1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Sử dụng câu hỏi, bài tập để rèn luyện cho học sinh kỹ năng tự học chương cơ chế di truyền và biến dị, sinh học 12

72 500 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 72
Dung lượng 1,18 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠOTRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH ---NGUYỄN VĂN HÒA SỬ DỤNG CÂU HỎI, BÀI TẬP ĐỂ RÈN LUYỆN CHO HỌC SINH KỸ NĂNG TỰ HỌC CHƯƠNG CƠ CHẾ DI TRUYỀN VÀ BIẾN DỊ, SINH HỌC 12 Chuyên ngà

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

-NGUYỄN VĂN HÒA

SỬ DỤNG CÂU HỎI, BÀI TẬP

ĐỂ RÈN LUYỆN CHO HỌC SINH KỸ NĂNG TỰ HỌC CHƯƠNG CƠ CHẾ DI TRUYỀN VÀ BIẾN DỊ, SINH HỌC 12

Chuyên ngành: Lý luận và phương pháp dạy học bộ môn Sinh học

Mã số: 60.14.01.11

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

PGS.TS PHAN ĐỨC DUY

Nghệ An - 2014

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêngtôi Các số liệu, kết quả nghiên cứu nêu trong luận văn làkhách quan, trung thực và chưa từng được công bố trong bất

kì một công trình nào khác

Tác giả

Nguyễn Văn Hòa

Trang 3

LỜI CẢM ƠN



Hoàn thành đề tài này, chúng tôi bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến người hướngdẫn khoa học PGS.TS Phan Đức Duy, người đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ chúngtôi trong suốt quá trình nghiên cứu

Xin chân thành cảm ơn quý thầy giáo, cô giáo trong khoa Sinh Trường Đạihọc Vinh đã nhiệt tình giảng dạy và có những ý kiến đóng góp quý báu cho đề tài

Đồng thời, chúng tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám Hiệu, Khoa Sau Đạihọc của Trường Đại học Vinh đã tạo điều kiện cho chúng tôi học tập và nghiên cứu

Cảm ơn Ban Giám Hiệu, các thầy cô trong Tổ Sinh và học sinh TrườngTHPT Nguyễn Đổng Chi, Trường THPT Nghi Xuân đã tạo điều kiện và hợp táccùng với chúng tôi trong quá trình nghiên cứu, thực hiện đề tài

Xin cảm ơn các đồng nghiệp, bạn bè và những người thân đã nhiệt tình độngviên, giúp đỡ chúng tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài

Vinh, tháng 10 năm 2014

Tác giả

Nguyễn Văn Hòa

Trang 4

MỤC LỤC

MỤC LỤC 1

BẢNG CHỮ VIẾT TẮT 2

DANH MỤC CÁC BẢNG 3

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ 4

1 Lý do chọn đề tài 5

3 Đối tượng nghiên cứu 6

4 Giả thuyết khoa học 7

5 Nhiệm vụ nghiên cứu 7

6 Phương pháp nghiên cứu 7

7 Phạm vi nghiên cứu 8

8 Những đóng góp mới của luận văn 8

9 Cấu trúc của luận văn 8

10 Lược sử vấn đề nghiên cứu 9

NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 12

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 12

1.1 Cơ sở lý luận của đề tài 12

1.1.1 Kỹ năng tự học của HS 12

1.1.3 Sử dụng CH, BT để rèn luyện cho HS kỹ năng tự học 23

1.3 Kết luận chương 1 29

2.1.1 Mục tiêu 30

2.1.2 Một số đặc điểm về nội dung kiến thức chương Cơ chế di truyền và biến dị 31

Chương 1: Cơ chế di truyền và biến dị 31

2.4 Kết luận chương 2 57

3.1 Mục đích thực nghiệm sư phạm 58

3.2 Nhiệm vụ của thực nghiệm sư phạm 58

3.3 Đối tượng và nội dung của thực nghiệm sư phạm 58

3.3.1 Đối tượng 58

3.3.2 Nội dung 58

3.4 Bố trí thực nghiệm sư phạm 58

3.5 Xử lý kết quả thực nghiệm sư phạm 59

3.6 Kết quả thực nghiệm sư phạm và đánh giá 59

3.6.1 Phân tích định lượng 59

3.6.2 Phân tích định tính 63

3.7 Kết luận chương 3 64

KẾT LUẬN 65

1 Kết luận 65

2 Kiến nghị 66

TÀI LIỆU THAM KHẢO 67

Trang 5

và tình hình sử dụng CH, BT trong dạy học sinh học của GV THPT 25

Trang 6

Bảng 1.2 Kết quả điều tra về phương pháp tự học môn Sinh học của HS THPT 28

Bảng 2.1 Hệ thống các đặc điểm của cơ sở vật chất và cơ chế di truyền ở cấp độ phân tử 52

Bảng 2.2 Tiêu chí đánh giá việc rèn luyện KN tự học cho HS thông qua CH, BT 56

Bảng 2.3 Đánh giá việc rèn luyện KN tự học cho HS thông qua CH, BT 56

Bảng 3.1 Bảng thống kê các bài TN 58

Bảng 3.2 Bảng tổng hợp kết quả các lần tổ chức rèn luyện KN tự học 59

Bảng 3.3 Bảng điểm xác định mức độ đạt được của các tiêu chí TN 60

Bảng 3.4 Bảng tổng hợp mức độ đạt được trong từng tiêu chí về việc rèn luyện KN tự học của HS 61

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ Trang Hình 1.1 Sơ đồ các hình thức tự học 18

Hình 2.1 Cấu trúc siêu hiển vi của NST 41

Hình 2.2 Sơ đồ cấu trúc siêu hiển vi của NST 42

Hình 2.3 Sơ đồ đột biến số lượng NST 48

Hình 2.4 Sơ đồ đột biến gen 49

Trang 7

Hình 3.1 Biểu đồ biểu diễn các mức độ đạt được về KN tự học của HS qua các lần

tổ chức rèn luyện 60

Hình 3.2 Biểu đồ biểu diễn các mức độ đạt được của tiêu chí 1 qua 3 lần TN 61

Hình 3.3 Biểu đồ biểu diễn các mức độ đạt được của tiêu chí 2 qua 3 lần TN 62

Hình 3.4 Biểu đồ biểu diễn các mức độ đạt được của tiêu chí 3 qua 3 lần TN 62

Hình 3.5 Biểu đồ biểu diễn các mức độ đạt được của tiêu chí 4 qua 3 TN 62

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong những năm gần đây, vấn đề đổi mới phương pháp dạy học (PPDH) ở nước ta đã được Đảng, Nhà nước cũng như các cấp quản lý giáo dục rất quan tâm Chiến lược phát triển Giáo dục 2001 – 2010 đã đề ra phương hướng: Cùng hòa nhịp vào xu hướng đổi mới PPDH đang diễn ra sôi nổi khắp nơi trên thế giới, việc đổi mới PPDH ở nước ta cần được xúc tiến mạnh mẽ hơn nữa trên cơ sở những

Trang 8

quan điểm đầy đủ và thống nhất về đổi mới phương pháp (PP) dạy và học cũng nhưnhững giải pháp phù hợp, khả thi

Theo Luật giáo dục nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam năm 2005

đã sửa đổi năm 2009 qui định:

“Phương pháp giáo dục phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tư

duy sáng tạo của người học; bồi dưỡng cho người học năng lực tự học, khả năng thực hành, lòng say mê học tập và ý chí vươn lên.” (Điều 5, Chương I)

“Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ

động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm; rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh.” (Điều 28, Chương II)

Những qui định trên đã phản ánh được nhu cầu đổi mới phương pháp giáodục (PPGD) để giải quyết mâu thuẫn yêu cầu đào tạo con người trong giai đoạn mớinăng động, sáng tạo với hiện trạng dạy học như hiện nay Mâu thuẫn này đã làmnảy sinh và thúc đẩy một cuộc vận động đổi mới PPDH theo hướng tổ chức cho

người học học tập trong hoạt động và hoạt động tự giác, sáng tạo Định hướng này

có thể gọi là tích cực hóa hoạt động người học

Để đạt được mục tiêu đề ra, đổi mới giáo dục cần phải thực hiện đồng bộ ở

ba khâu: mục tiêu, nội dung và PP Bên cạnh mục tiêu, nội dung chương trình đã,đang được đổi mới và ngày càng hoàn thiện thì yêu cầu đổi mới PP và hình thức tổchức dạy học là điều quan trọng Một trong những thành công của việc đổi mớiPPDH là phải sử dụng hệ thống câu hỏi bài tập phù hợp và rèn luyện cho học sinh(HS) những kỹ năng (KN) cần thiết

CH, BT là công cụ được giáo viên sử dụng một cách thường xuyên trong quátrình dạy học Tuy nhiên để rèn luyện kỹ năng tự chiếm lĩnh tri thức và tăng hoạtđộng cho học sinh thì các dạng CH, BT phải được thiết kế sao cho nó trở thành

“một chương trình hành động” trong một thời lượng xác định, nhằm định hướngquá trình tự lực của HS theo ý đồ của GV Các dạng CH, BT nhằm mục đích pháttriển tư duy, phát huy khả năng tích cực, chủ động trong học tập của HS Do vậy,chúng không phải là yêu cầu liệt kê nội dung trình bày trong SGK và phải là những

Trang 9

CH, BT có yêu cầu phân tích, giải thích, chứng minh hay khái quát hoá, tổng hợphoá nội dung SGK Khi thực hiện các CH, BT này là HS đã thể hiện được cácKNTH cơ bản của người học

Dù áp dụng bất kì PPDH nào thì dạy học đều hướng tới việc tổ chức cho học

HS chủ động đi tìm hiểu và vận dụng được kiến thức Vậy tự học có vai trò vô cùngquan trọng trong quá trình học tập ở HS Không có một PP dạy nào tốt hơn là rènluyện cho HS KN tự học, tự tìm tòi kiến thức Tự học phát huy tính tự giác, tích cựcchiếm lĩnh tri thức của HS, tự học là điều kiện cần để thực hiện nhiệm vụ giáo dục ởcác trường trung học phổ thông (THPT)

