BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠOTRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH NGUYỄN THỊ NINH TUYỂN CHỌN - XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG HỆ THỐNG BÀI TẬP KIỂM TRA - ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP CỦA HỌC SINH THEO CHUẨN KIẾN THỨC, KĨ NĂNG
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
NGUYỄN THỊ NINH
TUYỂN CHỌN - XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG HỆ THỐNG BÀI TẬP KIỂM TRA - ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP CỦA HỌC SINH THEO CHUẨN KIẾN THỨC, KĨ NĂNG
(Chủ đề: Kim loại kiềm - Kim loại kiềm thổ - Nhôm)
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Trang 2
VINH - 2014
Trang 3BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
NGUYỄN THỊ NINH
TUYỂN CHỌN - XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG HỆ THỐNG BÀI TẬP KIỂM TRA - ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP CỦA HỌC SINH THEO CHUẨN KIẾN THỨC, KĨ NĂNG
(Chủ đề: Kim loại kiềm - Kim loại kiềm thổ - Nhôm)
Chuyên ngành: Lí luận và Phương pháp dạy học bộ môn Hóa học
Mã số: 60.14.01.11
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học
PGS TS NGUYỄN XUÂN TRƯỜNG
Trang 4VINH - 2014
Trang 5LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến:
- Thầy giáo PGS TS Nguyễn Xuân Trường - Giảng viên khoa Hóa trường
Đại học Sư phạm Hà Nội đã giao đề tài, tận tình hướng dẫn và tạo mọi điều kiệnthuận lợi nhất cho tôi nghiên cứu và hoàn thành luận văn này
- Thầy giáo PGS TS Cao Cự Giác và PGS TS Phan Thị Hồng Tuyết đã
dành nhiều thời gian đọc và viết nhận xét cho luận văn
- Phòng Đào tạo Sau đại học, Ban chủ nhiệm khoa Hóa học cùng các thầygiáo, cô giáo thuộc Bộ môn Lí luận và phương pháp dạy học hóa học khoa Hóa họctrường Đại học Vinh đã giúp đỡ, tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất cho tôi hoàn thànhluận văn này
Tôi cũng xin cảm ơn tất cả những người thân trong gia đình, Ban giám hiệuTrường THPT Thái Lão, bạn bè, đồng nghiệp đã động viên, giúp đỡ tôi trong suốtquá trình học tập và thực hiện luận văn này
Tp Vinh, tháng 10 năm 2014
Nguyễn Thị Ninh
Trang 6MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 3
4 Nhiệm vụ của đề tài 3
5 Phương pháp nghiên cứu 3
6 Phạm vi nghiên cứu 3
7 Giả thuyết khoa học 4
8 Đóng góp của đề tài 4
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ KIỂM TRA -ĐÁNH GIÁ 5
1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu 5
1.1.1 Một số nghiên cứu trên thế giới 5
1.1.2 Một số nghiên cứu ở Việt Nam 6
1.2 Kiểm tra - đánh giá kết quả học tập của học sinh 6
1.2.1 Một số khái niệm cơ bản 6
1.2.2 Vai trò của kiểm tra - đánh giá kết quả học tập của học sinh trong quá trình dạy học 9
1.2.3 Phân loại đánh giá kết quả học tập của học sinh 10
1.2.4 Công cụ kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của HS 12
1.2.5 Phân tích câu hỏi và đề thi trắc nghiệm khách quan 15
1.3 Kiểm tra- đánh giá kết quả học tập môn Hóa học của học sinh theo chuẩn kiến thức, kỹ năng 20
1.3.1 Chuẩn kiến thức, kỹ năng môn Hóa học Trung học phổ thông 20
1.3.2 Phân loại chuẩn kiến thức, kĩ năng theo thang bậc nhận thức của Bloom 22
1.3.3 Yêu cầu đổi mới kiểm tra- đánh giá kết quả học tập môn Hóa học bám sát chuẩn kiến thức, kỹ năng 26
1.3.4 Quy trình kiểm tra - đánh giá kết quả học tập theo chuẩn kiến thức, kỹ năng 28
1.4 Tuyển chọn - xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập hóa học trong kiểm tra - đánh giá kết quả học tập của học sinh 28
1.4.1 Khái niệm về bài tập 28
1.4.2 Tác dụng của bài tập hóa học 29
Trang 71.4.3 Phân loại bài tập hóa học 29
1.4.4 Những yêu cầu cơ bản của việc tuyển chọn - xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập dùng trong kiểm tra - đánh giá kết quả học tập của học sinh theo chuẩn kiến thức, kĩ năng 31
1.5 Thực trạng kiểm tra - đánh giá kết quả học tập môn Hóa học của học sinh THPT 33
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 36
CHƯƠNG 2 HỆ THỐNG BÀI TẬP KIỂM TRA - ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP MÔN HÓA HỌC THEO CHUẨN KIẾN THỨC KĨ NĂNG (THỂ HIỆN QUA CHỦ ĐỀ: KIM LOẠI KIỀM - KIM LOẠI KIỀM THỔ - NHÔM) 37
2.1 Phân tích nội dung kiến thức chủ đề Kim loại kiềm - Kim loại kiềm thổ - Nhôm 37
2.1.1 Chuẩn kiến thức, kĩ năng 37
2.1.2 Xác định những thao tác, hoạt động cần kiểm tra - đánh giá theo chuẩn kiến thức, kĩ năng 39
2.1.3 Xác định các dạng bài tập cơ bản theo chuẩn kiến thức, kĩ năng và một số sai lầm thường gặp khi giải bài tập 48
2.2 Biên soạn bộ câu hỏi theo chuẩn kiến thức, kỹ năng để kiểm tra - đánh giá kết quả học tập chủ đề Kim loại kiềm - Kim loại kiềm thổ - Nhôm 55
2.2.1 Xác định bảng trọng số của bộ câu hỏi 55
2.2.2 Xây dựng bộ câu hỏi trắc nghiệm khách quan theo chuẩn kiến thức, kĩ năng (Chủ đề: Kim loại kiềm - Kim loại kiềm thổ - Nhôm) .56
2.2.3 Xây dựng bộ câu hỏi tự luận theo chuẩn kiến thức, kĩ năng (Chủ đề: Kim loại kiềm - Kim loại kiềm thổ - Nhôm) 74
2.3 Thiết kế ma trận và biên soạn đề kiểm tra định kỳ KT- ĐG kết quả học tập của học sinh, chủ đề Kim loại kiềm - Kim loại kiềm thổ - Nhôm theo chuẩn kiến thức, kĩ năng 79
2.3.1 Thiết kế ma trận kiểm tra 79
2.3.2 Biên soạn đề kiểm tra chủ đề Kim loại kiềm Kim loại kiềm thổ -Nhôm 87
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 89
CHƯƠNG 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 90
3.1 Mục đích và nhiệm vụ thực nghiệm sư phạm 90
3.1.1 Mục đích 90
Trang 83.1.2 Nhiệm vụ 90
Trang 93.2 Thời gian, vị trí và đối tượng thực nghiệm 90
3.3 Phương pháp thực nghiệm sư phạm 90
3.3.1 Phương pháp điều tra 90
3.3.2 Phương pháp quan sát 90
3.3.3 Phương pháp thống kê toán học 91
3.3.4 Xây dựng phương thức và tiêu chí đánh giá 91
3.4 Nội dung thực nghiệm sư phạm 92
3.4.1 Nội dung 92
3.4.2 Chọn mẫu TNSP 93
3.5 Kết quả thực nghiệm 94
3.5.1 Về định tính 94
3.5.2 Về định lượng 94
3.6 Kết quả thăm dò giáo viên và học sinh về nội dung và phương thức kiểm tra - đánh giá kết quả học tập theo chuẩn kiến thức kĩ năng 100
3.6.1 Đối với giáo viên 100
3.6.2 Đối với học sinh 102
TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 102
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 104
I Những kết quả cụ thể của luận văn 104
II Kết luận 104
III Một số kiến nghị 105
TÀI LIỆU THAM KHẢO 106
PHỤ LỤC
Trang 10DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
CTCT: Công thức cấu tạo
Trang 11TNSP 93 Bảng 3.2 Kết quả thực nghiệm ở nhóm TN và nhóm ĐC 94 Bảng 3.3 Bảng phân phối tần suất và tần số luỹ tích hội tụ lùi của lớp
TN và lớp ĐC của trường THPT Lê Hồng Phong 97 Bảng 3.4 Bảng phân phối tần suất và tần số luỹ tích hội tụ lùi của lớp
ĐC và lớp TN của trường THPT Phạm Hồng Thái 97 Bảng 3.5 Phân loại kết quả KT của nhóm TN theo chuẩn KT-KN 99 Bảng 3.5 Kết quả thăm dò GV về nội dung và phương thức KT-ĐG
theo chuẩn KT-KN 100
Bảng 3.6 Kết quả thăm dò ý kiến của học sinh về nội dung và phương
thức KT-ĐG 102
Trang 12"Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là sự nghiệp của Đảng, Nhànước và của toàn dân Đầu tư cho giáo dục là đầu tư phát triển, được ưu tiên đitrước trong các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội; Đổi mới căn bản,toàn diện giáo dục và đào tạo là đổi mới những vấn đề lớn, cốt lõi, cấp thiết, từquan điểm, tư tưởng chỉ đạo đến mục tiêu, nội dung, phương pháp, cơ chế, chínhsách, điều kiện bảo đảm thực hiện; đổi mới từ sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lýcủa Nhà nước đến hoạt động quản trị của các cơ sở giáo dục - đào tạo và việctham gia của gia đình, cộng đồng, xã hội và bản thân người học; đổi mới ở tất cảcác bậc học, ngành học ".
