Tôi xin cam đoan luận văn thạc sĩ ‘‘Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ trồng và liều lượng kali bón đến sinh trưởng phát triển và năng suất của hai giống lạc L19, L26 vụ Xuân-Hè năm 2014 tạ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tên tôi là Nguyễn Thành Công, học viên cao học lớp Trồng trọt K20, chuyên ngành Khoa học cây trồng, khoá 2012-2014 Tôi xin cam đoan luận văn
thạc sĩ ‘‘Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ trồng và liều lượng kali bón đến sinh trưởng phát triển và năng suất của hai giống lạc L19, L26 vụ Xuân-Hè năm 2014 tại Thành phố Hà Tĩnh’’ là công trình nghiên cứu của riêng tôi, số
liệu nghiên cứu trong luận văn là trung thực, chưa từng được công bố và sử dụng trong một luận văn nào trong và ngoài nước
Tác giả luận văn
Nguyễn Thành Công
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Luận văn này được thực hiện tại Khối phố 2- Phường Đại Nài- Tp Hà Tĩnh Để hoàn thành được luận văn này tôi đã nhận được rất nhiều sự động viên, giúp đỡ của nhiều cá nhân và tập thể
Trước hết, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS TS Nguyễn Kim Đường đã hướng dẫn và giúp đỡ tận tình trong suốt thời gian thực hiện nghiên cứu và trong quá trình hoàn thành luận văn tốt nghiệp
Cũng xin gửi lời cám ơn chân thành tới Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo sau đại học, Khoa Nông lâm ngư - Trường Đại học Vinh, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Hà Tĩnh, Phòng Nông nghiệp Thành phố Hà Tĩnh, UBND phường Đại Nài đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình nghiên cứu Cuối cùng tôi xin gửi lời cám ơn đến gia đình, bạn bè, những người đã luôn động viên và khuyến khích tôi trong quá trình thực hiện đề tài này
Hà Tĩnh, ngày 18 tháng 9 năm 2014
Tác giả luận văn
Nguyễn Thành Công
Trang 4MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT v
DANH MỤC CÁC BẢNG vi
MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu của nghiên cứu 2
1.3 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài 2
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Tình hình sản xuất lạc trên thế giới và ở Việt Nam 3
1.2 Một số kết quả nghiên cứu về cây lạc trên thế giới và Việt Nam 14
Chương 2 VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 29
2.1 Vật liệu nghiên cứu 29
2.2 Nội dung nghiên cứu 29
2.3 Phương pháp nghiên cứu 29
2.4 Phương pháp đánh giá 31
2.5 Các chỉ tiêu theo dõi 31
2.6 Phương pháp xử lý số liệu 33
2.7 Thời gian, địa điểm và điều kiện đất đai nghiên cứu 33
Chương 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 34
3.1 Ảnh hưởng của mật độ trồng đến sinh trưởng, phát triển và năng suất của hai giống lạc L19 và L26 34
3.2 Ảnh hưởng của liều lượng phân bón đến sinh trưởng, phát triển và năng suất của hai giống lạc L19 và L26 51
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 67
Kết luận 67
Đề nghị 67
Trang 5TÀI LIỆU THAM KHẢO 68 PHỤ LỤC 75
Trang 6FAO Tổ chức lương thực thế giới
USDA, FAS Ban Nông nghiệp quốc tế thuộc Bộ Nông nghiệp Mỹ
ICRISAT Viện quốc tế nghiên cứu cây trồng vùng nhiệt đới bán khô hạn
PTNT Phát triển nông thôn
KHKTNN Khoa học kỹ thuật nông nghiệp
NXB NN Nhà xuất bản nông nghiệp
NSLT Năng suất lý thuyết
NSTT Năng suất thực thu
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
1.1 Tình hình sản xuất lạc của thế giới trong những năm đầu thế kỷ 21 4 1.2 Diện tích, năng suất, sản lượng lạc một số nước trên thế giới 5 1.3 Sản xuất lạc ở Việt Nam trong những năm gần đây 8
1.6 Diện tích, năng suất, sản lượng lạc của Hà Tĩnh 11 1.7 Diện tích, năng suất, sản lượng lạc của thành phố Hà Tĩnh 13 3.1 Ảnh hưởng của mật độ trồng đến thời gian các giai đoạn sinh
3.2 Ảnh hưởng của mật độ trồng đến động thái tăng trưởng chiều cao
3.3 Ảnh hưởng của mật độ trồng đến chỉ số diện tích lá của hai giống
3.4 Ảnh hưởng của mật độ trồng đến số lượng nốt sần hữu hiệu của hai
3.5 Ảnh hưởng của mật độ gieo trồng đến số cành cấp 1, cấp 2 và chiều
3.6 Ảnh hưởng của mật độ gieo trồng đến mức độ nhiễm sâu bệnh của
3.7 Ảnh hưởng của mật độ gieo trồng đến các yếu tố cấu thành năng
3.8 Ảnh hưởng của mật độ gieo trồng đến năng suất của hai giống lạc
3.9 Ảnh hưởng của mật độ gieo trồng đến lợi nhuận của hai giống lạc
3.10 Ảnh hưởng của liều lượng kali bón đến thời gian các giai đoạn sinh
Trang 83.11 Ảnh hưởng của liều lượng kali bón đến động thái tăng trưởng chiều
3.12 Ảnh hưởng của liều lượng kali bón đến chỉ số diện tích lá của hai
3.13 Ảnh hưởng của liều lượng kali bón đến số lượng nốt sần hữu hiệu
3.14 Ảnh hưởng của liều lượng kali bón đến số cành cấp 1, cấp 2 và
chiều dài cành cấp 1 của hai giống lạc L19 và L26 58 3.15 Ảnh hưởng của liều lượng kali bón đến mức độ nhiễm sâu bệnh của
3.16 Ảnh hưởng của liều lượng kali bón đến các yếu tố cấu thành năng
3.17 Ảnh hưởng của liều lượng kali bón đến năng suất của hai giống lạc
3.18 Ảnh hưởng liều lượng kali bón đến lợi nhuận của hai giống lạc L19
Trang 9MỞ ĐẦU 1.1 Lý do chọn đề tài
Cây Lạc (Archis hypogaea L.) còn gọi là cây đậu phộng, là cây công
nghiệp ngắn ngày có tác dụng rất nhiều mặt và là cây có giá trị kinh tế cao Sản phẩm của nó cung cấp thực phẩm cho con người, thức ăn cho gia súc, gia cầm, nguyên liệu cho ngành công nghiệp chế biến, y học Ngoài ra, lạc còn là cây trồng ngắn ngày rất thích hợp trong luân canh, xen canh, gối vụ với nhiều loại cây trồng khác và là cây trồng cải tạo đất rất tốt
Thành phần dinh dưỡng trong hạt lạc rất cao, với hàm lượng protein 46÷50%, lipit 25÷30%, hydrat các bon 15÷16% Hạt lạc là loại sản phẩm duy nhất mà giá trị của nó được đánh giá đồng thời cả protein và lipit Protein của lạc không những cao về hàm lượng mà có đầy đủ và cân đối các amin cơ bản Isolơxin, lơxin, methionin, phenilalanin và axit amin không thay thế lysin, triptophan Chính vì vậy mà lạc được coi là nguồn thực phẩm cung cấp protein hoàn chỉnh cho con người và cho gia súc Lipit của lạc chứa một tỷ lệ cao các axit béo không no (khoảng 60÷70%), có hệ số đồng hóa cao, mùi vị thơm như axit linoleic, axit oleic, axit lonolenoic Ngoài ra trong hạt lạc còn có nhiều loại vitamin như vitamin PP, B, E, F, đặc biệt là vitamin B1, B2 và B3
Việt Nam nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới có điều kiện thuận lợi cho quá trình sinh trưởng, phát triển của những cây có dầu cao như: đậu tương, lạc, vừng, điều, Lạc không những là nguyên liệu cho các ngành công nghiệp mà còn là nguồn hàng xuất khẩu có giá trị Đặc biệt ở các tỉnh phía Bắc, lạc là cây trồng đứng thứ hai về kim ngạch xuất khẩu sau cây chè trong số các cây trồng cạn, có khả năng tăng vụ và trồng được ở nhiều điều kiện khác nhau từ miền núi đến đồng bằng Vì là cây họ đậu nên lạc là cây cải tạo đất tốt, thân lá lạc giàu đạm là nguồn phân xanh lớn để bón cho cây trồng khác Kết quả nghiên cứu cho thấy trong thân lạc có tới 4,45% N, 0,77 % P2O5, 2,25% K2O, đặc biệt cây lạc có khả năng che phủ đất hạn chế xói mòn, cải tạo đất cho vùng đất dốc khô cằn
Trong những năm qua, trồng lạc đã góp phần mang lại thu nhập cho hàng triệu
hộ nông dân, đồng thời xuất khẩu lạc đã đem lại một nguồn ngoại tệ quan trọng
Trang 10Sản xuất lạc ở Việt Nam và ở Hà Tĩnh nói riêng trong những năm qua có những biến động, không ổn định về cả quy mô cũng như năng suất và sản lượng Thực tế năng suất lạc ở Hà Tĩnh còn thấp, chỉ đạt 23,63 tạ/ha Nguyên nhân chủ yếu là thiếu giống và kỹ thuật canh tác chưa hợp lý Trong đó, mật độ trồng và phân bón kali là những vấn đề cần được quan tâm hàng đầu Để góp phần giải
quyết vấn đề trên chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài “Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ trồng và liều lượng kali bón đến sinh trưởng phát triển và năng suất của hai giống lạc L19, L26 trồng trong vụ Xuân-Hè năm 2014 tại Tp Hà Tĩnh”
