1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phát triển các loại hình hợp tác xã ở tỉnh Hà Giang Luận văn ThS. Kinh doanh và quản lý

121 447 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 121
Dung lượng 1,01 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các hợp tác xã chuyển đổi, thành lập mới đã đi vào hoạt động nhưng chưa đem lại hiệu quả, còn gặp nhiều khó khăn trong hoạt động sản xuất kinh doanh, lúng túng trong công tác tổ chức quả

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận văn, tôi đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình và những lời động viên, chỉ bảo ân cần của các cá nhân, tập thể, các cơ quan nơi tôi công tác và các thầy cô giáo Trường Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội

Trước tiên, tôi xin trân trọng cảm ơn sâu sắc TS Khu Thị Tuyết Mai đã trực tiếp hướng dẫn và giúp đỡ tôi về mọi mặt để hoàn thành luận văn thạc sĩ Quản lý kinh

tế

Tôi xin chân thành cảm ơn các đồng nghiệp, bạn bè; tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến người thân trong gia đình đã luôn tạo điều kiện giúp đỡ tôi về mặt vật chất, chia sẻ những khó khăn và động viên về mặt tinh thần trong thời gian học tập và hoàn thành luận văn thạc sĩ này

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan toàn bộ nội dung luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, tƣ liệu đƣợc sử dụng trong luận văn có nguồn gốc rõ ràng, trung thực Kết quả nêu trong luân văn chƣa từng đƣợc công bố trong bất cứ công trình nào

Trang 5

MỤC LỤC

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT 5

DANH MỤC BẢNG 6

DANH MỤC HỘP 6

PHẦN MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ HỢP TÁC XÃ 5

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 5

1.2 Cơ sở lý luận về hợp tác xã 10

1.2.1 Bản chất của kinh tế hợp tác và hợp tác xã 10

1.2.2 Vai trò và nguyên tắc của hợp tác xã 14

1.2.3 Phân loại hợp tác xã 17

1.2.4 Những nhân tố ảnh hưởng đến đến sự hình thành và phát triển của hợp tác xã 18 1.2.5 Tiêu chí đánh giá sự phát triển hợp tác xã ở Việt Nam 20

1.3 Lịch sử phát triển của phong trào hợp tác xã, kinh nghiệm của các nước trên thế giới và của Việt Nam 21

1.3.1 Lịch sử hình thành và phát triển của phong trào HTX quốc tế 21

1.3.2 Kinh nghiệm phát triển HTX tại một số nước trên thế giới 22

1.3.3 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam 28

CHƯƠNG 2 : PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 30

2.1 Địa bàn nghiên cứu 30

2.2 Phương pháp thu thập thông tin 30

2.3 Phương pháp xử lý số liệu 31

2.4 Phương pháp phân tích 31

2.5 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu 32

CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN CÁC LOẠI HÌNH 33

HỢP TÁC XÃ TẠI TỈNH HÀ GIANG 33

3.1 Các yếu tố về điều kiện tự nhiên, kinh tế-xã hội ảnh hưởng đến phát triển hợp tác xã tại tỉnh Hà Giang 33

3.1.1 Các yếu tố về điều kiện tự nhiên 33

3.1.2 Các yếu tố về điều kiện kinh tế-xã hội 36

3.2 Phân tích thực trạng phát triển các loại hình Hợp tác xã trên địa bàn tỉnh Hà Giang 44

Trang 6

3.2.1 Những chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước và của tỉnh Hà Giang về

phát triển HTX 44

3.2.2.Tình hình phát triển các loại hình hợp tác xã tại tỉnh Hà Giang giai đoạn 2006-2013 51

3.2.3 Đánh giá chung về phát triển HTX trên địa bàn tỉnh Hà Giang 67

CHƯƠNG 4 PHƯƠNG HƯỚNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM ĐẨY MẠNH PHÁT TRIỂN HỢP TÁC XÃ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HÀ GIANG TẦM NHÌN ĐẾN NĂM 2020 74

4 1 Quan điểm, mục tiêu, định hướng phát triển 74

4.1.1 Quan điểm 74

4.1.2 Mục tiêu 74

4.1.3 Định hướng phát triển 75

4.2 Dự báo về phát triển HTX trên địa bàn tỉnh Hà Giang 76

4.2.1 Dự báo dân số và lao động đến 2020 76

4.3 Các nhóm giải pháp nhằm đẩy mạnh phát triển HTX giai đoạn 2015-2020 79

4.3.1 Phương thức tổ chức sản xuất kinh doanh của HTX trong nền kinh tế thị trường cạnh tranh 79

4.3.2 Các nhóm giải pháp phát triển các loại hình HTX phân theo lĩnh vực kinh tế 81

4.3.3 Các giải pháp đột phá 88

4.3.4 Các nhóm giải pháp khác 94

4.4 Một số kiến nghị 100

4.4.1 Đối với Nhà nước 100

4.4.2 Đối với tỉnh Hà Giang 102

KẾT LUẬN 108

TÀI LIỆU THAM KHẢO 110

Trang 7

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

CN-TTCN Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp

CNH, HĐH Công nghiệp hóa, Hiện đại hóa

CVĐC Công viên địa chất

DN Doanh nghiệp

HTX Hợp tác xã

HTXNN Hợp tác xã nông nghiệp

HTXTM Hợp tác xã thương mại

NCKH Nghiên cứu khoa học

PTNT Phát triển nông thôn

QL Quốc lộ

QTDND Quỹ tín dụng nhân dân

SXKD Sản xuất kinh doanh

XHCN Xã hội chủ nghĩa

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1 Phương pháp thu thập thông tin 30

Bảng 3.1 Tốc độ tăng trưởng GDP của tỉnh Hà Giang (%) 36

Bảng 3.2 Cơ cấu kinh tế của tỉnh Hà Giang (năm 2010, đvt: %) 36

Bảng 3.3 Số lượng HTX trên địa bàn tỉnh Hà Giang (2006-2013) 52

Bảng 3.4 Số lượng HTX theo loại hình tại Hà Giang (2006-2013) 53

Bảng 3.5 Phát triển HTX theo địa bàn 54

Bảng 3.6 Chất lượng bộ máy hoạt động sản xuất kinh doanh của các HTX 56

Bảng 3.7 Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của khu vực HTX 59

Bảng 3.8 Hiệu quả sản xuất kinh doanh của các HTX theo từng lĩnh vực 61

Bảng 4.1 Dự báo dân số và lao động tỉnh Hà Giang đến 2020 77

Bảng 4.2 Dự báo cơ cấu sử dụng lao động tỉnh Hà Giang đến 2020 77

Bảng 4.3 Dự báo phát triển kinh tế tập thể trên địa bàn tỉnh Hà Giang 78

Bảng 4.4 Tái cấu trúc các loại hình HTX phân theo lĩnh vực kinh tế Giai đoạn 2015-2020 91

Bảng 4.5 Một số tiêu chí về đào tạo nguồn nhân lực đối với HTX giai đoạn 2012 - 2020 92

DANH MỤC HỘP

1 Hộp 1.1 Nguyên tắc tổ chức, hoạt động của Hợp tác xã 16

2 Hộp 3.1 Chính sách hỗ trợ và ưu đãi của Nhà nước đối với HTX và Liên hiệp HTX 49

Trang 9

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Hợp tác xã là một loại hình kinh tế tập thể khá phổ biến, hoạt động trên nhiều lĩnh vực đời sống xã hội và hiện diện ở các nền kinh tế có trình độ phát triển khác nhau Kinh nghiệm thế giới cho thấy, đến nay hợp tác xã vẫn tỏ ra là mô hình hoạt động hiệu quả, phù hợp với điều kiện cạnh tranh ngày càng gay gắt Và quan trọng hơn nữa, thông qua hợp tác xã, các hộ nông dân, các doanh nghiệp nhỏ hợp tác với nhau, tăng sức mạnh để đối phó với khó khăn và tránh các nguy cơ thua lỗ cao

Nhìn lại quá trình phát triển của Việt Nam, phong trào hợp tác xã đã trải qua

nhiều bước thăng trầm gắn với những thay đổi chung trong cơ chế quản lý kinh tế của

đất nước Đến nay, mô hình hợp tác xã mới ra đời thay thế cho mô hình hợp tác xã kiểu cũ (chuyển đổi, thành lập mới theo Luật hợp tác xã năm 1996 và Luật hợp tác xã

sửa đổi năm 2003, nay là Luật HTX 2012), đặt nền móng căn bản cho sự phát triển kinh tế hợp tác, HTX Sau khi thực hiện theo Luật hợp tác xã, kết quả là đã xuất hiện

một số mô hình hợp tác xã kiểu mới hoạt động hiệu quả, phục vụ tốt cho kinh tế hộ gia

đình xã viên, đã làm rõ và giải quyết được nhiều tồn tại trong các hợp tác xã Tuy

nhiên có thể nhận thấy, chất lượng chuyển đổi của các hợp tác xã còn chưa cao, hoạt

