1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thân phận người việt xa xứ trong văn xuôi nguyễn văn thọ

125 543 6

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 125
Dung lượng 601 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong các sáng tác văn học của người Việt ở hải ngoại, người Việt xa xứ nổi lên như một chủ đề hết sức quan trọng, góp phần lớn trong việc hình thành diện mạo bộ phận văn xuôi này.. Như

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

NGUYỄN ĐỨC QUỲNH

THÂN PHẬN NGƯỜI VIỆT XA XỨ TRONG VĂN XUÔI NGUYỄN VĂN THỌ

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN

NGHỆ AN - 2014

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN

Người hướng dẫn khoa học:

TS LÊ THANH NGA

NGHỆ AN - 2014

Trang 3

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 1

3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi khảo sát 6

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 6

5 Phương pháp nghiên cứu 6

6 Đóng góp của luận văn 6

7 Cấu trúc của luận văn 7

Chương 1 VĂN XUÔI NGUYỄN VĂN THỌ TRONG BỐI CẢNH VĂN XUÔI VIỆT NAM Ở HẢI NGOẠI ĐƯƠNG ĐẠI 8

1.1 Một số vấn đề về văn xuôi Việt Nam ở hải ngoại 8

1.1.1 Khái niệm văn học Việt Nam hải ngoại 8

1.1.2 Nhìn chung về văn xuôi Việt Nam ở hải ngoại 14

1.1.3 Một số thành tựu và tác giả tiêu biểu của văn xuôi Việt Nam ở hải ngoại 19

1.2 Vấn đề thân phận người Việt xa xứ trong văn xuôi Việt Nam ở hải ngoại 21

1.2.1 Người Việt xa xứ như một đối tượng quan trọng của văn xuôi Việt Nam hải ngoại 21

1.2.2 Những cách nhìn về người Việt xa xứ trong văn xuôi Việt Nam ở hải ngoại 24

1.3 Nguyễn Văn Thọ, một cây bút có nhiều đóng góp cho việc thể hiện thân phận người Việt xa xứ 27

1.3.1 Cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Văn Thọ 27

1.3.2 Quan niệm văn học của Nguyễn Văn Thọ 29

1.3.3 Thái độ của Nguyễn Văn Thọ trong cách nhìn về thân phận người Việt ở hải ngoại 32

Trang 4

2.1 Khát vọng đổi đời và những niềm vui có thật 36

2.1.1 Khát vọng đổi đời của người Việt xa xứ 36

2.1.2 Những niềm vui có thật trong cuộc sống 40

2.2 Bi kịch vỡ mộng 44

2.2.1 Vỡ mộng về đời sống vật chất 44

2.2.2 Vỡ mộng về đời sống tinh thần 50

2.3 Bi kịch kiếp sống vô tăm tích 60

2.4 Bi kịch thân phận người phụ nữ Việt xa xứ 64

2.4.1 Người phụ nữ với bi kịch xuất phát từ ngoại cảnh 65

2.4.2 Người phụ nữ với bi kịch tự thân 69

Chương 3 NGHỆ THUẬT THỂ HIỆN THÂN PHẬN CON NGƯỜI XA XỨ TRONG VĂN XUÔI CỦA NGUYỄN VĂN THỌ 76

3.1 Văn xuôi Nguyễn Văn Thọ mang đậm yếu tố tự truyện - kiểu nhân vật xưng “tôi” 76

3.1.1 Tự truyện và đặc điểm của tự truyện trong văn học 76

3.1.2 Yếu tố tự truyện trong sáng tác văn xuôi Nguyễn Văn Thọ 78

3.2 Đặt nhân vật vào hiện thực khốc liệt của cuộc sống để thể hiện tính cách 86

3.2.1 Tình huống truyện gay cấn, bất ngờ 86

3.2.2 Chi tiết bạo liệt 91

3.3 Lối viết đa giọng điệu 93

3.3.1 Giọng bạo liệt 94

3.3.2 Giọng lãng mạn, dịu êm 98

3.3.3 Giọng xót xa, cay đắng. 102

3.3.4 Giọng triết lí, suy tư 106

KẾT LUẬN 111

TÀI LIỆU THAM KHẢO 113

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

1.1 Văn học Việt Nam hải ngoại kể từ thời điểm năm 1975 đến nay đãtrải qua một chặng dài với những thành tựu đáng kể, góp phần không nhỏ làmnên diện mạo đầy đặn của văn học nước nhà Văn học Việt Nam hải ngoại làsản phẩm tinh thần của những người con Việt li hương, hiện đang sinh sống ởkhắp nơi trên thế giới Tuy nhiên, bộ phận văn học này vẫn không được bạnđọc trong nước biết đến một cách rộng rãi Nó thực sự chưa trở thành món ăntinh thần của nhiều độc giả trong nước Đặc biệt, ở trong nhà trường phổthông lại càng không được chú trọng

1.2 Trong số những nhà văn viết đều, viết hay đang sống ở nước ngoàihiện nay, Nguyễn Văn Thọ là người có đóng góp đáng kể Nghiên cứu mộttác giả như vậy đồng nghĩa với việc bổ sung một cách đầy đủ hơn những hiểubiết về văn học Việt Nam ở nước ngoài

1.3 Trong các sáng tác văn học của người Việt ở hải ngoại, người Việt

xa xứ nổi lên như một chủ đề hết sức quan trọng, góp phần lớn trong việc hình

thành diện mạo bộ phận văn xuôi này Nghiên cứu vấn đề người Việt xa xứ

trong sáng tác của Nguyễn Văn Thọ là thông qua phương tiện văn học, để

hiểu thêm những nỗi niềm của những đứa con lưu lạc, từ đó có thái độ ứng xửtốt đẹp hơn giữa những người chung nòi giống trong hiện tại

2 Lịch sử vấn đề

Như đã nói, văn học Việt Nam hải ngoại đến nay vẫn chưa thực sựđược nhiều người biết đến Ngay chính bản thân nhà văn Nguyễn Văn Thọ, làhội viên hội nhà văn Việt Nam, lại có nhiều tác phẩm đạt giải thưởng, vậy mà

sự quan tâm của người đọc trong nước, nhất là với học sinh, sinh viên còn rất

ít ỏi Việc nghiên cứu tác phẩm Nguyễn Văn Thọ trên phương diện Thân

Trang 7

phận người Việt xa xứ như một đề tài khoa học thì chưa thấy có tác giả nào

công bố Ngoại trừ những bài báo, một số luận văn thạc sĩ hoặc những cuộcphỏng vấn nhân các dịp nhà văn ra mắt tác phẩm mới của mình Những ý kiếnnhận xét về sáng tác của Nguyễn Văn Thọ, theo chúng tôi, xoay quanh cácnội dung sau:

Giới nghiên cứu, phê bình văn học đánh giá rất cao giá trị hiện thực

trong sáng tác của nhà văn Nguyễn Văn Thọ Ở bài, Mấy lời cuối sách hay

đọc Nguyễn Văn Thọ, Trần Đăng Khoa đã nhận xét: “Đọc Nguyễn Văn Thọ,

dù ở bất cứ thể loại nào, không hiểu sao, tôi cứ hình dung một gã thợ đấu lựclưỡng, chân thành và bộc trực Lão cứ huỳnh huỵch xắn từng mảng đời sống

mà vật lên trang giấy.” [42] Nguyễn Xuân Thủy cũng cho rằng: “Rất nhiều

câu chuyện trong các tác phẩm của ông đều có bóng dáng từ cuộc đời thực,Nguyễn Văn Thọ không phủ nhận điều này Mỗi câu chuyện, mỗi chi tiết, tình

huống đều là một lát cắt nào đó trong cuộc đời tác giả” [97] Còn Loan

Thanh khẳng định: “ông, […], là một trong số ít những cây bút đương đạixuất sắc nhất về đề tài người Việt ở hải ngoại Đọc tác phẩm người ta cảmnhận được mỗi con chữ là máu và nước mắt của hơn 20 năm phiêu bạt ở xứngười của ông Hai mươi năm bòn nhặt từng đồng xu, chắt chiu từng giọt cảmxúc nhỏ để gửi đến độc giả những cảm xúc nguyên sơ giữa hai bờ hư ảo của

một cây bút hướng đến hiện thực" [76] Đỗ Bích Thuý cũng nhận xét: “Tôi

cho rằng, sự thành công của Nguyễn Văn Thọ đã được chắt lọc từ việc phải hisinh rất nhiều, trả giá rất nhiều trong cuộc sống quá khốc liệt đối với những

năm tuổi trẻ, những năm quý giá nhất của đời người.” [97] Và Lãng Ma trong “Lão thợ đấu” Nguyễn Văn Thọ trình làng "Vợ cũ" bổ sung:“Với vốn

sống đa dạng và dày dặn, những trang viết của anh luôn đầy ắp những chi tiếthiện thực Sự quyết liệt trong cách ứng xử và nỗi da diết tình người làm nên

đặc trưng chủ đạo trong văn Nguyễn Văn Thọ.” [64]

Trang 8

Giá trị hiện thực được nhắc đến trong sáng tác của nhà văn NguyễnVăn Thọ chính là những gì mà bản thân nhà văn đã từng trải qua Đó là quãngthời gian 11 năm ở chiến trường, hơn 25 năm bươn chải kiếm sống ở Đức, vànhiều đau khổ, dằn vặt của những lần đổ vỡ trong hạnh phúc hôn nhân Có thểxem Nguyễn Văn Thọ là nhà văn hiện thực viết về chính bản thân mình

Nguyễn Văn Thọ còn được đánh giá là nhà văn của sự chân thành.Chân thành là một yêu cầu tất yếu đối với nhà văn Tuy nhiên vớiNguyễn Văn Thọ điều này được thể hiện một cách triệt để, có lúc bị lạmdụng, nhất là những trang văn viết về cuộc sống người Việt ở nước ngoài củaông Thu Hà đã rất có lí khi cho rằng: “Còn khi viết về những thân phận thahương, Nguyễn Văn Thọ dường như đã khiến người đọc ngập chìm trong nỗinhục cơm áo và sự lạc loài của những đồng bào mình - trong đó có anh Sựthật thà đến mức thái quá của anh, sự trung thực nghiệt ngã của anh trong

những truyện ngắn đầy yếu tố tự truyện: Trong bão tuyết, Vườn Maria, Gửi

ông đại tá chờ thư, Thật là giản đơn không chỉ khiến người ta xót xa,

thương cảm, mà còn phải tự vấn: tại sao con người lại có thể có khả năng chịuđựng đến như thế, tại sao đồng bào của chúng ta phải chịu chấp nhận một

cuộc sống như thế và họ sẽ còn phải sống như vậy đến bao giờ?” [30]

Giới thiệu về tập truyện ngắn Vàng xưa trên trang mạng

http://www.lazada.vn/vang-xua-nguyen-van-tho-33666.html cũng đánh giá:

“Đọc các truyện ngắn trong tập truyện Vàng xưa của Nguyễn Văn Thọ, ta có

cảm giác dường như anh cứ lấy nguyên vẹn những gì mình trải nghiệm màkhông hề thêm thắt, tô vẽ, để kể lại với bạn đọc vậy Một cách kể chuyệnchân thật mà không nhàm chán, lại rất có duyên Như thế là anh đã thànhcông rồi, vì tất cả những trang viết bén rễ từ cuộc sống, nói được những vấn

đề của cuộc sống thì đều có sức hấp dẫn lâu bền trong công chúng” Bùi Việt

Thắng: Khen - chê trong buổi giới thiệu sách của Nguyễn Văn Thọ, đã nhận

Trang 9

thấy giữa Nguyễn Văn Thọ và Nam Cao có nét tương đồng: “Tôi theo dõinhiều tác phẩm của Nguyễn Văn Thọ, tôi thấy dù viết thế nào, giọng nào cũngthế, truyện nào cũng thế thì anh Thọ cũng viết đến tận cùng sự chân thành.Tôi thích điểm này Trong các bậc tiền bối văn chương ở ta thì đấy là một đặctính của Nam Cao Nam Cao viết gì cũng viết đến tận cùng của sự chânthành.” [77] Cũng trong buổi giới thiệu sách lần này, Đặng Thiều Quang

nhận xét rất chính xác về phong cách nhà văn: “Anh Thọ có đặc điểm tôi rất

quý đấy là bộc trực, nói thẳng vấn đề Văn của anh Thọ tôi cảm giác như

những viên đạn bay thẳng tới đích.” [77].