1.2 Mục tiêu của nghiên cứu
Xác định được mật độ trồng và liều lượng phân bón kali hợp lý cho hai giống lạc L19, L26 trong vụ Xuân-Hè tại Tp Hà Tĩnh
1.3 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài
Góp phần tăng năng suất lạc vụ Xuân-Hè tại Tp Hà Tĩnh
Trang 11Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Tình hình sản xuất lạc trên thế giới và ở Việt Nam
1.1.1 Tình hình sản xuất lạc trên thế giới
Nhiều nhà khoa học đã xác định cây lạc đã có từ rất lâu đời, nhưng vai trò kinh tế của lạc chỉ được xác định khoảng hơn 100 năm trở lại đây Lạc được gieo trồng khá sớm, nhưng đến khoảng thế kỷ XVI mới được phát triển rộng khắp trên thế giới Tuy nhiên, sản xuất vẫn mang tính tự cung tự cấp, chỉ đến thế kỷ XVIII khi ngành công nghiệp ép dầu bắt đầu phát triển đã thúc đẩy cho việc sản xuất lạc phát triển và mang tính chất sản xuất hàng hóa Điều này
là cơ hội thúc đẩy các nước đầu tư phát triển sản xuất lạc ngày càng tăng cả về diện tích sản xuất và năng suất, sản lượng, nhờ vậy mà cây lạc trên thế giới ngày càng được cải thiện so với trước đây Theo báo cáo của Fletcher và cộng
sự (1992) [38] thì tình hình sản xuất lạc trên thế giới trong thập niên 80 tăng
so với thập niên 70 của thế kỷ XX Năng suất lạc tăng 0,15 tấn/ha, sản lượng tăng gần 3 triệu tấn, nhu cầu sử dụng lạc tăng 2,8 triệu tấn so với thập niên 70 Giữa hai thập niên 70 và 80 của thế kỷ XX diện tích lạc thế giới chỉ tăng khoảng 88,6 nghìn ha, nhưng do năng suất lạc tăng nên sản lượng tăng lên đáng kể và đạt 18,8 triệu tấn
Theo thống kê của FAO, từ năm 2000 đến nay diện tích, năng suất và sản lượng lạc của thế giới có sự biến động Diện tích lạc có xu hướng giảm nhẹ, năm
2000 diện tích trồng lạc là 23,26 triệu ha, sau đó tăng lên và đạt cao nhất vào năm
2005 (23,96 triệu ha), nhưng đến năm 2010 diện tích trồng lạc giảm xuống còn 21,44 triệu ha Ngược lại với diện tích, năng suất lạc ngày càng tăng nhờ được áp dụng những tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất Năm 2000 năng suất lạc đạt 14,16 tạ/ha, tăng so với năng suất năm 1980 (11 tạ/ha) là 30,9%, năm 1990 (11,5 tạ/ha) là 25,2% Đến năm 2013, năng suất lạc thế giới đạt 17,78 tạ/ha cao nhất trong vòng
14 năm Cùng với sự gia tăng về năng suất, sản lượng lạc thế giới cũng tăng lên, đạt cao nhất là 45,23 triệu tấn (năm 2013)
Trang 12Sự phân bố diện tích sản xuất lạc ở các khu vực trên thế giới không đều, tập trung ở vùng nhiệt đới và á nhiệt đới, trong khoảng 400 Bắc đến 400 Nam (Vũ Công Hậu và cs., 1995) [19]
Bảng 1.1: Tình hình sản xuất lạc của thế giới trong những năm đầu thế kỷ 21
Năm Diện tích
(triệu ha)
Năng suất (tạ/ha)
Sản lượng (triệu tấn)
Nguồn: FAOSTAT, tháng 5 năm 2014
Diện tích, năng suất, sản lượng lạc giữa các khu vực có sự biến động đáng
kể Nhiều khu vực có diện tích trồng lạc không nhiều nhưng năng suất lại cao (20,0÷28,0 tạ/ha) Châu Phi có diện tích trồng lạc khoảng 6.400.000 ha, nhưng năng suất chỉ đạt 7,8 tạ/ha (Ngô Thế Dân và cs., 2000 [6]; Nguyễn Thị Dần và cs., 1995) [10] Châu Á có diện tích trồng lạc lớn nhất thế giới (năm 2005 chiếm 60% diện tích trồng và 70% sản lượng lạc trên thế giới) Trong khi, đó diện tích trồng lạc ở khu vực Đông Á tăng mạnh nhất từ 2,0 triệu ha lên 3,7 triệu ha, khu vực Đông Nam Á tăng 15,5%, Tây Á tăng 14,1% Nhờ có sự nỗ lực của các quốc gia đầu tư, nghiên cứu và áp dụng các tiến bộ kỹ thuật nên năng suất lạc tăng nhanh, từ 14,5 tạ/ha (1990) lên 18,28 tạ/ha (2010) Năng suất lạc trong khu vực Đông Nam Á nhìn chung còn thấp, năng suất bình quân đạt 11,7 tạ/ha Malaysia là nước có diện tích trồng thấp nhưng lại là nước có năng suất lạc cao nhất trong khu vực, năng suất trung bình đạt 23,3 tạ/ha, tiếp theo là Indonesia và Thái Lan [8][9]
Trang 13Hiện nay, sản lượng lạc hàng năm chủ yếu tập trung ở một số nước như: Trung Quốc, Ấn Độ, Mỹ, Nigeria, Trong số này, Ấn Độ là nước có diện tích trồng lạc lớn nhất thế giới, nhưng do lạc được trồng chủ yếu ở những vùng khô hạn và bán khô hạn nên năng suất rất thấp, thấp hơn năng suất trung bình của thế giới Năm 1995, diện tích trồng lạc của Ấn Độ là 7,8 triệu ha, chiếm 37% diện tích trồng lạc trên thế giới, năng suất đạt 9,5 tạ/ha và sản lượng 7,3 triệu tấn (Florkowski V.J., 1994) [44] Đến năm 2010, Ấn Độ đứng thứ 2 trên thế giới về sản lượng lạc, chiếm 16,84% tổng sản lượng toàn thế giới
Bảng 1.2 Diện tích, năng suất, sản lượng lạc một số nước trên thế giới
Tên nước 2008 Diện tích (triệu ha) 2009 2010 2008 Năng suất (tạ/ha) 2009 2010 2008 Sản lượng (tr tấn) 2009 2010 Trung Quốc 4,27 4,40 4,53 33,60 33,57 34,60 14,34 14,76 15,64
Ấn Độ 6,16 5,47 6,00 11,64 10,07 59,80 7,17 5,51 5,85 Nigieria 0,68 0,59 1,25 4,51 4,31 12,40 0,30 0,25 1,55
Mỹ 0,61 0,44 0,51 38,40 38,24 37,10 2,34 1,67 1,89 Indonesia 0,64 0,62 0,75 12,16 12,49 16,70 0,77 0,78 1,25 Xenegan 0,84 1,06 1,00 8,74 9,75 12,90 0,73 1,03 1,29 Sudan 0,95 0,95 1,00 7,51 9,96 8,50 0,72 0,94 0,85
Nguồn: FAOSTAT, tháng 5 năm 2012
Trung Quốc là nước đứng thứ 2 về diện tích trồng lạc, song lại là nước dẫn đầu về sản lượng lạc của thế giới (USDA 2000÷2006) Theo thống kê của FAO, năm 2010 [74] diện tích trồng lạc của nước này là 4,53 triệu ha, chiếm hơn 21,44% tổng diện tích lạc toàn thế giới, năng suất đạt 34,60 tạ/ha, bằng 2,07 lần năng suất lạc của thế giới và sản lượng đạt 15,64 triệu tấn chiếm 43,58% sản lượng lạc toàn thế giới Có được những thành tựu này là do Trung Quốc đã đặc biệt quan tâm đến công tác nghiêm cứu và chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật trong nhiều năm qua
Mỹ cũng là nước có diện tích, năng suất lạc khá ổn định và sản lượng cao Những năm 90 của thế kỷ XX, diện tích lạc hàng năm của Mỹ là 0,57 triệu ha, năng suất là 27,9 tạ/ha (Ceasar.L.Revoredo et al., 2002) [38] Giai đoạn từ 2000÷2004, diện tích trồng lạc trung bình là 0,578 triệu ha/năm Năm suất trung bình hàng năm là 31,7 tạ/ha, cao hơn những năm trước là 13,6% (USDA, 2000÷2006) [68]
Trang 14Theo thống kê của FAO (2012), diện tích gieo trồng lạc của nước này năm 2010 đạt 0,51 triệu ha, năng suất đạt 37,10 tạ/ha và sản lượng là 1,89 triệu tấn Có thể thấy rằng, mặc dù diện tích gieo trồng lạc tại đây không lớn song năng suất lạc lại cao nhất thế giới, do đó sản lượng lạc của Mỹ cũng khá cao và ổn định Ngoài ra còn một số nước sản xuất lạc lớn như: Indonesia, Xenegan, Sudan…
Cùng với việc gia tăng về diện tích, năng suất và sản lượng, thị trường tiêu thụ lạc cũng diễn ra rất sôi động, lượng lạc xuất khẩu trên thế giới không ngừng tăng lên Những năm 70, 80 của thế kỷ XX, sản lượng lạc xuất khẩu trên thế giới bình quân chỉ đạt 1,11÷1,16 triệu tấn/năm, đến năm 1997÷1998 tăng lên 1,39 triệu tấn và đến 2001÷2002 đạt 1,58 triệu tấn Đến năm 2009, lượng lạc xuất khẩu trên thế giới đạt 2,20 triệu tấn Như vậy, một khối lượng lạc lớn đã được lưu thông, trao đổi trên thị trường thế giới Lạc được sử dụng với mục đích làm thực phẩm và chế biến dầu là chủ yếu Ngoài ra còn sử dụng cho một số mục đích khác như làm thức ăn chăn nuôi và làm bánh kẹo
Các nước xuất khẩu lạc nhiều trên thế giới là Mỹ, Argentina, Sudan, Senegan và Brazil, chiếm 71% tổng kim ngạch xuất khẩu của thế giới Trong những năm gần đây, Mỹ là nước xuất khẩu lạc hàng đầu Argentina là nước đứng thứ 2 về xuất khẩu lạc, trung bình hàng năm xuất khẩu 36,2 nghìn tấn, chiếm 2,3% lượng lạc xuất khẩu thế giới Hiện nay, nước này xuất khẩu đến 80% lượng lạc sản xuất được
Trung Quốc và Ấn Độ là những nước đứng đầu về sản xuất lạc, nhưng xuất khẩu lạc của cả hai nước này chỉ chiếm 4% trên thế giới Do hầu hết các sản phẩm lạc được tiêu thụ trong nước là chính Lượng lạc tiêu thụ của Trung Quốc chiếm hơn một nửa lượng lạc của thế giới, năm 2009 Trung Quốc tiêu thụ 3,8 triệu tấn [77]