Ở chương trình Sinh học 12, chương Cơ chế di truyền và biến dị chủ yếu làkiến thức về quá trình, cơ chế nên có tính khái quát cao và có mối liên hệ với nhau.Đây là mảng kiến thức tương đối khó và nội dung trong từng bài dài, điều này đãgây không ít khó khăn cho giáo viên trong việc thiết kế giáo án để rèn luyện nănglực tự học cho các em Do đó việc xây dựng và sử dụng một cách có hiệu quả hệthống câu hỏi và bài tập là yếu tố quan trọng góp phần nâng cao chất lượng dạy học

Xuất phát từ thực tiễn trên chúng tôi chọn đề tài “Sử dụng câu hỏi, bài tập

để rèn luyện cho học sinh kỹ năng tự học chương Cơ chế di truyền và biến dị, Sinh học 12”

2 Mục đích nghiên cứu

Thiết kế và sử dụng CH, BT nhằm rèn luyện cho HS KN tự học chương Cơchế di truyền và biến dị, Sinh học 12, góp phần nâng cao chất lượng học tập mônSinh học

3 Đối tượng nghiên cứu

Hệ thống câu hỏi và bài tập để rèn luyện cho học sinh KN tự học chương Cơchế di truyền và biến dị, Sinh học 12

4 Giả thuyết khoa học

Nếu xây dựng và sử dụng hợp lí câu hỏi bài tập để hướng dẫn học sinh tự họcqua dạy chương Cơ chế di truyền và biến dị, Sinh học 12, sẽ chẳng những giúp họcsinh tự chiếm lĩnh được kiến thức mà còn hình thành được phương pháp tự học

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

5.1 Nghiên cứu cơ sở lí luận của việc rèn kỹ năng tự học cho học sinh

5.2 Nghiên cứu cơ sở lí luận của việc xây dựng và sử dụng câu hỏi và bài tập

Trang 10

5.3 Xây dựng hệ thống câu hỏi và bài tập rèn kỹ năng cho học sinh chương Cơ chế ditruyền và biến dị.

5.4 Thực nghiệm sư phạm nhằm kiểm tra hiệu quả của các biện pháp sử dụng câuhỏi và bài tập đã đề xuất

6 Phương pháp nghiên cứu

6.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết

- Nghiên cứu các tài liệu lí luận về xây dựng và sử dụng câu hỏi và bài tập

theo hướng phát huy khả năng tự học của học sinh

- Nghiên cứu cấu trúc và nội dung chương trình Sinh học 12, đặc biệt là

chương “Cơ chế di truyền và biến dị”, kết hợp nghiên cứu các tài liệu chuyên mônkhác về cơ chế di truyền và biến dị để xác định biện pháp sử dụng câu hỏi và bài tập

có hiệu quả

6.2 Phương pháp chuyên gia

Gặp gỡ trao đổi với những người giỏi về lĩnh vực mình nghiên cứu để xin ýkiến đóng góp quý báu cho đề tài nghiên cứu như: Trao đổi về các KN tự học cầnphải rèn luyện trong quá trình dạy học nói chung và Sinh học nói riêng; Cách thiết

kế các CH, BT hỗ trợ việc rèn luyện KN tự học; Đề xuất các tiêu chí để đánh giá kếtquả rèn luyện KN tự học

6.3 Phương pháp điều tra

Sử dụng phiếu thăm dò ý kiến, trao đổi với GV, dự giờ ở trường THPT nhằmtìm hiểu thực trạng về việc rèn luyện KN tự học trong dạy học chương Cơ chế ditruyền và biến dị

Điều tra ý thức tự học và chất lượng học tập của HS thông qua phiếu thăm dò

ý kiến, tham khảo số điểm môn học làm cơ sở thực tiễn cho đề tài

6.4 Phương pháp thực nghiệm sư phạm

- Xây dựng các tiêu chí đánh giá việc rèn luyện KN tự học

- Đánh giá kết quả của TNSP dựa trên các tiêu chí đã xây dựng

6.5 Phương pháp thống kê toán học để xử lí kết quả nghiên cứu

- Thu thập và thống kê số liệu từ kết quả của tất cả các lần tổ chức TN

- Tính tỉ lệ phần trăm số liệu thu được theo từng tiêu chí

Số HS đạt được ở các mức độ TN

Trang 11

Do thời gian có hạn nên đề tài chỉ tập trung nghiên cứu việc sử dụng CH, BT

để rèn luyện một số KN tự học chương Cơ chế di truyền và biến dị ở trên lớp học

8 Những đóng góp mới của luận văn

- Hệ thống CH, BT để rèn luyện kỹ năng tự học ở trên lớp cho học sinhchương Cơ chế di truyền và biến dị

- Xây dựng các tiêu chí để đánh giá KN tự học trên lớp của HS

9 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, phần nội dung của bản luận văn được chiathành 3 chương:

Chương 1 Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài

Chương 2 Sử dụng CH, BT để rèn luyện cho học sinh kỹ năng tự học chương Cơchế di truyền và biến dị

Chương 3 Thực nghiệm sư phạm

10 Lược sử vấn đề nghiên cứu

Phát huy tính tích cực, tự giác, sáng tạo của HS là một trong những nhiệm vụhàng đầu của người GV trong quá trình dạy học Hiện nay, dạy học ngoài việc chú ýđến nội dung bài học thì việc luyện KN cho HS là việc làm không thể thiếu Trong đó,

KN tự học luôn được sự quan tâm, thu hút và chú ý của các nhà giáo dục trong và ngoàinước dưới nhiều góc độ khác nhau

10.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới

Tổng số HS được TN

Tỉ lệ phần trăm số HS TN =

Trang 12

Vào thời cổ đại, nhiều nhà giáo dục lỗi lạc như Xôcơrat, Khổng Tử đã đềcặp đến tầm quan trọng của việc phát huy tính tích cực, nhận thức của người học.

Từ thế kỷ XVII đến thế kỷ XIX nhiều nhà giáo dục lớn như A Đixtecvec,J.A Conmesky, Jacques Rousseau đều cho rằng: Muốn phát triển trí tuệ bắt buộcngười học phải phát huy tính tích cực, độc lập, sáng tạo để tự mình giành lấy trithức Muốn vậy phải tăng cường khuyến khích người học tự khám phá, tự tìm tòi

và suy nghĩ trong quá trình học tập [15]

PPDH lấy người học làm trung tâm bắt đầu phát triển từ những năm 20 vàphát triển mạnh mẽ từ những năm 70 của thế kỉ XX

Vào những năm 1920, ở Anh “PPDH tích cực” bắt đầu được quan tâm nghiên cứu và sử dụng trong trường học Ở Pháp các “nhà trường mới” được hình

thành với mục tiêu dạy học phát triển năng lực ở trẻ em và học tập tự quản Tương

tự, đổi mới PPDH cũng diễn ra ở Ba Lan, Đức, Liên Xô (cũ), Pháp, Tiệp Khắc…Như vậy, PPDH thời kỳ này đã chú ý tới vai trò tích cực của HS và GV có vai trò

cố vấn trong hoạt động tích lũy tri thức, phát triển năng lực tư duy của HS [22],[26]

Vào những năm 1970, Mỹ đã vận dụng PP học tập theo nhóm kết hợp vớiviệc cung cấp các phiếu hướng dẫn để HS tiến hành hoạt động học tập tự lực, theonhịp độ phù hợp với năng lực [34]

Ở Hàn quốc từ thập niên 90 đến nay, giáo dục hướng vào xã hội công nghiệpluôn tập trung vào phát triển năng lực tư duy, năng lực giải quyết vấn đề và tínhsáng tạo Chính vì vậy, Hàn Quốc có quyền tự hào là một trong những quốc gia cónền giáo dục phát triển mạnh trên thế giới về cả chất lượng lẫn số lượng [18]

Ở Nhật, Thái Lan cũng đang tiến hành cải cách giáo dục với mục tiêu làgiảm giờ lên lớp, sách giáo khoa (SGK) viết theo lối chú trọng vào giải quyết vấn

đề, chú trọng thực hành, giảm thời lượng dành cho các môn chính, các trường tựchọn nội dung và PP dạy cho “môn học tổng hợp” nhằm giảm bớt căng thẳng, tạokhông khí học tập nghiên cứu tự nguyện, thoải mái không gò bó cho HS [34],[6]

Ở thế kỷ XXI này, Unesco nghiên cứu và chỉ rõ “Để đáp ứng thành côngnhiệm vụ của mình, giáo dục phải được tổ chức xoay quanh bốn loại hình họctập cơ bản, mà trong suốt cuộc đời của mỗi con người, chúng sẽ là những trụ cột

Trang 13

về kiến thức: Học để biết, học để làm, học để cùng chung sống, học để làm người”[8].

