Ở Việt Nam trong một thời gian dài, chúng ta mới chỉ quan tâm nghiên cứu về thành phần loài côn trùng bắt mồi, vai trò của một số loài quan trọng cùng với các đặc điểm sinh học, sinh th
Trang 1- -
NGUYỄN THỊ VÂN
THÀNH PHẦN CÔN TRÙNG BẮT MỒI TRÊN CÂY ĐẬU RAU Ở HUYỆN NAM ĐÀN TỈNH NGHỆ AN,
ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC, SINH THÁI LOÀI Coranus
KHỐNG CHẾ SÂU HẠI ĐẬU RAU LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP
NGHỆ AN, 2014
Trang 2- -
NGUYỄN THỊ VÂN
THÀNH PHẦN CÔN TRÙNG BẮT MỒI TRÊN CÂY ĐẬU RAU Ở HUYỆN NAM ĐÀN TỈNH NGHỆ AN, ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC, SINH THÁI CỦA LOÀI
NĂNG KHỐNG CHẾ SÂU HẠI ĐẬU RAU
LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP Chuyên ngành: Khoa học cây trồng
Mã số: 60 62 01 10
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Trương Xuân Lam
NGHỆ AN, 2014
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng đề tài nghiên cứu này là do tôi thực hiện, các kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa từng được sử dụng để bảo vệ một học vị hay một công trình nghiên cứu nào
Tôi xin cam đoan rằng, mọi thông tin trích dẫn sử dụng trong luận văn đều được ghi rõ các nguồn gốc, xuất xứ
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn thạc sỹ này, ngoài sự nỗ lực phấn đấu của bản thân, tôi còn nhận được rất nhiều sự giúp đỡ quý báu khác
Trước hết, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS TS Trương Xuân Lam
đã tận tình hướng dẫn và tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn cùng các thầy cô giáo trong khoa Nông Lâm Ngư đã nhiệt tình giảng dạy, cung cấp kiến thức bổ ích cho tôi trong suốt quá trình học tập tại trường Đại học Vinh
Xin chân thành cảm ơn các anh chị đồng nghiệp Trạm Bảo vệ thực vật huyện Nam Đàn, Trung tâm Bảo vệ thực vật vùng khu IV, lãnh đạo và bà con nông dân xã Nam Anh, Nam Đàn đã tạo điều kiện thuận lợi, giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện
đề tài
Xin chân thành cảm ơn tập thể lớp Cao học Khoa học cây trồng khóa 20 cùng bạn bè, người thân đã tạo điều kiện giúp đỡ, động viên khích lệ tôi trong thời gian học tập tại trường và thực hiện đề tài tốt nghiệp
Xin chân thành cảm ơn
Nghệ An, tháng 9 năm 2014
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Vân
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU I
Lý do chọn đề tài 1
Mục đích nghiên cứu 3
Đối tượng, phạm vi nghiên cứu và nội dung nghiên cứu 4
Đối tượng nghiên cứu 4
Phạm vi nghiên cứu 4
Nội dung nghiên cứu 4
Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 5
Ý nghĩa khoa học 5
Ý nghĩa thực tiễn 5
CHƯƠNG I TỔNG QUAN TÀI LIỆU 6
1.1 Cơ sở khoa học của đề tài 6
1.2 Tổng quan tài liệu 9
1.2.1 Tình hình nghiên cứu ở ngoài nước 9
1.2.1.1 Nghiên cứu về thành phần côn trùng bắt mồi 9
1.2.1.2 Nghiên cứu về thành phần loài của bọ xít bắt mồi (BXBM) 10
1.2.1.3 Nghiên cứu về đặc điểm hình thái và sinh học của một số loài BXBM 11
1.2.1.4 Nghiên cứu tập tính bắt mồi, phổ thức ăn và khả năng tiêu thụ vật mồi của loài bọ xít bắt mồi 13
1.2.2 Tình hình nghiên cứu ở trong nước 15
1.2.2.1 Nghiên cứu về thành phần côn trùng bắt mồi 15
1.2.2.2 Nghiên cứu về thành phần các loài bọ xít bắt mồi 16
1.2.2.3 Nghiên cứu về đặc điểm hình thái và sinh học của một số loài BXBM 17
1.2.2.4 Nghiên cứu về phổ thức ăn và khả năng tiêu thụ con mồi của một số loài bọ xít bắt mồi 19
1.2.2.5 Nghiên cứu ảnh hưởng của một số yếu tố sinh thái đến loài BXBM 21
1.3 Đặc điểm điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của tỉnh Nghệ An và huyện Nam Đàn 22
1.3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội tỉnh Nghệ An 22
1.3.2 Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội huyện Nam Đàn 23
CHƯƠNG II VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 26
2.1 Vật liệu nghiên cứu 26
2.2 Phương pháp nghiên cứu 27
2.2.1 Phương pháp thực nghiệm 27
2.2.1.1 Điều tra xác định thành phần côn trùng bắt mồi và vật mồi trên ruộng đậu rau 27
2.2.1.2 Điều tra diễn biến số lượng tập hợp côn trùng bắt mồi, loài BXBM Coranus fuscipennis và vật mồi của chúng (các loài sâu hại chính trên cây đậu rau)……….28
Trang 62.2.1.3 Nghiên cứu đặc điểm hình thái, sinh học của loài BXBM C fuscipennis
Reuter 29
2.2.1.4 Xác định khả năng ăn mồi của loài Coranus fuscipennis Reuter trong phòng thí nghiệm và thử nghiệm khả năng khống chế vật mồi trong nhà lưới 30
2.2.1.5 Nghiên cứu ảnh hưởng của một số loại thuốc bảo vệ thực vật đến BXBM Coranus fuscipennis Reuter 31
2.2.1.6 Phương pháp làm mẫu vật, bảo quản và định loại 32
2.2.2 Phương pháp xử lý số liệu 33
2.2.2.1 Chỉ tiêu theo dõi và phương pháp tính toán 33
2.2.2.2 Phần mềm xử lý số liệu 34
2.3 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 34
CHƯƠNG III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 35
3.1 Thành phần côn trùng bắt mồi trên đậu rau và vật mồi của chúng 35
3.2 Diễn biến mật độ tập hợp côn trùng bắt mồi, loài BXBM C fuscipennis Reuter và vật mồi của chúng (sâu hại chính) trên cây đậu rau vụ Đông năm 2013 tại Nam Đàn, Nghệ An 43
3.3 Đặc điểm hình thái, sinh học của bọ xít bắt mồi Coranus fuscipennis 49
3.3.1 Đặc điểm hình thái 49
3.3.2 Đặc điểm sinh học của loài bọ xít bắt mồi Coranus fuscipennis Reuter 54
3.4 Xác định khả năng ăn mồi của loài Coranus fuscipennis Reuter trong phòng thí nghiệm và thử nghiệm khả năng khống chế vật mồi trong nhà lưới 58
3.4.1 Xác định khả năng ăn mồi của loài C fuscipennis Reuter trong phòng thí nghiệm 58
3.4.2 Thử nghiệm khả năng khống chế của loài Coranus fuscipennis đối với một số loài sâu hại đậu rau trong điều kiện nhà lưới 60
3.5 Ảnh hưởng của một số loại thuốc hóa học đối với BXBM Coranus fuscipennis Reuter 63
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 67
Kết luận 67
Đề nghị 68
TÀI LIỆU THAM KHẢO 69
Trang 7DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
C fuscipennis: Coranus fuscipennis
M vitrata: Maruca vitrata
O indicata: Omiodes in dicata
C cephalonica Corcyra cephalonica
IPM: Quản lý dịch hại tổng hợp
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG SỐ LIỆU
Bảng 3.1 Thành phần côn trùng bắt mồi trên cây đậu rau và vật mồi của chúng tại Nam Đàn, Nghệ An vụ Đông năm 2013……… 36 Bảng 3.2 Tỷ lệ các họ, các loài côn trùng bắt mồi của sâu hại đậu rau vụ Đông
Bảng 3.3 Mức độ phổ biến của các loài côn trùng bắt mồi trên cây đậu rau vụ
Bảng 3.4 Diễn biến mật độ một số loài sâu hại chính và tập hợp côn trùng bắt mồi trên ruộng đậu rau vụ Đông 2013 tại Nam Đàn, Nghệ An……… 44
Bảng 3.5 Diễn biến mật độ loài C fuscipennis Reuter và một số loài sâu hại
chính trên ruộng đậu rau vụ Đông 2013 tại Nam Đàn, Nghệ An……… 47
Bảng 3.6 Kích thước các pha trứng và thiếu trùng của loài C fuscipennis Reuter 51 Bảng 3.7 Kích thước trưởng thành của loài C fuscipennis Reuter……… 52 Bảng 3.8 Thời gian phát dục các pha của BXBM C fuscipennis Reuter……… 54 Bảng 3.9 Thời gian sống của trưởng thành BXBM C fuscipennis Reuter … 56 Bảng 3.10 Khả năng đẻ trứng của cá thể cái BXBM C fuscipennis Reuter… 57 Bảng 3.11 Tỷ lệ trứng nở của trứng BXBM C fuscipennis Reuter ……… 58 Bảng 3.12 Khả năng ăn mồi của thiếu trùng BXBM C fuscipennis Reuter … 59 Bảng 3.13 Khả năng ăn mồi của trưởng thành BXBM C fuscipennis Reuter… 60
Bảng 3.14 Khả năng khống chế sâu cuốn lá đậu trong nhà lưới của BXBM
Trang 9DANH MỤC HÌNH
Hình 3.1 Các loài côn trùng bắt mồi phổ biến trên cây đậu rau vụ Đông năm