Để thực hiện tốt các mục tiêu giáo dục mà Đảng đã đề ra, ngoài việc hoànthiện một khối lượng tri thức khoa học lớn, cần phải đổi mới về nội dung và đổimới phương pháp dạy học Vấn đề đổi mới phương pháp dạy học nói chung vàphương pháp dạy học Hóa học nói riêng là một trong những mặt mang tính chiếnlược, cấp thiết trước những yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo.Trong việc đổi mới phương pháp dạy học thì không thể tách rời đổi mới vấn đềkiểm tra - đánh giá Bởi vì mục tiêu, nội dung, phương pháp dạy học và kiểm tra -đánh giá là những thành tố quan trọng của quá trình dạy học ở trường phổ thông,chúng có quan hệ mật thiết và biện chứng với nhau Cải tiến nội dung và phươngpháp thi cử nhằm đánh giá đúng trình độ tiếp thu tri thức, khả năng học tập, khắcphục những mặt yếu kém và tiêu cực của giáo dục Kiểm tra- đánh giá có vai trò vôcùng quan trọng, đó là một biện pháp để nâng cao chất lượng dạy học bộ môn, đó làkhâu mở đầu và cũng là khâu kết thúc của quá trình dạy học này, để mở ra một quátrình dạy học khác cao hơn, đồng thời nó cũng có tác động điều tiết trở lại quá trìnhđào tạo Dạy học là một quá trình khép kín, để điều chỉnh quá trình này một cách cóhiệu quả cả người dạy và người học đều phải tiếp thu được những thông tin ngược
từ việc kiểm tra, đánh giá tri thức Việc kiểm tra- đánh giá có nhiệm vụ làm sáng rõ
Trang 13tình hình lĩnh hội kiến thức của học sinh, sự hình thành kĩ năng, góp phần phát huytính tích cực, chủ động, độc lập, tự giác trong mỗi học sinh Đồng thời thông quakiểm tra - đánh giá giáo viên có thể rút kinh nghiệm quá trình dạy học của mình để
từ đó có những điều chỉnh biện pháp sư phạm hợp lý hơn
Tuy nhiên, từ thực tiễn công tác kiểm tra - đánh giá trong dạy học hóa họcnói chung và ở trường Trung học phổ thông nói riêng còn có những hạn chế như:
- Nhiều đề thi chưa chuẩn, chưa ra đề thi theo đúng tinh thần của đổi mới vềkiểm tra- đánh giá, chưa bám sát vào chuẩn kiến thức kĩ năng
- Chưa tạo được sự công bằng cho học sinh do giáo viên dạy đối tượng họcsinh khác nhau nên yêu cầu kiểm tra đánh giá ở mỗi đối tượng học sinh khác nhau
- Việc kiểm tra- đánh giá còn thiếu tính khách quan, thiếu tính năng động
do việc biên soạn đề thi còn mang tính chủ quan, chưa thiết lập ma trận đề kiểmtra
- Nhiều giáo viên, nhà trường chưa xây dựng ngân hàng đề thi nên số lượngcâu hỏi kiểm tra rất hạn chế và chủ yếu dựa vào nội dung của các sách bài tập, sáchtham khảo, các đề thi tốt nghiệp Trung học phổ thông hay các đề thi vào các trườngđại học của các năm trước
- Giáo viên khi thiết kế ma trận đề kiểm tra chưa căn cứ vào yêu cầu củakiểm tra - đánh giá, chưa căn cứ vào chuẩn kiến thức kĩ năng của chương trình vàthực tế học tập của học sinh
Tình trạng trên đang là một trong những rào cản chính trong việc đánh giásai lệch kết quả học tập của học sinh, làm hạn chế việc đổi mới phương pháp dạyhọc theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh, làm thuichột hứng thú và động cơ học tập đúng đắn của các em
Với mong muốn xây dựng cho mình nguồn tư liệu trong việc kiểm tra - đánhgiá học sinh được chính xác, phù hợp với yêu cầu của đổi mới dạy học Mặt khác, cũnggiúp cho một số giáo viên có thêm tài liệu phục vụ cho quá trình dạy học chúng tôichọn đề tài:
“Tuyển chọn - xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập kiểm tra - đánh giá kết quả học tập của học sinh theo chuẩn kiến thức kĩ năng (Chủ đề: Kim loại kiềm - Kim loại kiềm thổ - Nhôm)”.
Trang 14kiềm Thiết lập ma trận đề kiểm tra và xây dựng đề thi từ hệ thống bài tập chủ đề:Kim loại kiềm - Kim loại kiềm thổ - Nhôm để dùng trong kiểm tra - đánh giá kếtquả học tập của học sinh.
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu
Quá trình kiểm tra - đánh giá kết quả học tập của học sinh ở các trường THPT
3.2 Đối tượng nghiên cứu
- Tuyển chọn - xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập;
- Thiết kế ma trận và biên soạn đề kiểm tra chủ đề: Kim loại kiềm - Kim loạikiềm thổ - Nhôm
4 Nhiệm vụ của đề tài
- Nghiên cứu tổng quan các vấn đề lí luận và thực tiễn về kiểm tra - đánh giá
- Nghiên cứu nội dung kiến thức trong chương trình hóa học vô cơ lớp Chủ đề: Kim loại kiềm - Kim loại kiềm thổ - Nhôm
12 Tuyển chọn 12 xây dựng và sử dụng bài tập theo từng chủ đề dùng trongKT- ĐG
- Thiết kế ma trận và biên soạn đề kiểm tra phần Kim loại kiềm - Kim loạikiềm thổ - Nhôm
- Thực nghiệm sư phạm đánh giá tính khả thi và hiệu quả của việc sử dụng
hệ thống bài tập và đề kiểm tra đã biên soạn
5 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Các phương pháp nghiên cứu lí luận
- Đọc và nghiên cứu tài liệu có liên quan đến đề tài
- Phân tích và tổng hợp tài liệu
5.2 Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Tìm hiểu thực tế về KT-ĐG ở một số trường THPT trong tỉnh
- Trao đổi với một số GV Hóa học về nội dung và phương thức KT-ĐG đểhọc hỏi kinh nghiệm
- Sưu tầm các đề thi và các tài liệu tham khảo khác để tuyển chọn và xâydựng hệ thống bài tập
- Thực nghiệm sư phạm nhằm đánh giá sự phù hợp của hệ thống bài tập và
đề kiểm tra đã xây dựng từ đó đúc kết kinh nghiệm cho đề tài
Trang 157 Giả thuyết khoa học
Nếu giáo viên xây dựng được hệ thống bài tập hóa học có chất lượng tốt,bám sát chuẩn kiến thức kĩ năng, phù hợp với trình độ học sinh, sử dụng linh hoạt
và thiết kế đề kiểm tra hợp lí thì sẽ đánh giá đúng chất lượng học tập từ đó tạo độnglực và hứng thú trong quá trình học tập và rèn luyện của học sinh
Trang 16CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ KIỂM TRA - ĐÁNH GIÁ
1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu
1.1.1 Một số nghiên cứu trên thế giới
Khẳng định vai trò, ý nghĩa quan trọng của KT và ĐG năng lực nhận thức
của HS, nhà giáo dục học J.A.Comenxki (1592 - 1670) người Séc đã coi việc
KT-ĐG tri thức HS như một yếu tố góp phần nâng cao hiệu quả quá trình dạy học Đặcbiệt I.B Bazelov đề xuất một hệ thống ĐG tri thức trong trường học và chia hệthống ĐG làm 12 bậc và vận dụng vào thực tiễn dạy học, ông cho rằng có 3 bậc phùhợp với trình độ nhận thức của HS phổ thông: tốt - trung bình - kém Hệ ĐG này ápdụng ở một số nước, trong đó có Nga
Phương pháp ĐG mới bằng TNKQ bên cạnh phương pháp TL truyền thốngthông qua bộ thang đo năng lực nhận thức và quy trình ĐG đã được nhiều nhà khoahọc giáo dục Anh, Mĩ nghiên cứu Tiêu biểu như O.W.Caldwell và S.A.Courtis năm
1845, hay Fisher năm 1864 Năm 1894, Rice - nhà bác học Mĩ đề xuất quy trình ĐGtheo tinh thần đổi mới mở đầu cho việc ĐG, đo lường có hệ thống trong giáo dục
Thế kỷ XX, có nhiều công trình nghiên cứu nhằm làm sáng tỏ chức năng
KT-ĐG tri thức HS đối với việc góp phần phát huy tính tích cực, tự lực, độc lập, hứngthú của HS trong hoạt động học tập; xác định qui trình, hình thức ĐG tri thức thíchhợp với từng loại đối tượng HS, từng môn học, tiêu biểu như V.M.Palonxki với côngtrình "Những vấn đề dạy học của việc đánh giá tri thức; F.I Pêrôvxki với công trình
"Cơ sở lý luận và thực tiễn của kiểm tra tri thức; X.V.Uxôva với "Con đường hoànthiện của việc kiểm tra đánh giá tri thức kĩ năng
Dưới góc độ là phương tiện điều khiển quá trình dạy học, tiêu biểu có
T.A.Ilina "Việc đánh giá là một phương tiện kích thích mạnh mẽ và có một ý nghĩa giáo dục rất lớn trong điều kiện nếu như nó được giáo viên sử dụng đúng đắn"; N.V Savin "Kiểm tra là một phương tiện quan trọng không chỉ để ngăn ngừa việc lãng quên mà còn để nắm được tri thức một cách vững chắc hơn" ông đề xuất hệ thống
gồm 5 bậc: Xuất sắc (điểm 5), Tốt (điểm 4), Trung bình (điểm 3), Xấu (điểm 2), Rấtxấu (điểm 1), từ đó khẳng định KT và ĐG là hai hoạt động khác nhau nhưng có mốiquan hệ chặt chẽ với nhau
Như vậy trong những năm qua những nghiên cứu về KTĐG đã đạt được làrất lớn, góp phần vào việc nâng cao chất lượng giáo dục, trên hết là nâng cao hiệuquả đánh giá kết quả học tập của học sinh Đánh giá mang tính tích cực, nó thúc đẩyphát triển tri thức, tính tự giác, chủ động, sáng tạo ở người học
Trang 171.1.2 Một số nghiên cứu ở Việt Nam
Ở Việt Nam, đã có một số nghiên cứu trong lĩnh vực này như “Đánh giá trong giáo dục; “Vắn tắt về đo lường và đánh giá thành quả học tập trong giáo dục đại học; "Trắc nghiệm và ứng dụng; “Trắc nghiệm và đo lường thành quả học tập" Các tác giả tiếp tục nghiên cứu, đổi mới toàn diện vấn đề KT- ĐG Rút ngắn
khoảng cách về khái niện kiểm tra, đánh giá, đo lường, chuẩn đánh giá… Đi sâuphân tích ưu điểm và hạn chế của việc đổi mới phương pháp kiểm tra bằng TNKQ Ngoài ra còn một số nghiên cứu về qui trình và kĩ thuật xây dựng câu hỏi, xử líthông tin qua kiểm tra để phân tích ưu điểm, nhược điểm của các phương pháp đánh
giá hiện có, tiêu biểu như: “Phương pháp trắc nghiệm trong kiểm tra và đánh giá thành quả học tập"; Đánh giá đo lường trong khoa học xã hội:" quy trình, kĩ thuật, thiết kế, thích nghi, chuẩn hoá công cụ đo"
Cuối thế kỉ XX hoạt động nghiên cứu đổi mới KT-ĐG được chú ý nhiều hơn,các trung tâm ĐG ra đời ở các viện nghiên cứu và một số trường Đại học, Cục khảothí và kiểm định chất lượng giáo dục của Bộ GD & ĐT được thành lập Từ đây, nhiềucông trình cấp bộ, cấp nhà nước được đưa vào áp dụng, tất cả tập trung vào phươngpháp, kĩ thuật đánh giá dùng cho nhiều cấp học, bậc học
Hiện nay, vấn đề KT-ĐG ngoài được nâng tầm lên thành tự KT-ĐG (tức đánhgiá trong), điều này đã được nhiều nhà khoa học quan tâm như tác giả Trần Thị
Tuyết Oanh với "Đánh giá và đo lường kết quả học tập"; Thái Duy Tuyên “Những
vấn đề cơ bản của giáo dục học hiện đại" đã nêu hệ thống các chức năng KT-ĐGbao gồm: chức năng phát hiện, điều chỉnh, chức năng củng cố, phát triển trí tuệ vàchức năng giáo dục Các chức năng này có quan hệ chặt chẽ với nhau và thuộcphương diện sư phạm
1.2 Kiểm tra - đánh giá kết quả học tập của học sinh
1.2.1 Một số khái niệm cơ bản
1.2.1.1 Kiểm tra
Theo Từ điển Tiếng Việt của Hoàng Phê: "Kiểm tra là xem xét tình hình thực
tế để đánh giá, nhận xét" Theo Phạm Hữu Tòng "Kiểm tra là sự theo dõi, tác động của người kiểm tra đối với người học nhằm thu được những thông tin cần thiết để đánh giá''
Một số nhà nghiên cứu khác cho rằng: “Kiểm tra là thuật ngữ chỉ cách thứchoặc hoạt động giáo viên sử dụng để thu thập thông tin về biểu hiện kiến thức, kĩnăng và thái độ học tập của học sinh trong học tập nhằm cung cấp dữ kiện làm cơ sởcho việc đánh giá”; Kiểm tra được hiểu theo nghĩa rộng như là theo dõi quá trìnhhọc tập và cũng có thể được hiểu theo nghĩa hẹp như là công cụ kiểm tra hoặc một
Trang 18bài kiểm tra trong các kỳ thi”; “Việc kiểm tra cung cấp những dữ kiện, những thôngtin làm cơ sở cho việc đánh giá”.
