Mục tiêu của đề tài Đánh giá tính đa dạng về thành phần loài, giá trị kinh tế, dạng sống, yếu tố địa lý và sự phân bố của các loài thực vật thuộc ngành Dương xỉ làm cơ sở cho
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
-
ĐỖ CÔNG TÙNG
THÀNH PHẦN LOÀI THỰC VẬT NGÀNH DƯƠNG XỈ (POLYPODIOPHYTA) TẠI HUYỆN NGỌC LẶC,
TỈNH THANH HÓA
LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC
NGHỆ AN - 2014
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
-
ĐỖ CÔNG TÙNG
THÀNH PHẦN LOÀI THỰC VẬT NGÀNH DƯƠNG XỈ (POLYPODIOPHYTA) TẠI HUYỆN NGỌC LẶC,
TỈNH THANH HÓA
Chuyên ngành: Thực vật học
Mã số: 60.42.01.11
LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Phạm Hồng Ban
NGHỆ AN - 2014
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này không trùng lặp với các khóa luận, luận văn, luận án và các công trình nghiên cứu đã công bố
Người cam đoan
Đỗ Công Tùng
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn tốt nghiệp Thạc sĩ Sinh học này, tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS.TS Phạm Hồng Ban người thầy hướng dẫn khoa học đã chỉ dẫn và giúp đỡ tôi hoàn thành bản luận văn
Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến các thầy, cô giáo trong khoa Sinh học, phòng Sau đại học - Trường Đại học Vinh Cán bộ và nhân dân các xã, Ban quản lý rừng huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa đã giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài
Trong quá trình thực hiện do còn hạn chế về mặt thời gian, trình độ và tài chính nên bản luận văn không tránh khỏi thiếu sót Tôi mong muốn nhận được những đóng góp ý kiến quý báu của các thầy cô giáo, các nhà khoa học và bạn bè đồng nghiệp
Tác giả xin trân trọng gửi lời cảm ơn tới Ban Giám hiệu Trường THCS Lũng Cao - Bá Thước đã tạo điều kiện thuận lợi trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu của tác giả
Nghệ An, tháng 10 năm 2014
Tác giả
Đỗ Công Tùng
Trang 51.1.3 Nghiên cứu thực vật và nghiên cứu Dương xỉ ở Thanh Hóa 9
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG - NỘI DUNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN
2.4.1.1 Dụng cụ và trang thiết bị phục vụ khảo sát thực địa 17
2.4.2 Phương pháp xử lý và phân tích mẫu trong phòng thí nghiệm 18
Trang 62.4.2.2 Xác định tên khoa học 18
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 24
3.1 Thành phần loài Dương xỉ tại huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa 24
3.2 Đa dạng thành phần loài của ngành Dương xỉ (Polypodiophyta) huyện
Trang 7NHỮNG TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG TRONG LUẬN VĂN
Bảng 2.1 Các yếu tố địa lý thực vật của hệ thực vật Việt Nam 20
Bảng 2.3 Giá trị sử dụng của các loài thực vật thuộc ngành
Trang 9DANH MỤC CÁC HÌNH TRONG LUẬN VĂN
Hình 3.1 Tỷ lệ các bậc taxon ngành Dương xỉ ở Ngọc Lặc so với
Hình 3.4 Tỷ lệ các nhóm giá trị sử dụng của Dương xỉ ở huyện
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Tài nguyên thực vật có vai trò rất quan trọng đối với đời sống con người cũng như mọi sinh vật trên trái đất: cung cấp oxi, thức ăn, nơi ở,… và nó gắn bó với đời sống con người trong tất cả các thời kì lịch sử Từ khi mới xuất hiện, loài người đã biết sống dựa vào tự nhiên Lúc đầu người ta vào rừng hái hoa, quả, lá cây,…làm thức ăn Dần dần, họ đã biết lấy gỗ, lấy tre, để làm nhà; lấy vỏ cây, lá cây, làm quần áo Như vậy, tài nguyên thực vật đã cung cấp cho con người những nhu cầu giản đơn, thiết yếu về
ăn, ở, mặc đảm bảo cho sự sinh tồn và phát triển của con người
Ngày nay, cùng với sự phát triển không ngừng của xã hội, đời sống con người đã được cải thiện rõ rệt cả về mặt vật chất lẫn tinh thần Tuy nhiên, thực vật vẫn đóng vai trò rất quan trọng đối với cuộc sống con người Nó cung cấp lương thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh,… Ngoài ra, tài nguyên thực vật còn mang lại giá trị tinh thần, thẩm mỹ rất lớn tạo nên cái đẹp và sự hài hoà giữa con người với thiên nhiên
Vì vậy, có thể khẳng định rằng thực vật nói chung là cơ sở dinh dưỡng ban đầu để duy trì sự sống, là khâu đầu tiên trong chuỗi và lưới thức
ăn, là nguồn cung cấp nguyên liệu và dược liệu quý giá Còn hệ sinh thái
rừng nói riêng, nó còn là “lá phổi khổng lồ” có tác dụng lọc không khí,
đảm bảo cân bằng oxi và cacbonic; là “bức bình phong” chắn bức xạ của Mặt trời, điều hòa lượng nước, chống xói mòn, điều hòa khí hậu, giảm tiếng ồn,… Ngoài ra, sự phong phú và đa dạng của thực vật còn là nhân tố tạo nên các giá trị tinh thần, thẩm mĩ tạo nên cái đẹp và sự hài hòa
