Việckiện toàn củng cố, nâng cao chất lượng hoạt động của Uỷ ban Mặt trận Tổquốc chưa được tập trung đúng mức: Một số cán bộ xã, phường, thành phốchưa nắm được quy chế dân chủ và công tác
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
-NGUYỄN THỊ MINH LÝ
PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM ĐỐI VỚI VIỆC THỰC HIỆN QUY CHẾ DÂN CHỦ Ở CƠ SỞ TẠI THÀNH PHỐ HÀ TĨNH,
TỈNH HÀ TĨNH HIỆN NAY
Chuyên ngành: Chính trị học
Mã số: 60.31.02.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC CHÍNH TRỊ
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN LƯƠNG BẰNG
NGHỆ AN, 2014
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Bằng tất cả tình cảm chân thành của mình, Tôi xin được bày tỏ lòng biết
ơn đối với quý Thầy Cô Khoa Giáo dục chính trị, Phòng Sau đại học, Hộiđồng khoa học và Đào tạo chuyên ngành Chính trị học, Trường Đại học Vinh
đã giảng dạy, quan tâm, tạo điều kiện giúp đỡ Tôi trong quá trình học tậpcũng như hoàn thành luận văn Đặc biệt, Tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâusắc đến PGS.TS Nguyễn Lương Bằng, người đã hết sức quan tâm, đã đầu tưnhiều công sức, nhiệt tình hướng dẫn để bản thân Tôi hoàn thành Luận văn tốtnghiệp này
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt NamThành phố Hà Tĩnh, Thành ủy Hà Tĩnh đã tạo mọi điều kiện thuận lợi, giúp
đỡ Tôi thực hiện việc khảo sát và cung cấp số liệu để Tôi thực hiện công trìnhnghiên cứu của mình Cảm ơn sự quan tâm, động viên của bạn bè, gia đìnhtrong suốt quá trình học tập
Trong suốt quá trình nghiên cứu, thực hiện luận văn này, bản thân Tôi đãrất tâm huyết và cố gắng, song chắc không thể tránh khỏi những thiếu sót Vớitinh thần nghiêm túc và cầu thị, Tôi rất mong nhận được sự đóng góp của quýThầy Cô, bàn bè và đồng nghiệp để việc nghiên cứu đề tài được hoàn thiệnhơn
Nghệ An, tháng 10 năm 2014
Tác giả
Nguyễn Thị Minh Lý
Trang 3Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ và thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở………trang 27 1.3 Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đối với việc thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở trang 36 Kết luận chương 1 trang 50
Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM ĐỐI VỚI VIỆC THỰC HIỆN QUY CHẾ DÂN CHỦ Ở
CƠ SỞ TẠI THÀNH PHỐ HÀ TĨNH, TỈNH HÀ TĨNH HIỆN NAY 2.1 Khái quát đặc điểm, tự nhiên, kinh tế - xã hội thành phố Hà Tĩnh trang 51 2.2 Đánh giá việc phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đối với việc thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở tại thành phố Hà Tĩnh trong thời gian qua trang 57 Kết luận chương 2 trang 79
Trang 4Chương 3 PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM ĐỐI VỚI VIỆC THỰC HIỆN QUY CHẾ DÂN CHỦ Ở CƠ SỞ TẠI THÀNH PHỐ HÀ TĨNH, TỈNH HÀ TĨNH
HIỆN NAY 3.1 Phương hướng của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đối với việc thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở tại thành phố Hà Tĩnh, Tỉnh Hà Tĩnh hiện nay trang 81 3.2 Một số giải pháp phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đối với việc thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở tại thành phố Hà Tĩnh, Tỉnh Hà Tĩnh hiện nay trang 84 Kết luận chương 3 trang 105
KẾT LUẬN trang 107 DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG
BỐ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI trang 109 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO trang 110
Trang 5DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
A MỞ ĐẦU
Trang 61 Lý do chọn đề tài
Ngay sau khi giành được độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh – Vị lãnh tụkính yêu của dân tộc ta, người sáng lập và lãnh đạo Đảng ta đã khẳng định rõquan điểm về dân chủ trong việc xây dựng Nhà nước Việt Nam là:“ Nước ta
là nước dân chủ, bao nhiêu lợi ích đều vì dân Bao nhiêu quyền hạn đều củadân Công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân Sự nghiệp khángchiến, kiến quốc là công việc của dân Chính quyền từ xã đến Chính phủ dodân cử ra Đoàn thể từ Trung ương đến xã do dân tổ chức nên Nói tóm lại,quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân” Đó chính là tư tưởng Hồ Chí Minh
về vấn đề dân chủ và quyền làm chủ của nhân dân
Thấm nhuần quan điểm Chủ nghĩa Mác – Lê nin, Tư tưởng Hồ Chí Minh
về dân chủ xã hội chủ nghĩa Đảng ta đã đưa ra phương châm: “Dân biết, dânbàn, dân làm, dân kiểm tra” Để phương châm đó trở thành hiện thực của đờisống xã hội, ngày 18/02/1998 Ban chấp hành Trung ương Đảng (khóa VIII)
đã ban hành Chỉ thị số 30 – CT/TW về xây dựng và thực hiện quy chế dânchủ ở cơ sở và đã xác định: “Mở rộng dân chủ xã hội chủ nghĩa, phát huyquyền làm chủ của nhân dân là mục tiêu, đồng thời là động lực bảo đảm chothắng lợi của cách mạng, của công cuộc đổi mới” [3,tr.1] Ngay trong năm
1998, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 29/1998/NĐ – CP về việc banhành quy chế thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn (sau đó được thay bằngNghị quyết số 79/2003/NĐ – CP và nay đã được nâng lên thành Pháp lệnhthực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn) Trong chỉ thị số 30 của Ban chấphành Trung ương Đảng về xây dựng và thực hiện quy chế dân chủ đã quyđịnh trách nhiệm của Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thểnhân dân bao gồm 3 việc: “Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân tuyêntruyền Giáo dục rộng rãi trong hội viên, đoàn viên và nhân dân Chỉ thị này vàcác quy chế dân chủ ở cơ sở Làm cho mọi người hiểu và sử dụng đúng cácquyền của mình đã quy định trong quy chế dân chủ cơ sở, đồng thời chấp
Trang 7hành đầy đủ trách nhiệm, nghĩa vụ công dân Mặt trận và các đoàn thể phốihợp với chính quyền trong việc thực hiện và giám sát thực hiện các quy chếdân chủ ở cơ sở” [3,tr.5-6]
Trên địa bàn thành phố Hà tĩnh trong thời gian qua, việc thực hiện cácnội dung trên đã có nhiều bước phát triển Tuy vậy, còn có những hạn chếnhư: Công tác chỉ đạo của Mặt trận Tổ quốc ở một số xã, phường trong thànhphố chưa đều, chưa phát huy hết quyền làm chủ của nhân dân; Còn bị độnglung túng trong việc đề ra biện pháp chỉ đạo phù hợp với tình hình, đặc điểmcủa từng địa phương; Tính hình thức còn khá phổ biến trong nhiệm vụ triểnkhai quy chế dân chủ của cấp ủy Đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc Việckiện toàn củng cố, nâng cao chất lượng hoạt động của Uỷ ban Mặt trận Tổquốc chưa được tập trung đúng mức: Một số cán bộ xã, phường, thành phốchưa nắm được quy chế dân chủ và công tác Mặt trận tham gia thực hiện quychế dân chủ; hoạt động giám sát của Mặt trận và đoàn thể chính trị - xã hội ởmột số xã, phường còn rất yếu kém; công tác tuyên truyền vận động nhân dânhọc tập nắm vững các quan điểm của Bộ chính trị, nội dung quyền làm chủtrực tiếp trong quy chế còn làm lướt, hình thức; việc lồng ghép nội dung côngtác Mặt trận tham gia thực hiện quy chế dân chủ với 3 nội dung cuộc vậnđộng “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư” chưa chặtchẽ
Trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa để phát triển đất nước Đạihội XI của Đảng đã tiếp tục khẳng định và phát triển những chủ trương vàquan điểm lớn về đại đoàn kết dân tộc, phát huy dân chủ trong thời kỳ đổimới đã được đề ra tại các Đại hội VI, VII, VIII, IX, X Cương lĩnh xây dựngđất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm2011) khẳng định: “Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể nhân dân có vaitrò rất quan trọng trong sự nghiệp đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng và bảo
vệ tổ quốc, đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đảng của các
Trang 8tầng lớp nhân dân, chăm lo lợi ích của các đoàn viên, hội viên thực hiện dânchủ”.
Như vậy, việc phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trongviệc thực hiện quy chế dân chủ trong tình hình mới nói chung và ở thành phố
Hà Tĩnh nói riêng ngày càng hết sức cần thiết và cấp bách Với ý nghĩa trên,
Chúng tôi chọn vấn đề: “Phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đối với việc thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở tại thành phố Hà Tĩnh, Tỉnh
Hà Tĩnh hiện nay” làm đề tài luận văn Thạc sĩ.
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài:
Vấn đề dân chủ và thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở, vai trò của Mặttrận Tổ quốc Việt Nam trong hệ thống chính trị đã được đề cập trong nhiềunghị quyết của Đảng, văn bản, quyết định của Chính phủ và đã có khá nhiềucông trình nguyên cứu (luận văn, luận án, bài viết trên các tạp chí, các cuốnsách…) bàn về đề tài này ở những góc độ, khía cạnh khác nhau và được chiathành các nhóm vấn đề :
- Nhóm thứ nhất : Các công trình đã được nghiên cứu sâu về vấn đề dân
chủ và thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở đã được đăng thành sách và nhữngbài viết trên các báo, các tạp chí:
Phan Xuân Sơn (Chủ biên, 2003), Các đoàn thể nhân dân với việc bảo đảm dân chủ ở cơ sở hiện nay, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội TS Lương Gia Ban (chủ biên,2003), Dân chủ và thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Bộ nội vụ (năm 2001), Hướng dẫn triển khai quy chế dân chủ cơ sở, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
Đồng chí Đỗ Mười (năm 1998) “Phát huy quyền làm chủ của nhân dân ở
cơ sở”,Tạp chí cộng sản, số20 PGS.TS Dương Xuân Ngọc chủ biên học viện chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh (năm 2000), Quy chế thực hiện dân chủ ở cấp xã – một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb Chính trị quốc gia, Hà nội.