Theo nghiên cứu của Trần Bá Hoành, Nguyễn Công Khanh, Lê Đức Ngọc,Dương Thiệu Tống, KT kết quả học tập của HS thường được chia thành các loại sau:
- KT thường xuyên: Việc KT thường xuyên được thực hiện qua quan sát một
cách có hệ thống hoạt động của lớp học nói chung, của mỗi HS nói riêng, qua cáckhâu ôn tập, củng cố bài cũ, tiếp thu bài mới, vận dụng kiến thức đã học vào thựctiễn KT thường xuyên giúp cho GV kịp thời điều chỉnh cách dạy, HS kịp thời điềuchỉnh cách học, tạo điều kiện vững chắc để quá trình dạy học chuyển dần sangnhững bước mới
- KT định kỳ: Hình thức KT này được thực hiện sau khi học xong một
chương, một phần của chương trình hoặc sau một học kỳ Nó giúp cho GV và HSnhìn lại kết quả dạy học sau những kỳ hạn nhất định, ĐG trình độ HS nắm kiếnthức, kỹ năng, kỹ xảo, củng cố, mở rộng những điều đã học, đặt cơ sở tiếp tục họcsang những phần mới
- KT tổng kết: Hình thức KT này được thực hiện vào cuối mỗi giáo trình,
cuối năm học nhằm ĐG kết quả chung, củng cố mở rộng chương trình môn học,chuẩn bị điều kiện để tiếp tục học chương trình của năm học sau
Trong quá trình dạy học, GV không nên chỉ căn cứ vào kết quả KT tổng kếthoặc KT định kỳ để ĐG kết quả học tập của HS mà phải kết hợp với KT thườngxuyên mới ĐG đúng trình độ của HS Đây là một khó khăn cho một GV phải dạynhiều lớp hoặc dạy lớp quá đông Điều quan trọng là GV phải biết phát hiện nguyênnhân những sai sót, lệch lạc và có biện pháp giúp đỡ kịp thời
Chúng tôi rút ra kết luận: Kiểm tra kết quả học tập của HS là quá trình xác định mục đích, nội dung, lựa chọn phương pháp, tập hợp số liệu, bằng chứng để xác định mức độ đạt được của người học trong quá trình học tập, rèn luyện và phát triển Kiểm tra bao gồm xác định mục tiêu kiểm tra, công cụ kiểm tra và sử dụng kết quả kiểm tra.
1.2.1.2 Đánh giá
Theo Từ điển Tiếng Việt: “Đánh giá được hiểu là nhận định giá trị” Theo
Hoàng Đức Nhuận và Lê Đức Phúc: "Đánh giá trong giáo dục là quá trình thu thập
và lý giải kịp thời, có hệ thống thông tin về hiện trạng, khả năng hay nguyên nhân của chất lượng và hiệu quả giáo dục căn cứ vào mục tiêu dạy học, mục tiêu đào tạo, làm cơ sở cho những chủ trương, biện pháp và hành động giáo dục tiếp theo".
Dưới đây là một số khái niệm thường gặp trong các tài liệu về đánh giá kếtquả học tập của học sinh:
Trang 19- “Đánh giá là quá trình thu thập và xử lí kịp thời, có hệ thống thông tin vềhiện trạng, khả năng hay nguyên nhân của chất lượng và hiệu quả giáo dục căn cứvào mục tiêu giáo dục, làm cơ sở cho những chủ trương, biện pháp và hành độnggiáo dục tiếp theo nhằm phát huy kết quả, sửa chữa thiếu sót”.
- “Đánh giá kết quả học tập của học sinh là quá trình thu thập và xử lí thôngtin về trình độ, khả năng đạt được mục tiêu học tập của HS cùng với tác động vànguyên nhân của tình hình đó, nhằm tạo cơ sở cho những quyết định sư phạm củagiáo viên và nhà trường để HS học tập ngày một tiến bộ hơn”
- “Đánh giá có nghĩa là: Thu thập một tập hợp thông tin đủ, thích hợp, có giátrị và đáng tin cậy; và xem xét mức độ phù hợp giữa tập hợp thông tin này và mộttập hợp tiêu chí phù hợp với các mục tiêu định ra ban đầu hay điều chỉnh trong quátrình thu thập thông tin nhằm ra một quyết định”
- “Đánh giá được hiểu là quá trình hình thành những nhận định, phán đoán
về kết quả công việc, dựa vào sự phân tích những thông tin thu được đối chiếu vớimục tiêu, tiêu chuẩn đã đề ra, nhằm đề xuất những quyết định thích hợp để cải thiệnthực trạng, điều chỉnh, nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác giáo dục”
- “Đánh giá là quá trình thu thập thông tin, chứng cứ về đối tượng đánh giá
và đưa ra những phán xét, nhận định về mức độ đạt được theo các tiêu chí đã đưa ratrong các chuẩn hay kết quả học tập” (mô hình ARC)
- “Đánh giá là quá trình thu thập thông tin, chứng cứ về đối tượng đánh giá
và đưa ra những phán xét, nhận định về mức độ đạt được theo các tiêu chí đã đượcđưa ra trong các tiêu chuẩn hay kết quả học tập Đánh giá có thể là đánh giá địnhlượng dựa vào các con số hoặc định tính dự vào các ý kiến và giá trị”
Đánh giá gồm có 3 khâu chính là: Thu thập thông tin, xử lí thông tin và raquyết định Đánh giá là một quá trình bắt đầu khi chúng ta định ra một mục tiêuphải theo đuổi và kết thúc khi đưa ra quyết định liên quan đến mục tiêu đó, đồngthời cũng lại mở đầu cho một chu trình giáo dục tiếp theo
Đánh giḠthực hiện đồng thời 2 chức năng: vừa là nguồn thông tin phản hồi
về quá trình dạy học, vừa góp phần điều chỉnh hoạt động này
Theo chúng tôi: Đánh giá kết quả học tập của học sinh là một quá trình thu thập các thông tin về kiến thức, kỹ năng, thái độ của học sinh một cách đầy đủ, đúng đắn, chính xác với năng lực của học sinh từ đó so sánh với một tập hợp các tiêu chí thích hợp của mục tiêu đã xác định nhằm đưa ra quyết định theo một mục đích nào đó giúp điều chỉnh quá trình dạy học tốt hơn.