Như vậy, đổi mới PPDH theo hướng tích cực hóa người học, tổ chức cáchoạt động học tập tự lực, chủ động đã trở thành xu hướng của nhiều quốc gia trênthế giới và trong khu vực Với những hình thức dạy học mới, PPDH theo hướng tíchcực hóa người học, nhằm phát huy năng lực sáng tạo, rèn luyện năng lực tư duy của

HS sẽ đào tạo được những con người vừa có KN, vừa có trình độ chuyên môn caođáp ứng nhu cầu nhân lực cho sự phát triển của mỗi quốc gia

10.2 Tình hình nghiên cứu ở trong nước

Ở Việt Nam, vào những năm 70 của thế kỷ XX, vấn đề phát huy tính tích cựchọc tập của HS bắt đầu được quan tâm Có rất nhiều công trình nghiên cứu nhằmđổi mới PPDH, phát huy trí tuệ của người học như: Đinh Quang Báo, Trần BáHoành, Nguyễn Sỹ Ty, Lê Nhân, Nguyễn Ngọc Quang, Lê Đình Trung, Vũ ĐứcLưu, Nguyễn Đức Thành,

Bồi dưỡng KN tự học bằng việc sử dụng: câu hỏi, bài tập, bài tập tìnhhuống, bài toán nhận thức, câu hỏi trắc nghiệm, PHT… đang được nhiều nhà giáoquan tâm

Lê Thanh Oai đã tiến hành nghiên cứu về nguyên tắc, quy trình thiết kế và sửdụng CH, BT giúp GV có những định hướng về phương pháp và kĩ năng thiết kế

CH, BT như một phương pháp để tổ chức, hướng dẫn HS tự lực phát hiện kiến thứcmới nhằm nâng cao chất lượng dạy học

Giáo trình “Kỹ năng học của sinh viên Đại học đào tạo theo hình thức từ xa”

do Lê Nam Hải biên soạn đã đi vào nghiên cứu những vấn đề sau: khái niệm kỹnăng và tự học; phân loại các hình thức tự học

Gần đây có nhiều tác giả đã nghiên cứu về tổ chức rèn luyện KN tự học cho HSbằng nhiều cách khác nhau như:

Trần Bá Hoành, Phan Đức Duy đã nghiên cứu về khái niệm PHT, vai trò củaPHT, các dạng PHT, thiết kế PHT và cách sử dụng PHT trong dạy học để phát huytính tích cực tự học của HS [1],[10]

Trần Kim Tú trong công trình nghiên cứu của mình tác giả đã xây dựng cơ

sở lí luận của việc sử dụng câu hỏi, bài tập để tổ chức HS học tập tự lực trong

Trang 14

chương biến dị, Sinh học 12 Các khái niệm tự học, các bước dạy HS học tập tự lực,bài tập tự lực của HS đã được làm rõ [35].

Nguyễn Phú Đồng cũng đã nghiên cứu và đề xuất được các biện pháp, tiếntrình dạy học theo hướng tăng cường sử dụng bài tập như là một PT để bồi dưỡngnăng lực tự học cho HS trong giảng dạy Vật lý [14]

Để bồi dưỡng năng lực tự học cho HS trong dạy chương tính qui luật củahiện tượng di truyền, Mai Xuân Hội cũng đã đề cập đến khái niệm tự học, các KN

tự học, sử dụng các PT khác nhau như câu hỏi – bài tập, PHT để rèn luyện và nângcao năng lực tự học cho HS [24]

Có thể nói, càng về sau các nhà nghiên cứu quan tâm nhiều hơn đến vấn đềrèn luyện KN tự học cho HS bằng nhiều cách khác nhau trong quá trình dạy học.Nhưng hầu như các tác giả chưa đi sâu vào vấn đề sử dụng CH, BT để rèn luyệncho HS các KN tự học chương Cơ chế di truyền và biến dị, Sinh học 12 ở bậcTHPT Vì vậy, đây là vấn đề khá mới cần đi sâu và nghiên cứu

NỘI DUNG NGHIÊN CỨU Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

1.1 Cơ sở lý luận của đề tài

1.1.1 Kỹ năng tự học của HS

1.1.1.1 Kỹ năng

Hiện nay có nhiều tác giả đề cập đến khái niệm KN:

Theo Trần Bá Hoành : KN là khả năng vận dụng những tri thức thu nhậnđược trong một lĩnh vực nào đó vào thực tiễn KN đạt tới mức hết sức thành thạo,khéo léo trở thành kỹ xảo [21]

Trang 15

Theo Xavier: KN mà tích với nội dung bằng mục tiêu (Kỹ năng Nội dung

= Mục tiêu) hay nói cách khác KN chỉ biểu hiện thông qua một mục tiêu.

Ví dụ: Lập bảng so sánh diễn thế nguyên sinh và diễn thế thứ sinh, trong đólập bảng là KN và so sánh diễn thế nguyên sinh và diễn thế thứ sinh là nội dung

Theo Nguyễn Đình Chỉnh, KN là một thao tác đơn giản hoặc phức tạp mangtính nhận thức hoặc mang tính hoạt động chân tay, nhằm thu được một kết quả [4]

Việc phân chia này chỉ mang tính chất tương đối vì một số KN vừa là KNnhận thức và là KN hoạt động chân tay

Như vậy KN có thể được hiểu là khả năng thu nhận, lĩnh hội kiến thức thông qua hoạt động và muốn có KN cần phải được rèn luyện dựa trên nội dung kiến thức nào đó Để thật sự có được một KN nào đó cần phải được tiến hành một cách thường xuyên và lâu dài

1.1.1.2 KN học tập

Học tập là loại hình hoạt động cơ bản, một loại hoạt động phức tạp của conngười Muốn học tập có kết quả, con người cần phải có một hệ thống KN chuyênbiệt gọi là KN học tập Theo quan điểm tâm lý học, KN học tập là khả năng của conngười thực hiện có kết quả các hành động học tập phù hợp hoàn cảnh nhất định,nhằm đạt được mục đích, nhiệm vụ đề ra [20] Từ đó ta có thể phân loại KN học tậpnhư sau:

* Các KN học tập phục vụ chức năng nhận thức liên quan đến việc thu thập,

xử lý thông tin và sử dụng thông tin bao gồm: KN làm việc với SGK, KN quan sát,

KN tiến hành thí nghiệm, KN phân tích – tổng hợp, KN so sánh, KN khái quát hoá,

KN suy luận, KN áp dụng kiến thức đã học

* Các KN học tập phục vụ chức năng tổ chức, tự điều chỉnh quá trình học

tập liên quan đến việc quản lý PT học tập, thời gian, sự hỗ trợ từ bên ngoài và chất lượng: KN tự kiểm tra, tự đánh giá, KN tự điều chỉnh.

* Các KN phục vụ chức năng tương tác trong học tập hợp tác: KN học

Trang 16

nghề, cần phải tìm ra PPDH mà thông qua việc dạy kiến thức HS có KN học tập cho bản thân mình [4].

Trong hệ thống KN trên, chúng tôi quan tâm đến việc thiết sử dụng CH, BT

để rèn luyện KN tự học cho HS nhằm phục vụ chức năng nhận thức liên quan đếnthu thập, xử lý, sử dụng thông tin và các KN phục vụ việc rèn luyện KN tự họctrong dạy học Sinh học

1.1.1.3 Khái niệm tự học

Ngày nay với sự bùng nổ của tri thức mới, sáng tạo của khoa học công nghệ,

kỹ thuật, sự mở rộng của các ngành nghề…thì cốt lõi của PPDH mới là tổ chức cáchoạt động học tập cho HS Người GV không chỉ đơn thuần truyền đạt kiến thức màcần phải tổ chức, cố vấn cho các hoạt động học tập để HS tự lực chiếm lĩnh kiếnthức, chủ động đạt được các mục tiêu đã đề ra Theo đó, HS phải có đủ năng lực tựhọc để thích ứng với đòi hỏi đặt ra của xã hội [29]

Việc đưa ra khái niệm tự học đã được nhiều tác giả đề cập đến:

Chủ tịch Hồ Chí Minh lúc sinh thời rất quan tâm đến vấn đề tự học – tự đàotạo Người đã chỉ ra rằng: “Tự học là sự nỗ lực của chính bản thân người học, sựlàm việc của bản thân người học một cách có kế hoạch trên tinh thần tự động họctập, lại còn cần phải có môi trường (tập thể để thảo luận) và quản lý chỉ đạo giúpvào” [3] Trong cuốn “Sửa đổi lối làm việc” Bác đã nhấn mạnh: “ Cách học tập,phải lấy tự học làm cốt, phải biết tự động học tập” [5]

Bộ trưởng bộ Giáo dục và Đào tạo Nguyễn Minh Hiển cho rằng: “Tự học làmột khâu rất quan trọng trong quá trình giáo dục, góp phần hình thành và nâng caonăng lực, phẩm chất cho HS, sinh viên đặc biệt là trong điều kiện hiện nay Đây làvấn đề không chỉ liên quan đến người học mà cả người dạy Việc khơi dậy, hướngdẫn, đẩy mạnh, phát huy nội lực trong việc dạy và học là việc quán triệt chủ trương

xã hội hoá giáo dục mà Đảng và nhà nước ta rất quan tâm” [7] Việc tự học khôngphải là nhiệm vụ riêng biệt của mỗi HS mà nó phải được gắn kết chặt chẽ với ngườidạy, không loại bỏ vai trò của người dạy, người dạy phải có nhiệm vụ rèn luyện cho

HS KN tự học, tự làm việc một cách khoa học nhất

Theo N.Arubakin: “Tự học có nghĩa là tự tìm lấy kiến thức, là quá trình lĩnhhội kiến thức, kinh nghiệm xã hội, lịch sử trong hoạt động thực tiễn, hoạt động cá

Trang 17

nhân… biến tri thức của loài người thành vốn tri thức, kinh nghiệm, KN của chủthể” [32].

