1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Sự phát triển một số chỉ số hình thái, trí tuệ và tình trạng dinh dưỡng ở trẻ từ 3 5 tuổi tại thành phố vinh

109 373 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 109
Dung lượng 2,24 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH LÊ THỊ CẨM NHUNG SỰ PHÁT TRIỂN MỘT SỐ CHỈ SỐ HÌNH THÁI, TRÍ TUỆ VÀ TÌNH TRẠNG DINH DƯỠNG Ở TRẺ TỪ 3 - 5 TUỔI TẠI THÀNH PHỐ VINH LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC NGHỆ AN -

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

LÊ THỊ CẨM NHUNG

SỰ PHÁT TRIỂN MỘT SỐ CHỈ SỐ HÌNH THÁI, TRÍ TUỆ VÀ TÌNH TRẠNG DINH DƯỠNG Ở TRẺ

TỪ 3 - 5 TUỔI TẠI THÀNH PHỐ VINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC

NGHỆ AN - 2014

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

LÊ THỊ CẨM NHUNG

SỰ PHÁT TRIỂN MỘT SỐ CHỈ SỐ HÌNH THÁI, TRÍ TUỆ VÀ TÌNH TRẠNG DINH DƯỠNG Ở TRẺ

TỪ 3 - 5 TUỔI TẠI THÀNH PHỐ VINH

Chuyên ngành: Sinh học thực nghiệm

Mã số: 60.42.01.14

LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC

Người hướng dẫn khoa học:

PGS TS HOÀNG THỊ ÁI KHUÊ

NGHỆ AN - 2014

Trang 3

Để hoàn thành đề tài nghiên cứu, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới những người đã giúp đỡ tôi trong quá trình làm luận văn cũng như trong suốt quãng thời gian học tập

Tôi xin cảm ơn Ban giám hiệu, phòng đào tạo Sau đại học, Bộ môn Sinh học thực nghiệm Trường Đại học Vinh, Ban giám hiệu các trường mầm non Quang Trung 2, Bến Thủy, Nghi Kim đã giúp đỡ và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn

Với tất cả lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, tôi xin gửi lời cảm ơn

chân thành nhất tới PGS TS Hoàng Thị Ái Khuê, người cô không chỉ trực

tiếp hướng dẫn tôi trong quá trình làm luận văn, mà còn luôn tận tình dạy dỗ, chỉ bảo, tạo mọi điều kiện tốt nhất cho tôi trong suốt thời gian học tập và làm việc

Tôi cũng xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới Bố, mẹ, anh, chị, những người thân trong gia đình, bạn bè và đồng nghiệp Những người đã luôn giúp đỡ, động viên, khích lệ, chia sẻ khó khăn trong thời gian tôi học tập

và thực hiện đề tài

Nghệ An, tháng 10 năm 2014

Lê Thị Cẩm Nhung

Trang 4

Trang

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 3

3 Nội dung nghiên cứu 3

4 Ý nghĩa khoa học của đề tài 3

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

1.1 Một số khái niệm liên quan đến nội dung nghiên cứu 4

1.2 Khái quát sự phát triển của trẻ 6

1.2.1 Các giai đoạn phát triển 6

1.2.2 Một số quy luật sinh trưởng và phát triển 7

1.2.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình sinh trưởng và phát triển 9

1.3 Các chỉ số hình thái của trẻ em lứa tuổi mầm non 12

1.4 Đặc điểm về trí tuệ của trẻ em lứa tuổi mầm non 14

1.5 Tình trạng dinh dưỡng và phân loại tình trạng dinh dưỡng 17

1.5.1 Tình trạng dinh dưỡng 17

1.5.2 Phân loại tình trang dinh dưỡng 18

1.5.3 Nguyên nhân suy dinh dưỡng 22

1.6 Tình hình suy dinh dưỡng trẻ em trên thế giới và ở Việt Nam 23

1.6.1 Tình hình suy dinh dưỡng trẻ em trên thế giới 23

1.6.2 Tình hình suy dinh dưỡng trẻ em ở Việt Nam 25

1.7 Các nghiên cứu liên quan đến đề tài trên thế giới và ở Việt Nam 28

1.7.1 Các nghiên cứu trên thế giới 28

1.7.2 Các nghiên cứu ở Việt Nam 31

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 36

2.1 Đối tượng nghiên cứu 36

Trang 5

2.2.1 Thiết kế nghiên cứu 36

2.2.2 Cỡ mẫu nghiên cứu 36

2.2.3 Phương pháp tính tuổi 36

2.2.4 Phương pháp xác định các chỉ tiêu hình thái 36

2.2.5 Phương pháp nghiên cứu trí tuệ 37

2.2.6 Phương pháp đánh giá tình trạng dinh dưỡng 39

2.2.7 Phương pháp xử lí số liệu 39

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN 40

3.1 Kết quả nghiên cứu 40

3.1.1 Đặc điểm vùng nghiên cứu 40

3.1.2 Đặc điểm đối tượng nghiên cứu 40

3.1.3 Các chỉ tiêu hình thái của trẻ em từ 3 - 5 tuổi 42

3.1.4 Trí tuệ của trẻ em lứa tuổi mầm non 55

3.1.5 Tình trạng dinh dưỡng của trẻ em từ 3 - 5 tuổi tại thành phố Vinh 58

3.2 Bàn luận 69

3.2.1 Sự phát triển các chỉ số hình thái của trẻ em từ 3-5 tuổi tại thành phố Vinh 69

3.2.2 Sự phát triển chỉ số trí tuệ của trẻ em từ 3-5 tuổi tại thành phố Vinh 73 3.2.3 Tình trạng dinh dưỡng của trẻ em từ 3-5 tuổi tại thành phố Vinh 74

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 78

1 Kết luận 78

2 Kiến nghị 79

TÀI LIỆU THAM KHẢO 80 PHỤ LỤC

Trang 6

Trang

Bảng 1.1 Chỉ số cân nặng theo tuổi với Z-Sore 21

Bảng 1.2 Chỉ số cao theo tuổi với Z-Sore 21

Bảng 1.3 Chỉ số BMI theo tuổi với Z-Sore 22

Bảng 1.4 Phân loại mức độ SDD trẻ em dưới 5 tuổi tại cộng đồng theo WHO 22

Bảng 1.5 Thực trạng suy dinh dưỡng trẻ em theo khu vực trên thế giới 24

Bảng 1.6 Tỷ lệ SDD trẻ em dưới 5 tuổi tại Việt Nam 1999 - 2011 (*) 26

Bảng 1.7 Tỷ lệ SDD trẻ em dưới 5 tuổi theo các mức độ năm 2012 (*) 27

Bảng 2.1 Phân loại chỉ số IQ và mức trí tuệ 39

Bảng 3.1 Phân bố đối tượng nghiên cứu 41

Bảng 3.2 Một số đặc điểm liên quan đến đối tượng nghiên cứu 41

Bảng 3.3 Chiều cao đứng trẻ em nam 3 - 5 tuổi tại thành phố Vinh 42

Bảng 3.4 Chiều cao đứng trẻ em nam từ 3 - 5 tuổi ở nội thành và ngoại thành 43

Bảng 3.5 Chiều cao đứng trẻ em nữ từ 3 - 5 tuổi ở nội thành và ngoại thành 44

Bảng 3.6 Chiều cao đứng của trẻ em 3 - 5 tuổi tại thành phố Vinh 44

Bảng 3.7 Chiều cao ngồi trẻ em nam 3 - 5 tuổi ở 3 trường mầm non 45

Bảng 3.8 Chiều cao ngồi trẻ em nam từ 3 - 5 tuổi ở nội thành và ngoại thành 46

Bảng 3.9 Chiều cao ngồi trẻ em nữ từ 3 - 5 tuổi ở nội thành và ngoại thành 47

Bảng 3.10 Chiều cao ngồi của trẻ em từ 3 - 5 tuổi tại thành phố Vinh 47

Bảng 3.11 Cân nặng cơ thể của trẻ em nam từ 3 - 5 tuổi tại thành phố Vinh 48

Trang 7

Bảng 3.13 Cân nặng trẻ em nữ từ 3 - 5 tuổi ở nội thành và ngoại thành 49

Bảng 3.14 Cân nặng của trẻ em từ 3 - 5 tuổi 50

Bảng 3.15 Vòng ngực trung bình của trẻ em nam từ 3 - 5 tuổi tại thành phố Vinh 50

Bảng 3.16 Vòng ngực của trẻ em từ 3 - 5 tuổi tại thành phố Vinh 51

Bảng 3.17 Vòng đầu trung bình của trẻ em nam từ 3 - 5 tuổi tại thành phố Vinh 52

Bảng 3.18 Vòng đầu của trẻ em từ 3 - 5 tuổi tại thành phố Vinh 53

Bảng 3.19 Chỉ số BMI của trẻ em nam từ 3 - 5 tuổi tại thành phố Vinh 53

Bảng 3.20 BMI của trẻ em từ 3 - 5 tuổi 55

Bảng 3.21 Chỉ số IQ của trẻ em nam từ 3 - 5 tuổi tại thành phố Vinh 55

Bảng 3.22 Chỉ số IQ của trẻ em theo giới tính 56

Bảng 3.23 Phân bố trẻ em theo mức trí tuệ 57

Bảng 3.24 Tỉ lệ chiều cao theo tuổi của trẻ 3 - 5 tuổi ở các trường Mầm non 61

Bảng 3.25 Tỉ lệ cân nặng theo tuổi của trẻ 3 - 5 tuổi ở các trường MN 64

Bảng 3.26 Tỉ lệ BMI theo tuổi của trẻ 3 - 5 tuổi ở các trường Mầm non 67

Trang 8

Biểu đồ 1.1 Số ca suy dinh dưỡng trên thế giới qua các năm (*) 24

Biểu đồ 3.1 Chiều cao đứng trẻ em nữ từ 3 - 5 tuổi ở thành phố Vinh 43

Biểu đồ 3.2 Chiều cao ngồi trẻ em nữ từ 3 - 5 tuổi ở thành phố Vinh 46

Biểu đồ 3.3 Cân nặng trẻ em nữ từ 3 - 5 tuổi ở thành phố Vinh 49

Biểu đồ 3.4 Vòng ngực trẻ em nữ từ 3 - 5 tuổi ở thành phố Vinh 51

Biểu đồ 3.5 Vòng đầu trẻ em nữ từ 3 - 5 tuổi tại thành phố Vinh 52

Biểu đồ 3.6 Chỉ số BMI của trẻ em nữ từ 3 - 5 tuổi tại thành phố Vinh 54

Biểu đồ 3.7 Chỉ số IQ của trẻ em nữ từ 3 - 5 tuổi tại thành phố Vinh 56

Biểu đồ 3.8 Tỉ lệ chiều cao theo tuổi của trẻ từ 3 - 5 tuổi ở trường mầm non Quang Trung 2 58

