Mã Liềng là một tộc người thiểu số được Nhà nước xếp vào nhóm địa phương của dân tộc Chứt, hiện đang sinh sống chủ yếu tại huyện Hương Khê - Hà Tĩnh và huyện Tuyên Hóa - Quảng Bình.. Ngh
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
=== ===
PHẠM THỊ HƯỜNG
Sù THAY §æI TRONG §êI SèNG KINH TÕ
Vµ V¡N HãA CñA NG¦êI M· LIÒNG (NG¦êI CHøT)
ë TUY£N HãA (QU¶NG B×NH) SAU T¸I §ÞNH C¦
(Tõ N¡M 1959 §ÕN 2012)
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LỊCH SỬ VIỆT NAM
NGHỆ AN - 2014
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
=== ===
PHẠM THỊ HƯỜNG
Sù THAY §æI TRONG §êI SèNG KINH TÕ
Vµ V¡N HãA CñA NG¦êI M· LIÒNG (NG¦êI CHøT)
ë TUY£N HãA (QU¶NG B×NH) SAU T¸I §ÞNH C¦
(Tõ N¡M 1959 §ÕN 2012)
Chuyên ngành: Lịch sử Việt Nam
Mã số: 60.22.03.13
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LỊCH SỬ
Người hướng dẫn khoa học:
PGS TS NGUYỄN TRỌNG VĂN
NGHỆ AN - 2014
Trang 3Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được
ai công bố trong bất kì công trình nào khác
Nghệ An, ngày 20 tháng 9 năm 1014
(Ký tên và ghi rõ họ tên)
Phạm Thị Hường
Trang 4Để hoàn thành luận văn này, tôi đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ của các cơ quan, tổ chức, cá nhân
Đầu tiên, tôi xin chân thành bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc tới P.GS.TS Nguyễn Trọng Văn Thầy đã nhiệt tình hướng dẫn, góp ý, động viên tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn này
Tôi cũng xin gửi lời cám ơn chân thành, sâu sắc tới Th.s Bùi Minh Thuận, thầy đã luôn cho tôi hướng đi, nhận xét, góp ý để đề tài được hoàn thiện hơn
Tôi xin chân thành cám ơn các thầy, cô giáo trong khoa Lịch sử trường Đại học Vinh đã giảng dạy và hướng dẫn tôi hoàn thành chương trình học tập
và thực hiện luận văn
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn Sở Văn hóa tỉnh Quảng Bình, Ủy ban dân tộc thiểu số huyện Tuyên Hóa, các cán bộ Ủy ban nhân dân xã Thanh Hóa, xã Lâm Hóa cũng như nhân dân bản Cà Xen, bản Kè, bản Cáo, bản Chuối đã nhiệt tình giúp đỡ tôi trong quá trình thu thập các nguồn tài liệu, tư liệu cho việc hoàn thành luận văn
Và tôi cũng xin gửi lời biết ơn tới những người thân trong gia đình, tới những người bạn luôn động viên, khích lệ tôi luôn sát cánh bên tôi trong suốt quá trình điền dã và hoàn thành luận văn
Tôi xin trân trọng cảm ơn những sự giúp đỡ quý báu đó !
Nghệ An, tháng 9 năm 2014
Tác giả
Phạm Thị Hường
Trang 5Trang
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 3
3 Mục đích nghiên cứu 7
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 8
5 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu 8
6 Đóng góp của luận văn 11
7 Cấu trúc của luận văn 13
Chương 1 ĐỜI SỐNG KINH TẾ - VĂN HÓA CỦA CỘNG ĐỒNG NGƯỜI MÃ LIỀNG TRƯỚC KHI TÁI ĐỊNH CƯ 14
1.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế và xã hội huyện Tuyên Hóa 14
1.1.1 Điều kiện tự nhiên 14
1.1.1.1 Vị trí địa lý hành chính, địa hình 14
1.1.1.2 Khí hậu, thời tiết và thủy văn 14
1.1.1.3 Tài nguyên đất, nước, rừng 15
1.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội 17
1.1.2.1 Đặc điểm kinh tế 17
1.1.2.2 Đặc điểm xã hội 20
1.2 Quá trình hình thành và phát triển của cộng đồng người Mã Liềng ở Tuyên Hóa (Quảng Bình) 22
1.2.1 Quá trình hình thành của cộng đồng người Mã Liềng 22
1.2.2 Lịch sử phát triền của cộng đông người Mã Liềng 25
1.3 Đời sống kinh tế - hóa của cộng đồng người Mã Liềng trước khi tái định cư 29
1.3.1 Đời sống kinh tế 29
Trang 61.3.1.2 Hoạt động nông nghiệp 29
1.3.1.3 Thủ công nghiệp 31
1.3.1.4 Khai thác tài nguyên 31
1.3.1.5 Trao đổi, buôn bán 37
1.3.2 Đời sống văn hóa - xã hội 37
1.3.2.1 Đời sống văn hóa vật chất 37
1.3.2.2 Đời sống văn hóa tinh thần 44
1.3.2.3 Đời sống xã hội 48
1.3.2.4 Y tế, giáo dục và các lĩnh vực khác 50
1.4 Quá trình thực hiện di dân tái định cư cho người Mã Liềng 50
1.4.1 Sự cần thiết phải tái định cư 50
1.4.2 Đường lối và quá trình thực hiện di dân tái định cư cho người mã Liềng ở Tuyên Hóa (Quảng Bình) 52
1.4.2.1 Chủ trương của các cơ quan Nhà nước 52
1.4.2.2 Tình hình thực tế ở địa phương 54
1.4.2.3 Tình hình triển khai và tổ chức thực hiện 56
Tiểu kết chương 1 60
Chương 2 ĐỜI SỐNG KINH TẾ CỦA CỘNG ĐỒNG NGƯỜI MÃ LIÊNG Ở TUYÊN HÓA SAU TÁI ĐỊNH CƯ 62
2.1 Sở hữu đất đai 62
2.2 Hoạt động nông nghiệp 65
2.2.1 Trồng trọt 65
2.2.1.1 Nương rẫy 65
2.2.1.2 Lúa nước 69
2.1.2.3 Canh tác vườn 77
2.2.2 Chăn nuôi 80
2.2.2.1 Chăn nuôi 80
Trang 72.3.1 Khai thác lâm thổ sản 88
2.3.2 Săn bắt và hái lượm 92
2.3.2.1 Hái lượm 92
2.3.2.2 Săn bắn 92
2.3.3 Đánh bắt thủy hải sản 95
2.3.4 Khai thác mật ong, tre nứa 96
2.4 Trao đổi, buôn bán 97
2.5 Một vài nhận xét 98
2.6 Một số vấn đề đặt ra 100
Tiểu kết chương 2 104
Chương 3 ĐỜI SỐNG VĂN HÓA - XÃ HỘI CỦA NGƯỜI MÃ LIỀNG Ở TUYÊN HÓA TỪ SAU TÁI ĐỊNH CƯ 106
3.1 Tác động đến đời sống văn hóa 106
3.1.1 Đời sống văn hóa vật chất 106
3.1.1.1 Trang phục 106
3.1.1.2 Gia đình, làng bản, nhà cửa 107
3.1.1.3 Tập quán sinh hoạt ăn uống 110
3.1.1.4 Phương tiện đi lại 113
3.1.2 Đời sống văn hóa tinh thần 114
3.1.2.1 Tín ngưỡng 115
3.1.2.2 Phong tục tập quán 124
3.1.2.3 Văn nghệ dân gian 125
3.1.2.4 Một số điều kiêng kỵ 131
3.2 Một số vấn đề đặt ra 133
3.3 Tác động đến đời sống văn hóa xã hội 138
3.3.1 Quá trình tụ cư tại địa bàn mới 138
Trang 83.3.2.1 Về quan hệ cộng đồng 139
3.3.2.2 Về quan hệ tộc người 141
3.3.3 Y tế, giáo dục và một số lĩnh vực khác 142
3.3.3.1 Y tế 142
3.3.3.2 Giáo dục 145
3.3.3.3 Các lĩnh vực khác 148
Tiểu kết chương 3 151
KẾT LUẬN 153
TÀI LIỆU THAM KHẢO 157 PHỤ LỤC
Trang 9ADB: Ngân hàng phát triển châu Á (viết tắt theo tiếng Anh) BQL: Ban quản lý
BTTN: Bảo tồn thiên nhiên
CF: Tiếp xúc viên cấp xã
ĐBDTTS: Đồng bào dân tộc thiểu số
ĐCĐC: Định canh định cư
DCDC: Du canh du cư
ĐHQGHN: Đại học Quốc gia Hà Nội
ĐKTN: Điều kiện tự nhiên
Nxb: Nhà xuất bản
PRA: Phương pháp đánh giá nông thôn có nguời dân tham gia
(viết tắt theo tiếng Anh) PTBV: Phát triển bền vững
UBND: Ủy ban nhân dân
VQG: Vườn quốc gia
WB: Ngân hàng thế giới (viết tắt theo tiếng Anh)
Trang 10Trang
Bảng:
Bảng 1.1 Địa bàn phân bố dân cư của tộc người Mã Liềng tại tỉnh
Quảng Bình năm 2011 28
Bảng 2.1 Bảng diện tích và năng suất cây trồng ở bản TĐC ở huyện Tuyên Hóa năm 2012 75
Bảng 2.2 Bảng danh mục các hành động để thúc đấy trồng trọt ở địa bàn TĐC 75
Bảng 2.3 Bảng số lượng gia súc, gia cầm các bản TĐC ở huyện Tuyên Hóa năm 2012 81
Bảng 2.4 Bảng danh mục các hành động để thúc đấy chăn nuôi ở địa bàn TĐC 83
Bảng 2.5 Bảng danh mục các hành động để thúc việc khai thác tài nguyên ở địa bàn TĐC 89
Bảng 2.6 Mức giá các loài thú rừng 94
Bảng 2.7 Cơ cấu thu nhập của người Mã Liềng tại huyện Tuyên Hóa 99
Bảng 2.8 Cơ cấu chi tiêu của người Mã Liềng tại huyện Tuyên Hóa 99
Sơ đồ: Sơ đồ 2.1 Chu kỳ canh tác nương rẫy truyền thống của người Mã Liềng 30
Sơ đồ 3.1 Sơ đồ ngôi nhà trệt của người Mã Liềng 109
Sơ đồ 3.2 Sơ đồ ngôi nhà sàn của người Mã Liềng 109
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Cộng đồng Việt Nam có 54 thành phần dân tộc khác nhau Trong
đó dân tộc Việt (Kinh) chiếm gần 90% tổng số dân cả nước, hơn 10% còn lại
là dân số của 53 dân tộc Trải qua bao thế kỷ, cộng đồng các dân tộc Việt Nam đã gắn bó với nhau, mỗi dân tộc hầu như có tiếng nói, chữ viết và bản sắc văn hóa riêng Bản sắc văn hóa đó thể hiện rõ nét trong các sinh hoạt cộng đồng và trong các hoạt động kinh tế Từ việc ăn, mặc, ở, quan hệ xã hội, các phong tục tập quán trong cưới xin đến thờ cúng, lễ tết, lịch, văn nghệ, vui chơi của mỗi dân tộc đều mang những nét riêng biệt Điều đó làm cho vườn hoa dân tộc chúng ta thêm phong phú, thêm rực rỡ, góp phần tạo nên vẻ đẹp