Trương Quang Được (năm 2002) “Tiếp tục đẩy mạnh việc xây dựng và thực
Trang 9hiện quy chế dân chủ ở cơ sở”, Tạp chí cộng sản, số 12 TS Nguyễn Văn Sáu – GS Hồ Văn Thông (chủ biên,2002) Thực hiện quy chế dân chủ và xây dựng chính quyền cấp xã ở nước ta hiện nay, Học viện chính trị quốc gia Hồ
Chí Minh
Tóm lại, nhóm vấn đề này các tác giả đã nghiên cứu một cách sâu sắc
và làm sáng tỏ về mặt lý luận và thực tiễn thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở
- Nhóm thứ hai : Các cuốn sách,luận văn,bài báo, bài viết trên các tạp
chí viết về Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Mặt trận Tổ quốc với việc thực hiệnquy chế dân chủ ở cơ sở:
PGS.TS Nguyễn Lương Bằng (2012), “Giám sát, phản biện xã hội của mặt trận và các đoàn thể trong bối cảnh ở Việt Nam hiện nay”, Tạp chí Đại học Sài Gòn, số 13 tháng 2/ 2013, tr.39-45 PGS.TS Nguyễn Lương Bằng
(2012), Bài viết “Vai trò giám sát, phản biện của mặt trận và các đoàn thể đối
với ổn định và tăng trưởng kinh tế vĩ mô ở Việt Nam”, Kỷ yếu hội thảo khoa học, Đại học Vinh, tháng 4-2012, tr16-19 Với hai bài đó tác giả đã phân tích
sâu sắc những ưu, nhược điểm về vai trò của tổ chức mặt trận và các đoàn thểtrong hệ thống chính trị của Việt Nam hiện nay đồng thời đề xuất những giảipháp để phát huy các tổ chức đó trong bối cảnh hiện nay của Việt Nam
Tác giả Lê Bá Lợi (2009), “Mặt trận tổ quốc Hồng Lĩnh với việc thực
hiện quy chế dân chủ ở cơ sở”, Tạp chí Mặt trận tổ quốc Việt Nam, số 71 Bài
viết này tập trung trình bày những kết quả đã đạt được và những mặt còn hạnchế trong việc thực hiện quy chế dân chủ của Mặt trận Tổ quốc Thị xã HồngLĩnh, và đề ra những giải pháp để thực hiện tốt việc thực hiện Quy chế dân
chủ ở cơ sở Một số vấn đề lý luận và thực tiễn công tác Mặt trận (2009), của
Nxb chính trị quốc gia, Hà Nội Công trình này tập trung nghiên cứu nhữngvấn đề về cơ sở lý luận, về nội dung, đặc điểm, vai trò, hoạt động của công
tác Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (2007), Lịch sử Mặt trận dân tộc thống nhất Việt Nam, quyển III(1974 – 2004 ), Nxb chính trị
Trang 10quốc gia, Hà Nội Tập trung nghiên cứu về lịch sử hình thành của Mặt trận Tổquốc Việt Nam trong lịch sử
Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (2006), Sổ tay công tác Mặt trận tham gia xây dựng chính quyền (lưu hành nội bộ), Xưởng in Tổng
Cục công nghiệp quốc phòng tập trung nêu lên những hoạt động của Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam, cũng như việc thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở, về Luậtcủa Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các nghị quyết, thông tư liên tịch, thông tri,nghị định của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
Tóm lại, nhóm vấn đề này các tác giả trình bày về lý luận và thực tiễncủa Mặt trận tổ quốc Việt Nam, cũng như tình hình thực hiện quy chế dânchủ ở cơ sở tại địa phương
- Nhóm thứ ba : Các nghị quyết, chỉ thị của Đảng, Nhà nước, Chính
phủ trong việc thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở:
Đảng Cộng Sản Việt Nam (1997), Nghị quyết trung ương 3 khóa VIII,
nêu rõ yêu cầu tiếp tục phát huy tốt hơn và nhiều hơn quyền làm chủ của dânqua các hình thức dân chủ đại nghị và dân chủ trực tiếp; Ban chấp hành Trung
ương Đảng (Ngày 18/2/1998), ra Chỉ thị số 30 CT/TW về xây dựng và thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở Đã quy định Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam và các tổ chức chính trị xã hội phải làm tốt công tác tuyên truyền, giáodục rộng rãi trong học viên, đoàn viên và nhân dân chỉ thị này và các quy chếdân chủ ở cơ sở, sử dụng đúng quyền và nghĩa vụ công dân đã được quy địnhtrong quy chế dân chủ, phối hợp với chính quyền trong việc thực hiện quy chếdân chủ ở cơ sở
Chính phủ (11/5/1998), ban hành Nghị định 29/1998/NĐ-CP (Nay
là Nghị định số 79/2003/NĐ-CP) Ủy ban thường vụ Quốc hội (2007), Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn của Ủy ban thường vụ Quốc hội số 34/2007/PL – UBTVQH 11ngày 20 tháng 4 năm 2007 Pháp lệnh nêu
rõ những quy định chung, những nội dung công khai để nhân dân biết, những
Trang 11nội dung nhân dân bàn và quy định, những nội dung nhân dân tham gia ý kiếntrước khi cơ quan có thẩm quyền quyết định, những nội dung nhân dân giámsát, điều khoản thi hành trong việc thực hiện quy chế dân chủ ở xã, phường,thị trấn.
Các công trình, bài viết mà Tôi được tiệp cận và tìm hiểu là vô cùng bổích và quý giá đối với Tôi ,cung cấp những vấn đề về lý luận và thực tiễn vềMặt trận Tổ quốc Việt Nam,về dân chủ,về thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở,cũng như tình hình thực hiện dân chủ ở địa phương Tuy nhiên, việc nghiêncứu về “Vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đối với việc thực hiện quychế dân chủ ở cơ sở tại thành phố Hà Tĩnh, Tỉnh Hà Tĩnh hiện nay” thì chưa
Đề ra một số giải pháp nhằm phát huy vai trò tích cực của Ủy ban Mặttrận Tổ quốc Việt Nam đối với việc thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở, tăngcường đoàn kết, góp phần thực hiện thành công nhiệm vụ xây dựng thành phố
Hà tĩnh ngày càng giàu mạnh, dân chủ, văn minh trong giai đoạn mới
3.2 Nhiệm vụ của đề tài:
Làm rõ vị trí,vai trò,chức năng của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đối vớivấn đề dân chủ, đoàn kết trong thời kỳ mới; trong việc tham gia thực hiện quychế dân chủ ở cơ sở
Thực trạng việc Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc thành phố Hà tĩnh tham gia thựchiện quy chế dân chủ ở xã, phường, thành phố Hà tĩnh - thực trạng, nguyên
Trang 12nhân và những kinh nghiệm thực tiễn Đề ra một số giải pháp nhằm phát huyvai trò tích cực của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đối với việc thực hiện quychế dân chủ ở cơ sở tại thành phố Hà Tỉnh, tỉnh Hà tĩnh hiện nay.
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài:
4.1 Đối tượng của đề tài:
Đề tài nghiên cứu vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong việc thựchiện quy chế dân chủ ở cơ sở trên địa bàn thành phố Hà tĩnh
4.2 Phạm vi nghiên cứu của đề tài:
Đề tài tập trung vào nghiên cứu vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Namđối với việc thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở là:
- Về không gian: trên địa bàn thành phố Hà Tĩnh – Tỉnh Hà Tĩnh
- Về thời gian: trong giai đoạn hiện nay
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu:
5.1 Cơ sở lý luận:
Luận văn được thực hiện trên cơ sở lý luận của Chủ nghĩa Mác – Lênin,
Tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về dân chủ vảthực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở
5.2 Phương pháp nghiên cứu:
Phương pháp luận: quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng và phápluật của Nhà nước
Phương pháp cụ thể: phương pháp tổng hợp, phương pháp phân tích,phương pháp so sánh, phương pháp điều tra xã hội học
6 Ý nghĩa của đề tài:
Đề tài góp phần bổ sung những kinh nghiệm, giải pháp nhằm thực hiệntốt việc thực hiện quy chế dân chủ cơ sở ở thành phố Hà Tĩnh và những địaphương khác có điều kiện, hoàn cảnh tương đồng Từ đó, tạo điều kiện đểthúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng – an ninh, xây dựngĐảng và hệ thống chính trị ngày càng vững mạnh
Trang 13Có thể làm tư liệu tham khảo cho sinh viên đang học ngành chính trị.