2013 tại Nam Đàn, Nghệ An………
42
Hình 3.2 Diễn biến mật độ tập hợp côn trùng bắt mồi và một số loài sâu hại chính trên ruộng đậu rau vụ Đông 2013 tại Nam Đàn, Nghệ An……… 45
Hình 3.2 Diễn biến mật độ loài C fuscipennis Reuter và một số loài sâu hại
chính trên ruộng đậu rau vụ Đông 2013 tại Nam Đàn, Nghệ An……… 48
Hình 3.4 Đặc điểm hình thái của trứng và thiếu trùng các tuổi của loài C fuscipennis Reuter 50 Hình 3.5 Trưởng thành và bộ phận sinh dục ngoài của loài C fuscipennis Reuter… 53 Hình 3.6 Vòng đời của loài bọ xít bắt mồi của loài C fuscipennis Reuter…… 55
Trang 13Theo Cục Trồng trọt, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2009) [5] diện tích trồng rau của cả nước là 735.335 héc ta, năng suất đạt 161,6 tạ/ha và sản lượng là 11,86 triệu tấn/năm Trong các chủng loại rau thì đậu rau có một vai trò rất quan trọng và được gieo trồng trên nhiều vùng chuyên canh rau ở nước ta Các loại đậu rau thường được trồng hiện nay như: đậu Hà Lan, đậu cove, đậu đũa, đậu ván, đậu rồng, đậu ngọt, đậu trạch Đây là những loại cây trồng mang lại giá trị kinh tế cao cho người nông dân Tuy nhiên, cũng như các loại cây trồng khác, việc sản xuất cây đậu rau còn gặp rất nhiều rủi ro do sự tấn công gây hại của nhiều loài sâu bệnh hại Chúng làm giảm năng suất, giá trị thương phẩm và chất lượng của cây đậu rau
Hiện nay, ở nhiều vùng chuyên canh rau nước ta nói chung, ở Nghệ An nói riêng, việc lạm dụng thuốc hóa học trừ sâu bệnh hại đang diễn ra rất phổ biến Trong
đó, cây đậu rau là loại cây trồng thể hiện rõ nhất, dễ nhìn thấy và tác động tới sức khỏe con người, vật nuôi trực tiếp, nhanh nhất Do thời gian sinh trưởng của cây không dài, sâu hại nhiều nên người dân trồng rau đã sử dụng nhiều loại thuốc hóa học có tính độc hại cao, có loại không rõ nguồn gốc với số lần phun thuốc trong một
vụ quá mức, thời gian cách ly không đảm bảo Chính vì vậy, ảnh hưởng của thuốc hóa học đã và đang để lại rất nhiều hậu quả trực tiếp cho người tiêu dùng, hơn thế thuốc còn xâm nhập vào đất, nước, tồn dư trong sản phẩm gây nên những ảnh hưởng lâu dài về sức khỏe của con người, phá vỡ cân bằng sinh thái và tiêu diệt nhiều loài côn trùng có ích trên đồng ruộng
Trang 14Xu hướng chính trong bảo vệ thực vật là quản lý tổng hợp dịch hại cây trồng (IPM) mà việc sử dụng biện pháp sinh học thay thế biện pháp sử dụng thuốc hoá học trừ sâu hại là then chốt, trong đó những hướng đang được ưu tiên, quan tâm và ứng dụng rộng rãi là bảo vệ, duy trì và lợi dụng các loài thiên địch, đồng thời nghiên cứu các biện pháp để nhân nuôi thả chúng ra ngoài đồng ruộng
Cho đến nay, đã có khá nhiều công trình nghiên cứu và sử dụng các nhóm thiên địch trong việc hạn chế mật độ các loài sâu hại trên cây rau nói chung và cây đậu rau nói riêng Một trong những nhóm thiên địch được quan tâm và nghiên cứu rộng rãi đó là nhóm côn trùng bắt mồi Theo Distant (1910) [32], trong nhóm côn trùng bắt mồi sâu hại đậu rau thì các loài bọ xít bắt mồi (BXBM) thuộc bộ Cánh khác Heteroptera được biết là những loài thiên địch quan trọng trên nhiều cây trồng nông nghiệp Nhóm bọ xít bắt mồi chủ yếu phải kể đến các loài thuộc họ bọ xít ăn
sâu Reduviidae, loài thuộc phân họ Harpactorinae như bọ xít bắt mồi Coranus spiniscutis Reuter, Coranus fuscipennis Reuter, họ bọ xít giả ăn sâu Nabidae, các
loài thuộc phân họ Asopinae (họ bọ xít năm cạnh Pentatomidae) như: loài bọ xít nâu
viền trắng (BXNVT) Andrallus spinidens, các loài thuộc giống Cantheconidea, loài
bọ xít Orius sauteri (họ bọ xít hoa Anthocoridae) và loài bọ xít mù xanh Cyrtorhinus livipennis (họ bọ xít mù Miridae) Ở Việt Nam trong một thời gian dài,
chúng ta mới chỉ quan tâm nghiên cứu về thành phần loài côn trùng bắt mồi, vai trò của một số loài quan trọng cùng với các đặc điểm sinh học, sinh thái của chúng trên cây đậu tương, cây ngô, cây rau họ hoa thập tự, còn ít quan tâm nghiên cứu trên cây đậu rau
Huyện Nam Đàn là 1 trong những huyện có diện tích rau màu các loại khoảng
865 ha, trong đó đậu rau chiếm một phần diện tích không nhỏ, không những cung cấp cho người dân trong huyện mà còn là nguồn cung cấp cho các vùng xung quanh Một trong những nguyên nhân chủ yếu làm giảm năng suất đậu rau là do sâu bệnh phá hại Ở các vùng trồng đậu rau (đậu cove, đậu đũa, đậu ván, đậu trạch,…) thuộc huyện Nam Đàn thì xu hướng chính trong phòng trừ sâu hại đậu rau là sử dụng
Trang 15thuốc hóa học và đã trở thành thói quen rộng rãi Tuy nhiên, sử dụng thuốc hóa học
sẽ tạo ra các sản phẩm đậu rau không an toàn cho sức khỏe con người, gây hại đến
môi trường và mất cân bằng sinh thái Việc sử dụng các loại thuốc hóa học có độ
độc cao và ngày càng gia tăng số lần sử dụng thuốc trừ sâu hoá học không chỉ tiêu
diệt các loài sâu hại mà còn làm xuất hiện nhiều loài sâu hại nguy hiểm khác, một số
loài sâu hại thứ yếu gia tăng số lượng và trở thành các loài hại chủ yếu, làm suy
giảm tài nguyên thiên địch của dịch hại trong tự nhiên, nhiều loài côn trùng bắt mồi,
côn trùng ký sinh trước đây là loài phổ biến có vai trò tích cực trong điều hòa số
lượng sâu hại chính trên rau, đến nay hoặc là biến mất hoặc chỉ xuất hiện với số
lượng và tần suất rất thấp không còn phát huy vai trò trong đấu tranh với sâu hại
nhất là các loài thuộc nhóm bọ xít bắt mồi, bọ rùa và bọ cánh cứng bắt mồi khác
Hơn nữa, nhiều loài côn trùng bắt mồi sống sót sau khi phun thuốc, khả năng sinh
sản, tuổi thọ và tập tính bắt mồi bị ảnh hưởng nghiêm trọng Trong nhiều năm qua,
việc điều tra các loài thiên địch sâu hại đậu rau trong đó có các loài côn trùng bắt
mồi ở Nam Đàn vẫn chưa được tiến hành Để bổ sung thêm những dẫn liệu khoa học
về thành phần thiên địch côn trùng bắt mồi của sâu hại đậu rau và đặc điểm sinh học sinh
thái của loài phổ biến góp phần làm cơ sở khoa học đề xuất biện pháp phòng trừ tổng
hợp trên cây đậu rau, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: "Thành phần côn trùng
bắt mồi trên cây đậu rau tại huyện Nam Đàn tỉnh Nghệ An, đặc điểm sinh học, sinh
thái loài C fuscipennis Reuter và thử nghiệm khả năng khống chế sâu hại đậu rau "
Mục đích nghiên cứu
Xác định thành phần côn trùng bắt mồi trên cây đậu rau tại huyện Nam Đàn,
Nghệ An
Xác định đặc điểm sinh học, sinh thái của loài bọ xít bắt mồi (BXBM)
C fuscipennis Reuter, mối quan hệ với các loài sâu hại trên sinh quần ruộng đậu
rau và thử nghiệm khả năng khống chế của nó đối với một số loài sâu hại trên đậu
rau
Trang 16Đối tượng, phạm vi nghiên cứu và nội dung nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
Những loài côn trùng bắt mồi trong đó chú trọng các loài bọ xít bắt mồi
thuộc bộ Heteroptera; các loài sâu hại chủ yếu thuộc bộ cánh vẩy Lepidoptera là vật
mồi của chúng
Cây trồng: các loài đậu rau trồng phổ biến ở vùng nghiên cứu như: đậu côve, đậu
đũa
Phạm vi nghiên cứu
Điều tra, thu thập xác định thành phần loài, tần suất xuất hiện, mức độ phổ
biến của các loài côn trùng bắt mồi trên cây đậu rau
Xác định đặc điểm hình thái, sinh học, sinh thái, vai trò của loài bọ xít bắt
mồi Coranus fuscipennis Reuter, mối quan hệ giữa nhóm côn trùng bắt mồi và loài
Coranus fuscipennis với sâu hại chủ yếu thuộc bộ Lepidoptera hại trên cây đậu rau
dưới ảnh hưởng của điều kiện sinh thái
Nghiên cứu khả năng ăn mồi, ảnh hưởng của một số loại thuốc hóa học và
thử nghiệm khả năng khống chế sâu hại đậu rau của loài BXBM Coranus
fuscipennis trong điều kiện thực nghiệm ở điều kiện nhà lưới