và cố kết thành sức mạnh cộng đồng các dân tộc Việt Nam Nghiên cứu về đời sống kinh tế, văn hóa của các dân tộc là góp phần vào việc bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa tốt đẹp của các dân tộc cả về khoa học và thực tiễn, góp phần hoàn thiện bức tranh tuyệt đẹp về đời sống kinh tế và truyền thống văn hóa các dân tộc Việt Nam
Mã Liềng là một tộc người thiểu số được Nhà nước xếp vào nhóm địa phương của dân tộc Chứt, hiện đang sinh sống chủ yếu tại huyện Hương Khê -
Hà Tĩnh và huyện Tuyên Hóa - Quảng Bình Cộng đồng người Mã Liềng ở Tuyên Hóa có khoảng 600 người sinh sống dưới chân núi phía Bắc của dãy Trường Sơn, dọc biên giới Việt - Lào Do sống vùng sâu, vùng xa nên đời sống của người Mã Liềng gặp vô vàn khó khăn, trình độ dân trí cực kì thấp kém Trong đời sống của tộc người thiểu số Mã Liềng vẫn còn tồn tại nhiều tập tục lạc hậu, ảnh hưởng đến việc duy trì nòi giống và phát triển con người một cách toàn diện, ảnh hưởng đến đời sống tinh thần và vật chất của cộng đồng
1.2 Nhà nước ta đã xếp tộc người thiểu số Mã Liềng là nhóm địa phương thuộc dân tộc Chứt Tuy vậy, cho đến ngày nay việc xác định nguồn
Trang 12gốc của người Mã Liềng vẫn chưa tìm được đáp án chung Các nhà nghiên cứu dân tộc học, lịch sử học, ngôn ngữ học, xã hội học… vẫn chưa thể nào thống nhất quan điểm Với những nguyên nhân chủ quan và khách quan như vậy, trong quá trình nghiên cứu đề tài này chúng tôi cũng muốn đi tìm một kết luận chung được đa số các nhà nghiên cứu thừa nhận
1.3 Đa số người Mã Liềng đều sống trong các hang động, mái đá với lối sống nay đây mai đó trong rừng, hoàn toàn tách biệt với thế giới văn minh bên ngoài Trong những thập kỉ qua, thực hiện các chủ trương, chính sách lớn phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội miền núi, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách để đầu tư nhằm xóa đói, giảm nghèo tiến tới xây dựng một cuộc sống tiến bộ của vùng dân tộc trong cả nước nói chung và tỉnh Quảng Bình nói riêng Trong đó, không thể không nhắc đến chương trình tái định cư của Chính phủ đối với người Mã Liềng tại huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình
Việc di chuyển đến nơi ở mới đã làm thay đổi phong tục tập quán của người Mã Liềng như thế nào? Khả năng thích nghi của người Mã Liềng đối với cuộc sống mới ra sao? Và hiện nay tộc người thiểu số Mã Liềng còn giữ được những nét văn hóa gốc nào của họ, tiếp nhận được những gì từ người Kinh? Đó là những vấn đề mà nhiều nhà nghiên cứu quan tâm đang đặt ra
và chúng tôi cũng muốn góp phần tìm ra lời giải đáp cho vấn đề
1.4 Nghiên cứu những chuyển biến trong đời sống kinh tế, văn hóa của tộc người thiểu số Mã Liềng không chỉ giúp cho chũng ta hiểu thêm về phong tục tập quán của một cộng đồng tộc người thiểu số ở huyện Tuyên Hóa, mà còn giúp các cơ quan chức năng có cái nhìn toàn diện về đời sống của tộc người này Từ đó có những chính sách hợp lí để khôi phục, bảo tồn cũng như phát huy những giá trị văn hóa đặc sắc của người Mã Liềng, tìm ra những chính sách phát triển kinh tế và nâng cao mức sống cho người Mã Liềng
Trang 13Xuất phát từ nhận thức trên, chúng tôi đã lựa chọn vấn đề “Sự thay đổi
trong đời sống kinh tế và văn hóa của cộng đồng người Mã Liềng (người Chứt) ở Tuyên Hóa (Quảng Bình) sau tái định cư (từ năm 1959 đến 2012)”
để làm đề tài luận văn Chúng tôi hy vọng là kết quả thu được sẽ góp phần
vào việc tìm định hướng phát triển kinh tế và lưu giữ, phát huy những giá trị truyền thống văn hóa của tộc người thiểu số Mã Liềng trong cộng đồng dân tộc Chứt nói riêng và 54 dân tộc Việt Nam nói chung
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Dân tộc Chứt là một trong những dân tộc nghèo nàn và lạc hậu nhất của Việt Nam, mang đậm dấu ấn của người cổ xưa, đầy bí ẩn và hoàn toàn tách biệt với thế giới văn minh bên ngoài Từ trước đến nay, việc nghiên cứu về dân tộc Chứt trong đó có người Mã Liềng đã được một số tác giả trong và ngoài nước để ý đến:
Trong thời kì phong kiến và thực dân, ở Việt Nam có các tác giả Lê
Quý Đôn với tác phẩm “Phủ biên tạp lục” đề cập đến nguồn gốc và địa bàn
cư trú của nhóm Sách, Mày, Rục, Arem, Mã Liềng; Quốc sử quán triều
Nguyễn với tác phẩm “Đại Nam nhất thống chí”, “Đồng Khánh dư địa chí”
cũng đã đề cập đến sự phân bố của các nhóm người Rục, Sách, A Rem, Mày,
Mã Liềng trong dân tộc Chứt, và những nét cơ bản trong đời sống kinh tế, chủ yếu là săn bắt, hái lượm, du canh du cư theo các nguồn nước và hang động Ngoài nước có một số học giả người Pháp như M.L Cadiere với hai tác phẩm
“Những thung lũng cao ở sông Gianh” và “Cuộc sống trong những đồn bốt nhỏ ở Quảng Bình” viết về tôn giáo và tín ngưỡng địa phương của người
Chứt;… [70, tr.8].
Thời kì Việt Nam dân chủ độc lập, một số nhà nghiên cứu trong nước
và ngoài nước mới quan tâm đến dân tộc Chứt một cách toàn diện:
Về ngôn ngữ, Trần Chí Dõi đã cho công bố các công trình “Chính sách
ngôn ngữ văn hoá dân tộc ở Việt Nam”, “Thực trạng giáo dục ngôn ngữ ở
Trang 14vùng dân tộc miền núi ba tỉnh phía bắc Việt Nam”, “Thực trạng sử dụng ngôn ngữ của một số dân tộc thiểu số và vấn đề đặt ra cho giáo dục ngôn ngữ trong nhà trường ở Việt Bắc”,”Nghiên cứu ngôn ngữ các dân tộc thiểu số Việt Nam”, Bùi Khánh Thế “Ngôn ngữ và văn hoá các dân tộc thiểu số từ góc nhìn
quan hệ ngôn ngữ ở Việt Nam”, “Mối liên hệ giữa tập hợp ngôn ngữ Việt Nam với Đông Nam Á”, Nguyễn Văn Hiệu “Tiếp xúc ngôn ngữ giữa tiếng Hán và tiếng Mông ở Việt Nam”, Vương Hữu Lễ “Tiền âm tiết trong tiếng Bru-Vân Kiều”, A.N Barulin “Vài vấn đề về ngữ âm tiếng Vân Kiều”,
Nguyễn Văn Tài “Thử bàn về tiếng Chứt”, “Tiếng Cuối trong nhóm Việt-
Mường”, Sololopxkaia “Về sự phân loại nội bộ các ngôn ngữ của nhóm Việt- Mường”, I.V Samarina “Về mối liên hệ cội nguồn các ngôn ngữ Rục, Arem”,
“Cái mới trong nghiên cứu tiếng Việt và các ngôn ngữ khác ở Đông Nam Á”,
Tạ Long - Ngô Thị Chính“Đôi nét về tính chất tên làng của người Chứt và
người Bru-Vân Kiều ở tỉnh Quảng Bình”, Nguyễn Văn Lợi “Tiếng Rục”
Hoàng Văn Ma và Tạ Văn Thông “Tiếng Bru - Vân Kiều”;……
Về nhân chủng học, dân tộc học Khổng Diễn đã có các công trình
“Dân số và dân tộc ít người ở Việt Nam”, Nguyễn Văn Mạnh “Người Chứt
ở Việt Nam”,” Người Chứt ở Bình Trị Thiên”, Phan Hữu Dật “Một số vấn
đề dân tộc Việt Nam”, “Góp phần nghiên cứu dân tộc Việt Nam”, Nguyễn
Từ Chi với “Góp phần nghiên cứu văn hóa và tộc người, … Những tư liệu
này là cơ sở khoa học cho việc xác định thành phần dân tộc Chứt Tuy nhiên, nhiều vấn đề về xác định nguồn gốc, về vấn đề tộc danh, quá trình hình thành, phát triển, đặc trưng văn hóa của các nhóm tộc người còn chưa được đi sâu nghiên cứu, nhất là đối với nhóm người Mã Liềng ở Quảng Bình cũng như ở Hà Tĩnh
Năm 2001, Sở Khoa học và Công nghệ Hà Tĩnh đã đầu tư cho Ban Miền núi di dân và phát triển vùng kinh tế mới Hà Tĩnh thực hiện đề tài
nghiên cứu khoa học “Bước đầu nghiên cứu thực trạng kinh tế, văn hóa, xã
Trang 15hội các dân tộc thiểu số ở vùng miền núi Hà Tĩnh và đề xuất giải pháp phát
triển” [70, tr.8]
Tiếp đó năm 2002, Sở Văn hóa Thông tin và Bảo tàng Hà Tĩnh đã kết