Theo từ điển giáo dục học "Tự học là quá trình tự mình lĩnh hội tri thức khoahọc và rèn luyện KN thực hành không có sự hướng dẫn của GV và sự quản lí trựctiếp của cơ sở đào tạo" [17]

Theo Nguyễn Cảnh Toàn: Tự học được hiểu theo đúng bản chất là tự mìnhđộng não, suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ và có khi sử dụng cả cơ bắp, tìnhcảm … để chiếm lĩnh tri thức của nhân loại về cho bản thân [34] Như vậy, để tựhọc có hiệu quả, người học phải biết huy động mọi nguồn lực từ bản thân sau đómới sử dụng đến sự hỗ trợ của người khác

Tự học có thể diễn ra dưới sự tổ chức, chỉ đạo, hướng dẫn của GV, haykhông có sự hướng dẫn của GV đòi hỏi người học phải nổ lực chiếm lĩnh tri thức

Tự học là một quá trình người học tìm ra vấn đề, tự thu thập thông tin, xử lý thôngtin để đưa ra các giải pháp, cách giải quyết, cách thử nghiệm từ đó thể hiện sự tìmtòi của mình bằng văn bản, bằng lời nói hoặc trao đổi ý kiến thu được với ngườikhác Sau cùng, là tự kiểm tra, đánh giá sản phẩm thu được, để điều chỉnh, tự rútkinh nghiệm cho bản thân [19]

Đặng Vũ Hoạt cho rằng "Tự học là một hình thức hoạt động nhận thức của

cá nhân, nhằm nắm vững hệ thống tri thức và KN do chính bản thân người học tiếnhành ở trên lớp hoặc ở ngoài lớp, hoặc không theo chương trình và SGK đã quyđịnh Tự học có quan hệ chặt chẽ với quá trình dạy học, nhưng nó có tính độc lậpcao và mang đậm nét sắc thái cá nhân " [23]

Trên đây là một vài nhận định về khái niệm tự học, ngoài còn rất nhiều nhậnđịnh tương tự về tự học trong: Một số vấn đề lý luận giáo dục chuyên nghiệp và đổimới PPDH của Nguyễn Quang Huỳnh [27], Tự học như thế nào của NA Rubakin[32]

Như vậy, tự học là quá trình đòi hỏi người học phải nỗ lực tối đa, tích cực, chủ động, sáng tạo để chiếm lĩnh tri thức bằng hoạt động của chính mình nhằm đạt được mục đích đã đề ra từ trước.

1.1.1.4 KN tự học

Trang 18

KN tự học là khả năng nhận thức, vận dụng kiến thức vào giải quyết các vấn

đề đặt ra trong học tập cũng như trong cuộc sống [16]

Hệ thống các KN tự học bao gồm:

- KN xây dựng kế hoạch học tập

- KN lựa chọn tài liệu

- KN lựa chọn hình thức tự học

- KN thu thập và xử lý thông tin

- KN vận dụng tri thức vào thực tiễn

- KN trao đổi và phổ biến thông tin

- KN kiểm tra đánh giá

- KN tách nội dung bản chất từ tài liệu đọc được

- KN phân loại tài liệu đọc được

- KN trả lời câu hỏi dựa trên tài liệu đọc được

- KN lập dàn bài khi đọc SGK

- KN soạn đề cương

- KN làm tóm tắt tài liệu đọc được

- KN đọc và phân tích bảng số liệu, biểu đồ, đồ thị, hình vẽ trong SGK [1].Theo Nguyễn Duân đã xác định các KN làm việc với SGK bao gồm:

- Nhóm KN làm việc với kênh chữ: KN tìm ý chính, KN tóm tắt, KN lập dàn

ý, KN lập bảng, KN lập sơ đồ

- Nhóm KN làm việc với kênh hình trong SGK: KN khai thác thông tin tranhảnh trong SGK, KN khai thác thông tin sơ đồ trong SGK, KN khai thác thông tin đồthị trong SGK, KN khai thác thông từ bảng trong SGK, KN vận dụng thông tin từSGK [9]

Thông qua nghiên cứu việc phân loại các KN trên và mục tiêu giáo dục hiện nay, trong đề tài này chúng tôi sẽ tập trung rèn luyện cho HS các KN sau:

Trang 19

- KN thu nhận thông tin.

đi tìm lời giải đáp cho những vấn đề ấy là cách tốt nhất kích thích hoạt động trí tuệ.Nếu thiếu đi sự nỗ lực tự học của bản thân thì kết quả không thể cao dù có điều kiệnngoại cảnh thuận lợi đến mấy (thầy giỏi, tài liệu hay) Theo Aditxterrec “Chỉ cótruyền thụ tài liệu của GV mà thôi thì dù có nghệ thuật đến đâu chăng nữa cũngkhông đảm bảo được việc lĩnh hội tri thức của HS Nắm vững kiến thức thực sự lĩnhhội chân lý, cái đó HS phải tự mình làm lấy bằng trí tuệ của bản thân” Điều nàykhẳng định thêm vai trò của việc tự học

Tự học còn có vai trò to lớn trong việc giáo dục, hình thành nhân cách cho người học Việc tự học rèn luyện cho người học thói quen độc lập suy nghĩ, độc lập

giải quyết vấn đề khó khăn trong học tập, trong công việc, trong cuộc sống giúp chohọc tự tin hơn trong cuộc sống của mình Hơn thế nữa, tự học thúc đẩy HS ham học,ham hiểu biết, khát khao vươn tới những đỉnh cao của khoa học, sống có hoài bão,ước mơ Do vậy, mỗi HS phải xây dựng cho mình một thói quen, một phương thức

tự học thích hợp nhất [7], [28]

1.1.1.7 Bản chất của việc tự học

Mỗi chúng ta đều nhận thấy rằng muốn làm tốt một việc gì dù nhỏ, đơn giảncũng cần có sự nổ lực, phấn đấu của bản thân Việc học tập cũng vậy, HS sẽ trở

Trang 20

thành cái máy ghi âm lời thầy cô và cũng chóng quên nếu không biến những tri thức

ấy thực sự là của mình

Bản chất của quá trình tự học là không có sự hướng dẫn trực tiếp của GV nêntất yếu đòi hỏi sự nỗ lực, tích cực hóa hoạt động nhận thức của HS Sự kiềm chế đốivới những ảnh hưởng ngoại cảnh hay những ước muốn không hợp lẽ trong tư tưởng

là điều kiện cần thiết đối với quá trình tự học Nếu thiếu sự kiên trì, những yêu cầucao, sự nghiêm túc thì bản thân người học không bao gì thực hiện được kế hoạchhọc tập do chính mình đặt ra [28]

1.1.1.8 Các hình thức tự học

* Tự học hoàn toàn (không có GV): Người học tự mài mò, tự học qua tài liệu,

thực tiễn, tự rút kinh nghiệm một cách độc lập không có sự hướng dẫn của GV.Hình thức học tập này đòi hỏi người học phải có sự say mê khám phá tri thức mới,phải có một vốn kiến thức nhất định Trong tự học hoàn toàn người học gặp phảikhó khăn do có nhiều kiến thức mới, dễ chán nản hoặc không có kế hoạch học phùhợp…

* Tự học qua tài liệu hướng dẫn: Người học tự tìm hiểu thông tin qua sách,

báo, giáo trình, từ đó hình thành tư duy và KN Đây là cách học mà chúng ta cầnchú ý vì cách học này giúp ta xây dựng cách học tập suốt đời Cách học này cũnggặp phải nhược điểm là trong lúc tự nghiên cứu gặp khó khăn, vướn mắc bản thânkhông tự giải quyết được

* Tự học có GV ở xa hướng dẫn qua PT truyền thông: Đây là cách học mà

người học có sự trao đổi, hướng dẫn của GV từ xa trong việc giải quyết tình huống,làm bài, kiểm tra, đánh giá Tuy nhiên, người học cũng gặp khó khăn là không tiếpxúc trực tiếp được với GV để trao đổi những thông tin, kiến thức vướn mắc

* Tự học dưới sự hướng dẫn chặt chẽ của GV (hay còn gọi là tự học có hướng dẫn): Người học học theo tài liệu hướng dẫn GV đưa trước và có sự hỗ trợ trực tiếp

hoặc gián tiếp của GV Hình thức tự học có hướng dẫn GV có thể tổ chức dạy học ởhai hình thức:

- Tự học ở nhà: GV định hướng một cách gián tiếp về PP tự học và nội dung

kiến thức nghiên cứu HS chủ động sắp xếp kế hoạch, phát huy tính chủ động, tíchcực để hoàn thành những yêu cầu mà GV yêu cầu

Trang 21

- Tự học trên lớp: GV hỗ trợ, hướng dẫn và tạo điều kiện cho nghiên cứu HS

tự chiếm lĩnh tri thức mới HS là chủ thể của quá trình nhận thức, tự giác, tích cựcsáng tạo tham gia vào quá trình học tập [ 17]

Hình 1.1 Sơ đồ các hình thức tự học [24].

1.1.1.9 Biểu hiện của việc tự học tốt

Người có ý thức học tập tốt thể hiện ở chỗ họ có thái độ đối với việc học tập

ở lớp cũng như ở nhà và họ thực hiện học tập như thế nào Việc này tưởng chừngnhư đơn giản, nhưng không phải HS nào cũng thực hiện được Một HS có ý thứchọc tập tốt, phải là người biết cách sắp xếp thời gian học tập, biết phân phối sức lực

để học tập, biết khao khát tìm hiểu, nghiên cứu, làm chủ những thành tựu khoa học

của nhân loại Đó là những HS “biết học hết mình, biết chơi hết mình”, biết kết hợp

giữa học tập và giải trí một cách hợp lý, thậm chí, có thể học được nhiều điều từ cáctrò chơi Ý thức tự học tốt thể hiện rất rõ qua việc học tập trên lớp và việc tự nỗ lựchọc tập ở nhà

Tự học bài

mới

Tự học khi kết thúc tiết học

Tự học khi kết thúc chương

Tự học khi kết thúc phần

Hình thành

kiến thức mới

Tự học khi kết thúc môn học

Củng cố, ôn tập, hệ thống hóa kiến

thức

Các hình thức tự học

Trang 22

Trên lớp, người học luôn tập trung nghe giảng, đào sâu suy nghĩ, hăng háiphát biểu bởi vì người ta thường nhớ rất nhanh và rất bền điều học hiểu Tự học ởnhà giúp HS đào sâu suy nghĩ, hệ thống lại những tri thức đã lĩnh hội, liên hệ nó vớinhững kế hoạch thực tế và xây dựng kế hoạch nghiên cứu tài liệu sao cho nhữngđiều mình biết luôn có ích, gắn liền với việc học tập, không xa rời thực tế [28].

