1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu tính đa dạng và đề xuất giải pháp bảo tồn các loài thú lớn nguy cấp, quý hiếm ở vườn quốc gia pù mát, tỉnh nghệ an

109 486 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 109
Dung lượng 3,35 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, công tác quản lý VQG vẫn còn gặp nhiều khó khăn vì các số liệu về hiện trạng, sinh học, sinh thái của các loài thú lớn nguy cấp, quý hiếm chưa được nghiên cứu một cách đầy đủ.

Trang 1

VÕ CÔNG ANH TUẤN

NGHIÊN CỨU TÍNH ĐA DẠNG VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP BẢO TỒN CÁC LOÀI THÚ LỚN NGUY CẤP QUÝ HIẾM Ở VƯỜN QUỐC GIA PÙ MÁT,

TỈNH NGHỆ AN

LUẬN VĂN THẠC SỸ SINH HỌC

NGHỆ AN- 2014

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

VÕ CÔNG ANH TUẤN

NGHIÊN CỨU TÍNH ĐA DẠNG VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP BẢO TỒN CÁC LOÀI THÚ LỚN NGUY CẤP, QUÝ HIẾM Ở VƯỜN QUỐC GIA PÙ MÁT,

Trang 3

Em xin gửi lời cảm ơn đến Ban giám hiệu Trường Đại học Vinh, Khoa Sinh Học, Phòng Sau đại học, các phòng khoa của trường đã tạo điều kiện cho em được học tập, nghiên cứu

Xin gửi lời cảm ơn đến Tập thể lãnh đạo Vườn quốc gia Pù Mát; các anh chị em

và các bạn đồng nghiệp Phòng Nghiên cứu khoa học và Hợp Tác quốc tế; các Trạm Quản lý bảo vệ rừng; bà con nhân dân địa phương đã giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài

Trong thời gian thực hiện đề tài, em đã nhận được những ý kiến góp ý, chỉ bảo của các thầy: PGS TS Hoàng Xuân Quang, TS Ông Vĩnh An, PGS TS Nguyễn Xuân Đặng Em xin trân trọng cảm ơn

Cuối cùng, xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới những người thân trong gia đình và bạn bè đã hết lòng động viên, tạo mọi điều kiện trong suốt thời gian học tập

và nghiên cứu để tôi hoàn thành luận văn này

Tác giả

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 2

3 Đối tượng nghiên cứu 2

4 Nội dung nghiên cứu 2

Chương 1 3

TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3

1.1 Sơ lược tình hình nghiên cứu thú ở Việt Nam và VQG Pù Mát 3

1.1.1 Lịch sử nghiên cứu thú ở Việt Nam 3

1.1.2 Tình hình nghiên cứu thú ở VQG Pù Mát 8

1.2 Các giải pháp bảo tồn Đa dạng sinh học 10

1.3 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế – xã hội khu vực nghiên cứu 12

1.3.1 Đặc điểm tự nhiên 12

1.3.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội khu vực nghiên cứu 23

Chương 2 29

ĐỊA ĐIỂM, THỜI GIAN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 29

2.1 Địa điểm, thời gian nghiên cứu 29

2.2 Tư liệu nghiên cứu 31

2.3 Phương pháp nghiên cứu 31

2.3.1 Kế thừa các tài liệu nghiên cứu 31

2.3.2 Phỏng vấn thu thập thông tin trong nhân dân 31

2.3.3 Khảo sát thực địa 31

2.3.4 Phương pháp xử lý mẫu vật và phân tích số liệu 32

Chương 3 36

KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN 36

3.1 Thành phần các loài thú lớn và các loài thú lớn nguy cấp, quý hiếm ghi nhận được ở VQG Pù Mát 36

3.1.1 Thành phần các loài thú lớn ở VQG Pù Mát 36

3.1.2 Thành phần các loài thú lớn nguy cấp, quý hiếm ở VQG Pù Mát 45

3.2 Hiện trạng sinh cảnh và phân bố theo sinh cảnh của các loài thú lớn nguy cấp, quý hiếm 47

3.2.1 Hiện trạng sinh cảnh rừng ở VQG Pù Mát 47

3.2.2 Sự phân bố của các loài thú nguy cấp, quý hiếm theo các dạng sinh cảnh 53

3.3 Hiện trạng quần thể và sinh cảnh một số loài thú lớn nguy cấp, quý hiếm có ý nghĩa bảo tồn cao ở VQG Pù Mát 55

Trang 5

3.3.1 Sao la Pseudoryx nghetinhensis Dung et al., 1993 55

3.3.2 Voi châu á Elephas maximus Linnaeus, 1758 56

3.3.3 Hổ Panthera tigris Linnaeus, 1758 58

3.3.4 Vượn đen má trắng Nomascus leucogenys Ogilby,1840 59

3.3.5 Chà vá chân nâu Pygathrix nemaeus Linnaeus, 1771 60

3.3.6 Sơn dương Capricornis sumatraensis Bechstein, 1799 60

3.3.7 Gấu ngựa Ursus thibetanus Cuvier, 1823 61

3.3.8 Gấu chó Helarctos malayanus Raffles, 1821 62

3.3.9 Mang trường sơn Muntiacus truongsonensis Giao et al., 1997 63

3.3.10 Voọc xám Trachypithecus crepusculus (Elliot, 1909) 64

3.4 Các mối đe đọa trực tiếp và gián tiếp đến quần thể và sinh cảnh của các loài thú lớn nguy cấp, quý hiếm ở VQG Pù Mát 65

3.4.1 Các mối đe dọa trực tiếp 65

3.4.2 Các mối đe dọa gián tiếp 70

4.5 Đề xuất các giải pháp quản lý và phát triển bền vững tài nguyên thú rừng ở VQG Pù Mát 75

4.5.1 Nâng cao năng lực quản lý 75

4.5.2 Tăng cường hiệu quả của các hoạt động thực thi pháp luật 77

4.5.3 Phối hợp với các cấp chính quyền địa phương 78

4.5.4 Tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức 78

4.5.5 Phát triển kinh tế cho dân cư vùng đệm 79

4.5.6 Cải thiện công tác cứu hộ và thả thú tịch thu được về rừng 80

4.5.8 Xây dựng các chương trình nghiên cứu khoa học, điều tra và giám sát thú 82

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 83

Kết luận 83

Đề nghị 84

BÀI ĐĂNG BÁO CỦA TÁC GIẢ 85

TÀI LIỆU THAM KHẢO 86

Trang 6

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT

BTTN Bảo tồn thiên nhiên

CR Rất nguy cấp (theo Sách Đỏ Việt Nam 2007 và Danh Lục Đỏ IUCN

2014)

DD Thiếu dẫn liệu (theo Sách Đỏ Việt Nam 2007 và Danh Lục Đỏ IUCN

2014) DLĐ IUCN Danh Lục Đỏ IUCN

ĐDSH Đa dạng sinh học

EN Nguy cấp (theo Sách Đỏ Việt Nam 2007 và Danh Lục Đỏ IUCN

2014) FFI Tổ chức Bảo tồn Động thực vật Quốc tế

IB Nghiêm cấm khai thác, sử dụng vì mục đích thương mại theo Nghị

định 32/2006/NĐCP IIB Hạn chế khai thác, sử dụng vì mục đích thương mại theo Nghị định

32/2006/NĐ - CP IUCN Hiệp hội Bảo tồn Thiên Nhiên Thế giới

KBT Khu bảo tồn

LR Ít nguy cấp (theo Sách Đỏ Việt Nam 2007 và Danh Lục Đỏ IUCN

2014) Nxb Nhà xuất bản

X Loài nằm trong Nghị định 160/2013/NĐ - CP

Trang 7

DANH LỤC BẢNG

Bảng 1.1 Thành phần các dân tộc sinh sống trong và quanh VQG Pù Mát 23

Bảng 1.2 Mật độ và dân số các xã 24

Bảng 1.3 Lao động và phân bố lao động của các xã 25

Bảng 1.4 Các loại đất đai trong khu vực 26

Bảng 1.8 Diện tích các loại đất nông nghiệp 27

Bảng 2.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu tại thực địa 29

Bảng 3.1: Danh sách các loài thú lớn ghi nhận được ở VQG Pù Mát 6

Bảng 3.2: Cấu trúc bộ, họ của các loài thú lớn ở VQG Pù Mát 43

Bảng 3.3: Danh sách các loài thú lớn nguy cấp, quý hiếm 45

Bảng 3.4 Sự phân bố của các loài thú lớn nguy cấp, quý hiếm theo các dạng sinh cảnh53 Bảng 3.5 Kết quả điều tra các mối đe dọa chính đối với động vật hoang dã 66

Bảng 3.6 Số vụ vi phạm về săn bắt động vật hoang dã bị xử lý qua các năm 67

Bảng 3.7 Số lượng các loài động vật được thu giữ và thả về rừng 69

Bảng 3.7 Biểu tổng hợp các vụ vi phạm 72

Bảng 3.9 Những khu vực thường bị khai thác gỗ 72

Bảng 3.10 Thu nhập của người dân địa phương 73

Bảng 3.11 Diện tích rừng chuyển đổi làm đường giao thông 74

DANH LỤC BẢN ĐỒ VÀ HÌNH Bản đồ 1.1 Bản đồ vị trí VQG Pù Mát 13

Bản đồ 2.1 Bản đồ khu vực điều tra thú lớn – VQG Pù Mát 30

Hình 2.2 Tuyến chính và tuyến thứ cấp 32

Hình 2.3 Các số đo cơ bản của sọ thú 33

Hình 2.4 Cách đo các chỉ tiêu của sừng 34

Hình 2.5 Cách đo các chỉ tiêu chân, móng của thú Móng guốc ngón chẵn 34

Hình 3.1 Sự đa dạng về loài trong các bộ 44

Bản đồ 3.2 Bản đồ phân chia các dạng sinh cảnh rừng 52

Hình 3.3 Sự phân bố của các loài theo sinh cảnh 54

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Khu hệ thú hoang dã của Việt Nam rất đa dạng về thành phần loài, phân bố ở hầu hết các vùng địa lý và cảnh quan khác nhau Ngày nay, người ta ngày càng nhận thấy các loài thú hoang dã không những giữ vai trò nhất định trong hệ sinh thái mà còn

có tầm quan trọng đối với sự phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội Điều đó được thể hiện qua các mặt như: Thịt thú làm thực phẩm, nhiều sản phẩm của thú là những nguồn dược liệu quý, là chất định hương trong kỹ nghệ sản xuất mỹ phẩm, da thú được dùng làm quần áo, giầy dép, phục vụ cuộc sống của nhiều thế hệ từ lâu đời; ngoài ra, một

số loài thú hoang dã còn được nuôi làm cảnh, phục vụ cho các nghiên cứu về y học, chăn nuôi và là nguồn gen quý (nhân giống, lai tạo giống ) Tuy nhiên, hiện nay chúng bị khai thác quá mức nên nhiều loài đã bị suy giảm về số lượng, một số loài đang đứng trước nguy cơ bị tuyệt chủng Sách Đỏ Việt Nam (2007) đã thống kê có 5 loài thú đã bị tuyệt chủng hoàn toàn hoặc tuyệt chủng trong thiên nhiên (Cầy rái cá

Cynogale bennetti, Heo vòi Tapirus indicus, Tê giác hai sừng Dicerorhinus sumatrensis, Hươu sao Cervus nippon, Bò xám Bos sauveli) và 85 loài đang bị đe dọa

diệt vong ở các mức độ khác nhau, chiếm gần 28% tổng số loài thú hoang dã đã biết của Việt Nam Danh lục đỏ IUCN (2014) đã ghi nhận và đánh giá được 5.488 loài Do

đó, vấn đề nghiên cứu và bảo tồn các loài thú lớn nguy cấp, quý hiếm đang là vấn đề thời sự Nhà nước Việt Nam, cũng như các nước trên thế giới đã vào cuộc; nhiều tổ chức quốc tế được thành lập và hoạt động về bảo tồn, phát triển các loài này

Vườn quốc gia Pù Mát (VQG Pù Mát) được thành lập vào năm 1995 với diện tích 94.804,4 ha, là khu bảo tồn có diện tích rừng đặc dụng lớn nhất phía Bắc Việt Nam, đại diện cho hệ sinh thái rừng nhiệt đới và á nhiệt đới điển hình trên núi đất; độ che phủ của rừng chiếm trên 90%, trong đó rừng nguyên sinh chưa bị tác động chiếm gần 40% VQG Pù Mát được xác định là khu vực có giá trị đa dạng sinh học cao với rất nhiều loài thú lớn nguy cấp, quý hiếm có giá trị bảo tồn cấp quốc tế và trong nước (Hổ, Voi, Vượn đen má trắng, các loài linh trưởng ) Đặc biệt, trong thế kỷ 20 các nhà khoa học đã ghi nhận 4 loài thú lớn mới cho khoa học tại Việt Nam thì cả 4 loài