Như vây, thành tích học tập của mỗi HS phải được ĐG đúng, công bằng.Việc ĐG đúng loại trừ được việc tuỳ tiện hạ thấp hoặc nâng cao yêu cầu Việc ĐG
Trang 20sai sẽ không động viên được HS Khi ĐG, GV phải tỏ thái độ thiện chí và tế nhị,động viên từng bước tiến bộ nhỏ, tin tưởng ở những thành tích sắp tới của mỗi HS
1.2.1.3 Đo lường kết quả học tập của học sinh
Đo lường kết quả học tập của HS có 2 khái niệm cơ bản:
- Dụng cụ đo: Trong dạy học, kết quả làm bài KT của mỗi HS được ghi nhận
bằng một số đo Điểm số là những ký hiệu gián tiếp phản ánh trình độ của mỗi HS
về mặt định tính và mặt định lượng Việc đó liên quan đến dụng cụ đo Dụng cụ đo
có ba tính chất cơ bản: Độ giá trị là khả năng của dụng cụ đo cho giá trị thực của đạilượng cần đo; Độ trung thực là khả năng luôn cung cấp cùng một giá trị của cùngmột đại lượng đo; Độ nhạy là khả năng của dụng cụ đó có thể phân biệt được haiđại lượng chỉ khác nhau rất ít
- Lượng giá: Là việc giải thích các thông tin thu được về kiến thức, kỹ năng
của HS, làm sáng tỏ trình độ tương đối của một HS so với thành tích chung của mộttập thể hoặc trình độ của một HS so với yêu cầu của chương trình học tập Lượnggiá theo chuẩn là sự so sánh tương đối với chuẩn trung bình chung của tập thể lớp.Lượng giá theo tiêu chí là sự đối chiếu với những tiêu chí đã đề ra Điểm số là mộtcông cụ tốt cho lượng giá, căn cứ vào điểm số mà thành tích học tập của HS sẽ đượcxếp vào thứ hạng nào trong lớp (lượng giá theo chuẩn) hoặc được phân bố vào mức
độ nào theo tiêu chí chung (lượng giá theo tiêu chí)
1.2.2 Vai trò của kiểm tra - đánh giá kết quả học tập của học sinh trong quá trình dạy học
KT và ĐG là hai khâu trong một quy trình thống nhất nhằm xác định kết quảthực hiện mục tiêu dạy học KT là thu thập thông tin từ riêng lẻ đến hệ thống về kếtquả thực hiện mục tiêu dạy học; ĐG là xác định mức độ đạt được về thực hiện mụctiêu dạy học KT- ĐG kết quả học tập của HS thực chất là xem xét mức độ đạt đượccủa hoạt động học của HS so với mục tiêu đề ra đối với từng môn học, từng lớphọc, cấp học Mục tiêu của mỗi môn học được cụ thể hóa thành các chuẩn kiếnthức, kĩ năng Từ các chuẩn này, khi tiến hành KT-ĐG kết quả học tập môn học cầnphải thiết kế thành những tiêu chí nhằm kiểm tra được đầy đủ về cả định tính vàđịnh lượng kết quả học tập của HS
KT- ĐG kết quả học tập của học sinh có hai chức năng cơ bản sau:
- Chức năng xác định: Xác định mức độ đạt được trong việc thực hiện mục
tiêu dạy học, xác định mức độ thực hiện chuẩn kiến thức, kĩ năng của chương trìnhgiáo dục mà HS đạt được khi kết thúc một giai đoạn học tập (kết thúc một bài,chương, chủ đề, mô đun, lớp học, cấp học) Chức năng xác định đòi hỏi tính chínhxác, khách quan, công bằng
Trang 21- Chức năng điều khiển: Phát hiện những mặt tốt, mặt chưa tốt, khó khăn,
vướng mắc và xác định nguyên nhân Kết quả đánh giá là căn cứ để quyết định giảipháp cải thiện thực trạng, nâng cao chất lượng, hiệu quả dạy học và giáo dục thôngqua việc đổi mới, tối ưu hóa PPDH của GV và hướng dẫn HS biết tự đánh giá để tối
ưu hóa phương pháp học tập
- Đảm bảo yêu cầu phân hóa: Phân loại được chính xác trình độ, mức độ,năng lực nhận thức của HS, cơ sở giáo dục; cần đảm bảo dải phân hóa rộng đủ chophân loại đối tượng
- Đảm bảo hiệu quả: Đánh giá được tất cả các lĩnh vực cần đánh giá HS, cơ
sở giáo dục; thực hiện được đầy đủ các mục tiêu đề ra; tạo động lực đổi mới phươngpháp dạy học, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục
Kiểm tra - đánh giá kết quả học tập của học sinh nhằm mục đích:
- Đối với HS: KT-ĐG kết quả học tập giúp xác định năng lực và trình độ của
HS để phân loại, tuyển chọn và hướng nghiệp cho HS (ĐG đầu vào); xác định kết quảhọc tập của HS theo mục tiêu của chương trình môn học; thúc đẩy, động viên HS cốgắng khắc phục thiếu sót, phát huy năng lực của mình để học tập đạt kết quả hơn; ĐG
sự phát triển nhân cách nói chung của HS theo mục tiêu giáo dục (ĐG đầu ra)
- Đối với GV: KT-ĐG kết quả học tập của HS giúp cung cấp thông tin về các
đặc điểm tâm, sinh lý của HS và trình độ học tập của HS; cung cấp thông tin cụ thể
về tình hình học tập của HS, làm cơ sở cho việc cải tiến nội dung và phương phápdạy học, nhằm nâng cao chất lượng dạy học
- Đối với cán bộ quản lý giáo dục: KT-ĐG kết quả học tập của HS giúp cung
cấp thông tin, làm cơ sở cho việc cải tiến mọi mặt hoạt động của giáo dục từ pháttriển chương trình, biên soạn sách giáo khoa đến đào tạo, bồi dưỡng GV, xây dựng
cơ sở vật chất, quản lý tốt quá trình dạy học
- Đối với cha mẹ HS và cộng đồng: KT-ĐG kết quả học tập của HS giúp cho
họ biết được kết quả giáo dục của từng HS, từng lớp và của cả cơ sở giáo dục
1.2.3 Phân loại đánh giá kết quả học tập của học sinh
- Xét theo mục đích, đánh giá kết quả học tập gồm có 2 loại:
Trang 22+ Đánh giá quá trình: là loại hình ĐG được tiến hành trong quá trình dạy và
học một nội dung nào đó, nhằm thu thập thông tin phản hồi về kết quả học tập của
HS về nội dung đó, dùng làm cơ sở cho việc định hướng hoạt động dạy và học tiếptheo, làm cho những hoạt động này có hiệu quả hơn Việc thu thập và xử lý thông tin
để theo dõi sự tiến bộ và hỗ trợ các bước tiếp theo của việc dạy và học được gọi là
ĐG quá trình Thông qua kết quả ĐG này, GV có thể tự ĐG được kết quả dạy học đểđiều chỉnh nội dung và phương pháp dạy học, hướng dẫn cho HS học tập tốt hơn HScũng thấy được ưu điểm và khuyết điểm của mình để phát huy và khắc phục
+ Đánh giá tổng kết là loại hình ĐG được thực hiện vào cuối mỗi giai đoạn
đào tạo; cung cấp thông tin về kết quả học tập của HS so với mục tiêu giáo dục củamỗi giai đoạn; là cơ sở để phân loại HS nhưng không góp phần nâng cao kết quảhọc tập của HS trong giai đoạn học tập được ĐG Tuy nhiên, nó vẫn có thể gópphần vào việc cung cấp thông tin, làm cơ sở cho việc cải tiến giai đoạn học tập tiếptheo trong tương lai, cho những lớp kế tiếp
- Xét theo nội dung, đánh giá kết quả học tập cũng gồm 2 loại:
+ Đánh giá theo chuẩn: nhằm so sánh kết quả học tập của HS này so với các
HS khác được học cùng một chương trình giáo dục Nó cho phép sắp xếp kết quảhọc tập của HS theo thứ tự và phân loại HS theo thứ tự Thông thường, ĐG theochuẩn được sử dụng trong các kỳ thi HS giỏi, thi tuyển HS vào lớp 10, trườngchuyên, đại học Vì mục đích là sắp xếp theo thứ tự, nên trong ĐG theo chuẩn phải
sử dụng những công cụ ĐG (các đề KT, đề thi) giống nhau Bộ công cụ cần phảiphân biệt được năng lực HS
+ Đánh giá theo tiêu chí: nhằm xác định kết quả học tập của mỗi HS theo
mục tiêu giáo dục ĐG theo tiêu chí chỉ rõ những kiến thức, kỹ năng và thái độ nào
mà HS phải đạt được trong quá trình học tập Đánh giá này không đặt trọng tâm vàoviệc so sánh mức độ kết quả học tập của HS này với HS khác Các tiêu chí là cơ sở
ĐG mức độ thành công trong học tập của HS Loại hình ĐG này thường được sửdụng trong các kỳ KT học kỳ, KT cuối năm học, thi tốt nghiệp
- Xét theo hình thức, đánh giá kết quả học tập gồm có 4 loại:
+ Kiểm tra miệng: KT miệng cung cấp thông tin cho ĐG quá trình được thực
hiện bằng hình thức vấn đáp Mục tiêu của KT miệng là: ngoài việc KT-ĐG kết quảhọc tập thường xuyên của HS, còn thu hút sự chú ý của HS đối với bài học; kíchthích sự tham gia tích cực của HS vào bài giảng của GV; giúp GV thu thập thông tinphản hồi về bài giảng của mình để có những điều chỉnh thích hợp, đây chính là mụctiêu chính của KT miệng và cũng là một trong những mục tiêu ít được GV quan tâmnhất Khi thực hiện KT miệng cần chú ý: Không nhất thiết phải tiến hành KT miệng
Trang 23vào đầu tiết học Nên kết hợp KT miệng với việc dạy bài mới để không những KTđược việc nắm bài học cũ mà còn KT được việc nắm bài học mới để có những điềuchỉnh thích hợp và kịp thời cho nội dung và phương pháp dạy học, làm cho việc dạybài mới, tiết bài tập, tổng kết chương có hiệu quả hơn; Không nên chỉ dừng lại ởmức độ "nhận biết", chỉ yêu cầu HS nhắc lại các kiến thức đã học mà cần yêu cầu
HS "vận dụng" những kiến thức này vào những tình huống mới
- Kiểm tra viết: Là hình thức quan trọng nhất trong việc KT-ĐG kết quả học
tập của HS Nó có thể cung cấp thông tin cho ĐG định hình hoặc ĐG tổng kết, ĐGtheo chuẩn hoặc ĐG theo tiêu chí Bài KT thường được tiến hành vào lúc kết thúcmột hoặc một số vấn đề có liên quan với nhau ở một hoặc một số chương, cuối mỗihọc kỳ, trong các kỳ thi tốt nghiệp cũng như thi tuyển chọn HS giỏi
- Kiểm tra kĩ năng thực hành: Mục tiêu của KT kĩ năng thực hành để ĐG
năng lực vận dụng kiến thức của HS trong việc giải quyết các bài tập thực hành, ĐG
kĩ năng tâm vận của HS (kĩ năng quan sát, kĩ năng thao tác, kĩ năng vận dụng kiếnthức, kĩ năng làm việc độc lập và theo nhóm để hoàn thành sản phẩm) Ngoài cácbài thực hành theo quy định của khung chương trình, GV có thể giao cho HS một sốhoạt động thực hành khác có liên quan đến nội dung của bài học để các em làm tạinhà, ngoài giờ học ở trường với các dụng cụ dễ kiếm, hoặc những dụng cụ màphòng thí nghiệm của trường có thể cho mượn Đối với những bài thực hành có chấtlượng, có tính sáng tạo cao cần được cho điểm ngang với một bài KT cuối chươnghoặc cuối học kỳ Hình thức KT-ĐG kĩ năng thực hành được sử dụng phổ biến ởnước ngoài nhưng ít được chú ý tại Việt Nam
- Tự kiểm tra: Tự KT là quá trình thu thập, phân tích và lí giải thông tin về kết
quả học tập của bản thân, đối chiếu với mục tiêu, nhiệm vụ của bài học, môn học,của lớp, của nhà trường nhằm tạo cơ sở cho những quyết định của bản thân HS, để
họ học tập ngày một tiến bộ hơn Tự KT là một khâu quan trọng đối với việc tự ĐG
cả quá trình học Tự KT đôi khi còn được gọi là tự học, nó có giá trị rất lớn trongviệc giúp HS biết được kết quả học tập của mình để tự điều chỉnh quá trình học tập
và nâng cao chất lượng học tập của bản thân
1.2.4 Công cụ kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của HS
Hình thức ĐG kết quả học tập của HS bằng kiểm tra viết hiện nay chủ yếu sửdụng công cụ là các câu hỏi, đề thi tự luận và trắc nghiệm khách quan
1.2.4.1 Tự luận (TL):
TL là loại hình câu hỏi hoặc bài tập mà HS phải tự viết đầy đủ các câu trả lờihoặc bài giải theo cách riêng của mình Đây là loại hình câu hỏi và bài tập lâu naychúng ta vẫn quen dùng để ra đề KT viết Loại trắc nghiệm này có ưu, nhược điểmnhư sau:
Trang 24- Ưu điểm: Tạo điều kiện để HS bộc lộ khả năng diễn đạt những suy luận của
mình do đó có thể ĐG được hoạt động học của HS; có thể thấy được quá trình tưduy của HS để đi đến đáp án, nhờ đó mà ĐG chính xác hơn về trình độ, năng lựccủa HS
- Nhược điểm: Do HS tự viết câu trả lời và bài giải nên phương án trả lời của
HS cũng rất đa dạng và phong phú Việc ĐG các phương án trả lời cũng như bàigiải này sẽ thiếu tính khách quan vì phụ thuộc nhiều vào chủ quan của người chấm;việc chấm bài khó khăn, mất nhiều thời gian; điểm số có độ tin cậy thấp vì khó xácđịnh được một cách đơn trị các tiêu chí ĐG, cũng như chứa nhiều yếu tố ngẫu nhiên(tâm trạng và sự mệt mỏi của người chấm, thứ tự các bài chấm, chữ viết ) có thểảnh hưởng đến việc cho điểm; Việc sử dụng các phương tiện kỹ thuật hiện đại đểchấm bài cũng như phân tích câu hỏi, đề KT, đặc biệt là khi KT-ĐG một số lớn HSgặp nhiều khó khăn
Những nhược điểm này có thể ảnh hưởng đến những tiêu cực trong KT-ĐGnhư học tủ, học lệch, quay cóp và trong việc dạy như dạy tủ, đối xử thiên vị trongKT-ĐG
1.2.4.2 Trắc nghiệm khách quan
TNKQ là loại hình câu hỏi, bài tập mà các phương án trả lời đã có sẵn, hoặcnếu HS phải tự viết câu trả lời thì câu trả lời phải là câu ngắn và chỉ có duy nhất mộtcách viết đúng Trắc nghiệm này được gọi là “ khách quan” vì tiêu chí ĐG là đơnnhất, hoàn toàn không phụ thuộc vào yếu tố chủ quan của người chấm
- Một số dạng trắc nghiệm khách quan thường dùng: Có 5 loại câu hỏi trắc
nghiệm khách quan, tuy nhiên trong thực tế người ta thường sử dụng 4 loại câu hỏitrắc nghiệm sau đây: ghép đôi, điền khuyết, sắp lại thứ tự và câu hỏi nhiều lựa chọn
+ Loại câu hỏi TN nhiều lựa chọn: (Multiple choise question- MCQ): Đây làloại câu hỏi được sử dụng rộng rãi nhất Dạng câu hỏi này thường đưa ra 1 nhậnđịnh và có từ 4 đến 5 phương án trả lời, thí sinh phải chọn để đánh dấu vào 1phương án đúng hoặc đúng nhất Câu hỏi gồm 2 phần:
Phần chính (phần dẫn): Nêu ra một vấn đề hay đưa ra một ý tưởng rõ ràng
nhằm giúp cho người làm bài có thể hiểu rõ câu TN muốn đòi hỏi điều gì để lựachọn câu trả lời thích hợp
Phần lựa chọn: Gồm có nhiều hướng giải đáp được đánh dấu A, B, hay 1, 2,
3, … mà HS có thể lựa chọn trong số đó 1 phương án đúng hay đúng nhất, phần cònlại là các câu nhiễu Khi viết câu hỏi TN thì điều quan trọng là phải làm sao cho
những câu nhiễu đó "hấp dẫn gần giống với câu đúng, bắt buộc HS phải đọc kỹ bài
Trang 25học, dùng các thao tác lập luận chính xác mới có thể phát hiện sự thiếu chính xáccủa câu nhiễu, từ đó phát hiện câu trả lời đúng.