Trong những giá trị đó, thực vật nói chung, ngành Dương xỉ (Polypodiophyta) nói riêng đóng vai trò quan trọng trong quá trình hình thành thảm thực vật dưới tán rừng, có tác dụng giữ độ ẩm, chống xói mòn Đây là một ngành lớn trong nhóm Quyết, với trên 300 chi và hơn 10.000
Trang 11loài và dưới loài phân bố khắp nơi trên trái đất, nhưng nhiều nhất là ở các khu rừng nghiệt đới Nhiều loài Dương xỉ có ý nghĩa về kinh tế như là nguyên liệu làm thuốc, nhiều loài được sử dụng làm cảnh, làm rau ăn,… (30)
Ở Việt Nam, theo Phan Kế Lộc (2001) hiện nay đã biết có 718 loài và dưới loài của 135 chi, 29 họ của ngành Dương xỉ 37
Ngọc Lặc là huyện miền núi tỉnh Thanh Hóa với đặc điểm địa hình chủ yếu là đồi núi chia cắt chạy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam và thấp dần về phía Nam - Đông Nam, xen kẽ là các thung lũng thấp và sông suối Tại đâycó đặc điểm khí hậu thời tiết đặc trưng của miền núi Bắc Trung Bộ, khí hậu nhiệt đới gió mùa đông lạnh Đây là những điều kiện thuận lợi nhất định giúp cho hệ thực vật nói chung và ngành Dương xỉ nói riêng đa dạng
2 Mục tiêu của đề tài
Đánh giá tính đa dạng về thành phần loài, giá trị kinh tế, dạng sống, yếu tố địa lý và sự phân bố của các loài thực vật thuộc ngành Dương xỉ làm
cơ sở cho việc khai thác, sử dụng hợp lý và phát triển bền vững tài nguyên thực vật khác nói chung và ngành Dương xỉ nói riêng
Trang 12Chương 1 TỔNG QUAN
1.1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1.1 Nghiên cứu thực vật trên thế giới
1.1.1.1 Nghiên cứu về thực vật
Thực vật có vai trò vô cùng quan trọng đối với đời sống của con người như cung cấp lương thực, thực phẩm đến các nguyên liệu, nhiên liệu dùng trong công nghiệp, các loài thuốc chữa bệnh và các vật liệu sử dụng hàng ngày Do đó, việc đi sâu nghiên cứu giới thực vật là rất cần thiết Để tạo thuận lợi cho việc nghiên cứu, khai thác sử dụng nguồn tài nguyên thực vật người ta đã phải tiến hành phân loại chúng
Từ thế kỷ XV - XVI với sự phát triển của các ngành khoa học kỹ thuật kéo theo sự phát triển của thực vật học Thời kỳ này xảy ra 3 sự kiện quan trọng đối với sự phát triển của thực vật học đó là: Sự phát sinh tập bách thảo (Herbier) thế kỷ XVI, thành lập vườn bách thảo (thế kỷ XV-
XVI) và biên soạn cuốn “Bách khoa toàn thư về thực vật” Từ đây xuất
hiện các công trình như: Andrea Caesalpino (1519 - 1603) ông đưa ra bảng phân loại đầu tiên và được đánh giá cao; John Ray (1628 - 1705) mô tả
được gần 18.000 loài thực vật trong cuốn “Lịch sử thực vật” Tiếp sau đó,
Linnée (1707 - 1778) với bảng phân loại được coi là đỉnh cao của hệ thống phân loại thực vật Ông đã đưa ra cách đặt tên bằng tiếng Latinh gồm 2 từ ghép lại mà ngày nay chúng ta còn sử dụng và ông đưa ra hệ thống phân loại gồm 7 đơn vị: Giới, ngành, lớp, bộ, họ, chi, loài [theo 7]
Decadolle (1778 - 1841) đã mô tả được 161 họ thực vật trên cơ sở đó, vào năm 1813 ông đã đưa phân loại học trở thành môn học chính đó là
môn phân loại học [theo 19Error! Reference source not found.]
Đối với các nước Âu Mỹ, việc nghiên cứu hệ thực vật trên toàn
Trang 13thập và lưu trữ tại các phòng mẫu khô (herbarium) nổi tiếng thế giới như Kew (Anh), Bảo tàng lịch sử tự nhiên Paris (Pháp), New York (Hoa Kỳ), Xanh Pê-téc-bua (Nga) Vì vậy, khi xây dựng các khu BTTN và VQG hết sức thuận lợi, đơn giản đối với họ Có nhiều công trình có giá trị được công bố như: Thực vật chí Anh (1869), Thực vật chí Ấn Độ (1872-1897) Đối với các nước khu vực Đông Nam Á, một số nước đã được nước ngoài tài trợ, giúp đỡ cho nên tuy chưa hoàn thành nhưng cơ bản các nước đó đã có bộ Thực vật chí khá hoàn chỉnh như Trung Hoa, Thái Lan, Indonexia, Malaysia, [theo 31],[48], 49
Đến nay, theo số liệu của Trung tâm giám sát bảo tồn thế giới (2000) trên thế giới đã thống kê được 1.700.000 loài sinh vật, trong đó thực vật bậc cao có 250.000 loài và dưới loài (số loài ước tính khoảng 300.000 loài) [theo 12] Như vậy, số lượng loài chưa xác định được còn khá lớn Đặt ra cho các nhà nghiên cứu thực vật nhiệm vụ tiếp tục nghiên cứu để xác định và đặt tên cho những loài chưa được xác định đó
1.1.1.2 Nghiên cứu về Dương xỉ
Nhóm Quyết nói chung, ngành Dương xỉ nói riêng đã được chú ý nghiên cứu từ lâu Một số tác giả như: Linnaues (1753 - 1754) dựa vào cấu tạo của túi bào tử đã mô tả được 17 chi, 213 loài của ngành Dương xỉ; Swartz (1806) sử dụng đặc điểm túi bào tử, áo túi bào tử và một số đặc điểm về hình thái, đã phân chi Dương xỉ thành 38 chi và mô tả được hơn 700 loài và dưới loài; W.J Hooker (1842) dựa vào đặc điểm cấu tạo của cơ quan sinh sản, đã
vẽ hình và mô tả cho 135 chi với trên 2.400 loài và dưới loài; A L A Féc đã