Mức tiêu thụ lạc nhân của Ấn Độ tăng lên 60% tổng sản lượng, gấp đôi so với mức 30% cách đây 3 năm, trong khi chỉ có 15% sản lượng dùng cho tiêu dùng và xuất khẩu Điều này thể hiện cơ cấu tiêu dùng lạc của Ấn Độ đã thay đổi Tiêu dùng các sản phẩm chế biến từ lạc như rang, muối và đóng gói tăng Trong khi để hạn chế nhập khẩu dầu ăn, lượng lạc đã được dùng làm dầu ăn tăng
Trang 15lên Sản lượng lạc niên vụ 2009÷2010 đạt 3,5 triệu tấn củ, trong đó lạc nhân là 2 triệu tấn (Nguyễn Hà Sơn, 2010) [75]
Tổng xuất khẩu lạc trên thế giới năm 2010/2011 đạt 2,35 triệu tấn, tăng nhẹ so với 2009/2010 là 2,20 triệu tấn Tổng sản lượng lạc đem ép dầu trên thế giới đạt 15,54 triệu tấn trong năm 2010/2011, cao hơn 14,36 triệu tấn so với năm 2009/2010 Tổng dự trữ lạc trên thế giới cuối niên vụ 2010/2011 là 1,19 triệu tấn, giảm nhẹ so với 1,24 triệu tấn của cuối niên vụ 2009/2010 [76]
Xét về mặt kinh tế, cây lạc đã góp một phần không nhỏ vào việc cải thiện
và nâng cao chất lượng cuộc sống của người nông dân Chính vì vậy, việc nghiên cứu và phát triển cây lạc trong hệ thống luân canh cây trồng là rất cần thiết, nhằm từng bước thúc đẩy đa dạng hòa sản phẩm, sử dụng hợp lý hơn những điều kiện
tự nhiên, kinh tế - xã hội, góp phần thúc đẩy nền nông nghiệp phát triển theo hướng bền vững
1.1.2 Tình hình sản xuất lạc ở Việt Nam
Ở Việt Nam, cây lạc được trồng từ rất lâu đời Lạc là cây trồng đem lại hiệu quả kinh tế có giá trị đa dạng và phong phú, vì vậy cây lạc đang được trồng trên tất cả các vùng sinh thái của nước ta Cây lạc chiếm khoảng 40% diện tích cây công nghiệp ngắn ngày Ở Việt Nam cây lạc được trồng ở 59/64 tỉnh thành Trong cơ cấu cây công nghiệp hàng năm (đay, cói, mía, lạc, đậu tương, thuốc lá) thì diện tích trồng lạc chiếm 41,18% tổng diện tích (2010) và 41,05% (2011)
Những năm gần đây, do việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng theo hướng sản xuất hàng hóa, cây lạc ở Việt Nam có chiều hướng tăng cả về diện tích, năng suất và sản lượng
Theo thống kê của Bộ Nông nghiệp Việt Nam [72], trong 10 năm trở lại đây (2000÷2012), sản xuất lạc của nước ta cũng có nhiều biến động Từ năm 2001÷2005 có sử biến động lớn nhất cả về diện tích, năng suất và sản lượng Năm 2005 diện tích lạc đạt 269,9 nghìn ha, năng suất đạt 18,1 tạ/ha và sản lượng 489,3 nghìn tấn Cũng vào thời điểm này, Việt Nam đứng thứ 12 về diện tích và đứng thứ 9 về sản lượng lạc trên thế giới Những năm sau đó, diện tích lạc có xu hướng giảm dần, nhưng năng suất và sản lượng lạc có những chuyển biến tích
Trang 16cực Có được điều này là do việc đẩy mạnh công tác nghiên cứu chọn tạo giống cũng như áp dụng những tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất Năm 2012, năng suất trung bình cả nước đạt 21,3 tạ/ha, sản lượng đạt 470,6 nghìn tấn với diện tích trồng là 220,5 nghìn ha
Bảng 1.3 Sản xuất lạc ở Việt Nam trong những năm gần đây
(1000 ha)
Năng suất (tạ/ha)
Sản lượng (1000 tấn)
Nguồn: Tổng cục thống kê Việt Nam năm 2013
Về phân bổ, lạc được trồng ở hầu hết các vùng sinh thái nông nghiệp Việt Nam, tuy nhiên có 6 vùng sản xuất chính như sau:
- Vùng Đồng bằng sông Hồng: lạc được trồng chủ yếu ở Hà Nội, Nam Định, Ninh Bình, Vĩnh Phúc, Quảng Ninh với tổng diện tích 20,2 nghìn ha, chiếm 2,56%, sản lượng 72,8 nghìn tấn, chiếm 13,86% sản lượng của cả nước Vài năm trở lại đây, diện tích trồng lạc của vùng có xu hướng giảm nhẹ Năm
2007 diện tích đạt 34,7 nghìn ha, đến năm 2010 giảm xuống còn 20,2 nghìn ha Ngược lại với diện tích, năng suất lạc năm sau lại cao hơn năm trước: Năm 2010 năm suất đạt 24,1 tạ/ha Tuy nhiên, do diện tích giảm nên sản lượng của vùng giảm xuống còn 72,8 nghìn tấn (2010), giảm 5,2 nghìn tấn so với 2007 và 9,6 nghìn tấn so với 2008
Trang 17- Vùng trung du và miền núi phía Bắc: Lạc được trồng chủ yếu ở Hà Giang, Phú Thọ, Hòa Bình, Tuyên Quang với diện tích 50,2 nghìn ha, chiếm 20,22% và sản lượng chiếm 90,5 nghìn tấn, chiếm 16,43% sản lượng của cả nước Đây là vùng có diện tích cũng như sản lượng đứng thứ 2 cả nước
Bảng 1.4 Diện tích các vùng trồng lạc ở Việt Nam (1000 ha)
Vùng↓ Năm→ 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010 ĐBSH 36,50 37,60 33,00 34,70 34,50 31,30 20,20
TD và MNPB 39,30 42,80 41,60 44,20 50,50 50,40 50,20 BTB và DHMT 111,30 116,00 107,10 111,20 107,30 108,20 102,30 Tây Nguyên 25,30 24,50 23,10 21,00 19,50 17,70 16,70 Đông Nam Bộ 38,40 34,80 29,90 29,80 29,60 29,10 20,50 ĐBSCL 12,90 13,90 12,00 13,60 13,90 12,50 11,30
Nguồn: Tổng cục thống kê Việt Nam năm 2011
- Vùng Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung: đây là vùng trọng điểm sản xuất lạc, bởi vùng này có diện tích và sản lượng lớn nhất cả nước Lạc được trồng tập trung ở Nghệ An, Hà Tĩnh, Thanh Hóa, Quảng Nam với tổng diện tích 102,3 nghìn ha chiếm 43,42% và sản lượng 202,0 nghìn tấn, chiếm 40,07% sản lượng cả nước, trong đó Nghệ An có diện tích cao nhất (23,8 nghìn ha)
- Vùng Tây Nguyên: Lạc được trồng chủ yếu ở Đắc Lắc, Đắc Nông với tổng diện tích toàn vùng là 16,7 nghìn ha, chiếm 7,10%, là vùng có sản lượng thấp nhất nước (29,3 nghìn tấn, đạt 5,79%)
- Vùng Đông Nam Bộ: Lạc được trồng chủ yếu ở Tây Ninh, Bình Dương với tổng diện tích 20,5 nghìn ha, chiếm 11,68%, sản lượng 51,6 nghìn tấn, chiếm 15,96% Đây là vùng có diện tích đứng thứ 4 và sản lượng đứng thứ 3 trong cả nước
- Vùng Đồng bằng sông Cửu Long: Lạc được trồng chủ yếu ở Long An, Trà Vinh với tổng diện tích 11,3 nghìn ha, chiếm 5,02%, sản lượng 39,5 nghìn tấn, chiếm 7,88% sản lượng cả nước Đây là vùng có diện tích trồng lạc thấp nhất
cả nước nhưng lại là vùng có năng suất cao nhất cả nước (35,6 tạ/ha năm 2010)
Như vậy, trình độ thâm canh và sản xuất lạc của nước ta không đồng đều, giữa các vùng có sự khác biệt lớn, chủ yếu là do điều kiện khí hậu thời tiết giữa
Trang 18các vùng Nhiều nơi năng suất đạt khá cao như vùng Đồng bằng sông Cửu Long, Đông Nam Bộ, Đồng bằng sông Hồng; bên cạnh đó còn có những vùng có năng suất thấp như Trung du và miền núi phía Bắc, Tây Nguyên
Bảng 1.5 Sản lượng các vùng trồng lạc ở Việt Nam (1.000 tấn)
Vùng↓ Năm→ 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010 ĐBSH 79,90 79,70 73,70 78,00 82,40 72,80 72,80
TD và MNPB 62,30 64,00 60,10 70,20 85,30 86,30 90,50 BTB và DHMT 183,80 186,00 184,80 204,00 204,00 210,40 202,00 Tây Nguyên 17,30 33,80 33,10 32,90 30,90 30,40 29,30 Đông Nam Bộ 91,50 85,50 75,00 82,00 84,20 83,80 51,60 ĐBSCL 34,20 40,40 35,80 42,90 43,40 41,40 39,50
Nguồn: Tổng cục thống kê Việt Nam năm 2011
Về mặt xuất khẩu, cây lạc đã trở thành một trong 10 loại cây trồng chính
có giá trị xuất khẩu cao Trong các cây trồng hàng năm, xuất khẩu lạc đứng thứ 2 (sau cây lúa), xuất khẩu lạc vủa Việt Nam đứng thứ 5 trong 25 nước trồng lạc châu Á Theo FAO, 5 năm gần đây Việt Nam sản xuất sản 400÷500 tấn, xuất khẩu từ 50÷105 tấn thu về 30÷50 triệu USD
Mặc dầu năng suất và sản lượng lạc của nước ta có tăng nhưng so với các nước đứng đầu thế giới thì vẫn còn ở mức thấp Trong thời gian tới lạc vẫn là cây trồng giữ vị trí quan trong trong cơ cấu cây trồng của nước ta, do nó mang lại hiệu quả kinh tế cao cũng như có nhiều lợi thế cạnh tranh đặc biệt trên đất nghèo dinh dưỡng, đất cằn, những vùng tưới tiêu gặp khó khăn
1.1.3 Tình hình sản xuất lạc tại Hà Tĩnh và Tp Hà Tĩnh
1.1.3.1 Tình hình sản xuất lạc tại Hà Tĩnh
Hà Tĩnh là một tỉnh thuộc vùng Bắc Trung Bộ có điều kiện khí hậu đặc biệt mang tính chuyển tiếp giữa miền Bắc và miền Nam, với đặc trưng khí hậu nhiệt đới điển hình và có một mùa đông giá lạnh của miền Bắc Hà Tĩnh có 2 mùa