hợp thực hiện đề tài “Bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa của người Mã
Liềng ở tỉnh Hà Tĩnh” do Thạc sĩ Nguyễn Trí Sơn làm chủ nhiệm đề tài Báo
cáo khoa học của các đề tài này mới chỉ dừng lại ở việc đề cập đến một phần nào về kinh tế, văn hóa, xã hội của các dân tộc thiểu số ở Hà Tĩnh, trong đó
có người Mã Liềng trong giai đoạn hiện nay và đề xuất một số giải pháp để bảo tồn, phát triển mà chưa đi sâu nghiên cứu về nguồn gốc hình thành, quá trình phát triển và sự chuyển biến trong đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội của người Mã Liềng [70, tr.8, 9]
Năm 2007 Ngân hàng phát triển Châu Á thực hiện dự án “Danh mục
các hành động lồng ghép vấn đề dân tộc bản địa và giới” tại Quảng Bình
Thực chất của dự án này là hòa nhập được các mối quan tâm của người dân tộc bản địa, nhất là phụ nữ dân tộc bản địa vào các hoạt động trong các hợp phần của dự án Trong dự án này các dân tộc được coi là dân tộc bản địa bao gồm: Chứt, Bru - Vân Kiều, Tà Ôi, Cơ Tu hiện chiếm khoảng 60% dân số trong vùng dự án
Năm 2008 Cơ quan Văn nghệ Dân tộc & tổ chức SPERI (phụng dưỡng
thiên nhiên) đã nghiên cứu và thực hiện chuyên đề “Người Mã liềng bản Kè,
xã Lâm Hóa, huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình đối mặt với những thách thức” phân tích một cách sơ lược nhất những thách thức mà người Mã Liềng
đang phải đối mặt trong cuộc sống hiện tại
Năm 2008, Ủy ban dân tộc thực hiện chuyên đề “Phát triển sản xuất và
chuyển dịch cơ cấu kinh tế trên địa bàn các xã thuộc chương trình 135 - giai đoạn 2 (2006 - 2010)” nghiên cứu các nội dung cơ bản sau: Vai trò của quy
hoạch, sử dụng đất đai trong phát triển kinh tế - xã hội; Phát triển sản xuất và
Trang 16chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nông nghiệp; Bảo quản và chế biến sau thu hoạch; Quản lý, bảo vệ rừng và các công trình cấp nước tập trung quy mô nhỏ; Ứng dụng khoa học công nghệ vào sản xuất nông nghiệp; Đánh giá hiệu quả sản xuất nông, lâm, ngư, nghiệp; Tiếp cận và sử dụng vốn tín dung để phát triển sản xuất; Phân tích đánh giá lợi thế của địa phương để chọn phương
án đầu tư chuyển dịch cơ cấu sản xuất phù hợp [7, tr.6,7]
Gần đây trên các phương tiện thông tin đại chúng như báo Quảng Bình, tạp chí văn hóa Quảng Bình, Đài Phát thanh và Truyền hình Quảng Bình, Đài Truyền hình Việt Nam, báo Tuổi trẻ, báo Tiền Phong, báo Biên phòng, báo điện tử Vietnamnet, mạng Internet,… có đăng tải một số bài báo, ký sự, phóng sự đề cập đến cuộc sống của người Mã Liềng ở Tuyên Hóa (Quảng
Bình) trong giai đoạn hiện nay như “Lập làng trên núi Cà Đay” trên báo Nông nghiệp Việt Nam, “Người Chứt dưới chân núi Giăng Màn” của Thái Văn Sinh (Tạp chí Hà Tĩnh số Xuân Canh Thìn năm 2000), “Người Mã Liềng
dưới chân núi Cà Đay” (Báo Tuổi trẻ năm 2005), “Con đường mới của người
Mã Liềng” (Báo Tuổi trẻ năm 2007), “Cuộc hồi sinh của người Mã Liềng dưới chân núi Cà Đay” (báo Công an nhân dân 2007), ký sự “Kỳ bí người Chứt” trên Báo Biên Phòng tháng 2 năm 2009, “Người Mã liềng bản Kè, xã Lâm Hóa, huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình đối mặt với những thách thức” (Cơ quan Văn nghệ Dân tộc & tổ chức SPERI (phụng dưỡng thiên nhiên) (ra
số thứ 3 - năm 2008),“Bản sắc văn hóa của người Mã Liềng trước nguy cơ bị
mai một” (báo Văn hóa - Nghệ thuật năm 2013), “Người Chứt với dấu ấn văn hóa nguyên thủy” (báo Văn hóa - Nghệ thuật Quảng Bình năm 2013),… Đây
là những bài viết, phóng sự hết sức sơ lược đề cập đến cuộc sống, một số phong tục tập quán, hôn nhân gia đình, tang ma của người Mã Liềng và đề nghị Nhà nước cần quan tâm có một chủ trương bảo tồn bản sắc văn hóa của người Mã Liềng ở đây
Trang 17Tất cả những công trình, bài viết trên chủ yếu đề cập đến những lĩnh vực riêng nào đấy của người Mã Liềng như đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội, ngôn ngữ; những câu chuyện về phong tục, tập quán lạc hậu; những điều kì bí chưa thể lí giải; hay có bài viết đề cập đến tình hình giáo dục, đời sống người dân tại nơi ở mới,… chứ chưa phải là công trình mang tính tổng quát và sâu sắc về đời sống kinh tế và văn hóa của tộc người thiểu số Mã Liềng
Do đó, với việc nghiên cứu đề tài “Sự thay đổi trong đời sống kinh tế
và văn hóa của cộng đồng người Mã Liềng (người Chứt) ở Tuyên Hóa (Quảng Bình) sau tái định cư (từ năm 1959 đến 2012)”, chúng tôi muốn
khái quát nên một bức tranh toàn diện nhất về những chuyển biến từ kinh tế đến văn hóa - xã hội, đặc biệt là có những thông tin được cập nhật mang tính thời sự hàng ngày
Đề tài của chúng tôi cũng sẽ tìm ra những kết luận chung nhất trên cơ
sở phân tích, so sánh, đối chiếu các quan điểm từ những nhà nghiên cứu trước
và kết quả điền dã mà chúng tôi thu được, để làm sáng tỏ những nét kinh tế và đặc trưng văn hóa của tộc người thiểu số Mã Liềng ở huyện Tuyên Hóa (Quảng Bình) Tuy phạm vi đề tài nhỏ chỉ bó hẹp trong phạm vi một huyện, nhưng đây là một đề tài hoàn toàn mới Hy vọng, đề tài này sẽ góp ít nhiều về mặt khoa học cũng như mặt thực tiễn trong việc tìm hiểu đời sống kinh tế, văn hóa của người Mã Liềng nói riêng và 54 dân tộc Việt Nam nói chung
3 Mục đích nghiên cứu
Làm rõ quá trình thực hiện di dân tái định cư đã làm thay đổi đời sống của người Mã Liềng ở huyện Tuyên Hóa (với 4 bản: Cà Xen ở Thanh Hóa, bản Kè, bản Cáo, bản Chuối ở xã Lâm Hóa) Nghiên cứu tập trung vào những vấn đề cơ bản sau:
1 Làm rõ nguồn gốc, quá trình hình thành và những nét cơ bản trong đời sống kinh tế - văn hóa trước và sau khi thực hiện quá trình di dân TĐC của người Mã Liềng ở Tuyên Hóa (Quảng Bình)
Trang 182 Làm rõ sự chuyển biến trong đời sống kinh tế của người Mã Liềng trong quá trình TĐC
3 Làm rõ sự chuyển biến trong đời sống văn hóa của người Mã Liềng trong quá trình TĐC
4 Chỉ ra những điều bất cập cần khắc phục nhằm ổn định và cải thiện đời sống cho đồng bào Mã Liềng TĐC nói riêng và đồng bào TĐC nói chung, góp phần vào công tác bảo tồn và phát triển bền vững (PTBV) cộng đồng người Mã Liềng cũng như tài nguyên thiên nhiên (TNTN)
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là sự thay đổi trong đời sống kinh tế - văn hóa của người Mã Liềng ở Tuyên Hóa (Quảng Bình)
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Giới hạn về không gian
Trong đề tài này chúng tôi đi sâu vào tìm hiểu sự biến đổi về đời sống kinh tế - văn hóa của đồng bào Mã Liềng (Chứt) ở Tuyên Hóa (Quảng Bình)
- Giới hạn về thời gian
Đề tài tập trung nghiên cứu những chuyển biến về đời sống kinh tế và ảnh hưởng của nó đến đời sống văn hóa, xã hội của người Mã Liềng từ năm
1959 đến năm 2012 Những nội dung khác không nằm trong phạm vi nghiên cứu của đề tài
5 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu
5.1 Nguồn tư liệu
- Tư liệu lưu trữ
+ Các tài liệu do UBND tỉnh Quảng Bình; Cục Thống kê; Ban Tôn giáo, Dân tộc; Ban Miền núi di dân và phát triển vùng kinh tế mới Quảng Bình, Bảo tàng Quảng Bình, Sở Văn hóa Thông tin tỉnh Quảng Bình xuất bản
như: “Lịch sử Quảng Bình”; “Thống kê hộ đồng bào dân tộc tỉnh Quảng
Trang 19Bình”; “Bước đầu nghiên cứu thực trạng kinh tế, văn hóa, xã hội các dân tộc thiểu số ở vùng miền núi Quảng Bình và đề xuất giải pháp phát triển”; “Sổ tay công tác dân tộc của ủy ban dân tộc tỉnh Quảng Bình”; “Dự án định canh, định cư cho đồng bào dân tộc thiểu số bản Chuối, bản Cáo xã Lâm Hóa huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình”; “Bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa của người Mã Liềng ở Quảng Bình”; “Niên giám thống kê Quảng Bình các năm 1989, 1999, 2009”,…