Biểu đồ 3.9 Tỉ lệ chiều cao theo tuổi của trẻ từ 3 - 5 tuổi ở trường mầm non Bến Thủy 59

Biểu đồ 3.10 Tỉ lệ chiều cao theo tuổi của trẻ từ 3 - 5 tuổi ở trường mầm non Nghi Kim 59

Biểu đồ 3.11 Tỷ lệ suy dinh dưỡng thể thấp còi của trẻ từ 3 - 5 tuổi tại thành phố Vinh 60

Biểu đồ 3.12 Tỉ lệ cân nặng theo tuổi của trẻ từ 3 - 5 tuổi ở trường mầm non Quang Trung 2 62

Biểu đồ 3.13 Tỉ lệ cân nặng theo tuổi của trẻ từ 3 - 5 tuổi ở trường mầm non Bến Thủy 62

Biểu đồ 3.14 Tỉ lệ cân nặng theo tuổi của trẻ từ 3 - 5 tuổi ở trường mầm non Nghi Kim 63

Biểu đồ 3.15 Tỷ lệ suy dinh dưỡng thể nhẹ cân của trẻ từ 3 - 5 tuổi tại thành phố Vinh 64

Trang 9

non Quang Trung 2 65Biểu đồ 3.17 Tỉ lệ BMI theo tuổi của trẻ từ 3 - 5 tuổi ở trường mầm

non Bến Thủy 66Biểu đồ 3.18 Tỉ lệ BMI theo tuổi của trẻ từ 3 - 5 tuổi ở trường mầm

non Nghi Kim 66Biểu đồ 3.19 Tỷ lệ suy dinh dưỡng thể gầy còm của trẻ từ 3 - 5 tuổi tại

thành phố Vinh 67Biểu đồ 3.20 Tỷ lệ các loại suy dinh dưỡng của trẻ 3 - 5 tuổi tại trường

Mầm non 69

Trang 10

BMI Body Mass Index (Chỉ số khối cơ thể)

CC/T Chiều cao theo tuổi

CN/T Cân nặng theo tuổi

CS Cộng sự

GTSHNVN Giá trị sinh học người Việt Nam bình thường thập kỉ 90

IQ Chỉ số thông minh

MN Mầm non

SD Standard Deviation (độ lệch chuẩn)

SDD Suy dinh dưỡng

TP Thành phố

TTDD Tình trạng dinh dưỡng

UNICEF Quỹ nhi đồng Liên hợp quốc

VDD Viện dinh dưỡng

WHO World Health Organizatinon (Tổ chức Y tế thế giới)

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Chăm sóc, bảo vệ và giáo dục trẻ em là một trong những nhiệm vụ hàng đầu trong chiến lược phát triển con người của Đảng và Nhà nước ta Muốn thực hiện tốt nhiệm vụ này, cần nắm vững các đặc điểm về thể lực, trí tuệ, và tâm sinh lý của trẻ em Vì vậy, nghiên cứu các chỉ số thể lực và trí tuệ của trẻ em luôn có ý nghĩa quan trọng

Nhiều công trình nghiên cứu cho thấy các chỉ số thể lực, trí tuệ của con người có thể thay đổi và phụ thuộc vào các kỳ điều tra, điều kiện kinh tế xã hội và môi trường tự nhiên [11], [36] Do đó, các chỉ số thể lực, trí tuệ của con người nói chung, của trẻ em nói riêng cần được tiến hành nghiên cứu thường xuyên và có sự tổng kết trong một khoảng thời gian nhất định

Đến nay, đã có một số tác giả nghiên cứu về thể lực, chức năng sinh lý, năng lực trí tuệ của người Việt Nam [6], [9], [13], [14],… Tuy nhiên, những nghiên cứu trên đối tượng trẻ em lứa tuổi mầm non còn ít và chủ yếu là nghiên cứu về chức năng sinh lý, tình trạng dinh dưỡng Việc nghiên cứu các chỉ số thể lực, sinh lý và trí tuệ ở trẻ em lứa tuổi mầm non là cần thiết Nó cung cấp dẫn liệu cho công tác nuôi dạy trẻ em ở bậc học mầm non, cũng như tạo cơ sở khoa học để đề xuất các biện pháp hữu hiệu nhằm phát triển thế hệ tương lai của đất nước một cách tốt nhất

Trong những năm gần đây ở nước ta nhờ sự tăng trưởng của nền kinh

tế, điều kiện sống và mức sống của người dân được cải thiện đáng kể Chế độ dinh dưỡng của trẻ em được cải thiện và hiểu biết khoa học của bố mẹ về dinh dưỡng trong chăm sóc trẻ được nâng cao Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến

sự phát triển thể lực, thể chất và trí tuệ của trẻ em nói chung và trẻ tuổi mầm non nói riêng [42], [46].Theo dữ liệu thống kê của Tổ chức Y tế Thế giới, tình hình suy dinh dưỡng (SDD) ở trẻ em đã có sự thay đổi rõ rệt SDD thể

Trang 12

nhẹ cân giảm nhanh, trong khi đó SDD thể thấp còi vẫn còn cao Năm 2011 tỷ

lệ SDD thể thấp còi trên Thế giới là 27,5%, ở các nước châu Á là 26,8% [46], Theo báo cáo của Viện dinh dưỡng Quốc gia, tỷ lệ SDD thể thấp còi ở VN năm 2012 chiếm 26,7% ở trẻ dưới 5 tuổi; năm 2013, trẻ em dưới 5 tuổi trong

cả nước có tỷ lệ SDD nhẹ cân là 15,3%, tỷ lệ SDD thấp còi là 25,9%, tỷ lệ trẻ SDD gầy còm là 6,7%; tại TP Hồ Chí Minh, tỉ lệ SDD thể nhẹ cân của trẻ dưới 5 tuổi là 4,1%, thấp còi là 6,7%; tại Nghệ An tỉ lệ SDD nhẹ cân chiếm 19,3% (đứng thứ 27/63 tỉnh thành) [42]

Thành phố Vinh là đô thị loại 1 thuộc tỉnh Nghệ An, Việt Nam, là trung tâm kinh tế, chính trị của Tỉnh và đã được Chính phủ Việt Nam quy hoạch để trở thành trung tâm kinh tế - văn hóa của vùng Bắc Trung Bộ Tại thành phố Vinh có 28 trường mầm non công lập, 05 trường mầm non dân lập, 14 trường mầm non tư thục và 62 cơ sở nhóm lớp độc lập, với 88 nhóm lớp Số cháu trong độ tuổi phổ cập giáo dục mầm non là 30.047 Trong những năm qua, cùng với những kết quả đạt được từ các chương trình y tế đang được triển khai trên địa bàn, thì chương trình phòng, chống suy dinh dưỡng trẻ em tại Thành phố Vinh đã thu được nhiều kết quả đáng được ghi nhận Đó là tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi trên địa bàn mỗi năm qua đều giảm liên tục

và bền vững Năm 2013, tỷ lệ SDD nhẹ cân của trẻ dưới 5 tuổi tại Thành phố Vinh là 11% Viện Dinh dưỡng Bộ Y tế giao cho tỉnh Nghệ An phấn đấu năm

2015 tỉ lệ SDD chỉ còn 15% [61] Chúng tôi tiến hành nghiên cứu này để đánh giá dinh dưỡng của trẻ Mầm non 3 - 5 tuổi tại một số phường/xã thuộc Thành phố Vinh năm 2014

Với số lượng trẻ mầm non ngày càng gia tăng như vậy mà cho đến nay, chưa có một đề tài nào nghiên cứu về thể lực, trí tuệ của trẻ em lứa tuổi mầm non tại thành phố Vinh để có thể dựa vào đó đề ra biện pháp góp phần nâng cao hơn nữa chất lượng giáo dục và chăm sóc sức khỏe cho trẻ em ở địa bàn này

Trang 13

Xuất phát từ tình hình thực tế trên, chúng tôi chọn đề tài: “Sự phát

triển một số chỉ số hình thái, trí tuệ và tình trạng dinh dưỡng ở trẻ từ 3 - 5 tuổi tại thành phố Vinh” với mong muốn góp phần vào việc định hướng các

biện pháp chăm sóc, giáo dục trẻ khoa học, thích hợp hơn

2 Mục tiêu nghiên cứu

2.1 Đánh giá sự phát triển của một số chỉ số hình thái và trí tuệ ở trẻ

em từ 3 - 5 tuổi tại thành phố Vinh

2.2 Đánh giá tình trạng dinh dưỡng ở trẻ em từ 3 - 5 tuổi tại thành phố Vinh

3 Nội dung nghiên cứu

3.1 Nghiên cứu sự phát triển một số chỉ tiêu hình thái và phân loại tình trạng dinh dưỡng của trẻ em từ 3 - 5 tuổi tại thành phố Vinh:

- Chọn mẫu nghiên cứu: chọn 1.152 trẻ em từ 3 - 5 tuổi tại thành phố Vinh

- Tiến hành đo một số chỉ tiêu hình thái gồm: chiều cao đứng, chiều cao ngồi, cân nặng, vòng ngực, vòng đầu

- Xác định chỉ số đánh giá thể lực: BMI

- Phân loại và đánh giá tình trạng dinh dưỡng dựa vào Z-Score

+ Chỉ số Z-Score chiều cao theo tuổi

+ Chỉ số Z-Score cân nặng theo tuổi

+ Chỉ số Z-Score BMI theo tuổi

3.2 Nghiên cứu chỉ số trí tuệ của trẻ em từ 3 - 5 tuổi tại thành phố Vinh bằng cách sử dụng test Raven màu

4 Ý nghĩa khoa học của đề tài

Đánh giá đặc điểm phát triển của một số chỉ số hình thái, tình trạng dinh dưỡng và tìm hiểu về sự phát triển trí tuệ ở trẻ em từ 3 - 5 tuổi tại thành phố Vinh Từ đó cung cấp dẫn liệu cho cơ quan nghiên cứu có liên quan tham khảo đề ra các chủ trương kế hoạch, xây dựng các biện pháp chăm sóc trẻ, đồng thời làm giảm tỉ lệ suy dinh dưỡng các thể thấp còi, nhẹ cân và gầy còm

Trang 14

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Một số khái niệm liên quan đến nội dung nghiên cứu

Sinh trưởng và phát triển là những đặc trưng cơ bản của mọi cơ thể

sống Hai quá trình này xảy ra liên tục từ lúc trứng mới thụ tinh và phát triển phôi thai đến khi ra đời, trưởng thành, cho đến lúc già, chết đi [34]

