Một số vấn đề về nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của đội ngũ cán bộ, giảng viên ở Trường Dự bị Đại học Dân tộc 27 1.4.1.. Giả thuyết khoa học Có thể nâng cao hiệ
Trang 1CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ QUẢN LÝ HOẠT
ĐỘNG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, GIẢNG
VIÊN Ở TRƯỜNG DỰ BỊ ĐẠI HỌC
6
1.2.1 Nghiên cứu khoa học và hoạt động nghiên cứu khoa học 14 1.2.2 Quản lý và quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học 17 1.2.3 Hiệu quả và hiệu quả quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học 19 1.2.4 Giải pháp và giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động
1.3 Hoạt động nghiên cứu khoa học của đội ngũ cán bộ, giảng viên ở
1.3.1 Mục đích, yêu cầu hoạt động nghiên cứu khoa học của đội ngũ cán
1.3.2 Đặc điểm của hoạt động nghiên cứu khoa học của đội ngũ cán bộ,
1.4 Một số vấn đề về nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động nghiên cứu
khoa học của đội ngũ cán bộ, giảng viên ở Trường Dự bị Đại học Dân tộc 27 1.4.1 Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động nghiên cứu
khoa học của đội ngũ cán bộ, giảng viên Trường Dự bị Đại học Dân tộc 27 1.4.2 Nội dung nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học
của đội ngũ cán bộ, giảng viên ở Trường Dự bị Đại học Dân tộc 29 1.4.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động 31
Trang 2nghiên cứu khoa học của đội ngũ cán bộ, giảng viên ở Trường Dự bị Đại
học Dân tộc
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ QUẢN LÝ HOẠT
ĐỘNG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA ĐỘI NGŨ CÁN BỘ,
GIẢNG VIÊN Ở TRƯỜNG DỰ BỊ ĐẠI HỌC DÂN TỘC SẦM SƠN
2.1.5 Thực trạng cơ sở vật chất thiết bị dạy học và quản lý cơ sở vật
chất thiết bị dạy học ở Trường Dự bị Đại học Dân tộc Sầm Sơn 44 2.2 Thực trạng hoạt động nghiên cứu khoa học của đội ngũ cán bộ,
giảng viên ở Trường Dự bị Đại học Dân tộc Sầm Sơn 49
2.2.3 Chuyển giao, ứng dụng kết quả nghiên cứu khoa học 52 2.2.4 Đánh giá thực trạng nghiên cứu khoa học 53 2.3 Thực trạng quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của đội ngũ
cán bộ, giảng viên ở Trường Dự bị Đại học Dân tộc Sầm Sơn 55 2.3.1 Việc ban hành văn bản quản lý nghiên cứu khoa học cấp trường 55 2.3.2 Thực trạng quy trình đăng ký, tuyển chọn, giao nhiệm vụ đề tài
NCKH cấp Bộ, cấp trường và sáng kiến kinh nghiệm 56 2.3.3 Đánh giá thực trạng quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của
đội ngũ cán bộ, giảng viên ở Trường Dự bị Đại học Dân tộc Sầm Sơn 58
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN 68
Trang 3LÝ HOẠT ĐỘNG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA ĐỘI NGŨ
CÁN BỘ, GIẢNG VIÊN TRƯỜNG DỰ BỊ ĐẠI HỌC DÂN TỘC
3.2 Một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động nghiên cứu
khoa học của đội ngũ cán bộ, giảng viên Trường Dự bị Đại học Dân
tộc Sầm Sơn
70
3.2.1 Nâng cao nhận thức cho cán bộ giảng viên Trường Dự bị Đại
học Dân tộc Sầm Sơn về sự cần thiết phải quản lý hoạt động nghiên
cứu khoa học
70
3.2.2 Xây dựng định mức nghiên cứu khoa học cho từng chức danh
3.2.3 Tổ chức hoạt động nghiên cứu khoa học của đội ngũ cán bộ,
giảng viên Trường Dự bị Đại học Dân tộc Sầm Sơn một cách bài bản 80
3.2.4 Thường xuyên kiểm tra, đánh giá kết quả hoạt động nghiên cứu
khoa học của đội ngũ cán bộ, giảng viên Trường Dự bị Đại học Dân
tộc Sầm Sơn
86
3.2.5 Đảm bảo các điều kiện để nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động 90
Trang 4nghiên cứu khoa học của đội ngũ cán bộ, giảng viên Trường Dự bị
Đại học Dân tộc Sầm Sơn
3.3 Thăm dò sự cần thiết và tính khả thi của các giải pháp đề xuất 95
PHỤ LỤC
DANH MỤC CÁC BẢNG - BIỂU - SƠ ĐỒ
Bảng 2.1: Tổng hợp chung trình độ đội ngũ giảng viên Trường DBĐH Dân tộc Sầm Sơn, tính đến tháng 3/2014 42
Sơ đồ 2.1: Cơ cấu tổ chức Trường DBĐH Dân tộc Sầm Sơn 42 Bảng 2.2: Tổng hợp chung thâm niên dạy học đội ngũ giảng viên trường DBĐH dân tộc, tính đến tháng 12/2013 43 Bảng 2.3: Tổng hợp chung kết quả xếp loại năng lực chuyên môn đội ngũ giảng viên Trường DBĐH Dân tộc Sầm Sơn năm học 2013 - 2014 43 Bảng 2.4: Tổng hợp chung CSVC Trường Dự bị Đại học Dân tộc Sầm Sơn tính đến tháng 3/2014 44 Bảng 2.5: Tổng hợp chung giá trị TBDH, tài liệu, sách giáo khoa, sách nghiên cứu của Trường trong 3 năm (2011 - 2013) 46 Bảng 2.6: Tổng hợp ý kiến đánh giá của cán bộ quản lý, giảng viên về cơ sở vật chất, thiết bị dạy học 47 Bảng 2.7: Loại hình đề tài nghiên cứu các cấp của Trường Dự bị Đại học Dân tộc Sầm Sơn từ năm 2010 đến nay 49 Biểu đồ 2.1: Cơ cấu loại hình đề tài cấp cơ sở từ năm 2010 đến nay 50
Trang 5Bảng 2.8: Lĩnh vực đề tài nghiên cứu cấp cơ sở từ năm 2010 đến nay 51 Biểu đồ 2.2: Bức tranh lĩnh vực NCKH của Trường Dự bị Đại học Dân tộc Sầm Sơn 52 Bảng 2.9: Đánh giá về chất lượng NCKH của nhà trường 54 Bảng 2.10: Đánh giá quản lý NCKH của Trường Dự bị Đại học Dân tộc Sầm Sơn 58 Bảng 3.1: Kết quả trưng cầu ý kiến về các giải pháp quản lý NCKH tại Trường
vệ Tổ quốc; là một nội dung cần được ưu tiên tập trung đầu tư trước một bước trong hoạt động của các ngành, các cấp Sự lãnh đạo của Đảng, năng lực quản
lý của Nhà nước và tài năng, tâm huyết của đội ngũ cán bộ khoa học và công nghệ đóng vai trò quyết định thành công của sự nghiệp phát triển khoa học và công nghệ Đầu tư cho nhân lực khoa học và công nghệ là đầu tư cho phát triển bền vững, trực tiếp nâng tầm trí tuệ và sức mạnh của dân tộc Đảng và Nhà nước có chính sách phát triển, phát huy và trọng dụng đội ngũ cán bộ khoa học và công nghệ
Trang 6Ngày 07/11/2013 Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Nguyễn Quân công bố khởi động dự án FIRT do Ngân hàng thế giới World Bank dự án tài trợ đầu tiên cho Việt Nam với số vốn lên tới 110 triệu USD Thông qua việc tăng cường hiệu quả hoạt động nghiên cứu khoa học, phát triển và ứng dụng công nghệ, thúc đẩy sáng tạo, đổi mới công nghệ để tạo thêm giá trị gia tăng cho nền kinh tế Những tiêu chí rất phù hợp với định hướng phát triển khoa học công nghệ của Việt Nam, điều này sẽ giúp lĩnh vực này hoàn thành những mục tiêu đã và đang đặt ra
Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã ký ban hành Nghị quyết Hội nghị lần thứ 8, Ban Chấp hành Trung ương khóa XI (nghị quyết số 29-NQ/TW) ngày 05/11/2013 nêu rõ, thực hiện Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII và các chủ trương của Đảng, Nhà nước về định hướng chiến lượng GDĐT trong thời kỳ CNH-HĐH, lĩnh vực GDĐT nước ta đã đạt được những thành tựu quan trọng, góp phần to lớn vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Tuy nhiên chất lượng và hiệu quả còn thấp so với yêu cầu nhất là giáo dục Đại học, giáo dục nghề nghiệp Hệ thống GDĐT thiếu tính liên thông giữa các trình độ và giữa các phương thức Đào tạo thiếu gắn kết với nghiên cứu khoa học, sản xuất, kinh doanh và nhu cầu thị trường lao động; chưa chú trọng đúng mức việc giáo dục đạo đức, lối sống và kỹ năng làm việc… Đặc biệt là 9 nhiệm vụ, giải pháp cho nền giáo dục từ nay cho đến năm 2030: “Thứ 8, nâng cao chất lượng, hiệu quả nghiên cứu và ứng dụng khoa học, công nghệ, đặc biệt là khoa học giáo dục và khoa học quản lý và cuối cùng là chủ động hội nhập và nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế trong GDĐT…”
Xuất phát từ lý do đó yêu cầu Ngành Giáo dục phải: “Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu CNH-HĐH trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế” Để đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục ngành giáo dục cần chú trọng phát triển
Trang 7công tác NCKH, áp dụng các kết quả nghiên cứu khoa học vào thực tiễn giảng dạy góp phần nâng cao chất lượng đào tạo đáp ứng nhu cầu thực tiễn
Trong hệ thống giáo dục quốc dân ở Việt Nam Trường DBĐH Dân tộc thuộc hệ thống các trường đại học, cao đẳng Nhiệm vụ của trường là bồi dưỡng cho học sinh dân tộc thiểu số thi trượt đại học có đủ trình độ học ở các trường đại học, cao đẳng; Đối với mỗi giảng viên trong Nhà trường có nhiệm