1.1.2 Câu hỏi, bài tập trong dạy học.

1.1.2.1 Khái niệm câu hỏi.

Nghiên cứu bản chất của CH, triết học Hy Lạp đã nghiên cứu CH có tầm quantrọng đặc biệt trong tiến bộ nhận thức của loài người và trong dạy học Aristotle làngười đầu tiên phân tích CH dưới góc độ logic học và lúc đó ông cho rằng “CH làmột mệnh đề trong đó chứa đựng cái đã biết và cái chưa biết” [31] Như vậy, conngười sẽ không có tranh cãi, thảo luận thắc mắc khi hoàn toàn không hiểu biết gì vềvấn đề đang bàn bạc hoặc biết tất cả về những vấn đề ấy Con người muốn biết một

sự vật, hiện tượng nào đó chỉ khi con người chưa hoàn toàn hiểu biết và có nhu cầuhiểu biết về sự vật, hiện tượng đó

Descartes cho rằng không có CH thì không có tư duy cá nhân, cũng như tưduy nhân loại Ông cũng nhấn mạnh dấu hiệu bản chất của CH là phải có mối quan

hệ giữa cái đã biết và cái chưa biết Phải có tỉ lệ phù hợp giữa hai đại lượng đó thìchủ thể nhận thức mới xác định được phương hướng mình phải làm gì để trả lời CH

đó [19]

Tuy có nhiều quan niệm khác nhau nhưng về dấu hiệu bản chất của các CHđều được các tác giả nêu ra đó là: “Xuất hiện điều chưa rõ cần được giải quyết từđiều đã biết Trong đời sống cũng như trong nghiên cứu khoa học, con người chỉnêu ra thắc mắc, tranh luận khi đã biết nhưng chưa đầy đủ, cần biết thêm Sự tươngquan giữa cái đã biết và cái chưa biết thúc đẩy việc mờ rộng hiểu biết cho conngười” [22, tr.8]

Theo Trần Bá Hoành: CH kích thích tư duy là CH đặt ra trước HS một nhiệm

vụ nhận thức, khích lệ và đòi hỏi họ cố gắng trí tuệ cao nhất, tự lực tìm ra câu trả lờibằng cách vận dụng các tư duy so sánh, phân tích, tổng hợp, khái quát hóa, qua đólĩnh hội kiến thức mới và được tập dượt được phương pháp nghiên cứu, phươngpháp giải quyết vấn đề, có được niềm vui của sự khám phá [15]

Trang 23

CH để tích cực hóa hoạt động của HS trong quá trình dạy học là CH phảinhằm mục đích phát triển tư duy, phát huy khả năng tích cực chủ động trong học tậpcủa HS Do vậy yêu cầu của CH không phải liệt kê nội dung trình bày trong SGK

mà phải là những CH có yêu cầu phân tích, giải thích, chứng minh hay khái quáthóa, tổng hợp hóa nội dung SGK [32]

Như vậy, CH là một dạng cấu trúc ngôn ngữ để diễn đạt một yêu cầu, mộtđòi hỏi, một mệnh lệnh cần được giải quyết, hàm chứa tỷ lệ hợp lí giữa cái biết vàchưa biết

1.1.2.2 Khái niệm bài tập.

Theo tác giả Trần Thị Bích Liễu: BT là nhiệm vụ học tập GV đặt ra chongười học buộc người học phải vận dụng các kiến thức đã biết hoặc các kinhnghiệm thực tiễn, sử dụng các hành động trí tuệ hay hành động thực tiễn để giảiquyết các nhiệm vụ đó nhằm chiếm lĩnh tri thức, kĩ năng một cách tích cực, hứngthú và sáng tạo [21]

Theo Nguyễn Ngọc Quang: BT là bài ra cho HS làm để vận dụng những điều

đã học nhằm hình thành kiến thức mới, củng cố, hoàn thiện, nâng cao kiến thức đãhọc [30]

BT có thể là một câu hỏi, một thí nghiệm, một bài toán hay một bài toánnhận thức

BT chỉ ra một định hướng nhận thức cho người học để người học hướng tớiviệc tìm hiểu, sử dụng vốn hiểu biết tri thức, định hướng bổ sung thêm những kiếnthức mới từ tài liệu SGK Trên cơ sở đó bằng năng lực tư duy, vốn kinh nghiệm củamỗi cá nhân tạo ra những tiềm lực mới nhận thức được vấn đề đặt ra và như vậyngười học đã tiếp thu được một lượng tri thức mới từ bài tập

Như vậy, BT là hiện tượng khách quan đối với HS, nó có ở trong SGK, hayviết lên bảng hoặc ở đâu đó Bài tập là một việc gì đó nêu ra để thực hiện, mộtnhiệm vụ giao phó để thực hiện [30]

BT để tích cực hóa hoạt động của HS trong quá trình dạy học là bài tập đượcxây dựng và được đưa đến cho HS theo mục đích dạy học giúp HS định hướngđược việc học thông qua rất nhiều thao tác tư duy như phân tích, tổng hợp, so sánh,

Trang 24

trừu tượng hóa, khái quát hóa, hệ thống hóa…và qua đó HS hình thành được kiếnthức mới thì BT sẽ trở thành BT tích cực hóa hoạt động học tập của HS Như vậy,không phải BT nào cũng là BT tích cực hóa được hoạt động của HS mà nó chỉ trởthành BT tích cực hóa được hoạt động khi mâu thuẫn khách quan trong BT được

HS ý thức như là một vấn đề, nghĩa là biến mâu thuẫn khách quan thành mâu thuẫnchủ quan Từ đó HS dựa vào những kiến thức trong SGK, kiến thức tiếp thu được từtrước đó, kiến thức GV biến đổi, giải quyết mâu thuẫn thì HS sẽ lĩnh hội được kiếnthức từ BT

* Từ các định nghĩa CH, BT chúng ta có thể rút ra sự giống nhau và khác nhau:

Giống nhau:

+ Chúng đều là những yêu cầu, đòi hỏi phải thực hiện

+ Đều chứa đựng điều chưa biết và điều cần tìm

+ Mối quan hệ giữa điều đã biết và điều cần tìm ở BT chặt chẽ hơn ở CH:điều đã biết trong BT phải vừa đủ để người thực hiện chỉ biến đổi những điều đãbiết bằng những đại lượng tương đương để dẫn đến điều cần tìm Như vậy nếu phântích bản chất các khái niệm đó dưới góc độ sự vận động của tư duy thì CH, BT cócùng bản chất

Tóm lại, CH, BT để rèn luyện KNTH là các dạng CH, BT được thiết kế saocho nó trở thành “một chương trình hành động” trong một thời lượng xác định,nhằm định hướng quá trình tự lực nghiên cứu của HS theo ý đồ của GV Các dạng

CH, BT này nhằm mục đích phát triển tư duy, phát huy khả năng tích cực, chủ độngtrong học tập của HS Do vậy, chúng không phải là yêu cầu liệt kê nội dung trìnhbày trong SGK và phải là những CH, BT có yêu cầu phân tích, giải thích, chứng

Trang 25

minh hay khái quát hoá, tổng hợp hoá nội dung SGK Khi thực hiện các CH, BTnày là HS đã thể hiện được các KNTH cơ bản của người học

1.1.2.3 Vai trò của CH, BT trong dạy học.

Đề cập tới vai trò, ý nghĩa của CH, BT trong quá trình DH, có thể nói CH,

BT là cốt lõi, gắn kết các yếu tố cấu trúc của quá trình DH thành một chỉnh thể toànvẹn Sự có mặt của chúng giúp vận hành, thúc đẩy quá trình DH đạt chất lượng cao

CH, BT được nghiên cứu sử dụng như là một công cụ hữu hiệu để thực hiện cácmục tiêu đổi mới PPDH

Có thể khái quát một số ý nghĩa cơ bản thể hiện vai trò của CH, BT như sau:

+ CH, BT là phương tiện để mã hoá nội dung DH nói chung và mã hoá nội

dung SGK nói riêng, biến nội dung được mô tả sang dạng nêu những điều kiện đãbiết và điều cần tìm mà hoạt động tìm câu trả lời là hoạt động “giải mã” Khi đóchúng là nguồn động lực tạo ra tri thức mới, có nghĩa là động lực cho quá trình “giảimã”

+ CH, BT có tác dụng kích thích định hướng nhận thức tri thức mới, pháthuy tính tích cực chủ động sáng tạo trong học tập của HS, khắc phục lối DH truyềnthụ một chiều

+ CH, BT giúp HS tự lĩnh hội được kiến thức một cách có hệ thống

+ CH, BT là phương tiện để rèn luyện kĩ năng làm việc với SGK và cácnguồn tài liệu khác CH, BT có vai trò định hướng nghiên cứu tài liệu, SGK, lúcnày SGK đóng vai trò là nguồn tư liệu để HS phân tích và tìm lời giải HS tìm đượclời giải chính là đã tự tìm ra kiến thức mới

+ CH, BT là công cụ để phát triển các thao tác tư duy Khi tìm lời giải, ngườihọc phải phân tích, xác định mối quan hệ, so sánh, đối chiếu những điều đã cho vànhững điều cần tìm, đòi hỏi phải suy luận logic, người học phải luôn luôn suy nghĩ,

do đó tư duy được phát triển

+ CH, BT giúp củng cố, hoàn thiện kiến thức một cách có hệ thống

+ CH, BT giúp kiểm tra đánh giá và tự đánh giá mức độ nắm vững kiến thứccho HS

Như vậy, CH, BT vừa là nội dung, vừa là phương tiện, phương pháp, biệnpháp tổ chức quá trình DH, giúp kiểm tra đánh giá kết quả đạt được của mục tiêu và

Trang 26

điều chỉnh quá trình tiến tới mục tiêu DH Vì CH, BT có thể cấu tạo một cách linhhoạt bằng việc thêm bớt các điều kiện nên có thể áp dụng một cách mềm dẻo với từngđối tượng HS, với các mức độ nhận thức khác nhau Điều này cho phép cá thể hoá việchọc một cách tối ưu, tạo điều kiện cho HS tự học và rèn luyện phương pháp học,phương pháp nghiên cứu khoa học.