đều có mặt tại VQG Pù Mát Cụ thể: Sao La (Pseudoryx nghetinhensis), Mang Lớn (Muntiacus vuquangensis), Mang trường sơn (Muntiacus truongsonensis), Thỏ Vằn (Nesolagus timminsi) Chính vì vậy, VQG Pù Mát đóng vai trò rất quan trọng trong

Trang 9

chiến lược bảo tồn đa dạng sinh học của Việt Nam, cũng như thế giới Bên cạnh đó, Vườn có 61 km ranh giới tiếp giáp với một khu rừng nguyên sinh ít bị tác động của nước bạn Lào (huyện Viengthong, tỉnh Bolikhamxay) Tổng diện tích VQG Pù Mát và khu rừng nguyên sinh của Lào khoảng 250.000ha đã thành một khu vực rộng lớn và quan trọng để thiết lập các chương trình bảo tồn liên quốc gia nhằm bảo tồn các loài thú lớn có phạm vi hoạt động rộng như Hổ, Voi Tuy nhiên, công tác quản lý VQG vẫn còn gặp nhiều khó khăn vì các số liệu về hiện trạng, sinh học, sinh thái của các loài thú lớn nguy cấp, quý hiếm chưa được nghiên cứu một cách đầy đủ Để đáp đáp ứng yêu

cầu đó, chúng tôi đã chọn và thực hiện đề tài “Nghiên cứu tính đa dạng và đề xuất

một số giải pháp bảo tồn các loài thú lớn nguy cấp, quý hiếm ở Vườn quốc gia Pù Mát, tỉnh Nghệ An”

2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

- Xác định thành phần các loài thú lớn nguy cấp, quý hiếm ở VQG Pù Mát

- Xác định hiện trạng quần thể và sinh cảnh của một số loài có ý nghĩa bảo tồn cao ở VQG Pù Mát

- Xác định các mối đe dọa đến quần thể và sinh cảnh của các loài thú lớn nguy cấp, quý hiếm Đề xuất các giải pháp tăng cường quản lý bảo tồn chúng ở VQG Pù Mát

3 Đối tượng nghiên cứu

Các loài thú lớn nguy cấp, quý hiếm có ở VQG Pù Mát

4 Nội dung nghiên cứu

4.1 Điều tra bổ sung và và cập nhật danh sách các loài thú lớn cho VQG Pù Mát 4.2 Xác định các loài thú lớn nguy cấp, quý hiếm cần ưu tiên bảo tồn

4.3 Đánh giá hiện trạng quần thể của một số loài thú lớn nguy cấp, quý hiếm có

ý nghĩa bảo tồn cao ở VQG Pù Mát

4.4 Xác định các đe dọa trực tiếp, gián tiếp đến các loài thú lớn nguy cấp, quý hiếm và sinh cảnh sống của chúng

4.5 Xây dựng các giải pháp tăng cường quản lý bảo tồn các loài thú lớn nguy cấp, quý hiếm ở VQG Pù Mát

Trang 10

Chương 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1 Sơ lược tình hình nghiên cứu thú ở Việt Nam và VQG Pù Mát

1.1.1 Lịch sử nghiên cứu thú ở Việt Nam

Theo “Động vật chí Việt Nam” (2008) [2]: Lịch sử nghiên cứu khu hệ thú hoang dã Việt Nam gắn liền với lịch sử nghiên cứu động vật giới Việt Nam và có thể chia thành 3 thời kỳ như sau: Trước 1954; từ 1955 đến 1975 và từ 1975 đến nay

* Thời kỳ trước 1954

Nghiên cứu khu hệ thú ở Việt Nam được bắt đầu vào đầu thế kỉ 18 với các công trình của Lê Quý Đôn (1724-1784): Sách “Văn đài loại ngữ” và “Phủ biên tạp lục”, sách “Đại Nam nhất thống chí” của các nhà bác học Triều Nguyễn (1865-1882), Trong thời kỳ này, việc nghiên cứu tập trung vào thống kê những loài thú có sản phẩm quí giá (như voi, tê giác, hươu, nai, hươu xạ, gấu, hổ, báo,…) liên quan đến việc khai thác các sản phẩm của chúng làm đồ mỹ nghệ trang trí các lâu đài chùa chiền hoặc cống nạp cho các triều đại phong kiến nước ngoài (ngà voi, sừng tê giác, móng trâu bò, vuốt và da hổ, báo, ) và làm thuốc chữa bệnh trong nhân dân (mật gấu, mật các loài khỉ, vảy tê tê, xạ hương, nhung hươu,…)

Đến thế kỉ 19, các nhà khoa học nước ngoài bắt đầu các cuộc khảo sát về động vật giới Việt Nam, đã thu thập các mẫu vật thú chuyển về các bảo tàng tự nhiên

ở Pari (Pháp) và Luân Đôn (Anh) để phân tích George Filayson (Anh) đã tiến hành các cuộc khảo sát thú đầu tiên ở Thái Lan, Lào, Campuchia và Việt Nam vào những năm 1821-1822 Các tiêu bản thú thu được trong các đợt khảo sát này dần dần được M.E Dustales (1874, 1893, 1898), R Germain (1887) và J H Gurney (1889) phân tích và công bố

Đến cuối thế kỉ 19, đầu thế kỉ 20, việc khảo sát động vật giới Việt Nam tiếp tục được hàng loạt các nhà khoa học nước ngoài thực hiện: Milne-Edwards (1867-1874), Morice (1875), Billet (1896-1898); Butan (1900-1906), Kloss (1920-1926), Delacour (1925-1933), Kelley-Roosevelt (1928-1929), Đoàn nghiên cứu lịch sử tự nhiên ở Đông Dương của Pavie (1879-1895) đã tiến hành khảo sát tại Lào, Cămpuchia, Thái Lan và Việt Nam Ở Việt Nam, đoàn chủ yếu khảo sát ở Nam Bộ Các tiêu bản thú của đoàn Pavie được Pousargues phân tích và công bố (1904)

Trang 11

Cùng thời gian này (1900-1906), có đoàn khoa học thường trú Đông Dương Bộ do Boutan dẫn đầu đã khảo sát ở Bắc Bộ, thu thập các tiêu bản thú gửi về Pari và được Ménégaux (1905-1906) phân tích Tiếp đến, là đoàn Delacour (1925-1933) khảo sát ở nhiều địa phương trên toàn quốc và đoàn nghiên cứu của Kelley-Roosevelt (1928-1929) đã tiến hành nghiên cứu thú tại Lào Cai, Quảng Trị và Huế Các tiêu bản thú của 2 đoàn trên được Thomas (1925 - 1929) và Osgood (1932) phân tích và công bố

Một số công trình tiêu biểu trong thời kỳ này: Bộ sách của A Pavie xuất bản năm 1904 nói về các loài thú ở Đông Dương; công trình của Boutan (1906)

“Decades zoologiques, mammiferes, Miss Sc Per Explor Indoch., Hanoi” nói về thú ở miền Bắc Việt Nam Đặc biệt, Osgood (1932) “Mammals of the Kelley-Roosevelts and Delacour Asiatic Expeditions” đã thống kê ở Việt Nam có 172 loài và loài phụ thú Đây là một công trình khoa học đầy đủ nhất về khu hệ động vật có vú ở Việt Nam trong thời kỳ này

Từ năm 1945 đến 1954, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp diễn ra ác liệt trên toàn quốc đã làm gián đoạn các hoạt động khảo sát động vật hoang dã ở Việt Nam

* Thời kỳ từ 1955 đến 1975

Sau khi miền Bắc được giải phóng và hoà bình được lập lại (1954), do yêu cầu của thực tiễn phát triển kinh tế đất nước cần phải nắm vững nguồn tài nguyên thiên nhiên, trong đó có tài nguyên sinh vật Công tác điều tra động vật nói chung và thú nói riêng được thực hiện bởi các nhà khoa học Việt Nam

Vào những năm 1955-1960, việc nghiên cứu nguồn lợi thú rừng còn ít: Khoa Sinh vật Trường Đại học tổng hợp Hà Nội (nay là Đại học Khoa học tự nhiên thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội) nghiên cứu để phục vụ cho giảng dạy và học tập của sinh viên Dần dần công tác nghiên cứu được mở rộng hơn, đội ngũ cán bộ ngày càng đông, việc nghiên cứu thú được đẩy mạnh Vào những năm 1960 – 1975, công tác nghiên cứu thú ở miền Bắc Việt Nam do 3 cơ quan chính đảm nhận là: Ban Sinh vật địa học - Uỷ ban Khoa học và Kỹ thuật Nhà Nước; Trường Đại học tổng hợp Hà Nội và Tổng Cục Lâm nghiệp Ngoài ra, còn có một số cơ quan khác cũng tiến hành cứu: Viện Sốt rét – Ký sinh trùng và Côn trùng, Viện Vệ sinh Dịch tễ, Trường Đại học quân y thuộc Bộ Y tế và Trường Đại học Sư Phạm Hà Nội Thời kỳ này, nghiên cứu động vật được tiến hành rộng rãi ở khắp các tỉnh miền Bắc Việt Nam Nhiều kết quả lần lượt được công bố trên các tạp chí trong và ngoài nước

Trang 12

Về thú có những công trình của Đào Văn Tiến đã được công bố trên tạp chí Sinh vật – Địa học, tạp chí Hoạt động khoa học v.v và một số tạp chí nước ngoài như: Tạp chí động vật học của Liên Xô cũ, Zoologischer Azeiger Mitt Mus Berlin, zeitr Saugetier Kunde v.v Về các loài thú ăn thịt và thú móng guốc ngón chẵn, có công trình của Đặng Huy Huỳnh (1968); nghiên cứu về khu hệ sinh hoc, sinh thái của một số loài thú có công trình của Võ Quý, Mai Đình Yên, Lê Hiền Hào, Nguyễn Thạnh (1961); Lê Hiền Hào (1962,1964, 1969, 1973); Lê Hiền Hào và Trần Hải (1970, 1971); Đặng Huy Huỳnh và

Vũ Đình Tuân (1964); Đặng Huy Huỳnh, Đỗ Ngọc Quang và Sablina (1964); Đặng Huy Huỳnh, Cao Văn Sung (1965); Cao Văn Sung (1971); Đặng Huy Huỳnh, Phạm Trọng Ảnh (1973-1974); Đặng Huy Huỳnh, Phạm Trọng Ảnh, Bùi Kính (1975) …

Đáng chú ý là việc điều tra khu vực xã Thường Tiến (Kim Bôi, Hòa Bình) để lập thành Khu bảo vệ thiên nhiên do Cục bảo vệ - Tổng cục Lâm nghiệp tiến hành (Nguyễn Thanh Sơn, Phạm Mộng Giao, 1973)

Đặc biệt đáng kể, từ năm 1962 – 1966 Ủy ban Khoa học và Kỹ thuật Nhà nước

tổ chức một đoàn nghiên cứu liên hợp động vật – ký sinh trùng, côn trùng, gồm nhiều cơ quan phối hợp đã tiến hành điều tra trên 12 tỉnh ở miền Bắc Việt Nam, trong đó có nhóm nghiên cứu thú

Tiếp đó, tháng 2- 1968 đoàn nghiên cứu động vật của Ủy ban Khoa học và Kỹ thuật Nhà nước phối hợp với Viện Sốt rét – Ký sinh trùng và Côn trùng đã tiến hành nghiên cứu ở Hà Bắc Từ tháng 5/1969 - 5/1970, đoàn đã tiến hành nghiên cứu một cách

có hệ thống trên toàn tỉnh Quảng Ninh Kết quả được tổng kết dưới dạng báo cáo “Kết quả điều tra khu hệ động vật có xương sống trên cạn, ký sinh trùng và côn trùng tỉnh Quảng Ninh, 1970”, trong đó có công bố các loài thú phân bố ở tỉnh Quảng Ninh

Tháng 10 – 1971, đoàn nghiên cứu động vật của Ủy ban Khoa học và Kỹ thuật Nhà nước tiến hành nghiên cứu một cách có hệ thống về giới động vật ở tỉnh Hòa Bình Kết quả nghiên cứu đã xuất bản thành cuốn sách chuyên khảo “Động vật kinh tế tỉnh Hòa Bình, 1974”

Trong thời kỳ này (1955-1975), các nhà khoa học đã thống kê được ở miền Bắc Việt Nam có 169 loài thú (202 loài và phân loài) thuộc 32 họ và 11 bộ (UBKHKTNN, 1981)

Tại miền Nam Việt Nam có công trình nghiên cứu về thú của F.F.D Van Peenen et al (1965 – 1969) đã công bố 164 loài và phân loài thú ở Nam Việt Nam