7 Kết cấu của đề tài:
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo,các phụ lục, nội dung của luận văn gồm 3 chương
Chương 1: Cơ sở lý luận về phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam đối với việc thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở
Chương 2: Thực trạng việc phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc ViệtNam đối với việc thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở tại thành phố Hà Tĩnh,Tỉnh Hà Tĩnh hiện nay
Chương 3: Phương hướng và giải pháp phát huy vai trò của Mặt trận Tổquốc Việt Nam đối với việc thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở tại thành phố
Hà Tĩnh, Tỉnh Hà Tĩnh hiện nay
Trang 14B NỘI DUNG Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM ĐỐI VỚI VIỆC THỰC HIỆN QUY CHẾ DÂN CHỦ
Ở CƠ SỞ
1.1 Lý luận chung về dân chủ và quy chế thực hiện dân chủ ở cơ sở
1.1.1 Một số khái niệm
1.1.1.1 Khái niệm dân chủ và dân chủ ở cơ sở
Dân chủ là một khái niệm đa nghĩa, phức tạp, thuộc phạm trù chính trị
có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp Ở đây, “Dân chủ” là một từ ghép gồm 2 chữ:
“demos” (có nghĩa là người bình dân, dân chúng) và “kratia” (chữ gốc là
“kratos” – có nghĩa là quyền cai trị, là sức mạnh) Do vậy, từ “Demoskratia”
có nghĩa là quyền lực của nhân dân, chính quyền của nhân dân Dân chủ làmột chính quyền “của dân, do dân và vì dân” Như vậy dân chủ là một thể chế
do dân làm chủ và dân chủ trước hết là chế độ chính trị trong đó quyền lực tốicao thuộc về nhân dân, do nhân dân thực thi, tự bản thân thực thi hoặc thôngqua các đại biểu mà mình bầu ra
Đối với Nhà nước ta bản chất của nó được khẳng định trong Hiến pháp,
là Nhà nước của dân, do dân, vì dân Tuy vậy, trong thực tế, cán bộ, côngchức Nhà nước chưa thực sự là người công bộc của dân như Chủ tịch Hồ ChíMinh đã mong muốn Nếu không thực hiện dân chủ, Nhà nước sẽ trở nên độctài, chuyên chế, do đó dân phải học để làm chủ; Nhà nước phải bảo đảm cơchế để lắng nghe dân Do vậy, nói tới dân chủ có nghĩa là nói đến mối quan
hệ giữa dân và chính quyền mà ở đó chính quyền phải lắng nghe dân, phải tạođiều kiện để người dân được quyết định hoặc tham gia quyết định những vấn
đề liên quan đến cuốc sống và sự phát triển của mỗi người, của cả cộng đồng.điều này có ý nghĩa thực tiễn rất quan trọng ở cấp xã, phường, thị trấn
Trang 15Cơ sở là đơn vị ở cấp dưới cùng, nơi trực tiếp thực hiện các hoạt độngnhư sản xuất, công tác,… của một hệ thống tổ chức, trong quan hệ với các bộphận lãnh đạo cấp trên Như vậy, cấp cơ sở là cấp xã trong quan hệ với cấpđịa phương (gồm cấp tỉnh và cấp huyện) và với cấp Trung ương Chính quyền
cơ sở là chính quyền cấp xã Bởi vì, căn cứ vào việc phân bổ dân cư và lãnhthổ thành đơn vị hành chính thì chính quyền cấp xã và cấp tương đương làcấp chính quyền cơ sở Vì đây là cấp chính quyền cuối cùng gần và sát dânnhất Còn thôn, làng, ấp, bản, tổ dân phố và tương đương là theo đơn vị dân
cư – với tư cách là những cộng đồng người nhỏ nhất sinh sống cùng nhau Ởđây, đời sống dân cư diễn ra tự quản là chính
Dân chủ ở cơ sở là dân chủ ở cấp xã, phường, thị trấn và thôn, làng, ấp,bản, khóm, tổ dân phố (là các hình thức cộng đồng dân cư như đã nêu) Dânchủ ở cơ sở chủ yếu là thực hiện hình thức dân chủ trực tiếp (mặc dù có cảdân chủ đại diện), và các hình thức tự quản của cộng đồng dân cư
Dân chủ ở cơ sở có ý nghĩa vô cùng to lớn, vì cơ sở là nơi trực tiếp thựchiện mọi chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước, là nơicần thực hiện quyền dân chủ của nhân dân một cách trực tiếp nhất và rộng rãinhất
1.1.1.2 Khái niệm quy chế thực hiện dân chủ ở cơ sở
Nhà nước của ta là nhà nước của dân, do dân, vì dân dưới sự lãnh đạocủa Đảng, nhân dân ta đã đạt được những thành quả quan trọng Đất nước đãđược độc lập, tự do, thống nhất và ngày nay toàn Đảng, toàn dân đang ra sứcphấn đấu xây dựng một nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, xã hội côngbằng, dân chủ, văn minh
Tuy nhiên trong quá trình xây dựng cũng bộc lộ những yếu kém, khuyếtđiểm, tình hình tiêu cực, suy thoái phẩm chất vẫn có chiều hướng phát triển,QLC của nhân dân còn bị vi phạm ở nhiều nơi, trên nhiều lĩnh vực; tệ quanliêu, mệnh lệnh, cửa quyền, tham nhũng, sách nhiễu, gây phiền hà cho dân
Trang 16vẫn đang phổ biến và nghiêm trọng mà chúng ta chưa ngăn chặn, đẩy lùiđược
Trước tình hình đó, Nghị quyết TW 3 khóa VIII (6/1997) nêu rõ yêu cầu:Tiếp tục phát huy tốt hơn và nhiều hơn quyền làm chủ của dân qua các hìnhthức dân chủ đại diện và dân chủ trực tiếp; tiếp tục hoàn thiện Nhà nước Cộnghòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đảm bảo trong sạch, vững mạnh và tăngcường sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước, mở rộng dân chủ xã hội chủnghĩa, phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong xây dựng và quản lý Nhànước
Ngày 18/2/1998, Ban chấp hành Trung ương Đảng đã ra chỉ thị 30/CT –
TW về xây dựng và thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở nhằm: “giữ vững vàphát huy được bản chất tốt đẹp của Nhà nước ta, phải phát huy quyền làm chủcủa dân, thu hút nhân dân tham gia quản lý nhà nước, tham gia kiểm kê, kiểmsoát nhà nước, khắc phục tình trạng suy thoái, quan liêu, mất dân chủ và nạntham nhũng” [3,tr.1]
Thực hiện chỉ thị 30/CT – TW, UBTVQH (khóa X) ra Nghị quyết số 45 –1998/ NQ - UBTVQH 26/2/1998 về việc ban hành Quy chế thực hiện dân chủ
ở xã Thực hiện chủ trương của Đảng và Nghị quyết của UBTVQH, ngày11/5/1998, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 29/1998/NĐ – CP (nay làNghị định số 79/ 2003/ NĐ – CP) về việc ban hành QCDC Nghị quyết nêurõ: “Điều 1: Ban hành kèm theo Nghị định này bản Quy chế thực hiện dânchủ ở xã Điều 2: Quy chế này áp dụng đối với cả phường và thị trấn Ban Tổchức - Cán bộ Chính phủ hướng dẫn việc áp dụng Quy chế này đối vớiPhường và thị trấn” [9,tr.1]
QCDC ở cơ sở còn bao gồm cả dân chủ trong cơ quan hành chính Nhànước và đơn vị doanh nghiệp Nhà nước với các văn bản quy định riêng.Những văn bản trên đây từ chủ trương của Đảng đến việc thể chế hóa bằngcác văn bản pháp luật của Nhà nước thể hiện sự quan tâm của Đảng, Nhà
Trang 17nước ta đối với việc xây dựng thể chế về dân chủ ở cơ sở Thực hiện phươngchâm: “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”, thể hiện bản chất Nhà nước
là Nhà nước của dân, do dân và vì dân
Quy chế thực hiện dân chủ ở cơ sở gồm các văn bản quy phạm pháp luậtquy định những biện pháp làm chủ trực tiếp của nhân dân ở cơ sở xã, phường,
cơ quan hành chính Nhà nước và đơn vị doanh nghiệp Nhà nước Đó là nhữngđiều nhân dân phải được biết, những việc nhân dân được làm để Nhà nướcquyết định hoặc nhân dân được quyết định và những việc nhân dân được giámsát, kiểm tra, nhằm phát huy QLC, sức sáng tạo của nhân dân
Quy chế thực hiện dân chủ ở xã là văn bản quy phạm pháp luật quy định
cụ thể những việc HĐND và UBND xã phải thông tin kịp thời và công khai
để dân biết; những việc dân bàn và quyết định trực tiếp, những việc dân thamgia ý kiến trước khi cơ quan Nhà nước quyết định; Những việc dân giám sát,kiểm tra và các hình thức thực hiện quy chế dân chủ ở xã nhằm phát huyQLC, sức sáng tạo của nhân dân ở xã, động viên sức mạnh vật chất và tinhthần to lớn của nhân dân trong phát triển kinh tế - xã hội, cải thiện dân sinh,nâng cao dân trí, ổn định chính trị, tăng cường đoàn kết, xây dựng Đảng bộ,Chính quyền và các đoàn thể ở xã trong sạch, vững mạnh, ngăn chặn và khắcphục tình trạng suy thoái, quan liêu, tham nhũng của một số cán bộ, Đảngviên và các tệ nạn xã hội, góp phần thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh,
xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, theo định hướng xã hội chủ nghĩa Quychế thực hiện dân chủ ở xã, vì vậy thực chất là một định chế pháp lý bảo đảmQLC của dân
1.1.1.3 Khái niệm Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
Điều 9 Hiến pháp năm 1992 (sữa đổi, bổ sung năm 2001) khẳng định:
“Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là tổ chức liên minh chính trị, liên hiệp tựnguyện của tổ chức chính trị, các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội vàcác cá nhân tiêu biểu trong các giai cấp, các tầng lớp xã hội, các dân tộc, các
Trang 18tôn giáo và người Việt Nam định cư ở nước ngoài Mặt trận Tổ quốc ViệtNam và các tổ chức thành viên là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân.Mặt trận phát huy truyền thống đoàn kết toàn dân, tăng cường sự nhất trí vềchính trị và tinh thần trong nhân dân, tham gia xây dựng và củng cố chínhquyền nhân dân, cùng nhà nước chăm lo và bảo vệ lợi ích chính đáng củanhân dân, động viên nhân dân thực hiện quyền làm chủ, nghiêm chỉnh thihành Hiến pháp và pháp luật, giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước, đạibiểu dân cử và cán bộ, viên chức nhà nước Nhà nước tạo điều kiện để Mặttrận Tổ quốc và các tổ chức thành viên hoạt động có hiệu qủa” [17,tr.68-69].