động của hợp tác xã mới còn nhiều lúng túng chưa đáp ứng nhu cầu thực tiễn Phong trào Hợp tác xã ở tỉnh Hà Giang là một điển hình, do nhận thức của người dân còn nhiều hạn chế, chịu ảnh hưởng nặng nề của mô hình hợp tác xã kiểu cũ nên việc chuyển đổi, thành lập mới hợp tác xã theo Luật còn có nhiều hạn chế

Mặc dù trong những năm qua với những tác động tích cực từ quá trình thực hiện các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước về phát triển kinh tế tập thể, khu vực kinh tế tập thể mà nòng cốt là các HTX trên địa bàn tỉnh Hà Giang đã có những chuyển biến tích cực, các HTX cũ cơ bản đã được chuyển đổi hoặc giải thể; các HTX yếu kém, tồn tại hình thức trong nhiều năm đã được giải thể; nhiều HTX mới được thành lập Tuy nhiên bên cạnh đó khu vực HTX vẫn còn tồn tại những yếu kém nhất định chưa phát huy được vai trò và vị trí của kinh tế tập thể trong công cuộc xóa đói giảm nghèo phát triển kinh tế xã hội của địa phương Nhiều HTX tổ chức và hoạt động chưa tuân thủ đầy đủ các qui định của Luật HTX; các quan hệ sở hữu, tổ chức quản lý, phân phối trong HTX còn biểu hiện xa rời bản chất và các giá trị của HTX

Trang 10

Nhiều HTX nông nghiệp chuyển đổi còn hình thức, chưa đảm bảo đầy đủ yêu cầu của Luật HTX và đòi hỏi phát triển của HTX, các xã viên của HTX chuyển đổi khi tham gia HTX nhiều nơi không viết đơn và góp vốn mới, nhiều xã viên không hiểu rõ quyền lợi và trách nhiệm của mình với HTX; xã viên tham gia HTX với ý thức trông chờ vào sự giúp đỡ của tập thể và Nhà nước; Chính vì vậy, nhiều HTX không huy động được nguồn lực từ chính xã viên, tính bền vững và ổn định trong tổ chức và hoạt động chưa cao; chưa thực hiện tốt chế độ hạch toán và báo cáo tài chính

Hoạt động của nhiều HTX hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu về sản xuất, đời sống của xã viên và cộng đồng; năng lực nội tại cả về vốn, cơ sở vật chất, nguồn nhân lực, trình độ quản lý rất yếu, trình độ công nghệ lạc hậu kéo dài dẫn đến sức cạnh tranh kém

Các hợp tác xã chuyển đổi, thành lập mới đã đi vào hoạt động nhưng chưa đem lại hiệu quả, còn gặp nhiều khó khăn trong hoạt động sản xuất kinh doanh, lúng túng trong công tác tổ chức quản lý điều hành, thậm chí trì trệ không phát triển, không có hoạt động cụ thể, một số HTX còn tồn tại hình thức, đặc biệt là loại hình hợp tác xã nông nghiệp chuyển đổi

Do đó, nghiên cứu thực trạng phát triển của hợp tác xã trên địa bàn tỉnh Hà Giang để tìm ra giải pháp nhằm củng cố, phát triển các loại hình hợp tác xã tại địa

phương là vấn đề có tính cấp thiết và có tầm quan trọng đặc biệt

Xuất phát từ thực tiễn trên, đề tài “Phát triển các loại hình Hợp tác xã ở tỉnh

Hà Giang” đã được học viên lựa chọn để làm luận văn tốt nghiệp

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

2.1 Mục đích nghiên cứu: Nghiên cứu đánh giá thực trạng phát triển các loại

hình hợp tác xã ở tỉnh Hà Giang, làm rõ những thành công, những tồn tại và nguyên nhân của chúng, trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm củng cố, phát

triển các loại hình hợp tác xã trên địa bàn tỉnh Hà Giang

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu: Để đạt được mục đích trên, luận văn triển khai các

nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể sau:

Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển kinh tế hợp tác, hợp tác xã;

- Nghiên cứu đánh giá thực trạng phát triển các loại hình hợp tác xã ở tỉnh Hà Giang;

Trang 11

- Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm củng cố, phát triển các loại hình hợp

tác xã trên địa bàn tỉnh Hà Giang

Luận văn được thực hiện nhằm trả lời các câu hỏi nghiên cứu sau :

- Thực trạng phát triển và tình hình hoạt động của các loại hình Hợp tác xã hiện nay trên địa bàn tỉnh Hà Giang có những điểm mạnh và những tồn tại gì? Nguyên nhân của chúng?

- Cần có những giải pháp nào để phát huy những thuận lợi, tận dụng thời cơ, hạn chế những khó khăn vướng mắc nhằm thúc đẩy phát triển các loại hình hợp tác xã của tỉnh?

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

3.1 Đối tượng nghiên cứu:

- Các loại hình hợp tác xã đang hoạt động trên địa bàn tỉnh Hà Giang;

Tác nhân trực tiếp: Ban quản lý các hợp tác xã, xã viên và người lao động tham gia hợp tác xã;

Tác nhân gián tiếp: Đảng uỷ, chính quyền địa phương, các cơ quan ban ngành của tỉnh có liên quan

Luật, cơ chế chính sách tác động đến phát triển các loại hình hợp tác xã

- Về nội dung nghiên cứu:

Đề tài tập trung nghiên cứu những vấn đề có liên quan đến việc phát triển các loại hình hợp tác xã, trong đó nhấn mạnh đến công tác tổ chức quản lý điều hành, họat động sản xuất kinh doanh của hợp tác xã; Đề xuất một số giải pháp chủ yếu phát triển các loại hình hợp tác xã ở tỉnh Hà Giang

4 Cấu trúc luận văn:

Mở đầu

Chương 1 Cơ sở lý luận và thực tiễn về hợp tác xã

Trang 12

Chương 2 Phương pháp nghiên cứu

Chương 3 Thực trạng phát triển hợp tác xã tại tỉnh Hà Giang

Chương 4 Phương hướng và một số giải pháp chủ yếu nhằm đẩy mạnh hoạt động của hợp tác xã trên địa bàn tỉnh Hà Giang tầm nhìn đến năm 2020

Kết luận

Trang 13

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ

THỰC TIỄN VỀ HỢP TÁC XÃ

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu

Kinh tế hợp tác và hợp tác xã ra đời như một tất yếu khách quan trong tiến trình phát triển của nền kinh tế và có một lịch sử phát triển lâu đời, thu hút sự quan tâm nghiên cứu của các học giả, các cơ quan nghiên cứu, giới lãnh đạo các nước cũng như các tổ chức quốc tế Có khá nhiều công trình nghiên cứu trong và ngoài nước bàn về những khía cạnh khác nhau của kinh tế hợp tác và hợp tác xã Dưới đây là một số công trình nghiên cứu tiêu biểu mà người viết có thể tiếp cận được:

Về các công trình của nước ngoài:

- Marvin A.Scharrs (1980), Cooperatives, Principles and Practices, 4th ed., University of Wisconsin-Madison Publication A1457 Công trình được đánh giá là tài liệu tham khảo hữu ích về HTX cho các đối tượng như các nhà lãnh đạo, các nhà kinh

tế phát triển, các học viên sinh viên chuyên sâu về HTX, và cả chính các thành viên HTX không chỉ tại Mỹ mà còn trên toàn thế giới Tác giả đã phân tích và làm rõ bản chất của HTX, lịch sử, xu hướng phát triển của HTX trên thế giới và tại Mỹ, phân loại HTX, vai trò, nghĩa vụ của HTX, những lợi ích và hạn chế của HTX Tác giả nhấn mạnh, mặc dù HTX có một lịch sử phát triển nổi bật, nhưng mô hình HTX không phải

là là kiểu cấu trúc tốt nhất cho mọi công việc (dự án) kinh doanh Do vậy, việc lựa chọn cấu trúc kinh doanh phù hợp nhất là một quyết định có tính chiến lược quan trọng đối với chủ doanh nghiệp

- UNDESA and ICA (2009), Background Paper on Cooperatives, báo cáo của

nhóm chuyên gia của Liên Hợp Quốc và Liên minh Hợp tác xã quốc tế đã đánh giá cao đóng góp của HTX đối với sự phát triển kinh tế-xã hội, đặc biệt là đối với xóa đói giảm nghèo, tạo việc làm và an ninh, nhấn mạnh đến vai trò của các HTX nông nghiệp

và tài chính trong bối cảnh khủng hoảng lương thực và tài chính hiện hành Các chuyên gia cũng chia sẻ về các kinh nghiệm quốc gia và khu vực trong việc củng cố HTX và xác định những biện pháp chính sách để nâng cao và đẩy mạnh tác động của các HTX đối với phát triển kinh tế-xã hội

Trang 14

- Birchall, Johnston (2004),Cooperatives and the Millenium Development Goals, ILO, Geneva Trong công trình nghiên cứu này, tác giả đã đưa ra một luận