- Sinh trưởng (Growth) là một quá trình thay đổi về mặt số lượng, là sự

tăng trưởng về mặt kích thước, khối lượng của toàn bộ cơ thể hay từng bộ phận

- Phát triển (Development) là sự biến đổi về chất, bao gồm: sự biến đổi

về hình thái, chức năng sinh lý, các quy luật hoạt động theo từng giai đoạn của cuộc đời mỗi cá thể sinh vật

Sinh trưởng và phát triển có mối quan hệ mật thiết với nhau, tác động qua lại lẫn nhau đôi khi không có sự phân biệt Sinh trưởng là điều kiện của phát triển; còn phát triển làm thay đổi sinh trưởng bằng cách thúc đẩy tăng nhanh hay ức chế, kìm hãm sự sinh trưởng tùy theo từng giai đoạn Ở giai đoạn phát dục, cơ thể thường lớn nhanh, biến đổi nhiều; có tính chất nhảy vọt

về cả hình thái và chức năng sinh lý Đến giai đoạn trưởng thành thì sự sinh trưởng bị chậm lại và đến thời kì lão hóa thì cơ thể suy thoái [28]

- Dinh dưỡng là tình trạng cơ thể được cung cấp đầy đủ, cân đối các

thành phần các chất dinh dưỡng, đảm bảo sự phát triển toàn vẹn, tăng trưởng của cơ thể để đảm bảo chức năng sinh lý và tham gia tích cực vào các hoạt động xã hội [28]

- Tình trạng dinh dưỡng có thể được định nghĩa là tập hợp các đặc

điểm cấu trúc, các chỉ tiêu hoá sinh và đặc điểm các chức phận của cơ thể phản ánh mức đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng của cơ thể

Trang 15

- Suy dinh dưỡng là tình trạng thiếu hụt các chất dinh dưỡng cần thiết

làm ảnh huởng đến quá trình sống, hoạt động và tăng trưởng bình thường của

cơ thể

- Suy dinh dưỡng thấp còi được phản ánh bằng chỉ tiêu chiều cao theo

tuổi thấp do sự chậm tăng trưởng của trẻ dẫn đến không đạt được chiều cao cần có của một đứa trẻ cùng tuổi ở quần thể tham khảo Thể còi cọc là một biểu hiện của sự chậm phát triển kéo dài hoặc một dấu hiệu của sự chậm lớn trong quá khứ

- Suy dinh dưỡng nhẹ cân phản ánh cả sự chậm của quá trình tăng

trưởng trong tình trạng thiếu dinh dưỡng kéo dài cũng như tình trạng thiếu dinh dưỡng tại thời điểm đó Chỉ tiêu này có ích cho việc xác định mức độ chung về quy mô của thiếu dinh dưỡng và các thay đổi theo thời gian Các số liệu cân nặng theo tuổi thường dễ có hơn vì chúng thường dùng để theo dõi sự tăng trưởng của trẻ em

- Suy dinh dưỡng thể gầy còm là hiện tượng xảy ra khi chỉ tiêu cân

nặng theo chiều cao của trẻ tụt xuống thấp đáng kể so với trị số nên có ở quần thể tham khảo Thể gầy còm phản ánh tình trạng thiếu dinh dưỡng cấp tính do không lên cân hoặc đang tụt cân

- Trí tuệ là danh từ chỉ thành quả của ba quá trình: học tập, quan sát

và suy nghĩ Trí tuệ hiểu theo cách này thì trí tuệ chỉ là một đơn vị đo mức độ tích lũy Theo cách hiểu thông thường, người ta thường nhầm hiểu người có trí tuệ là người có óc phán đoán tốt, có khả năng quan sát tường tận tỉ mỉ, và có một tinh thần bình thường Đây là cách hiểu trí tuệ theo nghĩa tính từ và mang nhiều ý nghĩa chủ quan, sai lạc Trí tuệ có cao, thấp Tư duy là biểu hiện của trí tuệ nó phải được lý giải, nắm bắt mà dung hợp, quán thông, trên cơ sở đề ra vấn đề và đưa ra nhiều vấn đề mới

có thể đạt được

Trang 16

1.2 Khái quát sự phát triển của trẻ

1.2.1 Các giai đoạn phát triển

Mỗi giai đoạn phát triển cá thể của con người có những đặc điểm riêng

về mặt cấu tạo và chức năng Chính các đặc điểm này đã xác định sự khác nhau trong quá trình phát triển giữa các lứa tuổi [22]

Trẻ em là một cơ thể đang lớn lên và phát triển Từ lúc thụ thai đến tuổi trưởng thành trẻ trải qua 2 hiện tượng đó là sự tăng trưởng, một hiện tượng phát triển về số lượng và kích thích của các tế bào; và sau đó là sự trưởng thành của các tế bào và mô (cấu trúc và chức năng hoàn chỉnh dần) Quá trình lớn lên và phát triển này có tính chất toàn diện và qua nhiều giai đoạn Mỗi giai đoạn có những đặc điểm về sinh lý và bệnh lý riêng [22]

Trẻ em từ 3 tới 5 tuổi được xếp vào nhóm trẻ tuổi mẫu giáo Trẻ muốn sờ, nếm, gửi, nghe và thử nghiệm tất tả mọi thứ xung quanh Trẻ ham học hỏi qua kinh nghiệm và thực hành Trẻ học hỏi qua trò chơi, bận rộn trong việc phát triển các kỹ năng, sử dụng ngôn ngữ và cố gắng để kiểm soát được nội tâm

Trẻ muốn tự khẳng định bản thân khi tách khỏi cha mẹ Trẻ tuổi mẫu giáo độc lập hơn các trẻ tuổi chập chững Trẻ có thể diễn đạt các nhu cầu của mình bằng ngôn ngữ

Trẻ em 3 tuổi đi được bằng mũi chân, đứng bằng một chân, đi xe đạp 3 bánh, xếp được các hình khối, cao hơn năm trước khoảng 8cm, có thể trao đổi các nhu cầu, kiến và câu hỏi của mình Ngoài ra trẻ em ở giai đoạn này đã tập trung hơn để có thể tham gia các hoạt động theo nhóm và học hỏi được rất nhanh qua thực hành

Đến 4 tuổi trẻ bắt đầu điều khiển được các cơ nhỏ, chạy nhanh, nhảy lò cò,có thể ném bóng, tự mặc quần áo, thích viết các chữ cái, hoạt bát và dễ nổi giận trong khi chơi Ngoài ra trẻ bắt đầu nói nhiều, tham gia vào các cuôc thảo luận nghiêm túc và bắt đầu hiểu một số khái niệm cơ bản như số, kích thước, màu sắc, khoảng cách, thời gian, vị trí

Trang 17

Đến 5 tuổi trẻ có thể kiểm soát, phối hợp vận động các nhóm cơ lớn,

có thể hiểu và biết cách thực hành vệ sinh cá nhân Ở giai đoạn này trẻ bắt đầu thể hiện một số hiểu biết ban đầu về việc đọc, viết và biết cách thể hiện khả năng sang tạo của bản thân

Hiện nay có nhiều cách phân chia các thời kỳ phát triển cá thể của con người Các tác giả như Tạ Thúy Lan, Trần Thị Loan [22], Đức Minh và một

số tác giả khác chấp nhận cách phân chia của Viện Hàn Lâm sư phạm Liên

Xô, vì nhận thấy cách phân chia này phù hợp với đặc điểm lứa tuổi của người Việt Nam và có thể ứng dụng trong hệ thống giáo dục trẻ em Việt Nam Theo các tác giả, thì lứa tuổi mầm non gồm hai giai đoạn: giai đoạn từ 1 đến 3 tuổi (giai đoạn tuổi thơ sớm hay tuổi vườn trẻ) và giai đoạn từ 3 đến 6 tuổi (giai đoạn tuổi thơ đầu hay tuổi mẫu giáo) Ở mỗi giai đoạn, sự phát triển của trẻ

- hình thành các khái niệm phân lập

Tóm lại, chức năng sinh học và xã hội cơ bản của trẻ em lứa tuổi mầm non là sinh trưởng và phát triển [22]

1.2.2 Một số quy luật sinh trưởng và phát triển

Các công trình của C.B.Penxon (1962), M.H.Saternicop (1968), F.Bnedis đã chứng minh một số quy luật sinh trưởng và phát triển ở con người cũng như động vật:

1.1.2.1 Quy luật sinh trưởng phát triển theo giai đoạn

Sự sinh trưởng và phát triển của cơ thể diễn ra và thay đổi tùy theo từng giai đoạn của đời sống cá thể Có giai đoạn tốc độ sinh trưởng, phát triển

Trang 18

nhanh; có giai đoạn tốc độ sinh trưởng phát triển chậm Ví dụ: trẻ sơ sinh trung bình có chiều dài 50cm - 60cm, nặng 2,5 - 3,5kg Năm thứ hai, cân nặng tăng 2,5 - 3kg, chiều cao tăng 10 - 15cm Các năm tiếp theo cho đến tuổi dậy thì, mỗi năm cân nặng tăng 1,5 - 2kg và cao thêm 3 - 4cm Hết tuổi trưởng thành, cơ thể cao khoảng 1,55 - 1,7m và nặng 50 - 60kg Sau tuổi trưởng thành chiều cao và khối lượng cơ thể không biến đổi nhiều [22]

1.1.2.2 Quy luật sinh trưởng phát triển không đồng đều [23]

Tốc độ sinh trưởng, phát triển của các hệ cơ quan, cơ quan, các mô, thậm chí cả các tế bào trong cùng một cơ thể là không giống nhau (không đồng đều) Chính sự không đồng đều đó đã làm cho tỉ lệ các cơ quan, bộ phận ở các giai đoạn khác nhau là không giống nhau Ví dụ: trẻ sơ sinh chiều dài đầu bằng

¼ chiều dài cơ thể, khi trưởng thành chỉ bằng 1/8 cơ thể; chi dưới trẻ sơ sinh chỉ bằng 1/3 cơ thể, đến khi trưởng thành, chi dưới dài hơn 1/2 cơ thể

Từ các quy luật đó, người ta nhận thấy rằng có thể căn cứ vào các chỉ tiêu hình thái, thể lực, thể chất như: cân nặng, chiều cao, vòng ngực, chỉ số BMI, để đánh giá sự sinh trưởng, phát triển của một cơ thể

Với mục đích xác định những đặc tính quan trọng, đặc trưng cho những giai đoạn khác nhau của sự sinh trưởng, phát triển ở con người, các nhà khoa học đã chia quá trình sinh trưởng và phát triển thành nhiều giai đoạn và thời kì khác nhau: phát triển phôi, sơ sinh, nhà trẻ, mẫu giáo, nhi đồng, thiếu niên, dậy thì, trưởng thành, trung niên, lão hóa và tử vong Cơ sở