+ Các tài liệu do UBND, Ban Dân vận, Phòng Tài nguyên và Môi trường, phòng Thống kê, phòng Văn hóa huyện Tuyên Hóa, UBND xã Lâm Hóa, Thanh Hóa… xuất bản, các bản báo cáo công tác dân tộc, báo cáo tổng kết, các bảng thống kê, các Nghị quyết chỉ thị của các phòng ban thuộc UBND huyện, Huyện ủy và UBND xã Thanh Hóa, Lâm Hóa
- Tư liệu nghiên cứu:
+ Sách của Viện dân tộc học: “Các dân tộc ít người ở Việt Nam (các
tỉnh phía Bắc)”, “Về vấn đề xác định thành phần các dân tộc thiểu số ở miền Bắc Việt Nam”, “Dân số các dân tộc ít người ở Việt Nam”, “Bản sắc văn hóa các dân tộc”, “Giữ gìn và bảo vệ bản sắc văn hóa các dân tộc thiểu
tộc và Thời đại”, “Văn hóa các dân tộc”, “Tạp chí Dân tộc học”,…
+ Các công trình nghiên cứu của các nhà dân tộc học: M.L Cadiere:
“Những thung lũng cao ở sông Gianh” và “Cuộc sống trong những đồn bốt
nhỏ ở Quảng Bình”; GS.TS Phan Hữu Dật: “Góp phần nghiên cứu dân tộc học Việt Nam”; Khổng Diễn: “Dân số và dân số tộc người ở Việt Nam”; Trần
Trang 20Trí Dõi: “Thực trạng kinh tế và văn hóa của ba nhóm tộc người đang có nguy
cơ bị biến mất”; Bế Viết Đẳng: “Các dân tộc thiểu số trong sự phát triển kinh
tế - xã hội ở miền núi”; Tạ Long: “Về mối quan hệ cộng đồng tộc người giữa
ba nhóm “Mày”, “Rục”, “Sách””; Nguyễn Văn Mạnh: “Người Chứt ở Bình Trị Thiên” và “Người Chứt ở Việt Nam”; Võ Văn Tuyển: “Người Mã Liềng ở bản Rào Tre”,…
+ Các công trình nghiên cứu của các nhà ngôn ngữ học: Phạm Đức
Dương với “Về mối quan hệ thân thuộc giữa các ngôn ngữ thuộc nhóm Việt -
Mường miền Tây tỉnh Quảng Bình”, Trần Trí Dõi: “Các giai đoạn lịch sử trong tiếng Việt”, Nguyễn Văn Tài, Nguyễn Văn Lợi, Những bài viết về vấn
đề di dân của Nguyễn Văn Chính như “Biến đổi kinh tế - xã hội và vấn đề di
chuyển lao động nông thôn - đô thị ở miền Bắc Việt Nam, Đông Nam Á và Nhật Bản” (1997) “Di dân nội địa ở Việt Nam: Các chiến lược sinh tồn và những khuôn mẫu đang thay đổi” (2000), và phần trình bày của Khổng Diễn
về quá trình di dân cả nước cũng như di dân của các dân tộc qua 2 kỳ tổng
điều tra dân số 1979 và 1989 trong công trình nghiên cứu “Dân số và dân số
học tộc người ở việt Nam” (1995) [59, tr.19]
+ Các công trình nghiên cứu của các học viên, sinh viên tại các trường
Đại học: Lâm Minh Châu với “Tái định cư và sự biến đổi kinh tế - văn hóa -
xã hội trong đời sống người Thái (Nghiên cứu trường hợp bản tái định cư Nậm Rên, xã Chiềng Sơn, huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La”; Đỗ Văn Hòa, “Tác động của định canh, định cư và di dân phát triển vùng kinh tế mới đến phát triển kinh tế - xã hội và môi trường bền vững miền núi”; Bùi Minh Thuận,
“Tái định cư và sự thay đổi trong đời sống nhóm Đan Lai (Thổ) ở vườn Quốc gia Pù Mát; Phạm Khắc Lanh “Đời sống kinh tế - văn hóa- xã hội của tộc người Mã Liềng ở bản Rào Tre (Hương Khê - Hà Tĩnh) từ năm 1958 đến 2009; Nguyễn Thị Vui, “Thực trạng đời sống của cộng đồng người Thái tái định cư ở bản Mà - Thanh Chương - Nghệ An,…
Trang 21- Tư liệu điền giã:
+ Tư liệu hiện vật: Bao gồm nhà cửa, các vật dụng gia đình, các công
cụ lao động, tranh ảnh sưu tầm, tự chụp… của người Mã Liềng tại địa phương, ngoài ra còn khảo sát một số địa điểm mà người Mã Liềng đã từng sinh sống trước khi đến định cư tại bản Cà Xen xã Thanh Hóa, và bản Cáo, bản Kè, bản Chuối xã Lâm Hóa
+ Tư liệu truyền miệng: Tác giả đã trực tiếp gặp gỡ và trao đổi với các già làng, trưởng bản, những người có kinh nghiệm là người Mã Liềng, trao đổi với các đồng chí bộ đội biên phòng đang cắm bản giúp đỡ đồng bào Mã Liềng hòa nhập cuộc sống, các nhà nghiên cứu văn hóa dân gian địa phương Đặc biệt là gặp gỡ, trao đổi với một số người đã từng trực tiếp tìm ra người
Mã Liềng và vận động bà con xuống núi sinh sống để từ đó đối chiếu, so sánh
và có cái nhìn toàn diện hơn về nhóm người này
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Để hoàn thành những yêu cầu mà đề tài đặt ra, chúng tôi đã sử dụng phương pháp sử học Mácxit và tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết dân tộc từ lúc sưu tầm, chỉnh lí tài liệu cho đến quá trình thực hiện đề tài Ngoài ra, còn
sử dụng phương pháp lịch sử, phương pháp logic, phương pháp liên ngành để
xử lí tài liệu, đánh giá, phân tích sự kiện
Để đề tài phong phú và mang tính hiện thực, tác giả đã tiến hành điền
dã trực tiếp trên địa bàn cư trú của người Mã Liềng ở huyện Tuyên Hóa, trực tiếp thăm hỏi, phỏng vấn những người già làng, trưởng bản, bộ đội biên phòng để bổ sung tư liệu
6 Đóng góp của luận văn
6.1 Luận văn nghiên cứu một cách toàn diện và đầy đủ về nguồn gốc,
quá trình phát triển, xác định tộc danh cũng như những biến đổi trong đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội của tộc người Mã Liềng ở bản Cáo, bản Kè, bản
Trang 22Chuối xã Lâm Hóa, bản Cà Xen xã Thanh Hóa thuộc huyện Tuyên Hóa (Quảng Bình) từ năm 1959 đến năm 2012
6.2 Luận văn cho thấy những giá trị văn hóa truyền thống của tộc
người Mã Liềng ở Tuyên Hóa (Quảng Bình) vừa phong phú vừa đa dạng nhưng vẫn có những đặc điểm riêng biệt, những bản sắc văn hóa riêng của tộc người mình so với văn hóa của các nhóm thuộc dân tộc Chứt cũng như của 54 dân tộc anh em
6.3 Kết quả nghiên cứu của luận văn là một tài liệu có ích cho các nhà
nghiên cứu hoạch định những chính sách hợp lý nhằm bảo tồn và phát huy những giá trị truyền thống của người Mã Liềng Xây dựng chiến lược và sách lược phát triển về kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh quốc phòng cho các dân tộc ít người ở vùng miền núi Quảng Bình nói chung và tộc người thiểu số Mã Liềng nói riêng
6.4 Luận văn là nguồn tư liệu quan trọng giúp ích cho việc biên soạn,
nghiên cứu và giảng dạy lịch sử địa phương ở các trường Trung học, Cao đẳng và Đại học Ngoài ra còn có tác dụng giáo dục lòng tự hào dân tộc, tình cảm trân trọng và biết giữ gìn những giá trị văn hóa truyền thống của tộc người trong tầng lớp nhân dân ở Tuyên Hóa nói riêng ở Quảng Bình nói chung, nhất là đối với bộ phận học sinh, sinh viên những chủ nhân tương lai của đất nước
6.5. Luận văn còn là một tư liệu quý cho các nhà nghiên cứu lịch sử, dân tộc học, văn hóa, các nhà quản lý của chính quyền địa phương trong việc tìm hiểu nguồn gốc, sự phát triển kinh tế, truyền thống văn hóa để từ đó hoạch định chính sách định cư, xây dựng phong trào toàn dân đoàn kết, xây dựng đời sống văn hóa, an ninh quốc phòng cho tộc người thiểu số Mã Liềng trong thành phần dân tộc Chứt và cho cộng đồng các dân tộc ở Tuyên Hóa (Quảng Bình)
Trang 237 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung chính của luận văn chia làm 3 chương chính:
Chương 1 Đời sống kinh tế - văn hóa của cộng đồng người Mã Liềng
ở Tuyên Hóa trước khi tái định cư
Chương 2 Đời sống kinh tế của cộng đồng người Mã Liềng ở Tuyên
Hóa sau khi tái định cư
Chương 3 Đời sống văn hóa - xã hội của cộng đồng người Mã Liềng ở
Tuyên Hóa sau khi tái định cư
Trang 24Chương 1 ĐỜI SỐNG KINH TẾ - VĂN HÓA CỦA CỘNG ĐỒNG NGƯỜI MÃ LIỀNG TRƯỚC KHI TÁI ĐỊNH CƯ
1.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế và xã hội huyện Tuyên Hóa
1.1.1 Điều kiện tự nhiên
1.1.1.1 Vị trí địa lý hành chính, địa hình
Huyện Tuyên Hóa là huyện miền núi nằm về phía Tây Bắc tỉnh Quảng Bình, có ranh giới: Phía Bắc giáp huyện Hương khê và Kỳ Anh của tỉnh Hà Tĩnh, phía Tây giáp huyện Minh Hoá và nước bạn Lào, phía Nam giáp huyện