Trong số những nhà văn hải ngoại hiện nay, Nguyễn Văn Thọ là ngườiquan tâm nhiều đến vấn đề Việt tính trong văn học

Mặc dầu sống ở nước ngoài hơn hai mươi lăm năm, nhưng văn chươngcủa Nguyễn Văn Thọ vẫn mang đậm hơi thở của người Việt Bởi hơn ai hết,với ông, dòng máu Việt đã thấm sâu vào máu thịt Nguyễn Xuân Thủy đã

phát hiện: “Với những người xa xứ thì tha hương luôn là chủ đề ám ảnh trong

những trang văn dù ít dù nhiều Nguyễn Văn Thọ cũng vậy, đọc văn ông, cócảm giác Nguyễn Văn Thọ vẫn là một người đàn ông … thuần Việt Sự nhânhậu bao trùm dù cho cái hiện thực trong câu chuyện có nghiệt ngã đến khắckhoải thì điều toát lên vẫn là âm hưởng nhân văn, ấm nóng tình người Baonhiêu năm lăn lộn, sục sạo bươn chải trong một thế giới với không ít nhữngmánh lới làm ăn chụp giật, không hiểu những trang văn đã cho ông giữ đượcthiên lương hay chính sự lương thiện giữ được giữa bão giông, giữa nhữngđiên đảo về nhân cách trong cuộc sinh tồn đã lan toả vào những trang văn củangười đàn ông xa xứ Điều này có vẻ như mâu thuẫn mà tôi chỉ có thể tự trảlời rằng đó là nhờ tâm hồn Việt thẳm sâu từ tâm thức.” [97]

Trang website http://www.lazada.vn/vang-xua-nguyen-van-tho-33666.html

cũng đề cao tính Việt khi giới thiệu tập sách Vàng xưa: "Những trang viết của

Trang 10

Nguyễn Văn Thọ cũng đã phần nào cho chúng ta thấy cuộc sống của cộngđồng người Việt ở CHLB Đức Bươn bả mưu sinh và đầy toan tính, nhưngtrên hết thảy, chất Việt thuần phác trong họ vẫn lấp lánh trong những trangsách của Nguyễn Văn Thọ Tình cảm của người Việt vẫn luôn hướng về quêhương, đất nước”.

Đặc biệt, khi Nguyễn Văn Thọ cho ra đời cuốn tiểu thuyết Quyên, đã có

rất nhiều ý kiến nhận xét về vấn đề thân phận con người khi phải sống tha

hương Trong bài báo có tựa đề Thêm một góc nhìn về cuộc sống của người

Việt xa xứ trên Báo Văn nghệ công an số 101, ra ngày 06/04/2009, Khánh

Linh đã có những đánh giá: “Đọc Quyên ta thấy thấm đẫm từng trang viết về

nỗi đau tủi nhục, về tinh thần cũng như thể xác không gì có thể bù đắp đượccủa những con người đã trót lìa xa quê hương vì ảo mộng giàu sang Đó cũng

là nỗi đau của người trong cuộc, của những người tha hương khi nhận ra cáigiá phải trả để đổi lấy những đồng Đôla, và sâu xa hơn đó cũng là sự va đập

của những nền văn hóa.” [52] Bùi Việt Thắng cũng rất tâm đắc Quyên ở vấn

đề thân phận con người “Đọc lại Quyên của nhà văn Nguyễn Văn Thọ, tôi lại

thấy cái chủ đề Thân phận và Thân xác nó hài hoà nhau.” [77]

Ngoài ra, Nguyễn Văn Thọ còn được xem là nhà văn của phái yếu Dùtrong truyện ngắn, tiểu thuyết hay tạp văn thì thân phận người phụ nữ luônđược nhà văn quan tâm một cách đặc biệt

Như vậy, mặc dù chưa có những công trình thực sự quy mô nghiên cứu

về sáng tác nói chung và thân phận người Việt xa xứ nói riêng trong các tácphẩm của Nguyễn Văn Thọ Tuy nhiên, những ý kiến ít ỏi đó cũng trình bàynhững cách cảm nhận về sáng tác của Nguyễn Văn Thọ theo những chủ điểmkhá tập trung Điều này cho thấy sự viết "một cách ý thức" của nhà văn Tất

cả những ý kiến của người đi trước sẽ là gợi ý quý báu cho chúng tôi trongquá trình hoàn thành luận văn này

Trang 11

3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi khảo sát

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Thân phận người Việt xa xứ trong văn xuôi nhà văn Nguyễn Văn Thọ 3.2 Phạm vi tư liệu khảo sát

Gồm các sáng tác của Nguyễn Văn Thọ, thuộc các thể loại truyện ngắn,tiểu thuyết và tạp văn

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Làm nổi bật những giá trị nội dung cũng như nghệ thuật trong sáng tác vănxuôi của Nguyễn Văn Thọ viết về đề tài Người Việt xa xứ Với mục đích này,trong luận văn chúng tôi hướng đến tập trung giải quyết một số nhiệm vụ như sau:

- Khái quát về văn xuôi của Nguyễn Văn Thọ trong bối cảnh văn xuôiViệt Nam hải ngoại đương đại

- Tìm hiểu những chủ đề và quan niệm cơ bản của Nguyễn Văn Thọkhi viết về thân phận người Việt xa xứ

- Chỉ ra những đặc điểm cơ bản trong nghệ thuật thể hiện thân phậnngười Việt xa xứ trong sáng tác của Nguyễn Văn Thọ

5 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp khảo sát, thống kê, phân loại

- Phương pháp so sánh, đối chiếu

- Phương pháp phân tích, tổng hợp

6 Đóng góp của luận văn

- Luận văn đã hệ thống được một số đặc điểm cơ bản nhất về giá trị nộidung và nghệ thuật trong các sáng tác văn xuôi của Nguyễn Văn Thọ khi viết

về đề tài Thân phận người Việt xa xứ.

- Luận văn có thể cung cấp tài liệu cho những ai quan tâm đến vấn đềvăn học hải ngoại và tác phẩm của Nguyễn Văn Thọ viết về cuộc sống ngườiViệt tại nước ngoài

Trang 12

7 Cấu trúc của luận văn

Tương ứng với các nhiệm vụ, mục đích đã đề ra, ngoài Mở đầu, Kết

luận và Tài liệu tham khảo, luận văn được chia làm ba chương:

- Chương 1: Văn xuôi Nguyễn Văn Thọ trong bối cảnh văn xuôi ViệtNam ở hải ngoại đương đại

- Chương 2: Những vấn đề cơ bản về thân phận người Việt xa xứ trongvăn xuôi của Nguyễn Văn Thọ

- Chương 3: Nghệ thuật thể hiện thân phận con người xa xứ trong vănxuôi của Nguyễn Văn Thọ

Trang 13

Chương 1 VĂN XUÔI NGUYỄN VĂN THỌ TRONG BỐI CẢNH

VĂN XUÔI VIỆT NAM Ở HẢI NGOẠI ĐƯƠNG ĐẠI

1.1 Một số vấn đề về văn xuôi Việt Nam ở hải ngoại

1.1.1 Khái niệm văn học Việt Nam hải ngoại

Hiện nay, tồn tại song song với nền văn học "quốc nội", có một bộphận văn học được viết bằng tiếng mẹ đẻ do người Việt đang sinh sống vàlàm việc ở ngoài nước, bộ phận văn học đó có danh xưng là văn học ViệtNam hải ngoại Vậy nguyên nhân vì sao lại có một bộ phận văn học nằmngoài đất nước, và nó được hình thành từ bao giờ?

Trong lịch sử dân tộc ta, đã có nhiều đợt di dân ra ngoài biên giới quốcgia và nguyên nhân chủ yếu là do tỵ nạn chính trị Vào thời nhà Trần, năm

1226, Hoàng tử nhà Lý, Lý Long Tường, cùng sáu ngàn gia thuộc trước sựbức bách của Trần Thủ Độ, phải chạy nạn sang Cao Ly Đến những năm đầuthế kỉ XX cũng có những người Việt yêu nước di tản ra nước ngoài tìm đườnggiải phóng ách nô lệ cho quê hương Trong quá trình đó, họ sáng tác vănchương nhằm phục vụ ý đồ chính trị của mình, như trường hợp Phan Bội

Châu (Hải ngoại huyết thư, Lưu cầu huyết lệ tân thư, Ngục trung thư), Phan Châu Trinh (Xăngtê thi tập, Giai nhân kì ngộ diễn ca, Thất điều thư), Nguyễn Ái Quốc (Truyện và kí)… Tuy nhiên, những cuộc ra đi như thế này

thường ở quy mô nhỏ lẻ của một số cá nhân hay một nhóm người, nó chưathực sự đặt ra một vấn đề xã hội lớn lao; đồng thời tác phẩm của họ chưa

đủ gây dựng nên một dòng chảy tại hải ngoại Chỉ đến sự kiện lịch sử 30tháng 4 năm 1975, với một số lượng người rất lớn (ban đầu khoảng130.000 người) di tản ra nước ngoài, nền văn học Việt Nam ngoài đất nướcmới bắt đầu được khởi tạo

Trang 14

Sự kiện giải phóng miền Nam năm 1975 là một tất yếu của quá trìnhđấu tranh thống nhất nước nhà của nhân dân ta Song trên thực tế, do bất đồngchính trị, có không ít người Việt (chủ yếu là sĩ quan, công chức, văn nghệ sĩ,binh lính của bộ máy chính quyền chế độ cũ) rời bỏ tổ quốc di tản ra nướcngoài định cư (nhiều nhất là ở Mĩ) Trong số đó có những nhà văn, nhà thơtừng một thời cầm bút tại quê nhà Khi cuộc sống mới đã ổn định, họ sáng táctrở lại Chính những thế hệ nhà văn, nhà thơ này là người đầu tiền đặt nềnmóng cho văn học Việt Nam ở nước ngoài.

Hiện nay vẫn có nhiều ý kiến tranh luận xoay quanh vấn đề gọi tên cho

bộ phận văn học này Người thì gọi là văn học lưu vong, văn chương lưu đày,văn học miền Nam nối dài, có người lại gọi là văn học di dân, hoặc văn họcViệt Nam hải ngoại…

Sở dĩ bộ phận văn học Việt Nam hải ngoại có những tên gọi như trên là

có nguyên do của nó Ban đầu, nó thực sự là văn học lưu vong Còn có nhữngtên gọi khác như "văn chương lưu đày", hoặc "văn học miền Nam kéo dài".Bởi đó là bộ phận văn học của chính những người miền Nam lưu vong chínhtrị tại hải ngoại; và khi ra nước ngoài họ vẫn còn giữ phong cách như thời còn

ở quốc nội Đặc điểm đặc trưng của văn học lưu vong là tính đối kháng chínhtrị với chính quyền trong nước

Cũng có người cho rằng, đây là văn học di dân vì tính chất địa lí nơi nóhình thành Theo định nghĩa của Liên Hợp Quốc, di dân là "sự di chuyển dân

cư từ một đơn vị lãnh thổ này đến một đơn vị lãnh thổ khác, nhằm thiết lậpmột nơi cư trú mới trong một không gian thời gian nhất định." [50] Gọi vănhọc của những người Việt ở nước ngoài là "văn học di dân" cũng có phầnthoả đáng, bởi nó mang đến một nhận thức khá nhẹ nhàng, bớt phần kì thị,

"nghiêm trọng hoá" Văn học di dân nhấn mạnh đến lòng hoài niệm quêhương và cảm thức lưu lạc Dòng văn học này ít mang tính chính trị, nó thuộc

Trang 15

về các thế hệ nhà văn xuất ngoại theo con đường du học hoặc xuất khẩu laođộng ở lại.