điểm quan trọng rằng tiếng tăm trong quá khứ về cái gọi là HTX được hình thành và kiểm soát bởi nhà nước mà đã không thể dẫn đến sự phát triển kinh tế-xã hội không phải là một phần di sản của HTX bởi chúng không phải là HTX thực sự, theo đúng nghĩa Do đó, việc làm rõ HTX thực sự là gì và chúng có năng lực như thế nào là vấn

đề có tầm quan trọng đặc biệt Trong tác phẩm của mình Johnston nêu bật những thành tựu của HTX ở các nước phát triển và đang phát triển Ông đã chỉ rõ xét cả về lý luận

và thực tiễn HTX là các doanh nghiệp phát đạt và đóng góp quan trọng cho công cuộc xóa đói giảm nghèo, khuyến khích bình đẳng giới, cung cấp dịch vụ y tế, đấu tranh với dịch bệnh HIV/AIDs, đảm bảo sự bền vững về môi trường, làm việc thông qua quan

hệ đối tác với nhiều bên liên quan

- Edgar Parnell (1992), A New Look at Cooperatives and Their Role in

Developing Countries, Small Enterprise Development, Volume 13, No1.Theo tác giả,

HTX được lựa chọn trong nhiều tình huống: ở các nước XHCN như là một giai đoạn phát triển hướng tới một nền kinh tế ít tập trung hơn và ở Mỹ như là đối trọng với hệ thống kinh tế thị trường thiên về CNTB HTX được nhiều người ủng hộ nhưng cũng

có không ít người phản đối và có nhiều ví dụ thành công cũng như thất bại hỗ trợ cho quan điểm mỗi bên Bài báo cho rằng HTX là những DN “đặt con người là trung tâm”

là lựa chọn thay thế cho các DN mà mục tiêu ưu tiên hàng đầu là kiếm lợi nhuận từ vốn sở hữu Bài báo đã làm rõ bản chất, sự khác biệt của HTX, và chỉ ra một số cạm bẫy mà HTX cần phải tránh để thành công

- Birchall Johnston and Lou Hammond Ketilson (2009), Resilience of the Cooperative Business Model in Time of Crisis, ILO, Geneva Các tác giả nhận định,

cuộc khủng hoảng tài chính và kéo theo nó là cuộckhủng hoảng kinh tế toàn cầu đã có những tác động tiêu cực tới đa số các DN Tuy nhiên, các DN hợp tác trên thế giới đang cho thấy khả năng chống đỡ kiên cường của chúng đối với khủng hoảng Các HTX tài chính cho thấy chúng vẫn hoàn toàn khỏe mạnh, các HTX tiêu thụ thì vẫn báo cáo gia tăng doanh thu, các HTX lao động vẫn cho thấy có sự tăng trưởng do nhiều người lựa chọn HTX như là hình thức DN đáp ứng thực tiễn kinh tế mới Câu hỏi đặt

ra là tại sao DN hợp tác lại kiên cường như vậy? Công trình nghiên cứu cung cấp bằng chứng lịch sử và bằng chứng thực tiễn hiện tại chứng minh rằng mô hình DN hợp tác

Trang 15

sống sót được trong khủng hoảng, nhưng điều quan trọng hơn nó là mô hình DN bền vững có thể trụ vững trong khủng hoảng đồng thời duy trì sinh kế của các cộng đồng nơi nó hoạt động Các tác giả đã đưa ra khuyến nghị về các cách thức mà ILO có thể tăng cường hoạt động của nó trong việc thúc đẩy các hợp tác xã như một phương tiện

để giải quyết cuộc khủng hoảng hiện tại và ngăn ngừa khủng hoảng tương lai

- Richard J Sexton and Julie Iskow (1993), What Do We Know About the

Economic Efficiency of Cooperatives: An Evaluative Survey, Journal of Agricultural Cooperation Bài báo phân tích vấn đề hiệu quả kinh tế của HTX và đánh giá những

tuyên bố có tính mâu thuẫn liên quan đến vấn đề Các tác giả đưa ra những quan niệm

về hiệu quả kinh tế phù hợp với chủ đề thảo luận và liên hệ những quan niệm này với

lý thuyết về HTX để rút ra giả thuyết về hiệu quả của HTX Trên nền khái niệm này, các nghiên cứu về hiệu quả của HTX đã được hai tác giả xem xét, so sánh và phê phán Kết luận của bài báo là mặc dù có khá nhiều công trình nghiên cứu về hiệu quả của HTX nhưng bằng chứng về hiệu quả kinh tế của HTX còn khá hạn chế và không ủng hộ cho quan điểm phổ biến cho rằng HTX là kém hiệu quả so với các hãng sở hữu bởi các nhà đầu tư

Có thể kể đến một số công trình nghiên cứu về HTX như: USAID and

CLARITY (2006), Enabling Cooperative Development-Principles for Legal Reform […]; Taimni, Krishan K (2001), Cooperatives in Asia: from Reform to Reconstruction, ILO Geneva; Jennifer D Masicat, Batangas Heavy Fabrication Yard Multi-Purpose Cooperative: Basis for Business Operation, Asia Pacific Journal of Multidisciplinary Research, No 4 August 2014, …

Về các công trình nghiên cứu trong nước:

Tại Việt Nam, HTX cũng là chủ đề được nhiều cơ quan khoa học, nhiều nhà nghiên cứu xem xét dưới nhiều góc độ, phạm vi và mức độ khác nhau Có thể nêu một

số công trình tiêu biểu như:

- Lương Xuân Quỳ, Nguyễn Thế Nhã (1999) “Đổi mới tổ chức và quản lý HTX trong nông nghiệp nông thôn”, Nxb Nông nghiệp Các tác giả đã khái quát toàn bộ quá

trình phát triển của các hình thức tổ chức, quản lý các HTX trong nông thôn Việt Nam

từ trước đến khi chuyển sang kinh tế thị trường và phân tích thực trạng mô hình tổ chức quản lý các HTX ở một số địa phương tiêu biểu Trên cơ sở đó phác họa một số

Trang 16

phương hướng và giải pháp chủ yếu để xây dựng mô hình tổ chức có hiệu quả cho các loại hình HTX

- Nguyễn Văn Bình, Chu Tiến Quang, Lưu Văn Sùng (2001) “Kinh tế hợp tác, hợp tác xã ở Việt Nam- Thực trạng và định hướng phát triển”, Nxb Nông nghiệp Các

tác giả đã hệ thống hóa quá trình hình thành, phát triển các lọai hình kinh tế hợp tác, hợp tác xã trên thế giới và ở Việt Nam với những thành công và tồn tại, từ đó nêu lên định hướng phát triển phù hợp đường lối đổi mới của Đảng và Nhà nước ta

- Phạm Thị Cần, Vũ Văn Phúc, Nguyễn Văn Kỷ (2003) “Kinh tế hợp tác trong nông nghiệp nước ta hiện nay”, Nxb Chính trị quốc gia Các tác giả tập trung trình bày

những vấn đề lý luận và thực tiễn về kinh tế hợp tác, HTX; sự cần thiết khách quan phải lựa chọn các mô hình kinh tế hợp tác, HTX phù hợp với đặc điểm, điều kiện nông nghiệp, nông thôn nước ta, đề xuất những giải pháp phát triển các mô hình kinh tế hợp tác, HTX trong nông nghiệp, nông thôn Việt Nam hiện nay

- Hồ Văn Vĩnh (2005): “Phát triển hợp tác xã nông nghiệp trong thời kì công

nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta”, Tạp chí Cộng sản, số 8-2005 Ở bài viết này, tác

giả bàn đến những cách thức chuyển đổi HTXNN kiểu cũ sang HTXNN kiểu mới trên

cơ sở quán triệt đường lối đổi mới HTXNN của Đảng Tác giả cũng đã nêu lên mối quan hệ tác động qua lại giữa HTXNN và CNH, HĐH, đồng thời nêu ra những nguyên nhân của sự khó khăn khi phát triển HTXNN trong thời kì mới và những giải pháp để tháo gỡ khó khăn này

- Chu Tiến Quang, Lê Xuân Quỳnh (2004) “Tiếp tục đổi mới và phát triển kinh

tế hợp tác và hợp tác xã ở Việt Nam”, CIEM Các tác giả đã khẳng định kể từ khi Luật

HTX ra đời (3/1996) và chính thức có hiệu lực từ 1/1/1997 khu vực kinh tế hợp tác và HTX ở nước ta đã thay đổi cơ bản cả về lượng và chất Số lượng các đơn vị HTX tuy tăng không nhiều, nhưng đã từng bước được củng cố về chất, lấy lại uy tín và vai trò đối với người lao động, trên cơ sở đó phát triển và ngày càng thu hút các đối tượng khác nhau tham gia, không chỉ là người lao động như những năm trước khi có luật HTX đã đóng góp tích cực hơn vào sức mạnh chung của kinh tế nhiều thành phần và làm rõ hơn bản chất của Kinh tế tập thể mà Đảng và Nhà nước ta đã chủ trương phát triển Các tác giả đã đề xuất 5 quan điểm mới đối với HTX trong đó đặc biệt nhấn

mạnh “Phát triển KTTT, trong đó HTX là nòng cốt phải lấy hiệu quả kinh tế làm nền tảng, đồng thời thực hiện đúng các nguyên tắc HTX được quy định trong Luật” và