để phân chia các thời kì của giai đoạn phôi thai là sự phân hóa, biệt hóa tế bào, hình thành các mô và cơ quan Cơ sở để phân chia các giai đoạn, thời kì của cơ thể sau khi sinh là các dấu hiệu đặc trưng về hình thái và sinh lý như:

sự mọc răng, sự cốt hóa các phần khác nhau của bộ xương, hoạt động của các tuyến nội tiết, sự phát triển một số đặc điểm hình thái, sinh lý, sự biến đổi các đặc điểm tâm lí,

Trang 19

1.2.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình sinh trưởng và phát triển

1.2.3.1 Các yếu tố nội tiết và di truyền

* Nội tiết: Các hormon tham gia quá trình điều hoà phát triển cơ thể [35]

- Hormon tăng trưởng (GH) được bài tiết từ khoảng tuần thứ 9 thời kỳ phôi, từ đó hormon tăng tiết dần nhưng vai trò của nó với sự phát triển thai chưa rõ, GH của tuyến yên đóng một vai trò rất quan trọng trong sự tăng trưởng của trẻ từ khi sinh đến lúc trưởng thành

- Somatomedine: Là hormon có tác dụng hiệp đồng với GH trong quá trình tăng trưởng Người ta thấy GH không tác dụng trực tiếp lên sụn của cơ thể mà thông qua somatomedine, sinh tổng hợp somatomedine lại phụ thuộc vào GH Như vậy, somatomedine và GH gắn kết chặt chẽ với nhau, giúp cơ thể tăng trưởng bình thường

- Hormon tuyến giáp: Là T3 và T4, do các tế bào của nang tuyến giáp tổng hợp và bài tiết Tác dụng của T3 và T4 phối hợp với GH để làm cơ thể phát triển, tăng quá trình biệt hoá tế bào,tăng tốc độ phát triển và điều hoà sự phát triển cơ thể Trong thời kì cơ thể đang phát triển, nếu thiếu T3- T4 dẫn tới lùn Ngoài ra T3- T4 còn tham gia vào quá trình phát triển trí tuệ Vì vậy, nếu trẻ thiếu T3- T4 không chỉ bị lùn mà còn bị đần độn Ngược lại nếu thừa T3- T4

trong thời kì đang phát triển, cơ thể sẽ lớn nhanh hơn những trẻ cùng lứa tuổi nhưng không gây ra bệnh khổng lồ

- Calcitonin: Do các tế bào cạnh nang của tuyến giáp bài tiết Calcitonin

có tác dụng làm tăng quá trình tạo xương

- Hormon sinh dục: Testosteron do tế bào Leydig của tinh hoàn bài tiết, vai trò của nó là biệt hoá trung khu điều hoà chức năng sinh dục của vùng dưới đồi Estrogen do buồng trứng bài tiết, hormon này tham gia điều hoà sự phát triển cơ thể và làm xuất hiện, duy trì và phát triển các đặc tính sinh dục ở nữ

Trang 20

- Cortisol và các Glucocorticoid khác do lớp bó của tế bào vỏ thượng thận tiết ra Với nồng độ bình thường thì các hormon này góp phần làm tăng trưởng, nếu nồng độ tăng trong máu sẽ làm chậm tăng trưởng

* Yếu tố di truyền bao gồm: Giống nòi, chủng tộc, các yếu tố gen và

các bất thường bẩm sinh

- Tăng trưởng chiều cao của cơ thể con người cũng chịu sự chi phối bởi yếu tố di truyền Chiều cao là một đặc điểm nhân chủng quan trọng, mỗi dân tộc thường có một khung chiều cao nhất định, chiều cao này được xác định qua quá trình hình thành các đặc điểm sinh thể của dân tộc

- Chiều cao cũng như một số tính trạng khác như: Độ thông minh, màu

da, nếp vân tay được chi phối bởi nhiều cặp gen tương ứng, các gen này có thể nằm trên cùng một cặp hoặc nằm trên các cặp nhiễm sắc thể tương đồng khác nhau Hiện nay người ta chưa biết rõ gen nào chi phối chiều cao con người

- Bên cạnh yếu tố di truyền, kích thước và thời gian tăng trưởng của trẻ

em cũng bị ảnh hưởng bởi giống nòi và chủng tộc Phyllis Eveleth và Tanner nghiên cứu chiều cao của trẻ em có nguồn gốc châu Âu (London), châu Á (Hồng Kông) và châu Mỹ (Hoa Kỳ) nhận thấy trẻ em châu Âu và châu Mỹ có chiều cao tương tự nhau, còn trẻ em châu Á thấp hơn hẳn

1.2.3.2 Yếu tố môi trường xã hội

+ Nhu cầu dinh dưỡng của trẻ

+ Kiến thức của bố mẹ, kinh tế của gia đình

+ Phong tục tập quán của địa phương nơi trẻ sinh sống

Trang 21

- Nhu cầu dinh dưỡng của trẻ phụ thuộc nhiều vào lứa tuổi Hiện nay,

tổ chức quốc tế nghiên cứu về dinh dưỡng đã thống nhất các loại thức ăn bổ sung cho trẻ được biểu thị theo ô vuông thức ăn

- Thời điểm bắt đầu cho ăn bổ sung, chất lượng thức ăn đều có ảnh hưởng đến sự phát triển của trẻ [24]

Nghiên cứu ảnh hưởng của chế độ dinh dưỡng đến sự phát triển và sức khoẻ trẻ em nhiều tác giả Việt Nam cho thấy tình trạng dinh dưỡng càng kém, thì tỉ lệ trẻ chậm phát triển và mắc bệnh càng nhiều [12], [24], [28]

Theo Trần Hồng Loan [24] thì tỷ lệ trẻ dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng rất cao Trong đó, trẻ thiếu cân bị suy dinh dưỡng chiếm 45% Tác giả còn cho biết trẻ bị suy dinh dưỡng tập trung nhiều ở lứa tuổi 13-16 tháng tuổi Cai sữa sớm cho trẻ (trước 24 tháng tuổi) cũng gây suy dinh dưỡng với tỷ

lệ cao Trẻ suy dinh dưỡng, đặc biệt là suy dinh dưỡng protein năng lượng, chậm phát triển hơn so với trẻ bình thường: tuổi xương chậm hơn tuổi thực

là 88,1%, trẻ có chiều cao phát triển kém chiếm 83,1% Suy dinh dưỡng còn làm cho tỷ lệ trẻ bị mắc bệnh nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính tăng cao, đặc biệt là trẻ em dưới 1 tuổi Ngược lại, nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính lại

là nguyên nhân gây suy dinh dưỡng đối với trẻ Lượng protid, lipid, glucid, vitamin A được hấp thu vào cơ thể ở trẻ suy dinh dưỡng thấp hơn rõ so với trẻ bình thường

+ Thời điểm bắt đầu cho ăn bổ sung: cho ăn bổ sung quá sớm hoặc quá muộn đều ảnh hưởng đến phát triển thể chất của trẻ TCYTTG khuyến cáo thời điểm cho ăn bổ sung tốt nhất là từ 6 tháng, chỉ cho trẻ từ 4-6 tháng ăn thêm nếu sau khi bú mẹ mà trẻ còn đói lên cân chậm

+ Chất lượng thức ăn: thức ăn bổ sung phải phù hợp với lứa tuổi và nhu cầu của trẻ Nghiên cứu hiệu quả của việc bổ sung thức ăn đến sự phát triển thể chất đã được nhiều tác giả đề cập đến [12]

Trang 22

* Gia đình

Theo Daniels R.S và Smith R thì từ khi trẻ được sinh ra, được nuôi dạy cho tới lúc lớn và lúc trưởng thành, mỗi cá thể đều có một mối quan hệ mật thiết với gia đình Do đó chất lượng cuộc sống trong mỗi gia đình có sự liên quan mật thiết đến quá trình phát triển thể chất, tâm lý và vận động của trẻ Một trẻ có cân nặng thấp khi sinh, nếu người mẹ đẻ nhiều con, nhà ở chật chội, kinh tế gia đình khó khăn không đủ khả năng nuôi dưỡng, trẻ bị tiêu chảy nhiều lần, không được sự chăm sóc đầy đủ của y tế, thức ăn thiếu chất đều là những yếu tố góp phần tác động lên sự phát triển của trẻ Nếu những yếu tố trên càng nhiều ở một trẻ thì trẻ đó có xu hướng bị suy dinh dưỡng

* Bệnh tật: Các bệnh về chuyển hoá, thần kinh, nội tiết, hô hấp, tim

mạch, tiêu hoá đều ảnh hưởng đến sự tăng trưởng

Nhiều nghiên cứu cho thấy có mối liên quan chặt chẽ giữa sự phát triển của trẻ với bệnh tật nhất là bệnh nhiễm khuẩn, chuyển hoá

1.3 Các chỉ số hình thái của trẻ em lứa tuổi mầm non

Thể lực là một chỉ tiêu dùng để đánh giá sức khoẻ, tầm vóc, sự tăng trưởng, phát triển và khả năng học tập, lao động của con người Để đánh giá

sự phát triển thể lực, người ta thường dùng các chỉ số về hình thái như chiều cao, cân nặng, vòng ngực, vòng đầu… Trong đó, ba chỉ số cơ bản là chiều cao đứng, cân nặng và vòng ngực đóng vai trò quan trọng nhất Từ các chỉ

số cơ bản này, người ta có thể suy ra các chỉ số tổng hợp khác như chỉ số pignet, BMI [27], [42]

* Sự phát triển chỉ số cân nặng:

- Cân nặng của người nói lên khối lượng và trọng lượng hay độ lớn tổng hợp của toàn bộ cơ thể, nó liên quan đến mức độ và tỷ lệ giữa hấp thu và tiêu hao Trẻ được nuôi dưỡng tốt sẽ tăng cân Do đó cân nặng phần nào nói lên tình trạng thể lực, dinh dưỡng và sự tăng trưởng của trẻ em

Trang 23

- Từ 3 đến 5 tuổi thì cân nặng của trẻ tăng chậm hơn các giai đoạn trước, trung bình mỗi năm tăng khoảng 1,3-1,8kg, trẻ trai tăng cân nhanh hơn trẻ gái [3], theo Tạ Thúy Lan và Trần Thị Loan(2008) có công thức tính gần đúng cân nặng của trẻ dưới 14 tuổi như sau:

X = 9kg + 1,5kg (n-1)

X: Cân nặng của trẻ tính bằng kg 9kg là cân nặng của trẻ lúc 1 tuổi 1,5kg là cân nặng tăng trung bình mỗi năm

n là số tuổi

- Công trình của Chu Văn Tường và Nguyễn Công Khanh (1972) ( theo [14]) đóng góp đáng kể vào cuốn Hàng số sinh học người Việt Nam (1975)

* Sự phát triển chỉ số chiều cao:

- Chiều cao nói lên chiều dài của toàn thân Do đó nó đủ dùng để đánh giá sức lớn của trẻ em Chiều cao là số đo rất trung thành của hiện tượng tăng trưởng, chiều cao phản ánh tốt cuộc sống quá khứ và là bằng chứng của sự dinh dưỡng

- Theo Lê Nam Trà [34], chiều cao của trẻ lúc mới sinh đủ tháng, con trai là 50,01 ± 1,61cm và trẻ gái là 49,79 ± 1,46cm Khi trẻ 12 tháng, chiều cao của trẻ trai là 73,78 ± 2,59 cm và của trẻ gái là 72,76 ± 2,92 cm Như vậy đến hết năm đầu tiên, chiều cao của trẻ tăng gấp 1,5 lần chiều cao lúc sinh

- Trên 1 tuổi, chiều cao của trẻ tăng chậm hơn Theo Hàn Nguyệt Kim Chi và cs [6] có thể tính gần đúng chiều cao của trẻ trên 1 tuổi theo công thức sau:

X (cm)= 75cm+ 5cm (n-1)

X là chiều cao của trẻ trên một tuổi 75cm là chiều cao của trẻ lúc 1 tuổi 5cm là chiều cao trung bình mỗi năm

n là số tuổi

Trang 24

* Sự phát triển chỉ số vòng đầu, vòng ngực:

+ Vòng đầu là một kích thước hay được dùng trong nhân trắc đặc biệt ở trẻ em Đo vòng đầu cho phép gián tiếp đánh giá khối lượng não Khi mới đẻ, đầu tương đối to so với kích thước cơ thể Vòng đầu của trẻ tăng nhanh trong năm đầu tiên, ở trẻ trai tăng thêm 12,24cm và ở trẻ gái 11,29cm Bắt đầu từ năm thứ hai trở đi vòng đầu tăng chậm, từ 6 đến 10 tuổi mức tăng trưởng trung bình của vòng đầu hàng năm của trẻ dưới 0,5cm Theo Hằng số sinh học người Việt Nam (1975), vòng đầu trung bình của trẻ em Việt Nam

+ Vòng ngực là kích thước cũng hay được dùng trong nhân trắc, vì nó tượng trưng cho sự phát triển về chiều ngang (rộng + dầy) của thân mình và cho phép đánh giá thể lực của một người Lúc mới đẻ bằng vòng ngực bằng hoặc nhỏ hơn vòng đầu khoảng 1cm Sau khi đẻ vòng ngực lớn nhanh hơn vòng đầu, lúc 6 tháng vòng ngực bằng vòng đầu, sau đó vòng ngực lớn vượt vòng đầu Từ 2 đến 6 tuổi vòng ngực lớn hơn vòng đầu 2cm

1.4 Đặc điểm về trí tuệ của trẻ em lứa tuổi mầm non

Trí tuệ là khả năng hoạt động trí óc đặc trưng của con người Theo tiếng Latinh, trí tuệ (Intellectus) có nghĩa là hiểu biết, thông tuệ (theo [32]) Theo từ điển tiếng Việt, trí tuệ là khả năng nhận thức lý tính đạt đến một trình

độ nhất định Tựu chung lại có ba khuynh hướng chính quan niệm về trí tuệ (theo [32])

Khuynh hướng thứ nhất coi trí tuệ là năng lực nhận thức, năng lực học tập của cá nhân B.G Ananhev cho rằng, trí tuệ là một đặc điểm tâm lý phức tạp của con người mà kết quả của công việc và học tập phụ thuộc vào nó Theo J Huarte, thì trí tuệ là tập hợp các khả năng lĩnh hội tri thức, phán xét, đánh giá và sáng tạo (theo [33]) Khuynh hướng thứ hai coi trí tuệ là năng lực

tư duy trừu tượng Terman cho rằng, chức năng của trí tuệ là sử dụng có hiệu

Trang 25

quả các khái niệm Menchins kaia lại coi đặc trưng của trí tuệ là sự tích luỹ các tri thức và các thao tác trí tuệ Khuynh hướng thứ ba coi trí tuệ là năng lực thích ứng Đại diện cho khuynh hướng này là R Stern Ông coi trí tuệ là năng lực thích ứng chung của con người với điều kiện và nhiệm vụ mới trong đời sống Theo ông, trí tuệ là năng lực suy luận và khả năng sáng tạo trên cơ sở kết hợp những kinh nghiệm khác nhau để giải quyết vấn đề mới

Ngoài ra, còn có nhiều thuật ngữ khác dùng để mô tả năng lực trí tuệ như: trí khôn, trí lực, trí thông minh, trí năng… nhưng chúng đều xuất phát từ chữ tiếng Anh là intelligence [18] Rõ ràng là không có một khái niệm nào chứa đựng hết bản chất của các hiện tượng phức tạp như trí tuệ

Theo J Piaget (theo [33]) thì sự phát sinh, phát triển của trí tuệ cá nhân chịu ảnh hưởng của bốn yếu tố Thứ nhất là sự tăng trưởng của cơ thể, đặc biệt là sự chín muồi của hệ thần kinh và nội tiết Thứ hai là vai trò của sự tập luyện và kinh nghiệm thu được thông qua hoạt động của đối tượng Thứ ba là

sự tương tác và chuyển giao xã hội Thứ tư là tính chủ thể và phối hợp chung các hành động cá nhân

Để đánh giá trí tuệ của con người, có nhiều phương pháp như: quan sát, điều tra, trắc nghiệm, tìm hiểu biến đổi điện - hoá trong hệ thần kinh và cơ thể [18], [33] Phương pháp phổ biến hiện nay là dựa vào trắc nghiệm tâm

lý Trong đó trắc nghiệm khả năng trí tuệ được dùng phổ biến hơn cả Mục đích của các trắc nghiệm trí tuệ là xác định chỉ số thông minh, mức trí tuệ

Năm 1912, W Stern đã đưa ra cách tính chỉ số thông minh (Intelligence Quotient) viết tắt là IQ, bằng thương số giữa tuổi trí tuệ (MA - Mental Age) và tuổi thực (CA - Chrorological Age) (theo [26])

100

MA IQ CA

Trong đó:

MA - tuổi trí khôn được tính theo kết quả bài trắc nghiệm; CA - tuổi thời gian tính theo ngày tháng năm sinh

Trang 26

D Wechsler (theo [33]) lại cho rằng, sự phát triển trí tuệ diễn ra trong suốt đời người một cách không đồng đều nên một đại lượng như cách tính của Stern.V không thể đánh giá được sự phát triển của trí tuệ Ông đưa ra khái niệm IQ bằng công thức sau:

Dựa trên chỉ số IQ, D.Wechsler phân thành 7 mức trí tuệ khác nhau [52]

Để tính được chỉ số IQ, người ta thường sử dụng các loại test khác nhau như test “trí tuệ đa dạng”, test “hình phức hợp Rey”,…(theo [26]) Một trong số đó là test Raven Test Raven được xây dựng trên cơ sở thuyết tri giác hình thể của Tâm lý học Gestal và thuyết tân phát sinh của Spearman Sau hai lần chuẩn hóa vào những năm 1954 và 1956, test Raven đã được UNESCO công nhận và chính thức đưa vào sử dụng để chẩn đoán trí tuệ con người từ những năm 1960 [46]

Trí tuệ của mỗi người đều là sự kết hợp hữu cơ của trí tuệ ngôn ngữ, tư duy vận động thân thể, tư duy logic toán học, trí tuệ không gian, trí tuệ âm nhạc, trí tuệ giao tiếp Trí tuệ của trẻ em lứa tuổi mầm non cũng không nằm ngoài quy luật đó [56]

Đặc điểm chủ yếu về tư duy của trẻ em từ 12 - 18 tháng tuổi là tư duy được thực hiện qua các thao tác Bằng cách tác động trực tiếp với đồ vật, trẻ dần tìm ra được các thuộc tính đơn giản của đồ vật Từ 2 - 3 tuổi, song song với sự phát triển về thể chất, sự tập trung của trẻ cũng phát triển nhanh Ba tuổi, trẻ đã có khả năng tổng hợp các tính chất của vật thể mà trẻ nắm được, đồng thời có thể sử dụng các vật thể đó để thực hiện các trò chơi theo trí tưởng tượng [56]

Trang 27

Từ 3 - 4 tuổi, trẻ đã có thể tìm ra đặc điểm, thuộc tính của đồ vật bằng những phép thử, phép so sánh trong óc Trẻ còn biết sử dụng các hệ thống kí hiệu khác nhau, như kí hiệu về đồ vật, hành động, kí hiệu về con người Trẻ cũng có thể xếp các đồ vật từ nhỏ nhất đến to nhất, ngắn nhất đến dài nhất…Năm tuổi, ở trẻ đã hình thành tư duy sơ đồ và tư duy logic Từ việc học thông qua quan sát và kinh nghiệm, trẻ đã có thể chuyển sang học bằng ngôn ngữ và logic Trẻ có khái niệm về thời gian và các ngày trong tuần, khái niệm

về con số, không gian, hình dáng, màu sắc Tuy nhiên, khả năng chú ý của trẻ

5 tuổi vẫn là chú ý ngắn hạn, trong khoảng 15 phút là nhiều nhất [56]

1.5 Tình trạng dinh dưỡng và phân loại tình trạng dinh dưỡng

1.5.1 Tình trạng dinh dưỡng

Từ lâu người ta đã biết có mối liên quan chặt chẽ giữa dinh dưỡng và tình trạng sức khoẻ Khi mới hình thành khoa học dinh dưỡng, để đánh giá tình trạng dinh dưỡng, người ta chỉ dựa vào các nhận xét đơn giản như gầy, béo; tiếp đó là một số chỉ tiêu nhân trắc như Brock, Quetelet, Pignet Nhờ phát hiện về vai trò các chất dinh dưỡng và các tiến bộ kỹ thuật, phương pháp đánh giá tình trạng dinh dưỡng ngày càng hoàn thiện và ngày nay trở thành một chuyên khoa của dinh dưỡng học [40]

Tình trạng dinh dưỡng của các cá thể là kết quả của ăn uống và sử dụng các chất dinh dưỡng của cơ thể Số lượng và chủng loại thực phẩm cần để đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng của con người khác nhau tùy theo tuổi, giới, tình trạng sinh lý (ví dụ: thời kỳ có thai, cho con bú ) và mức độ hoạt động thể lực và trí lực Cơ thể sử dụng các chất dinh dưỡng có trong thực phẩm không những phải trải qua quá trình tiêu hoá, hấp thu, phụ thuộc vào các yếu tố khác như sinh hoá và sinh lý trong quá trình chuyển hoá Việc sử dụng thực phẩm chủ yếu phụ thuộc vào tình trạng sức khoẻ của cá thể Ví dụ: tiêu chảy ảnh hưởng tức thì đến tiêu hoá hấp thu thức ăn Tình trạng dinh dưỡng tốt phản ảnh sự cân bằng giữa thức ăn ăn vào và tình trạng sức khỏe, khi cơ thể có tình