+ Loại câu hỏi TN điền khuyết: có 2 dạng gồm những câu hỏi với lời giảiđáp ngắn hoặc những câu phát biểu có một hay nhiều chỗ trống mà HS phải điềnnhững cụm từ hay những con số thích hợp vào chỗ trống đó Nói chung đây là loạicâu TN có câu trả lời "tự do", học sinh có cơ hội trình bày những ý tưởng sáng tạocủa mình
+ Loại câu TN trả lời ngắn: Với loại câu TN này, HS phải sắp lại thứ tự cácdòng để có được một đoạn văn bản hợp lý, hợp logic Khi soạn câu hỏỉ phải diễn đạtcâu hỏi một cách tường minh, chú ý cấu trúc ngữ pháp Dùng những câu đơn giản,thử nhiều cách đặt câu hỏi và chọn cách diễn đạt đơn giản nhất
+ Loại câu hỏi TN ghép đôi: Câu hỏi, bài tập dạng này thường gồm 2 cộtthông tin, mỗi cột có nhiều dòng HS phải chọn những kết hợp hợp lý giữa 1 dòngcủa cột này với 1 hay những dòng thích hợp của cột kia Khi soạn câu hỏi TNKQdạng ghép đôi phải chú ý cột câu hỏi và cột trả lời không nên bằng nhau, nên có sốcâu trả lời dư ra để tăng sự cân nhắc khi lựa chọn; dãy thông tin đưa ra không nênquá dài, nên thuộc cùng một loại, có liên quan đến nhau
- Ưu điểm: Bài KT bằng TNKQ bao gồm rất nhiều câu hỏi nên có thể bao
quát một phạm vi rất rộng của nội dung chương trình, nhờ đó mà các đề KT bằnghình thức TNKQ có tính toàn diện và hệ thống hơn so với các đề KT bằng TL; cótiêu chí ĐG đơn nhất, không phụ thuộc vào yếu tố chủ quan của người chấm nên kếtquả ĐG khách quan hơn so với TL; sự phân bố điểm của các bài KT TNKQ đượctrải trên phổ rộng, thu được thông tin phản hồi đầy đủ về quá trình dạy và học; cóthể sử dụng các phương tiện kỹ thuật hiện đại trong việc chấm và phân tích kết quả
KT, do đó việc chấm và phân tích kết quả không cần nhiều thời gian
- Nhược điểm: Không cho phép ĐG năng lực diễn đạt của HS cũng như
không cho thấy quá trình suy nghĩ, lập luận của HS để trả lời hoặc giải một bài tập
Do đó, nếu chỉ sử dụng duy nhất một hình thức TNKQ trong KT-ĐG thì việcKTĐG có thể trở thành yếu tố hạn chế việc rèn luyện kỹ năng diễn đạt của HS
1.2.4.3 Một số khác biệt và tương đồng giữa TL và TNKQ
Những điểm tương đồng:
- Đều có thể đo lường hầu hết kết quả học tập quan trọng bằng hình thức viết
- Đều có chức năng khuyến khích HS học tập để đạt mục tiêu: hiểu biết cácnguyên lí, tổ chức, phối hợp các ý tưởng, ứng dụng kiến thức trong việc giảiquyết các vấn dề
- Đều đòi hỏi sự vận dụng ít nhiều sự phán đoán chủ quan
Trang 26- Giá trị cùng tuỳ thuộc vào tính khách quan, độ tin cậy của chúng.
Bảng 1.1 So sánh sự khác biệt của TNKQ và TL
1 HS phải tự soạn câu trả lời và
diễn tả bằng ngôn ngữ của mình
HS chọn câu trả lời đúng nhất trongmột số câu đã cho sẵn
2 Ít câu hỏi, nhưng có tính tổng quát
và phải trả lời dài
Nhiều câu hỏi chuyên biệt, chỉcần trả lời ngắn gọn
3 Phải suy nghĩ, viết Phải đọc và suy nghĩ
4 Kết quả của bài TL phụ thuộc
người chấm
Kết quả của bài TNKQ khôngphụ thuộc người chấm
5 Khó chấm và khó cho điểm chính xác Dễ chấm, cho điểm chính xác
6 HS tự do diễn đạt, GV cho điểm
theo đáp án và quan điểm của mình
HS chỉ có quyền thể hiện mức độhiểu kiến thức qua các câu trả lời
7 Khó xác định mức độ hoàn
thành toàn diện nhiệm vụ học tập
theo chuẩn
Dễ thẩm định mức độ hoàn thànhcác nhiệm vụ học tập theo chuẩn
8 Cho phép hoặc đôi khi khuyến
Như vậy, TNKQ và TL đều có những ưu, nhược điểm khác nhau, tuỳ thuộcvào mục tiêu ĐG, nội dung từng môn học, từng nội dung kiến thức, GV cần đề xuấtphương án phối hợp câu hỏi TNKQ và TL để khắc phục được nhược điểm của từngloại câu hỏi giúp đạt được mục tiêu KT-ĐG đề ra
1.2.5 Phân tích câu hỏi và đề thi trắc nghiệm khách quan
1.2.5.1 Mục đích của việc phân tích, đánh giá bài trắc nghiệm
Việc phân tích, ĐG bài trắc nghiệm sau khi tổ chức KT, chấm và ghi điểmbài làm của HS giúp chúng ta ĐG hiệu quả của từng câu hỏi Việc làm này có haimục đích sau:
- Thứ nhất, kết quả của bài thi có thể giúp GV ĐG mức độ truyền thụ kiếnthức của thầy và khả năng lĩnh hội kiến thức của HS để từ đó điều chỉnh phươngpháp, nội dung dạy học để ngày càng hiệu quả hơn
- Thứ hai, từ việc phân tích câu hỏi, xem xét kết quả bài làm của HS giúpchúng ta ĐG được mức độ khó, dễ của câu hỏi, từ đó điều chỉnh cho hợp lý để có
Trang 27được bộ câu hỏi TN để ĐG kết quả học tập của HS ngày càng chính xác và hiệuquả hơn
1.2.5.2 Phương pháp phân tích, đánh giá bài trắc nghiệm
Phân tích thống kê các câu hỏi TN để xem xét từng câu hỏi cũng như toàn bộbài TN có đạt được những mục đích đề ra hay không, điều đó phụ thuộc vào mụcđích của bài TN
Nguyên tắc chung để phân tích câu hỏi của một bài TN là ta thường so sánhcâu trả lời của mỗi câu hỏi đó với điểm số chung của toàn bài với mong muốn cónhiều HS (ở nhóm khá giỏi) và đồng thời có ít HS (ở nhóm yếu) trả lời được câu hỏi
đó Nghĩa là phổ các điểm của một lớp HS phải trải càng rộng càng tốt Nếu khôngđạt được điều đó có thể câu hỏi TN soạn chưa chính xác với yêu cầu về chất lượngcủa HS, hoặc nội dung kiến thức chưa dạy đúng yêu cầu của nội dung chương trình
Việc phân tích câu trả lời của HS nhằm xác định các chỉ số về độ khó, độphân biệt, độ giá trị và độ tin cậy của một câu hỏi, một bài trắc nghiệm
Theo kinh nghiệm của các nhà nghiên cứu giáo dục ở Việt Nam và trên thếgiới, trong mẫu phân bố chuẩn người ta thường chia HS thành 3 nhóm:
- Nhóm điểm cao (H): chọn 27% HS đạt điểm cao nhất (có thể dao độngtrong khoảng từ 25% - 33%)
- Nhóm điểm thấp (L): chọn 27% HS đạt điểm thấp nhất (có thể dao độngtrong khoảng từ 25% - 33%)
- Nhóm trung bình (M): khoảng 46% HS còn lại
Việc chia nhóm chỉ là tương đối, đối với các lớp ít HS thì sai số thống kê làkhá lớn
1.2.5.3 Độ khó của câu hỏi
Khi nói đến độ khó, hiểu nhiên phải xem câu hỏi đó là khó đối với đối tượngnào Nhờ việc thể nghiệm trên các đối tượng HS phù hợp, người ta có thể đo độ khóbằng công thức: %
n
R
P
Trong đó R là số HS làm bài đúng, n là số HS tham gia làm bài
Theo tác giả Dương Thiệu Thống, có thể phân loại độ khó của một câu hỏitheo kết quả trả lời của HS:
- Nếu P 70%: Là câu TN dễ
- Nếu P ( 40 % 70 %): Là câu TN có độ khó trung bình
- Nếu P ( 30 % 40 %): Là câu TN tương đối khó
- Nếu P 30%: Là câu TN khó
1.2.5.4 Độ phân biệt
Trang 28Độ phân biệt (hay còn gọi là độ bách phân): là độ đo khả năng của câu hỏiphân biệt rõ kết quả bài làm của một nhóm HS có năng lực khác nhau.