sử dụng các đặc điểm hình thái và giải phẫu để phân loại Dương xỉ, kết quả đã liệt kê được 2.100 loài và dưới loài của 188 chi, trong đó có một số chi được tác giả mô tả lần đầu tiên… Năm 1947, Copeland đã chia ngành Dương xỉ thành 3 bộ (Phioglosales, Marattiales và Filicales), trong đó, Filicales được
Trang 14phân loại thành 19 họ với 298 chi Ông đã phân tích, lựa chọn và giới hạn các đặc điểm phân loại ở bậc chi
1.1.2 Nghiên cứu thực vật ở Việt Nam
1.1.2.1 Nghiên cứu về thực vật
Nghiên cứu thực vật ở Việt Nam diễn ra chậm hơn ở các nước khác, tuy nhiên giá trị của các công trình nghiên cứu đã được đánh giá cao trong việc góp phần vào sự phát triển khoa học, phục vụ chính đời sống của người dân Thời gian đầu chỉ có các nhà nho, thầy lang sưu tập các loài cây
có giá trị làm thuốc để chữa bệnh như: Lý Thời Chân (1595) trong “Bản thảo cương mục” đã đề cập đến trên 1.000 vị thuốc thảo mộc Trong tác phẩm “Nam dược thần hiệu”, Tuệ Tĩnh (1623 - 1713) đã mô tả được 759 loài cây có giá trị làm thuốc; trong “Vân đài loại ngữ”, Lê Quý Đôn (thế kỷ
XVI) đã phân ra cây cho hoa, quả, ngũ cốc,…; Lê Hữu Trác (1721 - 1792)
đã có những nghiên cứu dự trên tác phẩm “Nam dược thần hiệu” của Tuệ Tĩnh, ông đã bổ sung them 239 vị thuốc mới trong tác phẩm “Hải Thượng
y tôn tâm linh” Trong tác phẩm “Lĩnh nam bản thảo”, Lê Hữu Trác đã
tổng hợp được 2.850 bài thuốc chữa bệnh; Đến đời nhà Lê, Nguyễn Trữ
trong tác phẩm “Việt Nam thực vật học” đã mô tả nhiều loài cây trồng khác
nhau; …… [theo 7, 23]
Thời kỳ Pháp thuộc, có một số công trình mang tính chất cơ bản và
cổ điển của các tác giả là người nước ngoài nhằm thống kê các loài thực
vật Việt Nam: J Loureiro (1793) 44, trong tác phẩm “Thực vật Nam Bộ” đã mô tả gần 700 loài cây; J.B.L Pierre (1880) [44] trong “Thực vật rừng Nam Bộ” đã mô tả 800 loài cây gỗ và đến đầu thế kỷ XX có H Lecomte và cộng sự (1907 - 1952) [43] trong “Thực vật chí Đông Dương” đã lập khóa
mô tả các loài thực vật có mạch trên toàn lãnh thổ Đông Dương Đây là những công trình được đánh giá là nền tảng cơ sở cho các nghiên cứu hệ thực vật Việt Nam sau này Để biên soạn bộ sách này, các tác giả đã thu
Trang 15mẫu, định tên, lập khoá mô tả các loài thực vật có mạch trên toàn bộ lãnh thổ Đông Dương lúc bấy giờ
Bên cạnh đó còn có các bộ sách khác như: “Thực vật chí Campuchia, Lào và Việt Nam” (1960 - 1996),[39]; “Cây cỏ thường thấy ở Việt Nam” (1969 - 1976)[17],… Trong những tác phẩm này, các tác giả đã
giới thiệu và mô tả khá chi tiết các loài cùng với hình vẽ minh hoạ
Thập niên 90 của thế kỷ trước, các nhà thực vật Việt Nam và Liên bang Nga đã hợp tác nghiên cứu và hệ thống lại hệ thực vật Việt Nam Các công trình khoa học này được đăng trong Kỷ yếu cây có mạch của thực vật
Việt Nam ( Vascular Plants Synopsis of Vietnamese Flora) tập 1 - 2
(1996).[45] Trong số các tài liệu về thực vật học được xuất bản trong thời gian gần đây, đáng chú ý nhất phải kể đến bộ bộ sách của Phạm
Hoàng Hộ “Cây cỏ Việt Nam” (1991 - 1993, 1999 - 2000)[13],[14]
Đây là bộ sách được đánh giá là tài liệu đầy đủ nhất, dễ sử dụng nhất và góp phần quan trọng trong việc nghiên cứu thực vật ở Việt Nam Trong bộ sách này, tác giả đã thống kê, mô tả và kèm theo hình vẽ của hơn 11.600 loài và dưới loài của hệ thực vật Việt Nam Gần đây, tập
thể các nhà thực vật Việt Nam đã cùng nhau biên soạn 3 tập “Danh lục các loài thực vật Việt Nam” (2001, 2003, 2005)[2],[37] Mặc dù không
có phần mô tả chi tiết và hình vẽ nhưng thực sự đây là một công trình có giá trị khoa học cao thể hiện tính đa dạng, phong phú của hệ thực vật Việt Nam, là tài liệu quý giúp cho công tác nghiên cứu phân loại thực vật
Ngoài ra, còn có những bộ sách của các tác giả như: “Tóm tắt đặc điểm các họ cây thuốc Việt Nam” của Vũ Văn Chuyên (1976)[9], “1900 loài cây có ích ở Việt Nam” của Trần Đình Lý và cộng sự (1993) [22], “Từ điển cây thuốc Việt Nam” của Võ Văn Chi ( 2003 - 2004, 2012) [4], [6], “Cây cỏ
có ích ở Việt Nam” của Võ Văn Chi và Trần Hợp (1999, 2001) [8], “Tài
Trang 16nguyên cây gỗ Việt Nam” của Trần Hợp (2002) [15], “Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam” của Đỗ Tất Lợi (2003) [20], … Đây thực sự là những công
trình nghiên cứu có ý nghĩa về hệ thực vật Việt Nam trong đó quan tâm đến giá trị kinh tế của chúng
Bên cạnh các công trình nghiên cứu về hệ thực vật nói chung, còn có một số tài liệu về các họ riêng biệt đã được công bố như Orchidaceae Việt Nam (L Averyanov, 1994, 2003), Euphorbiaceae (Nguyễn Nghĩa Thìn,
1999, 2006), Annonaceae (Nguyễn Tiến Bân, 2000), Lamiaceae (Vũ Xuân Phương, 2000), Myrsinaceae (Trần Thị Kim Liên, 2002), Cyperaceae (Nguyễn Khắc Khôi, 2002) [theo 27], Tuy chỉ đề cập đến một họ nhất định nhưng đây là các công trình nghiên cứu chuyên sâu, trình bày đầy đủ các thông tin cần thiết về các loài trong họ Là những tài liệu quan trọng làm cơ