vụ giảng dạy và NCKH Hiện nay, rất ít các đề tài NCKH về mô hình, về chương trình, về nội dung giảng dạy trong hệ thống Trường DBĐH Vì vậy, NCKH trong hệ thống các trường đại học nói chung và DBĐH nói riêng là việc làm cần thiết Thông qua hoạt động NCKH nhằm phát huy năng lực trí tuệ vốn có của mỗi người, hình thành kỹ năng, phương pháp NCKH cho CBGV và giúp họ có được thói quen làm việc độc lập, sáng tạo để củng cố chuyên môn, nghiệp vụ, nâng cao trình độ và sáng tạo những giá trị mới cho xã hội
Đội ngũ CBGV đa phần đang còn trẻ nên công tác NCKH đang còn thiếu về kinh nghiệm và yếu về chất lượng Mặt khác công tác NCKH trong những năm qua mới chỉ dừng lại ở bước đầu tập dượt Kết quả nghiên cứu chủ yếu về mặt lý thuyết, còn hạn chế trong việc ứng dụng thực tiễn hoạt động giảng dạy và học tập, việc quản lý NCKH trong Nhà trường phần lớn dựa trên các văn bản giấy tờ, chủ yếu mang tính thủ công
Hiện nay, công tác quản lý hoạt động NCKH của đội ngũ CBGV còn gặp những hạn chế, để tìm ra phương hướng khắc phục và góp phần nâng cao chất lượng NCKH cũng như chất lượng đào tạo giảng viên và cán bộ quản lý
Xuất phát từ những lý do trên chúng tôi lựa chọn đề tài “Nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của đội ngũ cán bộ, giảng viên Trường Dự bị Đại học Dân tộc Sầm Sơn” để nghiên cứu
2 Mục đích nghiên cứu của đề tài
Trang 8Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn, đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động NCKH học của đội ngũ CBGV Trường
Dự bị Đại học Dân tộc Sầm Sơn
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu
Vấn đề quản lý hoạt động NCKH của CBGV Trường Dự bị Đại học Dân tộc
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động NCKH của đội ngũ CBGV Trường DBĐH Dân tộc Sầm Sơn
4 Giả thuyết khoa học
Có thể nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động NCKH của đội ngũ CBGV Trường Dự bị Đại học Dân tộc Sầm Sơn nếu đề xuất được các giải pháp có
cơ sở khoa học và có tính khả thi
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Tìm hiểu cơ sở lý luận của vấn đề quản lý hoạt động NCKH của đội ngũ CBGV Trường Dự bị Đại học Dân tộc
5.2 Tìm hiểu cơ sở thực tiễn của vấn đề quản lý hoạt động NCKH của đội ngũ CBGV Trường Dự bị Đại học Dân tộc Sầm Sơn
5.3 Đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động NCKH của đội ngũ CBGV Trường Dự bị Đại học Dân tộc Sầm Sơn
6 Phương pháp nghiên cứu
6.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
Nhóm phương pháp này nhằm thu thập các thông tin lý luận để xây dựng cơ sở lý luận của đề tài Thuộc nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
có các phương pháp nghiên cứu cụ thể sau đây:
Trang 9- Phương pháp phân tích - tổng hợp tài liệu
- Phương pháp khái quát hóa các nhận định độc lập
6.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Nhóm phương pháp này nhằm thu thập các thông tin thực tiễn để xây dựng cơ sở thực tiễn của đề tài Thuộc nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn có các phương pháp nghiên cứu cụ thể sau đây:
- Phương pháp điều tra
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm giáo dục
- Phương pháp nghiên cứu các sản phẩm hoạt động
- Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia
6.3 Phương pháp thống kê toán học
Để xử lí các số liệu các kết quả nghiên cứu, trên cơ sở đó có nhận định, đánh giá đúng đắn, chính xác các kết quả nghiên cứu
7 Đóng góp của luận văn
7.1 Về mặt lý luận
Khái quát hóa các vấn đề lý luận về quản lý hoạt động NCKH nói chung, quản lý hoạt động NCKH của đội ngũ CBGV Trường Dự bị Đại học Dân tộc nói riêng
7.2 Về mặt thực tiễn
Đánh giá thực trạng quản lý hoạt động NCKH của đội ngũ CBGV Trường Dự bị Đại học Dân tộc Sầm Sơn; từ đó đề xuất các giải pháp có cơ sở khoa học, có tính khả thi để nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động NCKH của đội ngũ CBGV Trường Dự bị Đại học Dân tộc Sầm Sơn
8 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, đề tài được chia thành 3 chương:
- Chương 1: Cơ sở lý luận của vấn đề quản lý hoạt động nghiên cứu
Trang 10khoa học của đội ngũ cán bộ, giảng viên Trường Dự bị Đại học Dân tộc
- Chương 2: Cơ sở thực tiễn của vấn đề quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của đội ngũ cán bộ, giảng viên Trường Dự bị Đại học Dân tộc Sầm Sơn
- Chương 3: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của đội ngũ cán bộ, giảng viên Trường Dự bị Đại học Dân tộc Sầm Sơn
Trang 11CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, GIẢNG VIÊN
Ở TRƯỜNG DỰ BỊ ĐẠI HỌC DÂN TỘC 1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Giáo dục đại học được quan tâm hàng đầu vào giai đoạn những thập niên cuối thế kỷ XX, khi KHCN phát triển với tốc độ mạnh mẽ Để đáp ứng yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực có trình độ cao, quá trình đào tạo ở các trường đại học đã gắn chặt chẽ với NCKH, với thực tiễn cuộc sống NCKH đóng một vai trò, một sứ mệnh to lớn là căn cứ để các trường cập nhật, đổi mới chương trình và nội dung đào tạo nhằm đưa nền giáo dục nước ta hội nhập với khu vực và thế giới Việc tìm ra các giải pháp hay các biện pháp quản lý nhằm nâng cao hiệu quả NCKH trong các trường đại học là một trong những vấn đề được quan tâm của rất nhiều nhà chuyên gia, khoa học có tâm huyết trong và ngoài nước
1.1.1 Những nghiên cứu ở nước ngoài
Theo một số tài liệu nghiên cứu chúng tôi thấy các nước khẳng định vai trò của KHCN là mũi nhọn trong phát triển KTXH NCKH là một hoạt động không thể thiếu trong phát triển KHCN, một trong những chức năng quan trọng nhất, một thành phần cốt lõi của trường đại học nhằm theo đuổi các chiến lược và mục tiêu xác định nhằm khuyến khích nghiên cứu
Tổ chức quản lý NCKH các trường đại học ở Liên Xô trước đây rất coi trọng các hình thức tổ chức NCKH Trong các công trình triết học, thiên tài Lênin đã xây dựng cơ sở phương pháp luận khoa học của nền khoa học tự nhiên hiện đại và cũng theo sáng kiến của Lênin lần đầu tiên trong lịch sử khoa học, Liên Xô bắt đầu kế hoạch hoá khoa học trong quy mô toàn quốc đề
ra và thực hiện thành công chính sách phát triển khoa học thống nhất trong
Trang 12toàn quốc
Sự hoạt động nhịp nhàng của hệ thống khoa học kỹ thuật quốc gia đòi hỏi các nhà tổ chức và quản lý chỉ có thể tác động một cách có hiệu quả trong
cơ cấu tổ chức thực sự có chức năng
W.Humboldt (1767 - 1835) người sáng lập trường Đại học Berlin cũng
đã có ý kiến cho rằng với nhiệm vụ đi tìm tri thức, trường đại học không thể gạt bỏ toàn bộ lĩnh vực NCKH cho các viện khoa học và nếu làm như vậy thì
đã tự phủ định mình
Các kế hoạch công tác NCKH đề cập đến các vấn đề như cụ thể hóa các mục tiêu và trình tự đạt được những mục tiêu đó: tiên đoán các kết quả nghiên cứu; kế hoạch công tác NCKH phải linh hoạt; đảm bảo bố trí tốt chất lượng
và phân phối hợp lý nguồn vật lực; thông tin kế hoạch khoa học để đội ngũ cán bộ xác định đúng đắn phương hướng trong mỗi vấn đề của khoa học; thể hiện nguyên tắc điều khòa NCKH; kế hoạch NCKH là những yếu tố phương pháp luận quan trọng, tạo điều kiện lựa chọn con đường hữu hiệu nhất để đạt mục tiêu đặt ra” [16, tr.256]
Bikas, Sanyal (2003) cho rằng để góp phần cải tiến chất lượng giảng dạy và nghiên cứu các trường đại học tiến hành đánh giá thường xuyên các mặt mạnh và mặt yếu liên quan đến các chương trình nghiên cứu và giảng dạy” [2, tr.59]
Trong quản lý NCKH, một số nước phát triển đã sử dụng phương pháp đánh giá để quản lý hiệu quả các công trình NCKH như: Đại học Hà Lan, Hoa
Kì, Thụy Sĩ, Đức Ở Đại học Bắc Kinh, Thanh Hoa của Trung Quốc đã quan tâm đến năng lực đào tạo, nghiên cứu chuyển giao công nghệ hiện đại Sự hoạt động nghiên cứu và phát triển KTXH; tổ chức nghiên cứu; quản lý nâng cao chất lượng nghiên cứu… [17, tr.264-291]
Hoa Kỳ có quy định riêng cho quản lý NCKH của giảng viên, như Khoa
Trang 13Sinh trường Đại học Brokport Bang New York năm 2000 đã đề ra những tiêu chí cụ thể hóa 30% số giờ chuẩn hoạt động NCKH của giảng viên Quy định này thuận lợi cho việc xem xét đánh giá những đóng góp của giảng viên và để xem xét chức danh khoa học Trong báo cáo tự đánh giá của trường Đại học Newcastle (Úc) và Đại học Ganganagar (Ấn Độ) các tiêu chí đánh giá về NCKH của giảng viên các trường được xem là một mặt quan trọng trong đánh giá chất lượng GDĐT của trường