Vì sao bây giờ người ta không gọi bộ phận văn học của người Việt sinhsống ở nước ngoài sáng tác là "văn học lưu vong" hay "văn học di dân" nữa?

"Văn học di dân" là một khái niệm vay mượn Theo Đào Trung Đạo

trong bài viết Nhà / quê nhà trong văn chương vô xứ Việt Nam, văn học di

dân là dùng để "chỉ một mảng văn chương xuất hiện ở Âu-Mỹ từ trên 100năm nay, có thể nói đã khởi đầu với Josept Conrad, tiếp theo là những tên tuổilớn như James Joyce, Thomas Mann, Samuel Beckett, Vladimir Nabokov,Jorge Luis Borges, Gabriel Garcia Marquez…"[18]

Bản chất của từ di dân lại bao hàm một ý nghĩa rộng lớn Di dân, tức là

"sự di chuyển dân cư từ một đơn vị lãnh thổ này đến một đơn vị lãnh thổkhác, nhằm thiết lập một nơi cư trú mới trong một không gian thời gian nhấtđịnh." [50] Nhưng có những cuộc di dân không ra ngoài phạm vi của mộtquốc gia, mà chỉ ở những vùng miền trong một dân tộc Vậy bộ phận văn họccủa những người di dân trong nước sẽ gọi là gì?

Vả lại, khái niệm văn học di dân chấp nhận cả văn học dòng chính vàvăn học thiểu số tức là văn học viết bằng tiếng mẹ đẻ và tiếng bản địa Vì vậydùng khái niệm văn học di dân vẫn còn chưa hợp lí

"Lưu vong" cũng là một khái niệm vay mượn nốt Nó xuất phát từ tiếng

Hy Lạp cổ (diaspora), được dùng để chỉ tình cảnh của những người Do Tháikhi bị đuổi ra khỏi quê nhà, phải sống tha hương ở nước ngoài Đến thập niên

60 của thế kỉ XX, khái niệm lưu vong trở nên phổ biến hơn, trước hiện tượnghàng chục triệu người Phi châu phải rời quê hương để sống ở châu Mỹ vànhiều nơi khác Về sau, nó được dùng chung để chỉ những người di dân bịcưỡng bức, do hoàn cảnh chính trị [68] Nếu xét về tính chất đối kháng chínhtrị của người cầm bút, nó chỉ đúng có một phần Trên thực tế, những người

Trang 16

Việt Nam hiện đang sinh sống và làm việc tại nước ngoài (khoảng 4 triệungười) không phải ai cũng thuộc số người đối kháng chính trị Trừ phần lớnnhững người sau biến cố 30 tháng 4 năm 1975 rời khỏi đất nước qua các conđường di tản, vượt biên, đoàn tụ, diện H.O, là những người lưu vong thực sự(thậm chí có người tự nhận là tỵ nạn chính trị để được chấp nhận cư trú); cònrất nhiều người Việt đi du học hoặc đi xuất khẩu lao động nước ngoài sau đó

ở lại (tường nhân), không thể xếp họ vào những người lưu vong được Có thểkhẳng định cộng đồng người Việt ở hải ngoại trước năm 1990 chủ yếu là cộngđồng lưu vong còn sau năm 1990 trở đi không hẵn là thế

Hơn nữa, bản thân từ "lưu vong" gợi ra ấn tượng bi thảm Theo tiếngHán, lưu: trôi; vong: mất Lưu vong gợi đến một viễn cảnh mịt mù, tăm tối.Chính vì thế dùng khái niệm văn học lưu vong để chỉ những sáng tác củacộng đồng người Việt ở nước ngoài hiện nay là bất cập vì chưa thể ôm trọncác dòng chảy của bộ phận văn học này

Trong khi đó, khái niệm văn học Việt Nam hải ngoại vừa nói lên được

vị trí địa lí của đối tượng sáng tác (nó lấy Việt Nam làm khởi điểm, đi đến cácvấn đề “trong” và “ngoài” của chính Việt Nam; chứ không lệ thuộc những gìngoài Việt Nam: “nước ngoài”) vừa không tạo ra mặc cảm tâm lí bi thảm,đồng thời nó trung hòa về mặt chính trị Lại phù hợp cho người trong nướcdùng để gọi một bộ phận văn học của người Việt sinh sống ở nước ngoài.Ngoài ra, nó còn hàm ý: giới hạn thể tài, chỉ xét các tác phẩm viết bằng tiếngViệt và xa gần có liên quan đến người Việt, đất nước Việt Nam [72]

Như đã nói, ban đầu văn học Việt Nam hải ngoại được gọi là văn họclưu vong Đến năm 1987, Đỗ Quý Toàn đã đề nghị dùng thuật ngữ "văn họchải ngoại" Tháng 7 năm 1988, Bùi Vĩnh Phúc trên tạp chí Văn học số 30 đã

có một bài phân tích khá kĩ và đề xuất nên dùng cụm từ "văn chương ngoàinước" vì theo ông hai chữ Hán Việt "hải ngoại" không sát nghĩa bằng hai chữ

Trang 17

thuần Việt "ngoài nước" Nếu dùng từ Hán Việt phải dùng chữ "quốc ngoại".Nhưng dùng chữ ngoài nước lại có âm vang, gần gũi với đất nước và ngườiViệt hơn Vả lại khái niệm văn chương ngoài nước "ở mặt này hay mặt khác,vẫn có những điểm gắn bó xương thịt, xa gần với đất nước, quê hương, vớinhững thao thức của cả một dân tộc Ngoài nhưng vẫn trong là thế." [66]

Thụy Khuê, trong bài viết Hai mươi nhăm năm văn học Việt Nam hải

ngoại 1975 - 2000, luận giải: "chữ nước trong danh từ đất nước của chúng ta,

có hàm nghĩa nước là thủy, như nước sông, nước biển, mà chữ quốc củangười Trung Hoa không có Và có lẽ ít ngôn ngữ nào trên thế giới diễn tảđược hình ảnh đất nước với hai yếu tố xương thịt cơ bản tác thành nên nó: đất

và nước như tiếng Việt Nếu không có đất và không có nước thì không có sựsống, không có vật và người […] Ngoài ra nước biển còn có liên hệ tử sinhvới người vượt biển, thành phần chủ chốt của văn học Việt Nam hải ngoại.Vậy nước trong chữ hải (biển) cũng là thành tố của đất nước Và hải ngoại chỉ

là một cách nói khác, để chỉ những gì ngoài đất nước Do đó hải ngoại vàngoài nước là những từ tương đương." [43]

Theo Nguyễn Mộng Giác nếu gọi bộ phận văn học này là "văn chươnglưu vong" thì đã nhấn mạnh được chủ đề phản kháng chính trị nhưng lại bỏqua tâm tình quen thuộc của các lớp người di dân; còn ngược lại nếu gọi bộphận văn học đó là "văn chương di dân" thì chỉ nhấn mạnh được khía cạnhlòng hoài niệm quê hương và cảm thức lưu lạc mà lại gạt bỏ cốt lõi quantrong nhất của văn học hải ngoại đó là chính trị Chính vì vậy nhà văn đã đềxuất dùng cụm từ "văn học Việt Nam hải ngoại." [27]

"Từ các năm 1990 sau sự kiện bức tường Berlin, cách gọi văn học ViệtNam hải ngoại trở nên chính thức hơn và vượt ra ý nghĩa ban đầu Qua cácnăm 2000, hơn mươi năm nay nó trở nên cách gọi tương đối bình thường (ítcòn tính thời cuộc và chính kiến) về sáng tác của người Việt Nam đang sống

Trang 18

ở nước ngoài." [72] Theo Đỗ Quyên, lâu nay 3 khái niệm trên luôn tạo bấtđồng, cố ý hoặc vô tình, trong bài vở, tranh luận ở cả trong lẫn ngoài nước.

Do tiếp nhận của người đọc, cũng do điểm nhìn của người viết Tất cả phầnnhiều là từ quan điểm chính trị (Quốc - Cộng) mà ra Nếu như có chính kiếnkhách quan, khoa học và thực tế (bao dung) thì 3 khái niệm trên chỉ là

“chuyện nhỏ”, là vấn đề tu từ Hoàng Ngọc Hiến trong bài viết Đọc văn học

Việt Nam hải ngoại cũng đưa ra quan điểm cho rằng, tên gọi không quan

trọng miễn là nó phải có giá trị văn học: “Nếu như văn học di tản trước hết làvăn học, văn học lưu vong trước hết là văn học, văn học hải ngoại trước hết làvăn học… thì sự khác biệt giữa những tên gọi không đến nỗi quan trọng như

HO, và những tường nhân) sáng tác bằng tiếng mẹ đẻ, và viết về những vấn

đề của người Việt mình

Thứ hai, Văn học Việt Nam hải ngoại là một bộ phận văn học ViệtNam, do người Việt sống ở nước ngoài sáng tác, cho nên, chỉ có những tácphẩm được viết bằng tiếng mẹ đẻ mới thuộc về văn học Việt Nam hải ngoại;còn những sáng tác viết bằng tiếng của nước bản địa hoặc khác tiếng Việt sẽkhông được chấp nhận Điều này đồng nghĩa với việc "văn chương Việt Nam

ở hải ngoại không nhắm tới khối độc giả bản xứ, nghĩa là ngay từ đầu không

có ý muốn hội nhập." [24]

Thứ ba, những nhà văn hải ngoại, viết bằng tiếng Việt hoặc tiếng bản

xứ, nhưng viết về người bản xứ nơi họ sống, không có mối liên hệ gì về con

Trang 19

người Việt Nam dù là bản thân người viết, thì không được coi là văn học ViệtNam hải ngoại.

1.1.2 Nhìn chung về văn xuôi Việt Nam ở hải ngoại

Văn học Việt Nam ở hải ngoại tình từ thời điểm năm 1975 đến nay đãtrải qua một chặng đường khá dài Nó đã tạo nên một diện mạo rõ nét vớinhiều thể loại đặc trưng Trong đó, văn xuôi đã có mặt từ những ngày đầu gắnliền với các nhà văn miền Nam di tản như Võ Phiến, Lê Tất Điều, ThanhNam Tuy nhiên, giai đoạn này văn xuôi nói chung còn hạn chế về số lượngcũng như chất lượng Tâm thế nhà văn và những điều kiện cần thiết khác cònchưa bảo đảm để hình thành một dòng văn học Việt Nam ở hải ngoại pháttriển Những ngày đầu, hầu hết cách nhà văn đang còn trong tâm trạng rấthoảng hốt, lo âu của "những kẻ đào tẩu" Rời khỏi tổ quốc họ phải đối diệnvới một cú sốc văn hóa khá nặng nề Cuộc sống mưu sinh hằng ngày hầu nhưchiếm trọn tâm trí cho nên không mấy ai quan tâm đến văn học Ý nghĩ viếtlại, sống bằng nghề văn quả rất hiếm Ngay đến cả những nhà văn từng nổitiếng trong nước như Võ Phiến cũng không giám nghĩ đến một sự nghiệp văn

chương cho mình về sau Trong Thư gửi bạn, ông tâm sự "từ ngày bỏ nước ra

đi, tôi đâu còn nghĩ đến chuyện nghệ thuật văn chương nữa" Võ Phiến nêuđược một nguyên nhân quan trọng: "ai lại nghĩ xây dựng một sự nghiệp vănnghệ trong vòng vài trăm ngàn người, tản mát khăp mặt địa cầu, mỗi ngàymột xa lạc ngôn ngữ dân tộc, xa rời cuộc sống dân tộc” Với ông, viết văn chỉ

để thỏa mãn một "nhu cầu lẩm cẩm." [67]