Trang 17

“Phải coi trọng chất lượng trong phát triển HTX” [32]

- Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Hà Nội (2004), Nghiên cứu những nhân tố mới tác động đến quá trình phát triển kinh tế trang trại và hợp tác xã ở ngoại thành Hà Nội Đề tài NCKH mã số 01C-05/06-2005-1 Đề tài đã xác định và phân tích

năm nhóm nhân tố mới tác động đến quá trình phát triển kinh tế trang trại và HTX NN

ở ngoại thành Hà Nội (i.Nhân tố về môi trường kinh tế-xã hội (hệ thống cơ chế chính sách); ii.Nhân tố về khoa học công-nghệ; iii Nhân tố về công nghiệp hóa, đô thị hóa;

iv Nhân tố về nguồn nhân lực; v Nhân tố về hội nhập kinh tế) Đề tài đã phân tích kinh nghiệm của một số nước trong khu vực phát triển các nhân tố mới để thúc đẩy kinh tế trang trại và HTX NN phát triển Đề tài đã đề xuất 8 giải pháp để phát huy các nhân tố mới trong sản xuất nông nghiệp thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế trang trại

và HTX NN ở ngoại thành Hà Nội

- Bộ Thương Mại (2004), Một số giải pháp hoàn thiện tổ chức và phát triển hợp tác xã thương mại ở nông thôn nước ta hiện nay, Đề tài NCKH mã số 2003-78-011

Đề tài đã làm rõ một số vấn đề lý luận về tổ chức và phát triển HTXTM ở nông thôn;

đã phân tích và làm rõ hiện trạng tổ chức và tác động của khung khổ pháp lý đến sự phát triển HTXTM ở nông thôn Việt Nam và đề xuất hệ thống giải pháp về tổ chức và phát triển HTXTM ở nông thôn nước ta đến năm 2010: i hoàn thiện mô hình tổ chức HTXTM; ii.hoàn thiện nội dung, phương thức hoạt động của các HTXTM; hoàn thiện

mô hình pháp lý; hoàn thiện chính sách và biện pháp hỗ trợ của Nhà nước nhằm phát triển HTXTM ở nông thôn

- Võ Thị Kim Sa, Một số góp ý cho Luật hợp tác xã hiện hành, Tạp chí Cộng sản điện tử, 3/1/2012 Tác giả bài báo cho rằng do nhận thức của một số người về bản

chất của HTX chưa thật sự rõ ràng, đầy đủ, thậm chí còn lệch lạc Vì vậy, nhận thức

đúng bản chất HTX, định hình được khuôn khổ pháp luật để hỗ trợ HTX phát triển bền vững và công tác quản lý nhà nước về HTX có hiệu quả là việc làm cấp bách Bài báo

đã góp phần làm rõ tính chất nhị nguyên vừa là hiệp hội vừa là doanh nghiệp của HTX, đã phân định rõ sự khác biệt cơ bản giữa bản chất HTX với công ty cổ phần, đề xuất một cách thức phân loại HTX theo 4 loại hình cơ bản cũng như cách thức phân loại xã viên, xác định tỷ lệ dịch vụ tối thiểu mà hợp tác xã cung cấp cho xã viên, phân

phối thu nhập theo mức độ sử dụng dịch vụ Tác giả bài báo khẳng định “với vai trò

kép vừa là tổ chức hiệp hội vừa là doanh nghiệp, HTX có thể hoạt động tốt như bất kỳ

Trang 18

doanh nghiệp nào Thậm chí, HTX có thể hoạt động tốt hơn công ty, nếu chúng ta am hiểu tường tận bản chất của nó, biết cách sử dụng và khai thác công cụ tập thể độc đáo này HTX là phương tiện hữu hiệu giúp kinh tế gia đình của mỗi xã viên nâng cao sức cạnh tranh và phát triển”

- Ngoài ra, có khá nhiều luận văn thạc sĩ bàn về phát triển kinh tế hợp tác và

HTX đã được thực hiện như: Trần Minh Tâm (2000) “Phát triển kinh tế hợp tác ở ngọai thành thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp”; Lê Thùy Hương (2003) “Kinh tế tập thể trên địa bàn tỉnh Hải Dương, thực trạng và giải pháp”; Bùi Gia Long (2009) “Thực trạng và giải pháp nhằm phát triển hợp tác xã nông nghiệp ở tỉnh Thái Nguyên trong giai đoạn hiện nay”; Ngô Thị Cẩm Linh (2008) “Một số giải pháp nhằm phát triển kinh tế HTX nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc”, …

Các công trình nghiên cứu trên góp phần cung cấp cho tác giả những tư liệu cần thiết để xây dựng khung khổ lý luận cũng như thực tiễn về phát triển kinh tế hợp tác, HTX và vận dụng vào nghiên cứu đề tài phát triển các loại hình HTX trên địa bàn tỉnh

Hợp tác lao động đã có từ khi loài người xuất hiện và ngày càng phát triển Cùng với tiến trình phát triển xã hội, phân công lao động xã hội và chuyên môn hoá ngày càng phát triển cả về chiều rộng và chiều sâu Do đó, nhu cầu về hợp tác lao động ngày càng tăng, mối quan hệ hợp tác ngày càng chặt chẽ và mở rộng Hợp tác không bị

Trang 19

giới hạn trong phạm vi từng đơn vị, từng ngành, địa phương, trong một nước mà còn

mở rộng trong phạm vi quốc tế

Hợp tác là nhu cầu khách quan, hợp tác phát triển từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ đơn ngành đến đa ngành Trình độ xã hội hoá sản xuất càng phát triển thì nhu cầu hợp tác càng tăng, mối quan hệ hợp tác ngày càng sâu rộng Do đó, tất yếu hình thành và ngày càng phát triển các hình thức kinh tế hợp tác ở trình độ cao hơn

Kinh tế hợp tác là một hình thức hợp tác trong lĩnh vực kinh tế trên cơ sở tự nguyện, phối hợp, hỗ trợ, giúp đỡ lẫn nhau giữa các chủ thể kinh tế, tổng hợp sức mạnh của từng thành viên Với ưu thế và sức mạnh của tập thể nhằm giải quyết những vấn đề sản xuất kinh doanh và đời sống kinh tế một cách tốt hơn, nhằm hoạt động có hiệu quả và đem lại lợi ích cao hơn cho mỗi thành viên tham gia hợp tác [1]

Kinh tế hợp tác là một hình thức kinh tế mà nhờ đó các đơn vị kinh tế tự chủ (kinh tế hộ gia đình) có điều kiện phát triển Kinh tế hợp tác của người lao động là việc cùng chung sức, chung vốn để tiến hành một công việc, một lĩnh vực hoạt động sản xuất dịch vụ nào đó theo kế hoạch nhằm mục đích chung và mang lại lợi ích cho các thành viên tham gia hợp tác

Trong sản xuất và đời sống, sự hợp tác giữa các cá nhân cho phép thực hiện được hoặc thực hiện hiệu quả hơn nhiều công việc mà các cá nhân riêng lẻ không thực hiện được hoặc thực hiện kém hiệu quả Những lợi ích này là nguồn gốc cho sự ra đời

và là động lực phát triển của kinh tế hợp tác Kinh tế hợp tác tồn tại dưới hai hình thức

Kinh tế hợp tác mà đỉnh cao là hợp tác xã đang là hình thức kinh tế hợp tác phổ biến ở các nước trên thế giới, đóng vai trò là bà đỡ tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế: nông nghiệp, công nghiệp thúc đẩy thương mại dịch vụ, trao đổi hàng hoá, góp phần làm cho kinh tế ngày càng phát triển, đặc biệt ở nông thôn

Trang 20

1.2.1.2 Bản chất của hợp tác xã

Ở nhiều nước trên thế giới, hợp tác xã đã hình thành và phát triển hơn 100 năm

Có nhiều cách định nghĩa về hợp tác xã:

- Liên minh hợp tác xã quốc tế (International Cooperative Alliance - ICA) được

thành lập tháng 8 năm 1895 tại Luân Đôn, vương quốc Anh đã định nghĩa hợp tác xã

như sau: "Hợp tác xã là một tổ chức tự trị của những người tự nguyện liên hiệp lại để đáp ứng các nhu cầu và nguyện vọng chung của họ về kinh tế, xã hội và văn hoá thông qua một Xí nghiệp cùng sở hữu và quản lý dân chủ" [42] Năm 1995, định nghĩa này vẫn được giữ nguyên trong Bản tuyên bố của ICA về HTX Bên cạnh đó các giá trị của HTX được nhấn mạnh: " Hợp tác xã dựa trên ý nghĩa tự cứu giúp mình, tự chịu trách nhiệm, bình đẳng, công bằng và đoàn kết Theo truyền thống của những người sáng lập ra hợp tác xã, các xã viên hợp tác xã tin tưởng vào ý nghĩa đạo đức, về tính trung

thực, cởi mở, trách nhiệm xã hội và quan tâm chăm sóc người khác" [52]