Nghiên cứu phát triển giáo dục và NCKH các nước châu Âu để đưa tư tưởng mới vào giáo dục đại học sư phạm với các môn học sâu rộng, tổng quát cùng với tham khảo nội dung chương trình dạy tại đại học Oxford và Đại học Camridge Tại Ấn Độ thiết lập ủy ban nghiên cứu giáo dục để tái tổ chức khoa học, cải tiến phương pháp kiểm tra đánh giá; giáo dục tuyền thông… [33 tr.27]
Trong Chiến lược 1998 - 2000 của Bộ Giáo dục Hoa Kỳ đánh giá NCKH giáo dục góp phần cải thiện nề giáo dục quốc gia và xây dựng kế hoạch phát triển khoa học giáo dục theo hướng phát triển đào tạo liên thông
và dịch vụ xã hội
UNESCO đã tổng kết kinh nghiệm: “Cơ cấu tổ chức quản lý chỉ phát huy được hiệu quả khi mà chức năng, quyền hạn và quyền lực - những yếu tố cấu thành của cơ cấu đó - được xác định một cách rõ ràng và đơn vị Ngoài ra những cấp chức năng (cấp ra quyết định, cấp chuẩn bị quyết định và quản lý, cấp thúc đẩy nghiên cứu và thực hiện) và những thành viên khác nhau của những cấp đó phải được phân biệt đầy đủ một cách rõ ràng” [8, tr35]
Tóm lại, ở nước ngoài qua nhiều công trình khoa học cho thấy các tác giả quan tâm không chỉ về phương diện phương pháp luận mà còn đặc biệt quan tâm đến các vấn đề về tổ chức và các kỹ năng cụ thể cần được huấn luyện, trang bị cho sinh viên sư phạm, giảng viên của các trường
Trang 141.1.2 Những nghiên cứu ở trong nước
Chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan tâm đến KHCN, Người cho rằng KHCN
có ảnh hưởng rất lớn đến sự nghiệp đấu tranh và giải phóng dân tộc Muốn xây dựng và phát triển đất nước thì phải quan tâm tới KHCN, Người không ngừng chăm lo bồi dưỡng, đào tạo đội ngũ cán bộ KHKT để phục vụ nước nhà
Hiện nay, với sự nhảy vọt của KHCN, nhân loại đang bước đầu quá độ sang nền kinh tế tri thức, cùng với đó là xu thế toàn cầu hoá đang diễn ra mạnh mẽ trên thế giới Trước bối cảnh đó, triết lý về giáo dục cho thế kỷ XXI
có những biến động to lớn lấy học thường xuyên suốt đời làm nền móng nhằm hướng tới xây dựng một xã hội học tập cùng với đó là sự phát triển nhanh chóng của GDĐH thế giới Để đáp ứng sự thay đổi đó giáo dục phải có các nhiệm vụ và giải pháp đổi mới GDĐH mới hoà nhập cùng với GDĐH thế giới
Một là, điều chỉnh cơ cấu trình độ và hệ thống nhà trường nhằm làm cho GDĐH phù hợp với yêu cầu phát triển KTXH của đất nước và những xu hướng phát triển của thế giới
Hai là, xây dựng quy trình đào tạo mềm dẻo và liên thông, đổi mới mục tiêu, nội dung, phương pháp giảng dạy và học tập ở đại học
Ba là, xây dựng đội ngũ giảng viên, cán bộ QLGD đại học có bản lĩnh chính trị, có phẩm chất đạo đức và lương tâm nghề nghiệp, có trình độ chuyên môn cao, phong cách quản lý và giảng dạy tiên tiến hiện đại
Bốn là, tăng cường hoạt động nghiên cứu và triển khai nhằm nâng cao chất lượng đào tạo, trực tiếp giải quyết những vấn đề từ thực tiễn phát triển KTXH và tăng nguồn thu cho nhà trường
Năm là, đổi mới cơ chế tài chính GDĐH nhằm đa dạng hoá nguồn lực
và nâng cao hiệu quả đầu tư
Trang 15Sáu là, đổi mới quản lý GDĐH theo hướng tăng quyền tự chủ, nâng cao trách nhiệm xã hội và thúc đẩy năng lực cạnh tranh của các trường đại học
Bảy là, nâng cao sức cạnh tranh của hệ thống GDĐH trong quá trình hội nhập quốc tế
Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến sự phát triển KHCN, GDĐT, các nghị quyết, các chủ trương đều luôn coi trọng KHCN Tại Đại hội Đảng lần thứ VI (1986) đã đề ra đường lối đổi mới, trong đó KHCN được coi là động lực thúc đẩy công cuộc đổi mới toàn diện của đất nước; nghị quyết TW2 khoá VIII (1996) đã khẳng định quyết tâm của Đảng trong phát triển KHCN, coi KHCN là quốc sách hàng đầu, khẳng định vai trò nền tảng động lực để thúc đẩy CNH-HĐH đất nước, Nghị quyết đã nhấn mạnh “Các trường đại học phải là trung tâm NCKH, công nghệ, chuyển giao và ứng dụng công nghệ vào sản xuất và đời sống” Nghị quyết 37/TW của Bộ Chính trị khẳng định “Mỗi trường đại học phải là một cơ sở giảng dạy, đồng thời là một cơ sở NCKH” cho thấy sự quan tâm hơn nữa của Đảng về vai trò của KHCN trong các trường đại học Tại Nghị quyết 26/TW của Bộ chính trị tiếp tục nhấn mạnh
“Các trường đại học vừa là cơ sở nghiên cứu và ứng dụng KHCN” và “đảm bảo kết hợp giữa viện nghiên cứu và trường đại học, gắn nghiên cứu triển khai với sản xuất kinh doanh” Nghị quyết Hội nghị lần thứ 8, Ban Chấp hành Trung ương khóa XI (nghị quyết số 29-NQ/TW) ngày 05/11/2013 nêu rõ, thực hiện Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII và các chủ trương của Đảng, Nhà nước về định hướng chiến lượng GDĐT trong thời kỳ CNH-HĐH, lĩnh vực GDĐT nước ta đã đạt được những thành tựu quan trọng, góp phần to lớn vào
sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Tuy nhiên chất lượng và hiệu quả còn thấp so với yêu cầu nhất là GDĐH, giáo dục nghề nghiệp Hệ thống GDĐT thiếu tính liên thông giữa các trình độ và giữa các phương thức Đào tạo thiếu gắn kết với NCKH, sản xuất, kinh doanh và nhu cầu thị trường lao động; chưa
Trang 16chú trọng đúng mức việc giáo dục đạo đức, lối sống và kỹ năng làm việc… Đặc biệt là 9 nhiệm vụ, giải pháp cho nền giáo dục từ nay cho đến năm 2030:
“Thứ 8, nâng cao chất lượng, hiệu quả nghiên cứu và ứng dụng KHCN, đặc biệt là khoa học giáo dục và khoa học quản lý và cuối cùng là chủ động hội nhập và nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế trong giáo dục, đào tạo…”[11, tr.8-11]
Nghị quyết số 14/2005/NQCP về đổi mới cơ bản và toàn diện GDĐH Việt Nam giai đoạn 2006 - 2020 có ghi “gắn kết chặt chẽ đổi mới giáo dục với chiến lược phát triển KTXH, củng cố quốc phòng an ninh, nhu cầu nhân lực trình độ cao của đất nước và xu thế của KHCN” [32]
Trong điều lệ trường đại học có ghi rõ nhiệm vụ của trường đại học (Điều 9) “tiến hành NCKH và phát triển công nghệ; kết hợp đào tạo với NCKH và sản xuất, dịch vụ KHCN theo quy định của luật KHCN, luật giáo dục và các quy định khác của pháp luật Phát hiện và bồi dưỡng nhân tài trong những người học và trong đội ngũ cán bộ giảng viên của trường” [38]
Có thể nói rằng, các nghị quyết, nghị định, chỉ thị của Đảng và Chính phủ đã khẳng định vai trò to lớn của KHCN trong công cuộc CNH - HĐH đất nước Đây cũng là các văn bản quan trọng định hướng sự phát triển của KHCN, đặt ra các mục tiêu cụ thể về quản lý hoạt động KHCN trong các trường đại học, đặc biệt là trong giai đoạn hiện nay
Từ nhận thức đúng đắn về vai trò quyết định của công tác quản lý hoạt động KHCN mà đã có các nhà khoa học đã tiến hành các nghiên cứu về tính hiệu quả của nó qua các đề tài:
Năm 1991 Viện nghiên cứu phát triển giáo dục được Bộ GDĐT giao cho chủ trì đề tài: “Nghiên cứu những biện pháp để phát triển và nâng cao hiệu quả hoạt động KHCN và lao động sản xuất trong nhà trường” mã số B91-38-14 do KS Vũ Tiến Trinh làm chủ nhiệm [49]
Trang 17Năm 1995 Viện nghiên cứu phát triển giáo dục được Bộ GDĐT giao cho chủ trì đề tài: “Điều tra đánh giá hiện trạng tiềm lực KHCN của các trường đại học và cao đẳng Việt Nam” đề tài độc lập cấp Bộ, do GS.TS Thân Đức Hiền làm chủ nhiệm [20]
Các đề tài có tên trên được tiến hành nghiên cứu và đã có những đóng góp cho công tác quản lý hoạt động KHCN của ngành giáo dục cũng như điều tra thống kê nguồn lực KHCN của các trường đại học Các biện pháp được đề
ra cũng chỉ giới hạn trong một chừng mực nhất định do sự nghiệp đổi mới quản lý KTXH có nhiều thay đổi đang đặt ra nhiều yêu cầu mới
Bài viết “Công tác nghiên cứu khoa học với việc nâng cao chất lượng đào tạo” của Nguyễn Tấn Phát [36]; Các tác giả đều nhấn mạnh việc đưa NCKH vào trường học sẽ thúc đẩy sự phát triển khoa học giáo dục, đem lại những tiến bộ vững chắc cho việc dạy học và giáo dục đồng thời nâng cao hiệu quả đào tạo ở các trường sư phạm
Năm 1992, giáo trình “Phương pháp luận và các phương pháp nghiên cứu khoa học giáo dục” của tác giả Đặng Vũ Hoạt và Hà Thị Đức [21] đã đưa
ra những khái niệm chung về phương pháp luận khoa học giáo dục, những nguyên tắc phương pháp luận và những giai đoạn nghiên cứu một đề tài khoa học
Lê Tử Thành (1996), “Giáo trình Logic học và phương pháp luận nghiên cứu khoa học”, đã giải đáp những yêu cầu của sinh viên, học viên cao học về kiến thức và cách tiến hành NCKH hiệu quả [47] Tác giả Nguyễn Văn