rõ rệt: mùa hè từ tháng 4 đến tháng 10, mùa này nóng, khô hạn kéo dài kèm theo nhiều đợt gió Tây Nam (gió Phơn) khô nóng, nhiệt độ có thể lên tới 400C, khoảng cuối tháng 7 đến tháng 10 thường có nhiều đợt bão kèm theo mưa lớn gây ngập lụt nhiều nơi, lượng mưa lớn nhất 500 mm/ngày đêm, mùa đông từ tháng 11 đến
Trang 19tháng 3 năm sau, mùa này chủ yếu có gió mùa Đông Bắc kéo theo khí lạnh và mưa phùn, nhiệt độ có thể xuống tới 70C Cùng với sự phát triển của sản xuất lạc ở Việt Nam sản xuất lạc ở Hà Tĩnh cũng có những chuyển biến rất tích cực
Bảng 1.6 Diện tích, năng suất, sản lượng lạc của Hà Tĩnh
Năm Diện tích (ha) Năng suất (tạ/ha) Sản lượng (tấn)
Nguồn: Tổng cục thống kê Việt Nam năm 2014
Về diện tích gieo trồng lạc: Hà Tĩnh là một trong những tỉnh trọng điểm lạc của nước ta, diện tích gieo trồng lạc của tỉnh đứng ở vị trí thứ 2 miền Bắc và thứ 2 cả nước sau Nghệ An (số liệu năm 2013) Diện tích lạc đang có xu hướng giảm dần qua từng năm: Năm 2007 diện tích lạc của Hà Tĩnh đạt 20.500 ha, nhưng năm 2012 chỉ còn 17.100 ha, giảm 3.400 ha Diện tích trồng lạc bị giảm là
do người dân đã đưa các cây trồng mới trồng thay vào trên diện tích đất màu trong vụ Xuân như cây dưa hấu, bí xanh, dưa chuột Mặc dù chi phí ban đầu cao hơn trồng lạc nhưng trồng những loại cây này có thị trường tiêu thụ lớn, vào mùa thu hoạch có thương lái đến tận ruộng thu mua, giá bán cao, thu nhập cao hơn nhiều so với trồng lạc
Về năng suất lạc: Theo số liệu thống kê của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, trong một thời gian dài từ năm 1980 đến năm 1997 năng suất lạc của
Hà Tĩnh chỉ dao động trên 10 tạ/ha, chưa vượt qua ngưỡng 11 tạ/ha, thấp hơn nhiều so với năng suất trung bình của toàn quốc Nhưng từ năm 2007 trở lại đây năng suất lạc của Hà Tĩnh tăng lên đáng kể, cao nhất là năm 2013 đạt 23,56 tạ/ha
và thấp nhất là 18,00 tạ/ha vào năm 2007 Năng suất lạc của Hà Tĩnh khá ổn định
và tương đương với năng suất của cả nước qua từng năm, tuy nhiên còn thấp so với năng suất của một số tỉnh như Tây Ninh (33,82 tạ/ha năm 2008), Nam Định (37,25 tạ/ha năm 2008)
Trang 20Về sản lượng lạc: Cùng với sự gia tăng về diện tích và năng suất, sản lượng lạc của Hà Tĩnh cũng được cải thiện nhiều Hiện nay, Hà Tĩnh là một trong 2 tỉnh
có sản lượng lớn nhất nước, năm 2013 sản lượng lạc của tỉnh đạt 40.760 tấn
Cây lạc ở Hà Tĩnh được trồng ở cả 3 vụ trong năm Trong đó, vụ Xuân
là vụ lạc chính, thời vụ gieo từ 10/1÷20/2, thu hoạch vào cuối tháng 5 đầu tháng 6 Là vụ có điều kiện thời tiết thích hợp để cây lạc sinh trưởng phát triển tốt, cho năng suất cao Tuy nhiên, hạn chế lớn nhất của vụ Xuân là thời
kỳ gieo trồng trùng với thời kỳ nhiệt độ và độ ẩm không khí thấp do đó lạc nảy mầm kém, thời kỳ ra hoa rộ vào tháng 3 có thể gặp gió mùa Đông Bắc kéo dài, nhiệt độ thấp, lạc thụ phấn kém, làm cho năng suất giảm, thời kỳ chín trùng với những ngày nắng nóng, nhiệt độ cao, có thể có gió Tây Nam khô nóng, xen kẽ với các đợt mưa (lụt tiểu mãn) dễ làm cho lạc bị chết khô, chín ép, biến màu hoặc nảy mầm trên ruộng và làm giảm năng suất và chất lượng Vụ Hè Thu, thời vụ gieo từ 20/6÷05/7 và vụ Thu Đông gieo từ 10/8÷15/9, thu hoạch vào tháng 12 Khó khăn lớn nhất của vụ lạc Thu Đông
là thời vụ gieo trồng trùng với thời kỳ mưa bão nhiều ở Hà Tĩnh, các đợt ra hoa đợt 2 và 3 có thể gặp nhiệt độ thấp của các đợt gió mùa Đông Bắc sớm ảnh hưởng tới việc thụ phấn, thời kỳ thu hoạch có tổng số giờ nắng/ngày thấp, nhiệt độ thấp
Giống lạc được trồng nhiều ở Hà Tĩnh là các giống L14, V79, Sen Lai, TB25, QĐ12, đây là các giống tốt có tiềm năng năng suất cao Song do công tác chọn và bảo quản giống không tốt nên chất lượng giống không đảm bảo, cách thức chọn và để giống chủ yếu là tại nông hộ, do chính người nông dân tiến hành đo đó năng suất lạc còn hạn chế
1.1.3.2 Tình hình sản xuất lạc tại Tp Hà Tĩnh
Theo Cục thống kê Hà Tĩnh, diện tích trồng lạc của Thành phố Hà Tĩnh 2007÷2013 có xu hướng giảm dần Năm 2011, diện tích lạc của thành phố đạt
645 ha, giảm 148 ha so với năm 2007 là năm có diện tích lạc cao nhất
Về năng suất lạc cũng có sự chuyển biến tích cực, năm 2007 năng suất chỉ đạt 21,63 tạ/ha, sau đó năng suất tăng lên đáng kể và đạt cao nhất 25,15 tạ/ha vào
Trang 21năm 2010 Năm 2011 năng suất lạc của thành phố giảm so với năm 2010 và đạt 20,12 tạ/ha Do ảnh hưởng của điều kiện thời tiết nên ở vụ Xuân, vào đầu vụ gặp phải điều kiện rét, cuối vụ lúc thu hoạch (cuối tháng 5 đầu tháng 6) gặp thời tiết nắng nóng, đất khô cứng gây khó khăn cho việc thu hoạch làm năng suất bị giảm
Bảng 1.7 Diện tích, năng suất, sản lượng lạc của Thành phố Hà Tĩnh
Năm Diện tích (ha) Năng suất (tạ/ha) Sản lượng (tấn)
Nguồn: Cục thống kê Hà Tĩnh năm 2014
Cũng như diện tích và năng suất thì sản lượng lạc của thành phố cũng giảm dần 2008 ÷ 2013, năm 2008 sản lượng lạc cao nhất đạt 1.502 tấn nhưng đến năm 2012 sản lượng lạc của thành phố chỉ còn 814 tấn, năm 2013 sản lượng lạc của thành phố tăng nhẹ lên 927 tấn
Ở Thành phố Hà Tĩnh lạc được gieo trồng ở cả ba vụ sản xuất trong năm (vụ Xuân, vụ Hè Thu và vụ Thu Đông), trong đó, vụ Xuân là vụ lạc chính Các giống lạc trồng phổ biến ở địa bàn thành phố là các giống L14, V79, TB25,
và hiện nay nông dân trong thành phố còn gieo trồng một số giống lạc mới như L19, L23, L26, nhưng diện tích còn ít
Nhìn chung, sản xuất lạc của Thành phố Hà Tĩnh còn nhiều hạn chế, năng suất lạc chưa cao Tuy nhiên, nếu được áp dụng đồng bộ các biện pháp kỹ thuật như bố trí mật độ trồng hợp lý, bón phân với liều lượng thích hợp, sử dụng những giống mới có tiềm năng năng suất cao thì sản xuất lạc của địa phương sẽ được cải thiện, năng suất lạc sẽ được nâng cao
Trang 221.2 Một số kết quả nghiên cứu về cây lạc trên thế giới và Việt Nam
1.2.1 Một số kết quả nghiên cứu về cây lạc trên thế giới
1.2.1.1 Kết quả nghiên cứu về mật độ và khoảng cách trồng lạc
Các biện pháp kỹ thuật góp phần nâng cao năng suất lạc là một trong những vấn đề quan trọng trong quá trình sản xuất Vấn đề này được các nhà khoa học trên thế giới hết sức quan tâm nghiên cứu
Mật độ trồng là một trong số những yếu tố cấu thành năng suất lạc, nhiều nghiên cứu đã chứng minh rằng: Tác động vào mật độ trồng là một trong những yếu tố kỹ thuật quan trọng nhất để tăng năng suất lạc Tùy thuộc vào các điều kiện canh tác, điều kiện mùa vụ và các giống lạc khác nhau thì mật độ trồng lạc
là khác nhau
A’Brook (1996) [36] cho rằng, mật độ trồng lạc quá cao, trồng dày sẽ làm
tỷ lệ bệnh hại lá và môi giới truyền bệnh tăng, năng suất không tăng so với trồng
ở mật độ trung bình
Theo Kumar và Ventakachary (1971) tại Ấn Độ, (trích dẫn bởi Nguyễn Thị Hiền, 2008) trồng lạc trong điều kiện có nước tưới thì khoảng cách (30,0 x 7,5 cm) là tốt nhất Ở Mỹ (Sturkie và Buchanan, 1973) cho rằng lạc có năng suất cao nhất khi trồng với khoảng cách (45÷68 cm) x (10÷15 cm) Trong điều kiện
có nước tưới thì khoảng cách trồng là (22,5 x 10 cm) tương đương mật độ 44 cây/m2 đạt năng suất cao nhất (Jagannathan, 1974)
Khi nghiên cứu mật độ, khoảng cách trồng lạc đối với các loại hình khác nhau, Reddy (1982) [61] cho rằng: Tỷ lệ hạt gieo phải phụ thuộc chủ yếu vào khối lượng 100 hạt, độ rộng giữa các hàng và khoảng cách giữa các cây trong hàng Loại hình Spanish thân bụi khuyến cáo khoảng cách trồng là 30 x 10 cm, lượng hạt gieo 100÷110 kg/ha, mật độ trồng tương đương 33,3 vạn cây/ha Với loại hình thân bò Virginia thì khoảng cách trồng là 30 x 15 cm, lượng hạt 95÷100 kg/ha và mật độ 22,2 vạn cây/ha
Ở miền Bắc Trung Quốc mật độ thích hợp của giống lạc thuộc kiểu hình Virginia được gieo trồng trong vụ Xuân như sau: Luhua 4, Hua 17 trên đất có độ phì trung bình thì mật độ khoảng 220.000÷270.000 cây/ha, còn đối với đất giàu