Cụ thể hóa Hiến pháp năm 1992, Điều 1 Luật Mặt trận Tổ quốc ViệtNam quy định: “Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là bộ phận của hệ thống chính trịcủa nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Đảng cộng sản Việt Namlãnh đạo, là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân, nơi thể hiện ý chí,nguyện vọng, tập hợp khối đại đoàn kết toàn dân, phát huy quyền làm chủ củanhân dân, nơi hiệp thương, phối hợp và thống nhất hành động của các thànhviên, góp phần giữ vững độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia, toàn vẹn lãnhthổ, thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước vìmục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh” [41,tr.5] Đây làquan điểm, chủ trương chiến lược của Đảng ta về MTTQVN trong thời kỳ đổimới, tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng và bảo vệ
Tổ quốc, được thể chế hóa và bảo đảm bằng pháp luật của Nhà nước
1.1.2 Đặc điểm, nội dung và vai trò của quy chế thực hiện dân chủ ở cơ
sở (xã, phường)
1.1.2.1 Đặc điểm của quy chế thực hiện dân chủ ở cơ sở
Thứ nhất, khác với các quy chế thông thường, quy chế thực hiện dân chủ
là một văn bản quy phạm pháp luật, cụ thể hóa và luật hóa phương châm:
“Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” bằng một Nghị định của Chínhphủ căn cứ vào Nghị quyết của UBTVQH (Nghị quyết số 45 – 1998/ NĐ –
Trang 19UBTVQH 26/2/1998 về việc ban hành quy chế thực hiện dân chủ ở xã,phường, thị trấn)
Thứ hai, Quy chế thực hiện dân chủ ở cơ sở là sự cụ thể hóa dân chủ xãhội chủ nghĩa ở cơ sở, phát huy QLC của nhân dân gắn liền với cơ chế “ Đảnglãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ”
Thứ ba, Quy chế thực hiện dân chủ ở cơ sở phát huy chế độ dân chủ đạinghị, nâng cao chất lượng và hiệu lực hoạt động của chính quyền địa phương,
cơ sở, quy định những nghĩa vụ cụ thể của chính quyền trong việc bảo đảmQLC của người dân ở cơ sở
Thứ tư, Quy chế thực hiện dân chủ ở cơ sở thực hiện chế độ dân chủ trựctiếp ở cơ sở để nhân dân bàn bạc và trực tiếp quyết định những công việcquan trọng, thiết thực, gắn với quyền lợi và nghĩa vụ của nhân dân
Thứ năm, Có sự tham gia của Mặt trận và các đoàn thể nhân dân ở mọikhâu trong thực hiện quy chế ở cơ sở để phát huy mạnh mẽ vai trò làm chủcủa nhân dân trong việc thực thi nền dân chủ xã hội chủ nghĩa
Thứ sáu, Mục đích của việc ban hành QCDC ở xã là nhằm phát huyQLC, sức sáng tạo của nhân dân ở xã, động viên sức mạnh vật chất và tinhthần to lớn của nhân dân trong phát triển kinh tế - xã hội, cải thiện dân sinh,nâng cao dân trí, ổn định chính trị, tăng cường đoàn kết xây dựng Đảng bộ,chính quyền và các đoàn thể ở xã trong sạch, vững mạnh, ngăn chặn và khắcphục tình trạng suy thoái, quan liêu, tham nhũng của một số cán bộ, Đảngviên và các tệ nạn xã hội, góp phần thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh,
xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, theo định hướng xã hội chủ nghĩa
Thứ bảy, Quy chế thực hiện dân chủ ở cơ sở thể hiện yêu cầu dân chủphải trong khuôn khổ của Hiến pháp và Pháp luật, đi đôi với trật tự, kỷ cương,quyền đi đôi với nghĩa vụ; kiên quyết xử lý những hành vi lợi dụng dân chủ,
vi phạm Hiến pháp, Pháp luật, xâm phạm lợi ích của Nhà nước, lợi ích tậpthể, quyền tự do, dân chủ và lợi ích hợp pháp của công dân
Trang 201.1.2.2 Nội dung của quy chế thực hiện dân chủ cơ sở
Quy chế thực hiện dân chủ ở xã do Chính phủ ban hành ngày11/5/1998, nay là Nghị định số 79/2003/NĐ – CP, gồm Lời nói đầu, 7chương và 25 điều
Về nội dung, Quy chế dân chủ quy định những quyền của nhân dân ở cơ
sở được biết và hình thức biết những thông tin liên quan đến pháp luật, chủtrương, chính sách, pháp luật của Nhà nước, đặc biệt là những thông tin liênquan trực tiếp đến đời sống dân sinh Quy chế dân chủ cũng quy định nhữngviệc để nhân dân bàn và quyết định cũng như những hình thức thực hiện; Quyđịnh những việc nhân dân ở cấp xã có quyền giám sát, kiểm tra và nhữngphương thức để thực hiện giám sát, kiểm tra; Việc xây dựng cộng đồng dân
cư thôn, làng, bản, ấp và những hình thức tổ chức Đặc biệt, để thực hiệnphương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”, quy chế dân chủquy định cơ chế thực hiện dưới hai hình thức dân chủ trực tiếp và dân chủ đạidiện, trong đó ở cấp cơ sở, dân chủ trực tiếp là quan trọng Quy chế dân chủ ở
cơ sở quy định cụ thể các loại công việc để: Dân biết, dân bàn, dân giám sát,dân kiểm tra
Điều 1 Quy chế quy định : “Quy chế này quy định cụ thể những việcHội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân xã (sau đây gọi là chính quyền xã)phải thông tin kịp thời và công khai để dân biết; những việc dân bàn và quyếtđịnh trực tiếp; những việc dân tham gia ý kiến trước khi cơ quan nhà nướcquyết định; những việc dân giám sát, kiểm tra và các hình thức thực hiện quychế dân chủ ở xã” [11,tr.2]
Về dân biết, quy chế quy định quyền của mọi người dân được thông tin
về những chủ trương, chính sách pháp luật của Nhà nước, các vấn đề liênquan trực tiếp đến đời sống hàng ngày của nhân dân tại cơ sở … và nghĩa vụcủa chính quyền phải thông tin kịp thời và công khai cho người dân
Về dân bàn, có 2 loại gồm:
Trang 21- Loại thứ nhất là, những việc nhân dân bàn và quyết định trực tiếp(điều 7, điều 8, điều 9).
- Loại thứ hai là, những việc nhân dân bàn,tham gia ý kiến, Chínhquyền xã quyết định (điều 10, điều 11)
Các việc dân bàn và quyết định trực tiếp là các loại việc có huy động sựđóng góp của dân để xây dựng cơ sở hạ tầng và xây dựng hương ước, quy ướcnội bộ Đây là quy định rất mới không những thực hiện QLC của nhân dân màcòn chống được tệ nạn tham nhũng, lãng phí
Về dân giám sát, kiểm tra, quy chế quy định dân giám sát, kiểm tra các
loại công việc từ hoạt động của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân đến cácviệc giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân, kết quả quyết toán công trình
do dân đóng góp, việc quản lý sử dụng đất đai, thu chi các quỹ, việc thực hiệnchính sách đối với người có công với nước… Dân giám sát, kiểm tra tức làthực hiện quyền lực của mình trong quá trình quản lý đất nước
1.1.2.3 Vai trò của quy chế thực hiện dân chủ ở cơ sở
Thứ nhất, Thực hiện quy chế dân chủ góp phần bảo đảm quyền lực chính
trị của nhân dân lao động, xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩaViệt Nam của dân, do dân, vì dân ngay ở cấp chính quyền cơ sở ở nước tahiện nay
Trong một thời gian dài trước đây, nhiều địa phương đã không thật sựquan tâm đến tâm tư, nguyện vọng của nhân dân trong việc giải quyết các vấn
đề của làng xã Do vậy, khi QCDC được triển khai, người dân rất phấn khởi
và nhiệt tình hưởng ứng.Nơi nào làm tốt việc xây dựng và thực hiện quy chế,nơi ấy sẽ tạo ra được một phong trào sinh hoạt chính trị rộng lớn, có tác dụngđến nhiều mặt của đời sống xã hội Thông qua quá trình học tập, xây dựng vàthực hiện quy chế, cán bộ, nhân dân thấy rõ hơn quyền cũng như trách nhiệmcủa mình trong việc xây dựng đời sống dân chủ ở cơ sở, ý thức làm chủ, ýthức công dân của người dân đã có sự chuyển biến khá rõ Ngay từ trong cộng
Trang 22đồng dân cư nhỏ hẹp như xã, phường, người dân đã có thể trực tiếp bày tỏchính kiến của mình, trực tiếp quyết định và giám sát các công việc của cộngđồng xã hội.
Với những thông tin về chính sách, pháp luật, về nội dung các hoạt độngcủa địa phương, của cơ sở được đưa ra kịp thời và công khai, với những điềungười dân được bàn bạc thảo luận và quyết định trực tiếp hoặc tham khảo cho
sự quyết định của cấp chính quyền cơ sở, người dân đã từng bước học làmchủ, tập làm chủ và dần biết làm chủ
Thứ hai, Thực hiện dân chủ ở cơ sở là một giải pháp hạn chế sự tha hóa
của quyền lực nhà nước
Quyền lực chính trị của nhân dân lao động được thể hiện tập trung thôngqua quyền lực Nhà nước Với hình thức dân chủ đại diện, quyền lực Nhà nước
sẽ được giao cho một số người đảm nhận, chịu trách nhiệm quản lý, điều hànhcông việc chung Nhưng quy luật chung là khi tập trung quyền lực thì dễ dẫnđến lạm quyền, lộng quyền Những người đại diện cho quyền lực của nhândân rất dễ rơi vào sự tha hóa, độc đoán, quan liêu nếu không có một cơ chếkiểm soát quyền lực Trong thời gian qua ở nước ta, hiện tượng những người
có chức, có quyền đã lợi dụng quyền lực để mưu cầu lợi ích riêng cho mìnhkhông phải là ít Họ dựa vào địa vị của mình, mặc dù địa vị mà họ có được là
do nhân dân bầu ra, để nhận hối lộ, tham nhũng, làm trái với mục tiêu củaĐảng Họ trở nên những người xa lạ với dân, với Đảng, với Nhà nước Bộmáy chính quyền trở thành quan liêu, bảo thủ và trì trệ, nó không còn đại diệnđược cho lợi ích của nhân dân, của toàn xã hội nữa mà chính nó lại vi phạmđến lợi ích của nhân dân lao động, đến lợi ích mà nó đại diện Để hạn chế sựtha hóa của quyền lực Nhà nước, cần phải làm trong sạch bộ máy lãnh đạocủa Đảng và chính quyền ngay ở từng cơ sở Từ khi triển khai thực hiện quychế, người dân đã biết sử dụng QLC của mình để đấu tranh với những hiệntượng tiêu cực ấy Từ những quy định rõ ràng các việc cần thông báo cho dân
Trang 23biết, những việc dân được bàn, những việc dân được giám sát, kiểm tra, tàichính được công khai, minh bạch đã làm hạn chế rất nhiều các biểu hiện thahóa của các cán bộ, đảng viên trong bộ máy quyền lực nhà nước
Thực hiện dân chủ ở cơ sở không chỉ làm cho nhân dân lao động từngbước thể hiện quyền làm chủ mà còn làm cho các cấp ủy đảng, chính quyền,đảng viên nhận thức rõ hơn về quyền làm chủ của nhân dân cũng như ý thứcđược trách nhiệm phục vụ nhân dân, phát huy dân chủ, giữ gìn ký cương,phép nước Ở những nơi làm tốt việc triển khai thực hiện quy chế, ý thức xâydựng cộng đồng, xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền được nâng lên Nókhông chỉ góp phần nâng cao ý thức của cán bộ, đảng viên và nhân dân vềthực hiện và phát huy dân chủ và quyền làm chủ của nhân dân mà còn làmchuyển biến một bước về phương thức lãnh đạo của cấp ủy Đảng, phươngthức điều hành và lề lối làm việc của các cấp chính quyền, nhất là ở cơ sở.Nhân dân đã mạnh dạn thẳng thắn, cởi mở, chân thành phê bình cán bộ, đảngviên, đóng góp xây dựng tổ chức Đảng, giúp tổ chức Đảng loại được nhiềucán bộ, đảng viên kém phẩm chất, năng lực, thoái hóa, biến chất Nhiều tổchức Đảng biết gắn với việc xây dựng chỉnh đốn Đảng (theo tinh thần Nghịquyết TW 6 lần hai) làm cho mối quan hệ giữa đảng viên và dân gắn bố vớinhau hơn, Đảng và dân gần nhau hơn, tin nhau hơn, nhờ vậy tổ chức Đảngthêm vững mạnh
Bên cạnh đó nhiều cấp chính quyền địa phương đã rà soát, loại bỏ cácvăn bản quy định không phù hợp với QCDC, cản trở QLC của dân và côngtác quản lý của cơ quan Nhà nước, công khai hóa các văn bản thủ tục hànhchính, phí, lệ phí, thời gian giải quyết công việc, lịch tiếp dân… tăng cườngxuống cơ sở để nghe trực tiếp ý kiến dân, đối thoại, tháo gỡ những vướng mắccủa dân một cách kịp thời Làm cho mối quan hệ của dân với chính quyềnngày một gắn bó, uy tín của chính quyền cơ sở được nâng lên và hoạt độngcủa bộ máy chính quyền có hiệu quả hơn trước
Trang 24Thực hiện dân chủ ở cơ sở là một cuộc cách mạng có tác dụng sâu sắcđến ý thức và phong cách, phương thức lãnh đạo của cấp ủy, sự điều hành củachính quyền cơ sở đối với sự tôn trọng QLC của người dân Từ đó cán bộ sátdân hơn, bớt đi thái độ hống hách, cửa quyền, nhũng nhiểu dân Không nhữngthế cán bộ còn chăm lo giữ gìn phẩm chất đạo đức của mình, từ đó làm chomối quan hệ giữa dân với chính quyền cởi mở hơn, góp phần làm cho chínhquyền hoạt động có hiệu quả hơn.