Bố Trạch, phía Đông giáp huyện Quảng Trạch của tỉnh Quảng Bình Tính đến thời điểm 31/12/2010, dân số toàn huyện là 78.560 người, phân bố trên 9 xã,
1 thị trấn, đa số là người dân tộc Kinh, ngoài ra có người Mã Liềng sống quy
tụ trong 5 bản của 2 xã Thanh Hoá, Lâm Hoá gồm 113 hộ, 462 khẩu [26, tr 5]
Tuyên Hóa nằm về phía Tây - Nam dãy Hoành Sơn, giáp với dãy Trường Sơn, có địa hình hẹp, độ dốc giảm (nghiêng) dần từ Tây sang Đông và
bị chia cắt bởi nhiều sông, suối, núi đá; Độ cao so với mực nước biển vùng thấp từ 2 - 6 m, vùng cao từ 25 - 100 m Địa hình phía Tây Bắc là núi cao và thấp dần về phía Đông - Nam Toàn huyện có thể chia thành 3 dạng địa hình chính: Địa hình núi cao trung bình, địa hình vùng gò đồi đan xen các thung lũng, địa hình vùng đồng bằng
1.1.1.2 Khí hậu, thời tiết và thủy văn
- Khí hậu: Tuyên Hóa nằm trong khu vực khí hậu nhiệt đới gió mùa, mỗi năm có 2 mùa chính, lượng mưa hàng năm bình quân khoảng 2.300 - 2.400 mm, cao nhất toàn tỉnh; nhiệt độ bình quân 24 - 25oC Mùa khô thường bắt đầu từ tháng 3 đến tháng 9, nhiệt độ bình quân 25 - 26,5 oC, cao nhất là 39oC; Mùa mưa thường bắt đầu từ giữa tháng 9 đến tháng 02 năm
Trang 25sau, nhiệt độ bình quân 20 - 21oC, thấp nhất là 100C Mưa lớn, tập trung vào tháng 9, 10, 11
- Độ ẩm không khí tương đối cao, trung bình 83%, song nhìn chung không ổn định Vào mùa mưa, độ ẩm không khí thường cao hơn mùa khô từ
10 - 15%
- Gió: chịu ảnh hưởng của 2 loại gió chính: Mùa Đông có gió mùa Đông Bắc thịnh hành thổi theo hướng Bắc - Đông Bắc Mùa Hè chủ yếu gió Tây Nam khô nóng xuất hiện từng đợt, bắt đầu từ tháng 4 và kết thúc vào tháng 7
- Thủy văn: Toàn huyện chịu ảnh hưởng bởi lưu vực hệ thống sông Gianh (Rào Nậy, Rào Nan), sông Nan, Ngàn Sâu, khe Nét, khe Chằm Nốt, khe Đập Hà, khe Dong, khe Tre, khe Hồ Bẹ… Sông ngòi của huyện có đặc điểm là ngắn và dốc nên tốc độ dòng chảy rất lớn Mặt khác sông ngắn nên về mùa khô, nước mặn dâng lên xâm nhập đến Minh Cầm gây thiệt hại cho sản xuất nông nghiệp [26, tr 6]
1.1.1.3 Tài nguyên đất, nước, rừng
Tài nguyên đất: Theo báo Quy hoạch sử dụng đất, toàn huyện có
115.098,44 ha Do đặc điểm của địa hình nên đất đai của huyện Tuyên Hóa
Tài nguyên nước: Với số lượng sông suối phân bố dày đặc và rộng
lớn, huyện Tuyên Hóa có tiềm năng về nguồn nước ngọt rất lớn Hiện tại huyện có 3 dòng sông lớn chảy qua: Sông Gianh (hai nhánh: Rào Trổ, Rào
Trang 26Nậy); sông Nan; sông Ngàn Sâu và có nhiều suối nhỏ Nguồn tài nguyên này trong thời gian qua vẫn chưa được khai thác sử dụng đúng mức, chỉ mới sử dụng một lượng nhỏ phục vụ cho tưới tiêu trong nông nghiệp Các sông suối của huyện có trữ lượng nước lớn, độ dốc cao, có khả năng để xây dựng các nhà máy thủy điện Hiện trên địa bàn đã xây dựng nhà máy thủy điện Hố Hô,
và đang tiếp tục khảo sát để xây dựng nhà máy thủy điện Rào Trổ, Khe Nét
[19, tr 8, 9]
Tài nguyên rừng: Theo tài liệu kiểm kê đất đang sử dụng đến ngày
01/01/2010, huyện Tuyên Hóa có 93.843,92 ha đất lâm nghiệp, chiếm 92,4% đất nông nghiệp Trong đó: Rừng phòng hộ 31.679,99 ha, chiếm 33,8%; rừng
sản xuất 62.163,93 ha, chiếm 66,2%
Diện tích rừng trồng tập trung của huyện năm 2010 đạt 771 ha, chiếm 0,8% so với diện tích đất lâm nghiệp; diện tích rừng được khoanh nuôi, phục hồi đạt trên 1.200 ha, chiếm 1,6%; diện tích rừng được bảo vệ đạt 40.000 ha, chiếm 42,6%/tổng diện tích đất lâm nghiệp Tỷ lệ che phủ rừng đạt 73%
Diện tích rừng được phân bố ở tất cả các xã và thị trấn trong huyện, song phân bố nhiều ở các xã Kim Hóa, Cao Quảng, Thanh Hóa và Lâm Hóa Diện tích rừng của huyện góp phần giữ nước đầu nguồn, hạn chế quá trình dòng lũ xói mòn đất, duy trì cảnh quan và bảo vệ môi trường [67, tr 9]
1.1.1.4 Tài nguyên khoáng sản
Theo số liệu điều tra của ngành Địa chất thì Tuyên Hóa là huyện có nhiều loại khoáng sản quý hiếm và quan trọng, có loại có trữ lượng rất lớn, do
đó tỉnh đã có quyết định số 68/2005/QĐ-UBND ngày 30/12/2005 của UBND tỉnh Quảng Bình về việc phê duyệt quy hoạch thăm dò, khai thác, chế biến khoáng sản trên địa bàn tỉnh Quảng Bình đến năm 2015, theo đó huyện Tuyên Hóa có nhiều loại khoáng sản được phép thăm dò Cụ thể như sau:
- Nhóm khoáng sản kim loại: Mỏ vàng, mỏ sắt, Mangan,
Trang 27- Nhóm khoáng sản phi kim: Đá vôi, Sét xi măng,…
Ngoài ra trên địa bàn các xã Mai Hóa, Văn Hóa còn có các mỏ sét, quặng sắt Limonit phụ gia ximăng, vonfram ở Kim Lũ Sét gạch ngói và các loại đá cát sạn xây dựng cũng được phân bố rải rác trên địa bàn các xã Lê Hóa, Mai Hóa, Thanh Hóa… [60, tr 9, 10]
1.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội
1.1.2.1 Đặc điểm kinh tế
Nông nghiệp: Sản xuất nông nghiệp những năm qua đã có bước tiến
bộ rõ rệt, an ninh lương thực trên địa bàn cơ bản được bảo đảm, giá trị sản xuất không ngừng tăng cả về trồng trọt và chăn nuôi Cơ cấu sản xuất trong nội bộ ngành nông nghiệp đang chuyển biến theo hướng tích cực: Tỷ trọng chăn nuôi trong nông nghiệp năm 2005 chiếm 42,17%, đến năm 2010 tăng lên 44,4%; trong lúc đó ngành Trồng trọt giảm từ 57,8% năm 2005, xuống
55,4% năm 2010
Trồng trọt: Tuy điều kiện canh tác của một huyện miền núi gặp nhiều
khó khăn, nhưng nhờ áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, cải tạo đồng ruộng, đầu tư thủy lợi, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, tăng diện tích gieo cấy, hoàn thành dồn điền đổi thửa, áp dụng giống mới, kỹ thuật gieo cấy và thâm canh nên sản lượng lương thực trong 10 năm qua đã có sự tăng trưởng khá Tổng sản lượng lương thực (bao gồm cả lúa và ngô) hàng năm tăng khá, năm 2000 đạt 11.492 tấn, năm 2005 đạt 12.701 tấn, năm 2009 đạt 18.024 tấn, năm 2010 mặc dù thời tiết khắc nghiệt, thiên tai lũ lụt làm mất mùa, nhưng vẫn đạt 16.402 tấn Sản lượng lương thực bình quân đầu người năm 1995: 132 kg; năm 2000: 150 kg; năm 2005: 164 kg; năm 2010: 211kg/người/năm
Chăn nuôi: Ngành chăn nuôi những năm qua đã có những tiến bộ rõ
rệt Đàn gia súc, gia cầm phát triển cả về số lượng và chất lượng Huyện đã chủ động đầu tư nhập các loại giống mới để phát triển ngành Chăn nuôi Các
Trang 28chương trình sind hóa đàn bò, nạc hóa đàn lợn được thực hiện có hiệu quả, đàn bò lai sind, lợn lai đang phát triển tốt trên địa bàn huyện UBND huyện đã đặc biệt quan tâm chỉ đạo các xã tích cực trồng cỏ cao sản để phục vụ chăn nuôi đại gia súc, đến nay toàn huyện đã trồng được 176 ha cỏ voi Việc trồng
cỏ phục vụ chăn nuôi đã đưa lại hiệu quả kinh tế thiết thực [26, tr 20, 21, 22]
Lâm nghiệp: Giá trị sản xuất lâm nghiệp theo giá CĐ năm 2005 đạt 6,9
tỷ đồng, năm 2010 đạt 12,508 tỷ đồng; tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn
2006 - 2010: 12,62%/năm
Đã chú trọng công tác khoanh nuôi bảo vệ vốn rừng hiện có, tiến hành trồng mới và tu bổ rừng, từng bước phủ xanh đất trống đồi trọc; nâng độ che phủ rừng từ 70% năm 2005 lên 73% năm 2010 Thực hiện việc giao đất giao rừng cho người dân quản lý và tổ chức sản xuất, đến nay đã giao và cấp thẻ được 40.000 ha Các địa phương thành lập các tổ, đội bảo vệ rừng và xây dựng phương án phòng cháy, chữa cháy rừng; đã có 85/151 thôn bản có hương ước bảo vệ rừng nên diện tích rừng bị cháy càng ngày càng giảm Đã chấm dứt tình trạng phát đốt rừng làm nương rẫy, 5 năm qua chưa có vụ cháy rừng lớn nào xảy ra [26, tr 22]
Thủy sản: Giá trị sản xuất thủy sản theo giá CĐ năm 2005: 2.921 triệu