Nội dung nghiên cứu
- Điều tra thành phần loài côn trùng bắt mồi, vật mồi, mức độ phổ biến, loài
phổ biến trên ruộng đậu rau tại Nam Đàn - Nghệ An vụ Đông 2013
- Điều tra diễn biến số lượng tập hợp côn trùng bắt mồi, loài BXBM
C fuscipennis Reuter và vật mồi của chúng (sâu hại chính) trên cây đậu rau vụ
Đông tại Nam Đàn, Nghệ An
- Nghiên cứu hình thái, một số đặc điểm sinh học và sinh thái học của loài
BXBM C fuscipennis Reuter
Trang 17- Nghiên cứu khả năng ăn mồi, ảnh hưởng của một số loại thuốc hóa học và
thử nghiệm khả năng khống chế sâu hại đậu rau của loài Coranus fuscipennis trong
điều kiện nhà lưới
Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
- Bổ sung thêm các dẫn liệu khoa học một cách đầy đủ về đặc điểm hình
thái, đặc điểm sinh học, sinh thái học, vai trò của loài bọ xít bắt mồi Coranus fuscipennis Reuter trong điều kiện ở tỉnh Nghệ An
Trang 18CHƯƠNG I TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Cơ sở khoa học của đề tài
Trong quần xã, tập hợp các quần thể cùng sinh vật sống trong một vùng nhất định được hình thành trong một quá trình lịch sử lâu dài, liên hệ với nhau do tính chất chung nhất các đặc trưng về sinh thái, biểu hiện đặc tính thích nghi giữa sinh vật và ngoại cảnh Do đó quần xã không phải là sự kết hợp máy móc giữa các loài sinh vật sống trong một sinh cảnh nhất định mà có liên hệ với nhau bởi những quan
hệ sinh thái, đặc biệt là quan hệ về thức ăn và nơi ở, được biểu hiện bằng những quan hệ tương hỗ hay đối địch Các quan hệ này được hình thành trong quá trình tiến hóa Các loài dịch hại trong hệ sinh thái đa dạng, bên cạnh các quan hệ hỗ trợ nhau, giữa chúng còn có mối quan hệ cạnh tranh đối kháng Những mối quan hệ này
đã có tác dụng lớn kìm hãm sự phát triển quá mức về số lượng của một loài, đã làm giảm được những trận dịch bùng phát trên những vùng rộng lớn Các quan hệ tương
hỗ hay đối địch giữa các sinh vật trong quần xã rất phức tạp, đa dạng, được hình thành từ những mối quan hệ trong loài và ngoài loài Các thành phần của quần xã có mối quan hệ tương đối chặt chẽ với nhau bởi mối quan hệ dinh dưỡng được thể hiện bằng chuỗi thức ăn và lưới thức ăn, đó cũng là điều kiện để duy trì sự cùng tồn tại của các loài trong quần xã Một trong những mối quan hệ dinh dưỡng rất quan trọng tạo sự ổn định đó là quan hệ vật ăn thịt và con mồi Sự liên quan mật thiết giữa sâu hại và côn trùng bắt mồi ăn thịt có ý nghĩa quan trọng đối với lý thuyết và thực tiễn
Do đó việc xem xét các mối quan hệ cũng như hiểu biết các đặc tính sinh học của chúng là cơ sở cho các biện pháp phòng trừ dịch hại cây trồng theo hướng bảo vệ đa dạng sinh học, duy trì tính ổn định của hệ sinh thái và cân bằng sinh học
Số lượng cá thể của những loài côn trùng bắt mồi, côn trùng ký sinh trong tự nhiên là tài nguyên vô giá, dưới những điều kiện cho phép chúng luôn có vai trò hạn chế tối đa số lượng sâu hại Theo Vũ Quang Côn và Trương Xuân Lam (2001) [2]
Trang 19bảo vệ, phát triển và lợi dụng còn lớn hơn rất nhiều lần những quần thể được nhân nuôi và thả ra từ các phòng thí nghiệm sinh học
Cho đến nay, Việt Nam đã có một số thành công trong việc nghiên cứu ứng dụng và nhân thả một số loài côn trùng bắt mồi trong phòng trừ sâu hại một số loài
cây trồng, như sử dụng bọ xít bắt mồi (Orius sauteri) phòng trừ bọ trĩ hại dưa chuột, lợi dụng bọ xít hoa bắt mồi Cantheconidea furcellata phòng trừ sâu hại trên cây
bông đay (Vũ Quang Côn và ctv, 1994) [1]
Trên nhiều vùng rau chuyên canh ở nước ta, sự tăng nhanh cả về mức độ và phạm vi gây hại của sâu bệnh hại có liên quan với việc áp dụng các khoa học kỹ thuật tiến bộ, như sử dụng giống mới, mở rộng canh tác, sử dụng phân bón và đặc biệt việc lạm dụng thuốc hóa học trừ sâu Trong đó cây đậu rau là loại cây trồng thể hiện rõ nhất, dễ nhìn thấy và tác động tới sức khỏe con người, vật nuôi trực tiếp, nhanh nhất Việc phòng trừ sâu hại trên cây đậu rau bằng biện pháp phun thuốc hóa học chỉ có tác dụng nhìn thấy sâu hại chết ngay, tuy nhiên nó sẽ gây ra những hậu quả nghiêm trọng cho sức khỏe cộng đồng
Theo Con Vu Quang, Chau Nguyen Ngoc (2001) [29] cho đến nay việc thương mại hóa các loại thuốc trừ sâu sinh học được sản xuất từ các tác nhân bản địa hầu như chưa được phát triển, ngoại trừ một số thuốc như NPV, BT được sản xuất và tiêu thụ ở mức độ thấp Ngoài những cản trở trên, sự thiếu các nguồn đầu tư chủ chốt là nguyên nhân rất căn bản Vì vậy, chúng ta phải tìm ra những biện pháp bảo vệ cây đậu rau nhưng hạn chế thấp nhất sự gây ô nhiễm môi trường, giảm sử dụng thuốc bảo vệ thực vật mà vẫn đem lại hiệu quả kinh tế cao
Trên cơ sở xem xét hàng loạt dẫn liệu về sự biến đổi số lượng và các dạng cơ chế điều hòa số lượng, Sơ đồ Viktorov năm 1967 đã tổng hợp khái quát thành sơ đồ chung của biến động số lượng côn trùng Một trong những đặc trưng của quần thể là mật độ cá thể trong quần thể được xác định bởi sự tương quan giữa các quá trình bổ sung thêm và giảm bớt số lượng cá thể Tất cả là các yếu tố gây biến động đều tác động đến quá trình này khi chúng làm thay đổi sức sinh sản, tỷ lệ tử vong của quần
Trang 20thể và sự di cư của các cá thể Các yếu tố vô sinh mà trước hết là điều kiện thời tiết, khí hậu tác động đến côn trùng một cách trưc tiếp hoặc gián tiếp thông qua thức ăn, thiên địch Sự điều hòa thông qua các mối quan hệ tác động qua lại đó đã phản ánh ảnh hưởng của mật độ lên sức sinh sản, tỷ lệ tử vong và di cư, trong đó tồn tại mối quan hệ trong loài và bằng sự thay đổi tích cực của thiên địch và đặc điểm của thức
ăn Sự tồn tại của các mối quan hệ này đảm bảo những thay đổi đền bù cho sự bổ sung và giảm bớt số lượng cá thể của quần thể Chính sự tác động thuận nghịch đó
đã san bằng những sai lệch ngẫu nhiên trong mật độ quần thể (Vũ Quang Côn, Trương Xuân Lam, 2007) [4]
Số lượng của côn trùng đặc biệt là các loài sâu hại thường có sự dao động từ thế hệ này sang thế hệ khác Số lượng lần sau gia tăng có khi đến hàng trăm lần và kéo dài một thời gian rồi lại đột ngột giảm xuống đến mức thấp nhất, duy trì ở mức
độ đó trong một thời gian Sự sinh sản hàng loạt của các loài sâu hại phần lớn không tiếp diễn theo tiến trình tự nhiên Quá trình biến đổi xảy ra do tác động của các yếu
tố môi trường, chủ yếu là các yếu tố thời tiết, khí hậu và mối quan hệ vật ăn thịt - vật mồi Ở côn trùng ăn thịt, sự điều chỉnh số lượng quần thể quan trọng là sự cạnh tranh trong loài Hiện tượng ăn thịt lẫn nhau thường xuất hiện trong quần thể chủ yếu do thiếu thức ăn Sự tác động đó dẫn đến sự ổn định không bền vững của số lượng quần thể Vai trò quan trọng của vật ăn thịt được coi là yếu tố điều hòa số lượng côn trùng và được thể hiện ở hai phản ứng đặc trưng là phản ứng số lượng và phản ứng chức năng Hiện nay có hàng loạt dẫn liệu thực tế xác nhận khả năng điều hòa của các cơ chế điều hòa ở các mức độ khác nhau của quần thể Cơ chế đó được thưc hiện liên tục kế tiếp nhau tham gia tác động khi mật độ quần thể được điều hòa vượt ra khỏi giới hạn hoạt động của yếu tố điều hòa trước đó (Trương Xuân Lam , 2002) [10]
Xu hướng chính trong bảo vệ thực vật là quản lý tổng hợp dịch hại cây trồng
mà việc sử dụng biện pháp sinh học thay thế biện pháp sử dụng thuốc hóa học trừ sâu hại là then chốt, trong đó những hướng đang được ưu tiên, quan tâm và ứng
Trang 21dụng rộng rãi là bảo vệ, duy trì và lợi dụng các loài thiên địch, đồng thời nghiên cứu các biện pháp để nhân nuôi thả chúng ra ngoài đồng ruộng