Không có độc giả, đội ngũ nhà văn mất niềm tin vào tương lai nghềnghiệp, chính vì vậy văn học Việt Nam hải ngoại rơi vào tình trạng chết lịmtrong mấy năm đầu Các tác phẩm bằng văn xuôi rất ít ỏi Chủ yếu là sáng táccủa ba nhà văn có công giữ lửa cho bộ phận văn học chưa kịp hình thành mà

có nguy cơ nguội lạnh Thanh Nam với hồi ký Hai mươi năm Việt Nam làm

Trang 20

báo, Lê Tất Điều với phiếm luận Một quả cười đểu mùa Xuân và một tập tùy

bút in chung với Võ Phiến: Ly Hương (1977), Võ Phiến với ba tập tùy bút: Ly

Hương (1977), Thư gửi bạn (1976), Lại thư gửi bạn (1979) và một quyển tiểu

thuyết: Nguyên Vẹn (1978) Âm hưởng chủ yếu của những sáng tác giai đoạn

đầu là: "tiếc nuối một thời hoàng kim đã mất, xót xa trăn trở với những khổ ải

đã trải qua, lật từng trang album bồi hồi với những kỷ niệm, mơ ước ngày trở

về có khải hoàn môn dựng trên khắp nẻo đường và gặp lại một quê hương ynguyên như thời hoàng kim cũ." [26]

Đến năm 1979, phong trào vượt biên của người Việt theo đường biển ranước ngoài ngày càng rầm rộ Đây chính là thời điểm văn học Việt Nam hảingoại có bước chuyển mình Cộng đồng người Việt lưu vong ở nước ngoàingày càng đông đảo và có phần tập trung hơn Điều này đồng nghĩa với việcđội ngũ nhà văn cũng như độc giả ngày thêm hùng hậu Mặc dù giai đoạn từ

1979 đến 1981 số lượng tác phẩm văn học xuất bản không nhiêu nhưng có thểnói đây là bước chuyển mình của văn học Việt Nam hải ngoại để bắt đầu từnăm 1982 trở về sau phát triển một cách mạnh mẽ chưa từng thấy

Từ năm 1982 đến 1990 là thời kì phát triển nở rộ của bộ phận văn họcnày Đội ngũ sáng tác được bổ sung đông đảo từ nguồn vượt biên những năm

1979 Họ có những thuận lợi nhất định trong việc cầm bút so với thế hệ di tản

lần thứ nhất Trong bài Khả năng và triển vọng của văn học hải ngoại, đăng

trên Thế Kỷ 21- Bộ 1 - Số 1 - Ngày 1 tháng 5 năm 1989, Nguyễn Mộng Giácchỉ ra những điều kiện, đó là: "họ sang vào lúc những người Việt sống tứ tánkhắp nơi đã tập trung lại thành cộng đồng, các cơ sở kinh doanh buôn bán củangười Việt đã mọc lên và phát triển nhanh Các thảm cảnh vượt biển làm rúngđộng thế giới, nên quy chế trợ cấp xã hội và huấn nghệ ở các nước đệ tam tỏ

ra dễ dàng, dành nhiều ưu tiên cho người tị nạn Số người đọc tăng, số ngườiviết tăng, sách báo Việt ngữ phát triển…" [22] Hơn nữa, phần lớn nhà văn

Trang 21

nhà thơ vượt biên lần này ít nhiều đã trải nghiệm được cuộc sống trong nước,trong các trại cải tạo sau biến cố tháng tư, đồng thời với quá trình vượt biênđầy kinh hoàng trên biển, cuộc đời họ đã có sẵn biết bao chuyện để viết chẳngcần thêm thắt, tô vẽ Đó là nguồn đề tài lớn để họ nhanh chóng đến với vănhọc Với họ viết "là một cách giải tỏa những uất ức, những hậm hực, nhữngdồn nén trong tâm hồn." [68] Vì vậy, vừa định cư xong là họ bắt tay vào côngviệc sáng tác, thậm chí có nhiều tác phẩm được khởi thảo ngay trong các trại

tị nạn như Đại học máu của Hà Thúc Sinh, Đáy Địa Ngục của Tạ Tỵ, tập truyện ngắn Ngựa nản chân bon, Xuôi dòng, tập 1 bộ trường thiên tiểu thuyết

Mùa biển động của Nguyễn Mộng Giác Về phía độc giả, cộng đồng người

Việt tị nạn ở nước ngoài tính đến thời điểm giữa năm 1982, theo thống kê củaCao Ủy Tị Nạn Liên Hợp Quốc, lên 900.000 người Đó là con số đáng kể gópphần thúc đẩy không nhỏ cho sự phát triển của văn học Việt Nam hải ngoại.Kèm theo đó là sự xuất hiện có tính tất yếu của nhiều tờ báo, tạp chí, trong đó

có những tờ chuyên về văn học Sự phát triển, ứng dụng rộng rãi internet đãgóp phần quan trọng thu hẹp khoảng cách không gian, thời gian giữa tácphẩm và bạn đọc, cả hải ngoại lẫn quốc nội… Những điều kiện đó khiến chovăn học hải ngoại có được những thành tựu đáng chú ý Các thể loại văn xuôi

phát triển mạnh Xuất hiện những tác phẩm dài hơi, như Anh hùng Lĩnh Nam,

Cẩm khê di hận, Anh hùng Tiêu sơn của Trần Đại Sỹ, Người đi trên mây của

Nguyễn Xuân Hoàng, Giấc mơ của Nguyên Sa… Đặc biệt là bộ trường thiên tiểu thuyết Mùa biển động năm tập gồm 1860 trang của Nguyễn mộng Giác.

Đây được xem bộ sách hoàn chỉnh nhất của văn học Việt Nam trong nhiềuthập niên qua Tuy nhiên, thể loại được xem là phát triển nhất giai đoạn nàyphải kể đến hồi ký và truyện ngắn Hồi kí của lớp người vượt biên là những kí

ức đau buồn về những gì họ chịu đựng trong trại cải tạo khi còn ở Việt Nam,hoặc những chuyến vượt biển kinh hoàng khi đối diện với tử thần Một số tác

Trang 22

phẩm tiêu biểu như Tháng ba gãy súng (Cao Xuân Huy), Ngày N+ (Hoàng Khởi Phong), Cùm Đỏ (Phạm Quốc Bảo), Đại học Máu (Hà Thúc Sinh)…

Nhìn chung những cuốn hồi ký này chủ yếu là những ghi chép, tường thuật lạicác sự kiện, chưa có tính khái quát, và chủ yếu là viết bằng giọng văn hằnhọc, căm phẫn Thậm chí theo Trần Mộng Tú: một vài hồi ký của các nhânvật cao cấp trong quân đội hay trong chính quyền của cả hai nền Cộng hòa thìđược các độc giả cùng binh chủng, cùng lãnh vực dân sự nhận định là thiếutrung thực và đề cao cá nhân Vì vậy nhiều nhà nghiên cứu văn học hải ngoạikhông xem chúng như một thể loại văn chương hoặc nếu có thì cũng không

đề cao giá trị văn học của thể loại này

Vào những năm 1980 trở đi, truyện ngắn đã gặt hái được những thành

tựu đáng kể Ngoài những cây bút gạo cội như Nguyễn Mộng Giác (Ngựa

nản chân bon, Xuôi dòng), Nhật Tiến (Tiếng kèn, Một thời đã qua, Cánh cửa), Mai Thảo (Ngọn hải đăng mù)… xuất hiện các cây viết mới: Thế

Giang, Trần Vũ, Vũ Quỳnh Hương, Phan Thi Trọng Tuyến, Trần Diệu Hằng,Nguyễn Thị Hoàng Bắc, Nguyễn Thị Thanh Bình, Trần Thị Kim Lan, HồĐình Nghiêm, Nguyễn Ý Thuần Ngô Nguyên Dũng, Trân Sa, Dương NhưNguyện, Vũ Quỳnh N.H… Trong đó Thế Giang, Trần Vũ, Vũ Quỳnh Hươngđược đánh giá rất cao, "sắc sảo trong cách nhìn, sự vững vàng trong kỹ thuật

và sự tài hoa trong ngôn ngữ." [66]

Truyện ngắn giai đoạn này tập trung vào hai mảng đề tài lớn, đó là ảoảnh về một quê hương không còn nữa và thực tại kinh hoàng của những ngàyvượt biển đối diện với hải tặc, sinh tử

Từ những năm 1990 đến 1995, văn học Việt Nam hải ngoại bắt đầubước vào thời kỳ bế tắc Theo Nguyễn Hưng Quốc, có ba nguyên nhân cho sựsuy thoái này Thứ nhất: sự xuất hiện của những cây bút trẻ ngày càng thưathớt; thứ hai: nhịp độ sáng tác chậm; nguyên nhân cuối cùng và quyết định

Trang 23

nhất đó là do lòng yêu văn học của cộng đồng người Việt ở nước ngoài khôngcòn như trước nữa Tuy nhiên, từ sau 1990, cùng với nhiều văn nghệ sĩ tiến bộtrong nước, các nhà văn hải ngoại đã chủ động phong trào hòa hợp dân tộctrong văn chương Hòa hợp, tức là xóa bỏ hận thù, bước qua rào cản, ranhgiới quốc - cộng để cùng nhau xây dựng một nền văn học đổi mới toàn diện.Họa sĩ, nhà văn Khánh Trường là một trong những người đi tiên phong Ông

sáng lập ra tòa báo Hợp lưu Trong số báo ra ngày 01 tháng 10 năm 1991, Khánh Trường xác định "Hợp lưu sẽ là diễn đàn phổ biến tất cả các tác phẩm

của anh em văn nghệ sĩ trong và ngoài nước, những tác phẩm nói lên khátvọng chung của dân tộc… cũng như phô diễn được cái hay cái đẹp của ngôn

ngữ Việt." [39] Đến Hợp Lưu số 65 tháng 6&7 năm 2002 ông một lần nữa khẳng định: "Với chủ trương đã được đề ra từ đầu, Hợp Lưu là sân chơi tự do, tuyệt đối tự do Hợp Lưu không úy kỵ hay tự đóng khung trong bất cứ trường

phái, quan niệm (chính trị, văn học, nghệ thuật) nào Chỉ một điều duy nhất

Hợp Lưu cố gắng duy trì và triển khai, đó là giá trị thực sự của các sáng tác.