Trang 28

trạng dinh dưỡng không tốt, (thiếu hoặc thừa dinh dưỡng) là thể hiện có vấn

đề về sức khỏe hoặc dinh dưỡng hoặc cả hai

Tình trạng dinh dưỡng của một quần thể dân cư được thể hiện bằng tỷ

lệ của các cá thể bị tác động bởi các vấn đề dinh dưỡng Tình trạng dinh dưỡng của trẻ em từ 0 đến 5 tuổi thường được coi là đại diện cho tình hình dinh dưỡng và thực phẩm của toàn bộ cộng đồng Đôi khi người ta cũng lấy tình trạng dinh dưỡng của phụ nữ tuổi sinh đẻ làm đại diện Các tỷ lệ trên phản ánh tình trạng dinh dưỡng của toàn bộ quần thể dân cư ở cộng đồng đó,

ta có thể sử dụng để so sánh với số liệu quốc gia hoặc cộng đồng khác

1.5.2 Phân loại tình trang dinh dưỡng

1.5.2.1 Đánh giá tình trạng dinh dưỡng

Tình trạng dinh dưỡng của trẻ được đánh giá theo quần thể tham khảo WHO 2006 - 2007 với 3 chỉ tiêu chiều cao theo tuổi, cân nặng theo tuổi, BMI theo tuổi theo Z-Score

1.5.2.2 Phương pháp đánh giá tình trạng dinh dưỡng

Ngày nay người ta thấy tình trạng dinh dưỡng (TTDD) còn là kết quả tác động phức tạp giữa các yếu tố với nhau như yếu tố môi trường, kinh tế, văn hóa… Cho nên tính chất phổ biến, nghiêm trọng của tình trạng SDD có thể coi như một chỉ số hữu ích để đánh giá trình độ phát triển kinh tế - xã hội [52]

Trong đánh giá tình trạng dinh dưỡng của trẻ em hiên nay người ta thường kết hợp sử dụng các phương pháp: nhân trắc, khẩu phần, lâm sàng, xét nghiệm và các tỉ lệ bệnh tật, tử vong Trong đó, hai phương pháp thường được

sử dụng nhiều nhất là nhân trắc và điều tra khẩu phần mà các số đo nhân trắc

là các chỉ số đánh giá trực tiếp tình trạng dinh dưỡng [20]

Sử dụng các số đo nhân trắc trong đánh giá tình trạng dinh dưỡng là phương pháp làm phổ thông và được áp dụng rộng rãi Các số đo nhân trắc của cơ thể cung cấp sơ lược sự phát triển hay kích thước cơ thể đạt được,

Trang 29

hoặc là sự thay đổi của các kích thước này qua thời gian Chúng được dùng để

mô tả tình trạng dinh dưỡng của cá thể hay cộng đồng, phản ánh kết quả cuối cùng của việc cung cấp thực phẩm ăn vào, hấp thu, chuyển hóa các chất dinh dưỡng của cơ thể Khi đánh giá các chỉ số nhân trắc, từng số đo riêng lẻ về chiều cao hay cân nặng sẽ không nói lên được điều gì, chúng chỉ có ý nghĩa khi kết hợp với tuổi, giới hoặc kết hợp giữa các số đo của đứa trẻ với nhau và phải được so sánh với các giá trị của quần thể tham khảo, WHO đã khuyến cáo có 3 chỉ số nên dùng là cân nặng theo tuổi, chiều cao theo tuổi và cân nặng theo chiều cao [20]

- Cân nặng theo tuổi (CN/T) là chỉ số được dùng sớm và phổ biến nhất Khi sử dụng chỉ số này có thể gặp khó khăn khi thu thập số liệu nếu người được phỏng vấn không nhớ rõ ngày tháng năm sinh của trẻ [55]

- Chiều cao theo tuổi (CC/T) là chỉ số phản ánh tiền sử dinh dưỡng Tuy nhiên, chỉ số này không nhạy vì sự phát triển chiều cao diễn ra từ từ trong khi đó các yếu tố ảnh hưởng tới sự phát triển chiều cao xảy ra trước khi chiều cao thay đổi [12]

- BMI theo tuổi là chỉ số đánh giá tình trạng dinh dưỡng hiện tại Chỉ số này thấp phản ánh sự không tăng cân hay giảm cân nếu so sánh với trẻ có cùng chiều cao Chỉ số này có ưu điểm là không phụ thuộc vào tuổi hay dân tộc [55]

WHO đã khuyến cáo dùng quần thể tham khảo NCHS (National Center for Health Statistic) trong việc so sánh và đánh giá tình trạng dinh dưỡng ở các nước [61] Từ năm 2005, WHO khuyến cáo áp dụng chuẩn tăng trưởng mới để đánh giá tình trạng dinh dưỡng của trẻ

1.5.2.3 Phân loại tình trạng dinh dưỡng

 Phân loại theo Gomez (1956): Dựa vào cân nặng theo tuổi quy ra %

của cân nặng chuẩn và sử dụng quần thể tham khảo Havard Đây là phương pháp phân loại được dùng lớn nhất và hiện nay vẫn còn được dùng rộng rãi

Trang 30

Phân loại này đơn giản nhưng không phân biệt được TTDD mới hay suy dinh dưỡng đã lâu

% cân nặng mong đợi theo tuổi Phân độ dinh dưỡng Độ suy dinh dưỡng

Bình thường SDD độ I SDD độ II SDD độ III

 Phân loại theo Waterlow (1972): Dựa vào chiều cao theo tuổi so với

chuẩn và cân nặng so với chiều cao Phân loại có ưu điểm dễ thực hiện tại cộng đồng và cho biết suy dinh dưỡng cấp hay mạn tính

Các chỉ số Cân nặng theo chiều cao ( 80% hay – 2SD)

- Gầy còm (Wasting): biểu hiện tình trạng SDD cấp tính

- Còi cọc (Sturting): biểu hiện tình trạng SDD trong quá khứ

- Gầy mòn + còi cọc: biểu hiện tình trang SDD mạn tính

 Phân loại theo Welcome (1970): Dựa theo chỉ tiêu cân nặng/ tuổi +

phù Cách phân loại này có ưu điểm là phân loại được các thể của SDD nặng, phân biệt giữa thể Marasmus- Kwashiorkor

Cân nặng% so với chuẩn Phù

60- 80% Kwashiorkor SDD vừa và nặng

< 60% Marasmus - Kwashiorkor Marasmus

Trang 31

 Phân loại theo WHO (2006):

Từ năm 2006, WHO đã khuyến cáo áp dụng chuẩn tăng trưởng mới để đánh giá TTDD trẻ, các chỉ số đánh giá cũng dựa vào điểm ngưỡng dưới -2SD so với quần thể tham khảo [57], [58]

So sánh bảng CN/T, khi CN dưới CNTB - 2SD, trẻ SDD thể nhẹ cân

So sánh bảng CC/T, khi CC dưới CCTB - 2SD, trẻ SDD thể thấp còi

So sánh bảng BMI theo tuổi, khi CN dưới CNTB - 2SD, trẻ SDD thể gầy còm

Dựa vào Z- Score (điểm -Z), tính theo công thức:

Z – Score = Kích thước đo được - số trung bình quần thể tham chiếu

Độ lệch chuẩn của quần thể tham chiếu Bảng 1.1 Chỉ số cân nặng theo tuổi với Z-Sore

Chỉ số Z-Sore Đánh giá

<-3SD Trẻ suy dinh dưỡng thể nhẹ cân, mức độ nặng

<-2SD Trẻ suy dinh dưỡng thể nhẹ cân, mức độ vừa -2SD<=Z-Score<=2SD Trẻ bình thường

>2SD Trẻ thừa cân

>3SD Trẻ béo phì

Bảng 1.2 Chỉ số cao theo tuổi với Z-Sore Chỉ số Z-Sore Đánh giá

<-3SD Trẻ suy dinh dưỡng thể thấp còi, mức độ nặng

<-2SD Trẻ suy dinh dưỡng thể thấp còi, mức độ vừa -2SD<=Z-Score<=2SD Trẻ bình thường

>2SD

>3SD

Trang 32

Bảng 1.3 Chỉ số BMI theo tuổi với Z-Sore Chỉ số Z-Sore Đánh giá

<-3SD Trẻ suy dinh dưỡng thể gầy còm, mức độ nặng

<-2SD Trẻ suy dinh dưỡng thể gầy còm, mức độ vừa -2SD<=Z-Score<=2SD Trẻ bình thường

>2SD Trẻ thừa cân

>3SD Trẻ béo phì

Bảng 1.4 Phân loại mức độ SDD trẻ em dưới 5 tuổi tại cộng đồng theo WHO Mức độ Cân nặng/ tuổi (%) Chiều cao/ tuổi (%) Cân/ cao (%) Thấp < 10 < 20 < 5

Trung bình 10- 19,9 20- 29,9 5- 9,9

Cao 20- 29,9 30- 39,9 10- 14,9

1.5.3 Nguyên nhân suy dinh dưỡng

Thiếu dinh dưỡng là hậu quả của nhiều yếu tố tác động, có thể xảy ra do giảm cung cấp chất dinh dưỡng, tăng tiêu thụ dưỡng chất hoặc cả hai

Các yếu tố giảm cung cấp như: không cung cấp đủ lương thực thực phẩm, trẻ biếng ăn, ăn không đủ nhu cầu, chế biến không phù hợp, năng lượng thấp Các yếu tố tăng tiêu thụ như: trẻ bệnh, nhất là bệnh kéo dài, nhiễm ký sinh trùng đường ruột, thất thoát chất dinh dưỡng do bệnh lý… [6], [7]

Trong đó yếu tố quan trọng nhất là chế độ ăn nghèo về số lượng và chất lượng Năng lượng là yếu tố hạn chế nhất trong khẩu phần trẻ em, chất lượng

Trang 33

và số lượng protein thường rất thấp Các chế độ ăn nghèo này cũng thường thiếu cả sắt, vitaminA và các vitamin nhóm B

Thiếu dinh dưỡng nói chung và các thể nặng thường hay gặp ở trẻ em trước tuổi đi học vì nhu cầu dinh dưỡng tính theo đơn vị thể trọng ở lứa tuổi này cao, do tốc độ lớn nhanh, trẻ nhỏ thường không thể ăn hết suất theo nhu cầu vì thức ăn cơ bản cồng kềnh, có đậm độ năng lượng thấp, trẻ tăng tiếp xúc với môi trường nên dễ bị các bệnh nhiễm khuẩn [23]