Trang 23dinh dưỡng mật độ là 200.000÷240.000 cây/ha Các giống lạc thuộc loại hình Spanish như Baisha 1016, Luhua 8, 12, 13 và 15 thì mật độ trồng là 360.000÷420.000 cây/ha Trong điều kiện trồng phụ thuộc vào nước trời mật độ
là 300.000÷380.000 cây/ha (Ngô Thế Dân và cs., 1999) [8]
Miền Nam Trung Quốc với giống đứng cây trồng trong vụ Xuân trên, đất đồi hoặc trong vụ lạc thu ở đất lúa mật độ trồng thích hợp là 270.000÷300.000 cây/ha (Ngô Thế Dân và cs., 1999) [8]
Thái Lan hiện nay đang áp dụng phương pháp gieo thích hợp là khoảng cách hàng 30÷60 cm, khoảng cách cây là 10÷20 cm, gieo 1÷2 hạt/hốc, mật độ gieo 150.000÷250.000 cây/ha (Sanun Jogloy, Tugsina Sansaya wichai, 1996) [65] Áp dụng kỹ thuật trồng lạc với luống hẹp giúp cho việc tưới tiêu nước hiệu quả hơn và làm tăng năng suất 10%, biện pháp kỹ thuật này hiện được áp dụng phổ biến ở Trung Quốc (XuZeyong 1992) [70]
Qua kết quả nghiên cứu về mật độ trồng lạc ở một số nước thấy rằng việc trồng dày không làm tăng năng suất quả đối với các loại hình Virginia thân bụi
và thân bò, nhưng lại làm tăng năng suất loại hình Spanish thân bụi và thân đứng Các nước có trình độ cơ giới hóa cao, để phù hợp với điều kiện thi công cơ giới người ta trồng lạc với khoảng cách hàng rộng (60÷75 cm) Vì vậy, để đảm bảo năng suất lạc phải sử dụng bộ giống có thân bụi hoặc nửa bò, thời gian sinh trưởng tương đối dài và tăng mật độ bằng cách thu hẹp khoảng cách giữa các cây (Reddy P.S 1982) [61]
1.2.1.2 Kết quả nghiên cứu về phân bón cho cây lạc
Các nghiên cứu về phân bón cho lạc bao gồm cả liều lượng, kỹ thuật bón
và loại phân bón ở các điều kiện đất đai trồng khác nhau cũng đã được tiến hành Điều này góp phần đáng kể trong việc nâng cao năng suất, sản lượng lạc của các nước trên thế giới
- Những nghiên cứu về liều lượng đạm bón:
Các nhà khoa học đều khẳng định, cây lạc cần một lượng N lớn để sinh trưởng, phát triển và tạo năng suất, lượng N này chủ yếu được lấy từ quá trình cố định
Trang 24đạm sinh học ở nốt sần Theo William (1979) [69], trong điều kiện tối ưu, cây lạc có thể cố định được 200÷260 kg N/ha, do vậy có thể bỏ hẳn lượng N bón cho lạc
Theo nghiên cứu của Reddy và CS (1988) [62], lượng phân bón là 20 kg N/ha trên đất Limon cát có thể đạt năng suất 3,3 tấn quả/ha trong điều kiện các yếu tố khác tối ưu và chỉ khi nào muốn đạt được năng suất cao hơn mới cần bón thêm đạm
Kết quả của hơn 200 cuộc thử nghiệm trên các loại đất khác nhau ở Ấn Độ
đã chỉ ra rằng, khi sử dụng 20 kg N/ha lạc không làm tăng năng suất quả (Mann H.S 1965) [51], (Tripathi H.P and Moolani M.K, 1971) [67] Tuy nhiên, khi tăng lượng đạm lên 40 kg N/ha trong điều kiện ẩm độ đất tối ưu thì đem lại kết quả (Choudary W.S.K 1977) [39], (Jayyadvan R and Sreendharan C) [50]
- Những nghiên cứu bón lân cho lạc:
Lân là yếu tố dinh dưỡng cần thiết đối với cây lạc, đem lại năng suất cao
và chất lượng tốt Theo Nasr-Alla et al [55], khi tăng tỷ lệ P và K riêng rẽ hoặc
phối hợp thì sẽ làm tăng số cành trên cây và năng suất quả trên cây Tương tự, Ali và Mowafy cũng chỉ ra rằng khi bón thêm phân lân làm tăng đáng kể năng suất hạt và tất cả những thuộc tính của nó [37]
El-far and Ramadan [41] cũng cho biết, khi tăng lượng lân bón sẽ làm tăng khối lượng thân cây, tăng số lượng và khối lượng của quả và hạt trên cây, khối lượng 100 hạt và tỷ lệ dầu cũng tăng Khi tăng lượng phân lân 30÷60 kg
P2O5/ha làm tăng đáng kể khối lượng khô của toàn cây Điều này được giải thích
do hàm lượng lân giúp cho hệ rễ lạc phát triển mạnh hơn, tăng khả năng hút nước
và chất dinh dưỡng Từ đó, giúp đồng hóa tốt hơn thể hiện ở sự gia tăng sinh khối Về năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất lạc thì khi tăng lượng lân 30÷60 kg P2O5/ha thì làm tăng số quả và số hạt/cây, tăng trọng lượng quả và hạt/cây, khối lượng 100 hạt và tỷ lệ dầu trong hạt cũng tăng cao Điều này được
lý giải là do hiệu quả của lân liên quan đến việc gia tăng số lượng và kích thước nốt sần từ đó giúp cho quá trình đồng hóa N tốt hơn Hơn nữa, lân là thành phần quan trọng trong cấu trúc của axit nucleic, giúp hoạt hóa các quá trình trao đổi chất Sử dụng 46,6 kg P2O5/ha và 36 kg P2O5/ha đã cho hiệu quả cao nhất về năng suất và tất cả các thuộc tính của nó [42]
Trang 25Vai trò của phân lân đến năng suất và chất lượng lạc được ghi nhận ở nhiều quốc gia Ở Ấn Độ tổng hợp từ 200 thí nghiệm trên nhiều loại đất đã kết luận rằng: bón 14,5 kg P2O5/ha cho lạc nhờ nước trời năng suất tăng 201 kg/ha, trên đất Limon đỏ nghèo N, P bón 15 kg P2O5/ha năng suất tăng từ 14,7% Đối với loại đất Feralit màu nâu ở Madagasca, lân là yếu tố cần thiết hàng đầu Nhờ việc bón lân ở liều lượng 75 kg P2O5/ha năng suất lạc có thể tăng 100%, theo IG.Degens, 1978 cho rằng chỉ cần bón 400÷500 mg P/ha đã kích thích được sự hoạt động của vi khuẩn Rhizobium Vigna sống cộng sinh làm tăng khối lượng nốt sần hữu hiệu ở cây lạc
Tại tất cả các vùng của Ấn Độ khi bón kết hợp 30 kg/ha N và 20 kg/ha
P làm tăng năng suất lạc lên gấp hai lần so với bón riêng 30 kg N/ha (Kanwar
JS, 1978) [51]
Tại Senegan phân lân bón cho lạc có hiệu lực trên nhiều loại đất khác nhau bón với lượng 12÷14 kg P2O5/ha đã làm tăng năng suất quả lên 10÷15% so với không bón Phân lân không có hiệu quả chỉ khi làm lượng lân dễ tiêu trong đất đạt >155 ppm
Ở Trung Quốc thường bón supe photphat và canxi photphat Phân lân Supe photphat có 18% hàm lượng nguyên chất, phân giải nhanh Loại phân này bón trên đất trồng lạc có độ phì trung bình và mang tính kiềm thì sẽ đạt năng suất cao Phân canxi photphat phân giải chậm phù hợp với đất trồng lạc có độ phì trung bình, đất chua (Ngô Thế Dân và cs., 1999) [8]
- Nghiên cứu về bón kali cho lạc:
Bón kali cho đất có độ phì từ trung bình đến giàu đã làm tăng khả năng hấp thu N và P của cây lạc Theo Ngô Thế Dân và cs., 1999 [8], bón 25 kg K/ha cho lạc đã làm tăng năng suất lên 12,7% so với không bón
Suba Rao (1980) cho biết ở đất cát của Ấn Độ bón với tỷ lệ K:Ca:Mg là 4:2:0 là tốt nhất Theo Reddy (1988) [62] trên đất Limon cát vùng Tyrupaty trồng lạc trong điều kiện phụ thuộc vào nước trời, năng suất tăng khi bón kali với lượng 66 kg K2O /ha Mức bón để có năng suất tối đa là 83,0 kg K2O /ha và có hiệu quả nhất là bón 59,9 kg K2O /ha
Trang 26- Nghiên cứu về bón Canxi (Ca) cho lạc:
Vôi là một nhân tố không thể thiếu khi trồng lạc, vôi làm thay đổi độ chua của đất Đất trồng lạc thiếu Ca sẽ dẫn đến giảm quá trình hình thành hoa và tia, dẫn đến củ bị ốp và cũng làm phôi hạt bị đen Ca làm giảm hiện tượng phát triển không đầy đủ của noãn, tăng số quả/cây, dẫn đến làm tăng năng suất
Theo Ngô Thế Dân và cs., 1999 [8], ở Trung Quốc vôi bón cho đất chua làm trung hòa độ pH của đất, cải thiện phần lý tính của đất và ngăn ngừa sự tích lũy của độc tố do Al và các nhân tố khác gây nên Bón vôi với liều lượng 375 kg/ha cho đất nâu ở Weihai đã làm tăng năng suất quả lạc 4,61 tấn/ha, tăng 11,8% so với đối chứng không bón vôi
Có thể thấy có rất nhiều nghiên cứu về việc sử dụng riêng rẽ trong từng yếu tố phân bón cho cây lạc Tuy nhiên, nhiều nghiên cứu mới đây cho thấy bón phân cân đối mang lại hiệu quả kinh tế cao ở nhiều nước cho nhiều loại cây trồng nói chung trong đó có lạc Theo kỹ thuật này, việc bón N-P-K cân đối về liều lượng, dựa theo yêu cầu của cây trồng, khả năng cung cấp của đất và hiệu ứng của phân bón
Các kết quả nghiên cứu ở Trung Quốc cho thấy bón N, P, K kết hợp làm tăng khả năng hấp thu đạm của cây lên 77,33%; lân lên 3,75% so với việc bón riêng rẽ, tỷ lệ bón thích hợp nhất là 1:1,5:2 Để thu được 100 kg lạc quả cần bón
5 kg N, 2 kg P2O5 và 2,5 K2O cho 1 ha (Duan Shufen 1998) [41]
Nghiên cứu của N Ramesh Babu, S Rami Reddy, GHS Reddi và DS Reddy [57], trên đất sét pha cát của vùng Tirupati Campus cho thấy, số quả chắc trên cây đạt cao nhất khi sử dụng 60 kg N, 40 kg P và 100 kg K/1 ha