đồng, năm 2010 đạt 2.720 triệu đồng, giảm 1,42% so với năm 2005
Tổng số lồng cá năm 2005: 460 lồng; năm 2010: 314 lồng giảm 146 lồng so với với năm 2005; giảm bình quân hàng năm 7,35% Nguyên nhân chính việc nuôi cá lồng giảm là do nguồn thức ăn tự nhiên (rong) càng ngày càng giảm, những năm gần đây lũ lụt thất thường làm hư hỏng nhiều lồng nuôi nên việc nuôi cá lồng rủi ro lớn, hiệu quả không cao
Diện tích ao hồ nuôi trồng thuỷ sản năm 2005: 40,7 ha; năm 2010: 45,7 ha Tổng sản lượng thuỷ sản năm 2005: 370 tấn; năm 2010: 335 tấn [26, tr 23]
Trang 29* Khu vực Thương mại - dịch vụ
Thương mại - Du lịch: Tuyên Hóa là huyện miền núi gặp nhiều khó
khăn nhưng dưới sự nỗ lực của Đảng và Chính quyền đã làm cho hoạt động
TM - DV của huyện có những chuyển biến đáng kể, đó là: Giá trị SX ngành
TM - DV theo giá CĐ năm 2000 đạt 63,63 tỷ đồng; năm 2005 đạt 93,727 tỷ đồng; năm 2010 đạt 170,026 tỷ đồng Tốc độ phát triển giai đoạn 2001 - 2005 đạt 8,05%/năm; giai đoạn 2006 - 2010 đạt 12,65%/năm; toàn giai đoạn 2000 -
2010 đạt 10,33%/năm Giá trị kinh doanh thương mại tăng nhanh trong những năm gần đây Tổng mức bán lẻ hàng hóa trên địa bàn năm 2005: 163,77 tỷ
đồng; năm 2010 đạt 380 tỷ đồng Tăng bình quân hàng năm: 19,6%
- Du lịch: Mặc dù tiềm năng du lịch sinh thái của Tuyên Hóa rất tốt nhưng thực tế những năm qua hoạt động du lịch của Tuyên Hóa còn hạn chế
Dịch vụ và các sản phẩm dịch vụ chủ yếu
- Điện lực: Mạng điện lưới quốc gia đã được đưa về tất cả các xã trong huyện, phục vụ cho sản xuất và sinh hoạt đời sống của nhân dân Hàng năm sản lượng tiêu thụ điện bình quân 15.000.000 Kw/h
- Bưu chính - Viễn thông: Cùng với việc nâng cấp hệ thống thông tin liên lạc trực tuyến, ngành Bưu chính - Viễn thông đã đầu tư xây dựng hệ thống điện thoại vô tuyến phục vụ nhu cầu về thông tin liên lạc, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, hiện nay đã có 10/20 xã có điểm bưu điện - văn hóa
xã Năm 2005 có 1.750 máy cố định bình quân 2,6 máy/100dân, năm 2010 có 8.850 máy cố định, bình quân 14,5 máy/100 dân Tổng doanh thu năm 2005 là 5.160 triệu đồng, năm 2010 đạt 12.216 triệu đồng Tỷ lệ tăng bình quân trong giai đoạn 2006 - 2010 là: 18,81%
- Giao thông - Vận tải: Hệ thống giao thông được nâng cấp và ngày càng hoàn thiện đã tạo điều kiện cho dịch vụ vận tải mở rộng sản xuất kinh doanh, đáp ứng nhu cầu sản xuất, đi lại của nhân dân Đến năm 2010 có 435
Trang 30cơ sở vận tải; trong đó có 250 cơ sở vận tải hàng hóa và 185 cơ sở vận tải hành khách với 1.030 lao động, doanh thu đạt trên 13,909 tỷ đồng Tổng mức vận chuyển hàng hóa đạt 625.819 tấn, vận chuyển hành khách trong những năm gần đây tăng nhanh
- Hoạt động tín dụng: Tín dụng ngân hàng đã hoạt động có hiệu quả, thu hút được nguồn vốn nhàn rỗi trong nhân dân để đầu tư vào phát triển sản xuất Các nguồn vốn tín dụng chính sách được sử dụng có hiệu quả cao, cho vay đúng đối tượng tạo việc làm cho người dân và tạo điều kiện cho các hộ nghèo có vốn để sản xuất kinh doanh [26, tr 23, 24]
1.1.2.2 Đặc điểm xã hội
Giáo dục - đào tạo
Mặc dù huyện miền núi nhưng Tuyên Hóa đã có nhiều cố gắng vượt bậc, nên lĩnh vực giáo dục - đào tạo đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể
Do tỷ lệ sinh toàn huyện giảm đáng kể, dẫn tới số lượng học sinh bậc tiểu học và mầm non đều giảm mạnh Tỷ lệ huy động trẻ trong độ tuổi đến trường vẫn tăng Chất lượng giáo dục đào tạo không ngừng được cải thiện và nâng cao, đã áp dụng các phương pháp dạy và học mới vào chương trình giảng dạy Tỷ lệ học sinh khá giỏi chiếm tỷ lệ lớn; tỷ lệ học sinh tốt nghiệp các cấp luôn đạt ở mức cao: Tiểu học từ 100%; Trung học CS: trên 97%; THPT: 90 - 95% Số học sinh thi đỗ vào đại học năm sau luôn tăng cao hơn năm trước
Chất lượng đội ngũ giáo viên được quan tâm Đội ngũ giáo viên đã chú trọng đến việc học tập để nâng cao trình độ, giáo viên có trình độ đại học tăng với tỷ lệ khá cao, hiện nay 100% giáo viên đạt chuẩn về trình độ, có 20% giáo viên đạt trên chuẩn [26, tr 25]
Công tác y tế, chăm sóc sức khỏe nhân dân
- Y tế: Mạng lưới y tế từ trung tâm đến các xã, thị trấn trong huyện đều được xây dựng, nâng cấp, trang thiết bị phục vụ cho công tác khám chữa bệnh
Trang 31và đã được chú trọng đầu tư các loại máy móc hiện đại như máy chụp X quang, máy siêu âm phục vụ cho khám chữa bệnh Toàn huyện có 23 cơ sở khám và điều trị với 181 giường; gồm bệnh viện trung tâm 80 giường bệnh, 2 phòng khám đa khoa khu vực 20 giường và 20 trạm xá xã có 81 giường
Các chương trình y tế quốc gia, y tế dự phòng như phòng chống sốt rét, phòng chống lao, tiêm chủng mở rộng được chỉ đạo thực hiện tốt, số người mắc bệnh sốt rét, bệnh lao giảm đáng kể, từ năm 2005 đến nay không để dịch bệnh xảy ra trên địa bàn huyện
- Công tác chăm sóc, bảo vệ bà mẹ trẻ em có nhiều chuyển biến tích cực Nhờ triển khai chương trình hành động vì trẻ em giai đoạn 2001 - 2010 nên tỷ lệ trẻ em bị suy dinh dưỡng giảm đáng kể; hiện tại số trẻ bị suy dinh dưỡng giảm còn 23,5% (toàn tỉnh còn 23%)
- Hoạt động dân số kế hoạch hóa gia đình được quan tâm, đặc biệt là vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc và đồng bào theo đạo Thiên chúa giáo Đã tích cực tuyên truyền vận động nên tỷ lệ phát triển dân số tự nhiên giảm mạnh trong những năm qua (Năm 2005: 1,225%; năm 2010: 1,138%) [26, tr 25]
An ninh - Quốc phòng
Công tác đảm bảo an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự an toàn xã hội trong thời gian qua luôn được bảo đảm UBND huyện đã quan tâm chỉ đạo công an huyện, các ngành chức năng phối hợp với UBND các xã, thị trấn chú trọng công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật; phát động phong trào toàn dân bảo vệ an ninh tổ quốc; đẩy mạnh công tác đấu tranh phòng chống tội phạm và bài trừ tai nạn, tệ nạn xã hội trên địa bàn
Công tác quốc phòng trên địa bàn huyện được bảo đảm, các chương trình diễn tập quân sự, huấn luyện dân quân, tự vệ được thực hiện thường xuyên, đảm bảo sẵn sàng chiến đấu cao Lực lượng dự bị động viên luôn đảm
Trang 32bảo cả về số lượng cũng như chất lượng phối hợp chiến đấu Công tác tuyển quân, giao quân được thực hiện tốt, luôn đạt chỉ tiêu kế hoạch đề ra cả về số lượng, chất lượng và thời gian
Thực hiện tốt công tác hậu phương quân đội, tuyên truyền vận động nhân dân luôn nêu cao tinh thần cảnh giác chống lại các âm mưu thủ đoạn của các thế lực thù địch Đảm bảo giữ yên vùng biên giới của tổ quốc [26, tr 27]
1.2 Quá trình hình thành và phát triển của cộng đồng người Mã Liềng ở Tuyên Hóa (Quảng Bình)
1.2.1 Quá trình hình thành của cộng đồng người Mã Liềng
Người Mã Liềng là nhóm địa phương của dân tộc Chứt, địa bàn sống chủ yếu ở huyện Tuyên Hóa tỉnh Quảng Bình và huyện Hương Khê tỉnh Hà
Tĩnh, nơi có dãy núi Trường Sơn giăng ngang về phía Tây
Theo các nhà dân tộc học, dân tộc Chứt là dân tộc bản địa sinh sống ở vùng đất Quảng Bình trước khi người Việt đến đây sinh sống làm ăn Trong các lèn đá, hang động ở đây, các nhà khảo cổ học đã tìm thấy dấu vết cư trú của người nguyên thủy, như lèn Bảng, hang Hùm, hang Khái, lèn Phù Lễ … các tầng văn hóa khảo cổ đã được phát hiện ở đây gồm tầng văn hóa vỏ ốc, đặc biệt ốc vặn (meelania), ốc núi, trai, hến và nhiều xương thú, đồ gốm Theo các nhà nghiên cứu khảo cổ học xác định nền văn hóa hang động lèn đá
ở đây có niên đại tương đương với nền văn hóa Hòa Bình ở phía Bắc (34.000