1.6 Tình hình suy dinh dưỡng trẻ em trên thế giới và ở Việt Nam

1.6.1 Tình hình suy dinh dưỡng trẻ em trên thế giới

Ước tính trên toàn thế giới hiện nay [42] còn khoảng 150 triệu trẻ em trước tuổi học đường bị SDD Theo tài liệu của WHO cho thấy, hơn 1/3 trẻ

em dưới 5 tuổi ở các nước đang phát triển có chiều cao/tuổi thấp hơn -2SD và nhiều năm trở lại đây tỷ lệ SDD nói chung chưa giảm đáng kể, ở nhiều nơi gần như không thay đổi và thực tế con số trẻ bị SDD lại xu hướng tăng lên vì dân số tăng nhanh trong thời gian qua [42] Theo báo cáo về tình hình an ninh lương thực thế giới năm 2010, FAO đã nhận định rằng số ca SDD toàn cầu tuy có giảm sau 15 năm nhưng vẫn còn ở mức cao (biểu đồ 1.1) Do đó, tình trạng này sẽ khó có khả năng đạt được “mục tiêu phát triển thiên niên kỷ thứ nhất’’ - giảm một nửa tỷ lệ SDD tại các nước đang phát triển từ 20% vào năm 1990-1992 xuống còn 10% vào năm 2015 [42]

Trang 34

Biểu đồ 1.1 Số ca suy dinh dưỡng trên thế giới qua các năm (*)

(*) Nguồn: Viện Dinh dưỡng 2013

Trong khi 98% nạn đói trên thế giới tập trung ở các nước đang phát triển

và chiếm đến 16% dân số thế giới [42] thì tại từng khu vực cho thấy châu

Á Thái Bình Dương là nơi tập trung chủ yếu của tình trạng SDD (bảng 1.4),

đã tạo nên gánh nặng lớn về kinh tế khi cải thiện tình trạng SDD tại khu vực này cũng như cản trở việc đạt được mục tiêu thiên niên kỷ thứ nhất

Bảng 1.5 Thực trạng suy dinh dưỡng trẻ em theo khu vực trên thế giới

Năm Châu Á Thái

Bình Dương

Cận Sahara

Mỹ Latinh

và Caribe

Đông- Bắc Phi

Nước đã phát triển

Tổng (triệu)

Trang 35

Riêng khu vực đông Nam Á (2001), tình trạng SDD trẻ dưới 5 tuổi cụ thể là thể nhẹ cân chiếm 28,9%, thể thấp còi 33,0% và thể gầy còm là 10,4% Với 33,0% trẻ em dưới 5 tuổi bị SDD thể thấp còi (chỉ số chiều cao/tuổi thấp) phản ánh hậu quả của tình trạng thiếu ăn và sức khoẻ kém kéo dài [62]

Thống kê của WHO, gần 13 triệu trẻ sơ sinh hàng năm bị SDD bào thai (cân nặng sơ sinh < 2500g) Tỷ lệ SDD nhẹ cân ở các nước đang phát triển giảm từ 31% (năm 1990) xuống còn 26% (năm 2008) trên phạm vi toàn thế giới Trẻ em nông thôn có nguy cơ SDD nhẹ cân cao hơn trẻ thành phố, trẻ con nhà nghèo có nguy cơ SDD nhiều hơn con nhà giàu [42], [62]

SDD thấp còi có mức độ trầm trọng hơn SDD thể nhẹ cân Ở các nước đang phát triển, trẻ ở nông thôn có nguy cơ mắc SDD thấp còi cao gấp 1,5 lần so với trẻ ở thành phố Chiều hướng giảm SDD thấp còi ở trẻ em dưới 5 tuổi cũng tương tự như với SDD nhẹ cân SDD thấp còi của châu Phi

là cao nhất (38,7% năm 2007), tiếp đến là châu Á (30,6% năm 2007) và châu Mỹ La Tinh và vùng Caribê (14,8% năm 2007) Tỷ lệ SDD thấp còi ở các nước đang phát triển là 31,2 % (2007), toàn thế giới là 38,7% (1990), 29,7% (2005) và 28,5% (2007) [42] Dự đoán đến năm 2020, tỷ lệ SDD thấp còi trên toàn thế giới tiếp tục giảm Tỷ lệ thấp còi ở các nước đang phát triển

sẽ giảm xuống còn khoảng 16,3% năm 2020 (29,8% năm 2000) Ở châu Phi mức độ giảm ít hơn từ 34,9% (năm 2000) xuống còn 31,1% ( năm 2020) Ở châu Á, châu Mỹ La Tinh và Caribê, tỷ lệ SDD thấp còi sẽ tiếp tục giảm đều đặn [42], [62]

1.6.2 Tình hình suy dinh dưỡng trẻ em ở Việt Nam

WHO và UNICEF (Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc) đã đưa ra mục tiêu phấn đấu giảm tỷ lệ SDD trẻ em dưới 5 tuổi vào năm 2015 Mặc dù, Việt Nam đã được WHO và UNICEF đánh giá là quốc gia duy nhất có tốc độ giảm

Trang 36

SDD nhanh, song hiện vẫn nằm trong nhóm nước có tỷ lệ SDD cao và rất dao động theo vùng địa lý và tình trạng kinh tế xã hội [5]

Các chỉ tiêu TTDD trẻ em dưới 5 tuổi, trong đó đặc biệt chú ý là tỷ lệ SDD protein - năng lượng được coi là những chỉ tiêu quan trọng bậc nhất, phản ánh về mặt chất lượng cuộc sống xã hội Trong những năm qua, nền kinh tế nước ta có nhiều thay đổi lớn, đời sống người dân đang từng bước được cải thiện, các chương trình chăm sóc sức khỏe quan trọng như tiêm chủng mở rộng, phòng chống một số bệnh xã hội với các can thiệp dinh dưỡng đặc hiệu như phòng chống thiếu vitamin A, phòng chống thiếu dinh dưỡng… đã trực tiếp ảnh hưởng đến TTDD của trẻ em

Kết quả điều tra của VDD trong những năm đầu của thập kỷ 1980 cho thấy khoảng 51,5% trẻ em dưới 5 tuổi bị SDD nhẹ cân, gần 60% (59,7%) trẻ

bị SDD thể thấp còi, khoảng 50% bà mẹ mang thai bị thiếu máu, hàng năm có khoảng 5.000 - 7.000 trẻ bị mù do thiếu vitamin A… thì đến năm 2010 (kết quả điều tra dinh dưỡng năm 2010), còn có khoảng 1,3 triệu trẻ em dưới 5 tuổi bị SDD nhẹ cân và khoảng 2,1 triệu trẻ em bị SDD thấp còi [5]

Bảng 1.6 Tỷ lệ SDD trẻ em dưới 5 tuổi tại Việt Nam 1999 - 2011 (*) Năm Thể nhẹ cân

(Tỷ lệ %)

Thể thấp còi (Tỷ lệ %)

Thể gầy còm (Tỷ lệ %)

Trang 37

Phân bố SDD theo khu vực: Phân bố SDD ở nước ta không đồng đều giữa

các vùng sinh thái, nhiều địa phương miền núi tỷ lệ SDD cao hơn hẳn vùng đồng bằng Trong khu vực đồng bằng thì tỷ lệ SDD nông thôn cũng cao hơn

ở thành thị Tỷ lệ cao nhất ở vùng Tây Nguyên (24,7% với SDD nhẹ cân và 35,2% với SDD thấp còi) Ở vùng đông Nam Bộ tỷ lệ SDD thấp hơn so với các vùng khác (10,7% với SDD nhẹ cân và 19,2% với SDD thấp còi), thấp nhất trong các vùng sinh thái của cả nước Riêng tỷ lệ SDD thấp còi cao nhất ở vùng Tây Nguyên (35,2%), Trung du và miền núi phía Bắc (33,7%), thấp nhất ở vùng đồng bằng Sông Hồng (25,5%) và vùng đông Nam Bộ (19,2%) [55] SDD cũng có liên quan mật thiết với tình trạng kinh tế, xã hội của người dân Tỷ lệ SDD nhẹ cân của trẻ em ở vùng nông thôn (17,9%) cao hơn vùng thành thị (14,1%) và vùng nghèo (27%) cao hơn so với vùng bình thường (14%) Tương tự, tỷ lệ SDD thấp còi của trẻ em ở vùng nông thôn (28,9%) cao hơn vùng thành thị (19,1%) và vùng nghèo (35,7%) cao hơn so với vùng không nghèo (25,6%) [51]

Bảng 1.7 Tỷ lệ SDD trẻ em dưới 5 tuổi theo các mức độ năm 2012 (*)

Toàn quốc 100735 16,2 14,5 1,6 0,1 26,7 15,5 11,2 6,7 Ðồng bằng

Sông Hồng 18949 11,8 11,0 0,7 0,1 21,9 13,6 8,3 5,5 Trung du

và miền núi

phía Bắc 21467 20,9 18,7 2,0 0,2 31,9 20,4 11,5 7,4

Trang 38

Nam Bộ 10914 11,3 10,3 0,9 0,1 20,7 11,5 9,2 5,4

ĐB sông

Cửu Long 19962 14,8 13,1 1,6 0,1 26,0 15,6 10,4 6,8

(*) Nguồn: Số liệu giám sát dinh dưỡng năm 2012 của Viện Dinh dưỡng

1.7 Các nghiên cứu liên quan đến đề tài trên thế giới và ở Việt Nam

1.7.1 Các nghiên cứu trên thế giới

Xuất phát từ nhu cầu thực tế và lợi ích cuộc sống của con người, việc nghiên cứu các chỉ tiêu phát triển hình thái, sinh lý, trí tuệ của con người nói chung và trẻ em nói riêng đã được tiến hành từ rất sớm trên thế giới Cuốn sách đầu tiên viết về sự tăng trưởng chiều cao con người của Stocller được xuất bản tại Đức năm 1729 Tác giả đã nghiên cứu học sinh quý tộc trường Carxchile Sau đó là hàng loạt các công trình khác của Mondiere (1875), Beegon (1902), Thondihee (1903), Herman (1937), Freemon (1971), đã nghiên cứu sự phát triển hình thái và trí tuệ trẻ em ở các lứa tuổi và địa phương khác nhau

Năm 1948, Tổ chức Y tế thế giới vì sức khỏe cộng đồng ra đời đã nghiên cứu, đánh giá sự phát triển của trẻ em thông qua hai chỉ số chiều cao, cân nặng

và đã có nhiều đóng góp đáng kể trong việc chăm sóc sức khỏe trẻ em

Năm 1964, trong cuốn “Nhân trắc học”, F Vaneler Rael đã đưa ra những nhận xét toàn diện về các quy luật phát triển thể lực theo giới tính, lứa

Trang 39

tuổi, nghề nghiệp và xây dựng thang phân loại thể lực của con người theo các chỉ số đánh giá thể lực (theo [11])