Lê trong tài liệu “Phương pháp luận nghiên cứu khoa học” [30] đã hướng dẫn cách chọn đề tài, chuẩn bị nghiên cứu và có kiến thức về các phương pháp NCKH Trong tác phẩm “Phương pháp và kỹ thuật trong nghiên cứu xã hội” của tác giả Nguyễn Xuân Nghĩa chú trọng giới thiệu các phương pháp và kỹ thuật trong nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng [33]
Trang 18Năm 1996 -1997, hai giáo trình “Phương pháp nghiên cứu khoa học giáo dục” [51] và “phương pháp luận nghiên cứu khoa học” [52] của Phạm Viết Vượng đã cung cấp cho sinh viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh những phương pháp luận, cấu trúc công trình NCKH, các giai đoạn tiến hành một đề tài NCKH để hỗ trợ họ thành công trong việc thực hiện các công trình NCKH
Năm 2009, Hoàng Thị Nhị Hà bảo vệ thành công luận án tiến sĩ về
“Quản lý nghiên cứu khoa học ở các trường đại học sư phạm” [18]
Công đoàn ngành giáo dục Việt Nam thuộc Bộ GDĐT (1/2008) đã tổ chức Hội thảo: “Tăng cường nhận thức trách nhiệm của cán bộ, giảng viên nhằm nâng cao hiệu quả công tác NCKH và chuyển giao công nghệ”, đã quy tập được các ý kiến đóng góp của nhiều trường đại học trong cả nước với mục đích “tìm ra những giải pháp đồng bộ để góp phần xây dựng đội ngũ giảng viên, cán bộ NCKH có bản lĩnh chính trị, có phẩm chất đạo đức và lương tâm nghề nghiệp, có trình độ chuyên môn cao, phong cách quản lý, giảng dạy và NCKH tiên tiến, hiện đại” [9] Từ đó tìm ra mô hình quản lý nâng cao chất lượng hoạt động NCKH trong giai đoạn hiện nay, từ cấp đại học quốc gia đến
đại học vùng hay các trường đại học đều nhận thức được “các yêu cầu đổi mới
về công tác quản lý NCKH đã và đang đặt ra nhiều vấn đề cấp bách”
Trong các chương trình hành động của Đảng bộ Trường Dự bị Đại học
có đưa chương trình đổi mới công tác quản lý khoa học của Trường Dự bị Đại học Dân tộc Sầm Sơn nhằm từng bước đưa hoạt động KHCN thực sự trở thành một trong những nhiệm vụ chính, ngang tầm với nhiệm vụ bồi dưỡng
dự bị đại học
Trong những năm gần đây, có khá nhiều bài viết về hoạt động KHCN của các trường đại học, cao đẳng được đăng trên các tạp chí đều đề cập tới các giải pháp, biện pháp nâng cao chất lượng KHCN với đào tạo và thực tiễn kinh
Trang 19tế xã hội trong việc thực hiện các mục tiêu của các trường đại học
Các giáo trình về phương pháp NCKH hay phương pháp luận NCKH của các tác giả, như: Phạm Viết Vượng, Vũ Cao Đàm, Nguyễn Văn Hộ, Phạm Hồng Quang, Lưu Xuân Mới,… đều nhằm cung cấp những kiến thức chung
về phương pháp luận, phương pháp cấu trúc công trình NCKH
Tóm lại, qua các văn bản, hội thảo và công trình nghiên cứu trong và ngoài nước, có thể thấy các tác giả rất quan tâm tới các vấn đề phương pháp luận và phương pháp tổ chức quản lý NCKH cũng như những kỹ thuật và thủ tục tổ chức NCKH Những kết quả nghiên cứu trên đã góp phần to lớn vào việc nâng cao chất lượng NCKH trong các trường cao đẳng, đại học
Tuy nhiên, để chất lượng hiệu quả hoạt động đề tài NCKH của đội ngũ CBGV được nâng cao hơn nữa, chúng ta cần tăng cường nghiên cứu các biện pháp cụ thể phù hợp với thực tế đào tạo của Trường Dự bị Đại học Dân tộc Sầm Sơn trong giai đoạn hiện nay
1.2 Các khái niệm cơ bản của đề tài
1.2.1 Nghiên cứu khoa học và hoạt động nghiên cứu khoa học
1.2.1.1 Nghiên cứu khoa học
- Khoa học: Khoa học là những tri thức về các quy luật của tự nhiên, xã hội và tư duy Hay nói cách khác khoa học là một hoạt động xã hội nhằm tìm tòi, phát hiện quy luật của sự vật và hiện tượng và vận dụng các quy luật ấy
để sáng tạo ra các nguyên lý các giải pháp tác động vào các sự vật hiện tượng nhằm biến đổi trạng thái của chúng
- Nghiên cứu khoa học: Trong các tài liệu hiện nay có khá nhiều định nghĩa về NCKH, sau đây xin được điểm tới những ví dụ tiêu biểu nhất:
- Theo tác giả Vũ Cao Đàm trong giáo trình “Phương pháp luận NCKH” cho rằng: “NCKH là hoạt động hướng xã hội vào việc tìm kiếm những điều mà khoa học chưa biết hoặc phát hiện ra bản chất sự việc, phát
Trang 20triển nhận thức khoa học về thế giới quan và cách vận dụng chúng vào việc cải tạo thế giới” [9]
- Theo tác giả Hà Thế Ngữ, “NCKH là một quá trình nghiên cứu hiện thực khách quan, phát hiện ra những hiểu biết mới có tính quy luật, có tính chân lý hoặc tìm ra được những quy luật mới, chân lý mới trong hiện thực đó” [34.tr10]
- Tác giả Phạm Viết Vượng đã viết: “NCKH là hoạt động có mục đích,
có kế hoạch, được tổ chức chặt chẽ của các nhà khoa học nhằm khám phá ra bản chất và quy luật của thế giới khách quan và vận dụng chúng vào việc cải tạo thế giới” [51.tr21]
- Tác giả Lưu Xuân Mới trình bày quan điểm của mình như sau:
“NCKH là quá trình nhận thức chân lý khoa học, một hoạt động trí tuệ đặc
thù bằng những phương pháp nghiên cứu nhất định để tìm kiếm, để chỉ ra một cách chính xác và có mục đích những điều mà con người chưa biết đến” [31]
- Theo Bùi Văn Quân “NCKH là nhằm tìm ra lời giải cho một tình
huống có vấn đề, lời giải đó có thể là một thông tin, một phương pháp… mà trước đó chưa có” [37]
Theo luật Khoa học và công nghệ “NCKH là một hoạt động phát hiện, tìm hiểu các hiện tượng, sự vật, quy luật của tự nhiên, xã hội và tư duy, sáng tạo các giải pháp nhằm ứng dụng vào thực tiễn” [38]
Theo chúng tôi: NCKH là hoạt động phát hiện, tìm hiểu các hiện tượng,
sự vật, quy luật của tự nhiên, xã hội và tư duy, sáng tạo các giải pháp nhằm ứng dụng vào thực tiễn NCKH bao gồm nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng Hoạt động NCKH có các đặc trưng cơ bản, như sau: Hoạt động luôn tìm đến cái mới: Tính mới mẻ thể hiện ở quan điểm tiếp cận, cách đặt vấn đề, phương pháp triển khai, phương pháp thực nghiệm đến quá trình nhận thức để cải tạo thế giới Kết quả trong nghiên cứu còn là quá trình phát triển tư duy
Trang 21khoa học một cách mới mẻ, sản phẩm khoa học còn chứa đựng yếu tố mới
1.2.2.2 Hoạt động nghiên cứu khoa học
Hoạt động NCKH mang tính đặc trưng thông tin, đó là đòi hỏi phải có tính chất khái quát cao, thông tin mới, có giá trị phục vụ cho nghiên cứu, thông tin do nghiên cứu đem lại phải khách quan và có độ tin cậy cao
Hoạt động NCKH đòi hỏi phải mạnh dạn, mạo hiểm chính là ở chỗ chủ thể nghiên cứu dám đi sâu vào nghiên cứu những lĩnh vực khó khăn, hoặc ít người quan tâm, đó là các đề xuất các ý kiến mạnh dạn, thẳng thắn, có khi cả vấn đề nhạy cảm… các nhà khoa học phải dấn thân vào nghiên cứu với những giả thiết mới có luận cứ và sẵn sàng chấp nhận sự thất bại
Hoạt động NCKH còn mang tính “phi kinh tế” trong nghiên cứu Đặc điểm này cho thấy thực tế trong NCKH không thể tính lời hay lãi, giá trị kinh
tế không thể đưa lên bàn cân để đong đếm, khó hạch toán về giá trị kinh tế, chúng ta chỉ xem xét kết quả hay sản phẩm nghiên cứu đóng góp cho sự nghiệp khoa học
Tính độc đáo của cá nhân kết hợp với vai trò của tập thể khoa học trong
xu thế hội nhập hiện nay sự hợp tác trong NCKH là rất quan trọng Nếu không có đặc trưng này trong NCKH thì sẽ gặp rất nhiều khó khăn, không tạo được các kết quả nghiên cứu, đặc biệt là sự thiếu hợp tác gắn kết giữa các nhà khoa học, các chuyên ngành nghiên cứu với nhau là sự lãng phí rất lớn trong hoạt động NCKH, thể hiện sự thiếu đồng nhất chưa tìm được tiếng nói chung trong NCKH
- Hoạt động KHCN: Bao gồm NCKH, nghiên cứu và phát triển công nghệ, dịch vụ KHCN, hoạt động phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, hợp lý hoá sản xuất và các hoạt động khác nhằm phát triển KHCN
Trang 221.2.2 Quản lý và quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học
1.2.2.1 Quản lý
Là một hoạt động đặc biệt, là yếu tố không thể thiếu trong đời sống xã hội, gắn liền với quá trình phát triển, đặc biệt trong xã hội phát triển như hiện nay thì quản lý có vai trò rất lớn Theo C.Mác quản lý (QLXH) là chức năng được sinh ra từ tính xã hội hoá lao động Nó có tầm quan trọng đặc biệt vì mọi sự phát triển của xã hội đều thông qua hoạt động của con người và thông qua quản lý (con người điều khiển con người) Chính Người viết: “Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng đều cần đến một sự chỉ đạo để điều hoà những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất khác với sự vận động của những khí quan độc lập của nó Một người độc tấu vĩ cầm tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng”