- 2.000 năm Trước Công nguyên) Chủ nhân của các nền văn hóa thời tiền sử này thường chọn những hang động, lèn đá cao ráo, nhiều ánh sáng rất sẵn có của tự nhiên để sinh sống Món ăn quan trọng nhất của họ lúc bấy giờ là ốc
Nhà học giả người Pháp, bà Madeleine Colani đã gọi họ là “những người ăn
ốc” Như vậy lớp cư dân đầu tiên cư trú ở vùng đất này là những bộ lạc
nguyên thủy Họ chưa biết làm nhà để ở, họ tận dụng các điều kiện của tự nhiên như hang động, lèn đá để ở và sinh sống, do vậy người ta cũng gọi họ là
Trang 33người của các hang động Tên gọi Chứt, theo tiếng của đồng bào có nghĩa là
“lèn đá, núi đá” chính là để phản ánh tình trạng sống của họ Mọi dụng cụ để
“sản xuất” và sinh hoạt đều dùng bằng nguyên liệu đá
Ngày nay chúng ta chỉ biết lớp cư dân có mặt rất sớm ở vùng này là người dân tộc Chứt bao gồm các nhóm tộc người Mã Liềng, Rục, Sách, Mày
và Arem, bởi đây là lớp cư dân còn bảo lưu được nhiều yếu tố cổ nhất về văn hóa và ngôn ngữ của khối Tiền Việt Mường Chắc chắn nhóm cư dân này đã tách khỏi khối Việt - Mường chung trước khi Mường tách ra khỏi Việt Hơn nữa, đây là tộc người cư trú phân tán, bị xé lẻ sống tách rời nhau, ít có liên hệ với nhau và đang có nguy cơ bị quá trình thoái hóa về nhiều mặt, nên ý thức tộc người của họ rất kém Vậy dân tộc Chứt với các nhóm Mã Liềng, Sách, Rục, Mày và Arem có phải là lớp cư dân nguyên thủy sống trong các hang động, lèn đá mà bà Côlani cho là cư dân ăn ốc hay không? Đây là những vấn
đề lớn đặt ra cho các nhà khoa học Song phải khẳng định một điều chắc chắn rằng người Chứt trong đó có người Mã Liềng là một trong những lớp cư dân
có mặt từ rất sớm ở vùng này Về sau có nhiều luồng thiên di của các nhóm
cư dân thuộc ngôn ngữ Môn - Khơ me như người Khùa, Ma Coong, Tri của dân tộc Bru - Vân Kiều và người Nguồn đến định cư sau đã làm đảo lộn toàn
bộ địa vực cư trú và sự phân bố dân cư trong vùng
Nhóm người Nguồn là nhóm người được các nhà dân tộc học xếp vào dân tộc Mường từ những năm 50 của thế kỷ XX, đến những năm 70 của thế
kỷ XX các nhà dân tộc học nghiên cứu gia phả của các dòng họ người Nguồn thì thấy rằng đây là một bộ phận của người Kinh từ các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ
An và Hà Tĩnh di chuyển vào vùng đất Quảng Bình từ thế kỷ XIV, XV cùng với quá trình mở mang và phát triển của đất nước nên xếp họ là nhóm địa phương của người Kinh Qua tìm hiểu người Nguồn đã thừa nhận trước khi
họ đến, vùng này đã có người Sách ở, tức là người Chứt Hiện nay đồng bào
Trang 34nhiều nơi còn biết những vùng nào trước có người Sách, sinh hoạt của họ như thế nào Trước đây, người Nguồn nhiều nơi hàng năm hoặc mấy năm một lần, phải tổ chức lễ cúng ma người Sách, những người đến trước, để làm ăn được yên ổn, khỏe mạnh [70, tr 39, 40]
Người Mã Liềng sống ở vùng giáp ranh giữa hai huyện Hương Khê (Hà Tĩnh) và Tuyên Hóa (Quảng Bình) được một số nhà khoa học người Pháp như A.Cheon và Th.Guignard phát hiện lần đầu tiên vào những năm đầu thế kỷ
XX (1905 - 1906), theo mô tả của họ thì người Mã Liềng “hết sức nhút nhát,
hễ thấy người lạ là lập tức lẫn trốn Họ không có quần áo, nam nữ đều che mình bằng vỏ cây sui, ngủ chung lẫn lộn trong hang hoặc trong lều Họ ăn bột cây nhúc và săn bắt tôm cá, thú nhỏ trong rừng Cả nam và nữ đều búi tóc đằng sau”
Dưới thời thực dân Pháp, họ bị gọi bằng cái tên miệt thị là Xá Lá vàng
(Xá là từ chung để chỉ người các dân tộc lạc hậu, mông muội, còn Lá vàng là
từ phản ánh cuộc sống di cư của họ - cứ mỗi địa điểm họ chỉ dừng lại dưới những mái đá hoặc các túp lều lợp bằng lá cây khoảng bốn - năm ngày, lá chuyển sang màu vàng là họ chuyển đi nơi khác)
Sau năm 1954, miền Bắc nước ta được hòa bình tiếp tục công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, miền Nam phải tiếp tục cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân Vùng rừng núi phía Tây, nơi giáp ranh giữa hai tỉnh Hà Tĩnh - Quảng Bình và giáp giới với nước bạn Lào thường xuyên bị lực lượng phỉ do
Mỹ - Ngụy dựng lên hoạt động mạnh ở đây để kích động nhân dân chống phá chính quyền cách mạng Năm 1959, Bộ đội Biên phòng Quảng Bình được lệnh lên vùng núi Tuyên Hóa để tiêu diệt bọn phỉ Trong chuyến đi này các chiến sĩ bộ đội biên phòng đã phát hiện ra tộc người Mã Liềng sống hoang dã
và đang bên bờ vực của sự diệt vong Ngay sau đó chính quyền tỉnh Quảng Bình và huyện Tuyên Hóa đã đưa người lên để vận động người Mã Liềng xuống núi
Trang 35Theo công bố của Tổng cục Thống kê năm 1979 trong “Danh mục các
thành phần dân tộc Việt Nam” dân tộc Chứt có 5 nhóm địa phương là Mã
Liềng, Sách, Mày, Rục và Arem, ngoài ra còn có các tên gọi khác như Tu vang, Pa leng, Xơ Lang, Tơ Hung, Chà Củi, Tắc Củi, Umo, Xá Lá Vàng Dân
số hiện nay theo số liệu tổng điều tra dân số và nhà ở ngày 01/04/2009 của Tổng cục thống kê là 3.829 người, cư trú tại 16 tỉnh, thành trong cả nước
Như vậy, tộc người Mã Liềng không phải từ một dân tộc rồi tách ra mà ngay từ đầu đã cùng với các tộc người khác của dân tộc Chứt đã sống biệt lập thành nhiều nhóm nhỏ trong rừng sâu, trong các hang đá, lèn đá Do quá trình sinh sống cận cư có nhiều nét tương đồng về văn hóa, ngôn ngữ nên được gộp vào thành dân tộc Chứt
1.2.2 Lịch sử phát triền của cộng đông người Mã Liềng
Có thể chia quá trình phát triển của tộc người Mã Liềng thành các giai đoạn:
- Trước năm 1959
Nhóm người Mã Liềng ở Tuyên Hóa trước khi được các chiến sĩ biên phòng Hà Tĩnh phát hiện năm 1959 họ vốn có cuộc sống nay đây mai đó trong cánh rừng đại ngàn Trường Sơn, vùng giáp giới giữa hai huyện Tuyên Hóa (Quảng Bình) và Hương Khê (Hà Tĩnh) Do điều kiện sinh sống gặp nhiều khó khăn, tuy là cùng một dân tộc nhưng người Mã Liềng và các nhóm tộc người khác của dân tộc Chứt lại phát triển không đồng đều nhau Trong khi một số nhóm tộc người đời sống kinh tế cũng đã tương đối ổn định như tộc người Mày với hình thái kinh tế nương rẫy là chủ yếu, tộc người Sách ngoài kinh tế nương rẫy, đồng bào còn biết làm ruộng nước, ruộng khô, chăn nuôi Hiện tượng du canh du cư của hai nhóm người này đã giảm đi đáng kể, vai trò kinh tế tước đoạt chỉ đóng vai trò thứ yếu Nhà cửa của nhóm tộc người Sách đã kiên cố, ổn định, làng bản sống tập trung thì nhóm người Mã Liềng còn đang sống trong tình trạng của nền kinh tế khai thác - săn bắn, bắt
cá, hái lượm, cư trú trong một điều kiện hết sức hoang sơ trong các núi đá, lều
Trang 36cây trong rừng sâu cho nên nhiều hiện tượng văn hóa như trạng thái cư trú, y phục, trang sức, các hình thức ăn uống, các sinh hoạt văn hóa tinh thần còn ở dạng hoang dã, nguyên thủy của loài người Tình trạng du canh du cư ở trong rừng sâu vùng Cửa Ba giáp giới giữa hai tỉnh Hà Tĩnh và Quảng Bình, gần biên giới Việt Lào là phổ biến, nên đời sống của đồng bào gặp rất nhiều khó khăn, quan hệ giao lưu buôn bán, trao đổi hàng hóa, trao đổi kinh nghiệm trong lao động sản xuất không xảy ra Các quan hệ họ hàng hết sức lỏng lẽo, đói khát dịch bệnh, nạn quần hôn và đặc biệt là bom đạn trong hai cuộc chiến tranh chống Pháp và chống Mỹ đã đưa họ đến bên bờ của sự diệt vong Họ bị biệt lập với thế giới bên ngoài Đồng bào chỉ đủ sức tìm kiếm cái gì đó để đảm bảo sự sinh tồn của chính mình và các thành viên trong gia đình Do vậy cho nên ý thức tộc người không có điều kiện để cũng cố và phát triển Họ là một trong những tộc người trên đất nước ta đang có chiều hướng suy thoái về mọi mặt, thậm chí có thể nói là đang ở trong giai đoạn rất nghiêm trọng Tộc người Mã Liềng khi được phát hiện vào năm 1959 có 7 hộ gia đình với 30 người [70, tr 41, 42]