Trong những năm qua, chương trình quản lý dịch hại tổng hợp (IPM) trên các cây trồng như: cây lúa, cây bông, đậu tương, cây ngô, cây lạc và cây rau (chủ yếu cây rau họ hoa thập tự) đã được áp dụng, tuy nhiên việc điều tra các loài côn trùng bắt mồi trong đó các loài bọ xít bắt mồi trên cây đậu rau chưa được tiến hành một cách có hệ thống (Trương Xuân Lam, 2005) [13] Do vậy, để phát triển biện pháp sinh học trong phòng chống sâu hại đạt hiệu quả chúng ta cần xác định thành phần thiên địch của chúng, xác định đặc điểm sinh học, sinh thái học của loài thiên địch
có ý nghĩa, đặc biệt các loài bắt mồi sâu hại trên các cây trồng trong hệ sinh thái đồng ruộng ở nước ta, đặc biệt nhóm loài bọ xít bắt mồi trên cây đậu rau Chúng không những góp phần duy trì tính đa dạng sinh học, sự cân bằng sinh thái, bảo vệ môi trường mà còn giảm thiểu số lần phun thuốc hóa học ở các vùng trồng rau
1.2 Tổng quan tài liệu
1.2.1 Tình hình nghiên cứu ở ngoài nước
1.2.1.1 Nghiên cứu về thành phần côn trùng bắt mồi
Cho đến nay, trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu về thiên địch của sâu hại rau thấy rằng thành phần của chúng khá phong phú, bao gồm các loài ký sinh, bắt mồi, nấm, vi khuẩn, virus trong đó loài bắt mồi đóng một vai trò quan trọng kiểm soát sâu hai trên đồng ruộng
Theo tài liệu tổng hợp của Lim (1986) [43], từ năm 1946 Thomson ghi nhận
có 48 loài, trong khi đó Goodwin (1979) đã liệt kê có hơn 90 loài thiên địch Ở Carolina (Mỹ), đã phát hiện 24 loài thiên địch trên rau họ hoa thập tự, trong đó có
23 loài bắt mồi và có 1 loài ký sinh, các loài bắt mồi đáng chú ý là:
Paederus fuscipes, Micrapis discolor, Chlaenius biscolor, Menochilus sexmaculata
(Alam 1992; Muckenfes el al., 1992) [27]
Theo Lo (1983) [46] ở Trung Quốc vào những năm 1976 – 1980 đã thu thập được 50 loài thiên địch trên rau cải trong số đó có 35 loài bắt mồi, có 12 loài bắt
Trang 22mồi thuộc bộ Coleoptera và loài Paederus fuscipes là phổ biến, chúng đóng vai trò
quan trọng trong khống chế sâu hại trên rau cải
1.2.1.2 Nghiên cứu về thành phần loài của bọ xít bắt mồi (BXBM)
Trên thế giới, các kết quả nghiên cứu về các loài BXBM phải kể đến những công trình nghiên cứu về thành phần loài có liên quan tới khu hệ BXBM ở vùng Đông Phương - Ấn Độ và các nước lân cận với Việt Nam mà điển hình là những nghiên cứu của các tác giả Ấn Độ như Distant (1910) [31,32] đã mô tả và phân loại hình thái 422 loài bọ xít bắt mồi, trong đó 322 loài thuộc họ bọ xít ăn sâu Reduviidae
Ở Anh, công trình nghiên cứu về thành phần loài bọ xít bắt mồi đã ghi nhận
56 loài bọ xít ăn sâu thuộc họ Reduviidae và xây dựng khóa định tên cho các loài này (China and Miller) [28]
Ishikawa Tadashi et al (2005) [37] công bố 6 loài bọ xít bắt mồi thuộc họ
Reduviidae lần đầu tiên phát hiện ở Nhật Bản đó là: Ploiaria zhengi Cai & Yiliyar,
2002 (Emisinae), Perates atromaculatus (Stoofl, 1871) (Peiratinae), Caunus noctulus Hsiao, 1977, Oncocephalus impudicus Reuter, 1882, Sastrapada robustoides P.V.Putshkov, 1987 (Stenopodainae) và Coranus spiniscutis Reuter,
1881 (Harpactorinae)
Ở Đông Dương, Vitalis (1919) [54] đã công bố 14 loài BXBM bao gồm họ Reduviidae có 11 loài thuộc 9 giống, họ Nabidae có 1 loài, họ Pentatomidae có 2
loài thuộc giống Cazira và Dalpada
Trung Quốc cho đến năm 1971, đã ghi nhận được 820 loài côn trùng bắt mồi trong đó có gần 200 loài thuộc nhóm BXBM (Price, 1975) [50]
Livingstone D et al (1992, 1998) [44], [45] đã xây dựng khóa phân loại cho phân họ và các giống của họ Reduviidae ở miền nam Ấn Độ, tác giả cũng đã mô tả
82 loài thuộc họ bọ xít ăn sâu Reduviidae và mô tả hình thái của một số loài thuộc giống ghi nhận mới Masaaki T., (1993) [47] trong 126 loài bọ xít trên cánh đồng
Trang 23ghi nhận được thì có 72 loài bọ xít bắt mồi được minh họa hình ảnh và mô tả một số con mồi của chúng
Khóa phân loại đến loài của 65 loài bọ xít bắt mồi thuộc 8 họ cũng đã được xây dựng và một số giống cũng đã được mô tả chi tiết và minh họa Tác giả cũng
mô tả 7 giống ghi nhận mới cho khu vực nghiên cứu Murugan C và Livingstone D(1995) [49]
Theo Yonglin Han et al (2005) [56], các loài thuộc giống Duriocoris Miller,
1940 ở Trung Quốc được nghiên cứu với 2 loài được ghi nhận, mô tả, minh họa và
xây dựng khoá định loại cho 3 loài của giống này Loài Duriocoris geniculatus đã
được mô tả lại như một loài mới
1.2.1.3 Nghiên cứu các đặc điểm hình thái và sinh học của một số các loài BXBM
Kết quả nghiên cứu của Distant (1910) [32] về mô tả hình thái của 322 loài thuộc họ bọ xít ăn sâu Reduviidae được coi là kết quả nghiên cứu đầu tiên về đặc
điểm hình thái các loài bọ xít Trong đó trưởng thành của 2 loài Coranus fuscipennis Reuter , Coranus spiniscutis Reuter cũng đã được mô tả
Miller (1956) [48] đã đưa ra một số dẫn liệu về đặc điểm hình thái con trưởng thành của 41 loài bọ xít bắt mồi thuộc họ Reduviidae, 4 loài thuộc họ Nabidae, 1 loài thuộc họ bọ xít nước Hydrometridae Đồng thời qua nghiên cứu về hình thái trứng của các loài này, tác giả đã lập nên khóa định loại cho 24 loài bọ xít bắt mồi thuộc họ Reduviidae Hình thái của thiếu trùng từ tuổi 1 đến tuổi 4 của 7 loài bọ xít thuộc họ này cũng đã được tác giả mô tả (Trương Xuân Lam, 2002) [15]
Kết quả nghiên cứu về hình thái trứng của các loài thuộc họ bọ xít ăn sâu đã được Vennison and Ambrose (1990) [53] nghiên cứu và cho thấy các loài BXBM thuộc họ này thường đẻ trứng tập trung, cấu tạo như hình giỏ cua với nắp giỏ tua ra Dựa vào hình thái trứng, tác giả cũng đã xây dựng khóa phân loại cho các loài thuộc
3 giống trong đó có các loài thuộc giống Coranus
Trang 24Kết quả nghiên cứu của Iman et al.(1986) [36] về đặc điểm sinh học của một
số loài BXBM trong đó có hai loài thuộc giống Coranus (Coranus fuscipennis Reuter và Coranus spiniscutis Reuter) cho thấy trong điều kiện phòng thí nghiệm
26-300C và độ ẩm 82,67 ± 2% thì giai đoạn thiếu trùng của 2 loài bọ xít này phát dục khoảng từ 30-35 ngày với thức ăn là một số loài sâu hại thuộc bộ cánh vẩy trên đậu tương và ngô
Vòng đời của BXNVT Andrallus spinidens (Asopinae: Pentatomidae) cũng
đã được Singh et al., (1989) [52] nghiên cứu với dẫn liệu về một số đặc điểm sinh
học của loài BXNVT Andrallus spinidens (Fabr.) Vật mồi để nuôi loài bọ xít bắt mồi này là sâu hại đậu tương Rivula sp ở trong phòng thí nghiệm tại Macthya
(Banglades) trong điều kiện nhiệt độ 24 - 300C, ẩm độ 75 - 80% cho thấy: vòng đời
của loài bọ xít nâu A spinidens từ khi trứng nở đến khi trưởng thành đẻ tương ứng
là 32 và 40 ngày
Trong điều kiện phòng thí nghiệm ở Ấn độ, Rao et al., (2006) [53] đã xác định được thời gian phát dục của trứng BXNVT là 5,8 ngày; thiếu trùng tuổi 1, 2 là 3,2 ngày; tuổi 3 là 4,4 ngày; tuổi 4 là 4,2 ngày và tuổi 5 là 4,6 ngày, vòng đời của BXNVT là 24,2 ngày
Kết quả nghiên cứu của Gupta et al., (2004) [33] khi nuôi Andrallus
spinidens ở điều kiện phòng thí nghiệm, 30 ± 20C, 70%, cho thấy BXNVT đẻ từ 4 đến 8 ổ trứng, số trứng/ ổ giao động từ 16 đến 71 quả, trung bình 41,2 trứng/ổ Với
thức ăn là loài sâu hại Chilo suppressalis ở điều kiện phòng thí nghiệm có nhiệt độ
23,18 ± 10C, ẩm độ 92,57 ± 2% thì tác giả Javadi et al., (2005) [40] cho biết 1 con
cái của loài Andrallus spinidens đã đẻ 241,66 ± 30,40 quả trứng
Theo kết quả nghiên cứu của Singh et al., (1989) [52], 1 con BXNVT cái đẻ