Trang 13

* Thời kỳ từ 1975 đến nay

Đất nước hoàn toàn giải phòng, Nam Bắc một nhà Đây là thời kỳ thuận lợi nhất trong việc tổ chức nghiên cứu động vật hoang dã nói chung và khu hệ thú nói riêng trong phạm vi cả nước Lực lượng tham gia cũng được phát triển mạnh cả về số lượng

và chất lượng nghiên cứu, bao gồm các Viện nghiên cứu (Viện Sinh vật học nay là Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật, Viện Điều tra Qui hoạch Rừng, Viện Sinh học Nhiệt đới, ), các trường đại học trong cả nước (Đại học Quốc gia Hà Nội, Đại học Sư Phạm Hà Nội, Đại học Lâm Nghiệp, Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh, ) Không những các cơ quan đã độc lập tổ chức các đợt điều tra nghiên cứu, mà Nhà nước cũng có một số chương trình trọng điểm quốc gia: Chương trình 52-02 điều tra tổng hợp Tây Nguyên (1981-1986), Chương trình CT-48C (1987-1990), chương trình nghiên cứu điều tra động vật vùng đồng bằng sông Cửu Long, các tỉnh miền Đông Nam Bộ do Viện Khoa học Việt Nam chủ trì, Chương trình kiểm kê tài nguyên rừng do Bộ Lâm nghiệp chủ trì; chương trình Động vật chí Việt Nam do Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam chủ trì (1996-2005); Đặc biệt, trong thời kỳ này có sự phát triển đáng kể về hợp tác quốc tế trong điều tra nghiên cứu động vật ở nước ta Trước hết là sự hợp tác với Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa trước đây (Trung Quốc, Hungary, Ba Lan, Đức, ) Đáng kể nhất là Chương trình hợp tác Việt-Xô nghiên cứu tổng hợp hệ sinh thái rừng nhiệt đới Kon Hà Nừng (Gia Lai) giữa Viện Sinh vật học thuộc Viện Khoa học Việt Nam và Viện Hình thái Tiến hoá và Sinh thái động vật thuộc Viện hàn lâm Khoa học Liên Xô (1981-1985) Sau những năm

1985, với chính sách đổi mới và mở cửa, sự hợp tác được mở rộng sang các nước không phải xã hội chủ nghĩa (Mỹ, Anh, Pháp, Hà Lan, Nhật, ) Một số tổ chức chính phủ và phi chính phủ đã mở văn phòng đại diện và có những đóng góp tích cực vào công tác điều tra nghiên cứu động vật ở Nước ta: Hiệp hội Bảo tồn Thiên Nhiên Thế giới (IUCN), Quĩ Quốc tế về Bảo tồn Thiên nhiên (WWF), Tổ chức Birdlife Quốc tế,

Tổ chức Bảo tồn động thực vật Quốc tế (FFI), Trung tâm Nhiệt đới Việt-Nga,

Kết quả nghiên cứu thú trong thời kỳ này là rất to lớn với hàng nghìn công trình được công bố trong nước và trên quốc tế của rất nhiều nhà khoa học: Đào Văn Tiến, Đặng Huy Huỳnh, Cao Văn Sung, Lê Vũ Khôi, Hà Đình Đức, Trần Hồng Việt, Phạm Trọng Ảnh, Hoàng Minh Khiên, Nguyễn Xuân Đặng, Lê Xuân Cảnh, Phạm Nhật, Đặng Ngọc Cần, Nguyễn Minh Tâm, Vũ Ngọc Thành, Nguyễn Trường

Trang 14

Sơn, Lê Đình Thống, Ngoài ra, còn rất nhiều các luận án tiến sỹ của các khoa học Việt Nam cũng góp phần tổng kết các kết quả nghiên cứu thú ở Việt Nam

Các công trình đã công bố về thống kê thành phần loài thú ở Việt Nam phải kể đến là:

- “Khảo sát thú miền Bắc Việt Nam” của Đào Văn Tiến (1985) đã phân tích các mẫu vật thú sưu tầm được ở 12 tỉnh miền Bắc Việt Nam từ năm 1957-1971 và đưa ra danh lục thú miền Bắc Việt Nam gồm 129 loài và phân loài thú thuộc 32 họ, 11 bộ

- "Những loài gặm nhấm ở Việt Nam” của Cao Văn Sung và cs (1980) đã thống kê ở Việt Nam có 64 loài gậm nhấm thuộc 7 họ

- “Kết quả điều tra cơ bản động vật miền Bắc Việt Nam” của Đặng Huy Huỳnh

và cs (1981) đã tập hợp các tư liệu điều tra thú ở các tỉnh miền Bắc Việt Nam, lập danh sách thú miền Bắc Việt Nam gồm 169 loài thú (202 loài và phân loài) thuộc 32

họ và 11 bộ

- “Danh lục các loài thú (Mammalia) Việt Nam” của Đặng Huy Huỳnh và cs (1994) đã thống kê ở Việt Nam 223 loài thú thuộc 12 bộ, 37 họ (không thống kê các loài thú biển)

- “Danh lục các loài thú Việt Nam” của Lê Vũ Khôi (2000) thống kê 252 loài (289 loài và phân loài) thú ở Việt Nam (không thống kê các loài thú biển)

- “Danh lục các loài thú hoang dã Việt Nam” của Đặng Ngọc Cần và cs (2008) thống kê 295 loài (298 loài và phân loài) thú thuộc 37 họ và 13 bộ ở Việt Nam (không thống kê thú biển)

Một số công trình chính nghiên cứu về các đặc điểm khu hệ và sinh học sinh thái của các loài thú Việt Nam:

- “Khảo sát thú miền Bắc Việt Nam” của Đào Văn Tiến (1985), phân tích một số đặc điểm khu hệ và sinh thái học thú miền Bắc Việt Nam

- “Những loài gặm nhấm ở Việt Nam” của Cao Văn Sung và cs (1980), phân tích một số đặc điểm sinh học, sinh thái của các loài gậm nhấm Việt Nam

- “Sinh học và sinh thái các loài thú móng guốc ở Việt Nam” của Đặng Huy Huỳnh (1986), mô tả đặc điểm sinh học, sinh thái của 19 loài thú móng guốc ở Việt Nam

- “Voọc Cát Bà: Quá khứ, hiện tại và tương lai” của Nadler et al., (2000),

giới thiệu một số nghiên cứu hiện trạng quần thể và sinh học, sinh thái của loài

Trang 15

- “Sách Đỏ Việt Nam Phần Động Vật” (2007), mô tả hình trạng và đặc điểm sinh học sinh thái của 90 loài thú đang bị đe doạ diệt vong ở Việt Nam

- “Thú rừng (Mammalia) Việt Nam - Hình thái và sinh học sinh thái một số loài”, tập 1 của Đặng Huy Huỳnh và cs (2008), môt tả đặc điểm sinh học sinh thái của nhiều loài thú nhỏ (thú ăn sâu bọ Insectivora, Dơi Chiroptera) ở Việt Nam

- “Động vật chí Việt Nam Tập 25: Lớp Thú –Mammalia” của Đặng Huy Huỳnh và cs (2008) mô tả đặc điểm hình thái phân loại và sinh học sinh thái của 145 loài thú ở Việt Nam thuộc các bộ Linh trưởng (Primates), Ăn thịt (Carnivora), Móng guốc ngón lẻ (Perissodactyla), Móng guốc ngón chẵn (Artiodactyla) và bộ Gậm nhấm (Rodentia)

Như vậy, trong suốt 3 thế kỷ qua, các nghiên cứu về khu hệ thú Việt Nam đã từng bước phát triển cả về lượng và về chất Theo danh lục đầy đủ nhất [2] [23], đến nay ở Việt Nam đã thống kê được 322 loài thú thuộc 43 họ và 15 bộ (kể cả các loài thú biển) Các nghiên cứu về các đặc điểm sinh học sinh thái của các loài cũng đã thu được những kết quả đáng kể góp phần quan trọng vào việc quy hoạch quản lý, bảo tồn, phát triển và sử dụng hợp lý khu hệ thú hoang dã Việt Nam Tuy vậy, trong thiên nhiên Việt Nam kỳ vọng rằng còn nhiều điều bí ẩn về khu hệ thú, cần được tiếp tục nghiên cứu, tìm hiểu cả về mặt phân loại học, về sinh thái học, về giá trị và các giải pháp để tổ chức bảo tồn nguồn tài nguyên quý hiếm này

1.1.2 Tình hình nghiên cứu thú ở VQG Pù Mát

Năm 1992 các chuyên gia của viện điều tra quy hoạch rừng đã tiến hành điều tra nghiên cứu đa dạng sinh học tại các khu vực rừng tự nhiên, nằm dọc theo biên giới Việt – Lào (huyện Thanh Chương, Anh Sơn và Con Cuông) để làm sở sở thành lập Khu BTTN Pù Mát Thông qua đợt điều tra này, bước đầu đã xác định được 64 loài thú, 137 loài chim, 25 loài bò sát, 15 loài lưỡng thê [35] Sau khi thành lập Khu BTTN Pù Mát

Trang 16

(nay là VQG Pù Mát) năm 1995, được sự hỗ trợ của Dự án Lâm nghiệp xã hội và bảo tồn thiên nhiên Nghệ An (SFNC), đã có rất nhiều chương trình điều tra nghiên cứu về động vật, trong đó có các loài thú được thực hiện trong thời gian từ năm 1998 – 2004:

- Tài liệu “Pù Mát, Điều tra đa dạng sinh học của một khu bảo vệ ở Việt Nam” (2001) [9], báo cáo trình bày chi tiết kết quả các chương trình điều tra, nghiên cứu về

đa dạng sinh học của VQG Pù Mát từ năm 1998 đến 2001 Đối với khu hệ thú, chủ yếu là tổng hợp kết quả của hai chương trình: Chương trình điều tra đa dạng sinh học đối với khu hệ thú do FFI chủ trì thực hiện với sự hỗ trợ về kinh phí của Dự án SFNC

và chương trình bẫy ảnh tự động do phòng khoa học phối hợp với chuyên gia của Dự

án SFNC thực hiện từ năm 1998 – 2001 Tài liệu đã thống kê được 20 loài thú nhỏ, 39 loài dơi và 42 loài thú lớn Các chương trình nghiên cứu về thú nhằm mục đích xây dựng danh lục thành phần loài phân bố ở VQG Pù Mát

- Báo cáo “Chương trình điều tra thú lớn” (2002) [11], do Phòng Khoa học và HTQT, VQG Pù Mát thực hiện đã điều tra được 30 loài thú lớn, thuộc 15 họ, 6 bộ gồm: Bộ Scandentia có 1 loài, bộ Proboscidea có 1 loài, bộ Lagomorpha có 1 loài, bộ Pholidota có 2 loài, bộ Primates có 8 loài, bộ Rodentia có 5 loài, bộ Artiodactyla có 9

loài và bộ Carnivora có 21 loài

- Báo cáo “Điều tra nhanh đa dạng sinh học một số điểm trong Khu BTTN Pù Mát” (2003) [17], do tổ chức Birdlife thực hiện đã ghi nhận được 41 loài thú, trong đó

có 38 loài ghi nhận bằng quan sát trực tiếp và phân tích các di vật còn được lưu giữ trong nhà các thợ săn gồm Tupaiidae có 1 loài, Cynocephalidae có 1 loài, Cercopithecidae có 5 loài, Hylobatidae có 1 loài, Canidae có 1 loài, Ursidae có 2 loài, Mustelidae có 3 loài, Vierridae có 7 loài, Herpestidae có 1 loài, Felidae có 4 loài, Elephantidae có 1 loài, Suidae có 1 loài, Cervidae có 3 loài, Bovidae có 3 loài, Sciuridae có 5 loài, Pteromyidae có 1 loài, Hystricidae có 1 loài

- Năm 2007 một đoàn công tác của Viện sinh thái và tài nguyên sinh vật do PGS

TS Nguyễn Xuân Đặng trưởng đoàn đã phối hợp với Phòng Khoa học và HTQT thực hiện điều tra nghiên cứu nơi cư trú và thức ăn Sao la tại VQG Pù Mát Kết quả điều tra

đã tiếp tục khẳng định: Khu vực suối khoáng (salt lick) thuộc Khe Bống là nơi có sự phân bố của Sao La và cũng là nơi dễ ghi nhận nhất dấu vết của Sao La tại hiện trường

Cho đến nay đã ghi nhận được có 133 loài thú, thuộc 29 họ, 11 bộ phân bố ở VQG Pù Mát Trong đó có 46 loài nằm trong SĐVN (2007) bao gồm 3 loài ở mức CR

Trang 17

(Rất nguy cấp), 18 loài ở mức EN (Nguy cấp),19 loài ở mức VU (Sẽ nguy cấp), 3 loài