1.1.3 Sử dụng CH, BT để rèn luyện cho HS kỹ năng tự học

1.1.3.1 Nguyên tắc rèn luyện kỹ năng tự học cho HS

Muốn tổ chức tự học tốt cần tuân thủ những nguyên tắc sau:

- Bảo đảm tính tự giáo dục.

- Bảo đảm tính khoa học trong quá trình dạy học.

- Bảo đảm “học đi đôi với hành”.

- Nâng cao dần đến mức tự giác, tích cực trong quá trình học.

- Đảm bảo nâng cao dần và củng cố KN, kỹ xảo.

Trong quá trình tự học của HS, các nguyên tắc này có mỗi quan hệ gắn bónhau, nguyên tắc này hỗ trợ cho nguyên tắc kia và đều nhằm mục đích đảm bảo tính

tự giáo dục của nhà trường [28]

1.1.3.2 Vai trò của CH, BT trong việc rèn luyện kỹ năng tự học của HS

CH, BT là một trong những yếu tố hữu hiệu nhất để giúp HS tự lực chiếm lĩnhkiến thức CH, BT sẽ giúp HS định hướng nội dung kiến thức cần tìm hiểu và GVtrong việc truyền thụ tri thức Nội dung kiến thức Sinh học rất đa dạng và phongphú nên việc thiết kế lựa chọn CH, BT khác nhau để có thể rèn luyện cho HS rấtnhiều KN tự học là việc làm rất quan trọng của GV Từ những KN HS đã được rènluyện sẽ giúp HS hoàn thiện tư duy sáng tạo, tăng cường động cơ học tập và thểhiện bản thân Để dạy tự học với CH, BT đạt hiệu quả thì vai trò của người GV làrất quan trọng GV cần hướng dẫn HS biết:

- Xây dựng kế hoạch học tập phù hợp

- Cách nghiên cứu, sưu tầm và lựa chọn tài liệu tham khảo

- Sử dụng thành thạo các KN: tóm tắt nội dung bài học, phân tích nội dung bài học,diễn đạt nội dung bài học, vận dụng kiến thức đã học, sát nhập nội dung kiến thức,tổng hợp kiến thức, so sánh nội dung kiến thức…

- Tự đánh giá kết quả và rút kinh nghiệm sau khi nghiên cứu một vấn đề

Trang 27

Như vậy, tự học có hiệu quả không phải “ngày một, ngày hai” là đạt được

mà cần phải có thời gian rèn luyện lâu dài qua từng lớp học, cấp học

1.1.3.3 Những khó khăn của HS khi tiến hành tự học

HS thường gặp nhiều khó khăn khi tiến hành tự học, nguyên nhân kháchquan là không được rèn luyện từ cấp dưới hoặc nguyên nhân chủ quan như không tựtin, không kiên trì, dễ chán nản khi gặp khó khăn, thiếu KN tự học như: đề ra kếhoạch học tập cụ thể; sưu tầm, nghiên cứu, phân loại tài liệu; tự kiểm soát hoạt độnghọc tập, đánh giá kết quả học tập và tự điều chỉnh khi có kết quả; …

Nếu người học có hướng trao dồi KN tự học và khắc phục những khó khăntrong hoạt động tự học thì người học sẽ đạt được kết quả rất khả quan trong học tập

và đây cũng chính là cách giúp người học có thể học tập suốt đời

1.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài.

1.2.1 Thực trạng về việc rèn luyện cho học sinh kỹ năng tự học.

1.2.1.1 Phương pháp xác định thực trạng

Để xác định thực trạng rèn luyện kỹ năng tự học cho HS trong dạy học sinhhọc nói chung và trong dạy học chương Cơ chế di truyền và biến dị nói riêng chúngtôi đã sử dụng các phương pháp sau:

+ Sử dụng phiếu điều tra: Chúng tôi đã sử dụng phiếu điều tra để khảo sát

với 30 GV sinh học đang trực tiếp giảng dạy sinh học THPT của tỉnh Hà Tĩnh nămhọc 2013- 2014 Chúng tôi đã sử dụng phiếu điều tra để khảo sát với đối tượng là

HS khối 12 của 2 trường ở tỉnh Hà Tĩnh năm học 2013- 2014 là Trường THPTNguyễn Đổng Chi, THPT Nghi Xuân

Chúng tôi đã thiết kế và sử dụng 2 phiếu điều tra (Phụ lục 1):

Phiếu số 1: Điều tra về phương pháp hướng dẫn HS tự học và tình hình sửdụng CH, BT trong dạy học sinh học của GV THPT (Phiếu dành cho GV)

Phiếu số 2: Điều tra về phương pháp tự học môn sinh học của HS THPT(Phiếu dành cho HS)

+ Dự giờ dạy: Chúng tôi đã dự giờ của GV dạy sinh học ở 2 trường thực

nghiệm nói trên

Ngoài ra chúng tôi còn tiến hành trao đổi, tham khảo bài soạn với GV bộmôn ở cả 2 trường thực nghiệm Kết quả điều tra được tóm tắt như sau:

Trang 28

1.2.1.2 Việc hướng dẫn HS tự học của GV:

Qua điều tra việc sử dụng các phương pháp hướng dẫn HS tự học và tìnhhình sử dụng CH, BT trong dạy học sinh học với 30 GV sinh học đang trực tiếpgiảng dạy sinh học THPT của tỉnh Hà Tĩnh năm học 2013- 2014, kết quả thu đượcnhư sau:

Bảng 1.1: Kết quả điều tra về việc sử dụng các phương pháp hướng dẫn

HS tự học và tình hình sử dụng CH, BT trong dạy học sinh học của GV THPT:

Không

sử dụng

1 Khi soạn bài, các thầy cô đã chú ý đến mục

tiêu rèn kĩ năng tự học cho HS ở mức độ nào?

nghiên cứu tài liệu

mới, các thầy cô

+ Để tổ chức HS thảo luận nhóm

+ Để HS tự lực nghiên cứu một đơn vị kiến thứctrên lớp

+ Định hướng, hướng dẫn HS tự đặt CH phát hiện kiến thức trên lớp

+ Cơ chế của quá trình 20 67 10 33 0 0

+ Giải thích hiện tượng 24 80 5 17 1 3

5 Khi HS gặp khó + Đưa ra các CH phụ để 27 77 4 13 0 0

Trang 29

khăn trong việc

+ Dừng lại và trả lời toàn

bộ đáp án

Qua kết quả bảng 1 cho thấy:

+ Hầu hết GV khi soạn bài cũng đã thường xuyên chú ý đến mục tiêu rèn kỹnăng tự học cho HS Điều này chứng tỏ đa số các GV đã nhận thức được việc phảiđổi mới phương pháp và đang có những chuyển biến mới trong cách dạy, hướng tớiviệc rèn luyện cho HS phương pháp học, đặc biệt là tự học

+ Tuy nhiên khả năng thiết kế và sử dụng các CH, BT của GV vẫn chưahiệu quả, còn mang tính hình thức, không chú ý tới rèn luyện, kĩ năng tư duy logic,bồi dưỡng KNTH cho HS Các GV thường xuyên sử dụng các CH, BT dạng táihiện, dạng CH, BT hiểu và vận dụng không được sử dụng thường xuyên, rất nhiều

GV chưa chú ý đến việc xây dựng CH, BT sáng tạo thậm chí có GV chưa bao giờ

sử dụng loại CH, BT dạng đó Vì vậy chưa phát huy được khả năng tư duy sáng tạo,năng lực tự nghiên cứu SGK, tài liệu tham khảo của HS

+ Các CH, BT để hướng dẫn học sinh tự học khi giảng dạy trên lớp, được

GV sử dụng thường xuyên ở tất cả các khâu của quá trình dạy học Tuy nhiên chủyếu là định hướng HS tự đọc SGK, còn việc tổ chức HS thảo luận nhóm, để HS tựlực nghiên cứu đơn vị kiến thức trên lớp và tự đặt câu hỏi phát hiện kiến thức thìcòn chưa thường xuyên, thậm chí còn có một số GV không sử dụng các CH, BTtheo các mục đích nói trên

+ Trong giảng dạy thì các kiến thức về khái niệm thường không khó đối với

HS, do các khái niệm thường được in sẵn trong SGK Còn những loại CH, BT vềcác loại kiến thức cơ chế của quá trình, giải thích hiện tượng, vận dụng thì HSthường khó trả lời Do đó, các GV thường hướng dẫn HS tự học loại kiến thức vềkhái niệm nhiều hơn là các kiến thức về cơ chế, hiện tượng, quá trình…

Trang 30

+ Việc hướng dẫn HS trả lời các CH, BT khi học sinh gặp khó khăn thì nhiều

GV cũng đã đưa ra các CH phụ để gợi ý ra từng vấn đề nhỏ giúp các em dễ dàngtrong việc tìm ra đáp án Nhưng bên cạnh đó vẫn còn tình trạng các GV giải thíchmột phần, thậm chí giải thích toàn bộ luôn đáp án CH, không để HS tiếp tục độngnão, điều này sẽ hạn chế khả năng tự lĩnh hội kiến thức ở các em