sở cho việc đánh giá về đa dạng phân loại của các họ thực vật Việt Nam
Bên cạnh đó, một số nghiên cứu về đa dạng thành phần loài: T Pócs (1965) khi nghiên cứu về hệ thực vật ở Miền Bắc Việt Nam đã thống kê được ở miền Bắc có 5.196 loài [theo 27] Năm 1969, Phan Kế Lộc đã thống
kê lại và có bổ sung nâng số loài ở miền Bắc lên 5.609 loài, 1.660 chi và 140
họ xếp theo hệ thống của Engler [theo 31]) Thái Văn Trừng (1978) nghiên cứu, phân tích và cho rằng hệ thực vật Việt Nam, gồm 7.004 loài, 1850 chi,
289 họ trong đó, ngành thực vật Hạt kín chiếm ưu thế với 6.366 loài, 1.727 chi và 239 họ 36 Nguyễn Nghĩa Thìn (1997) đã tổng hợp, chỉnh lý tên các loài thực vật theo hệ thống Brummitt (1992) và đã chỉ ra hệ thực vật Việt Nam hiện biết 11.178 loài, 2.582 chi, 395 họ thực vật bậc cao 28 Phan Kế Lộc (1998) [21] đã tổng kết hệ thực vật Việt Nam có 9.628 loài cây hoang dại có mạch, 2.010 chi, 291 họ, 733 loài cây trồng, như vậy tổng số lên tới 10.361 loài, 2.256 chi, 305 họ 21 Lê Trần Chấn và công sự (1999)[3] khi nghiên cứu một số đặc điểm của khu hệ thực vật Việt Nam đã ghi nhận 10.192 loài của 2.298 chi, 285 họ của 6 ngành thực vật 3 Trong phạm vi cả
Trang 17nước, Nguyễn Tiến Bân (2005) [1] đã thống kê và đi đến kết luận hệ thực vật Việt Nam hiện biết 11.603 loài và dưới loài, trong đó ngành Ngọc lan với 10.775 loài và dưới loài 1
Trong những năm gần đây có một số công trình nghiên cứu chuyên sâu về hệ thực vật bậc cao có mạch ở các vùng khác nhau của Việt Nam, như: Năm 1996, Phùng Ngọc Lan và cộng sự [19] khi nghiên hệ thực vật ở Cúc Phương đã xác định được 1.817 loài và dưới loài của 838 chi, 188 họ 19 Nguyễn Nghĩa Thìn và cộng sự (2004) [34], trên cơ sở kế thừa các công trình nghiên cứu trước đó và kết quả nghiên cứu đã lập danh lục khu hệ thực vật ở VQG Pù Mát, Nghệ An gồm 202 họ, 931 chi và 2.494 loài và dưới loài 34 Năm 2006, tác giả Nguyễn Nghĩa Thìn đã công bố tính đa dạng của hệ thực vật khu BTTN Na Hang, Tuyên Quang với 1.162 loài và dưới loài của 604 chi, 159 họ [32] Trần Minh Hợi và cộng sự (2008) công bố tính đa dạng sinh học của VQG Xuân Sơn, Phú Thọ với 1.217 loài và dưới loài của 680 chi, 180 họ [16] Hoàng Văn Sâm và cộng sự (2011) đã công bố khu hệ thực vật ở Pù Hu, Thanh Hóa với 1.389 loài của 65 chi,
173 họ 4725] Nguyễn Nghĩa Thìn và cộng sự (2008) công bố đa dạng sinh học VQG Hoàng Liên với 2432 loài của 898 chi, 209 họ [35], …
1.1.2.2 Nghiên cứu về Dương xỉ
Trên bình diện chung của cả nước, chưa có công trình nghiên cứu riêng lẽ nào về ngành Dương xỉ Ở khu vực Miền Trung, kết quả nghiên cứu từ tháng 11/1996 đến 11/1997 tại khu BTTN Pù Mát-Nghệ An, tác giả Nguyễn Thị Quý đã xác định được 90 loài và dưới loài của 42 chi thuộc 23
họ của ngành Dương xỉ 24
Tuy nhiên, trong các nghiên cứu về thực vật của cả nước, hay khu vực thì các nhà nghiên cứu hệ thự vật đã thống kê phân loại đáng giá thành phần loài của ngành Dương xỉ, như: Năm 1997, trên cơ sở tổng hợp, thống
Trang 18kế, Nguyễn Nghĩa Thìn đã công bố ngành Dương xỉ ở Việt Nam có 25 họ với 137 chi với 669 loài và dưới loài [28]
Trong cuốn “Cây cỏ Việt Nam” (tập 1), tác giả Phạm Hoàng Hộ
(1999) đã mô tả và vẽ hình của 22 họ, 139 chi với 712 loài và dưới loài của ngành Dương xỉ có mặt ở Việt Nam 14]
Đến năm 2001, Phan Kế Lộc trong “Danh lục các loài thực vật Việt Nam” (tập 1) đã xác định ở Việt Nam, ngành Dương xỉ có 29 họ với 135
chi với 718 loài và dưới loài 3737]
Về thành phần loài ngành Dương xỉ ở một số khu vực cụ thể, các nhà nghiên cứu khi đánh giá đa dạng thực vật đều thống kê phân loại thành phần loài và sắp xếp theo Brummit của ngành Dương xỉ, chẳng hạn: Năm
2006, Nguyễn Nghĩa Thìn đã xác định được 63 loài và dưới loài của 34 chi thuộc 17 họ của ngành Dương xỉ có mặt tại khu BTTN Na Hang, tỉnh Tuyên Quang 32 Nguyễn Nghĩa Thìn và cộng sự (2008) khi nghiên cứu đa dạng sinh học VQG Hoàng Liên đã xác định được 280 loài và dưới loài của
98 chi, 25 họ của ngành Dương xỉ [35] Khi nghiên cứu đa dạng sinh học tại VQG Xuân Sơn, tỉnh Phú Thọ, nhóm tác giả Trần Minh Hợi và cộng sự (2008) đã ghi nhận tại đây có 74 loài và dưới loài của 38 chi thuộc 22 họ của ngành Dương xỉ 1616], …
1.1.3 Nghiên cứu thực vật và nghiên cứu Dương xỉ ở Thanh Hóa
Các công trình nghiên cứu về thực vật chủ yếu là các đề tài phục vụ
dự án trồng và bảo vệ rừng Các đề tài này mới đề cập đến sự đa dạng thực vật ở một vùng địa lý nhất định, chưa có cuộc khảo sát tổng thể nào về thành phần thực vật của tỉnh Thanh Hóa