Thứ ba, Thực hiện dân chủ ở cơ sở khơi dậy sức mạnh tiềm tàng của
nhân dân lao động
Phát huy cao độ mọi tiềm năng, trí tuệ của nhân dân trong quá trình xâydựng Nhà nước và xã hội, giải quyết những về đề lớn từ quốc kế dân sinh đếnnhững việc của đời sống cộng đồng, đời sống dân cư Thông qua hình thứchoạt động dân chủ trực tiếp tại cơ sở, người dân có điều kiện tham gia ý kiến,
có điều kiện tập dượt, trưởng thành trong vai trò của người làm chủ đích thực.Khi Đảng và Nhà nước quan tâm, biết lắng nghe và học hỏi dân, biết bồidưỡng và nâng cao đời sống của dân thì nhân dân không chỉ nói lên điều mìnhmong muốn mà còn gợi ý, kiến nghị và chỉ ra rằng Đảng và Nhà nước cầnphải hành động như thế nào, bằng phương pháp công cụ nào để giải quyết cácvấn đề kinh tế - xã hội Chính những sáng kiến đầy tâm huyết của dân đã tạonên nguồn trí tuệ quý giá không gì thay thế được cho những chủ trương,đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, tạo ra những bước phát triểnvững chắc của đất nước trên con đường phát triển và hội nhập
Thông qua những hoạt động dân cử ở cơ sở, Đảng và Nhà nước có thểnhận được những thông tin phản hồi nhanh nhất về hiệu lực, hiệu quả của cácchủ trương đã ban hành Nhờ vậy, Đảng và Nhà nước sẽ kiểm nghiệm đượcđường lối, chính sách có xa rời thực tế hay không từ đó mà khắc phục bệnhquan liêu, duy ý chí, xa rời thực tế, nhằm tăng cường mối quan hệ máu thịtgiữa Đảng và dân Ở địa bàn xã, quy chế đã được sự nhiệt tình hưởng ứng của
Trang 25nhân dân và sự chỉ đạo sát sao của các cấp chính quyền nên đem lại nhiều kếtquả thiết thực trong lĩnh vực phát triển kinh tế và xây dựng cơ sở hạ tầng Khitài chính được công khai, dân được tham gia góp ý kiến về những công việc
cụ thể, người dân sẵn sàng đóng góp tiền của, công sức để xây dựng các côngtrình phục vụ thiết thực cho cuộc sống Ví như những căn nhà tình nghĩa,trường học, đường liên thôn, liên xã… với giá trị hàng trăm triệu đến hàngchục tỷ đồng đã được xây dựng Nhiều công trình trước đây chờ xin ngânsách cấp trên nhưng nay đưa ra dân bàn, dân quyết định thì lại triển khainhanh gọn Các công trình hoàn thành nhanh gọn và đạt hiệu quả cao Kể cảviệc chuyển dịch cơ cấu kinh tế, chuyển đổi hợp tác xã, quản lý đất đai đượcnhân dân giám sát chặt chẽ nên góp phần vào ổn định nông thôn, kinh tế pháttriền theo chiều hướng tiến bộ
Thứ tư, Thực hiện dân chủ ở cơ sở gắn với phát triển văn hóa xã hội
Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, là mục tiêu, động lực phát triểnbền vững đất nước Văn hóa phải được đặt ngang hàng với kinh tế, chính trị,
xã hội Phát triển văn hóa vì sự hoàn thiện nhân cách con người và xây dựngcon người để phát triển văn hóa
Trong xây dựng văn hóa, trọng tâm là chăm lo xây dựng con người cónhân cách, lối sống tốt đẹp, với các đặc tính cơ bản: yêu nước, nhân ái, nghĩatình, trung thực, đoàn kết, cần cù, sáng tạo Xây dựng đồng bộ môi trường vănhóa, trong đó chú trọng vai trò của gia đình, cộng đồng Phát triển hài hòagiữa kinh tế và văn hóa; cần chú ý đầy đủ đến yếu tố văn hóa và con ngườitrong phát triển kinh tế Xây dựng và phát triển văn hóa là sự nghiệp của toàndân do Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân là chủ thể sáng tạo, độingũ trí thức giữ vai trò quan trọng
Từ khi có Nghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII) và Chỉ thị 30 của Banchấp hành Trung ương Đảng, các địa phương đã kết hợp chặt chẽ cả hai nộidung: Triển khai quy chế dân chủ với “Phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng
Trang 26đời sống văn hóa ở khu dân cư” nhằm khắc phục những vấn đề nhức nhối về
tư tưởng đạo đức, lối sống và xây dựng môi trường văn hóa, văn minh lànhmạnh trong từng gia đình, làng xã, vận động nhân dân xây dựng nếp sống vănminh, lối sống lành mạnh, bài trừ hủ tục, tệ nạn xã hội và mê tín dị đoan.Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư” huyđộng mọi nguồn lực nhân dân và cả Hệ thống chính trị từ trên xuống, từ trongĐảng, cơ quan Nhà nước, các đoàn thể đến toàn xã hội, gồm các phong tràonhư: Người tốt việc tốt, Uống nước nhớ nguồn, Đền ơn đáp nghĩa, Xóa đóigiảm nghèo, Xây dựng gia đình văn hóa, làng văn hóa, khu phố văn minh.Tất cả các phong trào ấy được hưởng ứng vào công cuộc thi đua yêu nước:
“Tất cả vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, vănminh”
Bên cạnh đó, Tổ chức công tác tuyên truyền các chủ trương, chính sáchcủa Đảng, pháp luật của Nhà nước Tuyên truyền thực hiện cuộc vận động
“Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, tổ chức các ngày lễngày tết Thực hiện Chỉ thị 27 của Bộ Chính trị về việc tang, việc cưới, lễ hội.Tiếp tục thực hiện công tác xã hội hóa giáo dục trường tiểu học, mầm non thiđua dạy tốt, học tốt, đạt nhiều thành tích trong học tập, xây dựng cơ sở vậtchất Đẩy mạnh Công tác y tế, dân số kế hoạch hóa gia đình, công tác vệ sinhmôi trường
Thứ năm, Thực hiện dân chủ ở cơ sở tạo ra cơ sở pháp lý để Mặt trận Tổ
quốc các cấp và các tổ chức chính trị - xã hội thực hiện được vai trò cầu nốigiữa Nhà nước và nhân dân trong phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tuyên truyền, động viên nhân dân phát huyquyền làm chủ, thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng,nghiêm chỉnh thi hành Hiến pháp và pháp luật, giám sát hoạt động của cơquan nhà nước, đại biểu dân cử và cán bộ, công chức nhà nước; tập hợp ýkiến, kiến nghị của nhân dân để phản ánh, kiến nghị với Đảng và Nhà nước;
Trang 27tham gia xây dựng và củng cố chính quyền nhân dân; cùng Nhà nước chăm
lo, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân Mặt trận Tổ quốc ViệtNam, các tổ chức thành viên thông qua hoạt động phối hợp tuyên truyền vậnđộng nhân dân, chỉ đạo triển khai xây dựng, thực hiện và giám sát việc thựchiện Quy chế dân chủ, đã phát huy tốt vai trò đại diện quyền làm chủ củanhân dân, góp phần tạo ra môi trường dân chủ lành mạnh ở cơ sở, góp phầncũng cố, kiện toàn tổ chức Đảng, chính quyền các cấp
Do đó, việc xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở là một cáchthiết thực nhất, là cơ sở cho nhân dân lao động được làm chủ một cách thực
sự trên mọi phương diện: kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội Đó cũng chính làmột cách làm hiệu quả nhất để cho nhân dân lao động đảm bảo được quyềnlực chính trị của mình, góp phần quan trọng vào sự nghiệp xây dựng Nhànước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của dân, do dân, vì dân, gắn bóchặt chẽ và phục vụ lợi ích của nhân dân, của dân tộc, tất cả quyền lực Nhànước thuộc về nhân dân ở nước ta hiện nay Là một Nhà nước thực sự củanhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng với lý tưởng dân chủ, nhân đạo, côngbằng, tất cả vì hạnh phúc của nhân dân
1.2 Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, Đảng cộng sản Việt Nam,
Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ và thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở
1.2.1 Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về dân chủ
Dân chủ theo quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin là một hiện tượnglịch sử gắn liền với xã hội có giai cấp và được biến đổi dưới nhiều hình thứckhác nhau trong điều kiện của các hình thái kinh tế - xã hội Trong xã hội xãhội chủ nghĩa “dân chủ” có một chất lượng mới, nội dung “quyền lực thuộc
về nhân dân” được phát triển đầy đủ trên cơ sở một nền kinh tế phát triển cao,giải phóng sức sản xuất, vượt qua lợi ích ích kỷ của giai cấp thống trị Nhờvậy, dân chủ là yếu tố bảo đảm cho quá trình giải phóng và phát triển toàndiện con người, đem lại cho họ QLC cuộc sống, quyền sáng tạo và sản xuất
Trang 28của cải vật chất, tinh thần cho xã hội, trong đó, “sự phát triển tự do của mỗingười là điều kiện cho sự phát triển tự do của tất cả mọi người” [20,tr.569].
