiện hơn vềnội dung bài bản cũng như các nghi lễ cúng tế
Nói tóm lại, với ý nghĩa là 1 tín ngưỡng dân gian bản địa, việc thờ Mẫu nóichung và thờ Mẹ Hoa nói riêng trong Then đã góp phần quan trọng làm nên diện mạothờ Mẫu trong tín ngưỡng của người Tày
d.tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên (TCTT) và thần làng bản:
TCTT là tín ngưỡng phổ biến của người Tày Trong gia đình người Tày bànthờ tổ tiên được coi là nơi linh thiêng tôn kính nhất
Ngoài việc TCTT bao giờ cũng đi kèm việc cúng các vị thần linh khác nhưthần bếp thổ công hoặc Mẹ Hoa
Mỗi khi những công việc lớn hơạc tang ma hay làm các lễ nối số, cầu an, chữabệnh, cúng mẹ Hoa, người ta phải nhờ đên sự trợ giúp của các thầy Then, pụt, mo,tào họ có nhiệm vụ giao tiếp với thần linh giúp gia chủ thực hiện những ước nguyệncủa mình
Với ý nghĩa đó, việc TCTT cũng là bộ phận quan trọng trong thờ cúng củaThen Điểm khác biệt giữa những người làm Then với những người bình thường làngoài TCTT và các vị thần gia đình khác họ còn có bát hương hoặc bàn thờ Thenriêng để thờ nghề Mỗi thầy Then khi bước vào nghề đều phải lập bàn thờ then tại giađình
Hệ thống thờ cúng nói chung trong các gia đình người làm then gồm 2 bộ phậnnhư sau: hệ thống thờ cúng gia đình của then, hệ thống thờ cúng nghề then Tuynhiên, khó mà tách bạch việc TCTT và thờ tổ nghề ở trong Then
Các phép tắc liên quan đến việc TCTT được thầy then tuân thủ 1 cách nghiêmtúc và bài bản trong khi đi hành nghề tại nhà các gia chủ
Ngoài ra, cách ứng xử của thầy then với các vị thổ công của bản mình và thổcông của bản gia chủ cũng được thực hiện tương tự như đối với việc TCTT Trong
Trang 18quan niệm của Then, thì thổ công là vị thần địa phương, làm bất kì việc gì cũng phảixin phép hoặc xin thổ công trợ giúp Hay nói cách khác, xuất phát từ tín ngưỡng dângian bản địa, Then, Pụt nói chung cũng phải tuân thủ một cách nghiêm túc việc thờcúng thổ công – những vị thần cai quản bản làng với tinh thần “đất có thổ công, sông
có hà Bá”
Ngoài tín ngưỡng dân gian bản địa, trong Then còn có một bộ phận các tínngưỡng du nhập thuộc hệ thống Tam giáo mà nổi trội nhất là Đạo giáo Đạo giáo vàotrong Then quan hai nguồn: từ tín ngưỡng dân gian nam Trung Quốc và từ tínngưỡng dân gian của người Kinh ở bắc Việt Nam Sự giao thoa tín ngưỡng của hainguồn này đã góp phần hình thành ở người Tày một lớp người hành nghề cúng bái cótên gọi Then, Pụt mà xét về bản chất là một dạng thầy cúng có nhiều điểm tươngđồng với thầy Phù Thủy và các ông bà Đồng người Kinh
Câu 7: Gía trị văn hóa tiêu biểu trong Then?
Trả lời
Then là một hình thức sinh hoạt văn hoá tín ngưỡng lâu đời của người Tàymiền núi phía bắc Việt Nam Việc nhìn nhận và đánh giá vị trí của Then trong đờisống tinh thần của người Tày là một việc làm cần thiết đóng góp cho việc tìm hiểuđời sống tôn giáo tín ngưỡng của các dân tôc thiểu số nói chung và đồng bào Tày nóiriêng Then có rất nhiều giá trị đối với cuộc sống của con người và đạc biệt là đối vớingười Tày
* Then phản ánh thế giới tâm linh của người Tày.
Thế giới tâm linh của người Tày là thế giới đa thần, qua đó phản ánh sự giaolưu, hội nhập giữa yếu tố tôn giáo tín ngưỡng bản địa với các tín ngưỡng du nhậpthuộc về Tam giáo
Trước hết, qua nhãn quan của những người làm nghề Then thế giới ba tầngđược hiện lên thật rành mạch với cõi trời, cõi đất và cõi nhân gian mà với tư cách làngười liên hệ với thần linh, người làm Then đi được 1 cách dễ dàng từ cõi này sangcõi khác
Ngoài ra, Then còn là sự cụ thể hóa quan niệm vật linh giáo trong tín ngưỡngdân gian của cư dân bản địa của người Tày Từ niềm tin dân gian, quả trứng và chim