Một số công trình nghiên cứu tiêu biểu đã được tiến hành trong những năm gần đây đã đánh giá tính đa dạng thực vật của một khu hệ cụ thể và trong đó có ghi nhận, phân loại và thống kê thành phần loài của ngành Dương xỉ, chẳng hạn:
Trang 19Năm 2007, Đỗ Ngọc Đài và công sự khi nghiên cứu thực vật bậc cao có mạch trên núi đá vôi VQG Bến En, Thanh Hóa đã xác định được ngành Dương xỉ (Polypodiophyta) có 8 họ với 10 chi và 18 loài và dưới loài trong tổng số 412 loài và dưới loài của 267 chi, 110 họ của 4 ngành thực vật, trong đó 10
Hoàng Văn Sâm và cộng sự (2008) khi nghiên cứu VQG Bến En, Thanh Hóa đã công bố có 1.389 loài thuộc 650 chi, 173 họ của 6 ngành thực vật bậc cao có mạch, trong đó Polypodiophyta có 77 loài và dưới loài thuộc 41 chi và 22 họ 47
Năm 2010, tác giả Đỗ Ngọc Đài và cộng sự nghiên cứu tính đa dạng thực vật bậc cao có mạch ở khu BTTN Xuân Liên, tỉnh Thanh Hóa đã công bố tại đây bước đầu ghi nhận được 45 loài và dưới loài, 24 chi của 18 họ trong ngành Dương xỉ (Polypodiophyta) trên tổng số 952 loài và dưới loài,
517 chi, 162 họ của 6 ngành thực vật bậc cao có mạch 1111]
Năm 2011, Hoàng Văn Sâm và Nguyễn Hữu Cường khi nghiên cứu
đa dạng thực vật tại khu BTTN Pù Hu, Thanh Hóa đã ghi nhận được 894 loài thuộc 575 chi, 143 họ của 6 ngành thực vật bậc cao có mạch, trong đó, ngành Dương xỉ có 105 loài và dưới loài của 42 chi, 21 họ [25]
Năm 2013, Đậu Bá Thìn khi nghiên cứu thực vật bậc cao có mạch ở khu BTTN Pù Luông đã công bố có 1.533 loài và dưới loài của 715 chi,
181 họ của 6 ngành, trong đó đã xác định ngành Dương xỉ có 147 loài và dưới loài của 59 chi và 20 họ [27], …
Qua đó, cho thấy đến nay chưa có công trình nghiên cứu riêng lẽ về Dương xỉ trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa nói chung và huyện Ngọc Lặc nói riêng
Trang 201.2 TỔNG QUAN KHU VỰC NGHIÊN CỨU
1.2.1 Điều kiện tự nhiện
1.2.1.1 Vị trí địa lý
Ngọc Lặc là một huyện miền núi của tỉnh Thanh Hóa, cách trung tâm tỉnh khoảng 76 km về phía Tây Có tọa độ địa lý: Từ 19o55’ đến
20o17’ vĩ độ Bắc và 105o31’ đến 104o55’ độ kinh Đông
- Bắc tiếp giáp với các huyện Cẩm Thủy, Bá Thước -Thanh Hóa
- Nam giáp các huyện Thọ Xuân, Thường Xuân - Thanh Hóa
- Đông giáp các huyện Thọ Xuân, Yên Định
- Tây giáp huyện Lang Chánh - Thanh Hóa
1.2.1.2 Địa hình
Địa hình toàn huyện chủ yếu là đồi núi chia cắt chạy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam và thấp dần về phía Nam - Đông Nam, xen kẽ là các thung lũng thấp và sông suối Địa hình được chia làm 4 tiểu vùng:
a) Vùng địa hình thung lũng: Vùng này tương đối bằng phẳng nằm ở trung tâm huyện thuộc phạm vi thị trấn Ngọc Lặc và một phần các xã Ngọc Khê, Quang Trung, Thúy Sơn, Ngọc Liên và Ngọc Sơn Với diện tích khoảng hơn 5.000ha (chiếm 10,2% diện tích toàn huyện)
b) Vùng núi cao: Vùng này nằm phía Tây - Tây Bắc huyện với diện tích hơn 17.000ha (chiếm 34,7% diện tích toàn huyện), gồm các xã Thạch Lập, Mỹ Tân, Cao Ngọc, Vân Am và một phần thuộc các xã Thúy Sơn, Ngọc Khê
c) Vùng núi vừa và thấp: Với diện tích khoảng 11.000ha (chiếm 22,4%) nằm ở phía Nam huyện Ngọc Lặc thuộc địa bàn các xã Phùng Giáo, Phùng Minh, Nguyệt Ấn, Phúc Thịnh và Kiên Thọ
d) Vùng đồi thấp: Nằm ở phía Đông và Đông Bắc Ngọc Lặc, gồm các xã Đồng Thịnh, Ngọc Trung, Lộc Thịnh, Cao Thịnh, Lam Sơn, Minh Tiến, Minh Sơn và một phần thuộc các xã Quang Trung,
Trang 21Ngọc Liên và Ngọc Sơn diện tích hơn 16.000ha (chiếm 32,7% diện tích tự nhiên toàn huyện)
1.2.1.3 Tài nguyên đất và tài nguyên rừng
Theo báo cáo của huyện Ngọc Lặc (năm 2013) 38, diện tích tự nhiên khoảng 49.092,4ha (chiếm khoảng 4,4% diện tích toàn tỉnh) Trong đó, đất sản xuất nông nghiệp chiếm khoảng 32,38% diện tích đất tự nhiên, đất lâm nghiệp chiếm 43,19%, đất nuôi trồng thủy sản chiếm 0,75% diện tích đất tự nhiên
Về tài nguyên rừng: Hiện nay, rừng tự nhiên của huyện Ngọc Lặc chỉ còn khoảng 4.000ha tập trung ở các khu vực núi cao, chủ yếu là rừng nghèo, rừng tái sinh, các loài cây gỗ có giá trị như nghiến, chò chỉ, de, chẹo tía, vàu, nứa, luồng và một số loài dược liệu Rừng trồng
có khoảng 15.237ha chủ yếu trồng luồng, bạch đàn, keo tai tượng, keo lá chàm, keo lai và một số ít diện tích trông lim, lát Độ che phủ của rừng đạt khoảng 39,2%
1.2.1.4 Khí hậu, thủy văn
Ngọc Lặc có đặc điểm khí hậu thời tiết đặc trưng của miền núi Bắc Trung Bộ, khí hậu nhiệt đới gió mùa đông lạnh Về mùa đông chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc lạnh và ít mưa; mùa hè chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Nam mưa nhiều và có những đợt gió Tây khô nóng
Nhiệt độ trung bình năm 23 - 24oC, mùa đông nhiệt độ trung bình tháng 1 khoảng 15 - 16oC có nơi dưới 14oC; mùa hè nhiệt độ trung bình tháng 7 khoảng 28 - 30oC cao nhất tới 38 - 40oC Tổng tích ôn trong năm 8300-8500oC, độ ẩm không khí trung bình năm 86%