Dân chủ theo quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, trước hết là mộthình thức Nhà nước Nhà nước đó, một mặt thực hiện dân chủ và mặt khácthực hiện trấn áp với giai cấp khác trong xã hội, V.I Lênin viết: “Chế độ dânchủ, đó là một nhà nước thừa nhận việc thiểu số phục tùng đa số, nghĩa là sự
tổ chức bảo đảm cho một giai cấp thi hành bạo lực một cách có hệ thốngchống lại một giai cấp khác” [18,tr.101] Vì vậy, trong lịch sử xã hội loạingười, dân chủ luôn mang tính giai cấp, nó tồn tại dưới những hình thức cụthể, biến đổi cùng với sự thay đổi của phương thức sản xuất và kết cấu giaicấp của xã hội
Dân chủ là một quá trình phát triển, là kết quả của các cuộc đấu tranhcủa nhân dân do vậy dân chủ trong xã hội xã hội chủ nghĩa là một hiện tượnghợp quy luật, là bước phát triển cao hơn về chất so với các kiểu dân chủ tronglịch sử mà bản chất của nó là nhằm giải phóng con người khỏi áp bức, bóc lột
và tạo điều kiện để con người phát triển toàn diện
Trong chế độ dân chủ, nhân dân là chủ thể tối cao của quyền lực Nhànước Điều đó được thể hiện ở chỗ: nhân dân tự tổ chức (bầu cử) quyền lựcNhà nước; nhân dân có quyền tham gia quản lý và quyết định những vấn đềquan trọng của Nhà nước (trưng cầu dân ý); nhân dân có quyền kiểm tra,giám sát hoạt động của các cơ quan Nhà nước Tư tưởng này của C.Mác vềsâu được V.I Lênin tiếp thu và phát triển trong một điều kiện mới với tưtưởng “chủ nghĩa xã hội sẽ không chiến thắng nếu không thực hiện đầy đủchế độ dân chủ” V.I Lênin đã khái quát quyền dân chủ trong lĩnh vực chínhtrị của nhân dân thành ba nội dung lớn đó là: Quyền bầu cử; quyền tham giaquản lý các công việc của Nhà nước và quyền bãi miễn
Theo chủ nghĩa Mác-lênin dân chủ là dân chủ cho nhân dân lao động(số đông); dân chủ thực sự Tức là biến “dân chủ” từ khẩu hiệu trở thành
Trang 29hành động thực tế thông qua vai trò của Nhà nước; nền dân chủ toàn diện trêntất cả các lĩnh vực, chính trị, kinh tế, tư tưởng, văn hóa thực chất của nó là
sự tham gia một cách thực sự bình đẳng và ngày càng rộng rãi của nhữngngười lao động vào quản lý công việc của Nhà nước và xã hội Thống nhấtđược quyền và nghĩa vụ của công dân trong mối quan hệ với Nhà nước Vìvậy,nó trở thành mục tiêu và động lực của sự phát triển xã hội
Chủ nghĩa Mác- Lênin đã nêu lên bản chất đặc trưng của chế độ dânchủ là giai cấp công nhân và nhân dân lao động làm chủ, tuyệt đại đa số thànhviên trong xã hội được hưởng dân chủ Là Nhà nước dân chủ do chính Đảng
và giai cấp công nhân lãnh đạo tổ chức, giai cấp công nhân và quảng đại quầnchúng nhân dân tham gia quản lý và giám sát, là nền dân chủ thực hiện côngcuộc giải phóng lao động, xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa
1.2.2 Quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam về dân chủ và thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở
Đảng và Nhà nước ta đã có những chủ trương và chính sách đúng đắnnhằm đảm bảo và phát huy QLC của nhân dân trên mọi lĩnh vực của đời sống,phù hợp với từng giai đoạn cách mạng của đất nước Để ngày càng hoàn thiệnnhững nội dung cơ bản của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa phát huy QLC củanhân dân lao động trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.Năm 1998, Ban chấp hành Trung ương Đảng đã đề ra Chỉ thị 30/CT- TWngày 18/2/1998 về việc xây dựng và hoàn thiện QCDC ở cơ sở
Chỉ thị 30 của Ban chấp hành Trung ương Đảng được triển khai ở cơ sởnhằm phát huy tốt hơn và nhiều hơn QLC của nhân dân đó vừa là mục đích,vừa là động lực cho sự phát triển Góp phần ngăn chặn tình trạng suy thoái vềđạo đức, tham nhũng quan liêu, cửa quyền, sách nhiễu nhân dân trong bộ máychính quyền các cấp, tạo điều kiện xây dựng chính quyền trong sạch, vữngmạnh, góp phần khắc phục tình trạng vừa mất dân chủ ở cơ sở vừa dân chủcực đoan tạo cho QLC của nhân dân được tôn trọng, đưa QCDC trở thành nề
Trang 30nếp trong hoạt động của chính quyền các cấp QCDC còn góp phần khai thácphát huy trí tuệ và sức sáng tạo của nhân dân, tạo sức mạnh vật chất tinh thần
to lớn trong thực hiện mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng dânchủ và văn minh” Thực chất là cụ thể hoá phương châm “Dân biết, dân bàn,dân làm, dân kiểm tra”
Những quan điểm chỉ đạo của Đảng trong xây dựng thực hiện QCDC ở
cơ sở cụ thể:
- “Đặt việc phát huy quyền làm chủ của nhân dân ở cơ sở trong cơ chếtổng thể của hệ thống chính Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làmchủ Coi trọng cả ba mặt nói trên, không vì nhấn một mặt mà coi nhẹ, hạ thấpcác mặt khác
- “Vừa phát huy tốt chế độ dân chủ đại diện, nâng cao chất lượng vàhiệu lực hoạt động của Quốc hội, Chính phủ, hội đồng nhân dân và ủy bannhân dân các cấp, vừa thực hiện tốt chế độ dân chủ trực tiếp ở cấp cơ sở đểnhân dân bàn bạc và quyết định trực tiếp những công việc quan trọng thiếtthực, gắn liền với lợi ích của mình
- Phát huy dân chủ phải gắn liền với phát triển kinh tế - xã hội và nângcao dân trí, tạo điều kiện mở rộng dân chủ có chất lượng và hiệu quả
- Nội dung các quy chế phát huy dân chủ ở cơ sở phải phù hợp vớiHiến pháp, pháp luật, thể hiện tinh thần dân chủ đi đôi với kỷ cương, trật tự,quyền hạn gắn liền với trách nhiệm, lợi ích đi đôi với nghĩa vụ; chống quanliêu, mệnh lệnh, đồng thời chống tình trạng vô chính phủ, lợi dụng dân chủ viphạm pháp luật
- Gắn quá trình xây dựng và thực hiện quy chế dân chủ với công tác cảicách hành chính, sửa đổi những cơ chế, chính sách về thủ tục hành chínhkhông phù hợp” [3,tr.2]
Để cụ thể hoá Chỉ thị 30 của Ban chấp hành Trung ương Đảng ngaysau đó UBTVQH ra Nghị quyết về việc thực hiện QCDC ở cơ sở, Chính phủ
Trang 31có các Nghị định về thực hiện QCDC trên 3 loại hình cơ sở đó là: Nghị định29/1998/NĐ-CP ( Nay là Nghị định số 79/2003/NĐ-CP) Ủy ban thường vụQuốc hội (2007) , Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn của Ủyban thường vụ Quốc hội số 34/2007/PL – UBTVQH11 ngày 20 tháng 4 năm
2007 Pháp lệnh nêu rõ những quy định chung, những nội dung công khai để
nhân dân biết, những nội dung nhân dân bàn và quy định, những nội dungnhân dân tham gia ý kiến trước khi cơ quan có thẩm quyền quyết định, nhữngnội dung nhân dân giám sát, điều khoản thi hành trong việc thực hiện quy chếdân chủ ở xã, phường, thị trấn Nghị định số 07/NĐ- CP ra ngày 7/8/1998 vềthực hiện QCDC ở doanh nghiệp Nghị định số 71/NĐ- CP ra ngày 8/9/1998
về thực hiện quy QCDC ở cơ quan hành chính sự nghiệp
Về nội dung cơ bản của Nghị định số 79/2003/NĐ-CP bao gồm: Nhữngquy định chung
“Điều 1 Quy chế này quy định cụ thể những việc Hội đồng nhân dân
và Uỷ ban nhân dân xã (sau đây gọi là chính quyền xã) phải thông tin kịp thời
và công khai để dân biết; những việc dân bàn và quyết định trực tiếp; nhữngviệc dân tham gia ý kiến trước khi cơ quan Nhà nước quyết định; những việcdân giám sát, kiểm tra và các hình thức thực hiện Quy chế dân chủ ở xã”[11,tr.2]
“Điều 2 Quy chế thực hiện dân chủ ở xã nhằm phát huy quyền làmchủ, sức sáng tạo của nhân dân ở xã, động viên sức mạnh vật chất và tinh thần
to lớn của nhân dân trong phát triển kinh tế xã hội, cải thiện dân sinh, nângcao dân trí, ổn định chính trị, tăng cường đoàn kết, xây dựng Đảng bộ, chínhquyền và các đoàn thể trong xã trong sạch, vững mạnh; ngăn chặn và khắcphục tình trạng suy thoái, quan liêu, tham nhũng của một số cán bộ, đảng viên
và các tệ nạn xã hội, góp phần thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xãhội công bằng, dân chủ, văn minh theo định hướng xã hội chủ nghĩa” [11,tr.2]
Trang 32“Điều 3 Phát huy quyền làm chủ của nhân dân gắn liền với cơ chếĐảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ; phát huy chế độ dân chủđại diện, nâng cao chất lượng và hiệu lực hoạt động của chính quyền địaphương, thực hiện chế độ dân chủ trực tiếp ở cơ sở để nhân dân bàn bạc vàtrực tiếp quyết định những công việc quan trọng, thiết thực, gắn với quyền lợi
và nghĩa vụ của nhân dân” [11,tr.2]
“Điều 4 Dân chủ phải trong khuôn khổ của Hiến pháp và pháp luật; điđôi với trật tự, kỷ cương; quyền đi đôi với nghĩa vụ; kiên quyết xử lý nhữnghành vi lợi dụng dân chủ, vi phạm Hiến pháp, pháp luật, xâm phạm lợi íchcủa Nhà nước; lợi ích tập thể, quyền tự do, dân chủ và lợi ích hợp pháp củacông dân” [11,tr.2]
Những việc cần thông báo để nhân dân biết: Các nghị quyết của HĐND,UBND phường và cấp trên với địa phương Các quy định của Nhà nước vềthủ tục hành chính, thu các loại thuế, lệ phí, quyền và nghĩa vụ công dân Kếhoạch phát triển kinh tế - xã hội dài hạn và hàng năm của phường Quy hoạch,