Công thức tính độ phân biệt: %
n
T C
D
Trong đó: C- Là số người trong nhóm cao điểm trả lời đúng câu TN
T- Là số người trong nhóm thấp điểm trả lời đúng câu TN n- Là tổng số HS dự thi trắc nghiệm
Phân loại chỉ số D của một câu TN là:
- Nếu D 40%: Độ phân biệt rất tốt.
- Nếu D ( 30 % 39 %): Độ phân biệt tốt
- Nếu D ( 20 % 29 %): Độ phân biệt trung bình
- Nếu D 19 %: Độ phân biệt thấp
* Tiêu chuẩn để chọn câu hỏi tốt
Sau khi đã phân tích và tính toán thì các câu hỏi thỏa mãn các tiêu chuẩn sauđây được xếp vào danh mục các câu hỏi hay:
1.2.5.5 Độ giá trị của bài trắc nghiệm
Độ giá trị: "Là khái niệm cho biết mức độ mà một bài trắc nghiệm đo được đúng cái mà nó định đo".
Độ giá trị sẽ giúp chúng ta biết được TN ta đang dùng có giúp chúng ta rút rakết luận đúng vào đặc điểm cần nghiên cứu hay không
Một bộ bài tập TN muốn có độ giá trị tốt cần phải đảm bảo các yêu cầu:
- Các bài tập TN phải tiêu biểu cho một hệ thống cơ bản các bài tập
- Độ giá trị tiên đoán: Từ điểm số trong kì thi TN của mỗi HS, chúng tamuốn tiên đoán mức độ thành công trong học tập của HS đó trong tương lai
Trang 29- Độ giá trị đồng thời: Nói lên sự tương quan giữa các điểm số của bài TNvới sự đo đồng thời các tiêu chí khác có liên quan mà bài TN muốn đo lường.
- Độ giá trị nội dung: Là mức độ bao trùm một cách thỏa đáng nội dung cụthể của từng môn học, thì bài TN đó được coi là có độ giá trị về nội dung "Trướckhi xác định tính chất giá trị này, chúng ta nêu rõ mục tiêu giảng dạy, loại khả nănghoặc kiến thức phải nắm sau khi học tập, các tài liệu HS cần phải đọc, tính quantrọng tương đối giữa các phần trong chương trình, Như vậy, mức độ giá trị đượcước lượng bằng cách so sánh nội dung đề cập trong các câu hỏi và nội dung củachương trình, chứ không dựa trên hệ số giá trị đi từ việc khảo sát thực nghiệm nhưhai trường hợp trên"
- Độ giá trị cấu trúc: Là giá trị liên quan đến các loại học tập được quy địnhtrong các mục tiêu dạy và học, chẳng hạn một bài TN gồm những câu hỏi chỉ đề cậpđến khả năng như học thuộc lòng các công thức, định lí, thì không có giá trị đolường kiến thức thông hiểu, phân tích, tổng hợp
1.2.5.6 Độ tin cậy của bài trắc nghiệm
Độ tin cậy thường được định nghĩa: Như là mức độ chính xác của phép đo,tức là bài TN tốt phải đo được cái cần đo ở mức độ chắc chắn và chính xác nhất cóthể được
Theo Quentin Stodola và Kalmer Stordahl thì: "Về mặt lý thuyết, độ tin cậy có thể được xem như là một số đo về sự sai khác giữa điểm số quan sát và điểm số thực"
Điểm số quan sát được là điểm số mà trên thực tế HS có được, còn điểm sốthực là điểm số lý thuyết mà HS đó phải có nếu không mắc những sai số trong đolường (sai số từ bên trong: từ bản thân bài TN, động lực của HS, và sai số từ bênngoài: điều kiện tiến hành thí nghiệm, việc quản lý và tổ chức thi TN, )
Theo tác giả Dương Thiệu Tống thì: "Một bài trắc nghiệm được xem là đáng tin cậy khi nó cho ra những kết quả có tính vững chắc, ổn định Điều này có nghĩa
là, nếu làm bài trắc nghiệm ấy nhiều lần mỗi học sinh vẫn giữ được thứ hạng tương đối của mình ở trong nhóm".
Trong giáo dục, việc lặp đi lặp lại các phép đo trên cùng một bài TN đối vớimột HS cụ thể là khó thực hiện
Một cách tiếp cận được lựa chọn là phải xem xét sự tương quan giữa cácđiểm số đạt được bởi một số lớn HS với các điểm số của họ thu được từ bài trắcnghiệm "song song" hoặc "tương đương" Từ đó tác giả Patrick Grifin cho rằng:
"Hệ số độ tin cậy đối với một bộ điểm số của một nhóm thí sinh là hệ số tương quan
Trang 30giữa bộ điểm số đó với một bộ điểm số khác của một bài trắc nghiệm tương đương thu được một cách độc lập từ các thành viên của cùng một nhóm thí sinh đó".
Trong thực nghiệm, để ước tính độ tin cậy của một bài TN người ta thường
k R
Trong đó:
k- Là số lượng câu TNp- Là tỷ lệ những câu trả lời đúng đối với một câu trả lời riêng biệt.q- Là tỷ lệ những câu trả lời sai đối với một câu hỏi riêng biệt
S- Là độ sai lệch chuẩn của điểm số bài TN
M M 1 1 k
k R
Trong đó:
k- Là số lượng câu TNM- Là điểm trung bình của bài TNS- Là độ sai lệch chuẩn của điểm số bài TN
* Công thức Spearman - Brown
Nếu chiều dài của bài TN tăng lên k lần sẽ làm tăng độ tin cậy ban đầu lênthành Rk theo công thức:
R ) 1 k ( 1
* Các yếu tố ảnh hưởng đến độ tin cậy của một bài TN
- Bài TN càng thuần nhất thì độ tin cậy càng cao Một bài TN được coi làthuần nhất nếu phần lớn các câu hỏi trong bài có độ khó trung bình
- Nên chú ý rằng khi cố gắng làm tăng thêm tính thuần nhất rất dễ dẫn đếnnguy cơ thu hẹp nội dung đánh giá, khi đó sẽ làm giảm độ giá trị của bài TN
- Độ tin cậy của bài TN có mục đích khác nhau sẽ là khác nhau Chẳng hạn,bài TN về thành quả tối thiểu hay thành quả tối đa có độ tin cậy khác với bài TNphân loại hay chẩn đoán
* Mối liên hệ giữa độ giá trị và độ tin cậy
Ta hiểu độ giá trị thông thường phản ánh mức độ mà một bài TN đo được cái
mà nó định đo, còn độ tin cậy phản ánh sự chính xác của phép đo
Măc dù vậy hai đại lượng này luôn liên quan với nhau:
Trang 31- Độ giá trị đòi hỏi có độ tin cậy: Để có giá trị một bài TN phải là tương đốitin cậy.
- Độ tin cậy không đảm bảo cho độ giá trị, có thể có một bài TN có độ tincậy hoàn hảo nhưng lại có độ giá trị thấp
Như vậy, sự ước lượng các đại lượng về độ giá trị và độ tin cậy thường đượcnêu ra như là các hệ số tương quan Ta phải xem xét không chỉ các phương pháp đãlàm để thu được các giá trị này mà cả thành phần cấu tạo của tập hợp mẫu các HS
đã được TN, cũng như các đặc điểm thống kê của bài TN
Khi ĐG độ giá trị thì sự phân tích về nội dung thường quan trọng hơn là cáccon số thống kê Khi ĐG độ tin cậy thì nên xem xét đến sai số chuẩn của phép đo.Cần phải tiến tới sự phù hợp về độ tin cậy và độ giá trị trong việc ĐG và tuyển chọncác bài TN
1.3 Kiểm tra - đánh giá kết quả học tập môn Hóa học của học sinh theo chuẩn kiến thức, kỹ năng
1.3.1 Chuẩn kiến thức, kỹ năng môn Hóa học Trung học phổ thông
Theo tài liệu hướng dẫn thực hiện chuẩn kiến thức, kĩ năng môn Hóa học lớp12: Chuẩn là những yêu cầu, tiêu chí (gọi chung là yêu cầu) tuân thủ những nguyêntắc nhất định, được dùng để làm thước đo đánh giá hoạt động, công việc, sản phẩmcủa lĩnh vực nào đó và khi đạt được những yêu cầu của chuẩn thì cũng có nghĩa làđạt được mục tiêu mong muốn của chủ thể quản lý hoạt động, công việc, sản phẩmđó
Yêu cầu là sự cụ thể hóa, chi tiết, tường minh của chuẩn, làm căn cứ để đánhgiá chất lượng Yêu cầu có thể được đo thông qua chỉ số thực hiện Yêu cầu đượcxem như những "chốt kiểm soát" để đánh giá chất lượng đầu vào, đầu ra cũng nhưquá trình thực hiện
Những yêu cầu cơ bản của chuẩn:
- Chuẩn phải có tính khách quan, rất ít lệ thuộc vào quan điểm hay thái độchủ quan của người sử dụng chuẩn
- Chuẩn phải có hiệu lực ổn định cả về phạm vi lẫn thời gian áp dụng
- Chuẩn phải đảm bảo tính khả thi, có nghĩa là chuẩn đó có thể đạt được (làtrình độ hay mức độ dung hòa hợp lí giữa yêu cầu phát triển ở mức cao hơn vớinhững thực tiễn đang diễn ra)
- Chuẩn phải đảm bảo tính cụ thể, tường minh và đạt tối đa chức năng địnhlượng
- Chuẩn phải đảm bảo mối liên quan, không mâu thuẫn với các chuẩn kháctrong cùng lĩnh vực hoặc những lĩnh vực có liên quan
Trang 32Chuẩn kiến thức, kĩ năng và yêu cầu về thái độ trong chương trình Trung họcphổ thông được thể hiện cụ thể trong các chương trình môn học của cấp học Đốivới mỗi môn học được cụ thể hóa mục tiêu thành chuẩn kiến thức, kĩ năng
Chuẩn kiến thức, kĩ năng của chương trình cấp học là các yêu cầu cơ bản, tốithiểu về kiến thức, kĩ năng của các môn học mà học sinh cần phải và có thể đạtđược sau từng giai đoạn học tập trong cấp học:
- Các chuẩn này cho thấy ý nghĩa quan trọng của việc gắn kết, phối hợp giữacác môn học nhằm đạt được mục tiêu giáo dục của cấp học
- Việc thể hiện chuẩn kiến thức, kĩ năng ở cuối chương trình cấp học thể hiệnhình mẫu mong đợi về người học sau mỗi cấp học và cần thiết cho công tác quản lý,chỉ đạo, đào tạo, bồi dưỡng giáo viên
- Chương trình cấp học đã thể hiện chuẩn kiến thức, kĩ năng không phải đốivới từng môn học mà đối với từng lĩnh vực học tập Chuẩn kiến thức, kĩ năng đượcbiên soạn trong chương trình của từng cấp học thể hiện:
+ Các chuẩn kiến thức, kĩ năng không được viết cho từng môn học riêng biệt
mà viết cho từng lĩnh vực học tập nhằm thể hiện sự gắn kết giữa các môn học vàhoạt động giáo dục trong nhiệm vụ thực hiện mục tiêu của cấp học
+ Chuẩn kiến thức, kĩ năng và yêu cầu về thái độ được thể hiện trong chươngtrình cấp học là các chuẩn của cấp học, tức là những yêu cầu cụ thể mà học sinh cầnđạt được ở cuối cấp học Cách thể hiện này tạo một tầm nhìn về sự phát triển củangười học sau mỗi cấp học, đối chiếu với những gì mà mục tiêu của cấp học đề ra
Chuẩn kiến thức, kĩ năng trong chương trình môn học là các yêu cầu cơ bản,tối thiểu về kiến thức, kĩ năng của môn học mà học sinh cần phải và có thể đạt đượcsau mỗi đơn vị kiến thức, chủ đề; được nêu đầy đủ những yêu cầu cụ thể, chi tiết, rõràng về kiến thức, kĩ năng học sinh cần đạt được sau mỗi chủ đề Chuẩn kiến thức,
kĩ năng là căn cứ xác định mục tiêu dạy học, mục tiêu kiểm tra, đánh giá
Chuẩn kiến thức, kĩ năng trong chương trình giáo dục phổ thông có 3 đặcđiểm chính:
- Chuẩn được chi tiết, tường minh bởi các yêu cầu cụ thể, rõ ràng về kiếnthức, kĩ năng
- Chuẩn có tính tối thiểu, nhằm đảm bảo mọi học sinh cần phải và có thể đạtđược những yêu cầu cụ thể này
- Chuẩn là thành phần của chương trình giáo dục phổ thông đảm bảo việc chỉđạo dạy học, kiểm tra, đánh giá theo chuẩn sẽ tạo nên sự thống nhất trong cả nước,làm hạn chế tình trạng dạy học quá tải, đưa thêm nhiều nội dung nặng nề, quá cao
Trang 33so với chuẩn vào dạy học, tạo điều kiện cơ bản và quan trọng để có thể tổ chứckiểm tra, đánh giá theo chuẩn.