- Từ năm 1959 đến năm 2004 Giai đoạn này có thể chia thành nhiều thời kỳ nhỏ:
+ Từ năm 1959 đến năm 1966 Ngay sau khi phát hiện ra người Mã Liềng, chính quyền tỉnh Quảng Bình, chính quyền huyện Tuyên Hóa và bộ đội biên phòng Quảng Bình đã cử người lên rừng cắm bản để tìm hiểu xác định đây là nhóm người thuộc dân tộc nào và vận động bà con xuống núi định
cư, định canh sinh sống Quá trình vận động rất khó khăn vì những người này rất nhút nhát, thấy người lạ là lẫn trốn vào các hang đá, bụi cây Trải qua 7 năm, thực hiện chính sách cùng ăn, cùng ở để tiếp cận với người Mã Liềng, đến năm 1966 các cán bộ chính quyền huyện Tuyên Hóa đã vận động được bà con xuống núi Năm 1966 thấy những người này sống quá khó khăn, hoang
dã, gần như đang bên bờ vực diệt vong, đoàn cán bộ Mặt trận tỉnh đã ngược
Trang 37rừng gùi gạo, muối, chăn màn, quần áo để cứu trợ tộc người này, bày cách trĩa lúa rẫy, làm lều ở định canh và dạy tiếng Kinh cho họ hiểu
+ Từ năm 1966 đến năm 1976 Mặc dù đã xuống núi sinh sống định cư cùng với người Kinh nhưng đời sống vẫn quá khó khăn, họ chưa kịp thích nghi với cuộc sống định canh định cư, chưa thể tự mình làm ra của cải để sinh hoạt hàng ngày nên phần lớn người Mã Liềng đã quay trở lại với núi rừng để sống cuộc sống tự do nay đây mai đó, tìm kiếm thức ăn bằng săn bắt và hái lượm Trong quá trình sinh sống, sự khác biệt giữa hai tộc người này đã được thể hiện, người Kinh quen cuộc sống định canh, định cư lại có trình độ phát triển cao hơn, còn người Mã Liềng quen cuộc sống du canh du cư tự do trong rừng, trình độ phát triển lạc hậu nên bị người Kinh khinh thường, không xem người Mã Liềng
là “cùng cấp” với mình, không chịu làm ăn chung Người Mã Liềng lại cho rằng
họ cũng giống như bao tộc người khác, có trình độ như nhau Mã Liềng - theo tiếng của đồng bào có nghĩa là “Người” giống như những nhóm người khác với
ý nghĩa là để tránh sự miệt thị của các tộc người khác đối với mình Một khó khăn nữa của người Mã Liềng khi về định là thời kỳ này cuộc chiến tranh phá hoại mà Mỹ thực hiện ngày càng khốc liệt, hàng ngàn tấn bom đạn của thực dân
Mỹ đã đổ xuống vùng đất này làm cho nhiều người chết, nhà cửa bị thiêu rụi Đến năm 1976, phần lớn người Mã Liềng đã bỏ bản lên rừng sinh sống
+ Từ năm 1976 đến năm 2004 Sau khi đất nước được thống nhất, do phần lớn đồng bào Mã Liềng đã trở lại rừng nên một lần nữa chính quyền huyện Tuyên Hóa lại cử người lên rừng tiếp tục vận động bà con xuống núi Thấy không thể để người Mã Liềng sống chung với người Kinh nên chính quyền địa phương đã đưa họ về bản riêng để định cư, định canh Tuy nhiên sau chiến tranh, đất nước ta gặp nhiều khó khăn, cơ chế bao cấp đã cản trở sự phát triển về kinh tế, huyện Tuyên Hóa cũng nằm trong tình hình đó Do vậy,
sự quan tâm đến người Mã Liềng cũng hạn chế, cũng có thể nói là hầu như không có
Trang 38- Từ năm 2004 đến năm 2012 Đây là giai đoạn chuyển biến mạnh mẽ của người Mã Liềng Bộ đội biên phòng đã phối hợp các tổ chức, đoàn thể ở địa phương cử cán bộ, chiến sĩ mở chiến dịch tuyên truyền, vận động và khám chữa bệnh cho bà con Mã Liềng Sau đó lập tổ công tác thực hiện ba cùng: cùng ăn, cùng ở, cùng làm với đồng bào Tổ công tác đã đến từng nhà tuyên truyền vận động bà con ăn chín uống sôi, ở vệ sinh đồng thời khám bệnh cấp thuốc chữa bệnh cho bà con Để mưu sinh cuộc sống hàng ngày cho đồng bào, các chiến sĩ biên phòng đã dạy họ làm ruộng nước, chăn nuôi trâu bò làm sức kéo - đó là một sự thay đổi mang tính cách mạng của người Mã Liềng Nhờ
đó mà cộng đông người mã Liềng đang có một cuộc hồi sinh mãnh liệt để viết tiếp giức mơ “vượt núi” truyền đời qua bao thế hệ Mã Liềng Từ đây người
Mã Liềng đã biết làm ruộng nước, trồng hoa màu, chăn nuôi gia súc gia cầm… Mặc dù còn phải phụ thuộc vào các chiến sĩ biên phòng và trợ cấp của nhà nước nhưng cuộc sống của bà con đã có sự đổi thay và ngày càng hòa chung với cuộc sống của nhân dân địa phương trong vùng
Bảng 1.1 Địa bàn phân bố dân cư của tộc người Mã Liềng
tại tỉnh Quảng Bình năm 2011
STT Huyện /xã Số hộ khẩu Số Số thôn bản
Trong đó
Cư trú theo cộng đồng
Cư trú xen ghép
I Huyện Minh Hóa 91 540 1 1
Trang 391.3 Đời sống kinh tế - hóa của cộng đồng người Mã Liềng trước khi tái định cư
1.3.1 Đời sống kinh tế
1.3.1.1 Sở hữu đất đai
Người Mã Liềng trước khi TĐC sống chủ yếu bằng hoạt động nông nghiệp thì đất đai chính là tư liệu sản xuất quan trọng nhất Qua khảo sát, trước đây cư dân chủ yếu là canh tác nương rẫy, mỗi hộ gia đình sở hữu vài đám đất làm rẫy, mỗi đám trồng một hai năm rồi bỏ hóa để chuyển sang đám khác Sau 5 - 10 năm thì quay trở lại để đất hoang hóa mọc thành rừng trả lại
độ màu mỡ cho đất, khi đó họ lại bắt đầu một chu kỳ mới (phát rẫy - đốt -
chọc lỗ - gieo hạt) [14, tr 2]
Ngoài ra, rừng là cuộc sống của người dân bởi rừng để làm nương rẫy, cung cấp đa số nhu yếu phẩm cho cuộc sống hàng ngày như gỗ làm nhà, củi đốt, nguyên liệu đan lát, lá làm men rượu, rau, măng, nấm, quả, củ, các loại chim - thú trên cạn, thủy sinh dưới nước Không có nhu cầu lớn nhỏ nào của con người lại không xuất phát từ rừng Tuy nhiên, trước đây sự cân bằng sinh thái luôn được giữ vững, và đối với đồng bào thì có rừng là có tất cả và mất rừng là mất phần lớn môi trường và điều kiện sống
Quan niệm truyền thống của họ cho rằng rừng là tài sản chung của mọi người nhưng khi được đánh dấu sở hữu thì được khẳng định là quyền chiếm hữu riêng của cá nhân, gia đình Như vậy, việc sản xuất nương rẫy cùng với khai thác tài nguyên rừng phần nào đáp ứng nhu cầu cuộc sống của đồng bào
1.3.1.2 Hoạt động nông nghiệp
- Trồng trọt: Theo người dân cho biết, ở địa bàn cũ người Mã Liềng chủ yếu là DCDC và hái lượm, cuộc sống phụ thuộc nhiều vào ĐKTN và
TNTN Dụng cụ sản xuất chủ yếu của họ là con dao rựa Kiểu canh tác là phát
rẫy - đốt - chọc lỗ - gieo hạt Sau khi thu hoạch 1 - 2 vụ, khi đất không còn đủ
màu mỡ nữa lại chuyển sang mảnh khác, sau 5 - 10 năm mới khai phá trở lại,
Trang 40do đó đất hưu canh thường lớn hơn rất nhiều đất đương canh Các kĩ thuật canh tác thích ứng với đất dốc trồng khô được áp dụng tối đa, không dùng cày cuốc để làm xói mòn đất, phát rừng đốt lấy tro thay phân, đa canh và xen canh
để tận dụng đất, bảo vệ đất và tạo được nhiều nguồn thu
Với một diện tích đất như vậy, cùng với tính thời vụ cao (1 vụ/năm), cường độ lao động lớn, chỉ làm 1 vụ/năm, 4 tháng còn lại là thời gian nông nhàn, thành quả lao động hoàn toàn phụ thuộc vào nước trời và khí hậu trong năm Trong ĐKTN và dân cư cũ, rẫy cho năng suất không kém bao nhiêu so với ruộng nước Trừ khi gặp thiên tai, nhìn chung rẫy cung cấp đủ lương thực cho nhu cầu ăn, uống, sinh hoạt và lễ hội
Bỏ hóa 5 - 10 năm Canh tác 1 - 2 năm
Sơ đồ 2.1 Chu kỳ canh tác nương rẫy truyền thống
của người Mã Liềng
- Chăn nuôi: Tại địa bàn cũ, việc chăn nuôi trâu bò cũng khá phát triển
nhờ có nhiều diện tích đồng cỏ, diện tích đất rừng rộng lớn đặc biệt là khí hậu
ấm áp Nhưng điều đáng lưu ý là, mỗi bản hình thành một khu vực chung gọi là khu vực chăn nuôi, trâu bò chỉ cần thả rông, không phải làm chuồng trại Trung
bình mỗi hộ có khoảng 2 - 4 con bò, có hộ nuôi nhiều đến hàng chục con
Chọc lỗ tra hạt
Thu hoạch
Phá đốt Chặt chồi làm cỏ
Sắn Ngô Lúa Rẫy
Rừng Chọn rẫy