Ngoài ra với các loại đất có độ phì trung bình và cao, mức đạm cần bón phải giảm đi 50% và tăng lượng lân cần bón lên gấp 2 lần Bón phối hợp 10÷40
kg N, 30÷40 kg P2O5, 20÷40 kg cho 1 ha K2O cho 1 ha là mức bón tối ưu cho lạc ở Ấn Độ (Xuzeyong, 1992) [70]
1.2.1.3 Kết quả nghiên cứu về chọn tạo giống lạc
Nghiên cứu về vấn đề chọn tạo giống lạc, ngay từ rất sớm các nhà khoa học trên thế giới đã quan tâm đến việc thu thập và bảo bồn nguồn gen cây lạc
Trang 27Viện Nghiên cứu Cây trồng vùng nhiệt đới bán khô hạn (ICRISAT) là cơ sở nghiên cứu lớn nhất về cây lạc Tại ICRISAT nguồn gen cây lạc từ con số 8498 (năm 1980) ngày càng được bổ sung phong phú hơn, tính đến năm 1993 ICRISAT đã thu thập được 13.915 lượt mẫu giống lạc từ 89 nước trên thế giới Đặc biệt, ICRISAT đã thu thập được 301 lượt mẫu giống thuộc 35 loài dại của
chi Arachis, đây là nguồn gen quý có giá trị cao trong công tác cải tiến giống
theo hướng chống bệnh và chống chịu với điều kiện ngoại cảnh bất thuận (Mengesha M.H, 1993) [53]
Trong số các mấu giống đã thu thập được thông qua các đặc tính hình thái- nông học, sinh lý -sinh hóa và khả năng chống chịu sâu bệnh, ICRISAT đã phân lập theo các nhóm tính trạng khác nhau phục vụ cho việc nghiên cứu chọn tạo giống như: nhóm kháng bệnh, nhóm chống chịu hạn, nhóm hàm lượng dầu cao, nhóm chín trung bình, nhóm chín muộn, nhóm chín sớm… Trong đó các giống chín sớm điển hình là Chico, 91176, 91776, ICGS (E) 81, ICGV 86105 (Nigam S.N et al, 1995) [56], ICGS (E) 52, ICGV 86062 [21], giống lạc có năng suất cao như ICGV - SM 83005 (Nigam S.N và cs., 1998) [57], ICGV88438, ICGV89214, ICGV91098 (Hadjichristodoulou A và cs., 1997) [46], và các giống lạc có khả năng sáng sâu bệnh cao như giống ICGV 86388, giống ICGV 86699, giống ICGV-SM 86715, ICGV 87165
Nhận thức được tầm quan trọng to lớn của giống lạc trong việc thúc đẩy phát triển sản xuất, nhiều quốc gia trên thế giới đã sớm quan tâm nghiên cứu về lĩnh vực này và thu được nhiều kết quả hết sức khả quan
Ở Trung Quốc, công tác nghiên cứu về chọn tạo giống lạc được tiến hành từ rất sớm Bằng các phương pháp chọn tạo giống khác nhau như: đột biến sau khi lai, đột biến trực tiếp, lai đơn, lai kết hợp hơn 200 giống lạc có năng suất cao đã được tạo
ra và phổ biến vào sản xuất từ cuối những năm 50 của thế kỷ 20 Kết quả ghi nhận là các giống lạc được trồng ở tất cả các vùng đạt tới 5,46 triệu ha (Duan Shufen, 1998) [41] Những năm gần đây, Trung Quốc đã công nhận 17 giống lạc mới, trong đó điển hình là các giống Yueyou 13, Yueyou 29, Yueyou 40, 01-2101, Yuznza 9614, 99-
1507, R1549 có năng suất trung bình là 46÷70 tạ/ha (ICRISAT, 2005) [47]
Trang 28Ấn Độ cũng là nước có nhiều thành tựu to lớn về công tác chọn tạo giống Theo lời dẫn của Ngô Thế Dân và cs., 2000 [6], trong chương trình hợp tác với ICRISAT, bằng con đường thử nghiệm các giống lạc của ICRISAT, Ấn Độ đã phân lập và phát triển được giống lạc chín sớm phục vụ rộng rãi trong sản xuất,
đó là BSR (D.Sudhakar và CS, 1995) Bên cạnh đó, các nhà khoa học của Ấn Độ cũng đã lai tạo và chọn được nhiều giống lạc thương mại mang tính đặc trưng cho từng vùng Mỗi bang của Ấn Độ trồng các giống khác nhau Tại bang Andhra Pradessh, trồng giống Kadiri-2, giống Karidi-3, chiều cao cây 23÷28 cm, thời gian sinh trưởng 115÷120 ngày, hạt chứa 43,7% dầu, tỷ lệ nhân 76% Bang Gujarat, trồng giống GAUG-1, dạng cây đứng, thời gian sinh trưởng 95÷100 ngày, thích ứng trong điều kiện canh tác nước trời, [73]
Tại Mỹ, chính phủ đã quan tâm nhiều đến công việc tập hợp quỹ gen và lai giống đối với cây lạc (Isleib T.G và Wyne J.C, 1992) [48] Tại đây đã có 3 chương trình nghiên cứu các loài lạc dại để phục vụ công tác lai tạo, cải tiến giống Từ đây, các cơ quan nghiên cứu đã đưa ra sản xuất nhiều giống lai vừa có năng suất cao, vừa chống chịu với sâu bệnh Giống năng suất cao như giống VGS1 và VGS2 (Coffelt T.A và cs., 1995) [40]; giống kháng bệnh, năng suất 30÷50 tạ/ha như NC12C (Isleib T.G và cs., 1997) [49]
Ustralia đã thu thập được 12.160 lượt mẫu giống từ nhiều nước trên giới như châu Phi, Trung Quốc, Bắc Mỹ, châu Âu, châu Á, châu Đại Dương Hầu hết các mẫu giống đều thuộc 2 kiểu phân cành liên tục và xen kẽ Theo FAO (1991) [43]
Philippine đã đưa vào sản xuất nhiều giống như UPLP n6, UPLP n8 và BPIP n8 có kích thước hạt lớn, kháng bệnh gỉ sắt, bệnh đốm lá (Perdido, 1996) [59]
Thái Lan cũng đã chọn tạo và đưa vào sản xuất các giống lạc có đặc tính năng suất cao, chín sớm, chịu hạn, kháng bệnh đốm là, gỉ sắt có kích thước hạt lớn như: Khon Kean 60-3; Khon Kean 60-2; Khon Kean 60-1 và Tainan 9 (Sanun Joglog và cs., 1996) [65]
Ngoài ra, một số nước khác trồng lạc trên thế giới cũng đã chọn tạo được nhiều giống lạc có tiềm năng năng suất cao, chất lượng tốt, chống chịu được với một số loại sâu bệnh như Indonesia đã chọn tạo được giống Mahesa, Badak,
Trang 29Brawar và Komdo có năng suất cao, phẩm chất tốt, chín sớm và kháng sâu bệnh
Ở Hàn Quốc đã chọn tạo được giống ICGS năng suất đạt tới 56 tạ/ha (Perdido V.C và cs.) [59]
1.2.2 Một số kết quả nghiên cứu về cây lạc ở Việt Nam
1.2.2.1 Kết quả nghiên cứu về mật độ và khoảng cách trồng
Ở Việt Nam, cùng với công tác giống công tác nghiên cứu về các biện pháp kỹ thuật trồng góp phần tăng năng suất lạc cũng đã được quan tâm từ sớm
Theo Ưng Định và Đăng Phú (1977) [17], tổng hợp các nghiên cứu cho biết, tăng mật độ từ 22 cây/m2 (30 x 15 cm x 1cây) lên 33 cây/m2 (30 x 10 cm x 1 cây), năng suất lạc tăng từ 15,0 lên 22,0 tạ/ha Mật độ trồng 44 cây/m2 (30 x 15
cm x 2 cây), năng suất tăng lên 29,0 tạ/ha Trên đất bạc màu Bắc Giang, lạc trồng với mật độ 25 cây/m2 (40 x 15 cm x 2 hạt) năng suất đạt 12,0 tạ/ha, trồng với mật
độ 42 cây/m2 (30 x 15 cm x 2 hạt) năng suất tăng lên 15,0 tạ/ha
Nguyễn Quỳnh Anh (1994) [1] xác định mật độ trồng thích hợp nhất cho giống lạc Sen lai (75/23) trên đất cát biển Nghệ An là 35 cây/m2 theo khoảng cách (30 x 10 cm x 1 hạt) Những nghiên cứu ở vùng Đông Nam Bộ, kết quả cho thấy năng suất lạc đạt cao nhất 28,1 tạ/ha, ở khoảng cách gieo (20 x 20 cm x 2 hạt/hốc) đối với giống lạc VD1 (Ngô Thị Lam Giang và cs., 1999) [18]
Các giống lạc hiện đang gieo trồng ở nước ta chủ yếu thuộc kiểu hình Spanish và một số thuộc Valencia, thời gian sinh trưởng tương đối ngắn, khối lượng chất khô tích lũy thấp cho nên thường phải gieo với mật độ tương đối cao (Đoàn Thị Thanh Nhàn và cs., 1996) [27]
Theo Nguyễn Thị Chinh và cs (2000) [3], mật độ gieo thích hợp trong điều kiện có che phủ nilon là 25 x 18 cm x 2 cây/hốc và không che phủ nilon là
25 x 10 cm x 1 cây/hốc
Nguyễn Thị Ngọc Lan (2008) [23], khi nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật góp phần năng cao năng suất lạc vùng đồi, huyện Chương Mỹ, Hà Tây đối với giống lạc L14 đã kết luận rằng, gieo lạc ngày 28 tháng 2 năm 2008 trồng với mật
độ 40 cây/m2 cây sinh trưởng, phát triển tốt hơn so với các giống khác trong cùng điều kiện, năng suất thực thu đạt được 27,9 tạ/ha
Trang 30Theo Vũ Đình Chính (2008) [5] với mật độ gieo 40 cây/m2 đã cho năng suất của giống L14 đạt cao nhất 28,05 tạ/ha, trong khi mật độ 20 cây/m2 chỉ đạt 23,89 tạ/ha, với mật độ gieo 30 cây/m2 năng suất đạt 26,00 tạ/ha, 50 cây/m2 đạt 26,25 tạ/ha, 60 cây/m2 năng suất đạt 25,3 tạ/ha
Theo Đoàn Tiến Mạnh (2009), khi nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật góp phần nâng cao năng suất lạc tại Việt Yên - Bắc Giang đã có kết luận thời vụ
và mật độ trồng nghiên cứu cho giống lạc L14 điều kiện có che phủ nilon là trồng
1.2.2.2 Kết quả nghiên cứu về phân bón cho lạc
Lạc là cây có khả năng cố định đạm nhưng giai đoạn đầu cây rất cần đạm