288 - 562 quả trứng gồm 5 - 9 ổ, trung bình 34 - 87 quả trứng/ổ
Theo Hideo Uematse (2006) [27] nuôi BXNVT ở nhiệt độ là 25°C, nuôi theo
nhóm 10 cá thể/ hộp và thức ăn là ấu trùng tuổi 3 - 5 của sâu khoang Spodoptera
Trang 25litura Kết quả cho thấy cứ 2 - 3 ngày BXNVT lại đẻ tiếp 1 ổ trứng, trung bình có
75,4 quả trứng/ ổ và tổng số 499 trứng/ 1 con cái Như vậy với nhiệt độ nuôi khác nhau, con mồi, số cá thể/hộp nuôi khác nhau thì sức sinh sản của BXNVT nói riêng
và BXBM nói chung khác nhau
Nghiên cứu ảnh hưởng của việc ghép đôi lên sự sinh sản và thời gian phát
dục của trứng loài bọ xít bắt mồi Coranus spiniscutis Reuter trong điều kiện phòng
thí nghiệm ở Ấn Độ cho thấy, khi 1 con cái được ghép đôi với 3 đến 4 con đực khác tuổi thì thời gian đẻ trứng ngắn hơn so với thời gian đẻ trứng của một con cái được ghép đôi với một con đực cùng tuổi nhưng thời gian phát dục của trứng và thiếu trùng lại dài ngày hơn với nhiệt độ 30 - 350C, ẩm độ 75 - 85% với vật mồi là loài
sâu xanh Helicoverpa armigera (Vennison et al.,1990) [53]
1.2.1.4 Nghiên cứu tập tính bắt mồi, phổ thức ăn và khả năng tiêu thụ vật mồi của loài bọ xít bắt mồi
Khi nghiên cứu khả năng tiêu thụ vật mồi của loài bọ xít bắt mồi Coranus spiniscutis Reuter trong điều kiện phòng thí nghiệm có nhiệt độ 30 - 350C, ẩm độ 75
- 85% với vật mồi là loài sâu xanh Helicoverpa armigera kết quả cho thấy khi 1 con
trưởng thành cái có khả năng tiêu thụ vật mồi trong 1 ngày từ 1-2 cá thể của sâu
xanh Helicoverpa armigera (Vennison et al., 1990) [53]
Jame (1994) [39] đã đi sâu nghiên cứu khả năng tiêu thụ con mồi của loài
BXBM Pristhesancus plagipennis (họ Reduviidae) ở Autralia trong các điều kiện
nhiệt độ 22,5oC; 25oC và 30oC (vật mồi nuôi gồm trưởng thành loài ruồi dấm
Drosophila sp ấu trùng mọt bột Tribolium castaneum, sâu mọt Tenebrio molitor, thiếu trùng loài Biprorulus bibax và loài bọ xít xanh Nezara viridula) Trung
bình mỗi cá thể của loài BXBM này từ khi nở cho đến khi phát dục thành con trưởng thành tiêu thụ hết 153,9 con mồi (nhiệt độ: 22,5oC), 127,6 con mồi (nhiệt độ: 25oC) và 117,3 con mồi (nhiệt độ: 30oC) Mỗi ngày một cá thể của loài này tiêu thụ trung bình 2,5 con mồi (nhiệt độ 30oC) 2,0 con mồi (nhiệt độ 25oC) và 1,3 con mồi (nhiệt độ 22,5oC)
Trang 26Nghiên cứu về tập tính tấn công con mồi của BXNVT, Gupta et al., (2004) [33] cho biết cả con trưởng thành và thiếu trùng đều giơ vòi chích hút ra khi gặp được con mồi và cố gắng châm vòi để tiêm enzim vào cơ thể con mồi làm cho chúng bị tê liệt và chết từ từ Thời gian 1 con trưởng thành của BXNVT đưa vòi hút
ra và châm vào cơ thể vật chủ là ấu trùng tuổi 3 của loài Z bicolorata là 18 - 24 giây Thời gian ăn 1 con mồi là ấu trùng tuổi 3 của loài Z bicolorata là 33 - 47 phút,
tổng thời gian để tiếp xúc và chích hút 1 con mồi của BXNVT là 45 - 62 phút Sau khi ăn xong chúng thả xác con mồi ra và bò chậm chạp đi chỗ khác, nếu chưa no chúng sẽ tiếp tục tìm mồi
Khi nuôi BXNVT bằng thức ăn là ấu trùng loài Rivula sp gây hại trên đậu
tương, thiếu trùng tuổi 1 không ăn mồi, tuổi 2 và 3 có sức ăn trung bình 1,13 và 1,86
ấu trùng/ngày, tuổi 4 và 5 tương ứng 2,26 và 7,06 con/ngày, 1 cá thể trưởng thành
ăn 4,46 ấu trùng/ngày, 1 cặp trưởng thành trung bình ăn 11,42 ấu trùng/ngày trong thời gian đẻ trứng (Singh et al., 1989) [52]
Phổ thức ăn của BXNVT cả trưởng thành và thiếu trùng đều ăn ấu trùng của
các loài sâu như: Spodoptera litura, Semiothisa pervolgata, Anticarsia irrorata, Eurema hecabe, Catopsilia pyranthe,…(David et al, 2006) [30]
Jafar Mohaghegh et al., (2007) [38] cho rằng cả thiếu trùng và trưởng thành loài BXNVT đều ăn ấu trùng của nhiều loài sâu bộ cánh vảy như: Naranga aenescens Moore, Helicoverpa armigera (Hubner) và Chilo suppressalis (Walker) trên nhiều loại cây trồng khác nhau ở phía Bắc Iran
Năm 1990, Khoo [41] đã nhân nuôi loài bọ xít bắt mồi thuộc giống Sycanus
và đã sử dụng thành công việc thả loài bọ xít ăn sâu Sycanus collaris được nhân nôi
trong phòng để phòng chống một số loài sâu hại trên rau, đậu tương và ngô trên cánh đồng Malaysia thu được hiệu quả phòng trừ cao Tác giả cũng khuyến cáo khi mật độ sâu hại không cao có thể thả từ 70-90 cá thể bọ xít bắt mồi/sào trên cánh đồng rau có thể kìm hãm mật độ của các loài sâu hại trên rau
Trang 271.2.2 Tình hình nghiên cứu ở trong nước
1.2.2.1 Nghiên cứu thành phần côn trùng bắt mồi
Việc nghiên cứu thành phần loài côn trùng bắt mồi trên các cây trồng đã được thực hiện trong nhiều năm qua ở nước ta trên một số cây trồng như ngô, đậu tương, bông và rau họ thập tự
Theo kết quả nghiên cứu thành phần côn trùng bắt mồi trên rau thập tự
vụ Đông Xuân năm 2008 - 2009 tại Giang Biên, Long Biên, Hà Nội của Nguyễn Văn Thuận, (2009) [20] thu được 27 loài thiên địch thuộc 5 bộ và 14
họ trong đó phổ biến nhất là các loài côn trùng bắt mồi thuộc bộ Coleoptera (có 11 loài) Trong số đó, có 6 loài xuất hiện với tần suất cao là: Bọ rùa đỏ
Micraspis discolor Fabr, bọ cánh cứng ngắn Paederus fuscipes
Kết quả nghiên cứu về thành phần côn trùng bắt mồi trên sinh quần ruộng rau học cải ở vùng Hà Nội và ngoại thành của Nguyễn Viết Tùng (1992), Nguyễn Công Thuận (1996), Phạm Văn Lầm (1999), Hồ Thị Thu Giang (2002) đã xác định được
77 loài chân khớp bắt mồi ăn và ký sinh trên sinh quần ruộng rau họ Cải, trong đó
có 48 loài côn trùng bắt mồi (Dẫn theo Nguyễn Thị Thanh, Nguyễn Thị Huyền, 2013) [19],
Kết quả điều tra của Nguyễn Thị Thanh và Trương Xuân Lam (2011)[18], thành phần côn trùng bắt mồi trên cây rau họ Cải tại thành phố Vinh và các vùng trồng rau trên địa bàn tỉnh Nghệ An từ năm 2007 đến 2012 cho thấy, côn trùng bắt mồi xuất hiện trên sinh quần ruộng rau họ Cải thuộc 14 họ của 7 bộ côn trùng Trong số 47 loài côn trùng bắt mồi thu được, bộ Cánh cứng (Coleoptera) chiếm tỷ lệ lớn nhất 55,32% tổng số loài xác định Trong 47 loài côn trùng bắt mồi ghi nhận trên sinh quần ruộng rau tại Nghệ An thì có 6 loài lần đầu tiên ghi nhận trên rau họ
Cải là Sycanus croceovittatus Dohrn, Sycanus falleni Stal, Euborellia annulipes (Lucas), Euborellia sp., Prorenus sp và Labidura riparia (Pallas)
Trang 28Tại vụ ngô Hè Thu và Thu Đông ở Thanh Trì, Hà Nội cho thấy có 8 loài thiên địch trong đó có 5 loài ăn thịt, 3 loài ký sinh Trong đó, bọ rùa đỏ hoạt động mạnh
và có vai trò quan trọng tiêu diệt rệp Các loài kiến đỏ, kiến đen có ý nghĩa trong việc tiêu diệt sâu non và nhộng sâu đục thân (Đặng Đức Khương và ctv, 1986) [9]
1.2.2.2 Nghiên cứu về thành phần các loài bọ xít bắt mồi
Việc nghiên cứu thành phần loài côn trùng bắt mồi trên các cây trồng đã được thực hiện trong nhiều năm qua ở nước ta trên một số cây trồng như ngô, đậu tương, bông và rau họ thập tự Tuy nhiên, những nghiên cứu có tính chất hệ thống về nhóm
bọ xít bắt mồi trên cây đậu rau còn ít được quan tâm tới
Năm 1981, kết quả điều tra cơ bản động vật miền Bắc Việt Nam đã thu thập được 81 loài BXBM thuộc 6 họ trên các cây trồng, trong đó đã xác định được tên
53 loài còn 28 loài chưa xác định được tên Họ bọ xít ăn sâu Reduviidae có số loài nhiều nhất (71 loài), tiếp theo là họ bọ xít năm cạnh Pentatomidae có 6 loài Các
họ còn lại gồm: họ bọ xít đỏ Pyrhocoridae có 1 loài (giống Antilochus), họ bọ xít
mù Miridae có 1 loài (giống Cyrtorhinus), họ bọ xít dài Lygaeidae có 1 loài (giống Geocoris) và họ bọ xít đo nước Hydrometridae có 1 loài (giống Hydrometra) (Ủy ban khoa học Nhà nước, 1981) [21]