Định nghĩa về quản lý, tác giả Phạm Viết Vượng đưa ra định nghĩa như sau: “Quản lý là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý lên đối tượng quản
lý nhằm chỉ huy, điều hành, hướng dẫn các quá trình xã hội và hành vi của cá nhân hướng đến mục đích hoạt động chung phù hợp với quy luật khách quan” [51
Theo Nguyễn Văn Đạm: “Quản lý là tổ chức, điều khiển vào theo dõi thực hiện như đường lối của chính quyền quy định” [10, tr.663]
Theo tác giả Trần Quốc Thành có nhiều cách tiếp cận khác nhau về khái niệm quản lý: Dưới góc độ điều khiển học: “Quản lý là tính toán sử dụng các nguồn lực một cách hợp lý nhất để đạt tới hiệu quả kinh tế cao nhất” [48]
Dưới góc độ chính trị xã hội: “Quản lý là tổ hợp những cách thức, những phương hướng, phương pháp tác động vào đối tượng để phát huy khả năng của đối tượng nhằm thúc đẩy sự tiến bộ của xã hội”
Trang 23Dưới góc độ hành động: “Quản lý là quá trình điều khiển những đối tượng quản lý để đạt được mục tiêu mong muốn”
Dưới góc độ kinh tế học: “Quản lý là tính toán sử dụng các nguồn lực một cách hợp lý nhất để đạt tới hiệu quả kinh tế cao nhất”
Tóm lại quản lý là hoạt động có ý thức của chủ thể quản lý nhằm điều khiển tác động lên đối tượng, khách thể quản lý để đạt được mục tiêu quản lý
Toàn bộ hoạt động quản lý đều được thực hiện thông qua các chức năng quản lý, nếu không xác định được các chức năng quản lý thì chủ thể quản lý không thể điều hành được hệ thống quản lý
1.2.2.2 Quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học
- Quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học: Được hiểu theo hai cấp độ khác nhau cấp vĩ mô và cấp vi mô:
Đối với cấp vĩ mô: Quản lý nghiên cứu khoa học được hiểu là những tác động tự giác (có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật) của chủ thể quản lý đến tất cả các mắt xích của hệ thống (từ cấp cao nhất đến các đề tài nghiên cứu khoa học) nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu phát triển KHCN nói chung và GDĐT nói riêng
Cũng có thể định nghĩa quản lý nghiên cứu khoa học là hoạt động tự giác của chủ thể quản lý nhằm huy động, tổ chức, điều phối, điều chỉnh, giám sát… một cách có hiệu quả các khâu, các nguồn lực cho NCKH (nhân lực, vật lực, tài lực) phục vụ cho mục tiêu phát triển KHCN, đáp ứng yêu cầu phát triển KTXH
Đối với cấp vi mô: Quản lý nghiên cứu khoa học được hiểu là hệ thống những tác động tự giác (có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật) của chủ thể quản lý đến tập thể giảng viên, công nhân viên, tập thể học sinh, cha mẹ học sinh và các lực lượng xã hội trong và ngoài nhà trường nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu GDĐT của nhà trường
Trang 24Cũng có thể định nghĩa quản lý NCKH thực chất là những tác động của chủ thể quản lý vào quá trình NCKH (được tiến hành bởi tập thể các nhà khoa học, cán bộ, giảng viên, học sinh sinh viên, với sự hỗ trợ đắc lực của các lực lượng xã hội) nhằm hình thành và phát triển toàn diện nền khoa học nước nhà
Từ những khái niệm nêu trên, dù ở cấp vĩ mô hay vi mô, ta có thể thấy
rõ bốn yếu tố của quản lý khoa học giáo dục, đó là: chủ thể quản lý, đối tượng
bị quản lý (nói tắt là đối tượng quản lý), khách thể quản lý và mục tiêu quản
lý
Trong thực tiễn, các yếu tố trên không tách rời nhau mà ngược lại, chúng có quan hệ tương tác gắn bó với nhau Chủ thể quản lý tạo ra những tác động lên đối tượng quản lý, nơi tiếp nhận tác động của chủ thể quản lý và cùng với chủ thể quản lý hoạt động theo một quỹ đạo nhằm cùng thực hiện mục tiêu của tổ chức Khách thể quản lý nằm ngoài hệ thống quản lý giáo dục Nó là hệ thống khác hoặc các ràng buộc của môi trường v.v… Nó có thể chịu tác động hoặc tác động trở lại đến hệ thống giáo dục và hệ thống QLGD Vấn đề đặt ra đối với chủ thể quản lý là như thế nào để có những tác động từ phía khách thể QLGD là tích cực, cùng nhằm thực hiện mục tiêu chung
1.2.3 Hiệu quả và hiệu quả quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học
1.2.3.1 Hiệu quả
Từ Tiếng Anh hiệu quả là “Effectiveness”, nghĩa là có hiệu quả, có hiệu
lực, mang lại kết quả đúng như dự kiến Hiệu quả là đạt được một kết quả đúng như kế hoạch đã đề ra nhưng sử dụng ít thời gian, công sức và nguồn lực nhất
Theo từ điển Bách khoa Việt Nam, hiệu quả là kết quả mong muốn, cái
sinh ra kết quả mà con người hướng tới và chờ đợi; nó có nội dung khác nhau
ở những lĩnh vực khác nhau Trong sản xuất, hiệu quả có nghĩa là hiệu suất, là năng suất Trong kinh doanh, hiệu quả là lãi suất, lợi nhuận Trong lao động
Trang 25nói chung hiệu quả là năng suất lao động, được đánh giá bằng số lượng thời gian hao phí để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm, hoặc là bằng số lượng sản phẩm được sản xuất ra trong một đơn vị thời gian Trong xã hội học, một hiện tượng, một sự biến cố có hiệu quả xã hội, tức là có tác dụng tích cực đối với lĩnh vực xã hội, đối với sự phát triển của lĩnh vực đó Hiệu quả của một cuộc điều tra xã hội học là kết quả tối ưu đạt được so với mục tiêu của cuộc điều tra
đó
Có thể hiểu hiệu quả là: mức độ thực hiện mục tiêu liên quan đến việc
sử dụng nguồn lực được huy động
Theo quan điểm của chúng tôi: Hiệu quả là kết quả đạt được tối ưu và làm cho những vấn đề trong phạm vi ảnh hưởng của nó tốt lên mà không làm những cái khác xấu đi
1.2.3.2 Hiệu quả quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học
Được hiểu là mức độ thực hiện những mục tiêu NCKH đã đề ra trong phạm vi nguồn lực của mình
Mục tiêu giáo dục là kết quả dự định cần đạt được của hoạt động giáo dục Kết quả này đạt được trên hai mức độ Đó là: Những phẩm chất, năng lực đạt được của người học trong quá trình đào tạo ở trong nhà trường và sự phát huy những phẩm chất, năng lực đó khi người học bước vào cuộc sống lao động ngoài xã hội
Có thể thấy rằng khái niệm về hiệu quả rất đa dạng Do đó các nhà nghiên cứu giáo dục đã đưa ra khái niệm tương đối về hiệu quả giáo dục nói chung, hiệu quả NCKH nói riêng
Nâng cao hiệu quả công tác quản ký hoạt động NCKH trong đơn vị trường học sẽ góp phần thúc đẩy hoạt động giảng dạy trong các trường đại học, nâng cao chất lượng dạy và học
Hoạt động NCKH nói chung, hiệu quả quản lý hoạt động NCKH nói riêng
Trang 26có thể được xem xét ở các góc độ khác nhau:
Ở góc độ chức năng, công tác quản lý hoạt động NCKH bao gồm: Xây dựng
kế hoạch NCKH, tổ chức hoạt động NCKH, đánh giá kết quả đã và chưa làm được
Ở góc độ quản lý hoạt động NCKH bao gồm: Điều tra thực tiễn vấn đề, xác định nội dung, phương pháp hoạt động, các điều kiện đảm bảo hoạt động NCKH, đánh giá kết quả
Tóm lại, muốn nâng cao hiệu quả công tác quản lý hoạt động NCKH phải đảm bảo các nguyên tắc trong công tác chỉ đạo hoạt động quản lý NCKH Nguyên tắc chỉ đạo hoạt động trong công tác NCKH là những tư tưởng, luận điểm cơ bản quy định lĩnh vực, phương pháp, phương tiện và hình thức tổ chức hoạt động NCKH cho phù hợp đó là những tri thức mang tính chuẩn mực được tổng kết từ thực tiễn hoạt động NCKH
Muốn nâng cao hiệu quả công tác quản lý NCKH phải đảm bảo tuân thủ theo hệ thống các nguyên tắc chỉ đạo hoạt động NCKH sau:
- Nguyên tắc pháp chế: Quản lý NCKH phải dựa trên cơ sở của pháp luật, hoạt động theo luật định, không được tùy tiện
- Nguyên tắc tính Đảng: Phải quán triệt đường lối, quan điểm giáo dục, pháp luật của Đảng về xây dựng nhà nước pháp quyền trong lĩnh vực quản lý hoạt động NCKH
- Nguyên tắc tính kế hoạch: quản lý hoạt động NCKH phải nằm trong toàn
bộ chương trình, kế hoạch đã định và nhằm đạt được những mục tiêu nhất định
- Nguyên tắc tính tập trung dân chủ: Nguyên tắc này được quán triệt và thể hiện rõ, cấp trên có quyền phủ quyết cấp dưới, nhưng trong khoa học thì tính đúng đắn, chính xác là trên hết Cấp trên phải lắng nghe cấp dưới phân tích, báo cáo nếu không được có quyền khiếu nại, đề xuất, kiến nghị lên cấp cao hơn thông qua hội nghị, báo cáo, chứng minh bằng thực tiễn
Trang 27- Nguyên tắc khách quan: Đây là nguyên tắc quan trọng vì trong quá trình đánh giá kết quả trong khoa học phải đảm bảo tính nhất quán, đúng đắn