1.3.2 Phân loại chuẩn kiến thức, kĩ năng theo thang bậc nhận thức của Bloom
Theo hệ thống phân loại các mục tiêu của quá trình giáo dục của B.S Bloom
đã xác định ba lĩnh vực của các hoạt động giáo dục:
- Lĩnh vực nhận thức (cognitive dommain) thể hiện ở khả năng suy nghĩ, lập
luận, bao gồm việc thu thập các sự kiện, giải thích, lập luận theo kiểu diễn dịch vàquy nạp và sự đánh giá có phê phán
- Lĩnh vực hành động (psychomator domain) liên quan đến những kĩ năng
đòi hỏi sự khéo léo về chân tay, sự phối hợp các cơ bắp từ đơn giản đến phức tạp
- Lĩnh vực cảm xúc (affective domain) liên quan đến những đáp ứng về mặt
tình cảm, bao hàm cả những mối quan hệ như yêu ghét, thái độ nhiệt tình, thờ ơ,cũng như sự cam kết với một nguyên tắc và sự tiếp thu các ý tưởng
Trong đó, lĩnh vực nhận thức được chia thành các mức độ hành vi từ đơn
giản nhất đến phức tạp nhất gồm:
Kiến thức là những thông tin bao gồm các sự kiện, khái niệm, nguyên lí, quy
trình, quá trình, cấu trúc yêu cầu HS phải thông hiểu, tái hiện được, sử dụng đượcvào thực tiễn ở những mức độ khác nhau
Sơ đồ 1.1 Thang bậc nhận thức của Bloom
Bloom đã đưa ra nguyên tắc phân loại mục tiêu nhận thức trong đó nêu rõ cácthang bậc nhận thức của HS Nội dung KT-ĐG cần căn cứ vào cấp nhận thức của HS
để xây dựng chuẩn cần đo trong KT-ĐG từ đó xác định được mục tiêu cần KT-ĐGcho từng lần KT
Bảng 1.2 Các mức độ nắm vững kiến thức theo thang nhận thức Bloom
Trang 34Nhận biết Nhắc lại sự kiện Nhắc lại định luật, công thứcThông
Thiết kế được phương án khiphải tìm các thông số cần thiết
Tổng hợp
Vận dụng các nguyên lí vào cáctrường hợp để đưa ra các giải phápmới và so sánh nó với các giải pháp
đã biết
Thiết kế được phương án mới
Kỹ năng: Biểu hiện ở những hoạt động quan sát được và những phản ứng
thực hiện theo mục đích bao gồm: Kỹ năng nhận thức (Giải quyết vấn đề, ra quyếtđịnh, tư duy lôgic, tư duy phê phán, sáng tạo ) và kỹ năng tâm vận (Những dấu hiệu
cụ thể, quan sát được, có quy trình riêng, có thể chia thành hai hay nhiều bước, cóthể thực hiện trong khoảng thời gian giới hạn, có điểm ban đầu và kết thúc, xác địnhkết quả cuối cùng là sản phẩm, bán sản phẩm, dịch vụ hoặc quyết định, có thể phâncông được )
Trang 35Bảng 1.3 Các mức độ hình thành kỹ năng theo Harrow
Làm chính
xác
Quan sát và thực hiện được chínhxác như hướng dẫn Làm được chính xác như mẫuLàm biến hoá
Thực hiện được các kỹ năngtrong hoàn cảnh và tình huốngkhác nhau
Làm được chính xác như mẫutrong các hoàn cảnh khácnhau
Làm thuần
thục
Đạt trình độ cao về tốc độ và sựchính xác, ít cần sự can thiệp của
ý thức
Làm được chính xác nhưmẫu, kỹ năng cũng như bảnnăng
Thái độ là cảm nhận của con người và ứng xử của họ đối với một công việc,
những thái độ thể hiện có thể có tính chất cá nhân hoặc hành vi cá nhân
Bảng 1.4 Các cấp độ hình thành thái độ theo Bloom
Hoàn thành bài tập về nhà,tuân thủ theo nội quy của Nhàtrường
Có lí lẽ, lượng giá Trở thành có giá trị với bản
Được tổ chức
hệ thống
Xây dựng thành hệ thốngcác giá trị
Cân bằng giữa các giá trị, giảiquyết được các xung đột vềgiá trị
Hình thành
đặc trưng
Hình thành đặc trưng, bảnsắc riêng
Phối hợp trong các nhóm hoạtđộng hình thành thói quen
Trong giáo dục môn Hóa học, ta có thể phân loại các mục tiêu giáo dục vềkiến thức, kỹ năng và thái độ theo 6 mức độ của nhận thức dựa theo Bloom như sau:
- Cấp độ nhận biết: Nhớ lại hoặc nhận ra các khái niệm cơ bản theo đúngdạng đã được học, không bắt buộc phải thể hiện sự am hiểu, sử dụng được hoặcbiến đổi nó
Trang 36- Cấp độ thông hiểu: Am hiểu các tài liệu đã được học ở dạng đơn lẻ, khôngđòi hỏi phải chỉ ra mối liên hệ giữa chúng.
- Cấp độ vận dụng: Sử dụng các khái niệm cơ bản để giải quyết được vấn đề
cụ thể
- Cấp độ phân tích: Phân tích, tách ra cái toàn thể thành các phần riêng lẻ
- Cấp độ tổng hợp: Tạo ra ý tưởng mới từ việc liên kết các ý tưởng khác nhau
- Cấp độ đánh giá: Phán xét, phê phán, phán đoán giá trị của tài liệu hoặcphương pháp khi ứng dụng vào tình huống cụ thể
Sau đây chúng ta sẽ đi sâu vào 3 cấp độ nhận thức mà học sinh cần đạt đượctheo chuẩn kiến thức, kỹ năng môn Hóa học Trung học phổ thông
1.3.2.1 Nhận biết
Nhận biết là sự nhớ lại các dữ liệu, thông tin đã có trước đây; là sự nhận biết
thông tin, ghi nhớ, tái hiện thông tin, nhắc lại một loạt dữ liệu, từ các sự kiện đơngiản đến các lí thuyết phức tạp Đây là mức độ, yêu cầu thấp nhất của trình độ nhậnthức, thể hiện ở chỗ HS có thể và chỉ cần nhớ hoặc nhận ra khi được đưa ra hoặcdựa trên những thông tin có tính đặc thù của một khái niệm, một sự vật, một hiệntượng HS phát biểu đúng một định nghĩa, định lí, định luật nhưng chưa giải thích
và vận dụng được chúng
Có thể cụ thể hoá mức độ nhận biết bằng các yêu cầu:
- Nhận ra, nhớ lại các khái niệm, định lí, định luật, tính chất
- Nhận dạng được (không cần giải thích) các khái niệm, hình thể, vị trí tươngđối giữa các đối tượng trong các tình huống đơn giản
- Liệt kê, xác định các vị trí tương đối, các mối quan hệ đã biết giữa các yếu
tố, các hiện tượng
1.3.2.2 Thông hiểu
Thông hiểu là khả năng nắm được, hiểu được ý nghĩa của các khái niệm, sựvật, hiện tượng; giải thích, chứng minh được ý nghĩa của các khái niệm, sự vật, hiệntượng Thông hiểu là mức độ cao hơn nhận biết nhưng là mức độ thấp nhất của việcthấu hiểu sự vật, hiện tượng, liên quan đến ý nghĩa của các mối quan hệ giữa cáckhái niệm, thông tin mà HS đã học hoặc đã biết Điều đó có thể được thể hiện bằngviệc chuyển thông tin từ dạng này sang dạng khác, bằng cách giải thích thông tin(giải thích hoặc tóm tắt) và bằng cách ước lượng xu hướng tương lai (dự báo các hệquả hoặc ảnh hưởng)
Có thể cụ thể hoá mức độ thông hiểu bằng các yêu cầu:
Trang 37- Diễn tả bằng ngôn ngữ cá nhân các khái niệm, định lí, định luật, tính chất,chuyển đổi được từ hình thức ngôn ngữ này sang hình thức ngôn ngữ khác (ví dụ: từlời sang công thức, kí hiệu, số liệu và ngược lại).