Phạm Văn Lầm (1997) [17] cho biết trong 40 loài côn trùng bắt mồi (thuộc 6 họ) của sâu hại cây ngô ở Hà Nội và vùng phụ cận, thì nhóm BXBM có 9 loài (chiếm 22,5%) Trong đó họ bọ xít ăn sâu Reduviidae có 3 loài, họ bọ xít Pentatomidae có 2 loài, họ bọ xít mù Miridae, họ Nabidae, họ bọ xít đỏ Pyrrhocoridae và họ bọ xít dài Lygaeidae mỗi họ có 1 loài
Hung Ha Quang et al., (1999) [35] đã ghi nhận được 5 loài thuộc họ Pentatomidae và họ Reduviidae trên lúa tại Gia Lâm-Hà Nội
Có 77 loài thiên địch trên sinh quần rau họ thập tự ngoại thành Hà Nội được ghi nhận, trong đó có 60 loài bắt mồi Côn trùng bắt mồi khá đa dạng thuộc nhiều bộ khác nhau, bộ cánh cứng có 36 loài, bộ hai cánh có 3 loài, bộ cánh nửa có 4 loài
Trang 29thuộc 2 họ Reduviidae và Anthocoridae Thức ăn chủ yếu của chúng là sâu non bộ cánh vảy (Hồ Thị Thu Giang, 2002) [6]
Kết quả nghiên cứu của Trương Xuân Lam (2005) [13] cho thấy, trong thành phần loài của nhóm bọ xít bắt mồi thuộc họ Reduviidae (Heteroptera) ở huyện Hương Sơn, Hà Tĩnh ghi nhận 7 họ bọ xít trong đó có 28 loài bọ xít bắt mồi họ Reduviidae thuộc 15 giống Trong đó ghi nhận mới cho khu hệ côn trùng Việt Nam
4 loài gồm: Sirthenea dimidiate Horvath, Lestomerus sp., Peirates leturoides Wolff
và Ectomocoris biguttulus Stal 12 loài bọ xít ăn sâu thuộc phân họ Peirarinae
(Hemiptera: Reduviidae) được ghi nhận và có khoá định loại 3 loài bao gồm
Sirthenea dimidiate Horvath, Peirates leturoides Wolff và Ectomocoris biguttulus
Stal được ghi nhận lần đầu tiên ở Việt Nam (Lam Trương Xuan et al., 2006) [42]
Các kết quả nghiên cứu cho thấy thành phần côn trùng bắt mồi của sâu hại rau rất phong phú, tuy nhiên việc nghiên cứu đánh giá vai trò của các loài thiên địch còn tản mạn và chưa được hệ thống, nhất là các nghiên cứu về thành phần loài BXBM trên cây đậu rau còn ít được quan tâm Hơn nữa, các nghiên cứu hầu như tập trung về thành phần loài, mô tả một số đặc điểm sinh học, sinh thái của chúng ở khu vực phía Bắc và phía Nam
1.2.2.3 Nghiên cứu các đặc điểm hình thái và sinh học của một số loài BXBM
Nghiên cứu đầu tiên về đặc điểm hình thái và sinh học của các loài bọ xít bắt mồi phải ở nước ta phải kể đến những nghiên cứu về loài bọ xít hoa bắt mồi
Cantheconidae furcellata (họ Pentatomidae) Đây là loài côn trùng bắt mồi được
khá nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh thái trong điều kiện phòng thí nghiệm và đạt được các kết quả tương đối đầy đủ
Theo Phạm Văn Lầm và ctv, (1994) [16], khi nuôi loài bọ xít hoa bắt mồi (1 nguồn là loài nhập nội từ Thái Lan và 1 nguồn là loài nội địa) với thức ăn là sâu khoang thì kết quả nghiên cứu cho thấy, thời gian phát dục của các pha thay đổi tùy theo thời gian thí nghiệm trong năm, kéo dài hơn ở mùa đông và ngắn hơn ở mùa
Trang 30hè Trứng của loài bọ xít này phát dục từ 4,8 – 20,3 ngày, thiếu trùng có 5 tuổi, thiếu trùng tuổi 1, 2 chỉ uống nước và bắt đầu từ tuổi 3 mới bắt mồi Thời gian phát dục của giai đoạn thiếu trùng từ 14,1 – 33,8 ngày Thiếu trùng tuổi 5 vũ hóa thành trưởng thành thường giao phối sau 3,7 – 8,1 ngày Một bọ xít cái có thể đẻ từ 132,3 – 191,9 quả trứng và tuổi thọ của chúng có thể đạt 56,2 ngày trong mùa đông và 15,4 – 21,3 ngày ở mùa thu và mùa hè Thời gian phát dục từ trứng đến trưởng thành của loài bọ xít này trung bình 20,3 – 59,1 ngày
Nuôi loài bọ xít hoa bắt mồi trong điều kiện nhiệt độ từ 26,1 – 29,40C, ẩm độ
từ 72 - 85% cho thấy vòng đời của loài bọ xít này từ 22 – 31 ngày (giai đoạn trứng 5 -7 ngày, thiếu trùng 11-20 ngày, từ lột xác thành trưởng thành đến đẻ trứng 5-7 ngày) Bọ xít cái trưởng thành đẻ 1 - 9 ổ trứng, trung bình đẻ được 175,4 quả Mỗi
cá thể bọ xít ở các tuổi có thể ăn tới 37,09 con sâu khoang, trung bình ăn hết từ 2 - 3 con sâu/ngày (Vũ Quang Côn và ctv, 1994; Nguyễn Xuân Thành, 1996) [1],[2]
Kết quả nghiên cứu khi nuôi sinh sản BXNVT ở điều kiện phòng thí nghiệm (nhiệt độ 28,5 - 300C, ẩm độ 79 - 82%) cho thấy, số trứng trung bình của 1 con cái
đẻ là 397,58 ± 12,92 quả, số ổ trứng trung bình/con cái là 4,18 ± 0,10 ổ, số trứng trung bình của 1 ổ là 96,91 ± 4,63 quả (Trương Xuân Lam, 2002a) [10]
Trương Xuân Lam (2002b) [11] nghiên cứu về bọ xít bắt mồi cổ ngỗng đen
Sycanus croceovittatus Dohrn (Heteroptera, Reduviidae) kết luận: trứng của loài bọ xít Sycanus croceovittatus phát triển từ 14 - 19 ngày (trung bình 16,13 ngày); thời
gian phát triển trung bình của thiếu trùng tuổi 1 là 6,68 ngày; tuổi 2 là 8,24 ngày; tuổi 3 là 10,11 ngày; tuổi 4 là 10,93 ngày; tuổi 5 là 13,27 ngày; tỷ lệ sống trong quá trình nuôi trung bình đạt được là 69,62 %
Kết quả bước đầu nghiên cứu về loài bọ xít cổ ngỗng đỏ Sycanus falleni
trong điều kiện phòng thí nghiệm (nhiệt độ 28,5 - 300C, ẩm độ 79 - 82%) cho thấy, trưởng thành phát dục sau 8 - 18 ngày thì bắt đầu đẻ trứng Một con cái có thể đẻ từ 71 - 406 quả (trung bình: 173,77 ± 10,75 quả) trong suốt thời gian sống
Trang 31Trứng của loài Sycanus falleni phát triển từ 15 - 21 ngày (trung bình: 18,27 ±
0,52 ngày) thì nở và đạt tỷ lệ nở từ 68,38 – 80,51 % (trung bình: 73.,8 ± 1,01%)
Thiếu trùng của Sycanus falleni có 5 tuổi Kích thước trung bình của thiếu trùng
tuổi 1 là 2,79 ± 0,02 mm, tuổi 2 là 3,75 ± 0,01 mm, tuổi 3 là 5,81 ± 0,03 mm, tuổi 4 là 10,55 ± 0,06 mm và tuổi 5 là 14,11 ± 0,18 mm Thời gian phát dục trung bình của thiếu trùng tuổi 1 là 6,39 ± 0,44 ngày, tuổi 2 là 8,01 ± 0,42 ngày, tuổi 3
là 9,85 ± 0,41 ngày, tuổi 4 là 10,89 ± 0,56 ngày và tuổi 5 là 13,64 ± 0,62 ngày
Vòng đời của Sycanus falleni từ 61 - 89 ngày (trung bình: 79,09 ± 3,05 ngày)
(Trương Xuân Lam, 2002b) [11]
Khi nghiên cứu về đặc điểm sinh học, sinh thái của loài Sycanus falleni Stal
(Heteroptera, Reduviidae, Harpactorinae) cho thấy, ở điều kiện phòng thí nghiệm có nhiệt độ và ẩm độ dao động 28,5 - 300C, 79 - 82%, tỷ lệ nở trung bình của trứng là 94,31 ± 3,34%, thời gian phát dục trung bình của pha trứng là 6,37 ± 0,24 ngày, thiếu trùng là 18,53 ± 0,75 ngày, từ lần lột xác cuối cùng đến khi đẻ trứng 9,26 ±
0,21 ngày, vòng đời bọ xít nâu C.fuscipennis 34,16 ± 1,20 ngày Trương Xuân Lam
(2002b) [11]
Theo Nguyễn Thị Thanh và ctv (2011) [18] Ở điều kiện nhiệt độ 280C, ẩm
độ 73% sức sinh sản của Andrallus spinidens cao nhất, trung bình 345,83 quả trứng/cặp Khi nhiệt độ, ẩm độ tăng lên 310C, 82%, hoặc giảm xuống 250C, 75% thì
sức sinh sản của Andrallus spinidens (274,00±6,21 và 299,00±6,56 quả trứng/cặp)
Khi nhiệt độ nuôi là 350C, 87%, thì sức sinh sản của Andrallus spinidens thấp nhất
Trang 32trưởng thành ăn 6,27 ± 1,04 con/ngày Vật mồi là sâu non sâu đo Plusia sp tuổi 2, 3
thì thiếu trùng ăn 3,76 ± 0,27 con/ngày, trưởng thành 10,89 ± 1,12 con/ngày (Trương Xuân Lam, 2002a) [10]
Trong điều kiện thí nghiệm (nhiệt độ 28,5 - 300C, ẩm độ 79- 82%) 2 loài bọ
xít ăn sâu Sycanus falleni và Sycanus croceovittatus được nuôi bằng sâu khoang
S litura cho thấy, trung bình thiếu trùng loài Sycanus falleni ăn 3 - 8 con/ngày, pha trưởng thành: 8 - 14 con/ngày; thiếu trùng loài Sycanus croceovittatus ăn 2 -
9 con/ngày pha trưởng thành ăn: 9 - 13 con Khi nuôi bằng ngài gạo Corcyra cephalonica cho thấy: trung bình thiếu trùng loài Sycanus falleni ăn hết 7,04 con/ngày, pha trưởng thành: 16,01 con/ngày; thiếu trùng loài Sycanus croceovittatus ăn 6,67 con/ngày, pha trưởng thành: 15,05 con/ngày Ở thế hệ F1 với thức ăn là ngài gạo thì 6 cá thể cái của loài Sycanus falleni ban đầu đã sinh