ở mức LR (Ít nguy cấp), 3 loài ở mức DD (Thiếu dẫn liệu) Thực tế tư liệu về đặc điểm sinh học sinh thái, hiện trạng về khu hệ thú, đặc biệt là đối với các loài thú lớn nguy cấp, quý hiếm còn rất nghèo nàn, dẫn đến thiếu cơ sở để đề ra các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý VQG Pù Mát Do vậy, việc nghiên cứu tính đa dạng, các đặc điểm sinh học sinh thái, cũng như các mối đe dọa đến các loài thú lớn nguy cấp, quý hiếm

và đưa ra các giải pháp tăng cường quản lý bảo tồn nguồn tài nguyên thú rừng là rất cần thiết và cấp bách

1.2 Các giải pháp bảo tồn Đa dạng sinh học

Để bảo tồn, phát triển các loài đang bị đe dọa tuyệt chủng có 2 giải pháp quan trọng nhất đang được sử dụng rộng rãi trên thế giới là bảo tồn tại chỗ và bảo tồn chuyển chỗ

* Bảo tồn tại chỗ (in-situ)

Bảo tồn tại chỗ là bảo tồn các hệ sinh thái và nơi cư trú tự nhiên, duy trì và khôi phục số lượng các loài trong môi trường tự nhiên của chúng Phương thức bảo tồn này giúp duy trì được tiềm năng tiến hoá của các thế hệ sinh vật trong môi trường Bảo tồn tại chỗ được xem là phương thức bảo tồn phù hợp nhất, vì nó đảm bảo được điều kiện sống phù hợp cho các loài, duy trì tiềm năng tiến hoá của các loài và các thế hệ sinh thái tự nhiên

Một trong các hình thức bảo tồn tại chỗ hiệu quả nhất hiện nay trên thế giới

là xây dựng hệ thống các khu BTTN Ngoài ra, bảo tồn tại chỗ còn bao gồm cả bảo tồn các hệ sinh thái bên ngoài các khu BTTN

Trong vài thập kỷ qua, các khu BTTN trên thế giới đang có xu hướng tăng

cả về số lượng và diện tích Hiện nay trên thế giới có hơn 100.000 khu BTTN (Tạp chí Khu BTTN, Tập 14, số 3, năm 2004) chiếm 11,7% diện tích đất liền toàn thế giới VQG chiếm số lượng và diện tích lớn nhất, tiếp đến là các khu bảo tồn loài và sinh cảnh

Công ước ĐDSH (1992) xác định các khu BTTN là công cụ hữu hiệu và có vai trò quan trọng trong bảo tồn đa dạng sinh học “tại chỗ” Tại điều 8 “Bảo tồn tại chỗ” của Công Ước có các mục (a), (b) và (c) qui đinh rõ các nước tham gia công ước ĐDSH có trách nhiệm thành lập hệ thống khu BTTN, xây dựng các hướng dẫn

Trang 18

lựa chọn, thành lập và quản lý các khu BTTN, và quản lý các tài nguyên sinh học bên trong các khu BTTN để đảm bảo bảo tồn và sử dụng bền vững

Ở Việt Nam đến nay đã có 30 VQG và khoảng 70 khu bảo tồn loài, sinh cảnh Đa dạng sinh học tập trung chủ yếu tại đây, nên các VQG, khu BTTN đóng vai trò rất quan trọng trong công tác bảo tồn nguồn tài nguyên này tại Việt Nam

* Bảo tồn chuyển chỗ (ex-situ)

Bảo vệ chuyển chỗ là bảo vệ các loài ngoài nơi chúng cư trú tự nhiên Nói cách khác, là đưa đại diện của các loài có nguy cơ diệt vong vào nhân nuôi trong điều kiện nhân tạo để bảo tồn, phát triển chúng thành các quần thể mới nhằm đảm bảo sự tồn tại của loài và tạo nguồn con giống để bổ sung cho các quần thể tự nhiên đó đang bị suy giảm hoặc thả lại vào thiên nhiên để hình thành những quần thể tự nhiên mới ở những nơi mà trước đây loài đó tồn tại Nhân nuôi nhân tạo chỉ là phương pháp bổ trợ chứ không thể thay thế cho phương thức bảo tồn tại chỗ

Bảo tồn chuyển chỗ là một bộ phận quan trọng trong chiến lược tổng hợp nhằm bảo tồn các loài đang có nguy cơ bị tuyệt diệt (Falk, 1991) Bảo tồn chuyển chỗ và bảo tồn tại chỗ là những cách tiếp cận có tính bổ sung cho nhau (Kennedy, 1987; Robinson, 1992) Những cá thể từ các quần thể được bảo tồn chuyển chỗ sẽ được thả định kỳ ra ngoài thiên nhiên để tăng cường cho các quần thể được bảo tồn nguyên tại chỗ Nghiên cứu trên các quần thể nhân nuôi có thể cung cấp cho ta những hiểu biết về đặc điểm sinh học của loài và gợi ra những chiến lược bảo tồn mới cho các quần thể được bảo tồn tại chỗ Các quần thể chuyển chỗ mà có thể tự duy trì quần thể thì sẽ làm giảm bớt nhu cầu phải bắt các cá thể từ ngoài thiên nhiên để phục vụ mục đích trưng bày và nghiên cứu Cuối cùng, việc nhân nuôi

và trưng bày các con vật sẽ góp phần giáo dục quần chúng về sự cần thiết phải bảo tồn loài cũng như bảo vệ các thành viên khác của loài đó trong thiên nhiên Các cơ sở để bảo tồn chuyển chỗ động vật hoang dã gồm vườn thú, trại nuôi động vật, bể nuôi và các chương trình nhân giống động vật hoang dã Tuy nhiên, bảo tồn chuyển chỗ khá tốn kém Chi phí cho việc nuôi các con voi châu Phi

và các con tê giác trong vườn thú lớn gấp 50 lần chi phí cho việc bảo tồn một số lượng tương đương cá thể tại các VQG ở Đông Phi (Leader-Williams, 1990)

Theo bản “Tuyên bố chính sách của IUCN về nhân nuôi nhân tạo” (1987) thì tất cả các taxon mà có số lượng cá thể ngoài thiên nhiên dưới 1000 cá thể đều cần có

Trang 19

chương trình nhân nuôi nhân tạo Trên quan điểm đó, ở Việt Nam có rất nhiều loài cần tiến hành nhân nuôi nhân tạo: Voi, Bò xám, Tê giác, Nai cà toong, Hươu vàng, Hươu xạ, Voọc mông trắng, Voọc vá, Voọc đen, Voọc mũi hếch, Cầy giông sọc, Cầy vằn, Mèo rừng, Hổ, nhiều loài công, trĩ, cá sấu và các loài bò sát, ếch nhái khác

Tuy nhiên, nhân nuôi động vật hoang dã, nhất là động vật quý hiếm là công việc rất khó khăn và tốn kém vì những lý do dưới đây:

- Chúng ta cần có những hiểu biết đầy đủ về đặc điểm sinh học, sinh thái của loài, trong khi đó các nghiên cứu về sinh học sinh thái các loài thường quá ít hoặc hầu như chưa có

- Cần có đủ kinh phí để tạo ra cho động vật nuôi điều kiện sống gần với thiên nhiên

- Phải biết tổ chức tốt và có kinh nghiệm trong nhân nuôi động vật hoang dã Ngoài ra, việc nuôi dưỡng nhiều thế hệ liên tục trong điều kiện nuôi sẽ gây ra những biến đổi bất lợi trong tập tính hoạt động và di truyền học của loài như:

- Mất đi những tập tính rất cần thiết cho việc trở lại sống trong điều kiện tự nhiên như khả năng tìm mồi, tránh kẻ thù, cạnh tranh nơi trú ngụ, khả năng tìm bạn phối giống, Những tập tính này cần được luyện tập cho động vật trước khi thả chúng trở lại thiên nhiên

- Động vật qua nhiều thế hệ nuôi khi thả lại thiên nhiên thường không có khả năng sinh sản

- Trong điều kiện nuôi, do chủng quần có số lượng cá thể quá ít nên thường dẫn đến hiện tượng cận giao, suy thoái di truyền làm giảm khả năng chống bệnh tật, giảm tuổi thọ, Theo các chuyên gia của IUCN thì để một chủng quần tránh khỏi những hậu quả di truyền thì số lượng cá thể cần có không dưới 500 Các quần thể động vật lớn trong điều kiện nuôi thường có số lượng dưới 500 cá thể

1.3 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế – xã hội khu vực nghiên cứu

1.3.1 Đặc điểm tự nhiên

* Vị trí địa lý:

VQG Pù Mát được thành lập vào năm 1995, tiền thân là Khu BTTN Pù Mát, nằm về phía Tây Nam của tỉnh Nghệ An, có độ cao tuyệt đối giao động từ 100m đến 1841m Đỉnh cao nhất trong toàn khu vực là đỉnh Pù Mát, được lấy đặt tên cho VQG

Toạ độ địa lý của Vườn trong khoảng: 18046'30'' - 19019' 42'' độ vĩ bắc và

104031'57'' - 105003'08'' độ kinh đông Ranh giới hành chính: Ranh giới phía Nam của

Trang 20

vườn chạy dọc theo đường ranh giới quốc gia Việt - Lào; ranh giới các phần còn lại của Vườn được xác định như sau:

- Phía Đông giáp với các xã Phúc Sơn, Hội Sơn thuộc huyện Anh Sơn

- Phía Tây giáp với xã Tam Hợp, Tam Đình, Tam Quang thuộc huyện Tương Dương

- Phía Bắc giáp với xã Lạng Khê, Châu Khê, Lục Dạ, Môn Sơn thuộc huyện Con Cuông (Bản đồ 1.1)

Bản đồ 1.1 Bản đồ vị trí VQG Pù Mát

* Đặc điểm địa hình:

Địa hình VQG Pù Mát rất phức tạp và hiểm trở, bị chia cắt bởi các hệ suối chính:

Khe Thơi, Khe Choăng, Khu Bu (hợp lưu với khe Choăng) và Khe Khặng Các hệ suối này đều bắt nguồn từ biên giới Việt - Lào và đổ về Sông Cả, có độ dốc bình quân 250

-

350, độ cao so với mặt nước biển giao động trong khoảng 100m đến 1841m, bình quân

từ 800- 1500m, trong đó 90% diện tích ở độ cao dưới 1000m, khu vực cao nhất nằm ở

Trang 21

phía Nam, càng về phía Tây - Nam các dông núi cao dần, gồm những đỉnh núi cao trên 1000m kế tiếp nhau kéo dài như Cao Vều, Pù Huổi Ngoã, Đỉnh Pù Mát, cũng từ các dông núi đó có các thung lũng dốc trải dài xuống tạo thành một hệ thống các dông đồi vuông góc với các dông núi chính, các dông này có độ dốc cao, tạo thành các đỉnh có độ cao từ 800 - 1500m và tạo thành đường mòn cho một số loài thú lớn (có vùng sống, vùng kiếm ăn rộng) như: Voi, Bò tót, di chuyển qua lại giữa các vùng, nhất là mùa khô khi thức ăn khan hiếm hoặc nơi sống bị tác động Toàn khu vực có rất ít nơi bằng phẳng, những khu vực đồi bằng và thấp có dân sinh sống, sản xuất nông nghiệp [16]

* Địa chất và thổ nhưỡng:

- Địa chất: VQG Pù Mát nằm trên sườn của dải Trường Sơn Bắc Quá trình

kiến tạo địa chất được hình thành qua các kỷ Palêzôi, Đềvôn, Cácbon-Pecmi,Triat, Hexini… đến Miroxen cho đến ngày nay Trong suốt quá trình phát triển lâu dài của Trường Sơn thì chu kỳ tạo núi Hecxini, địa hình luôn bị ngoại lực tác động mạnh mẽ tạo nên 4 dạng địa mạo chủ yếu

+ Núi cao trung bình: Uốn nếp khối nâng lên mạnh, tạo nên một dải cao và hẹp nằm ngay biên giới Việt – Lào (có vài đỉnh cao trên 2000m như Pulaileng 2711m, Rào

cỏ 2286m), địa hình hiểm trở, qua lại rất khó khăn

+ Kiểu địa hình núi thấp và đồi cao chiếm phần lớn diện tích của miền và có độ cao từ 1000m trở xuống Tuy cấu trúc tương dối phức tạp, được cấu tạo bởi các trầm tích, biến chất, địa hình có phần mềm mại và ít dốc hơn

+ Thung lũng kiến tạo, xâm thực tuy chiếm một diện tích nhỏ nhưng lại thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp, độ cao nhỏ hơn 300m bao gồm thung lũng các sông suối: Khe Thơi, Khe Choăng, Khe Khặng (Sông Giăng) và bờ phải Sông Cả Cấu tạo bằng các trầm tích bở rời dễ bị xâm thực Trong đó phổ biến là các dạng địa hình đồi khá bằng phẳng, bãi bồi và thềm sông khá phát triển