- Biểu thị, minh hoạ, giải thích được ý nghĩa của các khái niệm, hiện tượng,định nghĩa, định lí, định luật
- Lựa chọn, bổ sung, sắp xếp lại những thông tin cần thiết để giải quyết mộtvấn đề nào đó
- Sắp xếp lại các ý trả lời câu hỏi hoặc lời giải bài toán theo cấu trúc lôgic
1.3.2.3 Vận dụng
Vận dụng là khả năng sử dụng các kiến thức đã học vào một hoàn cảnh cụ
thể mới như vận dụng nhận biết, hiểu biết thông tin để giải quyết vấn đề đặt ra Vậndụng là khả năng đòi hỏi HS phải biết khai thác kiến thức, biết sử dụng phươngpháp, nguyên lí hay ý tưởng để giải quyết một vấn đề nào đó
Đây là mức độ cao hơn mức độ thông hiểu ở trên, yêu cầu áp dụng được cácquy tắc, phương pháp, khái niệm, nguyên lí, định lí, định luật, công thức để giảiquyết một vấn đề trong học tập hoặc của thực tiễn
Có thể cụ thể hoá mức độ vận dụng bằng các yêu cầu:
- So sánh các phương án giải quyết vấn đề
- Phát hiện lời giải có mâu thuẫn, sai lầm và chỉnh sửa được
- Giải quyết được những tình huống mới bằng cách vận dụng các khái niệm,định lí, định luật, tính chất đã biết
- Biết khái quát hoá, trừu tượng hoá từ tình huống đơn giản, đơn lẻ quenthuộc sang tình huống mới, phức tạp hơn
1.3.3 Yêu cầu đổi mới kiểm tra - đánh giá kết quả học tập môn Hóa học bám sát chuẩn kiến thức, kỹ năng
- KT-ĐG phải căn cứ vào chuẩn kiến thức, kĩ năng của từng môn học ở từnglớp; các yêu cầu cơ bản, tối thiểu cần đạt về kiến thức, kĩ năng của HS sau mỗi giaiđoạn, mỗi lớp, mỗi cấp học
- KT-ĐG thể hiện được vai trò chỉ đạo, kiểm tra việc thực hiện chương trình,
kế hoạch giảng dạy, học tập của các nhà trường Cần tăng cường đổi mới khâu
KT-ĐG thường xuyên, định kì; đảm bảo chất lượng KT-KT-ĐG thường xuyên, định kìchính xác, khách quan, công bằng; không hình thức, đối phó nhưng cũng không gây
áp lực nặng nề KT thường xuyên và định kì theo hướng vừa ĐG được đúng chuẩnkiến thức, kĩ năng, vừa có khả năng phân hoá cao; KT kiến thức, kĩ năng cơ bản,năng lực vận dụng kiến thức của người học, thay vì chỉ KT học thuộc lòng, nhớmáy móc kiến thức
Trang 38- Áp dụng các phương pháp phân tích hiện đại để tăng cường tính tươngđương của các đề KT, đề thi Kết hợp thật hợp lí các hình thức KT, thi vấn đáp, tựluận và trắc nghiệm nhằm hạn chế lối học tủ, học lệch, học vẹt; phát huy ưu điểm vàhạn chế nhược điểm của mỗi hình thức.
- ĐG chính xác, đúng thực trạng ĐG thấp hơn thực tế sẽ triệt tiêu động lựcphấn đấu vươn lên; ngược lại, đánh giá khắt khe quá mức hoặc thái độ thiếu thânthiện, không thấy được sự tiến bộ, sẽ ức chế tình cảm, trí tuệ, giảm vai trò tích cực,chủ động, sáng tạo của HS
- ĐG kịp thời, có tác dụng giáo dục và động viên sự tiến bộ của HS, giúp HSsửa chữa thiếu sót ĐG cả quá trình lĩnh hội tri thức của HS, chú trọng ĐG hànhđộng, tình cảm của HS; năng lực vận dụng vào thực tiễn, thể hiện qua ứng xử, giaotiếp Quan tâm tới mức độ hoạt động tích cực, chủ động của HS trong từng tiết họctiếp thu tri thức mới, ôn luyện cũng như các tiết thực hành, thí nghiệm
- ĐG kết quả học tập, thành tích học tập của HS không chỉ ĐG kết quả cuốicùng, mà cần chú ý cả quá trình học tập Cần tạo điều kiện cho HS cùng tham giaxác định tiêu chí ĐG kết quả học tập với yêu cầu không tập trung vào khả năng táihiện tri thức mà chú trọng khả năng vận dụng tri thức trong việc giải quyết các
nhiệm vụ phức hợp Có nhiều hình thức và độ phân hoá cao trong ĐG
- ĐG hoạt động dạy học không chỉ ĐG thành tích học tập của HS, mà còn
ĐG cả quá trình dạy học nhằm cải tiến hoạt động dạy học Chú trọng phương pháp,
kĩ thuật lấy thông tin phản hồi từ HS để ĐG quá trình dạy học
- Kết hợp thật hợp lí giữa ĐG định tính và định lượng: Căn cứ vào đặc điểmcủa từng môn học và hoạt động giáo dục ở mỗi lớp học, cấp học, quy định ĐG bằngđiểm kết hợp với nhận xét của GV hay ĐG bằng nhận xét, xếp loại của GV
Trang 39- KT-ĐG phải là động lực thúc đẩy đổi mới PPDH Đổi mới KT-ĐG tạo điềukiện thúc đẩy và là động lực của đổi mới PPDH trong quá trình dạy học, là nhân tốquan trọng nhất đảm bảo chất lượng dạy học.
1.3.4 Quy trình kiểm tra - đánh giá kết quả học tập theo chuẩn kiến thức,
kỹ năng
Việc đánh giá kết quả học tập môn Hóa học của học sinh Trung học phổthông theo chuẩn kiến thức, kỹ năng có thể thực hiện theo quy trình sau:
- Bước 1: Xác định mục đích, yêu cầu đánh giá.
- Bước 2: Lựa chọn phương pháp đánh giá.
- Bước 3: Biên soạn công cụ đánh giá (bộ câu hỏi và đề thi).
- Bước 4: Tiến hành kiểm tra, thu thập thông tin.
- Bước 5: Phân tích thông tin thu được
- Bước 6: Nhận xét công cụ đánh giá, kết luận và ra quyết định về kết quả
học tập của học sinh
Do có những chuẩn còn được mô tả một cách chung chung, khái quát nên đểđánh giá được kết quả học tập của học sinh một cách khách quan, công bằng và khoahọc thì việc soạn câu hỏi theo chuẩn kiến thức, kỹ năng có thể thực hiện theo quytrình sau:
- Bước 1: Phân loại các chuẩn kiến thức, kỹ năng theo cấp độ nhận thức
(Nhận biết, thông hiểu, vận dụng);
- Bước 2: Xác định các thao tác, hoạt động tương ứng của học sinh theo
chuẩn kiến thức, kỹ năng cần kiểm tra, đánh giá;
- Bước 3: Xác định một số dạng toán cơ bản và những sai lầm thường gặp
của học sinh khi làm bài kiểm tra;
- Bước 4: Xây dựng bảng trọng số của bộ câu hỏi;
- Bước 5: Biên soạn, thử nghiệm, phân tích, hoàn thiện bộ câu hỏi.
1.4 Tuyển chọn - xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập hóa học trong kiểm tra - đánh giá kết quả học tập của học sinh
1.4.1 Khái niệm về bài tập
Trong cuốn từ điển tiếng Việt (1992) có định nghĩa về "bài tập" như sau:
"Bài tập là những bài ra cho HS để tập vận dụng những điều đã học" Sau khi nghegiảng bài xong, nếu HS nào giải được các bài tập mà giáo viên đưa ra thì có thể xemnhư HS đó đã lĩnh hội được một cách tương đối những kiến thức mà giáo viên đótruyền đạt
Nội dung của bài tập hóa học thông thường bao gồm những kiến thức chính yếutrong bài giảng Nó bao gồm cả câu hỏi lí thuyết và bài tập tính toán Để giải quyết
Trang 40được những yêu cầu của bài tập, đòi hỏi HS vừa phải nhớ lại các kiến thức đã học, vừaphải biết vận dụng, suy luận, sáng tạo và tổng hợp các kiến thức đã có, từ đó phát triển
tư duy và khả năng nhận thức của HS
1.4.2 Tác dụng của bài tập hóa học
- Là một trong những phương tiện hiệu nghiệm nhất, cơ bản nhất để HS vậndụng các kiến thức đã học vào thực tế cuộc sống, sản xuất và tập nghiên cứu khoahọc, biến những kiến thức đã lĩnh hội qua bài giảng của giáo viên thành kiến thứccủa chính mình "Kiến thức sẽ được nắm thực sự nếu HS có thể vận dụng thànhthạo chúng vào việc hoàn thành những bài tập lí thuyết và thực hành"
- Giúp cho HS đào sâu, mở rộng kiến thức đã học một cách sinh động, phongphú "Chỉ có vận dụng kiến thức vào việc giải bài tập thì HS mới nắm vững kiếnthức một cách sâu sắc "
- Là phương tiện để ôn tập, hệ thống hoá kiến thức một cách tốt nhất
- Thông qua bài tập hóa học, HS được rèn luyện các kĩ năng như: kĩ năngviết và cân bằng PTHH, kĩ năng tính toán theo công thức và phương trình hóa học,
kĩ năng thực hành …
- Giúp cho HS phát triển năng lực nhận thức, rèn luyện trí thông minh
- Là phương tiện để nghiên cứu tài liệu mới, giúp cho HS tích cực, tự lực,chủ động lĩnh hội kiến thức một cách bền vững và sâu sắc
- Giúp phát huy tính tích cực, chủ động của HS và góp phần hình thànhphương pháp học tập hợp lí
- Là phương tiện để KT-ĐG kiến thức, kĩ năng của HS một cách nhanhchóng và chính xác
- Giáo dục đạo đức, tác phong, rèn luyện tính kiên nhẫn, trung thực, chínhxác, khoa học và sáng tạo, phong cách làm việc khoa học, nâng cao hứng thú họctập môn Hóa học
1.4.3 Phân loại bài tập hóa học
Trong những tài liệu phương pháp dạy học hóa học, các tác giả phân loại bàitập hóa học theo những cách khác nhau dựa trên các cơ sở khác nhau:
- Theo mức độ huy động kiến thức, bài tập hóa học được chia thành: bài tậpđịnh tính và bài tập định lượng (bài toán hóa học) và bài tập tổng hợp
- Theo cách giải có sử dụng thực nghiệm hay không thực nghiệm: Bài tập lýthuyết (định tính và định lượng) và bài tập thực nghiệm (định tính và định lượng)
- Theo mục đích dạy học: Bài tập hình thành kiến thức mới; bài tập rènluyện, củng cố kỹ năng, kỹ xảo; bài tập kiểm tra, đánh giá