Lương mưa trung bình hàng năm khá cao 1600 - 1700mm nhưng phân bố không đều Lương mưa chủ yếu tập trung vào tháng 5 đến tháng
10 (chiếm khoảng 80 - 85% lượng mưa cả năm) Lương mưa trung bình các tháng từ 14 - 18mm
Trang 22Trên địa bàn huyện, mạng lưới dòng chảy mặt gồm nhiều sông, suối lớn nhỏ phân bố rộng khắp kết hợp với công trình thủy lợi hồ, đập là nguồn cung cấp nước chính cho sản xuất và sinh hoạt của dân cư Bao gồm các sông: Sông Âm (bắt nguồn từ núi Bù Kang biên giới Việt - Lào với chiều dài khoảng 79 km chảy qua Ngọc Lặc đổ vào sông Chu), sông Câu Chày (từ dãy núi Đèn - Bá Thước dài khoảng khoảng 76 km chảy qua Ngọc Lặc
đổ vào sông Mã tại ngã ba Bông), sông Hép (bắt nguồn từ núi Trèm thượng nguồn hồ Trung Tọa - xã Quang Trung dài khoảng 28,5 km) và sông Chu dài khoảng 0,5 km
Đặc điểm khí hậu, thời tiết thuận lợi cho sự phát triển thảm thực vật nhiệt đới đa dạng
1.2.2 Điều kiện kinh tế-xã hội
1.2.2.1 Dân số, lao động, việc làm và thu nhập
Theo số liệu thống kê năm 2012 (theo 38), toàn huyện Ngọc Lặc có
22 đơn vị hành chính trực thuộc gồm 21 xã và 1 thị trấn Dân số huyện Ngọc Lặc có 137.765 người (chiếm khoảng 3,9% dân số toàn tỉnh) với 16 dân tộc anh em cùng chung sống Trong đó dân tộc Mường chiếm 70,53%, dân tộc Kinh chiếm 27,3%, dân tộc Dao chiếm 1,1%, dân tộc Thái chiếm 0,85% còn các dân tộc khác chiếm 0,22% Phần lớn dân cư sống quần tụ rãi rác theo các bản làng
Dân cư trong độ tuổi lao động chiếm khoảng 63% tổng dân số (khoảng 87.341 người đã qua giáo dục trung học cơ sở, trung học phổ thông) Lao động trong ngành nông nghiệp chiếm khoảng 76% tổng số lao động; còn lại là các ngành nghề khác Hầu hết lao động chưa được qua đào tạo nghề nên năng suất và chất lượng sản phẩm thấp dẫn đến thu nhập bình quân thấp (bình quân thu nhập đầu người toàn huyện đạt 13,84 triệu đồng/người/năm)
Trang 231.2.2.2 Sản xuất nông - lâm - ngư nghiệp
Theo số liệu thống kê năm 2012, cơ cấu sản xuất Nông lâm thủy sản- Công nghiệp và xây dựng - Dịch vụ và thương mại của huyện tương ứng là 51,3% - 16,5% - 32,2%; Tổng giá trị của 3 ngành đạt 465.241 triệu đồng
1.2.2.3 Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và xây dựng
Trong những năm qua, các ngành nghề sản xuất chủ yếu gồm khai thác khoáng sản, khai thác và sản xuất vật liệu xây dựng (đá ốp, đá xây dựng, gạch ngói,…) sản xuất hàng tiểu thủ công nghiệp xuất khẩu chủ yếu dựa trên cơ sở tài nguyên có sẵn và nguyên liệu là sản phẩm được khai thác, được sản xuất trên địa bàn Hoạt động chủ yếu sử dụng trang thiết bị kỹ thuật và công nghệ lạc hậu nên chưa khai thác hết thế mạnh của địa phương
Trên địa bàn huyện hiện đang triển khai dự án Nhà máy xi măng Thanh Sơn, Nhà máy chế biên phôi thép Cao Ngọc; ngoài ra, Khu công nghiệp Quang Trung đang được xây dựng dự án; hiện đang xây dựng cụm công nghiệp Cao Thịnh-Lộc Thịnh, cụm công nghiệp Lam Sơn, cụm công
nghiệp Ngọc Sơn để thu hút các dự án đầu tư sản xuất công nghiệp
1.2.2.4 Cơ sở hạ tầng
Giao thông vận tải: Đến hết năm 2012, tổng chiều dài mạng lưới
giao thông (quốc lộ, tỉnh lộ, đường huyện và đường xã) trên địa bàn huyện có 599,5 km, trong đó có 43,7 km đường quốc lộ và đường Hồ Chí Minh;
14 km đường tỉnh lộ; 192,2 km đường tuyến huyện và 349,6 km đường lien xã
Y tế: Mạng lưới cơ sở y tế được quan tâm đầu tư, từng bước đáp ứng
như cầu khám chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe ban đầu của nhân dân Bình quân có 6 bác sĩ/vạn dân và gần 36 giường bệnh/vạn dân; 100% các xã có trạm y tế và có 16/22 trạm có bác sĩ; 100% thôn bản có y tá bản
Trang 24Giáo dục và Đào tạo: Có hệ thống giáo dục và đào tạo từ THPT
đến bậc giáo dục Mầm non đầy đủ và được đầu tư đúng mực Đến nay đã có 100% số xã, thị trấn trong huyện đã hoàn thành phổ cập giáo dục tiểu học, THCS
Văn hóa-Thể dục thể thao: Các hoạt động văn hóa, thông tin được duy
trì thường xuyên, ngày càng phong phú về nội dung và hình thức Tỷ lệ các thôn bản có Nhà sinh hoạt cộng đồng đạt 43,8%; 100% các thôn bản có đội văn nghệ quần chúng Các hoạt động TDTT được quan tâm, chú trọng đầu tư và thu hút được đông đảo người dân tham gia Toàn huyện có 319 sân bóng chuyên, 28 sân bóng đá, 81 sân cầu lông, 74 bàn bóng bàn Số người tập luyện TDTT tăng nhanh Ngoài ra, một số môn truyền thống như kéo co, bắn
nỏ, ném cũn được phục hồi
Trang 25Chương 2 ĐỐI TƯỢNG - NỘI DUNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Toàn bộ các loài Dương xỉ ở một số xã, thị trấn (Thị trấn Ngọc Lặc, xã Ngọc Khê, Quang Trung, Thạch Lập, Cao Ngọc, Thúy Sơn, Ngọc Khê, Nguyệt Ấn, Phúc Thịnh, Kiên Thọ, Lộc Thịnh, Minh Sơn, Lam Sơn, Ngọc Trung) huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa
2.2 Thời gian nghiên cứu
Đề tài được tiến hành từ tháng 02 năm 2013 đến tháng 9 năm 2014 Tiến hành thu mẫu thực địa trong 3 đợt, mỗi đợt kéo dài từ 8 đến 10 ngày,
2.3 Nội dung nghiên cứu
- Lập bảng danh lục các loài thuộc ngành Dương xỉ (Polypodiophyta) ở khu vực nghiên cứu;
- Phân tích tính đa dạng thực vật về các mặt:
+ Đa dạng thành phần loài;
+ Đa dạng yếu tố địa lý;
+ Đa dạng dạng sống;
+ Đa dạng giá trị sử dụng;
+ Đa dạng sinh cảnh phân bố
Trang 262.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Phương pháp nghiên cứu điều tra thực địa
Quy trình điều tra, nghiên cứu thực địa áp dụng theo phương pháp
được Nguyễn Nghĩa Thìn giới thiệu trong “Cẩm nang nghiên cứu đa dạng sinh vật” (1997) [28] và “Các phương pháp nghiên cứu thực vật” (2008) [33]
2.4.1.1 Dụng cụ và trang thiết bị phục vụ khảo sát thực địa
Các trang thiết bị xác định vị trí: bản đồ khu vực nghiên cứu tỷ lệ 1/25.000, máy ảnh
Các vật dụng để thu mẫu: Nhãn, dây buộc, kéo cắt cành, nhãn ghi mẫu vật, bút chì ghi nhãn, túi đựng mẫu tạm thời, kẹp mắt cáo, cồn công nghiệp, …
2.4.1.2 Xác định điểm và tuyến thu mẫu
Việc xác định điểm và tuyến thu mẫu được thực hiện theo phương pháp được ghi trong tài liệu của Nguyễn Nghĩa Thìn (1997) [28] mô tả, cụ thể: Dựa vào bản đồ của huyện Ngọc Lặc và đặc điểm địa hình, chọn 4 tuyến nghiên cứu đại diện cho 4 kiểu địa hình là vùng thung lũng (tại Thị trấn Ngọc Lặc, xã Ngọc Khê và Quang Trung), vùng núi cao (tại xã Thạch Lập, Cao Ngọc, Thúy Sơn và Ngọc Khê), vùng núi vừa và thấp (tại xã Nguyệt Ấn, Phúc Thịnh và Kiên Thọ) và vùng đồi thấp (tại xã Lộc Thịnh, Minh Sơn, Lam Sơn và Ngọc Trung) [38] Các điểm và tuyến nghiên cứu
đi qua các sinh cảnh khác nhau đặc trưng cho khu vực nghiên cứu
2.4.1.3 Phương pháp thu mẫu và xử lý sơ bộ ngoài thực địa
Nguyên tắc thu mẫu theo tài liệu của Nguyễn Nghĩa Thìn (1997) [28] và Klein R.M., Klein D.T (1975) 18 Kết quả thu được hơn 198 mẫu các loài thực vật thuộc ngành Dương xỉ (Polypodiophyta)
Các mẫu thu có đủ các bộ phân dinh dưỡng, sinh sản đã được gắn số hiệu và ghi lại các thông tin sơ bộ ngoại thực địa Các mẫu nhỏ được bỏ
Trang 27vào túi nilon kín có kẹp miệng, còn các mẫu khác được gói trong tờ giấy báo xếp thành chồng và cho vào túi nilon lớn có chứa dung dịch pha cồn để bảo quản; hoặc mẫu thu được kẹp trong giấy báo khổ A3 và kẹp tạm thời bằng kẹp mắt cáo bằng gỗ
Chụp ảnh: Song song với quá trình thu mẫu, sử dụng máy ảnh để ghi lại hình ảnh của các loài (ghi lại số hiệu mẫu cùng với số thự tự ảnh trong
sổ tay để tiện việc tra cứu sau này) và các sinh cảnh cùng với những hoạt động của nhóm nghiên cứu trong quá trình tác nghiệp thu mẫu thực địa
2.4.2 Phương pháp xử lý và phân tích mẫu trong phòng thí nghiệm
2.4.2.1 Xử lý mẫu
Các mẫu thu thập từ thực địa được mang về phòng thí nghiệm tiến hành xử lý, phân tích và làm tiêu bản phục vụ quá trình nghiên cứu và lưu trữ
Ép mẫu: Trước khi sấy, mẫu được ép phẳng trên giấy báo dày, đảm
bảo toàn bộ phiến lá được duỗi hoàn toàn, không bị quăn mép, các bộ phận của hoa, quả được mở hoặc bổ ra để tiện chô việc phân tích, ép và sấy mẫu
Tẩm và sấy mẫu: Sau khi mẫu được xử lý sơ bộ ở ngoài thực địa,
tiếp tục xử lý khô tại phòng Thực vật của khoa Sinh học - trường Đại học Vinh Các mẫu tiêu bản đã được sấy khô và ép phẳng, sau đó trình bày và khâu đính trên bìa giấy cứng crôki kích thước 30 cm x 42cm
Tự nhiên
Trang 28Đồng thời với việc xử lý mẫu thành những tiêu bản đạt yêu cầu, tiến hành xác định tên loài, thực hiện theo trình tự gồm các bước như sau:
Xác định tên loài: Trong quá trình tiến hành xác định tên khoa học
cần tuân theo các nguyên tắc:
- Phân tích từ tổng thể bên ngoài đến chi tiết bên trong
- Phân tích đi đôi với ghi chép và vẽ hình
- Phân tích đi đôi với việc tra khoá xác định
- Hoàn toàn trung thực, khách quan với mẫu thực
- Khi tra khoá luôn đọc từng cặp đặc điểm đối nhau cùng một lúc để
dễ phân định các cặp dấu hiệu
Ngoài ra, còn sử dụng các tài liệu khác như:
- Thực vật chí Vân Nam (1977 - 1997) 4242]
- Thực vật chí Đông Dương (Flore générale de l’ Indo-chine, Lecomte H., 1907 - 1952) 43
- Thực vật chí Cam-pu-chia, Lào, Việt Nam (Flore du Cambodge, du Laos et du Vietnam, Aubréville A et al., 1960 - 1996) 39
Ngoài ra, những mẫu khó xác định, chúng tôi đã nhờ sự trợ giúp của các chuyên gia
2.4.2.3 Chỉnh lý tên khoa học và xây dựng danh lục
Kiểm tra tên khoa học: Khi đã có đầy đủ tên loài, tiến hành kiểm tra
lại các tên khoa học để đảm bảo tính hệ thống, tránh sự nhầm lẫn và sai sót Điều chỉnh số lượng họ và chi theo cách sắp xếp của Brummitt trong