sản và phát triển thành 234 cá thể trưởng thành với tỉ lệ giới tính (cái : đực) là 1 : 1,4 và tỷ lệ sống sót đạt 53,91% Ở thế hệ F2 với 8 cá thể cái có ban đầu thì loài
S falleni đã sinh sản và phát triển thành 211 cá thể trưởng thành và tỷ lệ giới tính
(cái : đực) là 1 : 1,6 với tỷ lệ sống sót đạt 44,51% (Trương Xuân Lam, 2008) [14]
Trương Xuân Lam và ctv (2011) [15] chỉ ra tỷ lệ nở của trứng đạt cao nhất là
nuôi loài Sycanus croceovittatus bằng ấu trùng ngài gạo Corcyra cephalonica (trung bình 97,71%), nuôi bằng sâu khoang Spodoptera litura có thời gian phát dục của trứng ngắn nhất (trung bình 12,8 ngày) Tỷ lệ nở của trứng đạt cao nhất là nuôi loài Sycanus falleni nuôi bằng sâu đo, sâu cuốn lá, châu chấu, cào cào và thiếu trùng bọ xít xanh (trung bình 60,81%) và thời gian phát dục của trứng dài nhất (trung bình
18,9 ngày) Cả 3 loại thức ăn đều ảnh hưởng không đáng kể đến tỷ lệ sống sót của các tuổi thiếu trùng của 2 loài bọ xít bắt mồi (trung bình 60 - 78%) Thời gian phát
dục của thiếu trùng dài nhất là nuôi loài Sycanus croceovittatus bằng thức ăn tổng hợp (trung bình 59,07 ngày) và đạt ngắn nhất là nuôi loài Sycanus falleni bằng sâu khoang Spodoptera litura (trung bình 49,37 ngày)
Trang 331.2.2.5 Nghiên cứu ảnh hưởng của một số yếu tố sinh thái đến loài BXBM
Theo Vũ Quang Côn và ctv (2004) [3, 4], sự xuất hiện và phát triển theo mùa của các loài bọ xít ăn sâu phổ biến trên một số cây trồng tại vùng Tây Bắc Việt Nam
đã xác định được: 3 loài bọ xít ăn sâu cổ ngỗng đen Sycanus croceovittatus, bọ xít
ăn sâu cổ ngỗng đỏ S falleni và loài bọ xít đỏ Antilochus conquebertii bắt đầu xuất
hiện từ cuối tháng IV cho đến tháng X trên cây đậu tương, bông và ngô tại một số điểm miền núi thuộc tỉnh Sơn La với mật độ trung bình tương ứng là 0,04 – 0,22 con/m2, 0,09 – 0,13 con/m2 và 0,07 – 0,15 con/m2
Khi nghiên cứu biến động quần thể loài bọ xít bắt mồi Orius sauteri Poppius trên dưa chuột ở Hà Nội và vùng phụ cận Kết quả cho thấy tại Văn Đức, Gia Lâm cây dưa chuột được trồng ở ngoài trời, thuốc trừ sâu được sử dụng 8 lần trong vụ đã làm ảnh hưởng rõ rệt đến biến động của loài bọ xít này (Yorn Try và ctv, 2006) [25]
Việc sử dụng thuốc hóa học bất hợp lý trong phòng trừ sâu hại không những gây ô nhiễm môi trườn, ảnh hưởng sức khỏe con người mà còn làm giảm sự đa dạng sinh học, làm cho quần thể thiên địch trở nên nghèo nàn
Nghiên cứu ảnh hưởng của thuốc trừ sâu Sherpa 25EC đến mật độ của 2 loài
bọ xít bắt mồi Andrallus spinidens và Cantheconidea furcellata trên cây bông ở Tô
Hiệu, Sơn La Kết quả nghiên cứu của Trương Xuân Lam (2002a) [10] cho thấy, mặc dù chỉ phun thuốc 1 lần với nồng độ, liều lượng theo khuyến cáo nhưng thuốc
Sherpa 25EC đã ảnh hưởng tới mật độ của cả 2 loài bọ xít bắt mồi Andrallus spinidens và Cantheconidea furcellata trên đồng ruộng Ở công thức phun thuốc hóa
học, sau khi phun thuốc hầu như không bắt gặp hai loài bọ xít bắt mồi này và chúng chỉ xuất hiện trở lại sau khi phun thuốc 42 ngày
Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của thuốc hóa học Sherpa 25EC lên bọ xít cổ
ngỗng đen bắt mồi S croceovittatus cũng thu được kết quả tương tự, tuy nhiên sự
xuất hiện của bọ xít cổ ngỗng sau phun nhanh hơn so với hai loài trên, chúng xuất hiện sau phun 15 ngày với mật độ 0,02 con/m2 và sau 25 ngày thì mật độ của chúng
Trang 34đạt 0,12 con/m2 Trong khi đó ở công thức đối chứng mật độ của chúng ở các thời điểm này là 0,36 con/m2 và 0,42 con/m2 Đối với công thức thử nghiệm phun thuốc
Bt cho thấy, số lượng của loài sâu xanh bị giảm rõ rệt nhưng mật độ của loài bọ xít
cổ ngỗng đen không thay đổi, chỉ sau phun 3 ngày loài bọ xít này đã xuất hiện trở lại với mật độ 0,02 con/m2 và số lượng của loài này nhanh chóng đạt được là 0,16 con/m2 sau phun thuốc 10 ngày So sánh với công thức đối chứng cho thấy mật độ của loài bọ xít cổ ngỗng đen ở công thức phun thuốc Bt sai khác không có ý nghĩa
so với đối chứng sau 5 ngày phun thuốc (Trương Xuân Lam, 2002b) [11]
Bốn loại thuốc bảo vệ thực vật thử nghiệm có ảnh hưởng rõ đến sức sống và
sinh sản Andrallus spinidens Thuốc trừ sâu Antaphos 25 EC phun 1 lần theo khuyến cáo đã gây chết 86,24% số cá thể Andrallus spinidens thí nghiệm, làm giảm
sức sinh sản 20,18 lần so với đối chứng Thuốc thảo mộc (bột cây hoa cúc) gây chết 35,46%, giảm sức sinh sản 20,18 lần; thuốc trừ bệnh Xanthomix 20WP gây chết 21,82%, làm giảm sức sinh sản 7,34 lần và thuốc trừ cỏ Sunrice 15 WDG gây chết 18,17%, làm giảm sức sinh sản 4,75 lần so với đối chứng (Nguyễn Thị Thanh và ctv, 2011) [18]
1.3 Đặc điểm điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của tỉnh Nghệ An và huyện Nam Đàn
1.3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội tỉnh Nghệ An
Nghệ An là một tỉnh thuộc vùng Trường Sơn Bắc, có tọa độ địa lý từ 18035’
-19030’ vĩ độ bắc và 103052’ – 105042’ kinh độ đông với tổng diện tích tự nhiên 1.637.068 ha (bằng 1/20 diện tích lãnh thổ Việt Nam)
Địa hình Nghệ An có thể chia ra 3 vùng cảnh quan, đây là đặc điểm chi phối đến mọi hoạt động, nhất là trong sản xuất nông nghiệp của Nghệ An Vùng núi cao (chiếm 77% diện tích), vùng gò đồi (13%), vùng đồng bằng chỉ chiếm 10% diện tích Đồng bằng phù sa gồm các dải đồng bằng Vinh, Quỳnh Lưu, Yên Thành, Diễn
Trang 35Châu, Đô Lương, Nam Đàn, Hưng Nguyên, Nghi Lộc Vùng đất cát ven biển Quỳnh Lưu - Diễn Châu, Nghi Lộc – Hưng Nguyên
Khí hậu Nghệ An mang đặc tính nhiệt đới gió mùa, với đặc điểm cơ bản là nóng ẩm mưa nhiều theo mùa Hằng năm, đất Nghệ An nhận được trung bình 120 –
140 Kcal/cm2 bức xạ mặt trời, nhiệt độ trung bình 23 – 240C, độ ẩm không khí là 85%, lượng mưa trung bình cả năm từ 1.600 – 2.000 mm
Nghệ An là một trong những tỉnh đông dân, với dân số 2.923.647 người (tính đến 21/12/2000), mật độ trung bình toàn tỉnh khoảng 180 người /Km2 Dân cư phân
bố không đều giữa các vùng, vùng đồng bằng chiếm 10% diện tích nhưng tập trung đến 80% dân số, vùng núi và gò đồi chiếm 90% diện tích nhưng chỉ có 20% dân số
Ngoài ra sự thay đổi cơ cấu cây trồng cùng với việc đầu tư phân hóa học, thuốc trừ sâu, thủy lợi tưới tiêu đặc biệt từ những năm 70, tỉnh Nghệ An đã chuyển đổi mùa vụ, coi vụ Hè thu là một trong ba vụ sản xuất chính trong năm, đó
là những tác động không nhỏ đến hệ sinh thái đồng ruộng, trước hết là sâu hại và thiên địch của chúng (Lê Văn Phương, 1982) [Dẫn theo Phan Thị Thu Hiền, 2008] [8]
1.3.2 Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội huyện Nam Đàn
Nam Đàn là một trong những huyện có diện tích đất sản xuất nông nghiệp lớn của Nghệ An Huyện nằm ở hạ lưu sông Lam, kéo dài từ 18034’ đến 18047’ vĩ bắc và trải rộng từ 1050 24’ đến 105037’ kinh đông, trong đó diện tích đất nông nghiệp chiếm 48%, còn nữa là đất lâm nghiệp và đồi núi, ao hồ
Thời tiết và khí hậu của huyện Nam Đàn tương đối khắc nghiệt Hằng năm mùa hanh khô kéo dài từ tháng 1 đến tháng 3 dương lịch, mùa nóng từ tháng 4 đến tháng 8, mùa mưa từ tháng 9 đến tháng 12 Lượng mưa hàng năm cao nhất là 2,228 mm, thấp nhất là 1,402 mm, trung bình là 1,428 mm Bão lụt thường xảy ra vào tháng 9 và tháng 10 dương lịch, gây úng lụt trên diện tích rộng, có lúc kéo dài trong một thời gian dài
Trang 36Với nhiều tài nguyên phong phú như tài nguyên đất, nước, khoáng sản, rừng, sinh vật Trong đó, tài nguyên đất, nước thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp Nam Đàn có 13 loại đất được chia thành 5 nhóm:
+ Nhóm cát thô ven sông: có diện tích 384 ha, chiếm 1,3% tổng diện tích toàn huyện, phân bố rãi rác ở các xã ven sông Lam
+ Nhóm đất phù sa : Nhóm đất phù sa phân bố ở các xã phía Nam của huyện và được hình thành do sự bồi đắp phù sa sông Lam, có phản ứng trung tính đến ít chua, thuận lợi cho canh tác lúa nước, trồng Ngô Nhóm đất phù sa có diện tích 10.282 ha chiếm 34,84% diện tích toàn huyện
+ Nhóm đất xám bạc màu: có diện tích 2.485ha, chiếm 8,41% diện tích toàn huyện Nhóm đất này do bị rửa trôi nên bạc màu, nghèo chất dinh dưỡng
+ Nhóm đất đỏ vàng: có diện tích 11.302 ha, chiếm 38,28% diện tích toàn huyện Phù hợp trồng cây ăn quả, trồng rừng và trồng cây công nghiệp ngắn ngày như lạc, đậu đỗ
+ Nhóm đất thung lũng do sản phẩm dốc tụ 112ha, chủ yếu sử dụng cấy 1 vụ lúa
Nguồn nước mặt chủ yếu gồm hệ thống sông ngòi và hồ đập Đặc biệt thuận lợi là địa phận nằm ở hạ lưu sông Lam chảy qua với chiều dài 16km, diện tích lưu vực là 23.000km2 Đây chính là nguồn nước dồi dào và chất lượng tốt, được dùng làm nguồn nước cấp sinh hoạt và phục vụ tưới tiêu trong sản xuất nông nghiệp
Trong những năm gần đây, huyện đã dần thực hiện mục tiêu phát triển nông nghiệp theo hướng chuyển từ độc canh trồng cây lúa sang sản xuất nông nghiệp hàng hoá Huyện đã tích cực áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật về giống cây con, chuyển đổi cơ cấu mùa vụ - cây trồng, hình thành các vùng sản xuất rau an toàn, hoa cây cảnh, cải tạo vườn tạp, phát triển mạnh nghề nuôi trồng thuỷ sản, trang trại, vườn đồi Giá trị sản xuất nông - lâm - ngư nghiêp trên địa bàn năm 2005 đạt
Trang 37356.756 triệu đồng (giá năm 1994), năm 2009 là 449.072 triệu đồng (theo giá CĐ 94) vằ năm 2010 là 468.513 triệu đồng (giá năm 1994) [26]
Như vậy, có thể thấy với điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội ở huyện Nam Đàn đã tạo thuận lợi để sản xuất nông nghiệp phát triển và mở rộng Trong đó có việc mở rộng và đầu tư thâm canh (đầu tư phân bón, thuốc trừ sâu, thủy lợi,…) trong sản xuất rau hàng hóa Đấy cũng chính là những tác động không nhỏ đến hệ sinh thái đồng ruộng về lâu dài
Trang 38CHƯƠNG II VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Vật liệu nghiên cứu
- Một số loài sâu hại là vật mồi của các loài côn trùng bắt mồi trên đậu rau,
các loài sâu hại chính trên cây đậu rau như loài sâu cuốn lá đậu Omiodes indicata, sâu đục quả đậu Maruca vitrata và sâu xanh bướm trắng Pieris rapae, sâu tơ Plutella xylostella, ngài gạo Corcyra cephalonica được sử dụng như là vật mồi của
bọ xít để thực hiện các nghiên cứu sinh học trong phòng thí nghiệm
- Một số loại thuốc trừ sâu nông dân thường sử dụng là Sherpa 25EC, Vertimex 1.8EC, Trigard 100SL
- Các loại hóa chất giết và bảo quản côn trùng: Cồn 700, Formol 10%, Ethyl acetate, Naphthalene, Xyanuakaly, Axelen,
- Các dụng cụ điều tra và thực nghiệm nuôi bọ xít trong phòng thí nghiệm bao gồm:
Vợt bắt côn trùng đường kính 35-40 cm, L=70-80 cm
Các hộp thí nghiệm là các lọ nhựa có đường kính từ 10-20 cm và cao từ
20-30 cm
Ống nghiệm với kích cỡ từ D=10, =12, D=10-15 và =15
Đĩa petri và lọ tam giác nút mài với thể tích V=70-100 cm3
Các loại lọ độc giết côn trùng bằng độc tố Ethyl acetate, Naphthalene vv
Đệm bông đựng mẫu (10x20 cm)
Các lọ bảo quản mẫu
Panh, kéo, bút lông, kim mổ
Các lồng lưới có kích thước 30x30x40 cm, 50x50x100 cm
Kính hiển vi soi nổi Olympus SZX7, kính lúp 2 mắt và kính lúp cầm tay
Các loại bình phun thuốc bằng tay, ống đong ml và xylanh
Trang 39Vải màn, giấy bản, bông thấm nước và bông không thấm nước
Sổ sách ghi chép số liệu thí nghiệm và số liệu điều tra
Phiếu điều tra trên cánh đồng và nuôi sâu trong phòng thí nghiệm
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Phương pháp thực nghiệm
2.2.1.1 Điều tra xác định thành phần côn trùng bắt mồi và vật mồi trên ruộng đậu rau
Trên cây đậu rau tại địa điểm nghiên cứu, chúng tôi tiến hành điều tra sơ bộ
để khái quát chung tình hình trong khu vực Sau khi điều tra sơ bộ thì tiến hành xác định và chọn lựa các điểm có vị trí ngẫu nhiên, có tính chất đại diện cho toàn bộ vùng nghiên cứu
Điều tra theo phương pháp điều tra cơ bản chung của Viện Bảo vệ thực vật (1997) [22] Tiến hành điều tra trên các ruộng đậu rau tại Nam Đàn – Nghệ An theo phương pháp tự do Tại các điểm đã chọn, tiến hành điều tra theo phương pháp tự
do không cố định điểm điều tra, điều tra 10 điểm ngẫu nhiên nằm trên đường chéo của khu vực điều tra Điều tra thành phần loài được thực hiện 1 tuần/1 lần, sử dụng vợt côn trùng có đường kính từ 35-40cm, L=70-80 cm, vợt đập có đường kính vòng vợt là 60cm, chiều dài vợt trên 3m hoặc tay để thu mẫu Tiến hành thu bắt toàn bộ các loài côn trùng bắt mồi xuất hiện trên ruộng đậu rau điều tra ở các điểm đã lựa chọn và khu vực lân cận (bờ mương, bờ cỏ xung quanh ruộng rau, khu vực trồng đậu rau) Song song với biện pháp điều tra ngẫu nhiên, tiến hành đặt các bẫy hố =
10 cm và H = 15 cm được chôn dưới mặt đất của các luống đậu rau, gần bờ ruộng, gần tàn dư quanh bờ với mật độ bẫy là 50 bẫy/ 500 m2, sử dụng dung dịch xà phòng
để giữ mẫu vào bẫy Ngoài việc điều tra trên các ruộng đã chọn chúng tôi còn tiến hành điều tra trên các ruộng lân cận, trên bờ cỏ dại và trên một số loại cây đậu rau khác xung quanh khu vực trồng rau để theo dõiquan sát ghi nhận vật mồi của loài bọ xít nghiên cứu
Trang 40Các cá thể côn trùng bắt mồi thu được, một phần xử lý chết bằng lọ độc
(chứa Clofukaly) và lưu giữ trong các đệm bông (10x20 cm) hoặc ngâm trong cồn
700 để định loại, lưu mẫu; một phần được theo dõi sống trong các hộp nuôi có kích
thước ở trong phòng thí nghiệm nhằm tiến hành các thực nghiệm xác định sức ăn
mồi của chúng Các mẫu côn trùng bắt mồi thu được đều tiến hành ghi nhãn theo
tiêu chuẩn chung của phân loại học
Những loài côn trùng bắt mồi trên đậu rau quen thuộc đã được các tài liệu khác
công bố, chúng tôi chỉ cần căn cứ vào sự hiện diện của chúng trên địa điểm điều tra
để đưa tên chúng vào bảng danh lục thiên địch sâu hại đậu rau Với các đối tượng
mới phát hiện, chỉ ghi nhận chúng là thiên địch nếu thấy rõ chúng tấn công và ăn
thịt vật mồi là sâu hại đậu rau Mức độ phổ biến các loài được lượng hóa theo tần
suất bắt gặp (%)
2.2.1.2 Điều tra diễn biến số lượng tập hợp côn trùng bắt mồi, loài BXBM C
fuscipennis và vật mồi của chúng (các loài sâu hại chính trên cây đậu rau)
Để xác định biến động số lượng và mối quan hệ giữa côn trùng bắt mồi, loài
C fuscipennis Reuter và vật mồi của chúng ngoài đồng ruộng, tiến hành chọn các
ruộng điều tra đại diện cho vùng nghiên cứu Các điểm nghiên cứu có điều kiện
canh tác giống nhau được trồng ngoài đồng Mỗi đợt điều tra, tiến hành chọn 5
ruộng điều tra, mỗi ruộng điều tra chọn 5 điểm điều tra theo đường chéo góc ruộng,
mỗi điểm có diện tích 1 m2 Tiến hành điều tra định kỳ 7-10 ngày một lần, các
điểm điều tra lần sau không trùng với điểm điều tra trước đó theo phương pháp
nghiên cứu của Viện Bảo vệ thực vật (Tập I và III Viện bảo vệ Thực vật, 1997 và
2000) [22][23] Mật độ của các loài BXBM được tính là con/m2
Song song với việc điều tra mật độ của các loài côn trùng bắt mồi, loài
C fuscipennis thì tiến hành điều tra mật độ của một số loài sâu hại có mặt trên
đậu rau, đặc biệt chú ý tới các loài hại phổ biến có mặt như: sâu cuốn lá Omiodes indicata, sâu đục quả đậu Maruca vitrata Tiến hành theo dõi mối quan
hệ giữa giai đoạn sinh trưởng của cây đậu rau với mật độ sâu hại chính và nhóm