kế hoạch sử dụng đất đai,…Các chủ trương kế hoạch vay vốn phát triển sảnxuất xoá đói giảm nghèo Kết quả thanh tra, giải quyết các vụ việc tiêu thamnhũng…Công tác văn hoá xã hội, phòng chống tệ nạn xã hội, giữ gìn an ninh
Những việc nhân dân bàn và quyết định trực tiếp: Chủ trương và sứcđóng góp xây dựng cơ sở hạ tầng và các công trình phúc lợi công cộng (điện,đường, trường học, trạm y tế, nghĩa trang, các công trình văn hoá thể thao).Xây dựng hương ước, quy ước làng văn hoá, nếp sống văn minh, giữ gìn anninh trật tự, bài trừ các hủ tục mê tín dị đoan, tệ nạn xã hội Thành lập bangiám sát các công trình xây dựng do phố đóng góp Tổ chức bảo vệ sản xuấtkinh doanh, giữ gìn an ninh trật tự an toàn giao thông, vệ sinh môi trường vàcác hoạt động khác trên địa bàn phố, phường
Những việc nhân dân bàn tham gia ý kiến chính quyền xã quyết định:
Dự thảo nghị quyết của Hội đồng nhân dân phường Dự thảo quy hoạch, kế
Trang 33hoạch kinh tế kinh tế- xã hội dài hạn và hàng năm của phường, phương ánchuyển đổi cơ cấu kinh tế, cơ cấu sản xuất và phương án phát triển ngànhnghề, quy hoạch đất đai…; Phương án quy hoạch khu dân cư, đề án địnhcanh, định cư vùng kinh tế mới, kế hoạch dự án huy động và sử dụng cáckhoản đóng góp của nhân dân để đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng do phườngquản lý…; Dự thảo đề án phân vạch, điều chỉnh địa giới hành chính, đề ánchia tách thành lập phố…
Những việc nhân dân giám sát kiểm tra: Hoạt động của chính quyềnphường, các tổ chức chính trị xã hội, tổ chức xã hội và tổ chức nghề nghiệp ởphường Kết quả thực hiện nghị quyết HĐND và quyết định, chỉ thị củaUBND phường Giải quyết khiếu nại tố cáo của công dân tại địa phương Dựtoán và quyết toán ngân sách phường Các công trình của cấp trên triển khaitrên địa bàn xã có ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất, an ninh trật tự, văn hoá
xã hội, vệ sinh môi trường và đời sống của nhân dân địa phương Thu chi cácloại quỹ và lệ phí theo quy định của Nhà nước và các khoản đóng góp củanhân dân Kết quả thanh tra, kiểm tra, giải quyết các vụ việc tiêu cực thamnhũng
Việc thực hiện chế độ chính sách ưu đãi, chăm sóc giúp đỡ thương, bệnhbinh, gia đình liệt sỹ, người có công với nước, bảo hiểm, bảo trợ xã hội Đểthực hiện được các nội dung trên, các cấp, các ngành có trách nhiệm xây dựngchính quyền cơ sở trong sạch, vững mạnh, hiệu lực, hiệu quả, khắc phục biểuhiện quan liêu, thiếu trách nhiệm, mất dân chủ trong việc giải quyết các côngviệc
Thường xuyên quan tâm xây dựng đội ngũ cán bộ ở cơ sở, có kế hoạchbồi dưỡng, đào tạo về trình độ văn hoá, chuyên môn nghiệp vụ, lý luận chínhtrị và phương pháp công tác, có trách nhiệm, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ tronggiai đoạn cách mạng mới, giai đoạn công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nướchiện nay
Trang 341.2.3 Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ và thực hiện quy chế dân chủ
Tiếp thu và kế thừa các quan điểm về “dân chủ” của nhân loại, Hồ ChíMinh đã tiếp cận và lý giải khái niệm “dân chủ” một cách đơn giản, nhưng hếtsức cô đọng và điều quan trọng là mọi người (đặc biệt là người dân) dễ hiểu,
dễ thực hiện, dễ kiểm soát Người nói, “Chế độ ta là chế độ dân chủ Tức làdân làm chủ” [23,tr.251]
Sau cách mạng tháng 8 năm 1945 thành công, nước Việt Nam dân chủcộng hoà ra đời, chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định rằng: “Nước ta là nước dânchủ,Bao nhiêu lợi ích đều vì dân.Bao nhiêu quyền hạn đều của dân.Công việcđổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân Sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc
là công việc của dân Chính quyền từ xã đến Chính phủ do dân cử ra Đoànthể từ Trung ương đến xã do dân tổ chức nên Nói tóm lại, quyền hành và lựclượng đều ở nơi dân” [21,tr.698] Như vậy, “dân là chủ” và “dân làm chủ” làcốt lõi trong khái niệm “dân chủ” mà Người giải thích
Quan điểm trên đây của Người cho thấy nội dung của dân chủ đã thểhiện được nội dung căn bản nhất của loài người về khái niệm dân chủ - quyềnlực thuộc về nhân dân quan điểm “dân là chủ”, “dân làm chủ” là quan điểmnhất quán trong tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng một chế độ xã hội mới,một Nhà nước kiểu mới ở nước ta, mà trong đó địa vị của người dân từ mộtngười dân mất nước (nô lệ) trở thành chủ nhân của xã hội với tư cách là một
“công dân” và Nhà nước đó đã bảo đảm quyền “là chủ” đó của công dân để
họ trở thành người “làm chủ” trong việc xây dựng Nhà nước và xã hội Dovậy, thực hành dân chủ (biến dân chủ trở thành hiện thực) được Người xemnhư là chiếc “chìa khóa vạn năng” để đi đến thành công
Theo tư tưởng Hồ Chí Minh, nhân dân là người giữ vai trò quyết địnhtrên tất cả các lĩnh vực từ kinh tế, chính trị đến văn hoá, xã hội Từ nhữngchuyện nhỏ có liên quan đến lợi ích của mỗi cá nhân đến những chuyện lớnnhư lựa chọn thể chế, lựa chọn người đứng đầu Nhà nước Người dân có QLC
Trang 35bản thân, nghĩa là quyền được bảo vệ thân thể, được tự do đi lại, tự do hànhnghề, tự do ngôn luận, tự do học tập trong khuôn khổ pháp luật cho phép.Người dân có QLC tập thể, làm chủ địa phương, làm chủ cơ quan nơi mìnhsống và làm việc, người dân có QLC các đoàn thể, các tổ chức chính trị,thông qua bầu cử và bãi miễn Hồ Chí Minh nói “Mọi quyền hạn đều ở nơidân, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân” Người giải thích dân là gốc củanước, dân là người không tiếc máu xương để xây dựng và bảo vệ đất nước,nước không có dân thì không thành nước, nước do dân xây dựng lên, do dânđem xương máu ra bảo vệ, vì vậy dân là chủ đất nước Thực tiễn trong quátrình thực hiện cách mạng do Đảng cộng sản lãnh đạo, nhân dân đã cung cấpcho Đảng những người con ưu tú nhất, lực lượng của Đảng là lớn mạnh đượchay không là do nhân dân là người xây dựng, đồng thời cũng là người bảo vệĐảng, bảo vệ cán bộ của Đảng, nhân dân là lực lượng biến chủ trương đườnglối của Đảng thành hiện thực Do vậy nên không có dân sự tồn tại của Đảngcũng chẳng có ý nghĩa gì đối với Chính phủ và các tổ chức quần chúng cũngnhư vậy, lợi ích của Đảng xuất phát từ lợi ích của nhân dân
Chế độ dân chủ mà nhân dân xây dựng là chế độ dân chủ thực sự là củanhân dân gắn liền với công bằng xã hội, xoá bỏ áp bức bóc lột Cán bộ từ trênxuống dưới làm đầy tớ cho nhân dân, phải xứng đáng là người công bộc trungthành của nhân dân “tài dân, sức dân làm lợi cho dân” Có như vậy mới độngviên được đông đảo nhân dân, tích cực tham gia thực hiện kế hoạch ở địaphương cơ sở mình Khi thi hành xong phải cùng với dân kiểm thảo lại côngviệc, rút kinh nghiệm, phê bình, khen thưởng Dân kiểm tra là một nội dung
về QLC, dựa vào dân mà xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nước và các tổ chứcđoàn thể nhân dân thực sự trong sạch vững mạnh, nhằm bảo vệ lợi ích chínhđáng, hợp pháp của nhân dân, việc đấu tranh chống tham ô lãng phí, quanliêu, cậy thế trái phép chỉ có thể thực hiện có hiệu quả nếu biết thật sự dựavào sự kiểm tra giám sát của quần chúng nhân dân Tư tưởng Hồ Chí Minh về
Trang 36dân chủ đã được thể chế bằng việc xây dựng thực hiện QCDC ở cơ sở hiệnnay là lĩnh vực đề tài tập trung nghiên cứu Đặc biệt trong thời điểm toànĐảng, toàn dân đang dấy lên phong trào thi đua nghiên cứu học tập tư tưởng
Hồ Chí Minh để thấm nhuần hệ thống quan điểm phương pháp cách mạng của
Hồ Chí Minh để kiên định mục tiêu lý tưởng, nâng cao lòng yêu nước, tinhthần phục vụ nhân dân Vận dụng có hiệu quả tư tưởng Hồ Chí Minh vào thựctiễn cuộc sống là nhân tố quyết định thắng lợi của sự nghiệp đổi mới do Đảngkhởi xướng và lãnh đạo Để phát huy quyền dân chủ của nhân dân, Đảng vàNhà nước ta đã có những quan điểm đúng đắn, chủ trương chính sách phù hợpvới điều kiện của đất nước Trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội
an ninh quốc phòng nhất là ở địa bàn cơ sở để đảm bảo và phát huy QLC củanhân dân nhất thiết phải tăng cường sự lãnh đạo của Đảng để làm cho dân chủ
đi đúng định hướng dân chủ xã hội chủ nghĩa là dân chủ thực sự, dân chủ gắnliền với kỷ luật, kỷ cương, lấy Hiến pháp và Pháp luật làm cơ sở pháp lý
1.3 Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đối với việc thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở
1.3.1 Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong hệ thống chính trị nước ta
1.3.1.1 Vị trí và vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
MTTQVN là một bộ phận cấu thành HTCT của nước ta hiện nay Sự quyđịnh này là do yêu cầu khách quan của sự nghiệp cách mạng, là xuất phát tưthể chế chính trị: Nước ta là nước dân chủ, mọi quyền lực thuộc về nhân dân.Đây là vấn đề lịch sử, vấn đề truyền thống Vai trò của Mặt trận không phải tựMặt trận đặt ra mà là do chính nhân dân, chính lịch sử thừa nhận