- Nguyên tắc tính hiệu quả: Hoạt động quản lý NCKH phải tối ưu (chi phí vật chất, thời gian, sức lực, nhưng đem lại kết quả tối đa) Hiệu quả quản lý NCKH được đánh giá bằng kết quả của từng đề tài, hiệu quả tối đa cho sản phẩm, ít lỗi, tối
ưu nhất cho người tiêu dùng (khách hàng)
- Nguyên tắc tính giáo dục: Quản lý NCKH là một phần trong quản lý giáo dục, mối quan hệ tương hỗ này luôn đi bất kỳ đâu, bất kỳ thời nào và quốc gia nào Không có quốc gia nào có nền giáo dục kém phát triển mà nền khoa học phát triển cao và ngược lại
Trong quá trình quản lý hoạt động NCKH tùy từng điều kiện, mục đích, đối tượng để có thể vận dụng nguyên tắc này hay nguyên tắc khác Nhưng quan trọng nhất là cán bộ làm công tác quản lý phải khoa học, nhất quán, mang tính đúng đắn, hiệu quả đặt lên hàng đầu
1.2.4 Giải pháp và giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học
1.2.4.1 Giải pháp
Theo Nguyễn Văn Đạm thì: Giải pháp là toàn bộ ý nghĩ có hệ thống cùng với những quyết định và hành động theo sau, dẫn tới việc khắc phục một khó khăn” [10, t.r325]
Để hiểu rõ hơn về khái niệm giải pháp, chúng ta cần phân biệt nó với một khái niệm tương tự như phương pháp biện pháp Điểm giống nhau của các khái niệm là đều nói về cách làm, cách tiến hành, cách giải quyết một công việc, một vấn đề Còn điểm khác nhau ở chỗ, biện pháp chủ yếu nhấn mạnh đến cách làm, cách hành động cụ thể, trong khi đó phương pháp nhấn mạnh đến trình tự các bước
có quan hệ với nhau để tiến hành một công việc có mục đích
Theo Nguyễn Văn Đạm thì “phương pháp được hiểu là trình tự cần theo
Trang 28trong các bước có quan hệ với nhau khi tiến hành một công việc có mục đích nhất định” [10, tr.325]
Về khái niệm biện pháp, theo Từ điển Tiếng Việt tường giải và liên tưởng thì biện pháp là “cách làm, hành động, đối phó, lựa chọn để đi tới mục đích nhất định” [10, tr.66]
Như vậy, khái niệm giải pháp tuy có những điểm chung với các khái niệm trên, nhưng nó cũng có điểm riêng Điểm riêng cơ bản của thuật ngữ này là nhấn mạnh đến phương pháp giải quyết một vấn đề, với sự khắc phục khó khăn nhất định Trong một giải pháp có thể bao gồm nhiều biện pháp
1.2.4.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học
Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác NCKH là hệ thống các phương pháp, cách thức, tổ chức, điều khiển toàn bộ công tác NCKH nhằm đạt hiệu quả cao nhất
Biện pháp là nội dung, cách thức, cách giải quyết một vấn đề nào đó của chủ thể quản lý về lĩnh vực riêng, kiến thức riêng mà chủ thể quản lý chịu trách nhiệm
tổ chức, chỉ đạo thực hiện nhằm đạt mục tiêu đề ra
Biện pháp quản lý là cách làm, cách giải quyết những công việc cụ thể của công tác quản lý nhằm đạt được mục tiêu quản lý
Có nhiều khái niệm khác nhau về biện pháp quản lý, theo F.W Taylor: “Biện pháp quản lý là sự tác động chỉ huy, điều khiển các quá trình xã hội
và hành vi hoạt động của con người để chúng phát triển hợp với quy luật, đạt mục đích đề ra và đúng với ý chí của người quản lý”
Một biện pháp giải quyết vấn đề nào đó phải thể hiện được trong nó về mục đích, về nội dung và cách thực hiện, đồng thời là những điều kiện để thực hiện
Biện pháp nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động NCKH: Là sự lựa chọn cách thức, con đường, phương hướng để quản lý, lãnh đạo và phát triển NCKH ở nhà
Trang 29trường một cách toàn diện, đó là tổ chức các hoạt động nghiên cứu và giảng dạy trẻ trong nhà trường; xây dựng và phát triển đội ngũ GV, nhân viên; tổ chức bộ máy;
sử dụng bảo quản, nâng cấp cơ sở vật chất và trang thiết bị, quản lý, sử dụng ngân sách một cách hiệu quả, hợp lý; tổ chức nghiên cứu khoa học
Trên cơ sở các biện pháp chung, còn tuỳ thuộc vào tình hình thực tế của mỗi nhà trường để vận dụng và phối hợp các biện pháp cụ thể sao cho đạt được hiệu quả một cách cao nhất
1.3 Hoạt động nghiên cứu khoa học của đội ngũ cán bộ, giảng viên ở Trường Dự bị Đại học Dân tộc
1.3.1 Mục đích, yêu cầu hoạt động nghiên cứu khoa học của đội ngũ cán bộ, giảng viên Trường Dự bị Đại học Dân tộc
1.3.1.1 Mục đích
NCKH ở Trường Dự bị Đại học Dân tộc nhằm nâng cao chất lượng bồi dưỡng học sinh người dân tộc thiểu số góp phần đào tạo nguồn cán bộ tại chỗ cho các khu vực
Mục đích NCKH giáo dục ở Trường Dự bị Đại học Dân tộc nhằm xây dựng
hệ thống lý luận về khoa học giáo dục, thí nghiệm, áp dụng thành tựu khoa học giáo dục, khoa học cơ bản vào thực tiễn giảng dạy của nhà trường và của xã hội
1.3.1.2 Yêu cầu
Trường Dự bị Đại học Dân tộc là nơi tạo nguồn cán bộ cho đồng bào dân tộc thiểu số Bồi dưỡng đội ngũ cán bộ nhằm giúp miền núi bắt kịp miền xuôi, mặt khác nâng cao trình độ chuyên môn cho giảng viên nhà trường góp phần nâng cao chất lượng đào tạo, đồng thời giải quyết các vấn đề KTXH cho từng vùng, từng khu vực
Trang 301.3.2 Đặc điểm của hoạt động nghiên cứu khoa học của đội ngũ cán
bộ, giảng viên Trường Dự bị Đại học Dân tộc
Nghiên cứu chương trình đào tạo, kế hoạch đào tạo, phương pháp đào tạo, nội dung bài giảng chi tiết, giáo trình, sách giáo khoa THPT Trên cơ sở đó đối chiếu, so sánh với những nhiệm vụ cụ thể để đề xuất những vấn đề có liên quan đến chương trình, quy mô và hình thức đào tạo
Nghiên cứu hệ thống tổ chức quản lý nhà trường, quản lý cán bộ trong và ngoài nước rút ra những bài học kinh nghiệm để ứng dụng vào thực tiễn ở Việt Nam
Nghiên cứu lựa chọn tài liệu, sách giáo khoa, giáo trình trên cơ sở hoàn chỉnh chương trình, bài giảng theo tinh thần đảm bảo mặt bằng bồi dưỡng dự bị đại học Từ đây đề xuất hướng xây dựng tư liệu nhằm đổi mới phương pháp đào tạo nâng cao chất lượng và cập nhật thông tin Mặt khác giáo trình giành cho hệ dự bị đại học chưa sát, một số môn đã hoàn thành nhưng chưa áp dụng đại trà
Nghiên cứu nhu cầu thực tế, ngành nghề, lĩnh vực cần đào tạo để đáp ứng nguồn nhân lực phù hợp không để lãng phí tiền của của nhà nước Đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục đào tạo, nguồn nhân lực theo nhu cầu xã hội, phát triển theo
mô hình đa ngành, đa lĩnh vực để góp phần nâng cao chất lượng giáo dục song song với NCKH
Nghị quyết số 29/NQ-TW đã một lần nữa khẳng định “Giáo dục là quốc sách hàng đầu” để làm được điều đó thể hiện trong nội dung của nghị quyết “Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế” NCKH giáo dục là thế mạnh trong NCKH của Trường Dự bị Đại học Dân tộc Đối tượng NCKH là nghiên cứu giáo dục con người, chính vì vậy việc triển khai thực hiện đòi hỏi sự thận trọng, chính xác, lâu dài Trong tổ chức triển khai nghiên cứu cần chú ý đến quá trình phát
Trang 31triển tâm sinh lý, nhận thức và tình cảm con người
NCKH giáo dục bắt buộc phải là một hoạt động có hệ thống nhằm đạt đến sự hiểu biết được kiểm chứng Phương pháp nghiên cứu như quy nạp và diễn dịch chỉ là hai cách nhìn vào một quá trình liên tục, như là cách mô tả giai đoạn của quá trình tìm hiểu con người trong các công trình nghiên cứu Nói nghiên cứu như là một hoạt động có hệ thống nhằm đạt đến sự hiểu biết, nhưng nó là sự hiểu biết được kiểm chứng Phương pháp NCKH giáo dục thường thực hiện là nghiên cứu mô tả và nghiên cứu thực nghiệm
NCKH giáo dục là nghiên cứu cơ sở lý luận về mẫu nhân cách chung hoặc về sự hình thành những mặt riêng biệt của nhân cách của học sinh mà nhà trường đạt tới qua quá trình đúc kết, tổng hợp trên cơ sở phương pháp luận NCKH giáo dục
Loại hình nghiên cứu khoa học giáo dục:
- Nghiên cứu cơ bản: nhận thức mới về bản chất của các hiện tượng, sự vật, thể hiện trong thiên nhiên, xã hội, giáo dục (tâm lý học, giáo dục học, học sinh dự bị đại học…)
- Nghiên cứu ứng dụng: Tìm ra phương thức hành động, các quy trình, giải pháp (giải pháp tổ chức, kinh tế, kỹ thuật và công nghệ ứng dụng) trên cơ sở khoa học phù hợp nhu cầu thực tiễn Trực tiếp ứng dụng những thành tựu của khoa học
tự nhiên, khoa học xã hội, khoa học trong giáo dục và dự bị đại học
- Nghiên cứu triển khai: nghiên cứu áp dụng các kết quả nghiên cứu hình mẫu khả thi trong NCKH của trường dự bị đại học áp dụng vào thực tiễn giảng dạy, giáo dục và dịch vụ xã hội
Tóm lại: Trong quản lý NCKH ở Trường Dự bị Đại học Dân tộc cần quan tâm đến 4 yếu tố chủ yếu trên có ảnh hưởng đến hoạt động NCKH Để có giải pháp quản lý phù hợp nhằm thúc đẩy, nâng cao hiệu quả quản lý tại Nhà trường