+ Các khối đá vôi nhỏ, phân tán dạng khối uốn nếp có quá trình Karst trẻ phân

bố hữu ngạn Sông Cả cao chừng 200-300m, cấu tạo phân phiến dầy màu xám sáng đồng nhất và tinh khiết [35]

- Thổ nhưỡng

Qua công tác khảo sát ngoài thực địa và tham khảo bản đồ thổ nhưỡng, trong khu vực có các loại đất chính như sau:

Trang 22

- Đất Feralit mùn trên núi trung bình (FH): Đất có màu vàng đỏ hoặc vàng xám, tầng mùn dầy thành phần cơ giới nhẹ đến trung bình Phân bố từ độ cao 800, 900m đến 1800m dọc biên giới Việt Lào

- Đất Feralit đỏ vàng vùng đồi và núi thấp (F): Đất có màu đỏ vàng hay vàng

đỏ, tầng tích tụ dày Phân bố phía Bắc và Đông Bắc VQG

- Đất dốc tụ và đất phù sa (D, P): Đất có màu nâu xám, thành phần cơ giới trung bình, tơi xốp giàu dinh dưỡng Phân bố ven sông suối trong VQG

- Núi đá vôi (K2): Núi đá vôi dốc đứng có cây gỗ nhỏ che phủ thấp dưới 700m Phân bố thành dải nhỏ xen kẽ nhau bên hữu ngạn Sông Cả

* Khí hậu thủy văn

VQG Pù Mát nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, chịu ảnh hưởng sâu sắc của gió mùa Đông Bắc và Tây Nam Các yếu tố khí hậu mang tính chất phân cực mạnh, hình thành hai mùa rõ rệt: Mùa nóng ẩm từ tháng 4 đến tháng 10, mùa khô lạnh

C (vào tháng giêng)

Ngược lại trong mùa nóng ẩm, do có sự hoạt động của đới gió Tây nên thời tiết rất khô và nóng, nhiệt độ trung bình lên trên 250C, tháng nóng nhất là tháng 6 và 7, nhiệt độ trung bình là 290

C

- Chế độ mưa ẩm:

Lượng mưa từ ít tới trung bình, 90% lượng nước tập trung trong mùa mưa Hai tháng có lượng mưa lớn nhất là tháng 9 và 10, thường kèm theo lũ lụt Tuy lượng mưa lớn nhưng phân bố không đều, khu vực phía Bắc (Nam Kỳ Sơn – Mường Xén) có lượng mưa là 1.300mm, khu vực núi Cao Vều (Anh Sơn – Thanh Chương) có lượng mưa là 1.790 mm

Độ ẩm không khí trong vùng đạt 85 - 86%, trong mùa mưa độ ẩm lên tới 90%

Ở các khu vực trên 1.000m và tại các thung lũng trong mùa mưa độ ẩm có khi đạt tới

Trang 23

100% Tuy vậy những giá trị cực thấp về độ ẩm vẫn thường đo được trong thời kỳ khô nóng kéo dài

- Chế độ gió: Hai hướng chính vào 2 mùa:

+ Gió Tây Nam (gió Lào) từ tháng 4 đến tháng 10, tập trung vào các tháng 6, 7 khô nóng và có ngày nhiệt độ không khí lên đến 410C, gây ảnh hưởng xấu đến đời sống động thực vật trong vùng

+ Gió mùa Đông Bắc lạnh từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau, hàng năm thường

có 16-17 đợt gió mùa Đông Bắc, mỗi đợt thường có mưa phùn nhất là vào cuối mùa

Vì vậy, về mùa này ở huyện Anh Sơn và vùng thấp của Con Cuông có độ ẩm không khí lớn hơn và không bị khô kiệt như Tương Dương và vùng cao của Con Cuông [39]

- Hệ thống sông ngòi

Sông suối trong VQG khá đa dạng và hiểm trở, các dốc cao và bờ đá đã tạo nên nhiều ghềnh thác ở đây Tất cả các sông suối thuộc VQG Pù Mát đều bắt nguồn từ mái phía Đông của dãy Pù Xai Lai Leng và tất cả đều đổ vào Sông Cả Các khe suối lớn như: Khe Thơi bắt nguồn từ núi Pù Vàn, chảy theo hướng Đông Bắc qua các huyện Tương Dương và Con Cuông đổ vào Sông Cả tại xã Lạng Khê; Khe Choăng bắt nguồn

từ núi Pù Đen Đinh và Khe Bu bắt nguồn từ núi Pù Đón Cắn chảy theo hướng Đông Bắc trong địa phận huyện Con Cuông Hai khe này hợp lưu ở cuối nguồn và đổ ra Sông Cả tại xã Châu Khê; Khe Khặng (sông Giăng) bắt nguồn từ núi M-6 nằm trong địa phận huyện Con Cuông, chảy theo hướng Đông Nam qua huyện Anh Sơn và đổ vào Sông Cả tại địa phận huyện Thanh Chương

- Chế độ thủy văn

Đặc điểm địa hình và khí hậu ảnh hưởng đến chế độ thuỷ văn, mạng lưới sông suối và dòng chảy: Các khe, suối nhiều, lượng nước thay đổi theo mùa, có nhiều nơi cạn nước vào mùa khô Bốn dòng chảy chính là Khe Thơi, Khe Bu, Khe Choăng và Khe Khặng Trong đó, Khe Khặng có lưu lượng nước lớn nhất, tiếp đến là Khe Bu, Khe Thơi và cuối cùng là khe Choăng Sông Cả có nhiều phụ lưu, nước chảy trung bình 363m3/s, tối đa 13.750m3/s (Phòng Khoa học, 2011)

* Khu hệ thực vật và động vật

- Thảm thực vật rừng

VQG Pù Mát là khu vực có nhiều quần xã thực vật đặc sắc, cần được bảo tồn, mặt khác sự phân hóa về điều kiện tự nhiên, là những nhân tố sinh thái phát sinh thảm

Trang 24

thực vật đã tạo tiền đề cần thiết cho những đánh giá đa dạng hệ sinh thái Công tác phân tích đánh giá thảm thực vật và thành lập bản đồ VQG Pù Mát theo phương pháp viễn thám đã được Dự án lâm nghiệp và bảo tồn thiên nhiên Nghệ an (SFNC) hỗ trợ thực hiện Tư liệu này đã được GS TS Nguyễn Nghĩa Thìn và cán bộ VQG Pù Mát nghiên cứu, đánh giá mang nội dung khoa học tổng hợp phục vụ cho công tác bảo tồn Kết quả thảm thực vật VQG Pù Mát được chia thành các kiểu rừng như sau

+ Kiểu rừng kín thường xanh mưa mùa chưa bị tác động ở đai cao:

++ Phân kiểu rừng kín thường xanh mưa mùa trên núi thấp:

Rừng thường xanh núi thấp chưa bị tác động phân bố ở đai cao từ 800m trở lên,

độ tàn che trung bình đạt 79% và chỉ số tán đạt 1,05 Các loài có vai trò quan trọng

nhất trong cấu trúc thảm thực vật là các loài thuộc họ Dẻ - Fagacaceae (Lithocarpus pseudosundaicus), họ Sim - Myrtaceae (Syxzygium cochinchinense) và các loài: Hopea mollissima, Vatica cinerea, Madhuca pasquieri, Canarium thorelii, Pterospermum heterophyllum, Gironniera subaequalis…

++ Phân kiểu rừng kín thường xanh mưa mùa hỗn giao cây lá rộng - cây lá kim: Phân bố ở độ cao trên 1000m ở phí Bắc và trên 900m ở phía Nam VQG Loại rừng này chiếm 25% diện tích của VQG và giữ được tính nguyên sinh rất cao vì chưa

có các hoạt động khai thác, phá hoại Hoạt động khai thác ở đây mới chỉ dừng lại ở các nhóm đi tìm trầm Trong một số vùng của Vườn, đặc biệt là khu vực biên giới Việt - Lào, loại rừng này chiếm ưu thế

++ Phân kiểu rừng lùn:

Rừng lùn ở Pù Mát xuất hiện ở độ cao trên 1500m, diện tích rừng lùn khoảng 1.450ha, chiếm 1,6% diện tích vùng lõi của VQG, phân bố trên các giông và chỏm núi dốc có đá nổi và hướng gió mạnh

+ Kiểu rừng thường xanh mưa mùa bị tác động mạnh ở đai cao:

Thảm thực vật thường xanh ở đai độ cao trên 800m so với mực nước biển, khu vực bị tác động mạnh bởi nhiều hoạt động của con người, thuộc kiều này gồm phân kiểu: Rừng thường xanh thứ sinh mưa mùa hỗn giao cây lá rộng trên núi thấp Thảm thực vật đạt độ tàn che trung bình 78% với độ chỉ tán là 1,93 Các loài ưu thế trong các

quần xã thảm thực vật kiểu nay là Hopea hainanensis, Syzygium sp và Aidia sp., họ

Dẻ - Fagaceae

+ Kiểu rừng kín thường xanh mưa mùa trên đất thấp chưa bị tác động:

Trang 25

Thảm thực vật thường xanh thuộc đai độ cao dưới 800m so với mặt nước biển, khu vực chưa bị tác động và thảm thực vật còn giữ được cấu trúc đặc trưng của kiểu rừng kín thường xanh mưa mùa Thuộc kiểu này có các phân kiểu: Phân kiểu rừng kín thường xanh mưa mùa trên đất dốc địa đới đất thấp; phân kiểu rừng kín thường xanh mưa mùa trên đất đá vôi

+ Kiểu rừng thường xanh mưa mùa trên đất thấp bị tác động mạnh:

++ Phân kiểu rừng thường xanh mưa mưa mùa hỗn giao cây lá rộng:

Kết quả từ quá trình tái sinh thảm thực vật sau tác động của con người Với các hình thức tác động khác nhau và mức độ tác động cũng khác nhau nên các thảm cũng

có các hình thức tái sinh và mức độ phục hồi khác nhau Kiểu rừng này bao gồm diện tích rừng sau khi khai thác chọn và diện tích rừng phục hồi sau nương rẫy bỏ hóa trong một thời gian dài

++ Rừng hỗn giao cây lá rộng – tre nứa:

Diện tích phân bố khoảng 10.843ha, chiếm 11,89% diện tích VQG, đây cũng là kết quả tái sinh từ rừng bị tác động sau nương rẫy trên đất bị bỏ hóa nhưng không phải

từ loại hình tái sinh trên đất sau nương rẫy đã bị quay vòng nhiều lần

Độ che phủ của các cây gỗ ban đầu khoảng 10%, khi phát triển thành rừng hỗn giao thì độ che phủ cũng như trữ lượng gỗ đã tăng lên, trung bình khoảng 90 -120m3

gỗ/ha:

++ Rừng thường xanh mưa mùa đơn ưu trên đất khô cằn: Rừng đơn ưu tre nứa

Sự có mặt của rừng tre nứa là yếu tố quan trọng để giới hạn sự tái sinh hay mở rộng của các cây gỗ trong rừng thường xanh Rừng đơn ưu tre nứa cũng được phát triển trên đất canh tác chưa bị bào mòn, trải qua quá trình diễn thế tự nhiên Tuy nhiên mức độ tác động trước đó là khá nhiều, đất trở nên suy yếu về nhiều mặt, độ ẩm giảm đất trở nên khô cằn Vì thế có rất ít loài cây lá rộng có thể phát triển thuận lợi được

++ Rừng thường xanh mưa mùa đơn ưu trên đất tơi xốp: Rừng đơn ưu Bục bạc: Cũng là kết quả của rừng tái sinh sau nương rẫy, nhưng đó là trên đất ít bị quay vòng trong canh tác Nông nghiệp, nương rẫy, quá trình diễn thế tái sinh diễn ra theo hướng thứ nhất Đất ẩm tơi xốp là điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của nhiều loài

cây lá rộng Bục bạc Mallotus paniculatus là một trong những cây tiên phong của quá

trình xâm nhập cây gỗ trong diễn thế tái sinh

+ Trảng thường xanh nhiệt đới đai thấp:

Trang 26

++ Trảng thường xanh cây lá rộng trên đất địa đới:

Phân bố thường ở khu vực bìa rừng, trên đất bị tác động mạnh, rừng đã bị tàn phá nặng nề và đang trong giai đoạn đầu quá trình diễn thế khôi phục trở lại hoặc trên đất canh tác nông nghiệp bị bỏ hóa

Các loài ưu thế ở đây là Thầu tấu Aporusa dioica, Ba chạc Euodia lepta, Hu đay Trema orientalis, Muối Rhus javanica, Ba soi Macaranga denticulata, Chòi mòi Antidesma fordii, Me rừng Phyllanthus embrica

++ Trảng thường xanh cây lá rộng trên đất đá vôi:

Trên đất đá vôi thảm thực vật ở đây mang tính chất phi địa đới, hầu hết mang tính chất phân tầng đặc trưng với chỉ một tầng duy nhất Vì vậy có thể coi thảm thực vật thường xanh cây lá rộng trên đất đá vôi thuộc loại trảng Tuy nhiên vẫn tồn tại những thảm có cấu trúc phân tầng với nhiều tầng cây đứng Mặc dù độ khép tán còn thấp, đa phần những cấu trúc như thế thuộc về những quần xã ở chân núi Những sinh cảnh đỉnh và sườn núi cấu trúc phân tầng kém hơn và mức độ liên tục của tán cũng kém hơn, quẫn xã hầu như chỉ là trảng

+ Trảng cỏ thứ sinh nhiệt đới đai thấp:

Là kết quả diễn thế từ trảng cây bụi hoặc rừng rậm thường xanh trước kia, do các hoạt động chặt phá, hoạt động nương rẫy… sau đó là hoang hóa Có hai loại trảng thứ sinh phát triển trên hai môi trường khác nhau: Trảng cỏ cao với hầu hết các loài ưu thế có chiều cao trên 1m, đa số chúng là những cây thân thảo đứng, một số khác là những cây dây leo, kể cả dây leo thân gỗ cùng với một số loài khác có chiều cao thấp hơn, sống chung – xen kẽ với các loài trên, trảng cỏ thấp với các loài ưu thế có chiều cao dưới 1m, đa số chúng là các dạng thân thảo nằm hoặc bò, một số khác là dây leo quấn vào những cây đứng

+ Thảm thực vật trên đất ướt:

Với hệ thống các suối nhỏ rất nhiều đan nhau chằng chịt trên toàn bộ diện tích của Vườn, hệ thống sông Giăng, khe Thơi, khe Bu và khe Choăng đặc trưng cho hệ thống thủy văn thượng nguồn và dòng chảy phức tạp nên hệ thống sông suối thượng nguồn ở Pù Mát gồm 2 dạng: Thảm thực vật trên đất lầy và thảm thực vật bám đá ven suối

Thảm thực vật trên đất lầy: Phân bố dọc theo hai bên bờ các dòng sông suối, thuộc đai thấp của VQG, ở đó nền đất thường bị thấm ướt và trở nên lầy, có nhiều loài

Trang 27

cây gỗ phân bố ở đây, chúng là những cây lá rộng ưa ẩm, một số phát triển rất tốt thành những quần thể đông đúc về số lượng, tạo nên những quẫn xã ưu thế

Thảm thực vật bám đá ven suối: Với các dòng suối đặc trưng cho vùng thượng lưu, dòng chảy chỗ nông, chỗ sâu, chỗ chảy xiết, chỗ nước chậm… đặc biệt thềm đá nổi lên kéo dài và bề mặt có nhiều đá nhỏ, tạo điều kiện cho sự định cư và phát triển của một số loài thực vật, chủ yếu vào mùa nước kiệt, rễ của chúng dễ dàng len lỏi vào nền đá để chống đỡ lại luồng nước trôi

+ Thảm thực vật nhân tác:

Những quần xã thực vật được con người trực tiếp tác động cả về cấu trúc lẫn thành phần loài và xu hướng phát triển – diễn thế, đó là những quần xã nhân tạo Gồm tất cả các quần xã cây trồng do con người xây dựng Bản chất sinh thái phụ thuộc hoàn toàn vào phương thức canh tác và ý muốn sử dụng chủ quan của con người cũng như nguồn gốc cây trồng

++ Thảm thực vật nhân tác trên sườn dốc:

Cây trồng hàng năm: Thảm thực vật cây trồng, canh tác trên nương rẫy: Chiếm diện tích nhỏ, chủ yếu canh tác hoa màu (nương sắn, nương ngô ) và lúa cạn

Cây trồng lâu năm: Thảm thực vật trồng, gồm những cây thân gỗ lâu năm, các

loài cây trồng chủ yếu là Keo lá tràm Acacia auriculaeformis, Keo tai tượng Acacia magnum, Thông nhựa Pinus merkusii, Bạch đàn Eucalyptus globulus, Trầm Aquilaria crassna, Mét Dendrocalamus barbatus, Nứa Schizostachyum dulloua, Bồ đề Stylax tonkinensis Thảm rừng trồng có nhiều mục đích khác nhau như phủ xanh đất trống,

đồi núi trọc, giữ nước đầu nguồn, thu nhập kinh tế

++ Thảm thực vật nhân tác vùng đồng bằng – quần cư:

Cây trồng hàng năm: Gồm những cây thân thảo, sống một năm, trồng trên cạn hoặc ruộng nước:

Lúa nước Oryza sativa, chủ yếu trồng ở các ruộng nước thuộc đồng bằng ven

sông, suối Phục vụ nhu cầu tại chỗ là chủ yếu

Cây trồng cạn hàng năm gồm rau màu và cây công nghiệp ngắn ngày như sắn, ngô, đậu, lạc, rau các loại, cây thực phẩm, hoa cảnh Phục vụ tại chỗ và một phần cho nhu cầu đô thị

Cây lâm nghiệp lâu năm: Cây trồng phục hồi các khu vực đất trống, đồi núi trọc

chủ yếu gồm Keo lá tràm Acacia auriculaeformis, Keo tai tượng Acacia magnum,

Trang 28

Thông nhựa Pinus merkusii, Bạch đàn Eucalyptus globulus, Trầm Aquilaria crassna, Mét Dendrocalamus barbatus Hiện tại các quần xã này có diện tích khá lớn trong khu

vực và đã phủ xanh gần khép tán ở một số xã vùng đệm

Cây trồng lâu năm quanh khu dân cư: Cây trồng chủ yếu gồm các loài cây ăn

quả như: Mít Artocarpus heterophyllus, Dừa Cocos nucifera, Xoài Mangifera spp., Đu

đủ Caryca papaya, Các loài cam chanh Citrus spp., Chuối Musa spp., Mãng cầu Annona reticulata, Vải Lichit sinensis, Nứa Schizostachyum dulloua, Mét Dendrocalamus barbatus, Núc nác Oroxylum indicum cùng các cây lâu năm, cây ăn

quả khác Phân bố theo các điểm dân cư, mang tính truyền thống, phần lớn là các cây trồng theo thói quen và tập quán địa phương, chưa mang tính hàng hóa [16]

- Hệ thực vật rừng

Qua kết quả nghiên cứu của các chuyên gia trong nước và quốc tế, hiện tại đã xác định được 2.494 loài thực vật, 931 chi thuộc 202 họ Trong đó có 69 loài nằm trong SĐVN (2007), chiếm 2,77 % tổng số loài của khu hệ, bao gồm 4 loài ở mức CR (Rất nguy cấp), 22 loài ở mức EN (Nguy cấp), 43 loài ở mức VU (Sẽ nguy cấp) và 44 loài nằm trong sách đỏ IUCN (2008) bao gồm 4 loài ở mức CR (Rất nguy cấp), 4 loài ở mức

EN (Nguy cấp), 25 loài ở mức VU (Sẽ nguy cấp), 8 loài ở mức NT (Sắp bị đe doạ), 3 loài ở mức DD (Thiếu dẫn liệu) Qua các dẫn liệu cho thấy, Pù Mát có đủ sự đa dạng, phong phú về giá trị nguồn gen thực vật của một VQG ở Việt Nam [16]

Đỏ IUCN 2014, bao gồm 3 loài ở mức CR, 8 loài ở mức EN, 17 loài ở mức VU, 9 ở mức NT (Sắp bị đe dọa) và 9 loài ở mức DD

Tiêu biểu có các loài: Voi châu á Elephas maximus, Chà vá chân nâu Pygathrix nemaeus, Voọc xám Trachypithecus crepusculus, Vượn đen má trắng Nomascus leucogenys, Tê tê vàng Manis pentadactyla, Hổ Panthera tigris, Gấu chó Helarctos malayanus, Gấu ngựa Ursus thibetanus, Rái cá lông mượt Lutrogale perspicillata,

Trang 29

Mang trường sơn Muntiacus truongsonensis, Sao la Pseudoryx nghetinhensis, Sơn dương Capricornis sumatraensis

- Về Chim: Có 324 loài thuộc 49 họ và 15 bộ bao gồm cả chim bản địa và chim

di cư Trong đó 12 loài nằm trong SĐVN (2007) gồm 2 loài ở mức CR (Rất nguy cấp),

1 loài ở mức EN (Nguy cấp), 8 loài Chim ở mức VU (Sẽ nguy cấp), 1 loài ở mức NT (Sắp bị đe doạ) và 11 loài nằm trong Danh Lục Đỏ IUCN (2008) gồm 3 loài ở mức

VU (Sẽ nguy cấp), 8 loài ở mức NT (sắp bị đe doạ) [36]

Tiêu biểu có các loài Trĩ sao, Công, Gà lôi trắng, Gà tiền Hai quần thể Trĩ sao

và Hồng hoàng được xem có tầm quan trọng cao mang tính quốc tế

- Về Lưỡng cư và bò sát: Tổng cộng có 86 loài Cụ thể có: 33 loài Lưỡng cư và

53 loài Bò sát (16 loài Rùa, 12 loài Tắc kè, Kỳ đà, 25 loài rắn) Trong đó: Lưỡng cư có 3 loài nằm trong SĐVN (2007) gồm 1 loài ở mức EN (Nguy cấp), 2 loài ở mức VU (Sẽ nguy cấp) và 3 loài nằm trong Danh Lục Đỏ IUCN 2008 gồm 2 loài ở mức NT (Sắp bị đe doạ), 1 loài ở mức DD (thiếu dẫn liệu) Bò sát có 20 loài nằm trong SĐVN (2007) gồm 4 loài ở mức CR (Rất nguy cấp), 9 loài ở mức EN (Nguy cấp), 7 loài ở mức VU (Sẽ nguy cấp) và 17 loài nằm trong Danh Lục Đỏ IUCN

2008 gồm 2 loài ở mức CR (Rất nguy cấp), 9 loài ở mức EN (Nguy cấp), 4 loài ở mức

VU (Sẽ nguy cấp), 2 loài ở mức NT (Sắp bị đe doạ) Tiêu biểu có các loài như Rùa Ba vạch, Rùa Núi viền, Rùa hộp trán vàng, rắn lục xanh, Rắn hổ chúa [9]

- Về cá: Có 83 loài thuộc 56 chi, 19 họ Trong đó, có 6 loài nằm trong SĐVN (2007) gồm 1 loài ở mức EN (Nguy cấp), 4 loài ở mức VU (Sẽ nguy cấp), 1 loài ở mức DD (Thiếu dẫn liệu) 1 loài nằm trong Danh Lục Đỏ IUCN 2008 ở mức DD (Thiếu dẫn liệu) Tiêu biểu có các loài: Cá chình, Cá lăng, Cá mát, cá lấu (Phòng Khoa học, 2011)

- Về Bướm: Tổng cộng có 459 loài bướm bao gồm: 365 loài bướm ngày, 94 loài bướm đêm (83 loài bướm sừng và 11 loài bướm Hoàng đế) Trong đó có 7 loài bướm ngày và 4 loài bướm đêm (bườm sừng) là những loài mới ở Việt Nam Ngoài ra còn có 3 loài bướm ngày nằm trong SĐVN (2007) được xếp hạng ở mức VU (Sẽ nguy cấp) [36]

- Về kiến: Bước đầu đã xác định được 78 loài thuộc 40 chi, 9 phân họ Kiến có mặt tại VQG Pù Mát Tuy nhiên, tên cụ thể của các loài kiến hiện đang chờ giám định (Phòng khoa học, 2008)

Trang 30

- Về Côn trùng: Tổng cộng hiện đã xác định được 1.084 loài thuộc 64 họ, của 7

bộ Trong đó có 71 loài đặc hữu [36]

Về lĩnh vực bảo tồn loài, Pù Mát chẳng những là một khu tầm cỡ quốc gia mà còn có giá trị cho cả Lào và Đông dương Điều đặc biệt quan trọng là quần thể một số loài chim và thú thực sự có nguy cơ bị tiêu diệt ở Việt Nam và trên thế giới vẫn còn

khả năng bảo tồn phát triển nếu VQG được quản lý, bảo vệ tốt đó là các loài Voi Elephas maximus, Hổ Panthera tigris, Sao la Pseudoryx nghetinhensis, Mang Trường sơn Muntiacus truongsonensis,, Thỏ vằn Nesolagus timminsi, Cầy vằn Chrotogale owstoni, Gấu chó Helarctos malayanus, Gấu ngựa Ursus thibetanus, Trĩ sao Rheinardia ocellata

1.3.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội khu vực nghiên cứu

* Dân tộc, dân số, lao động

- Dân tộc

Có 3 dân tộc chính hiện đang sống trong 3 huyện thuộc khu vực VQG là Thái, Khơ mú và Kinh Ngoài ra còn có một số dân tộc khác như H’Mông, Đan Lai, Poọng,