Từ khi có Đảng là có Mặt trận, ngay sau khi nhân dân giành được chínhquyền, Mặt trận đã trở thành một bộ phận cấu thành của HTCT Tuy vai trò,
vị trí, chức năng và phương thức hoạt động của từng bộ phận cấu thành trongHTCT có khác nhau nhưng đều là công cụ thực hiện và phát huy QLC củanhân dân nhằm một mục đích chung là: Phấn đấu xây dựng một nước Việt
Trang 37Nam hoà bình, độc lập, thống nhất, dân chủ và giàu mạnh, có vị trí xứng đángtrên trường quốc tế Điều 9 Hiến pháp năm 1992 (sữa đổi,bổ sung năm 2001)khẳng định: “Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là tổ chức liên minh chính trị, liênhiệp tự nguyện của tổ chức chính trị, các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xãhội và các cá nhân tiêu biểu trong các giai cấp, các tầng lớp xã hội, các dântộc, các tôn giáo và người Việt Nam định cư ở nước ngoài Mặt trận Tổ quốcViệt Nam và các tổ chức thành viên là cơ sở chính trị của chính quyền nhândân Mặt trận phát huy truyền thống đoàn kết toàn dân, tăng cường sự nhất trí
về chính trị và tinh thần trong nhân dân, tham gia xây dựng và củng cố chínhquyền nhân dân, cùng nhà nước chăm lo và bảo vệ lợi ích chính đáng củanhân dân, động viên nhân dân thực hiện quyền làm chủ, nghiêm chỉnh thihành Hiến pháp và pháp luật, giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước, đạibiểu dân cử và cán bộ, viên chức nhà nước Nhà nước tạo điều kiện để Mặttrận Tổ quốc và các tổ chức thành viên hoạt động có hiệu qủa” [17,tr.68-69].Điều đó càng khẳng định Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là một bộ phận khôngthể thiếu được của Hệ thống chính trị nước ta
Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX khẳng định: “Mặt trận Tổquốc Việt Nam, các đoàn thể nhân dân có vai trò rất quan trọng trong sựnghiệp đaị đoàn kết toàn dân xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, phát huy quyền vàtrách nhiệm làm chủ của nhân dân, thắt chặt mối liên hệ giữa nhân dân vớiĐảng và Nhà nước, thực hiện giám sát của nhân dân đối với công tác, đạođức, lối sống của cán bộ, đảng viên, công chức, đại biểu dân cử và cơ quannhà nước, giải quyết những mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân” [14,tr.47] Đó
là “xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân, tăng cường sự nhất trí về chính trị vàtinh thần trong nhân dân; tuyên truyền, động viên nhân dân phát huy quyềnlàm chủ, thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, nghiêm chỉnhthi hành Hiến pháp và pháp luật, giám sát hoạt động của cơ quan Nhà nước,đại biểu dân cử và cán bộ, công chức nhà nước; tập hợp ý kiến, kiến nghị với
Trang 38Đảng và Nhà nước; tham gia xây dựng và củng cố chính quyền nhân dân;cùng Nhà nước chăm lo, bảo về quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân;tham gia phát triển tình hữu nghị, hợp tác giữa nhân dân Việt Nam với nhândân các nước trong khu vực và trên thế giới” [41,tr.5-6] Thắt chặt mật thiếtgiữa nhân dân với Đảng và Nhà nước để thực hiện thắng lợi công cuộc đổimới.
Quá độ lên Chủ nghĩa xã hội ở nước ta là một quá trình lâu dài, trải quanhiều chặng đường và tồn tại lâu dài nhiều thành phần kinh tế Trong quátrình đó còn có sự khác nhau giữa các giai cấp, các dân tộc, các tầng lớp xãhội, các tôn giáo Những biến đổi về cơ cấu giai cấp và thành phần xã hộiđang đặt ra cho công tác vận động quần chúng nói chung và công tác Mặt trậnnói riêng những vấn đề mới Nhu cầu liên minh, mở rộng việc tập hợp các lựclượng yêu nước đặt ra một cách bức bách Mặt khác các thế lực thù địch đangthực hiện chiến lược diễn biến hoà bình và nhiều âm mưu chia rẽ khối đạiđoàn kết dân tộc, hòng phá hoại sự nghiệp Cách mạng của nhân dân ta
Trong bối cảnh đó, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước,một sự nghiệp đầy khó khăn gian khổ, càng đòi hỏi phải tăng cường khối đạiđoàn kết dân tộc, phát huy QLC của nhân dân Do vậy vai trò của Mặt trận vàcác đoàn thể thành viên càng quan trọng Nâng cao vai trò, tác dụng của Mặttrận trong HTCT và đời sống xã hội là một yêu cầu của công cuộc đổi mớixây dựng và bảo vệ Tổ quốc
1.3.1.2 Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong Hệ thống chính trị Nước ta
Để hiểu rõ hơn vấn đề MTTQVN trong HTCT Nước ta cần phân tích kỷcác điều, khoản của Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
- Mặt trận Tổ quốc Việt Nam với tư cách là bộ phận của HTCT - mộttrong những chủ thể tổ chức thực hiện, phát huy dân chủ, QLC của nhân dân
và tăng cường khối đoàn kết toàn dân Một trong những vấn đề bức xúc nhất
từ nhiều năm nay trong số các vấn đề cơ bản của HTCT ở nước ta là: Làm thế
Trang 39nào có những đòn bẩy để thực sự phát huy dân chủ, QLC của nhân dân Vấn
đề này có thể thấy trong vai trò của MTTQVN Luật MTTQVN ra đời là mộtbước tiến quan trọng trong việc giải quyết nhiệm vụ trọng đại đó, xác định địa
vị pháp lý của MTTQVN trong Hệ thống chính trị và là một công cụ pháp lýhữu hiệu tổ chức thực hiện và phát huy dân chủ, quyền làm chủ của nhân dân.Các điều chương 1 Luật MTTQVN được thiết kế nhằm vừa thiết lập vừa triểnkhai sơ đồ HTCT ở nước ta để đi đến mục tiêu phát huy dân chủ, QLC củanhân dân thông qua một trong những chủ thể của HTCT là MTTQVN Ở đây
có ba vấn đề Luật đã giải quyết trên cơ sở Hiến pháp: MTTQVN là gì ; vị trí
và chức năng của MTTQVN trong HTCT; Quan hệ của MTTQVN với NhàNước, với nhân dân và với các tổ chức và cá nhân là thành viên
Điều Luật MTTQVN quy định : “Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là bộ phậncủa Hệ thống chính trị của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam doĐảng cộng sản Việt Nam lãnh đạo” [41,tr.5] Mặt trận Tổ quốc Việt Nam “là
cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân”[41,tr.5] và “Mặt trận Tổ quốc ViệtNam là tổ chức liên minh chính trị, liên hiệp tự nguyện của tổ chức chínhtrị ” [41,tr.4-5]
Như vậy, Luật đã khẳng định: Một mặt, Đảng cộng sản Việt Nam với tưcách là đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam vừa là tổ chức lãnhđạo Hệ thống chính trị, trong đó có MTTQVN; vừa là tổ chức thành viên củaMTTQVN; Mặt khác MTTQVN - một tổ chức bao gồm hầu hết các thànhphần giai cấp và tầng lớp xã hội ở nước ta là cơ sở chính trị của chính quyềnnhân dân Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là tổ chức liên minh chính trị rộng lớnnhất ở nước ta
MTTQVN tập hợp nhân dân thông qua các đoàn thể và cá nhân rộng rãitrong toàn xã hội để trở thành một bộ phận của HTCT Việc tự nhân dân đứng
ra tổ chức thực hiện và phát huy dân chủ, QLC của mình thông quaMTTQVN với tư cách một bộ phận của HTCT thể hiện ở bản chất và tính
Trang 40nhân dân của MTTQVN, ở nhiệm vụ và chức năng của MTTQVN trongHTCT và ở quan hệ của MTTQVN với Nhà nước.
Phạm vi thành viên tham gia của MTTQVN hết sức rộng rãi, bao gồmcác tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức xã hội và cá nhân tiêu biểu trongtoàn xã hội, người Việt Nam định cư ở nước ngoài (các điều 1 và 4)
Các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của MTTQVN được dựa trên cơ sở
tự nguyện, hiệp thương dân chủ, phối hợp và thống nhất hành động (điều 3) Quan hệ của các tổ chức thành viên trong MTTQVN dựa trên cơ sở thỏathuận hợp tác bình đẳng, đoàn kết chân thành, tôn trọng lẫn nhau (điều 4) Tất
cả những điều đó quy định bản chất và tính nhân dân của MTTQVN
Về bản chất, MTTQVN với tư cách là bộ phận của HTCT, không phải là
cơ quan Nhà nước, mà là nơi tập hợp tự nguyện của mọi tầng lớp xã hộikhông có sự phân biệt nào về giai cấp, quá khứ, tôn giáo, thành phần xã hội.Điều này quy định vị trí, chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn đặc trưng củaMTTQVN trong HTCT (điều 2) Đồng thời chính bản chất đó khẳng địnhMTTQVN là bộ phận quan trọng và không thể thiếu của HTCT, như một tổchức để thực hiện QLC của dân ở nước ta Đây là một nét rất độc đáo của chế
độ chính trị nước ta, thể hiện rõ nét nền dân chủ, trong đó Nhà nước ta là Nhànước của dân, do dân, vì dân và truyền thống Đại đoàn kết quý báu của dântộc Việt Nam Có thể nói MTTQVN chính là cái cốt vật chất đầy sức hút đểchuyển hóa tinh thần và truyền thống đại đoàn kết dân tộc từ sức mạnh tinhthần thành sức mạnh vất chất hiện thực của cả dân tộc thực hiện các nhiệm vụcách mạng của dân Quyền lực chung của nhân dân qua kênh MTTQVN đượcluật MTTQVN xác định nổi bật trong những nhiệm vụ của MTTQVN doMTTQVN tiến hành và tham gia, phối hợp cùng với Nhà nước tiến hànhnhằm thực hiện các nhiệm vụ trọng đại của công cuộc đổi mới và dân chủ hóađất nước (điều 2) Với tư cách là bộ phận của HTCT, MTTQVN trong khithực hiện các nhiệm vụ của mình phải xác lập mối quan hệ với các cơ quan