Một tác phẩm hay, dù được viết bởi một văn nô của Bắc bộ phủ hay của một

nhà văn quốc gia tỵ nạn cộng sản Hợp Lưu đều xem như nhau, nghĩa là Hợp

Lưu sẽ rất trang trọng đăng tải, dù thừa biết sẽ bị chụp mũ, xuyên tạc từ hai

phía đối nghịch (như đã nhiều lần từng xảy ra)." [43] (Tuy chủ trương củaKhánh Trường khá tiến bộ nhưng bản thân ông vẫn còn có thái độ kỳ đến bấtnhã với những nhà văn cách mạng trong nước) Sau đó 1 năm, vào tháng6/1992, nhóm Trân Sa, Tư Đồ Tuệ, Hà Trọng Vũ ở Toronto, Canada, xuất bản

tạp chí Trăm Con Trên tinh thần đó, có nhiều nhà văn bắt đầu tính chuyện

"hợp lưu" Chẳng hạn như tập truyện ngắn Quê nhà, quê người (1994) của

Nhật Tiến in chung với Nguyễn Nhật Tuấn

Từ năm 1995 đến nay, có thể coi là quãng giao ban giữa các thế hệ cầmbút cũ và mới Văn học Việt Nam hải ngoại tuy không đạt được những thành

Trang 24

tựu lớn như ở giai đoạn thứ ba nhưng lại có nhiều cây bút mới xuất hiện Thế

hệ nhà văn sau này thường ít quan tâm đến vấn đề chính trị, họ cũng không cónhiều kí ức quê nhà như các thế hệ cha anh Vì thế đề tài họ quan tâm là vấn

đề hội nhập ngay tại đất nước họ sinh sống Đó là những cây bút Trần Vũ,Mai Ninh, Thuận, Thế Dũng, Lê Minh Hà, Đoàn Minh Phượng, Hoàng NgọcThư, Lê Quỳnh Mai, Nguyễn Xuân Tường Vy, Hoàng Long v.v…

Về hình thức, các nhà văn trẻ thường tìm đến lối viết hiện đại và hậuhiện đại Về nội dung, không còn tập trung vào các đề tài như trước nữa (hoàiniệm, hội nhập, chính trị…) mà chúng đan cài vào nhau Đất nước và conngười ở quê nhà được quan tâm nhiều hơn Về không gian, nước Mỹ khôngcòn là trung tâm độc quyền để phát triển văn học hải ngoại mà xu hướng toàncầu hóa Đặc biệt văn học của người Việt ở Đông Âu xuất hiện nhiều tác giảtác phẩm

1.1.3 Một số thành tựu và tác giả tiêu biểu của văn xuôi Việt Nam ở hải ngoại

Như đã nói văn học hải ngoại từ khi hình thành đến nay đã trải qua nămchặng đường Mỗi giai đoạn có những nét đăc thù riêng Có lúc nó chỉ mới làthời kỳ thai nghén, có lúc lại phát triển manh mẽ, thu được nhiều thành tựu.Gần bốn mươi năm hình thành và phát triển, thật khó để kể hết số lượng tác

giả, tác phẩm Bởi tháng 5, năm 1989, trên tạp chí Thế Kỷ 21 - Bộ 1 - Số 1 trong bài viết Khả năng và triển vọng của văn học hải ngoại, Nguyễn Mộng

Giác cho biết: "Trong cuốn tuyển tập thơ văn do nhà xuất bản Văn Hữu innăm 1982, nhà văn Võ Phiến đếm được 90 tác giả, trong đó có 28 người viếtsau 1975 Trong cuốn Thơ Văn Việt Nam hải ngoại do nhà xuất bản SôngThu in năm 1985, tập 1 đã phát hành có 60 tác giả, trong đó có 12 tác giả mới.Tập 2 chưa phát hành có 44 tác giả, trong đó có 21 tác giả mới Từ 1985 đếnnay, đã có thêm nhiều cây bút mới gạo cội xuất hiện Một lực lượng cả cũ lẫn

Trang 25

mới thật đông đảo." [22] Tuy nhiên, Văn học Việt Nam hải ngoại có được bộmặt như ngày hôm nay, phải kể đến những nổ lực, đam mê văn chương củamột số cá nhân tiêu biểu.

Vào thời kì đầu, từ năm 1975 - 1980, phải kể đến công lao của VõPhiến, Lê Tất Điều, Thanh Nam Thanh Nam sáng tác không nhiều (một tập

thiên hồi ký dở dang Hai mươi năm Việt Nam làm báo, một tập thơ nổi tiếng

Đất Khách), nhưng lại có công lớn trong lĩnh vực báo chí (từng làm Tổng thư

ký, chủ bút của tờ Đất mới) Nguyễn Hưng Quốc xem ông là người "giữ lửa

trong một thời kỳ băng giá" của văn học Việt Nam hải ngoại Lê Tất Điều giai

đoạn này nổi tiếng không phải lĩnh vực văn xuôi mà là thơ Tập thơ Cao Tần

đã làm rung động rất nhiều con tim Việt Nam tại hải ngoại vì nói lên đượctâm sự lưu vong của họ lúc đó Tất nhiên, trong số ba nhân vật này, Võ Phiếnđược xem như "cây đa, cây đề" Trước khi di tản, ông vốn đã nổi tiếng.Những sáng tác trước đây của Võ Phiến được in lại Người Việt hải ngoại lúc

đó xem tác phẩm của ông "như manh áo rách cuối cùng còn lại trên thân saucuộc đổi đời, như bữa cơm đầu sau những ngày đói khát trên biển." [47]

Những ngày đầu ông bắt tay viết Thư gửi bạn (1976), Ly Hương (1977), Lại

thư gửi bạn (1979) và Nguyên Vẹn (1978)

Tháng 11 năm 1982, Nguyễn Mộng Giác đã định cư tại NamCalifornia, nước Mỹ, sau vài ba năm phong trào vượt biên diễn ra rầm rồ Sựxuất hiện của Nguyễn Mộng Giác và nhiều nhà văn vượt biên từ miền NamViệt Nam đã khuấy động thực sự phong trào văn học hải ngoại Lớp vượt biênlần này khác với đợt di tản lần đầu Nguyễn Mộng Giác phát biểu: "Cuộc vượtbiển vĩ đại và bi thương chưa từng có trong lịch sử Việt Nam phơi bày cho thếgiới thấy thực chất của chế độ đang cầm quyền ở Việt Nam Cuộc di tản năml975, lâu nay vẫn bị xem như một cuộc tháo chạy thoát thân, với nhiều mặccảm nặng nề tiếp theo nhờ vụ vượt biển từ 1979 trở đi, trở thành một cuộc đi

Trang 26

tìm tự do, một quyết định sáng suốt Số người vượt biển ngày càng nhiều,trong đó có nhiều nhà văn nhà thơ có kinh nghiệm sống dưới chế độ cộng sảnsau 1975 Họ biết rõ vì sao mình ra đi, và nếu đi thoát được, lớp di tản saucũng biết rõ mình phải làm gì." [26].

Xác định như vậy, nên Nguyễn Mộng Giác đã bắt tay vào sáng tác Tập

truyện ngắn Ngựa nản chân bon và phần 1 Mùa biển động được viết ngay trên

đảo Kuku của Indonesia Có thể nói đến nay, ở thể loại trường thiên tiểu

thuyết Việt Nam hải ngoại chưa tác phẩm nào bề thế, đồ sộ như Sông Côn

mùa lũ và Mùa biển động của ông Mùa biển động là cuốn tiểu thuyết trường

thiên dài hơn 1800 trang, gồm năm phần (Những đợt sóng ngầm, Bão nổi,

Mùa biển động, Bèo giạt, Tha hương) Tác phẩm thể hiện tâm trạng của tầng

lớp tiểu tư sản, thí thức miền Nam từ tết Mậu Thân 1968 đến những ngày SàiGòn thất thủ Nguyễn Mộng Giác là người có công lớn làm cho nền văn họcViệt Nam hải ngoại phát triển

Những năm sau này, mặc dù số lượng tác phẩm văn học hải ngoại xuấtbản bằng in ấn không nhiều nhưng nếu chú ý theo dõi, người đọc thấy các tácphẩm của nó vẫn xuất hiện đều đặn qua kênh internet Những năm cuối thế kỷ

XX, đầu thế kỷ XXI có sự xuất hiện của nhiều cây viết trẻ với những phongcách mới lạ: Trần Vũ, Đỗ Kh., Thuận, Lê Thị Thấm Vân, Phạm Thị Hoài,Nguyễn Hưng Quốc…

1.2 Vấn đề thân phận người Việt xa xứ trong văn xuôi Việt Nam ở hải ngoại

1.2.1 Người Việt xa xứ như một đối tượng quan trọng của văn xuôi Việt Nam hải ngoại

Văn học Việt Nam hải ngoại dù là ở đề tài gì, và thời điểm nào, thì hìnhtượng người Việt xa xứ vẫn là một đối tượng trung tâm Vào những năm mớihình thành, văn học quan tâm nhiều đến những số phận con người đã một thời

Trang 27

sống ở Việt Nam nay đột ngột di tản ra nước ngoài trong cảnh không có nghềnghiệp ổn định, không tiền bạc, không biết ngoại ngữ, mù mờ văn hoá… Đó

là nỗi niềm hoài cổ và cảm thức bơ vơ lạc lõng nơi xứ người Điều này thấy

rất rõ trong những sáng tác văn xuôi của Võ Phiến, Lê Tất Điều (Ly hương

-in chung), Võ Đình (Xứ sấm sét), Nguyễn Bá Trạc (Ngọn cỏ Bồng) Đó là

những trăn trở trước cảnh hội nhập đất khách quê người (Hồ Trường An với

Hợp lưu, Võ Phiến với Thư gửi bạn) Từ 1981 - 1990, thân phận người Việt

được các tác giả soi chiếu vào tác phẩm của mình trên nhiều phương diện, và

có cái nhìn đa chiều hơn Số phận nhân vật hiện thân qua các trang văn xuôi

về đề tài phong tục miền Nam trở nên da diết hơn, ở đó hình bóng quê nhà vớinhững dưa, cà, mắm, muối, và những con người chân chất, bình dị hiện lênđầy ám ảnh Cũng trong giai đoạn này, văn học hải ngoại đã tái hiện những sốphận đau thương trong những lần vượt biên kinh hoàng: bị cướp bóc, bị tratấn, phụ nữ bị hãm hiếp tập thể Chưa bao giờ trong văn học, người Việt hiện

lên với những thân phận đau đớn quằn quại đến thế Hải tặc trên vịnh Thái

Lan của Nhật Tiến, Dương Phục và Vũ Thanh Thuỷ, in chung năm 1981, đã

tái hiện những thảm cảnh do bọn cướp biển gây ra cho người Việt trên những

chuyến tàu vượt biên Đặc biệt là qua bài ký của Nhật Tiến với tựa đề: Hành

trình đi tìm tự do bằng tầu thuyền qua ngã Thái Lan, tác giả bài viết đã kể lại

chuyến đi kinh hoàng của mình, trên tàu có đến 81 người tất cả phụ nữ đều bịhãm hiếp, đàn ông bị hành hung bị cướp bóc, sự đày đoạ đó diễn ra trong batuần liền Trong số đó có người đã mất vợ và cả 6 đứa con

Chính những đau đớn này góp phần tăng thêm sự căm phẫn của một sốngười đối với chế độ trong nước (dẫu biết rằng điều đó là vô lí vì những cuộcvượt biên đều là những cuộc đào tẩu, có tính toán) Vì thế những hồi ký viết

về đợt cải tạo thường bằng giọng điệu mỉa mai với một thái độ nhiều khi chưahẳn đã thực sự khách quan

Trang 28

Tuy nhiên, có thể thấy rằng, tiếp nối truyền thống yêu nước thươngnòi ngàn đời của người Việt, các tác giả người Việt ở nước ngoài, khi chọnngười Việt xa xứ làm đối tượng miêu tả, vẫn miết lên từng trang viết nhữngtình cảm muôn đời của người Việt, đấy là tình cảm hướng về dân tộc trongnhững suy tư giàu chất nhân văn Tình cảm ấy nhiều khi đến một cách tựnhiên, không chờ đợi lúc con người phải trả giá cho những giây phút thiếutỉnh táo, hay đơn giản chỉ là một tai nạn nào đó nơi đất khách quê người,không chờ đến khi chỉ còn tồn tại trong một hình - hài - tinh - thần bầm dậpnơi xứ lạ Trong tình cảm ấy, thỉnh thoảng người ta vẫn mang đến, ở mức độđậm nhạt khác nhau trong từng trường hợp cụ thể, một khát vọng mãnh liệt,

một niềm tin khắc khoải về sự hòa hợp Nhớ quê nhà, nhớ nước, đó không

phải là thứ tình cảm bao giờ cũng hiển thị một cách rõ ràng, có khi có thểđọc được trên bề mặt của diến ngôn, nhưng cũng có khi người đọc phải cố

gắng kiếm tìm dưới tầng sâu văn bản Nhớ quê, nhớ nước, đó là nỗi nhớ đối

với phong tục tập quán, thậm chí, nhớ cả những hủ tục; đấy là nhớ kỉ niệmtuổi thơ và sự trưởng thành lương thiện, cũng có khi là những kỉ niệm đắngcay Đối lập với tình cảm ấy dĩ nhiên là tâm lí "thiếu quê hương" củanhững kẻ lạc loài, lưu vong, điều mà như trên đây và sau này, chúng tôi đãtừng và sẽ tiếp tục đề cập