Ơ Đu, Tày nhưng số lượng không lớn (Bảng 1.1)

Bảng 1.1 Thành phần các dân tộc sinh sống trong và quanh VQG Pù Mát

Trang 31

Anh Sơn (38.163 nhân khẩu, 6.938 hộ) Số còn lại thuộc 4 xã của huyện Tương Dương (15.753 nhân khẩu với 2.849 hộ), trung bình mỗi hộ gia đình có từ 5 -6 người Tăng dân số trong những năm sau này là áp lực lớn (Bảng 1.2)

Dân số trong khu vực phân bố không đồng đều giữa các xã Một số xã có dân số rất thấp như xã Tam Hợp huyện Tương Dương (7 người / km2), xã Châu Khê huyện Con Cuông (13 người / km2) Cũng có những xã của huyện Anh Sơn mật độ dân số cao như xã Đỉnh Sơn (495 người / km2), xã Cẩm Sơn (421 người / km2

Mật độ (người/km 2 )

Do dân số phân bố không đều nên lực lượng lao động cũng phân bố không đều

và tập trung chủ yếu ở các xã vùng thấp của huyện Anh Sơn Số liệu thống kê của các

Trang 32

xã trong huyện Anh Sơn, Con Cuông và Tương Dương năm 2009 cho thấy, lực lượng lao động của các xã có liên quan tới VQG như sau:

Bảng 1.3 Lao động và phân bố lao động của các xã

Dư thừa lao động, đời sống khó khăn khiến người dân đã vào vườn khai thác lâm sản

* Y tế - giáo dục

- Cơ sở y tế, đội ngũ y bác sỹ

Mỗi huyện trên địa bàn vùng đệm đều có một bệnh viện đa khoa được đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng và trang bị trang thiết bị tương đối tốt Cơ sở vật chất y tế ở xã

Trang 33

còn nhiều thiếu thốn Đa số các xã thuộc vùng đệm đều có trạm y tế chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân nhưng chưa kiên cố, thiếu các trang thiết bị y tế; trung bình mỗi xã

có 1 trạm xá Cán bộ y tế còn thiếu, chưa qua các lớp đạo tạo nâng cao Hiện nay hầu hết ở các xã vùng đệm chưa có cán bộ bác sỹ để chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân Đội ngũ cán bộ y tế còn thiếu và yếu về chuyên môn, một số thôn bản chưa có cán bộ y tế

- Giáo dục

Theo báo cáo của UBND các huyện Tương Dương, Anh Sơn, Con Cuông thì 100% trẻ em đến tuổi đều đi học và các huyện đều đã hoàn thành chương trình phổ cấp giáo dục tiểu học Tuy nhiên, do điều kiện về địa hình, giao thông đi lại khó khăn nên các lớp học tiểu học không tập trung, thường đóng ở các thôn bản Do đó, công tác quản lý giáo dục hạn chế và ảnh hưởng đến chất lượng giáo dục ở cấp học này

Trang 34

Huyện, xã Tổng Đất nông nghiệp Đất lâm nghiệp công nghiệp Đất cây Đất khác

đó là điều cần chú ý trong chiến lược phát triển kinh tế vùng

* Các ngành nghề sản xuất chủ yếu

- Sản xuất nông nghiệp

Sản xuất nông nghiệp là một ngành kinh tế chủ đạo của 3 huyện, nhưng với diện tích gieo trồng còn ít, năng suất cây trồng thấp nên đời sống của người dân nơi đây còn gặp nhiều khó khăn Vẫn còn 23% số hộ thiếu lương thực trong những tháng giáp hạt

Cây trồng nông nghiệp chủ yếu là lúa nước, lúa nương, khoai và sắn Ngoài các cây trồng chính nêu trên, trong khu vực còn có một số loài cây trồng khác như rau, đậu

và một số loài cây công nghiệp như vừng, lạc, mía… nhưng diện tích không đáng kể

Bảng 1.8 Diện tích các loại đất nông nghiệp

Trang 35

- Chăn nuôi, Thuỷ sản

Do có điều kiện thuận lợi về diện tích rừng núi rộng lớn, thích hợp với chăn nuôi đại gia súc nên chăn nuôi trâu, bò và lợn khá phát triển trong vùng Phần lớn vật nuôi được thả rông gần như quanh năm, khi cần dùng đến thì người nuôi mới đi tìm

về Bình quân mỗi hộ gia đình nuôi từ 1-2 con lợn, 1-2 con trâu hoặc bò, mỗi xã có từ

150 đến 200 đàn dê Các gia đình còn chăn nuôi gà, vịt

Chăn nuôi đóng một vai trò đáng kể đối với cuộc sống của đồng bào vùng đệm VQG Chăn nuôi không những giải quyết thực phẩm tại chỗ mà còn cung cấp sức kéo cũng như phân bón phục vụ cho sản xuất nông nghiệp, góp phần làm tăng năng suất cây trồng cũng như việc cải tạo đồng ruộng

Điểm bất cập trong chăn nuôi ở đây là tỷ lệ thả trâu bò vào VQG hiện vẫn còn phổ biến ở một số xã cận kề ranh giới và đã gây những tổn thất nhất định đối với đa dạng sinh học của VQG

Ngoài ra, một số dân cư sinh sống bên bờ Sông Cả, Sông Giăng, Khe Choăng, Khe Thơi còn phát triển nghề đánh bắt, nuôi trồng thuỷ sản Năm 2009, thống kê ở 5

xã vùng đệm của huyện Anh Sơn cho thấy họ đã thu hoạch được 62 tấn cá, huyện Tương Dương thu 52 tấn và huyện Con Cuông thu gần 100 tấn

Trang 36

Chương 2 ĐỊA ĐIỂM, THỜI GIAN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Địa điểm, thời gian nghiên cứu

Nghiên cứu được thực hiện ở VQG Pù Mát từ tháng 3/2013 đến tháng 10/2014

Bảng 2.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu tại thực địa

T8/2013-T3/2014

Điều tra phỏng vấn cán bộ VQG, người dân địa phương

VQG Pù Mát, 8 bản vùng đệm trọng yếu

Trang 38

2.2 Tư liệu nghiên cứu

- Phiếu phỏng vấn: Đã phỏng vấn 16 cán bộ VQG và 58 hộ dân thuộc 6 bản vùng đệm trọng yếu

- Phiếu điều tra thực địa: Đã tiến hành điều tra khảo sát về thú lớn trên 6 khu vực trong VQG với hơn 60 ngày điều tra thực địa Các phiếu điều tra ghi chép thông tin: Quan sát trực tiếp thú lớn trên tuyến; đặc điểm sinh cảnh; các mối đe dọa; dấu vết của thú lớn (phân, dấu chân…), di vật của thú lớn được lưu giữ trong nhà người dân

- Tư liệu mẫu: Tổng số 46 di vật của thú lớn (sừng, xương hàm, nanh, vuốt, mẫu nhồi bông, xác chết,…) được lưu giữ trong nhà dân và 03 bức ảnh chụp trực tiếp thú lớn trên hiện trường rừng (phụ lục 13; phụ lục 14)

- Tài liệu tham khảo của các tác giả khác đã được công bố có nội dung liên quan (phần tài liệu tham khảo ở cuối luận văn)

2.3 Phương pháp nghiên cứu

2.3.1 Kế thừa các tài liệu nghiên cứu

Do thời gian, điều kiện vật chất, vật lực để thực hiện đề tài có hạn nên việc điều tra thực địa không thể có được hết thông tin về các loài thú Vì vậy, chúng tôi đã áp dụng phương pháp kế thừa những tài liệu, số liệu và các báo cáo đã được công bố của các nhà khoa học về khu hệ thú ở VQG Pù Mát

2.3.2 Phỏng vấn thu thập thông tin trong nhân dân

Chọn phỏng vấn những người thường đi săn bắt động vật rừng hoặc thường xuyên đi rừng để khai thác các lâm sản Trong quá trình phỏng vấn, ảnh in màu các loài động vật sẽ được sử dụng để hỗ trợ xác định loài Ngoài ra, các mẫu vật (sừng, da, xương, động vật nhồi, ) hoặc các con vật được người dân bắt nuôi cũng sẽ được thu thập để nghiên cứu Cán bộ Kiểm lâm đội cơ động và ở các trạm quản lý bảo vệ rừng cũng là những đối tượng được phỏng vấn

Tổ chức các cuộc họp với thành phần: Cán bộ VQG Pù Mát, cán bộ Hạt kiểm lâm Pù Mát và cán bộ chính quyền địa phương, cộng đồng để thảo luận đánh giá các mối đe dọa chủ yếu đến khu hệ thú, cũng như đề xuất các giải pháp tăng cường quản

lý, bảo tồn chúng ở VQG Pù Mát

2.3.3 Khảo sát thực địa

* Phương pháp điều tra theo tuyến: Phương pháp này được thực hiện để

quan sát trực tiếp các loài thú nghiên cứu hoặc các dấu vết hoạt động của chúng (lối

Trang 39

đi, phân, hang tổ, tiếng kêu, v.v…) Các tuyến điều tra xuyên qua các dạng sinh cảnh khác nhau của mỗi khu vực khảo sát và thường có chiều dài 3-5km mỗi tuyến tùy thuộc vào điều kiện địa hình Các dụng cụ để quan trắc chính gồm ống nhòm, máy ảnh, máy ghi âm,… Sử dụng bản đồ địa hình 1/50.000 và máy định vị GPS

để xác định toạ độ các khu vực điều tra cũng như các điểm quan sát được động vật hoặc dấu vết của chúng

Khoảng cách giữa 2 tuyến liên tiếp phải đạt ít nhất 0.5 km Có thể sử dụng các đường mòn sẵn có Tuy nhiên, từ đường mòn cần thiết lập một số tuyến thứ cấp cắt xuyên rừng

Hình 2.2 Tuyến chính và tuyến thứ cấp

Thời gian điều tra từ 5h 30 phút đến 11h, sau đó quay về lán nghỉ và ngày hôm sau điều tra tuyến khác Trong quá trình điều tra, cần chú ý quan sát kỹ để thu thập

các thông tin cần thiết và ghi vào Phiếu điều tra giám sát thú lớn chuẩn bị sẵn (phiếu

điều tra xem phụ lục 5), ghi thêm vào sổ tay nếu cần

* Phương pháp điều tra theo điểm

Mục đích là quan sát trực tiếp thú và các dấu vết hoạt động (dấu chân, phân, vết

ăn, tiếng kêu, )

Qua các thông tin phỏng vấn, xác định các điểm thú hay lui tới như: Các điểm khoáng, suối nước, các bãi kiếm ăn Nhóm điều tra đến các điểm này để tìm quan sát thú và khảo sát các dấu vết hoạt động của chúng để lại Việc điều tra theo điểm được kết hợp điều tra theo tuyến Do vậy, các tuyến điều tra thiết lập đi qua các điểm nghiên cứu này (phiếu điều tra xem phụ lục 5)

2.3.4 Phương pháp xử lý mẫu vật và phân tích số liệu

- Dựa vào đặc điểm hình thái của sọ thú [27]

Sọ các loài thú có cấu tạo khá phức tạp (Hình 2.2) nhưng ổn định và mang tính đặc trưng phân loại do vậy thường được dùng trong phân loại thú Các đặc điểm hình

Trang 40

+ Rộng hộp sọ (BB): Đo khoảng cách rộng nhất của hộp sọ tại gốc của cung gò má + Dài dãy răng hàm trên (MT): Đo từ mặt sau các răng hàm đến mặt trước của răng nanh (bỏ răng cửa)

GL CBL

MT

CCL (Ảnh sọ hổ của Vũ Ngọc Thành)