- Tổ chức lao động quốc tế (International Labour Organization - ILO) định nghĩa hợp tác xã là sự liên kết những người đang gặp phải những khó khăn kinh tế giống nhau, tự nguyện liên kết nhau lại trên cơ sở bình đẳng quyền lợi và nghĩa vụ, sử dụng tài sản của hộ đã chuyển giao vào hợp tác xã phù hợp với các nhu cầu chung và giải quyết những khó khăn đó chủ yếu bằng sự tự chủ, tự chịu trách nhiệm và bằng cách sử dụng các chức năng kinh doanh trong tổ chức hợp tác phục vụ cho lợi ích vật chất và tinh thần chung [42]

Ở các nước tư bản, kinh tế hợp tác mặc dù chỉ là dòng "kinh tế phụ", nhưng nó

đặc biệt quan trọng đối với nông dân Hợp tác xã giúp đỡ các Chủ trang trại nông dân

tồn tại trước những tác động của kinh tế thị trường và ảnh hưởng của các tổ chức độc

quyền lớn Do vậy, ngoài mục tiêu kinh tế, hợp tác xã còn là loại hình kinh tế mang

tính chất xã hội - nhân đạo

Ở Việt Nam, định nghĩa mới nhất về hợp tác xã (theo Luật HTX 2012) như sau:

"Hợp tác xã là tổ chức kinh tế tập thể, đồng sở hữu, có tư cách pháp nhân, do ít nhất 07 thành viên tự nguyện thành lập và hợp tác tương trợ lẫn nhau trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, tạo việc làm nhằm đáp ứng nhu cầu chung của thành viên, trên cơ sở tự chủ, tự chịu trách nhiệm, bình đẳng và dân chủ trong quản lý hợp tác xã"[18]

Theo kết quả nghiên cứu RS - 04, 2012 của Ủy ban Kinh tế của Quốc hội và UNDP tại Việt Nam: Về mặt bản chất, HTX khác với các hình thức tổ chức kinh tế

Trang 21

khác (doanh nghiệp) ở hai điểm chính: (i) HTX là hiệp hội các cá nhân đồng ý trở thành những người đồng sở hữu, người đưa ra các quyết định dân chủ và người khai thác doanh nghiệp chung; và (ii) mục tiêu cơ bản của HTX là đáp ứng nhu cầu và nguyện vọng về mặt kinh tế, văn hóa và xã hội của xã viên Hay nói cách khác, hợp tác

xã là tổ chức kinh tế - xã hội khác với các loại hình doanh nghiệp về mục tiêu thành lập (HTX đáp ứng các nhu cầu về kinh tế, văn hóa, xã hội của xã viên) và tổ chức hoạt động (HTX có tính dân chủ, tính tương trợ cao)

Từ các định nghĩa trên cho thấy HTX có các đặc trưng cơ bản sau đây:

Thứ nhất: HTX là tổ chức kinh tế - xã hội liên kết các cá nhân, hộ gia đình và

pháp nhân, được hình thành theo nguyên tắc tự nguyện nhằm đáp ứng các nhu cầu chung của xã viên theo nguyên tắc tương trợ HTX là nơi tập hợp và liên kết các cá nhân, qua đó họ (các xã viên) giúp đỡ lẫn nhau và hợp tác với nhau nhằm thực hiện các nhu cầu chung của họ về hàng hóa/dịch vụ/văn hóa/xã hội Lý do cơ bản là các nhu cầu chung này của xã viên chỉ được đáp ứng hoặc được đáp ứng hiệu quả hơn thông qua HTX Vì vậy, nếu HTX không đáp ứng được các nhu cầu chung của xã viên ở mức độ nhất định, sự liên kết và hợp tác giữa các thành viên sẽ bị yếu đi và HTX sẽ bị suy yếu Với những lý do trên, HTX là một tổ chức kinh tế - xã hội liên kết các cá nhân được hình thành nhằm đáp ứng các nhu cầu chung của xã viên theo nguyên tắc tương trợ [25]

Thứ hai: HTX được thành lập nhằm đáp ứng cả nhu cầu kinh tế, văn hóa và xã

hội của xã viên và cộng đồng Khác với các doanh nghiệp được thành lập thuần túy vì mục đích là tối đa hóa lợi nhuận (mục tiêu kinh tế) của các nhà đầu tư (những người góp vốn), các HTX được thành lập nhằm đáp ứng cả các nhu cầu về văn hóa và xã hội của cả các xã viên và cộng đồng dân cư Chính vì vậy, một phần quan trọng trong lợi nhuận của HTX được dùng để đáp ứng nhu cầu sinh hoạt văn hóa - xã hội chung của cộng đồng xã viên Cách thức phân phối này cũng góp phần tạo ra cơ chế hiệu quả để các thành viên HTX cùng chia sẻ khó khăn, trách nhiệm, nghĩa vụ và lợi ích, từ đó khuyến khích phát triển tinh thần hợp tác, tính cộng đồng, tinh thần đoàn kết, tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau giữa các xã viên HTX

Thứ ba: HTX là một tổ chức kinh tế tự chủ có tính dân chủ cao HTX được

thành lập trên cơ sở góp vốn của xã viên, những người đồng sở hữu HTX, vì vậy hợp tác xã là một đơn vị kinh tế tự chủ Tuy nhiên, HTX khác với các tổ chức kinh tế khác

Trang 22

(các doanh nghiệp) ở tính dân chủ cao Lý do cơ bản là xã viên HTX vừa là người góp vốn vừa là người sử dụng sản phẩm/dịch vụ của HTX, vừa là người quản lý vừa là người làm thuê Là người góp vốn, cộng đồng xã viên sẽ cùng quyết định làm cái gì và làm như thế nào để đáp ứng cao nhất nhu cầu chung về kinh tế, văn hoá, xã hội của họ

Là người sử dụng sản phẩm, dịch vụ của HTX, xã viên có khả năng tác động mạnh mẽ đến định hướng sản xuất và hoạt động của HTX Với tư cách là người quản lý, các xã viên HTX có quyền tham gia vào các quyết định của HTX một cách dân chủ Là người làm thuê, các xã viên HTX được quyền hưởng các lợi ích cơ bản của người lao động là tiền lương và các quyền lợi liên quan khác Vì vậy, HTX là tổ chức tự chủ của những người lao động được kiểm soát theo nguyên tắc dân chủ cao Điều này làm cho HTX khác với các doanh nghiệp có mục tiêu thuần túy về mặt thương mại

Thứ tư: Tài sản chung của HTX là bất khả chuyển nhượng Vốn góp của xã

viên HTX ở nhiều nước có cách gọi khác nhau: dự phần xã hội, vốn góp điều lệ, cổ phần Tài sản chung được hình thành và phát triển không có mục đích tự thân, mà hướng đến việc phục vụ nhu cầu chung về kinh tế, văn hóa và xã hội của các xã viên

Vì vậy, trong suốt quá trình tham gia HTX, xã viên chỉ được sở hữu tư nhân phần vốn góp ban đầu của họ; còn một phần tài sản hình thành từ hoạt động của HTX là tài sản chung không chia của HTX; trường hợp HTX bị giải thể, tài sản này phải được chuyển giao cho chính quyền địa phương; trường hợp xã viên rút ra khỏi HTX, thì chỉ rút phần vốn đã góp Tài sản chung không chia được xem là điều kiện thiết yếu cho sự phát triển bền vững và liên tục của HTX Sở hữu tài sản chung không phân chia là đặc điểm mang tính bản chất của HTX, phản ánh tính cộng đồng cao HTX

1.2.2 Vai trò và nguyên tắc của hợp tác xã

1.2.2.1 Vai trò của hợp tác xã

- Hỗ trợ kinh tế hộ gia đình và các thành viên khác phát triển: Sự xuất hiện, tồn tại và phát triển của HTX là một tất yếu khách quan Các hộ cá thể không thể không liên kết lại trước những diễn biến phức tạp, bất ngờ của điều kiện tự nhiên, trước chèn

ép của các doanh nghiệp lớn trong lĩnh vực cung cấp vật tư kỹ thuật và tiêu thụ sản phẩm Sự liên kết tự nhiên gắn bó những người sản xuất nhỏ trong các tổ chức HTX tùy theo yêu cầu sản xuất của họ Bên cạnh đó, HTX còn là trung gian tiếp nhận sự hỗ trợ của nhà nước đối với nông dân

Trang 23

- Phát triển kinh tế của HTX, góp phần vào việc phát triển kinh tế quốc dân: Phát triển kinh tế là mục tiêu mà mọi tổ chức kinh tế đều hướng tới HTX cũng không là ngoại lệ Mục đích kinh doanh của DN là tìm kiếm lợi nhuận Nếu không có lợi nhuận,