Khi chúng tôi trực tiếp trao đổi, dự giờ với GV, chúng tôi nhận thấy đa số

GV đều đánh giá cao vai trò của CH, BT trong các khâu của quá trình DH, đã sửdụng CH, BT để tổ chức hoạt động học tập của HS trên lớp, xác định được loại CH

có tác dụng kích thích tư duy của HS Tuy nhiên do ảnh hưởng của lối dạy truyềnthống, các GV còn gặp khó khăn trong việc thiết kế các CH, BT, đặc biệt là loại

CH, BT phát triển tư duy, bồi dưỡng KNTH cho HS Nhiều GV còn lúng túng khi

sử dụng CH, BT vào các khâu của quá trình DH nên các phương pháp tích cực đượcdùng còn hạn chế hoặc mang tính hình thức, ít hiệu quả, tốn nhiều thời gian Do đó,yêu cầu đặt ra hiện nay là các GV cần nắm vững cơ sở lí luận, các nguyên tắc sửdụng các CH, BT để rèn luyện KNTH cho HS

1.2.2 Thực trạng của việc rèn luyện kỹ năng tự học ở học sinh

Qua điều tra tại 2 trường THPT thu được kết quả thể hiện ở bảng 2

Bảng 1.2: Kết quả điều tra về phương pháp tự học môn Sinh học của HS THPTSTT

Các nội dung điều tra

Thườngxuyên

Khôngthườngxuyên

Chưa baogiờ

260 42.7 300 49.4 30 4.9

+ Thụ động chờcâu trả lời của bạn

và phần giải đápcủa thầy cô

333 54.9 216 35.5 22 3.6

Trang 31

274 45.2 305 50.2 28 4.6

+ Hiểu nhưngkhông làm được

289 47.6 275 45.3 43 7.1

+ Làm được nhưngkhông diễn đạtđược theo ý hiểucủa mình

Qua kết quả bảng 2 cho thấy:

+ Khi dạy trên lớp các thầy cô ra CH, BT để tìm hiểu kiến thức mới thì phầnlớn các em vẫn còn thụ động chờ câu trả lời của các bạn tích cực hơn hoặc là chờcâu trả lời của GV Nhưng cũng có đa số HS tập trung suy nghĩ để tự mình trả lời,các em cũng không tích cực nhiều trong việc hoạt động nhóm Như vậy, các CH,

BT mà GV sử dụng chưa thực sự kích thích hứng thú học tập và khả năng tìm tòisáng tạo của HS

+ Trong giờ học khi thầy cô ra CH, BT nhiều HS vẫn không hiểu yêu cầucủa CH, BT hoặc nếu có hiểu thì lại không diễn đạt được theo ý hiểu của mình.Điều này cho thấy, một mặt do các em chưa có ý thức tìm hiểu kiến thức nhưng mặtkhác cũng do chất lượng CH, BT mà GV đưa ra chưa cao, do phương pháp sử dụng

CH, BT của GV chưa tốt hoặc do phương pháp rèn KNTH cho HS cũng chưa đạtyêu cầu Do đó, năng lực diễn đạt của các em còn ở mức rất thấp, ảnh hưởng lớnđến chất lượng giáo dục

Qua đó chúng ta thấy HS hiện nay ít đầu tư thời gian cho việc học, mang tínhđối phó, nhiều em chưa biết cách học, chỉ quen học thuộc lòng, thụ động, chưa tíchcực sáng tạo trong việc tìm kiến thức mớ Với các em có ý thức tự giác, yêu thíchmôn học thì lại không có phương pháp học đúng cách nên chưa khai thác triệt để nộidung SGK một cách chủ động, sáng tạo, kĩ năng quan sát, phân tích, tổng hợp, so sánhđặc biệt kĩ năng trình bày, thể hiện trước tập thể vẫn còn nhiều hạn chế Do đó việchướng dẫn HS tự học hiện nay là một việc hết sức quan trọng để các em tự tin, chủđộng và sáng tạo trong khám phá tri thức

Trang 32

1.3 Kết luận chương 1

Qua nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn dạy học bộ môn Sinh học chúngtôi nhận thấy: Việc tổ chức rèn luyện KN tự học cho học chỉ dừng ở bề nổi của hìnhthức, chưa đi vào chiều sâu của chất lượng, chưa thường xuyên và liên tục Trongkhi đó yêu cầu của việc rèn luyện bất cứ một KN nào cũng cần có thời gian và diễn

ra thường xuyên, liên tục chứ không mang tính hình thức “một sớm, một chiều”.

Đồng thời trong quá trình giảng dạy, GV chưa thường xuyên chú ý việc sử dụng

CH, BT để rèn luyện kỹ năng tự học cho HS Để nâng cao hiệu quả giảng dạy, chấtlượng bộ môn cần có nhiều nghiên cứu hơn nữa về vấn đề “Sử dụng CH, BT để rènluyện kỹ năng tự học cho học sinh”

CHƯƠNG 2: SỬ DỤNG CÂU HỎI, BÀI TẬP ĐỂ RÈN LUYỆN KỸ NĂNG

TỰ HỌC CHO HỌC SINH CHƯƠNG CƠ CHẾ DI TRUYỀN VÀ BIẾN DỊ 2.1 Phân tích cấu trúc, nội dung chương Cơ chế di truyền và biến dị

2.1.1 Mục tiêu

2.1.1.1 Về kiến thức

Sau khi học xong chương Cơ chế di truyền và biến dị, HS phải:

- Trình bày được cơ sở vật chất và cơ chế của các hiện tượng di truyền ở cấp độphân tử

- Trình bày được cơ chế điều hoà hoạt động gen ở sinh vật nhân sơ

- Trình bày được các loại biến dị, nguyên nhân, cơ chế phát sinh, tính chất biểuhiện, ý nghĩa và vai trò của các dạng biến dị trong chọn giống và trong tiến hoá

Trang 33

2.1.1.3 Về thái độ

- Học sinh có niềm tin vào khoa học, có căn cứ khoa học để tin rằng: hiệntượng di truyền và biến dị ở sinh vật rất phức tạp song cũng là những hình thức vậnđộng của vật chất của những cấu trúc bên trong tế bào theo những cơ chế xác định

- Học sinh nhận thức được các đặc tính di truyền của mỗi loài không phải bấtbiến mà luôn biến đổi trong mối liên hệ phức tạp với ngoại cảnh Thế giới sinh vậtngày nay là sản phẩm của một quá trình phát triển lịch sử từ một gốc chung theohướng phân hoá ngày càng đa dạng, tổ chức ngày càng cao, thích nghi ngày cànghợp lí

- Học sinh tăng thêm niềm tin vào khả năng của con người, sức mạnh của khoahọc Với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học, bằng các phương tiện hiện đại, conngười ngày càng biết rõ hơn về bản chất và tính quy luật của những hiện tượng, quátrình sinh học của cơ thể sống Từ đó, vận dụng vào thực tiễn để bảo vệ thiên nhiên,cải tạo thiên nhiên, phục vụ cho lợi ích của con người

2.1.2 Một số đặc điểm về nội dung kiến thức chương Cơ chế di truyền và biến dị.

Phân tích nội dung chương trình là cơ sở quan trọng cho việc thiết kế và sửdụng CH, BT để rèn luyện kỹ năng tự học cho HS

Chương 1: Cơ chế di truyền và biến dị

Gồm 7 bài: + Bài 1: Gen , mã di truyền và tự nhân đôi ADN

+ Bài 2: Phiên mã và dịch mã + Bài 3: Điều hoà hoạt động Gen + Bài 4: Đột biến Gen

+ Bài 5: Nhiểm sắc thể và đột biến cấu trúc nhiễm sắc thể + Bài 6: Đột biến số lượng nhiểm sắc thể

+ Bài 7: Thực hành: Quan sát các dạng đột biến số lượng NST

Kiến thức về Cơ chế di truyền và biến dị nói về quá trình truyền đạt thông tin

di truyền và những biến đổi về thông tin di truyền Thông tin di truyền là thông tin

về cấu trúc của protein, thông tin này được lưu trữ trên ADN dưới dạng các gen.Thông tin di truyền được truyền lại cho đời sau nhờ cơ chế nhân đôi ADN, nhân đôi

Trang 34

nhiễm sắc thể (NST) và phân li của NST trong phân bào Thông tin di truyền đượcbiểu hiện thành tính trạng thông qua cơ chế phiên mã và dịch mã Thông tin ditruyền có thể bị biến đổi làm phát sinh các đột biến gen và đột biến NST Hầu hếtcác đột biến gen được phát sinh trong cơ chế nhân đôi ADN, các đột biến NST đượcphát sinh trong quá trình tiếp hợp và phân li của NST.