Trang 321.4 Một số vấn đề về nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của đội ngũ cán bộ, giảng viên ở Trường Dự bị Đại học Dân tộc
1.4.1 Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của đội ngũ cán bộ, giảng viên Trường Dự bị Đại học Dân tộc
Quản lý NCKH cũng như quản lý giáo dục, quản lý NCKH cũng bao gồm quản lý nhà nước về NCKH (cấp độ hệ thống vĩ mô) và quản lý nhà trường về NCKH (cấp độ cơ sở, vi mô) Quản lý nhà nước về hoạt động khoa học và công nghệ, NCKH là các cơ quan nhà nước thực hiện công quyền để quản lý các hoạt động khoa học và công nghệ có phạm vi rộng trong toàn xã hội
Có thể hiểu quản lý nhà nước về KHCN và NCKH là việc nhà nước thực hiện quyền lực công để điều hành, điều chỉnh toàn bộ KHCN trong toàn xã hội nhằm thực hiện mục tiêu KHCN và NCKH quốc gia
Quản lý nhà nước như một hệ thống, thì quản lý nhà nước về NCKH công nghệ và NCKH là một hệ thống bao gồm thể chế, cơ chế quản lý KHCN và NCKH Tổ chức bộ máy KHCN, NCKH và đội ngũ công chức các cấp Ba bộ phận này có mối liên hệ, tác động qua lại với nhau rất chặt chẽ, có thể thúc đẩy hoặc kìm hãm nhau trong quá trình vận hành, tác nghiệp
Trong quá trình quản lý NCKH ở Trường DBĐH cần phải đảm bảo quyền
tự chủ và tính trách nhiệm của trường Nhà trường phải chủ động trong xây dựng
kế hoạch hoạt động theo mục tiêu nghiên cứu Trước kia, nước ta có nền kỹ thuật vận hành theo cơ chế kế hoạch hóa tập trung, dẫn tới quan liêu bao cấp với cơ chế xin cho và kéo theo chất lượng thấp, hiệu quả quản lý đạt được không cao Ngày nay, nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, các công ty, tập đoàn kinh tế nhà nước cổ phần hóa, thông thoáng trong kinh doanh, minh bạch trong vốn, hàm lượng chất xám đòi hỏi tính hiệu quả trong quản lý và tối ưu kết quả đem lại Nên NCKH của nền giáo dục cũng phải thay đổi theo nếu muốn tồn tại, phát triển
Trang 33Nguồn kinh phí giành cho NCKH không được bao cấp nhiều như trước, hiện nay theo mục tiêu chung tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính Nhà trường cần phải chủ động hơn trong hoạt động NCKH để có chất lượng sản phẩm tối đa, phù hợp với mục tiêu nghiên cứu để các sản phẩm đa dạng, phù hợp với mục tiêu nghiên cứu, đáp ứng nhu cầu người sử dụng mang lại giá trị thật Để được tự chủ nhà trường phải không ngừng nâng cao hiệu quả, chất lượng sản phẩm, chịu trách nhiệm trước cơ quan quản lý và xã hội Tự chủ phải gắn liền với nghĩa vụ, chịu trách nhiệm chính bản thân đội ngũ tham gia NCKH trước pháp luật, đơn vị đặt hàng
Trong nền kinh tế thị trường mọi thứ là hàng hóa, kể cả sức lao động và chịu tác động của các quy luật của nền kinh tế thị trường Cơ sở giáo dục thuộc “doanh nghiệp tri thức đặc biệt” tạo ra sức lao động trình độ cao, cũng phải tuân theo các quy luật của cơ chế thị trường
Trong quá trình tổ chức nâng cao chất lượng, chất lượng nghiên cứu và hiệu quả trong quản lý Những sản phẩm này cũng phải đảm bảo thỏa mãn 4 tiêu chí:
Có chất lượng cao là sản phẩm đáp ứng được yêu cầu thị trường về tính khoa học, thực tiễn, có giá trị về mặt khoa học, kỹ thuật; Mang lại hiệu quả cao là nguồn lực đầu tư tạo thành phẩm ít nhưng giá trị sử dụng cao, phù hợp nhu cầu xã hội và giáo dục; Có hiệu suất cao là đảm bảo tính kỹ thuật, khai thác triệt để nguồn lực và công bằng xã hội là bình đẳng về điều kiện nâng cao trình độ, học hỏi, giao lưu trong NCKH
Để tồn tại, phát triển thì yêu cầu trước mắt là cần thay đổi cách quản lý hay nói cách khác là thay đổi cách làm NCKH Nếu muốn mang lại hiệu quả cao phải xây dựng được đội ngũ đủ mạnh, có quy trình nghiên cứu để sản phẩm đưa ra ít lỗi nhất và phải được thị trường chấp nhận
Trang 341.4.2 Nội dung nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của đội ngũ cán bộ, giảng viên ở Trường Dự bị Đại học Dân tộc
Đổi mới cơ chế quản lý hoạt động KHCN nói chung và cơ chế quản lý NCKH nói riêng là chủ trương chung của Đảng, Nhà nước cũng là nhiệm vụ của mọi cấp, mọi ngành Quá trình đổi mới của nước ta đã đạt được nhiều thành tựu về kinh tế, văn hóa, xã hội nhưng về quản lý KHCN thì rất chập chạp và chưa hiệu quả, mặc dù nhiều chủ trương đổi mới trong lĩnh vực KHCN đã được đề cập từ những thập niên 80 của thế kỷ XX
Đổi mới cơ chế quản lý trong lĩnh vực KHCN đã được thể chế hóa trong Luật KHCN năm 2013 được nhiều tác giả nghiên cứu ở khía cạnh khác nhau, theo
đó cơ chế quản lý hoạt động NCKH với tư cách là một bộ phận quan trọng của quản lý KHCN, cần được đổi mới ở các nội dung chính như sau:
Thứ nhất: Cơ chế quản lý hoạt động NCKH cần được đổi mới theo hướng xóa bỏ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp (xin - cho) thay vào đó xây dựng một cơ chế có sự kết hợp giữa vai trò quản lý Nhà nước với vai trò của thị trường
Thứ hai: Đổi mới về kế hoạch hóa hoạt động NCKH và phương pháp xây dựng nhiệm vụ NCKH Quá trình xây dựng kế hoạch NCKH phải có sự tham gia của đông đảo các thành phần trong xã hội, đặc biệt là các doanh nghiệp Xác định nhiệm vụ NCKH phải kết hợp với thực tiễn và yêu cầu của thị trường Nhà nước quyết định nhiệm vụ NCKH trọng yếu liên ngành và dài hạn; các bộ, ngành quyết định nghiệm vụ NCKH cụ thể gắn với điều kiện thực tế tại ngành, lĩnh vực mình quản lý, các doanh nghiệp căn cứ vào yêu cầu thực tế sản xuất đời sống và kế hoạch chung của Bộ, Ngành, Chính phủ để xây dựng nhiệm vụ NCKH theo quy định của pháp luật
Thứ ba: Đổi mới quá trình tổ chức thực hiện các nhiệm vụ NCKH Cần đa dạng hóa hình thức giao nhiệm vụ NCKH sử dụng ngân sách Nhà nước Tùy theo tính chất của từng nhiệm vụ NCKH mà có thể giao trực tiếp hoặc tuyển chọn, đấu
Trang 35thầu…
Quá trình xét, tuyển để giao nhiệm vụ, đánh giá nghiệm thu, kết quả nghiên cứu… phải khách quan, chính xác, đảm bảo dân chủ thông qua các cạnh tranh lành mạnh giữa các tổ chức, cá nhân thuộc mọi thành phần xã hội
Thứ tư: Đa dạng hóa nguồn đầu tư cho hoạt động NCKH, khuyến khích các doanh nghiệp, các tổ chức, cá nhân tăng nguồn lực đầu tư cho NCKH, thực hiện chính sách ưu đãi đối với hoạt động NCKH và tăng cường khai thác các nguồn vốn nước ngoài cho hoạt động này
Thứ năm: Đổi mới cơ chế quản lý tổ chức NCKH và nhân lực cho NCKH Từng bước thực hiện phi hành chính hóa đối với các tổ chức NCKH và phi công chức hóa đối với tất cả các cán bộ NCKH, tăng quyền chủ động và tự chịu trách nhiệm của các tổ chức NCKH
Thứ sáu: Xây dựng và phát triển thị trường công nghệ trong đó bộ phận quan trọng là thị trường sản phẩm NCKH Cần xây dựng thiết chế pháp luật quy định phương thức vận hành của thị trường, nâng cao chất lượng, tạo nhu cầu và tăng nguồn cung cấp đối với sản phẩm NCKH
Tóm lại: NCKH là một dạng hoạt động đặc thù mang tính sáng tạo nhất của con người, là nhân tố tạo ra và thúc đẩy các quá trình đổi mới Quản lý hoạt động NCKH trước tiên phải đáp ứng được các yêu cầu xuất phát từ chính những hoạt động này Đổi mới cơ chế quản lý hoạt động NCKH cần xuất phát từ mục tiêu phát triển KHCN, phù hợp với tính chất, đặc điểm của các hoạt động NCKH, đáp ứng được các yêu cầu quản lý hiện đại, xu thế vận động, đổi mới của hệ thống KHCN, tình hình phát triển KTXH trong nước và quốc tế (nhất là khi Việt Nam đã gia nhập WTO) và phải căn cứ vào tình hình thực tế của mỗi tổ chức, hệ thống
Trang 361.4.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của đội ngũ cán bộ, giảng viên ở Trường Dự bị Đại học Dân tộc
1.4.3.1 Hệ thống văn bản pháp quy và cơ chế chính sách
* Hệ thống văn bản pháp quy
Nhà nước quản lý NCKH thông qua hệ thống Luật KHCN, về giáo dục Nhà nước đưa những quan điểm lãnh đạo, chỉ đạo, chỉ đạo về KHCN phù hợp với thực tiễn của đất nước để định hướng, thúc đẩy phát triển nền giáo dục phù hợp với phát triển của nền KTXH theo đúng mục tiêu
Các cơ quan quản lý chuyên ngành của Nhà nước (cấp vĩ mô) là Bộ KHCN
và Môi trường, Bộ GDĐT là cơ quan đại diện cho Nhà nước thực thi chính sách về KHCN và NCKH Trường Dự bị Đại học Dân tộc Sầm Sơn (cấp vi mô) thực hiện các chủ trương, chỉ đạo của Nhà nước về phát triển KHCN và NCKH Các cơ quan trên cơ sở chức năng nhiệm vụ ban hành những chỉ thị văn bản hướng dẫn phân cấp về quản lý NCKH để các cơ sở trong hệ thống giáo dục thực hiện chức năng NCKH của đơn vị đạt chất lượng và hiệu quả