DN không thể trả công cho người lao động, duy trì việc làm lâu dài của họ, cũng như không thể cung cấp hàng hóa, dịch vụ lâu dài cho khách hàng và cộng đồng Việc hoạt động vì mục đích lợi nhuận không mâu thuẫn với mục tiêu tương trợ xã viên của HTX,

vì lợi nhuận là phương tiện, động cơ để HTX có thể hỗ trợ, tương trợ cho xã viên của mình một cách tốt hơn, lâu dài và toàn diện

Theo nhóm chuyên gia của Liên Hợp Quốc và Liên minh Hợp tác xã quốc tế, HTX có vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển kinh tế-xã hội, đặc biệt là đối với xóa đói giảm nghèo, tạo việc làm và an ninh cũng như phát triển bền vững [56]

1.2.2.2 Nguyên tắc của hợp tác xã

Theo Liên minh HTX quốc tế, HTX hoạt động theo 7 nguyên tắc là những định hướng để các HTX đưa các giá trị của mình vào thực tiễn [54]:

Nguyên tắc 1: Tự nguyện và Mở rộng

HTX là tổ chức dân chủ, mở rộng cho tất cả mọi người có nhu cầu & khả năng

sử dụng những dịch vụ của HTX và sẵnlòng chấp nhận trách nhiệm của xã viên, không phân biệt giới tính, xã hội, chủng tộc, quan điểm chính trị hay tôn giáo

Nguyên tắc 2: Quản trị dân chủ bởi xã viên

Các thành viên HTX (những người tham gia xây dựng và ra quyết định của HTX) kiểm soát HTX một cách dân chủ Các xã viên có quyền biểu quyết ngang nhau (mỗi người một phiếu bầu) Trong một số trường hợp, quyền biểu quyết tỷ lệ với mức giao dịch kinh tế giữa xã viên với HTX

Nguyên tắc 3: Tham gia kinh tế của xã viên

Các xã viên phải tham gia giao dịch kinh tế với HTX Xã viên góp vốn và kiểm soát vốn của HTX một cách dân chủ Một phần vốn của HTX thường là tài sản chung không chia, như quỹ phát triển sản xuất, dự phòng rủi ro Thặng dư được phân chia cho xã viên theo tỷ lệ giao dịch trong năm của xã viên đối với HTX

Nguyên tắc 4: Tự chủ và độc lập

HTX là tổ chức tự chủ, tự giúp đỡ lẫn nhau, được quản trị bởi xã viên của mình Nếu HTX tham gia các thỏa thuận với các tổ chức khác, HTX luôn phải đảm bảo việc kiểm soát dân chủ của xã viên và duy trì tính tự chủ của mình

Trang 24

Nguyên tắc 5: Giáo dục, đào tạo và thông tin

HTX cung cấp dịch vụ đào tạo cho xã viên, thành viên Ban quản trị và nhân viên, để họ có thể đóng góp hữu hiệu vào việc phát triển HTX HTX thông báo rộng rãi cho quần chúng, cụ thể là thanh niên và những người lãnh đạo có uy tín, về bản chất và lợi ích của việc hợp tác

Nguyên tắc 6: Hợp tác giữa các HTX

HTX phục vụ các xã viên của mình một cách hiệu quả và củng cố phong trào HTX bằng cách hợp tác với những tổ chức khác ở địa phương, vùng, quốc gia và quốc

tế

Nguyên tắc 7: Quan tâm đến cộng đồng

HTX hoạt động vì sự phát triển bền vững của cộng đồng thông qua các chính sách do xã viên quyết định

Theo Luật Hợp tác xã 2003 của Việt Nam, HTX hoạt động theo 4 nguyên tắc: (1) Tự nguyện; (2) Dân chủ, bình đẳng, công khai; (3) Tự chủ, tự chịu trách nhiệm và cùng có lợi; (4) Quan tâm tới cộng đồng Như vậy, các nguyên tắc hoạt động trên làm cho HTX ở Việt Nam: không quan tâm việc mở rộng cho mọi người có nhu cầu sử dụng các dịch vụ của nó; không chú ý đến việc các xã viên có bán sản phẩm cho HTX hay không; không chú ý đến huấn luyện và thông tin cho xã viên

Luật hợp tác xã 2012 đã sửa đổi và quy định 7 nguyên tắc hoạt động của HTX như trình bày trong Hộp 3.1

Hộp 1.1 Nguyên tắc tổ chức, hoạt động của Hợp tác xã

1 Cá nhân, hộ gia đình, pháp nhân tự nguyện thành lập, gia nhập, ra khỏi hợp tác xã Hợp tác xã tự nguyện thành lập, gia nhập, ra khỏi liên hiệp hợp tác xã

2 Hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã kết nạp rộng rãi thành viên, hợp tác xã thành viên

3 Thành viên, hợp tác xã thành viên có quyền bình đẳng, biểu quyết ngang nhau không phụ thuộc vốn góp trong việc quyết định tổ chức, quản lý và hoạt động của hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã; được cung cấp thông tin đầy đủ, kịp thời, chính xác về hoạt động sản xuất, kinh doanh, tài chính, phân phối thu nhập và những nội dung khác theo quy định của điều lệ

4 Hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã tự chủ, tự chịu trách nhiệm về hoạt động của mình trước pháp luật

Trang 25

5 Thành viên, hợp tác xã thành viên và hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã có trách nhiệm thực hiện cam kết theo hợp đồng dịch vụ và theo quy định của điều lệ Thu nhập của hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã được phân phối chủ yếu theo mức độ sử dụng sản phẩm, dịch vụ của thành viên, hợp tác xã thành viên hoặc theo công sức lao động đóng góp của thành viên đối với hợp tác xã tạo việc làm

6 Hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã quan tâm giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng cho thành viên, hợp tác xã thành viên, cán bộ quản lý, người lao động trong hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã và thông tin về bản chất, lợi ích của hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã

7 Hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã chăm lo phát triển bền vững cộng đồng thành viên, hợp tác xã thành viên và hợp tác với nhau nhằm phát triển phong trào hợp tác xã trên quy mô địa phương, vùng, quốc gia và quốc tế

Nguồn: Luật Hợp tác xã 2012

1.2.3 Phân loại hợp tác xã

HTX hết sức đa dạng và tồn tại trong hầu hết các lĩnh vực của nền kinh tế Theo Kimberly A Zeuli và Robert Cropp, [55] để đơn giản và tiện cho việc phân tích, có thể phân loại HTX theo 3 cách thức sau:

1 Theo hoạt động kinh doanh: HTX được chia thành HTX sản xuất, HTX Marketing, HTX mua bán, HTX tiêu thụ hoặc HTX dịch vụ

2 Theo khu vực thị trường: có HTX địa phương, HTX khu vực, HTX quốc gia, HTX quốc tế

3 Theo cấu trúc sở hữu: có HTX tập trung, HTX liên hiệp, HTX lai ghép (phối hợp giữa tập trung và liên hiệp), HTX thế hệ mới, HTX của người lao động

Theo nhóm tác giả đề tài NCKH cấp thành phố Hà Nội [36], có thể phân loại HTX theo các tiêu chí sau:

1 Theo tính chất thành viên: bao gồm

+ HTX cấp I: tham gia là các cá nhân, hộ gia đình…

+ HTX cấp II: tham gia là các HTX cấp I

+ HTX cấp III: tham gia là các HTX cấp I và HTX cấp II

Theo cách phân loại này và chiểu theo Luật HTX 2012 thì HTX cơ sở là HTX cấp I, Liên hiệp HTX là HTX cấp II và Liên minh HTX là HTX cấp III

Trang 26

2 Theo giới hạn trách nhiệm, bao gồm HTX trách nhiệm hữu hạn và HTX trách nhiệm vô hạn

3 Theo hình thức pháp lý, bao gồm HTX có đăng ký là loại hình chịu sự điều chỉnh của Luật HTX và các hình thức kinh tế có tính chất hoạt động theo Luật dân sự hay các luật pháp khác

4 Theo mục tiêu, có HTX đơn mục tiêu và HTX đa mục tiêu

5 Theo chức năng kinh doanh: có HTX dịch vụ và HTX sản xuất

6 Theo lĩnh vực kinh doanh: Phân loại theo lĩnh vực kinh tế

Trong khuôn khổ của luận văn, sẽ tập trung nghiên cứu về sự phát triển của các loại hình HTX theo cách phân loại thứ 6-theo lĩnh vực kinh tế

1.2.4 Những nhân tố ảnh hưởng đến đến sự hình thành và phát triển của hợp tác

1.2.4.1 Nhân tố về điều kiện tự nhiên

Điều kiện tự nhiên của một nước, một địa phương có ảnh hưởng nhất định đến

sự hình thành và phát triển của HTX Các yếu tố thuộc điều kiện tự nhiên bao gồm vị trí địa địa lý, diện tích, địa hình, khí hậu,… Các yếu tố này có ảnh hưởng nhất định đến sự hình thành các loại hình HTX phù hợp, khả năng hoạt động, khả năng quản lý, khả năng lưu thông trao đổi giữa các HTX, giữa các thành viên HTX với nhau,…