Hình 2.3 Các số đo cơ bản của sọ thú

Ngày đăng: 20/07/2015, 10:31

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Khoa học và Công nghệ, Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam, 2007. Sách Đỏ Việt Nam (Phần I. Động vật). Nxb Khoa học Tự nhiên và Công nghệ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sách Đỏ Việt Nam (Phần I. Động vật)
Nhà XB: Nxb Khoa học Tự nhiên và Công nghệ
2. Bộ Khoa học và Công nghệ, Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam, 2008. Động vật chí Việt Nam (Số 25, lớp thú). Nxb Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Động vật chí Việt Nam (Số 25, lớp thú)
Tác giả: Bộ Khoa học và Công nghệ, Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam
Nhà XB: Nxb Khoa học và Kỹ thuật
Năm: 2008
3. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, 2011. Vườn quốc gia và Khu bảo tồn Việt Nam (Chính sách mới về bảo vệ phát triển rừng và khai thác lâm sản). Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vườn quốc gia và Khu bảo tồn Việt Nam (Chính sách mới về bảo vệ phát triển rừng và khai thác lâm sản)
Tác giả: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2011
4. Chính Phủ nước CHXHCN Việt Nam, Dự án Quỹ Môi trường toàn cầu, 1995. Kế hoạch hành động ĐDSH của Việt Nam. Tài liệu đánh máy, 206 trang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kế hoạch hành động ĐDSH của Việt Nam
Tác giả: Chính Phủ nước CHXHCN Việt Nam
Năm: 1995
5. Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam, 2006. Nghị định số 32/2006/ NĐ-CP về quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý hiếm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 32/2006/ NĐ-CP về quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý hiếm
Tác giả: Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam
Năm: 2006
9. Dự án Lâm nghiệp Xã hội và Bảo tồn Thiên nhiên tỉnh Nghệ An (SFNC), 2000. Pù Mát, điều tra đa dạng sinh họccủa một khu bảo vệ ở Việt Nam. Nxb Lao động Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pù Mát, điều tra đa dạng sinh họccủa một khu bảo vệ ở Việt Nam
Nhà XB: Nxb Lao động Xã hội
15. Dự án Lâm nghiệp Xã hội và Bảo tồn Thiên nhiên tỉnh Nghệ An (SFNC), 2004. Đánh giá thành công của chương trình bảo tồn đa dạng sinh học ở Vườn quốc gia Pù Mát làm thí điểm cho việc áp dụng rộng rãi trong hệ thống khu bảo tồn thiên nhiên của Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá thành công của chương trình bảo tồn đa dạng sinh học ở Vườn quốc gia Pù Mát làm thí điểm cho việc áp dụng rộng rãi trong hệ thống khu bảo tồn thiên nhiên của Việt Nam
Nhà XB: Dự án Lâm nghiệp Xã hội và Bảo tồn Thiên nhiên tỉnh Nghệ An (SFNC)
Năm: 2004
16. Dự án lâm nghiệp xã hội và bảo tồn thiên nhiên tỉnh Nghệ An (SFNC), 2004. Đa dạng thực vật Vườn quốc gia Pù Mát. Nxb Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đa dạng thực vật Vườn quốc gia Pù Mát
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp Hà Nội
19. Dự án lâm nghiệp xã hội và bảo tồn thiên nhiên tỉnh Nghệ An (SFNC), 2004. Điều tra sự phân bố, tình trạng đe dọa và lập kế hoạch hành động bảo tồn các loài linh trưởng đặc hữu Vườn quốc gia Pù Mát Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều tra sự phân bố, tình trạng đe dọa và lập kế hoạch hành động bảo tồn các loài linh trưởng đặc hữu Vườn quốc gia Pù Mát
Nhà XB: Dự án lâm nghiệp xã hội và bảo tồn thiên nhiên tỉnh Nghệ An (SFNC)
Năm: 2004
22. Đặng Huy Huỳnh, Phạm Trọng Ảnh, Lê Xuân Cảnh, Nguyễn Xuân Đặng, Hoàng Minh Khiên, Đặng Huy Phương, 2010: Thú rừng - Mammalia Việt Nam. Hình thái và sinh học sinh thái một số loài, tập II. Nxb Khoa học Tự nhiên và Công nghệ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thú rừng - Mammalia Việt Nam. Hình thái và sinh học sinh thái một số loài, tập II
Tác giả: Đặng Huy Huỳnh, Phạm Trọng Ảnh, Lê Xuân Cảnh, Nguyễn Xuân Đặng, Hoàng Minh Khiên, Đặng Huy Phương
Nhà XB: Nxb Khoa học Tự nhiên và Công nghệ
Năm: 2010
24. John W. K. Parn, Hoàng Xuân Thủy, 2008. Hướng dẫn nhận dạng các loài thú ở Việt Nam, Nxb Thông Tấn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn nhận dạng các loài thú ở Việt Nam
Tác giả: John W. K. Parn, Hoàng Xuân Thủy
Nhà XB: Nxb Thông Tấn
Năm: 2008
25. Nguyễn Xuân Đặng, 2011. Phân loại học lớp thú (Mammalia) và đặc điểm khu hệ thú hoang dã Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân loại học lớp thú (Mammalia) và đặc điểm khu hệ thú hoang dã Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Xuân Đặng
Năm: 2011
26. Nguyễn Xuân Đặng, Hà Văn Tuế, Đặng Ngọc Cần, Nguyễn Xuân Nghĩa, Võ Công Anh Tuấn, 2007. Báo cáo kết quả điều tra nơi cư trú và thức ăn của Sao la tại VQG Pù Mát, tỉnh Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo kết quả điều tra nơi cư trú và thức ăn của Sao la tại VQG Pù Mát, tỉnh Nghệ An
Tác giả: Nguyễn Xuân Đặng, Hà Văn Tuế, Đặng Ngọc Cần, Nguyễn Xuân Nghĩa, Võ Công Anh Tuấn
Năm: 2007
27. Nguyễn Xuân Đặng, Lê Xuân Cảnh, 2009. Phân loại học lớp thú (Mammalia) và đặc điểm khu hệ thú hoang dã Việt Nam, Nxb Khoa học tự nhiên và Công nghệ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân loại học lớp thú (Mammalia) và đặc điểm khu hệ thú hoang dã Việt Nam
Nhà XB: Nxb Khoa học tự nhiên và Công nghệ
28. Phạm Nhật, 2002, Thú linh trưởng của Việt Nam, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thú linh trưởng của Việt Nam
Tác giả: Phạm Nhật
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2002
29. Phạm Nhật, Đỗ Tước (2002), Nghiên cứu phân bố sinh thái và các giải pháp Bảo tồn Gấu ở VQG Pù Mát Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu phân bố sinh thái và các giải pháp Bảo tồn Gấu ở VQG Pù Mát
Tác giả: Phạm Nhật, Đỗ Tước
Năm: 2002
30. Phạm Nhật, Nguyễn Xuân Đặng, 2001. Sổ tay ngoại nghiệp nhận diện các loài thú lớn của Khu Bảo tồn thiên nhiên Pù Mát Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sổ tay ngoại nghiệp nhận diện các loài thú lớn của Khu Bảo tồn thiên nhiên Pù Mát
Tác giả: Phạm Nhật, Nguyễn Xuân Đặng
Năm: 2001
31. Scott Roberton, Trần Chí Trung và Frank Monberg (2003), Báo cáo điều tra đánh giá tình trạng săn bắt và buôn bán động vật hoang dã ở VQG Pù Mát, Tỉnh Nghệ an, Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo điều tra đánh giá tình trạng săn bắt và buôn bán động vật hoang dã ở VQG Pù Mát, Tỉnh Nghệ an, Việt Nam
Tác giả: Scott Roberton, Trần Chí Trung, Frank Monberg
Năm: 2003
32. Tilo Nadler và Nguyễn Xuân Đặng, 2008. Các loài động vật được bảo vệ ở Việt Nam (Phần động vật ở cạn) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các loài động vật được bảo vệ ở Việt Nam (Phần động vật ở cạn)
Tác giả: Tilo Nadler, Nguyễn Xuân Đặng
Năm: 2008
33. Võ Công Anh Tuấn, 2013. “Hiện trạng quần thể Voi châu á ở Nghệ An và tình trạng xung đột voi và người dân” , Báo cáo khoa học về sinh thái và tài nguyên sinh vật, Hội nghị khoa học toàn quốc lần thứ 5, tr. 1698 -1700. Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiện trạng quần thể Voi châu á ở Nghệ An và tình trạng xung đột voi và người dân
Tác giả: Võ Công Anh Tuấn
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2013

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.2. Mật độ và dân số các xã - Nghiên cứu tính đa dạng và đề xuất giải pháp bảo tồn các loài thú lớn nguy cấp, quý hiếm ở vườn quốc gia pù mát, tỉnh nghệ an
Bảng 1.2. Mật độ và dân số các xã (Trang 31)
Bảng 1.3. Lao động và phân bố lao động của các xã - Nghiên cứu tính đa dạng và đề xuất giải pháp bảo tồn các loài thú lớn nguy cấp, quý hiếm ở vườn quốc gia pù mát, tỉnh nghệ an
Bảng 1.3. Lao động và phân bố lao động của các xã (Trang 32)
Bảng 1.4. Các loại đất đai trong khu vực - Nghiên cứu tính đa dạng và đề xuất giải pháp bảo tồn các loài thú lớn nguy cấp, quý hiếm ở vườn quốc gia pù mát, tỉnh nghệ an
Bảng 1.4. Các loại đất đai trong khu vực (Trang 33)
Hình 2.2. Tuyến chính và tuyến thứ cấp - Nghiên cứu tính đa dạng và đề xuất giải pháp bảo tồn các loài thú lớn nguy cấp, quý hiếm ở vườn quốc gia pù mát, tỉnh nghệ an
Hình 2.2. Tuyến chính và tuyến thứ cấp (Trang 39)
Hình 2.3. Các số đo cơ bản của sọ thú - Nghiên cứu tính đa dạng và đề xuất giải pháp bảo tồn các loài thú lớn nguy cấp, quý hiếm ở vườn quốc gia pù mát, tỉnh nghệ an
Hình 2.3. Các số đo cơ bản của sọ thú (Trang 40)
Bảng 3.1: Danh sách các loài thú lớn ghi nhận được ở VQG Pù Mát - Nghiên cứu tính đa dạng và đề xuất giải pháp bảo tồn các loài thú lớn nguy cấp, quý hiếm ở vườn quốc gia pù mát, tỉnh nghệ an
Bảng 3.1 Danh sách các loài thú lớn ghi nhận được ở VQG Pù Mát (Trang 43)
Hình 3.1. Sự đa dạng về loài trong các bộ - Nghiên cứu tính đa dạng và đề xuất giải pháp bảo tồn các loài thú lớn nguy cấp, quý hiếm ở vườn quốc gia pù mát, tỉnh nghệ an
Hình 3.1. Sự đa dạng về loài trong các bộ (Trang 51)
Bảng 3.3: Danh sách các loài thú lớn nguy cấp, quý hiếm ghi nhận được ở VQG Pù Mát - Nghiên cứu tính đa dạng và đề xuất giải pháp bảo tồn các loài thú lớn nguy cấp, quý hiếm ở vườn quốc gia pù mát, tỉnh nghệ an
Bảng 3.3 Danh sách các loài thú lớn nguy cấp, quý hiếm ghi nhận được ở VQG Pù Mát (Trang 52)
Hình  3.2 . Bản  đồ phâ n chia các  dạng s inh c ảnh rừng - Nghiên cứu tính đa dạng và đề xuất giải pháp bảo tồn các loài thú lớn nguy cấp, quý hiếm ở vườn quốc gia pù mát, tỉnh nghệ an
nh 3.2 . Bản đồ phâ n chia các dạng s inh c ảnh rừng (Trang 59)
Bảng 3.4. Sự phân bố của các loài thú lớn nguy cấp, quý hiếm theo các dạng sinh cảnh - Nghiên cứu tính đa dạng và đề xuất giải pháp bảo tồn các loài thú lớn nguy cấp, quý hiếm ở vườn quốc gia pù mát, tỉnh nghệ an
Bảng 3.4. Sự phân bố của các loài thú lớn nguy cấp, quý hiếm theo các dạng sinh cảnh (Trang 60)
Bảng 3.6. Số vụ vi phạm về săn bắt động vật hoang dã bị xử lý qua các năm - Nghiên cứu tính đa dạng và đề xuất giải pháp bảo tồn các loài thú lớn nguy cấp, quý hiếm ở vườn quốc gia pù mát, tỉnh nghệ an
Bảng 3.6. Số vụ vi phạm về săn bắt động vật hoang dã bị xử lý qua các năm (Trang 74)
Bảng 3.8. Biểu tổng hợp các vụ vi phạm - Nghiên cứu tính đa dạng và đề xuất giải pháp bảo tồn các loài thú lớn nguy cấp, quý hiếm ở vườn quốc gia pù mát, tỉnh nghệ an
Bảng 3.8. Biểu tổng hợp các vụ vi phạm (Trang 78)
Bảng 3.9. Những khu vực thường bị khai thác gỗ - Nghiên cứu tính đa dạng và đề xuất giải pháp bảo tồn các loài thú lớn nguy cấp, quý hiếm ở vườn quốc gia pù mát, tỉnh nghệ an
Bảng 3.9. Những khu vực thường bị khai thác gỗ (Trang 79)
Bảng 3.10. Thu nhập của người dân địa phương - Nghiên cứu tính đa dạng và đề xuất giải pháp bảo tồn các loài thú lớn nguy cấp, quý hiếm ở vườn quốc gia pù mát, tỉnh nghệ an
Bảng 3.10. Thu nhập của người dân địa phương (Trang 80)
Bảng 3.11. Diện tích rừng chuyển đổi làm đường giao thông - Nghiên cứu tính đa dạng và đề xuất giải pháp bảo tồn các loài thú lớn nguy cấp, quý hiếm ở vườn quốc gia pù mát, tỉnh nghệ an
Bảng 3.11. Diện tích rừng chuyển đổi làm đường giao thông (Trang 81)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w