Thực hiện chỉ đạo đồng bộ từ Trung ương đến các cơ sở đào tạo về xây dựng thực hiện mục tiêu NCKH thể hiện tính thống nhất, đồng bộ trong quản lý Việc chỉ đạo định hướng của Nhà nước về KHCN NCKH trong trường đại học rất quan trọng, giúp các trường thực hiện được mục tiêu NCKH phục vụ cho phát triển GDĐT và KTXH
* Cơ chế chính sách
Cơ chế, chính sách về NCKH là những quy định mang tính nguyên tắc về phương diện tổ chức, điều hành hoạt động, hướng dẫn, kiểm tra về NCKH và NCKH giáo dục của Bộ KHCN và môi trường, Bộ GDĐT về quy trình hoạt động
và quản lý con người Cơ chế quản lý là một phạm trù vận động tương tác giữa chủ thể và khách thể quản lý là sự tương tác giữa các bộ phận cấu thành hệ thống quản
Trang 37lý Hệ thống này phải luôn luôn được quan tâm, mềm hóa, linh hoạt tạo hành lang pháp lý trong hoạt động KHCN nói chung và NCKH của trường Đại học nói riêng
Cơ chế quản lý về NCKH, NCKH giáo dục ở Trường Dự bị Đại học Dân tộc được hiểu theo trạng động chứ không phải trạng thái tĩnh Cơ chế quản lý NCKH được xem như là một hiện tượng đang chuyển động, thì cơ chế quản lý, nó không thể không đề cập tới con người vận hành nó Con người là quan hệ giữa cục
bộ với toàn bộ Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện vận hành của cơ chế NCKH thì đội ngũ quản lý và CBGV vừa là đối tượng quản lý trong cơ chế, song vừa là chủ thể trong mỗi hoạt động nghiên cứu Do vậy trong quá trình thực hiện quy định của cơ chế quản lý NCKH còn có những điều bất cập chưa phù hợp thì những chủ thể này cũng sẽ có đóng góp cho việc xây dựng hoàn thiện cơ chế
Cần nhấn mạnh rằng cơ chế quản lý về NCKH chỉ có thể vận hành theo mục tiêu phát triển GDĐT do nhà nước quy định, khi mỗi thành tố trong đó phải phát huy được thế mạnh trong cơ chế Nếu một trong số các thành tố tạo nên chất lượng hiệu quả trong NCKH không được kích thích, quan tâm đầy đủ sẽ ảnh hưởng đến mục tiêu chung về phát triển NCKH Quản lý có khả năng loại trừ các yếu tố không phù hợp
1.4.3.2 Nguồn nhân lực nghiên cứu khoa học
Nhân lực NCKH có thể được định nghĩa “… là toàn bộ những người tham gia trực tiếp vào hoạt động KHCN trong một tổ chức hoặc dịch vụ Số nhân lực này phải bao gồm các nhà khoa học và kỹ sư, cán bộ trung học kỹ thuật và nhân viên phụ trợ” Khái niệm khoa học hay nhà khoa học cần được hiểu là những nhà nghiên cứu và những trợ lý nghiên cứu đang làm việc trong lĩnh vực KHCN xác định Có hai loại nhân lực KHCN là chính nhiệm (full time staff) và kiêm nhiệm (part time staff) Đội ngũ cán bộ quản lý, giảng viên của các trường đều thuộc đội ngũ nhân lực KHCN kiêm nhiệm, thực hiện các hoạt động NCKH như một nhiệm
vụ quan trọng bên cạnh và liên quan trực tiếp với nhiệm vụ chính trị chính yếu là
Trang 38thực hiện công tác GDĐT của nhà trường
Nhân lực NCKH trong trường Đại học có vai trò tiên quyết trong đảm bảo chất lượng NCKH là nguồn lực chất xám của các trường đại học, các cơ sở nghiên cứu Ở các trường đại học đội ngũ CBGV và cộng tác viên đóng vai trò chủ chốt trong việc quyết định chất lượng đào tạo và nghiên cứu tại đơn vị
Nhân lực NCKH là các cá nhân, nhóm nghiên cứu, tổ chuyên môn, hội đồng khoa học Số lượng và chất lượng đội ngũ quyết định những kế hoạch, mục tiêu, thực hiện các nghiên cứu và bảo đảm kết quả nghiên cứu đạt chất lượng Nhà trường phải có kế hoạch sắp xếp, bố trí, bồi dưỡng tạo nguồn nhân lực nghiên cứu một cách cân đối theo từng nhóm, ngành… theo UNESSCO khẳng định “Chất lượng của một nền giáo dục không vượt quá tầm chất lượng những giáo viên làm việc cho nó”
CBGV có năng lực chuyên môn cần phải nắm vững kiến thức, kỹ năng và thái độ đối với ngành nghề Chính vì vậy trong NCKH đòi hỏi người CBGV phải
có năng lực NCKH, kỹ năng tổ chức, triển khai nghiên cứu và cần có nhận thức đúng đối với nhiệm vụ NCKH nói chung và NCKH giáo dục tại đơn vị nói riêng
1.4.3.3 Điều kiện, phương tiện phục vụ nghiên cứu khoa học
* Tài chính
Nhà nước cần đầu tư kinh phí cho giáo dục trong đó có NCKH Nguồn tài chính cho NCKH của các trường là nguồn kinh phí do ngân sách cấp Đó là điều kiện tối cần thiết trong việc thực hiện các hoạt động nghiên cứu Hiện nay, các đề tài, dự án phải được đặt hàng và có địa chỉ ứng dụng
Kinh phí hỗ trợ cho NCKH của trường được huy động từ các nguồn ngân sách nhà nước, hợp đồng nghiên cứu triển khai các tổ chức doanh nghiệp hỗ trợ đầu tư Các trường tự cân đối và quản lý tốt nguồn kinh phí, tránh thất thoát và kích thích hỗ trợ được người tham gia, nghiên cứu đúng lúc, kịp thời tạo sự chủ động cho người nghiên cứu trong khoán kinh phí nghiên cứu
Trang 39* Cơ sở vật chất phục vụ NCKH
Nguồn lực vật chất cho NCKH bao gồm toàn bộ cơ sở vật chất trang thiết bị, máy móc, vật tư, nguyên liệu… của trường và các cơ sở khác bên ngoài có thể huy động vào việc thực hiện các nhiệm vụ NCKH Nguồn lực này mạnh là điều kiện tối cần thiết để các nhà khoa học thực hành, thử nghiệm Nhà trường có kế hoạch nâng cấp, bổ sung cơ sở vật chất cho phù hợp, cần đa dạng để phù hợp với các loại hình nghiên cứu khác nhau
Trong nghiên cứu về phương pháp giảng dạy cần người có phương tiện, đồ dùng dạy học tại các cơ sở để thực tập thực tế, thử nghiệm những phương pháp mới Còn trong NCKH giáo dục về tâm, sinh lý học đòi hỏi việc triển khai nghiên cứu phải có thời gian, phương pháp chuẩn mực mang tính khách quan để nghiên cứu đạt chất lượng
Điều kiện về thời gian trong NCKH rất quan trọng và cần thiết để CBGV triển khai nghiên cứu Nhà quản lý cần quan tâm đến việc cân đối thời gian giữa nhiệm vụ bồi dưỡng DBĐH và NCKH một cách hợp lý tránh áp lực Bản thân CBGV tự cân đối, có kế hoạch để tham gia nghiên cứu đưa những nội dung mới cập nhật vào bài giảng
* Môi trường nghiên cứu
Môi trường NCKH nói chung bao gồm môi trường vật chất và môi trường tinh thần Trước hết quản lý cần chăm lo về môi trường học thuật và bầu không khí tâm lý trong NCKH ở Trường Dự bị Đại học Dân tộc Môi trường NCKH mang nét đặc thù của một môi trường chuyên biệt
Nhà trường cần bố trí cân đối thời gian giảng dạy với hoạt động nghiên cứu
và các hoạt động khác của nhà trường để hạn chế việc dạy vượt giờ chuẩn gây ảnh hưởng đến thời gian nghiên cứu Trường quan tâm đến môi trường sinh hoạt học tập gồm: sinh hoạt chuyên môn, tổ chức seminar, báo cáo chuyên đề, trao đổi thông tin Đơn vị Phòng, Ban có kế hoạch sinh hoạt chuyên môn theo định kỳ để
Trang 40đội ngũ CBGV sinh hoạt, báo cáo kết quả nghiên cứu, đăng ký đề tài…
* Các điều kiện khác
Các điều kiện khác bao gồm Tác động của cơ chế thị trường, Nguồn lực thông tin, Quan hệ với các đối tác… Các điều kiện này tác động nhiều đến quản lý cũng như NCKH trong trường Bởi cơ chế chính sách vận hành theo cơ chế thị trường luôn luôn linh hoạt đòi hỏi nhà trường phải thích ứng nhanh nhất là các đối tác nước ngoài Mặt khác nguồn lực thông tin là quan trọng bởi tính lỗi thời của thông tin có thể đến bất kỳ lúc nào trong xã hội phẳng như ngày nay
1.4.3.4 Điều kiện, phương tiện phục vụ nghiên cứu khoa học
Nhà nước thực hiện chức năng quản lý thông qua bộ máy tổ chức và hệ thống pháp luật Bộ KHCN và Môi trường, Bộ GDĐT thực hiện chức năng quản
lý nhà nước đối với NCKH ở trong trường Công tác quản lý không trực tiếp làm
ra chất lượng nghiên cứu nhưng nó tác động đến các yếu tố khác để các yếu tố này phát huy được hiệu quả sử dụng Hiệu quả tổ chức hoạt động NCKH để người nghiên cứu có điều kiện hoàn thành tốt nhiệm vụ NCKH được giao
Tóm lại: Trong quản lý NCKH ở Trường Dự bị Đại học Dân tộc cần quan tâm đến 4 yếu tố chủ yếu trên có ảnh hưởng đến hoạt động NCKH để có các giải pháp quản lý phù hợp nhằm thúc đẩy, nâng cao chất lượng NCKH và hiệu quả trong quản lý
Tiểu kết chương 1
Quản lý NCKH ở trường Đại học nói chung, ở Trường Dự bị Đại học nói riêng là một nhiệm vụ quan trọng, được các nhà khoa học, quản lý trong và ngoài nước quan tâm Luận văn đã phân tích có hệ thống cơ sở lý luận về quản lý NCKH
ở Trường Dự bị Đại học Dân tộc Vấn đề tổng quan nghiên cứu liên quan đến luận văn, chúng tôi đã hệ thống hóa tình hình nghiên cứu trong nước, nước ngoài và một số ý kiến quan niệm về NCKH, về quản lý NCKH Tuy nhiên ở mức độ nông sâu, rộng hẹp khác nhau nhưng những ý kiến đó là cơ sở tốt cho luận văn đi sâu