Trong tình trạng gặp phải rất nhiều những giới hạn như về địa lí, tưliệu, tác giả luận văn quả thật chưa thể bao quát hết, chỉ ra một cách kĩlưỡng những nội dung thẩm mĩ của hình tượng người Việt xa xứ trong vănxuôi (và văn học) Việt Nam hải ngoại Nhưng qua một số tác phẩm ít ỏi màchúng tôi có dịp tiếp xúc, có thể khẳng định rằng đã có một đối tượng quantrọng của văn học (và văn xuôi) Việt Nam hải ngoại Điều này nói lên rằng,trong sự viết của mình, Nguyễn Văn Thọ không tách khỏi quan niệmchung, tình cảm chung

Trang 29

1.2.2 Những cách nhìn về người Việt xa xứ trong văn xuôi Việt Nam

ở hải ngoại

Văn học hải ngoại là tiếng nói của những người con xa xứ, phải sốngtrên đất tạm dung với mặc cảm của những kẻ lưu vong Quan niệm của họ vềthân phận người Việt xa xứ cũng khá phong phú và đa dạng, tùy vào mỗi giaiđoạn có những biểu hiện riêng Nỗi niềm hoài cổ và tâm trạng lạc loài là nộidung chủ yếu trong sáng tác ở giai đoạn đầu (1975 - 1981) Đây thực ra là néttâm lý bình thường của những người bỗng chốc phải rời quê cha đất tổ để đếnmột nơi xa lạ với những lo âu về nổi bấp bênh của số phận Họ cảm thấyhoang mang, lo sợ, đau đớn, xót xa, phẫn uất và rất cô đơn trước thực tại Quêhương chính là nơi để họ bám víu, để nhớ nhung, hoài niệm Nhưng quêhương trong quan niệm của họ đã mất về tay Cộng sản Vì thế họ trở nên biquan và không tìm được lối thoát cho thế hệ mình

Những tác phẩm như: Một mùa xuân yên lành, Chiếc chìa khoá của Võ Phiến, Nếu bạn gặp một người di tản buồn của Lê Tất Điều và một số sáng tác của ông trong tập Ly hương in chung với Võ Phiến những năm 1980 đã

phản ánh một cách khá chân thực nhưng đầy xót xa tâm trạng nhớ nhà, nhớ

nước quặn thắt của người tị nạn Võ Đình với tập Xứ sấm sét, Nguyễn Bá Trạc với Ngọn cỏ bồng cũng diễn tả được nỗi nhớ nhà dằng dặc khôn nguôi

đượm triết lý sâu sắc Nhớ về quê nhà, họ nhớ đến cả những đồ ăn thức uống.Mắm cá, rau muống luộc, cà pháo, cá kho là những món ăn hết sức giản dịnhưng lại có sức gợi nhớ sâu sắc trong sáng tác của Võ Phiến, Nguyễn MộngGiác, Nguyễn Xuân Hoàng, Kiệt Tấn… Có thể nói, nhớ nhà, nhớ nước nhưmột "căn bệnh" bất trị của những con người sau khi đã rời khỏi quê hương

Những năm 1979 về sau, khi lớp nhà văn vượt biên xuất hiện, văn họchải ngoại có thêm sinh khí mới, đề tài hoài niệm vẫn tiếp tục được khai thác,song đã có sự phân hóa và mang tính chất khác trước Tâm tình của người

Trang 30

Việt ở hải ngoại không còn sầu thảm như trước thậm chí còn náo nhiệt vui vẻhơn (chẳng hạn trường hợp tác phẩm của Hồ Trường An) Họ đã chấp nhận

và yên tâm hơn trước cuộc sống mới trên đất khách quê người Cũng chính vìthế, họ có cái nhìn bình tĩnh, thanh thản hơn về quê nhà Họ quan tâm nhiềuhơn và khai thác triệt để hơn về phong tục tập quán miền Nam Đội ngũ nhàvăn viết về đề tại này rất đông đảo, tiêu biêu như: XuânVũ, Nguyễn Văn Sâm,

Hồ Trường An, Kiệt Tấn, Huyền Châu, Phan Thị Trọng Tuyến, Nguyễn ThịNgọc Nhung, Nguyễn Đức Lập, Võ Kỳ Điền, Ngô Nguyên Dũng, Cao BìnhMinh, Trần Thị Kim Lan, Trịnh Gia Mỹ, Nguyễn Tấn Hưng, Nguyễn Văn Ba,Huỳnh Hữu Cửu, Trần Vũ, Ngọc Khôi, Sỹ Liêm… Với lối viết và giọng vănmộc mạc, mang đậm phong cách miền Nam, các nhà văn đã gửi gắm trọn tâm

tư về một vùng quê bình dị đã xa, đã làm "oà vỡ một cách sống động và rạorực trong ta những tình cảm thiết tha với ruộng, với đất, với cảnh, với ngườiquê hương." [66]

Sau khi các nhà văn dần dần ổn định trên đất tạm dung, khát vọng đượcviết, được kể lại những gì đã trải qua trong quá khứ thôi thúc họ hơn bao giờhết Điều ấy được bộc lộ rõ nét qua các loạt cuốn hồi kí Những ghi chép đó

đã phản ánh được "hiện thực" của chế độ mới (sau ngày Nam - Bắc thốngnhất), những trải nghiệm bản thân trong các trại cải tạo và sự kinh hoàngtrong lần vượt biển để tìm đến xứ sở "tự do" Tuy nhiên, những gì họ thể hiệncòn mang tính một chiều bằng thái độ hằn học và bất hợp tác với chính quyền

mới Tháng Ba gãy súng của Cao Xuân Huy, Ngày N + của Hoàng Khởi Phong, Cùm đỏ của Phạm Quốc Bảo, Đại học máu của Hà Thúc Sinh, Đáy

địa ngục của Tạ Ty là những ví dụ tiêu biểu

Văn học Hải ngoại không chỉ là những tâm trạng sầu thảm, nhớ nhung,bất mãn của người Việt lưu vong mà còn có những cách nhìn tươi tắn, lạcquan về cuộc sống nơi xứ người Đó là những khát vọng và kinh nghiệm hội

Trang 31

nhập trên vùng đất "tạm dung" Ở giai đoạn đầu, Hồ Trường An và Võ Phiến

là hai nhà văn tiên phong Hồ Trường An có Hợp lưu, Võ Phiến có Thư gửi

bạn Về sau, khuynh hướng sáng tác này dành cho phần lớn các nhà văn trẻ

mà nhất là những cây bút nữ: Vi Khuê, Lê Thị Huệ, Trần Diệu Hằng, PhanThị Trọng Tuyến, Nguyễn Thị Ngọc Nhung, Nguyễn Thị Hoàng Bắc, Lê ThịThấm Vân, Đỗ Quỳnh Dao, Mai Ninh, Thuận, … Ngoài ra còn phải kể đếnnhững cây bút nam có kinh nghiệm viết về khuynh hướng hội nhập như:

Nguyễn Bá Trạc (Ngọn cỏ bồng, Chuyện một người di cư nhức đầu vừa phải), Nguyễn Ngọc Ngạn (Nước đục, Sau lần cửa khép), Nguyễn Xuân Hoàng (Sa

mạc), Mai Kim Ngọc (Một chút riêng tư, Bạn văn, Thuyền nhân, Nụ tầm xuân), Lê Minh Hà, Trần Vũ… Đối với thế hệ thứ nhất, trừ Hồ Trường An,

Trần Thị Kim Lan và Mai Kim Ngọc ra còn phần đông các nhà văn khácthường viết về những đổ vỡ trong con đường hội nhập Đó là sự cô đơn củangười già trước cảnh sống xa lạ nơi xứ người, đó là sự hư hỏng, mất gốc củathế hệ trẻ, đó là những bi kịch vợ chồng trong các gia đình tạm gá… Tất cảcũng do vấn đề ngôn ngữ và văn hóa cách biệt Nhưng ở thế hệ sau, họ ít bịràng buộc bởi quá khứ, họ lại nhanh nhạy về ngoại ngữ, được đào tạo khá bàibản trong nhà trường nước sở tại nên hội nhập với họ là một sự tất yếu

Văn học hải ngoại hình thành trong một hoàn cảnh khá đặc biệt, nhất làđối với các nhà văn miền Nam Thân phận nhà văn là thân phận của nhữngngười thua cuộc, phải trốn chạy, tị nạn chính trị ở nước ngoài Mặc cảm chínhtrị ở họ là nỗi ám ảnh khôn nguôi Trong tâm thức một số người, chính quyềnnhà nước đang hiện hành ở quê nhà là một chế độ "bất dân chủ", "bịp bợm".Những gì họ trải nghiệm trong các đợt cải tạo, lần vượt biên trên biển cànghằn sâu thêm ranh giới hận thù Vì thế, phản kháng chính quyền Cộng sản HàNội như một chủ đề lớn để họ tha hồ "lên án", "vạch tội", và không ngừng cổxúy cho phong trào "cờ vàng" đòi tái lập lại chính quyền Việt Nam cộng hòa

Trang 32

trước đây Đó là cái nhìn thiên kiến và đầy hận thù Những nhà văn "tiêubiểu" cho xu hướng này có thể kể đến: Nguyễn Ngọc Ngạn, Thế Giang, Xuân

Vũ, Phạm Quôc Bảo, Hà Thúc Sinh, Võ Văn Ái… Nhân vật trong sáng táccủa họ chia thành hai tuyến: nạn nhân, những người liên quan đến Việt Namcộng hòa và kẻ đáng lên án - chính quyền Cộng sản

1.3 Nguyễn Văn Thọ, một cây bút có nhiều đóng góp cho việc thể hiện thân phận người Việt xa xứ

1.3.1 Cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Văn Thọ

Nguyễn Văn Thọ sinh năm Mậu Tí (1948), quê ở Thái Bình, xuất thântrong một gia đình có truyền thống lao động nghệ thuật Chính vì vậy, Ôngđược nuôi dưỡng trong một nền văn hóa khá chỉn chu và bài bản (cha ông làhọa sỹ thuộc lứa đầu tiên của Trường Mỹ thuật Đông Dương, cũng là mộtnghệ nhân thông tỏ nhiều nhạc cụ dân tộc cổ truyền)

Năm 1965, Nguyễn Văn Thọ vào lính Đến năm 1976 xuất ngủ trở vềquê hương và làm đủ nghề để kiếm sống (bảo vệ, nhân viên chạy giấy, tạp vụ,chụp ảnh, thợ hồ…) Sau đó, ông tốt nghiệp kỹ sư Kinh tế, công tác tại BộNội thương Năm 1988 đi hợp tác lao động tại Đông Đức

Cuộc đời của nhà văn Nguyễn Văn Thọ trải qua nhiều biến động, lănlộn và đau khổ Đó cũng chính là lợi thế cho một nhà văn thiên về cách nhìncuộc sống theo chiều hướng hiện thực như ông Nguyễn Văn Thọ chỉ viết hay

về những điều mà bản thân ông đã từng mắt thấy tai nghe

Hiện nay, nhà văn đang định cự tại Đức Nhưng ông thường xuyên cómặt tại Việt Nam

Nguyễn Văn Thọ đến với văn chương khá muộn Năm 1984 viết truyện

ngắn đầu tay: Rồi chúng con sẽ trở lại quê hương Và sau đó đăng báo một số truyện ngắn như: Sương đêm, Muối mặn, Ám ảnh … Đến 1988, vì mưu sinh,

ông đã tạm ngừng việc sáng tác để đi xuất khẩu lao động tại Đông Đức

Trang 33

Nhưng do những dằn vặt từ cuộc sống, lại một lần nữa, nhà văn phải cầm bút.Ông tâm sự: "Tôi viết từ chính những gì đang diễn ra xung quanh tôi và cộngđồng những người Việt xa xứ Viết ra để tâm sự, để giải toả chính mình." [2].Cuộc sống trên đất người với bao nhọc nhằn, tủi cực đã tạo cho nhà văn có đượccái nhìn đầy cảm thông với nhiều kiếp người sống tha phương nơi xứ tuyết.