1.2.4.2 Nhân tố về môi trường kinh tế-xã hội

Môi trường kinh tế-xã hội là toàn bộ yếu tố kinh tế-xã hội có tác động trực tiếp hay gián tiếp tới sự hình thành và phát triển HTX

- Yếu tố kinh tế bao gồm quy mô và trình độ phát triển của nền kinh tế, từ đó tác động đến thu nhập, đến mức sống và khả năng tham gia đóng góp (đặc biệt là về mặt tài chính) của các thành viên khi tham gia vào HTX

Yếu tố kinh tế cũng bao gồm cơ cấu của nền kinh tế theo lĩnh vực, theo địa bàn,…có thể tác động đến khả năng và sự lựa chọn các loại hình HTX

Yếu tố xã hội: sự ổn định về chính trị, quy mô, cơ cấu dân số, việc làm, trình

độ của nguồn lao động; văn hóa,… đây là yếu tố có tầm quan trọng đặc biệt cho sự phát triển kinh tế nói chung cũng như cho sự phát triển của HTX nói riêng

1.2.4.3 Nhân tố về luật pháp, chính sách

- Sự phát triển của HTX phụ thuộc khá lớn vào quan điểm đường lối phát triển của Đảng cầm quyền và Nhà nước Quan điểm đúng là điều kiện để có được một hệ

Trang 27

thống luật pháp và chính sách đúng, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển Chính sách đúng đắn sẽ tạo động lực cho người lao động, các HTX và các thành viên tham gia tích cực vào phát triển sản xuất mở rộng kinh doanh, tăng trưởng cao và ổn định Ngược lại chính sách không phù hợp sẽ tác động tiêu cực đến sự phát triển của HTX

Sự phát triển của HTX trước và sau đổi mới là minh chứng rõ nét cho nhận định trên

Kinh nghiệm của nhiều nước trên thế giới cho thấy HTX đã được tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển xét về mặt luật pháp cũng như chính sách và đã chứng tỏ sức sống và khả năng chống chọi tốt trước những biến động của nền kinh tế [56]

Ngoài ra, có thể kể đến một số nhân tố khác như nhân tố về khoa học công nghệ, về hội nhập kinh tế quốc tế,…[36]

1.2.4.4 Nhân tố nội tại của HTX

Ngoài các nhân tố nêu trên là các điều kiện bên ngoài ảnh hưởng đến sự phát triển của HTX và nằm ngoài khả năng kiểm soát của HTX thì còn có một số yếu tố thuộc năng lực nội tại của HTX Năng lực nội tại bao gồm các điều kiện về lao động, vốn, đất đai và tài nguyên, cơ sở vật chất - kỹ thuật từ sự đóng góp và tạo ra trong quá trình SX-KD của xã viên Lao động (sức lao động) của xã viên vừa là chủ thể, vừa là yếu tố "đầu vào" quyết định đến mọi hoạt động và sự phát triển của HTX Vốn của HTX quyết định đến đầu tư, mở rộng quy mô sản xuất và tái sản xuất, áp dụng kỹ thuật tiên tiến và ứng dụng công nghệ mới Đất đai và tài nguyên của HTX là của xã viên, ngoài ra còn có trường hợp HTX đi thuê của người khác Cơ sở vật chất - kỹ thuật thể hiện trình độ của công cụ sản xuất, dịch vụ, kết cấu hạ tầng và là điều kiện quan trọng để tăng năng suất, chất lượng sản phẩm, khả năng hợp tác, cạnh tranh của HTX

1.2.4.5 Vai trò của Liên minh Hợp tác xã tỉnh Hà Giang:

Liên minh với chức năng, nhiệm vụ: Đại diện và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các thành viên; Tuyên truyền, vận động phát triển hợp tác xã và liên hiệp hợp tác xã; Hỗ trợ và cung cấp các dịch vụ cần thiết cho sự hình thành và phát triển của các cơ sở hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã và thành viên; Tham gia xây dựng chính sách, pháp luật có liên quan; Đại diện cho các thành viên trong

quan hệ hoạt động phối hợp với các tổ chức trong và ngoài nước theo quy định

của pháp luật; Tham gia xây dựng và thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chương trình phát triển hợp tác xã và liên hiệp hợp tác xã; Tuyên truyền, vận động các cơ sở kinh tế cá thể, kinh tế tiểu chủ, các hộ gia đình, các cơ sở sản xuất nhỏ và vừa phát triển hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã Tổng kết và phổ biến kinh nghiệm của các HTX điển hình tiên tiến, tổ chức các phong trào thi đua

Trang 28

trong hệ thống Liên minh; Tổ chức các hoạt động hỗ trợ, tư vấn, cung cấp dịch

vụ cho các thành viên về pháp lý, đầu tư, khoa học - công nghệ, thông tin, tài chính, tín dụng, thị trường và các lĩnh vực khác; Tổ chức đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ trong hệ thống Liên minh; cán bộ quản lý, xã viên và người lao động trong các HTX và các thành viên khác; Chủ trì hoặc tham gia triển khai thực hiện các chương trình, dự án và các hoạt động dịch vụ công có mục tiêu phát triển hợp tác xã và liên hiệp hợp tác xã

Qua đó trong những năm qua Liên minh HTX tỉnh đã tích cực chủ động trong việc tư vấn, hỗ trợ hướng dẫn các HTX tổ chức lại hotaj động sản xuất kinh doanh, đẩy mạnh sản xuất Chủ động tư vấn cho các HTX mở rộng ngành nghề, nâng cao chất lượng hoạt động, tổ chức đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ quản lý nhằm nâng cao trình độ, quản lý, điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh Đặc biệt Liên minh HTX tỉnh đã tích cực tham mưu cho các cấp ủy chính quyền địa phương trong việc quy hoạch, kế hoạch, các chủ trương nhằm phát triển các loại hình HTX trên địa bàn tỉnh phù hợp với điều kiện tự nhiện, kinh tế

- xã hội của tỉnh, đồng thời phát huy được các thế mạnh tiềm năng sẵn có của tỉnh để phát triển từng loại hình HTX theo từng địa bàn, từng lĩnh vực

1.2.5 Tiêu chí đánh giá sự phát triển các loại hình hợp tác xã:

* Khái niệm phát triển các loại hình Hợp tác xã: Phát triển các loại hình Hợp

tác xã là sự tăng trưởng về số lượng và chất lượng, hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của từng loại hình Hợp tác xã

- Chỉ tiêu số lượng phản ánh số lượng hợp tác xã biến động tăng, giảm theo

từng loại hình qua các năm Đây là chỉ tiêu có thể nghiên cứu bằng trực quan, có thể so sánh qua các thời kỳ;

- Tiêu chí chất lượng hoạt động của từng loại hình HTX, được phản ánh thông qua tình hình tổ chức, quản lý, điều hành hoạt động của hợp tác xã, tác động của phát

triển hợp tác xã đến đời sống xã viên, người lao động và nâng cao hiệu quả hoạt động

kinh doanh dịch vụ của hợp tác xã được thể hiện qua các tiêu chí:

+ Tiêu chí về Hiệu quả sản xuất kinh doanh của HTX được thể hiện qua doanh thu, lợi nhuận, tỷ suất lợi nhuận trên đồng vốn, trên doanh thu; Hoạt động của HTX tác động đến thu nhập của các hộ gia đình, xã viên HTX

+ Mức độ hoàn thành các chỉ tiêu kế hoạch sản xuất kinh doanh đã được đề ra trong Nghị quyết Đại hội xã viên

+ Tiêu chí về mức độ đáp ứng nhu cầu của hoạt động kinh tế và đời sống xã viên

+ Tiêu chí về mức độ phúc lợi chung của hợp tác xã tạo ra cho toàn thể xã viên

Trang 29

+ Tiêu chí về mức độ đoàn kết, hợp tác giữa các xã viên và xây dựng cộng đồng hợp tác xã

1.3 Lịch sử phát triển của phong trào hợp tác xã, kinh nghiệm của các nước trên thế giới và của Việt Nam

1.3.1 Lịch sử hình thành và phát triển của phong trào HTX quốc tế

Hợp tác xã đầu tiên trên thế giới được hình thành vào năm 1761 tại Vương quốc Anh sau đó phát triển ra hầu hết các nước trên thế giới Tại các nước, HTX đều có vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế và ổn định xã hội Ở nhiều nước, HTX được coi là tổ chức để thông qua đó Nhà nước có thể thực hiện được nhiều chương trình quan trọng như: xoá đói giảm nghèo, ứng dụng công nghệ mới, công nghiệp hoá nông nghiệp nông thôn, khôi phục và phát huy ngành nghề truyền thống, chuyển dịch

cơ cấu kinh tế, tham gia bảo đảm an ninh chính trị và xã hội Do vị trí và vai trò quan trọng của các HTX như vậy, nên số lượng người tham gia xã viên của HTX ngày càng đông, tổ chức của HTX ngày được hoàn thiện và mở rộng phạm vi hoạt động trong nước và quốc tế Mỗi nước đều có hệ thống tổ chức HTX từ cơ sở đến toàn quốc, rồi tổ chức HTX từng châu lục đến khu vực và toàn thế giới Liên minh HTX quốc tế (ICA)

là tổ chức cao nhất của phong trào HTX toàn thế giới và từ năm 1946 ICA là đối tác của Liên hiệp quốc về các vấn đề kinh tế-xã hội thông qua Uỷ ban kinh tế- xã hội (COPAC) của Liên hiệp quốc Dưới đây trình bày tóm tắt một số nét chính về ICA