do lượng dự trữ trong hạt không đáp ứng được nhu cầu phát triển bình thường của cây Tuy nhiên, việc bón đạm phải có chuẩn mực, vì bón đạm quá ngưỡng thân lá phát triển mạnh làm ảnh hưởng xấu đến quá trình hình thành quả và hạt dẫn đến năng suất thấp Kết quả nghiên cứu của Viện nông hóa thổ nhưỡng trên đất bạc màu Bắc Giang, trên nền 8÷10 tấn phân chuồng, lượng bón thích hợp là
30 kg N/ha, nếu tăng lên 40 kg N/ha thì năng suất không tăng và hiệu lực giảm đi
rõ rệt (Ngô Thế Dân, 2000)
Theo Vũ Hữu Yêm, lượng đạm yêu cầu bón cho lạc không cao, thường bón sớm khi lạc có 2-3 lá thật, bón với lượng tùy theo đất đai khác nhau thường bón từ 20÷40 kg N/ha [35]
Theo Nguyễn Danh Đông (1984) [16], ở nước ta trên các loại đất nghèo đạm như đất bạc màu, đất cát ven biển bón đạm có hiệu quả làm tăng năng suất, hiệu lực 1 kg N ở đất bạc màu Hà Bắc có thể đạt 5÷25 kg lạc vỏ Theo tác giả nếu lượng đạm ít, phân hữu cơ ít thì nên tập trung bón lúc gieo, nếu phân hữu cơ tốt và nhiều có thể bón thúc vào thời kỳ 4÷5 lá lúc đang phân hóa mầm hoa
Trang 31Nguyễn Thị Dần, Thái Phiên (1991) [9], lượng N thích hợp đối với lạc trên nền (20 tấn phân chuồng + 60 P2O5 + 30 K2O trên đất nhẹ là 30 N)/ha, năng suất 16÷18 tạ/ha Nếu N tăng lên thì năng suất có xu hướng giảm rõ rệt Theo các tác giả hiệu lực 1 kg đạm trên đất bạc màu và đất cát ven biển thay đổi 6÷10 kg lạc
Đỗ Thị Dung (1994) [12], Ngô Thế Dân (2000) [6]ư, Trần Danh Thìn (2001) [32] đều cho rằng, để việc bón đạm thực sự có hiệu quả cao, cần bón kết hợp các loại phân khoáng khác nhau như lân, canxi và phân vi lượng khác
Kết quả nghiên cứu của Trần Danh Thìn (2001) [32] trên đất bồi bạc màu
ở tỉnh Thái Nguyên cho thấy, bón 100 kg N/ha năng suất tăng 6,5÷11,3 tạ/ha, bón 40 kg N/ha năng suất tăng 5,7 lên 7,1 tạ/ha so với không bón phân
Trên đất nghèo dinh dưỡng, hiệu lực của lân càng cao khi bón 60 kg
P2O5/ha sẽ cho hiệu quả kinh tế cao nhất và bón ở mức 90 kg P2O5/ha cho năng suất cao nhất nên nhiều loại đất (Nguyễn Thị Dần và Thái Phiên, 1991) [9] Trung bình hiệu suất 1 kg P2O5 là 4÷6 kg lạc vỏ Nếu bón 90 kg P2O5/ha cho năng suất cao nhưng hiệu quả không cao (Ngô Thế Dân và cs., 2000) [6]
Theo Võ Minh Kha (1996) [22], đối với lạc bón thermophotphat trên đất xám ở Quảng Ngãi cho hiệu suất 2,8÷3,0 kg lạc vỏ/1 kg P2O5, trên đất phù sa Sông Hồng đạt 5 kg lạc vỏ/1 kg P2O5
Thí nghiệm cả Hồ Thị Bích Thoa (1996) [33] tại Đại Học Nông nghiệp Huế trong 3 năm 1993, 1994, 1995 bón supe photphat cho lạc trên đất phù sa sông Hương cho thấy năng suất khá ổ định qua các năm và biến động từ 3,0÷4,8
kg lạc vỏ/1 kg P2O5
Theo Lê Song Dự, Nguyễn Thế Côn và cs., (1979) [13], phân kali thường
có hiệu lực cao đối với lạc trồng trên các loại đất có thành phần cơ giới nhẹ và nghèo dinh dưỡng như: đất cát thô ven biển, đất bạc màu Hiệu lực 1 kg K2O trong các thí nghiệm biến động từ 5,0÷11,5 kg quả khô Lượng kali bón thích hợp cho lạc ở các tỉnh phía Bắc là 40 kg K2O trên nền 20 kg N và 80 kg P2O5
Nhiều thí nghiệm cho thấy với lượng 90 kg P2O5, bón với kali cho lạc tỷ lệ P:K là 3:2 năng suất tăng 1,1 tạ/ha so với tỷ lệ 2:1 và năng suất cao so với 3:1 là
Trang 322,2 tạ/ha Hiệu suất 1 kg kali sunphat trên đất cát ven biển trung bình là 6 kg lạc, đất bạc màu từ 8÷10 kg lạc
Bón phân cân đối là biện pháp hữu hiệu nâng cao hiệu quả của phân bón
và nâng cao năng suất lạc Theo Nguyễn Thị Dần và Thái Phiên (1991) [9], trên đất cát ven biển Thanh Hóa bón 10 tấn phân chuồng và 30 kg N + 90 kg P2O5 +
60 kg K2O/ha làm tăng năng suất lạc 6,4÷7,0 tạ/ha so với không bón
Kết quả nghiên cứu của Trần Danh Thìn (2001) [32] cho biết, trên đất đồi Thái Nguyên, vụ Xuân nếu bón riêng rẽ từng loại phân N, P, vôi thì năng suất lạc tăng 14÷31,5%, khi kết hợp lân với vôi năng suất tăng 64,9%, lân với đạm năng suất tăng 110,5%, nếu bón kết hợp cả lân, đạm, vôi thì năng suất tăng 140,3% so với không bón
Ngô Thế Dân và cs., (2000) [6] cho rằng, trên đất bạc màu Bắc Giang, bón nền (8 tấn phân chuồng + 30 kg K2O + 30 Kg N) và 90 kg P2O5, hiệu suất là 3,6÷5 kg, nếu bón nền + 60 kg P2O5 thì hiệu suất là 4÷6 kg
Lê Văn Quang, Nguyễn Thị Lan (2007) [29], nghiên cứu xác định liều lượng Kali và Lân bón cho lạc Sen lai vụ Xuân 2006 trên đất cát huyện Nghi Xuân nhận xét: bón (90 kg P2O5 + 60 kg K2O)/ha trên nền (10 tấn phân chuồng + 30kg N + 800 kg vôi bột)/ha cho năng suất lạc cao nhất (23,02÷24,92 tạ/ha) Hiệu suất bón cao nhất đạt 9,17 kg/1 kg P2O5 lạc vỏ ở liều lượng bón 60 kg
P2O5/ha, 7,62 kg/1kg K2O lạc vỏ ở liều lượng 60 kg K2O/ha
Bón vôi không chỉ kiểm soát và quản lý độ chua của đất mà còn là một trong những biện pháp quan trọng nhất để làm tăng năng suất lạc Vôi làm tăng trị số pH của đất từ đó tạo ra môi trường thuận lợi cho vi khuẩn cố định đạm và
là chất dinh dưỡng cần thiết cho quá trình ra hoa, tạo quả của lạc
Tác dụng của vôi được xác định ở tất cả các loại đất trồng lạc ở nước ta,
kể cả các loại đất có pH tương đối cao (pH = 6), vai trò của vôi là cung cấp Ca cho lạc và nâng cao pH đối với đất chua Những thí nghiệm về bón vôi được thực hiện tại trường Đại học Nông nghiệp I cho thấy: bón vôi là tăng rõ rệt lượng Ca trong cây, tăng cường khả năng dinh dưỡng N và hoạt động của vi khuẩn nốt sần
Trang 33đến tăng năng suất do tăng số hoa, số quả và trọng lượng quả (Lê Song Dự, Nguyễn Thế Côn, 1979) [13]
Trên đất bạc màu trồng lạc ở Ba Vì, những kết quả thí nghiệm cho thấy, năng suất lạc tăng từ 0,2÷0,4 tấn/ha, khi bón 300÷600 kg vôi trên nền 8 tấn phân chuồng + 90 kg P2O5 và 40 kg K2O (Nguyễn Thị Dần và cs., 1991) [9]
Theo Ngô Thị Lâm Giang (1999) [18], ở vùng Đông Nam Bộ, bón vôi đã làm tăng năng suất 2 giống lạc hạt to VD3 và VD4 lên 3÷11% Bón lót 300 kg và thúc 300 kg vôi không những cho năng suất cao nhất (3,37 tấn/ha) vượt đối chứng 11% mà lãi suất đầu tư một đồng vôi cũng cao nhất (3,58 đồng)
Bón 500 kg vôi chia 2 lần, tại vùng đất đồi Chương Mỹ, Hà Tây và sử dụng rơm phủ cho đất sau khi gieo lạc đã làm tăng sức chống chịu bệnh cho cây
từ đó giảm nhiễm nấm và tăng năng suất lạc (Nguyễn Xuân Hồng, Nguyễn Thị
Ly và cs., 2003) [21]
Nguyễn Thị Chinh và cs (2000) [3] cho rằng, lượng vôi phù hợp với chân đất vùng Đồng bằng sông Hồng là 400 kg vôi/ha chia 2 lần bón (bón lót và sau khi ra hoa) có thể làm tăng năng suất lạc từ 13÷26% so với đối chứng không bón
Theo Đỗ Thành Trung (2009) [34], lượng phân bón 10 tấn phân chuồng +
500 kg vôi bột + 30 kg N + 90 kg P2O5 + 60 kg K2O cho năng suất và thu nhập thuần cao nhất trên cả hai giống lạc L14 và MD7
Theo Vũ Đình Chính (2011) [4], lượng phân bón 8 tấn phân chuồng + 500
kg vôi bột + 40 kg N + 120 kg P2O5 + 60 kg K2O cho năng suất và thu nhập thuần cao nhất trên giống lạc L23
2.2.2.3 Kết quả nghiên cứu về chọn tạo giống lạc
Ở Việt Nam công tác thu thập và bảo tồn những nguồn gen quý phục vụ cho công tác chọn tạo giống lạc được quan tâm nhiều Từ những năm 1980, Trung tâm giống cây trồng Việt Xô-Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Việt Nam đã tiến hành thu thập có hệ thống và nhập nội nguồn vật liệu từ nước ngoài
Số lượng mẫu giống lạc thua thập và nhập nội đã lên tới 1.271 mẫu, trong đó gồm 100 giống địa phương và 1.711 giống nhập từ 40 nước trên thế giới (Ngô Thế Dân và cs., 2000) [6]
Trang 34Những năm gần đây, Việt Nam đã thu nhập và nhập nội được một lượng giống lạc tương đối lớn (Ngô Thế Dân và cs., 2000)[6] Song việc mô tả, đánh giá, bảo quản còn nhiều hạn chế, do thiếu kinh phí Một lượng nhỏ mẫu giống (133 mẫu) được lưu giữ, mô tả trong ngân hàng gen Quốc gia
Từ năm 1991 đến năm 2000 Viện KHNN miền Nam đã theo dõi và đánh giá 250 mẫu giống, trong đó có 150 giống nhập từ viện nghiên cứu cây trồng toàn Liên Bang Nga mang tên Vavilop (VIR), 24 mẫu giống nhập từ ICRISAT