Nguyễn Văn Thọ từng được nhận nhiều giải thưởng về văn học: giải tưcuộc thi truyện ngắn của tạp chí Văn nghệ Quân đội 1998 - 2000 (truyện ngắn

Vườn Maria); giải nhì cuộc thi truyện ngắn của tạp chí Văn nghệ Quân đội

2000 - 2001 (truyện ngắn Cõi ảo); giải tư cuộc thi truyện ngắn của tạp chí Văn nghệ Quân đội 2003 - 2004 (truyện ngắn Phố cũ); giải thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam 2004 (tập truyện ngắn Vàng xưa); giải nhì cuộc thi tiểu thuyết của Hội Nhà văn Việt Nam 2006 - 2009 (tiểu thuyết Quyên)

Những tác phẩm tiêu biểu của Nguyễn Văn Thọ: thơ Mảnh vỡ (1988),

Cửa sổ (1999), Bên kia Trái đất (2002); truyện ngắn: Gió lạnh (1999), Vàng xưa (2003), Thất huyền cầm (2006), Sẩm Violet (2013), Vô danh trận mạc

(2013); tiểu thuyết: Quyên (2009); tạp văn, tùy bút: Đào ở xứ người (tùy bút, 2005), Mưa thành phố (2010 ), Vợ cũ ( tạp văn, 2013).

Năm 2003, ông được kết nạp hội viên hội nhà văn Việt Nam

Mặc dù đến với văn chương khá muộn, song Nguyễn Văn Thọ tỏ ra làmột cây bút viết khỏe, dẻo dai và chưa có dấu hiệu ngừng nghỉ Sáng tác củaông tập trung chủ yếu vào ba mảng đề tài chính: chiến tranh, Hà Nội và ngườiViệt xa xứ Về mảng đề tài thứ 3, Nguyễn Văn Thọ được đánh giá “là mộttrong số ít những cây bút đương đại xuất sắc nhất về đề tài người Việt ở hảingoại." [2]

Sáng tác của Nguyễn Văn Thọ mang đậm chất hiện thực Mỗi câuchuyện được viết ra dù ít hay nhiều cũng mang bóng dáng về cuộc đời thựccủa nhà văn

Trang 34

Xét về nghệ thuật, Nguyễn Văn Thọ không được xếp vào hạng nhà văn

có công tìm tòi đổi mới hình thức văn học Sáng tác của ông vẫn thuộc vàomạch văn truyền thống trước đây

1.3.2 Quan niệm văn học của Nguyễn Văn Thọ

Đối với bất kì một nhà văn nào, trong suốt cuộc đời cầm bút, dù trựctiếp hay gián tiếp, thì chắc chắn rằng họ sẽ có những phát biểu đây đó để nóilên quan niệm về nghề viết của mình Nguyễn Văn Thọ cũng thế Ban đầuông không có ý định trở thành nhà văn, nhưng những dằn vặt từ chính cuộcđời cay đắng của mình đã khiến ông phải cầm bút Nguyễn Văn Thọ quanniệm: "viết văn không phải để kiếm tìm danh vọng và giải thưởng" mà viếtvăn để đạt được cái đích cao cả hơn cho tâm hồn Nhà văn từng tâm sự: “Có

gì đâu, tôi hay nghĩ, tôi sáng tác vì đau khổ, vì muốn chia sẻ, tâm sự có tínhđồng loại, chứ đâu phải chiến đấu vì cái giải Chả nhẽ sự vật vã hàng ngànđêm trắng để có khi cắt máu ra mà viết chỉ để cho cái giải, thì tôi tầm thườngthế ư?” [91]

Khi thực sự "muốn chia sẻ, tâm sự có tính đồng loại" nhà văn phải quên

đi cái tôi duy ngã lớn lao của mình Ông từng khuyên thế hệ trẻ khi cầm bút:

“Bản chất của văn học là phản ánh mối quan hệ giữa con người với con

người, chứ không phải chỉ viết để thể hiện cái tôi duy ngã Cái đó không bao

giờ được bạn đọc công nhận và bạn đọc cũng không cần.” [84].

Viết văn đối với Nguyễn Văn Thọ trước hết là để “giải tỏa nỗi cô

đơn”, để nói lên những ẩn ức đè nặng tâm hồn khi phải sống trong cảnh li quê

nhục nhằn Ông tâm sự: “Tôi viết từ chính những gì đang diễn ra xung quanh

tôi và cộng đồng những người Việt xa xứ Viết ra để tâm sự, để giải toả chínhmình.” [77] Cuộc sống của những người “thợ khách” lao động làm thuê khimới đặt chân sang nước ngoài vô cùng khó khăn, vất vả Vật chất thiếu thốn,phải chịu đói, chịu rét, chịu cảnh lao động nặng nhọc và đặc biệt nhất là chịu

Trang 35

cảnh thiếu thốn về tình cảm Họ rất cô đơn nơi xứ người Những tâm sự sau,không hẳn là nỗi niềm riêng của nhà văn mà còn là tâm lí chung của baongười đồng cảnh ngộ: “Vào những năm 80, khi tôi sang Đức, cùng với nhữngngười bạn của mình đi kiếm sống lần đầu tiên, tôi nhìn thấy một chiếc tủ lạnhđầy ắp thức ăn: xúc xích, bánh mỳ, sữa tươi, [ ], mà thấy ứa nước mắt khinghĩ đến chiếc tủ lạnh với những chấm đen han gỉ và thủng lỗ chỗ của chị gáimình dùng để chạy đá Tôi từng chứng kiến cảnh cô gái cùng đoàn giữa đêmchạy vào phòng với lá thư của người chồng, khuôn mặt đẫm nước mắt Tôihiểu nỗi nhớ nhà và tình yêu của cô dành cho chồng, nhưng cũng chỉ mấy tuầnsau, cô ấy "cặp" với một anh công nhân xây dựng Tôi muốn hiểu được cănnguyên xâu xa của những sự sa ngã đó và thể hiện nó trên trang viết.” [77].

Viết văn đối với Nguyễn Văn Thọ còn "để thấy mình tử tế hơn" Trả lờicâu hỏi: “Thời buổi 'văn chương hạ giới rẻ như bèo' thế này mà anh vẫn nângniu từng câu từng chữ một như thế, lại còn dành cho tất cả những người viếtvăn nói chung một thứ tình cảm sùng kính như thế liệu có hơi… lãng phí vàlạc hậu quá không?” của phóng viên Thu Hà trên vietbao.vn, Nguyễn Văn Thọkhẳng định: “Viết văn không mang lại tiền bạc, giải thưởng càng không có giátrị vật chất nhưng nếu tôi không viết, làm gì có tôi tử tế như thế này." [30]

Và ông đã cắt nghĩa vì sao viết văn khiến cho mình tử tế hơn: "Khi tôisống cuộc sống của những thân phận tha hương nơi xứ người; khi chúng tôiphải giành giật từng cơ hội nhỏ nhất để kiếm tiền và để sống sót; khi mùađông trong khu vườn chỉ có tuyết, trong ngôi nhà có sáu cửa sổ thì cả sáu đềuphải đóng đinh để phòng cướp, ba cửa sổ khoét sẵn lỗ để chĩa súng bắn ra,còn mỗi cửa ra vào gác một thanh đao; khi vợ tôi đứng bán hàng ngoài trờimưa tuyết âm 10 độ đủ 18 tiếng mỗi ngày, chúng tôi chỉ có một mong muốnduy nhất là sống được và kiếm đủ ăn đủ mặc Khi đó, bản năng sinh tồn giúpcon người ta vượt qua những hiểm nguy và khốn khó nhất mà không kịp suy

Trang 36

nghĩ gì Nhưng những đêm dài xa quê hương, những kỳ nghỉ hè mà đàn ông

VN ngồi với nhau thì chỉ nghĩ đến chuyện nhà đất, hàng họ, còn đàn ông bản

xứ nghĩ đến việc đưa vợ con đi nghỉ ở đâu và làm thế nào để yêu vợ đượcnhiều hơn; những mùa Giáng sinh, khi cả xã hội quanh mình quay theo vòngquay hội hè và sự hưởng thụ cuộc sống đích thực - một vòng quay mà mình bịvăng ra ngoài - lúc ấy tôi thấm thía thế nào là nỗi buồn, là thân phận conngười, là sự cách biệt thăm thẳm về văn hóa Và tôi hiểu là nếu mình khôngviết thì sẽ chết mất Chết với một khối thạch khổng lồ đè nặng trong cõi lòng.Vậy là viết, mà càng viết thì càng thấy có nhiều thứ để phải viết ra Có nhữnglúc nhìn cái gì cũng ra cái nòng súng 12 ly 7 và thằng bạn cùng khẩu đội đãchết, có những khi nằm ở Posdam mà cả đêm cứ nghĩ về con ngõ nhỏ nhàmình ngày xưa, nhớ mùi hương hàng xóm thanh tân, vì cô bé mà mình say mêđầu đời tên là Hương Kinh khủng nhất là viết về những ngày mình vừa sốngqua và đang sống, ngột ngạt, căng thẳng, lạnh giá, nhưng cũng thật là nhiềuyêu thương Như là người vợ đang sống với mình vậy, từng chia sẻ, tin yêu,từng hạnh phúc, rồi từng cay đắng, nghi kỵ, từng phản bội, rồi lại cùng dựavào nhau mà sống Tôi viết về tất cả những điều đó để thấy mình đã vượt qua

nó như thế nào, để mọi người cùng yêu và ghét với tôi.” [96]

Khi bàn về cách thức viết văn, Nguyễn Văn Thọ đã mượn lời nhân vật

ông Bổi trong truyện ngắn Nuốt sách (có tên khác Miếu ông Bổi II) để nói lên

quan niệm của mình Nhà văn cho rằng viết văn cũng giống đóng thuyền Đây

là một công việc rất khó, đòi hỏi kinh nghiệm và sự lành nghề Tiêu chuẩnđầu tiên để khẳng định bản chất "thợ" của nhà văn là phải làm ra loại "thuyền"nổi được, chở được Nhưng đã là thợ giỏi phải biết "đóng" nhiều loại thuyền.Cũng giống như nhà văn giỏi, phải viết được những tác phẩm có sức bao chứanhiều tầng nghĩa Đối với Nguyễn Văn Thọ, nhà văn giỏi còn phải là người cótâm, có lòng chân thành, tuyệt đối không được dùng xảo ngôn để trí trá, lọc

Trang 37

lừa Nhà văn phải là "người dùng chữ mà lay động, dung dưỡng tâm hồn kẻkhác" Và "Muốn thế phải biết đau nỗi đau của đời, vui với hạnh phúc củangười, giãi bày ngay thẳng tấm lòng tôi mà hợp với ta, san sẻ được với ta."