“Vascular Plant Families and Genera” (1992)[40], điều chỉnh tên loài theo các tài liệu “Sách tra cứu tên cây cỏ Việt Nam” (Võ Văn Chi, 2007)[5],
“Danh lục các loài thực vật Việt Nam” (tập 1, 2001) 37
Xây dựng bảng danh lục thực vật: Bảng danh lục thực vật được sắp
xếp thứ tự theo Brummitt (1992) [40], danh lục ngoài tên khoa học và tên
Trang 29Việt Nam của các loài còn ghi các thông tin khác gồm: dạng sống, yếu tố
địa lý, sinh cảnh phân bố và giá trị sử dụng
2.4.3 Phương pháp đánh giá đa dạng của hệ thực vật
2.4.3.1 Đa dạng về thành phần loài
Thực hiện theo tài liệu của Nguyễn Nghĩa Thìn được giới thiệu trong
cuốn “Các phương pháp nghiên cứu thực vật” (2008) 33: Tiến hành thống
kê, phân tích số loài trong mỗi họ, mỗi chi, đánh giá tính đa dạng loài của các chi (xác định chi giàu loài, tính tỷ lệ % số loài của các chi so với toàn
bộ của địa điểm nghiên cứu)
2.4.3.2 Đa dạng về yếu tố địa lý
Căn cứ vào sự phân bố của các loài thực vật, tiến hành xác định các yếu tố địa lý của các loài ngành Dương xỉ (Polypodiophyta) theo tài liệu của Lê Trần Chấn (1999)[3] và có chỉnh lý theo sách của Nguyễn Nghĩa Thìn (2008) 33 Cụ thể:
Bảng 2.1 Các yếu tố địa lý thực vật của hệ thực vật Việt Nam
Trang 30Tên yếu tố Ký hiệu
Nhóm cây chồi trên
Những cây gỗ, dây leo, thảo, bì sinh, ký sinh có chồi tồn tại
nhiều năm cách đất từ 25 cm trở lên Gồm các dạng sống:
Ph Phananerophytes
Trang 31Dạng sống Ký hiệu
Nhóm cây chồi sát đất
Gồm những cây có chồi cách đất 0-25 cm, mùa bất lợi
thường được tuyết hay lá khô che phủ
Ch Chamaephytes
Nhóm cây chồi nửa ẩn
Cây có chồi nằm dưới, ngay sát mặt đất, mùa bất lợi
thường được tuyết hay lá khô che phủ
Hm Hemicryptophytes
Nhóm cây chồi ẩn
Cây có chồi nằm sâu trong đất (hoặc trong bùn, nước),
mùa bất lợi phần khí sinh tàn rụi hết nhưng còn thân
ngầm ở dưới đất, sẽ tái sinh vào mùa thuận lợi sau đó
Cr Cryptophytes
Nhóm cây chồi một năm
Cây chỉ sinh trưởng, ra hoa kết quả trong vòng một năm rồi
chết, chỉ còn hạt để duy trì sang mùa thuận lợi sau đó
Th Therophytes
Trên cơ sở đó tiến hành lập phổ dạng sống Dựa vào đó đánh giá mức độ đa dạng của điều kiện sống cũng như thấy được mức độ tác động của các nhân tố đối với hệ thực vật
2.4.3.3 Đa dạng về giá trị sử dụng
Tiến hành thống kê giá trị sử dụng của các loài Dương xỉ dựa
vào các tài liệu chuyên ngành, như: “Từ điển cây thuốc Việt Nam” của
Võ Văn Chi (2012)[6], “Cây cỏ Việt Nam” của Phạm Hoàng Hộ (tập
1, 1999) 14, “Danh lục các loài thực vật Việt Nam” (tập 1, 2001) 37,
“Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam” của Đỗ Tất Lợi (2003) 20,
“Cẩm nang cây thuốc cần bảo vệ ở Việt Nam” của Nguyễn Tập (2007)
26, …
Trang 32Các tiêu chuẩn để đánh giá giá trị sử dụng được trình bày theo bảng 2.3
Bảng 2.3 Kí hiệu giá trị sử dụng của các loài thực vật
Cây dùng làm thuốc
Có giá trị trong việc chữa trị các bệnh tật, bồi bổ sức khỏe
theo kinh nghiệm cổ truyền hoặc hiện đại
M (Medicine)
Cây ăn được
Được sử dụng một phần để ăn (rau quả, lương thực, gia vị…)
hoặc để chăn nuôi gia súc
Ed (Edible)
Cây làm cảnh
Cây có hoa đẹp, thế đẹp, được sử dụng làm cảnh, trồng ở công
viên, đường phố hoặc cho bóng mát
Or (Ornamental)
Cây làm phân xanh
Các bộ phận như thân, lá, rễ được sử dụng để làm phân bón,
góp phần cải tạo đất
Fe (Fertilize)
2.4.3.4 Đa dạng về sinh cảnh phân bố
Tiến hành thống kê số lượng họ, chi, loài theo các sinh cảnh phân bố trong quá trình khảo sát thực địa và thu thập mẫu vật để so sánh sự khác nhau trong sự phân bố theo sinh cảnh của ngành Dương xỉ
Trang 33Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1 Thành phần loài Dương xỉ tại huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa
Qua điều tra, phân loại bước đầu đã xác định được 97 loài và dưới loài của 46 chi thuộc 19 họ trong ngành Dương xỉ (Polypodiophyta), được trình bày tại Bảng 3.1
Bảng 3.1 Danh lục các loài Dương xỉ tại huyện Ngọc Lặc, Thanh Hóa
TT Tên khoa học Tên Việt Nam Dạng sống
Yếu
tố địa
lý
Phân
bố theo sinh cảnh
Công dụng
Fam 1 Adiantaceae Ráng vệ nữ
1 Adiantum caudatum L Ráng vệ nữ có đuôi Hp 4.3 2, 3 M
2 Adiantum diaphanum Blume Ráng vệ nữ trong
suốt
3 Adiantum flabellatum L Ráng vệ nữ quạt Hp 4.3 2, 3 M
4 Adiantum philippense L Ráng vệ nữ phi Hp 4.3 3, 5 M
5 Adiantum soboliferum Wall
ex Hook
6 Cheilanthes chusana Hook Ráng có môi chu Hp 4 3, 5
Fam 2 Aspleniaceae Tổ điểu
7 Asplenium grevillei Wall ex
Hook & Grev
9 Asplenium normale D Don Tổ điều thường Ep 4.3 5 M
Fam 3 Azollaceae Bèo hoa dâu
10 Azolla caroliniana Willd Bèo hoa dâu carolin Th 2.2 6 Fe
Fam 4 Blechnaceae Ráng lá dừa