Cùng với công tác thu thập và bảo tồn tập đoàn giống lạc, công tác chọn tạo giống ở Việt Nam cũng được quan tâm phát triển và thu được nhiều kết quả đáng ghi nhận Mục tiêu chọn tạo giống ở nước ta tập trung vào một số yếu tố: năng suất cao, thích ứng rộng, chống chịu sâu bệnh, thời gian sinh trưởng khác nhau phù hợp với các công thức luân canh cây trồng, giống có chất lượng cao phụ vụ ép dầu và xuất khẩu
Từ năm 1974, bộ môn Cây Công nghiệp-trường Đại học Nông nghiệp I
Hà Nội đã bắt đầu nghiên cứu chọn tạo giống lạc bằng phương pháp lai hữu tính
và phương pháp đột biến phóng xạ
Các giống được chọn tạo bằng phương pháp lai hữu tính: Giống lạc Sen lai 75/23 được chọn tạo từ việc lai hữu tính 2 giống Mộc Châu Trắng và Trạm Xuyên (Lê Song Dự và cs., 1991) Giống L12 được chọn tạo từ tổ hợp lai giữa V79 và ICGV 87157 (Nguyễn Văn Thắng và cs., 2002) [30]
Các giống được chọn tạo bằng phương pháp đột biến: từ giống Bachsa, sử dụng phương pháp đột biến phóng xạ tạo ra giống B5000 có hạt to vỏ lụa màu hồng, năng suất cao ổn định (Lê Song Dự, Nguyễn Thế Côn và cs., 1960)
Công tác chọn tạo giống kháng bệnh cũng cho nhiều kết quả Tác giả Nguyễn Xuân Hồng và cs [21], khi theo dõi 16 giống lạc nhập từ ICRISAT, đã xác định được 13 giống có khả năng chống chịu tổng hợp với bệnh hại lá Trong
đó các giống ICGV-87314, ICGV-87302, ICGV-87157 vừa cho năng suất cao, vừa chống chịu tốt với các bệnh hại lá
Khảo sát tập đoàn giống địa phương chống chịu bệnh héo xanh vi khuẩn, Nguyễn Văn Liễu và cs [24] cho kết luận trong 32 giống địa phương khảo
Trang 35nghiệm, chỉ có một giống là kháng cao với bệnh héo xanh vi khuẩn, đó là giống gié Nho Quan Đa số các giống (57,1%) thuộc nhóm mẫn cảm trung bình Còn lại là những giống (37,1%) rất mẫn cảm với bệnh Việt Nam còn ít các giống chống bệnh héo xanh vi khuẩn, vì vậy còn hạn chế việc tăng năng suất
Ngoài ra, các giống lạc có chất lượng cao cũng được quan tâm chọn tạo, Giống LO8 (QĐ2) là giống nhập nội từ Trung Quốc
Gần đây, chương trình giống Quốc gia đã chọn tạo được 16 giống lạc, trong
đó các giống lạc có năng suất vượt trội là L18, L14; giống có khả năng kháng bệnh héo xanh vi khuẩn năng suất khá MD7, giống chất lượng cao L08, giống chịu hạn L12 hiện đang phát triển mạnh ở các tỉnh phía Bắc Các giống lạc VD1, VD2 năng suất cao hơn phù hợp cho các tỉnh phía Nam (Trần Đình Long, cs., 2005) [25]
Vụ Xuân 2006, 3 giống lạc L23, L24, TK10 được khảo nghiệm tại Trung tâm khảo nghiệm giống quốc gia (Nguyễn Tiên Phong và cs, 2007) [28] Ba giống lạc này đều thuộc dạng thực vật spanish Thời gian sinh trưởng của các giống lạc này từ 127 đến 130 ngày, chiều cao 35÷47 cm Giống L24 có số quả chắc/cây cao, đạt 13 quả Năng suất các giống khảo nghiệm bằng hoặc cao hơn đối chứng, đạt từ 39 đến 40 tạ/ha Giống L23 đạt năng suất cao nhất 44,3 tạ/ha
Bằng nhiều phương pháp chọn tạo khác, các nhà chọn tạo giống Việt Nam
đã có được những giống lạc mới có triển vọng theo mục đích chọn tọa như giống chịu hạn tốt phù hợp cho vùng nước trời, giống cho vùng cát ven biển, giống chín sớm, giống cho vùng thâm canh cao, đó là:
Với đặc tính chịu hạn khá, các giống như V79, 9202-2, 11516, 86055NA, V79-87157, 11505, 9204-4, NC-38, 9205b, SL87157 (H5), X96, 9207-7, 9211-
61, 90114 rất thích hợp để canh tác ở vùng nước trời, không chủ động được nước tưới (Ngô Thị Lam Giang, 1999) [18]
Thích hợp cho vùng thâm canh cao có các giống TQ3 (NS 45,2 tạ/ha), QĐ7 (NS 39,6 tạ/ha), QĐ4 (NS 50,6 tạ/ha), QĐ8 (NS 44,1 tạ/ha), QĐ5 (NS 50,8 tạ/ha), QĐ9 (NS 43,4 tạ/ha), QĐ2 (NS 33,6 tạ/ha), Đài Loan 1 (NS 39,8 tạ/ha), Trạm Xuyên (NS 35,0 tạ/ha)
Trang 36Giống chính sớm có một số giống nhứ: DT2, L05, Chico, JL24 Giống có triển vọng trên vùng cát biển và có thể phát triển đại trà trên vùng đất cát là: ĐL02, L14, VĐ2, VĐ6
Trang 37Chương 2 VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Vật liệu nghiên cứu
- Lân Lâm Thao (Supe lân - 16 % P2O5);
- Kali Clorua (60 % K2O);
- Phân chuồng hoai mục;
- Vôi bột
2.2 Nội dung nghiên cứu
- Xác định mật độ trồng thích hợp cho giống lạc L19 và L26 trong điều kiện vụ Xuân-Hè tại Tp Hà Tĩnh
- Xác định liều lượng ka li bón thích hợp cho giống lạc L19 và L26 trong điều kiện vụ Xuân-Hè tại Tp Hà Tĩnh
2.3 Phương pháp nghiên cứu
Thí nghiệm 1: Ảnh hưởng của mật độ trồng đến sinh trưởng và phát triển và năng suất của hai giống lạc L19 và L26 trong vụ Xuân-Hè tại Tp Hà Tĩnh
* Giống thí nghiệm: L19 và L26 với 4 công thức như sau:
- MĐ1: Gieo 25 cây/ m2 với khoảng cách 33 x 24 cm/2 hạt
- MĐ2: Gieo 35 cây/ m2 với khoảng cách 33 x 17 cm/2 hạt
- MĐ3: Gieo 45 cây/ m2 với khoảng cách 33 x 15 cm/2 hạt
- MĐ4: Gieo 55 cây/ m2 với khoảng cách 33 x 11 cm/2 hạt
Trang 38* Phân bón: 10 tấn phân chuồng + 500 kg vôi bột + 30 kg N + 90 kg
P2O5 + 60 kg K2O
* Cách bố trí thí nghiệm:
- Thí nghiệm được bố trí theo kiểu Split- plot:
+ Nhân tố chính là mật độ bố trí trên ô nhỏ
+ Nhân tố phụ là giống bố trí trên ô lớn
+ Diện tích mỗi ô nhỏ là 10 m2 , diện tích mỗi ô lớn là 40 m2
* Giống thí nghiệm: Giống lạc L19 và L26
Gieo với mật độ 35 cây/m2 với khoảng cách 33 x 17 cm/2 hạt
* Phân bón gồm 4 liều lượng kali khác nhau:
- PB1: 10 tấn phân chuồng + 500 kg vôi bột + 30 kg N + 90 kg P2O5 + 30 kg K2O
- PB2: 10 tấn phân chuồng + 500 kg vôi bột + 30 kg N + 90 kg P2O5 + 60 kg K2O
- PB3: 10 tấn phân chuồng + 500 kg vôi bột + 30 kg N + 90 kg P2O5 + 90 kg K2O
Trang 39- PB4: 10 tấn phân chuồng + 500 kg vôi bột + 30 kg N + 90 kg P2O5 + 120 kg K2O
- Thí nghiệm được bố trí theo kiểu Split- plot
+ Nhân tố chính là lượng kali bón được bố trí trên ô nhỏ
+ Nhân tố phụ là giống bố trí trên ô lớn
+ Diện tích mỗi ô nhỏ là 10m2, diện tích mỗi ô lớn là 40 m2
2.5 Các chỉ tiêu theo dõi
2.5.1 Thời gian qua các giai đoạn sinh trưởng:
- Thời gian từ gieo đến mọc mầm (ngày), xác định khi có 50% cây trên ô mọc, khi có 2 lá mầm xòe ra trên mặt đất
- Thời gian từ gieo đến ra hoa (ngày), xác định khi có 50% số cây trên ô
có ít nhất 1 hoa nở trên bất kỳ đốt nào trên thân chính
Trang 40- Thời gian từ gieo đến khi phát sinh cành cấp 1 (ngày)
- Tổng thời gian sinh trưởng của cây: (ngày), xác định khi thu hoạch (95%
số quả trên cây chín)
- Tổng số cành/cây (gồm cành cấp 1 và cành cấp 2): đếm tổng số cành cấp
1 và cấp 2 vào thời điểm thu hoạch
- Chiều cao thân chính (cm), đo từ đốt 2 lá mầm đến đỉnh sinh trưởng ngọn, đo tại 5 điểm/ô, mỗi điểm đo 2 cây đại diện (mỗi ô đo 10 cây mẫu) Đo khi chuẩn bị thu hoạch
- Động thái tăng trưởng chiều cao thân chính (cm): theo dõi trên 10 cây mẫu, 10 ngày/lần từ gieo đến thu hoạch
- Chỉ số diện tích lá (m2 lá/m2 đất): tiến hành theo phương pháp cân nhanh
ở 3 thời kỳ bắt đầu ra hoa, hoa rộ và quả chắc Lấy mẫu ngẫu nhiên 5 cây ở mỗi ô
để xác định
- Nốt sần: đếm tổng số nốt sần, nốt sần hữu hiệu ở 3 thời kỳ bắt đầu ra hoa, hoa rộ và quả chắc, mỗi ô lấy 10 cây đại diện để xác định Tính trung bình
2.5.2 Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất:
Trước khi thu hoạch mỗi ô thí nghiệm lấy 10 cây mẫu để xác định
- Số quả/cây: tính bằng cách đếm tổng số quả của 10 cây mẫu/ô sau đó tình trung bình/cây
- Số quả chắc/cây: tính bằng cách đếm tổng số quả chắc của 10 cây mẫu/ô sau đó tính trung bình/cây
- Khối lượng 100 quả (g): cân 3 mẫu (chỉ lấy quả chắc), mỗi mẫu 100 quả khô ở độ ẩm hạt 10%
- Khối lượng 100 hạt (g): cân 3 mẫu hạt nguyên vẹn không sâu bệnh được tách từ 3 mẫu quả trên, mỗi mẫu 100 hạt ở độ ẩm 10%
- Năng suất cá thể (g/cây): khối lượng quả 10 cây/10
- Năng suất lý thuyết (tạ/ha) = năng suất cá thể x mật độ x 10.000 m2
- Năng suất thực thu (tạ/ha) = năng suất ô/10 m2 x 10.000 m2
- Tính hiệu quả kinh tế:
Lợi nhuận = Tổng thu - Tổng chi