Tại hội nghị lần thứ bảy toàn Liên Xô về vấn đề sinh thái, sinh lý và hình thái lứa tuổi, B.A Nhikitic và V.P Tresov đã công bố sơ đồ phát triển cá thể sau khi sinh của con người Sơ đồ cho biết khá chi tiết về sự tăng trưởng phát triển của con người ở mỗi giai đoạn và đã được áp dụng rộng rãi trong nhân trắc học, giáo dục học, nhi khoa (theo [6])

Kabanop (1972) nghiên cứu thấy rằng: Sự tăng thể lực và thể chất ở trẻ em ngoài sự quyết định bởi yếu tố di truyền thì nó còn liên quan chặt chẽ đến chế độ dinh dưỡng, sự luyện tập và chế độ chăm sóc của gia đình và xã hội [15]

Theo WHO 1995 [65] đã đưa ra các mức SDD nhẹ cân, thấp còi và gầy còm Ở SDD thể nhẹ cân, mức nhẹ ( <10%), trung bình (10-19%), cao (20-29%), quá cao ≥ 30% Ở thể SDD thấp còi, mức độ nhẹ (<20%), trung bình (20-29%), cao (30-39%), quá cao (≥ 40%) SDD thể gầy còm mức chấp nhận được là <5%, hơi cao 5-9%, nguy hiểm là 10-14%, trầm trọng ≥ 15%

Bloss E, Wainaina F, Bailey RC (2004) [45] khi nghiên cứu tỷ lệ SDD của trẻ mầm non tại miền Tây Kenya đã cho thấy, Tỷ lệ SDD thể nhẹ cân ở trẻ 3-5 tuổi là 26,46%, SDD thể thấp còi là 42,77% và SDD thể gầy còm là 7,00%

Theo thống kê của Uniceef năm 2007 [53]., gần 1/3 trẻ em trên thế giới đang bị thấp còi Tại Châu Á, tỷ lệ SDD của trẻ dưới 5 tuổi cao nhất ở Nam Á (46%), Đông Á (25%), hơn 5% trẻ em dưới năm tuổi thừa cân

Tại Trung Quốc, theo Jing Zhang MD and et al (2007) [49], tỉ lệ SDD thấp còi 19,9% (ở nam), 18,38% (ở nữ); SDD thể nhẹ cân chiếm 12,6% ở nam

và 11,8% ở nữ, SDD gầy còm 5,4% ở nam và 4,7% ở nữ

Theo nghiên cứu của Kaushik Bose (2007) [44] cho thấy, Tại một quận

ở Thành phố Bengal - Ấn Độ cho thấy chiều cao và trọng lượng trung bình cùng tuổi ở trẻ em nam lớn hơn nữ Tỷ lệ SDD thấp còi ở trẻ 3-5 tuổi là

Trang 40

23,9%, SDD thể nhẹ cân là 31,0%, SDD gầy còm là 9,4% Tỉ lệ SDD nhẹ cân

ở trẻ em gái cao hơn trẻ em nam Tại Ấn Độ, các vùng nông thôn, trẻ mầm non có tỷ lệ SDD nhẹ cân là 38,30%, SDD thấp còi là 38,20% và gầy còm là 10,60%

Lo JC, Maring B, Chandra M, Daniels SR, Sinaiko A, and et al (2013) [48] khi nghiên cứu tỷ lệ béo phì và cực kỳ béo phì ở 42.559 trẻ em từ 3-5 tuổi tại Tây Ban Nha đã cho thấy, tỷ lệ béo phì ở bé trai là 18,2%, bé gái là 15,2%

Nghiên cứu của Ghazi, Hasanain Faisal, Mustafa and et al (2013) [47] khi nghiên cứu tình trạng suy dinh dưỡng ở trẻ 3-5 tuổi ở TP Baghdad , Iraq cho thấy, tỉ lệ SDD ở trẻ ngoại thành cao hơn nội thành và các tác giả đã đưa

ra nhận định, các nguyên nhân dẫn đến SDD ở trẻ em là một quá trình đa yếu

tố và liên quan nhiều đến yếu tố phát triển kinh tế, xã hội

Theo Leilei Pei, Lin Ren and Hong Yan (2014) [50] Tỷ lệ SDD ở trẻ

em dưới 3 tuổi ở Miền Tây Trung Quốc năm 2013 là 19,27%, trẻ em từ 3-6 tuổi có tỷ lệ SDD là 20,84%

Xuất phát từ tầm quan trọng của trí tuệ trong thực tiễn, nhiều tác giả đã

đi sâu vào nghiên cứu về trí tuệ, trong đó có các nghiên cứu về cơ sở sinh lý thần kinh của hoạt động trí tuệ và các cách đo lường trí tuệ,…

F.J.Gall (TK XVIII) [ theo (26)], là người đầu tiên đưa ra quan điểm rằng có sự định khu chức năng trong não Ông đã đưa ra thuật ngữ “não tướng học” và cho rằng chức năng trí tuệ tập trung ở các vùng chuyên biệt của não nên có thể đánh giá trí tuệ con người qua đường nét và đo sọ não người Tuy nhiên ông dã mắc phải sai lầm là đồng nhất giữa cấu tạo với chức năng của não [24]

Đã có rất nhiều phương pháp nghiên cứu trí tuệ được đề xuất vào năm

1939 [15], phương pháp của D.Weschler- nhà tâm lí của Bệnh viện Tâm thần

Ngày đăng: 20/07/2015, 12:14

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.3. Chỉ số BMI theo tuổi với Z-Sore - Sự phát triển một số chỉ số hình thái, trí tuệ và tình trạng dinh dưỡng ở trẻ từ 3 5 tuổi tại thành phố vinh
Bảng 1.3. Chỉ số BMI theo tuổi với Z-Sore (Trang 32)
Bảng 1.5. Thực trạng suy dinh dưỡng trẻ em theo khu vực trên thế giới - Sự phát triển một số chỉ số hình thái, trí tuệ và tình trạng dinh dưỡng ở trẻ từ 3 5 tuổi tại thành phố vinh
Bảng 1.5. Thực trạng suy dinh dưỡng trẻ em theo khu vực trên thế giới (Trang 34)
Bảng 1.6. Tỷ lệ SDD trẻ em dưới 5 tuổi tại Việt Nam 1999 - 2011 (*) - Sự phát triển một số chỉ số hình thái, trí tuệ và tình trạng dinh dưỡng ở trẻ từ 3 5 tuổi tại thành phố vinh
Bảng 1.6. Tỷ lệ SDD trẻ em dưới 5 tuổi tại Việt Nam 1999 - 2011 (*) (Trang 36)
Bảng 2.1. Phân loại chỉ số IQ và mức trí tuệ - Sự phát triển một số chỉ số hình thái, trí tuệ và tình trạng dinh dưỡng ở trẻ từ 3 5 tuổi tại thành phố vinh
Bảng 2.1. Phân loại chỉ số IQ và mức trí tuệ (Trang 49)
Bảng 3.1. Phân bố đối tượng nghiên cứu - Sự phát triển một số chỉ số hình thái, trí tuệ và tình trạng dinh dưỡng ở trẻ từ 3 5 tuổi tại thành phố vinh
Bảng 3.1. Phân bố đối tượng nghiên cứu (Trang 51)
Bảng 3.5. Chiều cao đứng trẻ em nữ từ 3 - 5 tuổi - Sự phát triển một số chỉ số hình thái, trí tuệ và tình trạng dinh dưỡng ở trẻ từ 3 5 tuổi tại thành phố vinh
Bảng 3.5. Chiều cao đứng trẻ em nữ từ 3 - 5 tuổi (Trang 54)
Bảng 3.13. Cân nặng trẻ em nữ từ 3 - 5 tuổi ở nội thành và ngoại thành  Tuổi  Nội thành (1)  Ngoại thành (2)  X 1  -  X 2 P (1-2) - Sự phát triển một số chỉ số hình thái, trí tuệ và tình trạng dinh dưỡng ở trẻ từ 3 5 tuổi tại thành phố vinh
Bảng 3.13. Cân nặng trẻ em nữ từ 3 - 5 tuổi ở nội thành và ngoại thành Tuổi Nội thành (1) Ngoại thành (2) X 1 - X 2 P (1-2) (Trang 59)
Bảng 3.15. Vòng ngực trung bình của trẻ em nam từ 3 - 5 tuổi - Sự phát triển một số chỉ số hình thái, trí tuệ và tình trạng dinh dưỡng ở trẻ từ 3 5 tuổi tại thành phố vinh
Bảng 3.15. Vòng ngực trung bình của trẻ em nam từ 3 - 5 tuổi (Trang 60)
Bảng 3.17. Vòng đầu trung bình của trẻ em nam từ 3 - 5 tuổi - Sự phát triển một số chỉ số hình thái, trí tuệ và tình trạng dinh dưỡng ở trẻ từ 3 5 tuổi tại thành phố vinh
Bảng 3.17. Vòng đầu trung bình của trẻ em nam từ 3 - 5 tuổi (Trang 62)
Bảng 3.20. BMI của trẻ em từ 3 - 5 tuổi - Sự phát triển một số chỉ số hình thái, trí tuệ và tình trạng dinh dưỡng ở trẻ từ 3 5 tuổi tại thành phố vinh
Bảng 3.20. BMI của trẻ em từ 3 - 5 tuổi (Trang 65)
Bảng 3.22. Chỉ số IQ của trẻ em theo giới tính - Sự phát triển một số chỉ số hình thái, trí tuệ và tình trạng dinh dưỡng ở trẻ từ 3 5 tuổi tại thành phố vinh
Bảng 3.22. Chỉ số IQ của trẻ em theo giới tính (Trang 66)
Bảng 3.24. Tỉ lệ chiều cao theo tuổi của trẻ 3 - 5 tuổi - Sự phát triển một số chỉ số hình thái, trí tuệ và tình trạng dinh dưỡng ở trẻ từ 3 5 tuổi tại thành phố vinh
Bảng 3.24. Tỉ lệ chiều cao theo tuổi của trẻ 3 - 5 tuổi (Trang 71)
Bảng 3.25. Tỉ lệ cân nặng theo tuổi của trẻ 3 - 5 tuổi - Sự phát triển một số chỉ số hình thái, trí tuệ và tình trạng dinh dưỡng ở trẻ từ 3 5 tuổi tại thành phố vinh
Bảng 3.25. Tỉ lệ cân nặng theo tuổi của trẻ 3 - 5 tuổi (Trang 74)
Bảng 3.26. Tỉ lệ BMI theo tuổi của trẻ 3 - 5 tuổi - Sự phát triển một số chỉ số hình thái, trí tuệ và tình trạng dinh dưỡng ở trẻ từ 3 5 tuổi tại thành phố vinh
Bảng 3.26. Tỉ lệ BMI theo tuổi của trẻ 3 - 5 tuổi (Trang 77)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w