[87] Trong truyện ngắn Cõi ảo mượn lời nhân vật Nguyễn Thụ, nhà văn còn

khẳng định thêm: "Trước khi viết một điều nhân ái, phải biết tập sống nhân ái.Khó lắm, nhưng phải thế!" [83;148]

Ông đề ra các phương châm trong viết lách, đó là tránh lối viết "uốnéo", không nên lạm dụng "đại ngôn" theo kiểu "thùng rỗng kêu to" mà phảiviết sao cho "bình nhiên, êm ả chảy" Ý tại ngôn ngoại vẫn là chủ trươngtrong cách viết của Nguyễn Văn Thọ Theo ông loại văn "siêu thặng, tuyệtchiêu trong thiên hạ" là loại không nói tới mà tới" Còn loại văn nói tới màkhông tới chỉ là loại vất đi [87]

1.3.3 Thái độ của Nguyễn Văn Thọ trong cách nhìn về thân phận người Việt ở hải ngoại

Trước khi bàn đến quan niệm của Nguyễn Văn Thọ về thân phận ngườiViệt ở hải ngoại, chúng ta cần xét đến vị trí của nhà văn trong dòng văn họckhá phức tạp này Trên thực tế văn học Việt Nam hải ngoại cũng chia nhiềutrường phái, nhiều quan điểm khác nhau Theo Nguyễn Mộng Giác, văn họcViệt Nam hải ngoại được hình thành chủ yếu từ hai con đường: những ngườiniềm Nam trong các đợt di tản, vượt biên, hợp thức hóa gia đình, H.O, chủyếu ở Mỹ, Úc và Canada; và những người thuộc diện xuất khẩu lao động vàsinh viên du học tập trung nhiều ở Đông Âu - Liên Xô cũ, họ được xem là nhàvăn di dân Nhà văn Nguyễn Văn Thọ, thuộc nhánh thứ hai Tức là chưa baogiờ ông được xem là nhà văn lưu vong Điều này có ý nghĩa vô cùng quantrọng vì nó quyết định đến vấn đề điểm nhìn của nhà văn Đối với nhà văn hảingoại lưu vong, dù ít dù nhiều sáng tác của họ đều xuất phát từ "mặc cảmchính trị" Cho nên, nhiều khi những gì viết ra trong tác phẩm của họ vẫn

Trang 38

chưa hẳn xuất phát từ cái nhìn khách quan, nhất là khi nói đến những người

"phía bên kia" Còn với nhà văn di dân, vấn đề chính trị ít được quan tâm, họthường xoáy sâu vào thân phận con người nơi xa xứ Yếu tố hoài niệm quênhà và xu hướng hội nhập là đề tài chủ đạo trong sáng tác của nhà văn di dân.Chính vì điều này, cách nhìn của Nguyễn Văn Thọ về đồng bào mình ở hảingoại là cách nhìn từ một nhà văn di dân

Qua sáng tác của ông, chúng tôi thấy nhà văn có cái nhìn khách quan

và khá công bằng về con người Nhân vật của Nguyễn Văn Thọ là những conngười lao động bình thường, ở họ hội đủ cả mặt tốt lẫn xấu Hùng trong

Quyên vừa là một gã đưa đường khốn nạn lại là một người đàn ông trượng

nghĩa, bao dung Nhân vật "Hắn" trong Lằn ranh kẻ cắp, trước cuộc mưa sinh

cũng có lúc nghĩ đến những việc làm ti tiện: ăn cắp tiền của chủ, song vì lòng

tự trọng nên đã biết dừng đúng lúc Dũng trong Lá bùa là một người đàn ông

từng trải, trên con đường kiếm tìm giấc mộng đổi đời đã làm không ít việcxấu xa với chính đồng bào mình nhưng trong thâm tâm luôn nghĩ đến người

anh đã hi sinh Hắn Trong bão tuyết tính nóng như lửa, sẵn sàng "thanh toán"

kẻ thù bằng những việc làm tàn bạo nhất nhưng đối với gia đình tạm gá củamình lại rất chu toàn, tình nghĩa…

Nhà văn không ngần ngại chỉ ra những yếu kém của đồng bào ta trongcuộc mưu sinh trên đất khách quê người Ông mạnh dạn và nghiêm khắc nóiđến những hạn chế trong cách ứng xứ với cộng đồng, đến những thói ích kỉ,những sự khôn vặt, sự thô bạo, thói ma mãnh Đó là những ứng xử tệ bạccủa cộng đồng người Việt ở trại tị nạn Godberg trước sự khổ đau của đồngloại; là những việc làm xấu hổ những kẻ buôn bán thuốc lá lậu bị bắt, chỉ vìmuốn được tha nên đã quỳ lạy cảnh sát Đức như lạy sống cha mẹ mình; là cáikhôn lõi của một gã oắt con người Việt trong bốn năm đã câu sạch cá trong hồcông viền giành cho trẻ em; là những vụ cướp bóc, thanh trừng đẫm máu của

Mafia người Việt… (Quyên)

Trang 39

Tuy nhiên, nghiêm khắc chứ không mạt sát, khinh thường Những trangvăn viết về thói hư tật xấu của người Việt luôn là sự trăn trở của Nguyễn VănThọ Ông phơi bày những xấu xa, bệnh tật của đồng bào ta không phải theokiểu bới móc để sát phạt đối tượng hoặc tạo lập cho mình một thế đứng caohơn so với cộng đồng mà quan trọng hơn hết là sự cảnh báo về một nguy cơ -nguy cơ đứt gãy văn hóa dân tộc Từ thực tế đó, ông mong muốn đông bàomình dù trong hoàn cảnh khó khăn ở quê người cũng đừng quên đi truyềnthống đạo đức của cha ông

Nhìn chung, sáng tác văn xuôi Nguyễn Văn Thọ, điều cốt yếu nhất vẫntoát lên một cái nhìn đầy cảm thông, chia sẻ trước những số phận con ngườilạc bước trời Tây Nhà văn luôn tin tưởng vào sự "hồi tỉnh" ở mỗi số phậnnhân vật, dầu đó là những con người trước đó mang tội lỗi đầy mình Cácnhân vật của ông đều chịu sự bầm dập, đều bị trả giá khá đắt trên bước đườngmưu sinh Tuy nhiên, trên một phương diện nào đó, ta vẫn thấy ở họ có nhữngkết cục "không đến nỗi nào" Hùng dẫu tàn nhẫn nhưng cuối cùng anh đượcQuyên tha thứ, trong phút lâm chung được gặp lại người anh yêu tha thiết vàđứa con gái bé bỏng của mình Khi chết, tro cốt Hùng được Quyên đưa về antáng tại quê nhà Phi sống một đời phụ thuộc, chịu nhục nhã trước mụ vợ lăngloàn nhưng khi ra tù anh hưởng trọn khối tài sản khổng lồ Thị để lại Đến mộtngười đàn bà hư hỏng như Thị nhà văn cũng có cái nhìn đầy cảm thông

(Quyên) Đó là cái nhìn đầy nhân ái, bao dung, độ lượng và lạc quan của

Nguyễn Văn Thọ

Văn học hải ngoại dù được hình thành và phát triển ở ngoài lãnh thổquốc gia nhưng nó cũng được xem là một bộ phận của văn học Việt Nam.Bởi lẻ, nó đã phản ánh được tâm thức con người Việt trên một phương diệnkhác Ban đầu, bộ phận này có vẻ tách rời, không hợp tác với văn học quốcnội, nhưng về sau, ý thức hoà hợp càng biểu hiện rõ nét Ngày nay, ranh giới

Trang 40

văn học trong/ngoài càng được rút ngắn bởi hệ thống thông tin phong phú vàkhá đầy đủ trên các trang mạng Người đọc trong nước biết rõ hơn về đờisống văn học tại hải ngoại và ngược lại Tiếng nói của nhà văn hải ngoạingày càng có giá trị hơn, và ngòi bút của họ cũng trở nên điêu luyện hơntrong việc phản ảnh thân phận người Việt xa xứ Trong số rất nhiều nhà vănđang sinh sống và làm việc tại hải ngoại, Nguyễn Văn Thọ là người cónhững đóng góp đáng kể cho nên văn học Việt Nam khi viết về chủ đề conngười tha hương

Ngày đăng: 20/07/2015, 12:58

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1]. Đào Duy Anh (2005), Hán Việt từ điển, Nxb Văn hoá thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hán Việt từ điển
Tác giả: Đào Duy Anh
Nhà XB: Nxb Văn hoá thông tin
Năm: 2005
[2]. Hà Anh (2005), “Nguyễn Văn Thọ: Viết để giải tỏa nỗi cô đơn”, http://giaitri.vnexpress.net Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Văn Thọ: Viết để giải tỏa nỗi cô đơn
Tác giả: Hà Anh
Năm: 2005
[4]. Lại Nguyên Ân (2004), 150 thuật ngữ văn học, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 150 thuật ngữ văn học
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: Nxb Đại học quốc gia Hà Nội
Năm: 2004
[5]. Bách khoa toàn thư (Wikipedia, 2006), "Học tập cải tạo", vi.wikipedia.org Sách, tạp chí
Tiêu đề: Học tập cải tạo
[6]. Bách khoa toàn thư (Wikipedia, 2007), "Người Mỹ gốc Việt", vi.wikipedia.org Sách, tạp chí
Tiêu đề: Người Mỹ gốc Việt
[7]. Bách khoa toàn thư (Wikipedia, 2007), "Thuyền nhân", vi.wikipedia.org Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thuyền nhân
[8]. Lê Huy Bắc (1998), "Giọng và giọng điệu trong văn xuôi hiện đại", Tạp chí Văn học, số 9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giọng và giọng điệu trong văn xuôi hiện đại
Tác giả: Lê Huy Bắc
Năm: 1998
[9]. Nguyễn Ngọc Bích (2006), "Tình hình văn học hải ngoại: khủng hoảng và lối ra", www.ivce.org Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình văn học hải ngoại: khủng hoảng và lối ra
Tác giả: Nguyễn Ngọc Bích
Năm: 2006
[10]. Ngự Bình (2003), " Nỗi lòng người tha hương", hieuminh.org Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nỗi lòng người tha hương
Tác giả: Ngự Bình
Năm: 2003
[11]. An-Tiêm Mai Lí Cang (2009), "Thực thể cộng đồng Người Việt- Nam Ở Nước Ngoài", http://chimvie3.free.fr Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực thể cộng đồng Người Việt-Nam Ở Nước Ngoài
Tác giả: An-Tiêm Mai Lí Cang
Năm: 2009
[12]. Nguyễn Châu (2010), "35 năm cộng đồng người Việt ở hải ngoại", congdongnguoiviet.blogspot.com Sách, tạp chí
Tiêu đề: 35 năm cộng đồng người Việt ở hải ngoại
Tác giả: Nguyễn Châu
Năm: 2010
[13]. Quỳnh Chi (2013), "Những tấm lòng hướng về đất mẹ", vov.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những tấm lòng hướng về đất mẹ
Tác giả: Quỳnh Chi
Năm: 2013
[14]. Nguyễn Việt Chiến (2009), “ Khúc bi ca về người Việt xa xứ”, Báo Thanh niên, số 93 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khúc bi ca về người Việt xa xứ”, Báo "Thanh niên
Tác giả: Nguyễn Việt Chiến
Năm: 2009
[15]. Tô Đức Chiêu (2011), “Thân phận người phụ nữ tha hương” http://vanvn.net Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thân phận người phụ nữ tha hương
Tác giả: Tô Đức Chiêu
Năm: 2011
[16]. Trương Thái Du (2004), "Lưu vong, một nỗi niềm từ quá khứ đến tương lai"http://vnthuquan.net Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lưu vong, một nỗi niềm từ quá khứ đến tương lai
Tác giả: Trương Thái Du
Năm: 2004
[18]. Đào Trung Đạo (2006), "Nhà/quê nhà trong văn chương vô xứ Việt Nam", http://www.gio-o.com Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà/quê nhà trong văn chương vô xứ Việt Nam
Tác giả: Đào Trung Đạo
Năm: 2006
[19]. Hà Minh Đức (chủ biên, 1992), Lý luận văn học, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận văn học
Nhà XB: Nxb Giáo dục
[20]. Hà Minh Đức (1997), Văn học Việt Nam hiện đại, Nxb Thanh niên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam hiện đại
Tác giả: Hà Minh Đức
Nhà XB: Nxb Thanh niên
Năm: 1997
[21]. Nguyễn Mộng Giác (1986), "Đất khách, khúc ngâm trên đất tạm dung", Văn học, số 5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đất khách, khúc ngâm trên đất tạm dung
Tác giả: Nguyễn Mộng Giác
Năm: 1986
[86]. Nguyễn Văn Thọ (2012), Gửi ông đại tá chờ thơ",http://vannghequandoi.com.vn Link

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w