2.1.2.1 Cơ chế truyền đạt thông tin di truyền từ nhân ra tế bào chất

Thông tin di truyền ở trên gen được biểu hiện thành tính trạng trên cơ thểthông qua cơ chế phiên mã và dịch mã

* Quá trình tổng hợp ARN từ gen được gọi là quá trình phiên mã bởi vì trình

tự các nucleotit ở trên mạch gốc của gen được sao lại (phiên lại) một cách chính xácthành trình tự các nucleotit ở trên ARN

Ở tất cả các loài sinh vật, gen luôn có cấu trúc gồm hai mạch polinucleotitnhưng chỉ có một mạch làm mạch khuôn để thực hiện phiên mã bởi vì enzymARNpolimeraza luôn bám vào vùng điều hòa của gen và chỉ sử dụng mạch ADN cóchiều 3’ → 5’ làm mạch khuôn để tổng hợp ARN Mỗi gen chỉ có duy nhất mộtvùng điều hòa nằm ở đầu 3’ của mạch gốc nên enzym ARNpolimeraza luôn luônchỉ sử dụng duy nhất một mạch của gen làm mạch khuôn (Giả sử mỗi gen có 2 vùngđiều hòa nằm ở 2 đầu của gen thì cả hai mạch của gen sẽ được dùng làm khuônphiên mã) Nếu giả sử cả hai mạch của gen đều làm khuôn để phiên mã thì sẽ có hạicho sinh vật vì khi cả hai mạch của gen tiến hành phiên mã thì sẽ tổng hợp ra 2 loạiARN có trình tự các nucleotit bổ sung và ngược chiều nhau  Hai loại phân tửARN này sẽ liên kết bổ sung với nhau tạo ra ARN mạch kép làm cho ARN mấtchức năng (phân tử mARN chỉ thực hiện dịch mã khi ở dạng mạch đơn)

Sau phiên mã, phân tử ARN được biến đổi để thực hiện chức năng sinh họctrong tế bào

+ Đối với các tARN thì cuộn lại tạo nên các thùy, trong đó có 1 thùy mang

bộ ba đối mã đặc hiệu cho từng loại tARN

+Đối với rARN thì được cuộn xoắn và liên kết với protein đặc trưng để cấutrúc nên riboxom

+ Đối với mARN thì tiếp tục được gắn mũ 7metyl guanin vào đầu 5’, gắnđuôi poliA vào đầu 3’ và cắt bỏ các đoạn intron, sau đó nối các đoạn exon theo

Trang 35

những cách khác nhau để tạo nên các loại mARN trưởng thành Ở sinh vật nhân sơ,quá trình phiên mã và dịch mã diễn ra đồng thời, phân tử mARN sau khi được tổnghợp không được biến đổi mà được dịch mã ngay Còn ở sinh vật nhân thực sauphiên mã phải được cắt bỏ các Intron và nối Exôn lại với nhau thành ARN trưởngthành rồi chui qua màng nhân ra tế bào chất làm khuôn tổng hợp protein

* Quá trình tổng hợp chuỗi polipeptit từ mARN được gọi là dịch mã bởi vì ởtrên mARN thông tin được lưu trữ dưới dạng các mã bộ ba (các mã di truyền),thông tin này được tARN và riboxom dịch thành các axit amin (aa) trên chuỗipolipeptit

Quá trình dịch mã được bắt đầu từ bộ ba mỡ đầu ở đầu 5’ của mARN đếnkhi gặp mã kết thúc ở đầu 3’ của mARN Trên mỗi mARN có thể có nhiều bộ baAUG nhưng chỉ có duy nhất một bộ ba làm nhiệm vụ mã mở đầu

Quá trình dịch mã diễn ra theo nguyên tắc bổ sung giữa bộ ba đối mã củatARN với bộ ba mã sao của mARN Trên mỗi phân tử mARN, mã di truyền đượcđọc theo từng bộ ba từ một điểm xác định Do vậy các chuỗi polipeptit được tổnghợp từ một phân tử mARN luôn có trình tự các aa giống nhau

Ở sinh vật nhân sơ, quá trình dịch mã được thực hiện bởi ribôxôm có hệ sốlắng 70S, các ribôxôm này nằm tự do trong tế bào chất của tế bào vi khuẩn Trong

tế bào chất của tế bào sinh vật nhân thực có hai loại riboxom, một loại nằm tự dotrong tế bào chất, một loại gắn trên màng lưới nội chất hạt Ribôxôm tự do tổng hợpcác phân tử prôtêin là enzym trong tế bào chất (enzym tham gia đường phân, enzymproteaza,…) Ribôxôm nằm trên lưới nội chất hạt tổng hợp các loại protein tiết rakhỏi tế bào (các hooc môn, kháng thể,…) và các prôtêin trên màng sinh chất,prôtêin trong lizôxôm

Sau khi dịch mã, chuỗi pôlipeptit được biến đổi (được cắt bỏ bớt một số aahoặc được gắn thêm các phân tử hữu cơ khác) và cuộn xoắn để hình thành cấu trúckhông gian ba chiều Protein chỉ thực hiện chức năng khi có cấu trúc không gian bachiều (cấu trúc bậc 3 hoặc cấu trúc bậc 4) Protein hoàn chỉnh sẽ được đưa đếnnhững vị trí nhất định trong tế bào để thực hiện chức năng sinh học (ví dụ proteintạo kênh vận chuyển thì được đưa đến màng tế bào) Prôtêin thực hiện các chứcnăng sẽ quy định các tính trạng trên cơ thể

Trang 36

2.1.2.2 Cơ chế truyền đạt thông tin di truyền từ tế bào mẹ sang tế bào con

* Ở cấp độ phân tử, thông tin di truyền được truyền từ tế bào mẹ sang tế bàocon nhờ cơ chế nhân đôi của phân tử ADN Sự nhân đôi của ADN diễn ra theonguyên tắc bổ sung và nguyên tắc bán bảo tồn cho nên phân tử ADN con có cấutrúc giống nhau và giống ADN mẹ

Quá trình nhân đôi ADN cần có 4 loại enzym là enzym tháo xoắn (có 2 loại

là Gyraza và Helicaza), enzym tổng hợp đoạn ARN mồi (có bản chất làARNpolimeraza), enzym ADNpolimeraza (có 3 loại là ADNpolimeraza I,ADNpolimeraza II, ADNpolimeraza III) và enzym ligaza Các enzymADNpolimeraza vừa có hoạt tính kéo dài mạch polinucleotit mới vừa có hoạt tínhsửa sai

Trên mỗi chạc chữ Y tái bản, luôn có một mạch được tổng hợp liên tục, mộtmạch được tổng hợp gián đoạn (gọi là các đoạn Okazaki) Có sự hình thành cácđoạn Okazaki là vì enzym ADNpolimeraza luôn kéo dài mạch mới theo chiều từ 5’

→ 3’ và mạch mới được tổng hợp ngược chiều với mạch khuôn cho nên ở mạchkhuôn 3’ → 5’, mạch mới được tổng hợp liên tục còn ở mạch khuôn 5’ → 3’, mạchmới được tổng hợp ngược chiều với chiều tháo xoắn nên mạch được tổng hợp theotừng đoạn Okazaki

Quá trình nhân đôi ADN luôn cần có đoạn ARN mồi để tạo đầu 3’OH tự dokhởi đầu cho quá trình tổng hợp mạch mới Cần phải có đoạn mồi là vì enzym ADNpolimeraza không tự khởi đầu quá trình tổng hợp mạch mới mà cần phải có mộtđoạn polinucleotit để có đầu 3’OH làm cơ sở cho việc nối các nucleotit tiếp theo.Đoạn mồi là ARN nên phải được cắt bỏ và thay vào bằng đoạn ADN tương ứng Việc cắt bỏ đoạn ARN mồi và tổng hợp đoạn ADN tương ứng được thực hiện bởienzym ADNpolimeraza I Ở sinh vật nhân thực, ADN có dạng mạch thẳng nên đoạnmồi ở đầu mút của NST, sau khi được cắt bỏ thì enzym ADNpôlimeraza không thểtổng hợp được đoạn ADN tương ứng để thay thế nên cứ sau mỗi lần nhân đôi thìđầu mút của ADN bị ngắn dần Vì ADN bị ngắn dần nên tế bào nhân thực chỉ phânbào một số lần rồi ngừng lại

* Ở cấp độ tế bào, sự truyền đạt thông tin di truyền nhờ quá trình nguyênphân, giảm phân và thụ tinh

Ngày đăng: 20/07/2015, 12:06

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.2: Kết quả điều tra về phương pháp tự học môn Sinh học của HS THPT - Sử dụng câu hỏi, bài tập để rèn luyện cho học sinh kỹ năng tự học chương cơ chế di truyền và biến dị, sinh học 12
Bảng 1.2 Kết quả điều tra về phương pháp tự học môn Sinh học của HS THPT (Trang 28)
Bảng 2.1. Hệ thống các đặc điểm của cơ sở vật chất và cơ chế di truyền ở  cấp độ phân tử. - Sử dụng câu hỏi, bài tập để rèn luyện cho học sinh kỹ năng tự học chương cơ chế di truyền và biến dị, sinh học 12
Bảng 2.1. Hệ thống các đặc điểm của cơ sở vật chất và cơ chế di truyền ở cấp độ phân tử (Trang 49)
Bảng 3.1. Bảng thống kê các bài TN. - Sử dụng câu hỏi, bài tập để rèn luyện cho học sinh kỹ năng tự học chương cơ chế di truyền và biến dị, sinh học 12
Bảng 3.1. Bảng thống kê các bài TN (Trang 55)
Hình 3.1. Biểu đồ biểu diễn các mức độ đạt được về KN tự học của HS qua các   lần tổ chức rèn luyện. - Sử dụng câu hỏi, bài tập để rèn luyện cho học sinh kỹ năng tự học chương cơ chế di truyền và biến dị, sinh học 12
Hình 3.1. Biểu đồ biểu diễn các mức độ đạt được về KN tự học của HS qua các lần tổ chức rèn luyện (Trang 56)
Bảng 3.3. Bảng điểm xác định  mức độ đạt được của các tiêu chí TN. - Sử dụng câu hỏi, bài tập để rèn luyện cho học sinh kỹ năng tự học chương cơ chế di truyền và biến dị, sinh học 12
Bảng 3.3. Bảng điểm xác định mức độ đạt được của các tiêu chí TN (Trang 57)
Hình 3.2. Biểu đồ biểu diễn các mức độ đạt được của tiêu chí 1 qua 3 lần TN. - Sử dụng câu hỏi, bài tập để rèn luyện cho học sinh kỹ năng tự học chương cơ chế di truyền và biến dị, sinh học 12
Hình 3.2. Biểu đồ biểu diễn các mức độ đạt được của tiêu chí 1 qua 3 lần TN (Trang 58)
Hình  3.5. Biểu đồ biểu diễn các mức độ đạt được của tiêu chí 4 qua 3 TN - Sử dụng câu hỏi, bài tập để rèn luyện cho học sinh kỹ năng tự học chương cơ chế di truyền và biến dị, sinh học 12
nh 3.5. Biểu đồ biểu diễn các mức độ đạt được của tiêu chí 4 qua 3 TN (Trang 59)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w