* Liên minh Hợp tác xã Quốc tế (ICA)

Liên minh hợp tác xã Quốc tế (ICA) được thành lập ngày 19/8/1895 tại Vương quốc Anh nhằm thực hiện sứ mệnh liên kết, đại diện và hỗ trợ phong trào hợp tác xã trên toàn thế giới Đến nay, ICA có 224 thành viên với hơn 850 triệu xã viên, gồm các

tổ chức đại diện cho các HTX cấp vùng, cấp quốc gia và vùng lãnh thổ hoạt động ở tất

cả các ngành, lĩnh vực của nền kinh tế Trụ sở của ICA tại Geneva - Thuỵ Sỹ [52]

ICA thực hiện vai trò chính sau đây:

- Phát triển và bảo vệ các nguyên tắc và giá trị của hợp tác xã;

- Nâng cao nhận thức về hợp tác xã;

- Đề xuất và tham gia xây dựng môi trường pháp lý thuận lợi để các hợp tác

xã hoạt động hiệu quả và phát triển bền vững;

- Cung cấp các dịch vụ hỗ trợ để các hợp tác xã nâng cao năng lực cạnh tranh bình đẳng;

Trang 30

- Cung cấp thông tin, tạo diễn đàn trao đổi, liên hệ thường xuyên giữa các thành viên, tổ chức các cuộc họp, hội nghị, hội thảo nhằm trao đổi kinh nghiệm, giải quyết các vấn đề liên quan đến khu vực HTX và khuyến khích sự hợp tác kinh tế giữa các thành viên;

- Hỗ trợ kỹ thuật cho các thành viên, HTX thông qua các chương trình, dự án phát triển nguồn lực cho các HTX, thành viên;

- Đại diện cho phong trào HTX thế giới tại Liên hợp quốc

Liên minh Hợp tác xã Việt Nam là thành viên chính thức của ICA Trong những năm qua, ICA đã có nhiều hoạt động hỗ trợ Liên minh HTX Việt Nam và phong trào HTX ở Việt Nam thông qua các hoạt động tư vấn, hỗ trợ hoàn thiện khung khổ pháp lý cho HTX, đào tạo nâng cao năng lực cho cán bộ, cung cấp thông tin, chia

sẻ kinh nghiệm trong củng cố, đổi mới, phát triển các HTX theo cơ chế thị trường và các nguyên tắc, giá trị đích thực của HTX trên thế giới

1.3.2 Kinh nghiệm phát triển HTX tại một số nước trên thế giới

Châu Âu có gần 290.000 hợp tác xã (HTX) với 140 triệu thành viên và khoảng 4,9 triệu người làm thuê Liên minh châu Âu (EU) có khoảng 30.000 HTX nông nghiệp với doanh số khoảng 210 tỷ ơ-rô Các HTX nông nghiệp lớn nhất hoạt động trong các ngành chế biến bơ sữa, thịt và thương mại nông nghiệp Lĩnh vực ngân hàng cũng là nơi các HTX có thị phần lớn (Thí dụ Rahobank của Hà Lan, Credit Agricole của Pháp và các ngân hàng Raiffsisen của các nước nói tiếng Đức) Các HTX bán lẻ rất mạnh ở các nước Bắc Âu (S Group và Scandinavian Coop Norden của Phần Lan)

và Thụy Sỹ [46]

Một trong những chiếc nôi đầu tiên của mô hình kinh tế tập thể ở Châu Âu xuất

hiện ở CHLB Đức Cho đến nay, đất nước này vẫn duy trì một hệ thống HTX mạnh,

kinh tế HTX là một bộ phận quan trọng của thành phần kinh tế quốc doanh và có những đóng góp quan trọng vào kinh tế nông thôn nói riêng và kinh tế quốc dân nói chung Với nguyên tắc kinh doanh “Lợi thế nhờ quy mô, mua bán sỉ tốt hơn mua bán lẻ”, thành viên HTX cũng chính là những khách hàng quan trọng của HTX Vì vậy, bất

cứ nhu cầu nào của thành viên được phát sinh là HTX có thể thiết kế sản phẩm nhằm đáp ứng phục vụ HTX nông nghiệp chủ yếu cung cấp các dịch vụ mang tính hỗ trợ cho các thành viên của mình, thường đảm nhận các dịch vụ “đầu vào” của sản phẩm nông nghiệp như: Thủy lợi, điện, hạt giống, cây giống, con giống, phân bón, thuốc trừ

Trang 31

sâu, thức ăn gia súc…; tư vấn, hỗ trợ, chuyển giao kỹ thuật, công nghệ mới (cây, con giống mới, kỹ thuật chăm bón, nuôi dưỡng, sử dụng máy móc thiết bị hiện đại…), nhà kho, bảo quản đông lạnh, hỗ trợ cung cấp các dịch vụ tài chính (vay vốn, bảo hiểm)… Bên cạnh đó còn có các HTX cung cấp các dịch vụ khác như: làm đất, cung cấp máy nông nghiệp, dụng cụ lao động, vật tư chuồng trại, xăng dầu, chất đốt,…

Hiện nay, Đức có các HTX nông nghiệp chính như: dịch vụ nông nghiệp tổng hợp, mua bán nông sản; sữa và sản phẩm sữa; trồng và bảo quản nho; cung cấp nước sạch; chăn nuôi và chế biến sản phẩm thịt; chế biến rau, quả; trồng cỏ và chế biến thức

ăn gia súc; cung cấp điện; dịch vụ máy nông nghiệp; thủy hải sản; hoa, cây cảnh; bánh

mì, bánh ngọt; dịch vụ nhà kho, nhà đông lạnh; chế biến nho… Các HTX nông nghiệp của Đức đang nắm thị phần cao đối với rất nhiều sản phẩm nông nghiệp quan trọng: 70% thị phần sản phẩm thịt chế biến, hơn 60% thị phần của các sản phẩm sữa, hơn 30% thị phần rượu nho

Các HTX nông nghiệp ở Đức rất nhạy bén trong việc nắm bắt xu thế chung của người tiêu dùng là ưa chuộng các nông phẩm sinh thái, các nông sản “sạch” để định hướng, tư vấn hỗ trợ các thành viên của mình trong việc trồng trọt, chăn nuôi, sản xuất, chế biến theo đúng tiêu chuẩn, quy định Các sản phẩm thịt sạch, sữa sạch, rau quả sạch mang thương hiệu HTX… đang là những sản phẩm rất có lợi thế trên thị trường tiêu dùng ở Đức Sự trợ giúp đó của HTX giúp cho người nông dân tiêu thụ được sản phẩm và tăng thêm thu nhập trong điều kiện cạnh tranh trên thị trường ngày càng khốc liệt

Ngoài dịch vụ cung cấp cho thành viên, các HTX nông nghiệp tạo ra khoảng 150.000 việc làm trực tiếp Tính trung bình, mỗi HTX nông nghiệp sử dụng 46 lao động Theo quy định của Luật HTX Đức, hằng năm, các HTX đều được kiểm toán định kỳ và do Hiệp hội HTX thực hiện

Tại Phần Lan – nơi được xem là “quê hương” của HTX, mô hình kinh tế này

đóng vai trò quan trọng trong việc kết nối người dân nông thôn và nghề nghiệp của họ với kinh tế thị trường và quá trình công nghiệp hóa được diễn ra nhanh chóng Phạm vi hoạt động của HTX rất rộng, trải rộng gần như trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội đến mức hiện nay hầu như mỗi người dân Phần Lan đều có quan hệ với HTX trong một hay nhiều lĩnh vực của đời sống Các HTX ở Phần Lan thường giữ thị phần cao trong các lĩnh vực then chốt, đặc biệt là trong các ngành công nghiệp lương thực,

Trang 32

ngân hàng – bảo hiểm, thương mại nông nghiệp và bán lẻ Thí dụ, HTX của những người sở hữu rừng Metsaliitto không chỉ lớn về quy mô và mức độ liên kết trong nội

bộ mà còn là một trong những HTX sản xuất lớn nhất ở Châu Âu HTX ở Phần Lan cũng đi tiên phong trong lĩnh vực giáo dục người tiêu dùng, thí dụ như đưa ra các khái niệm bán lẻ mới, chuỗi cửa hàng, quyền của người tiêu dùng, xây dựng các tiêu chuẩn, các phương thức hoạt động mới và thúc đẩy nghiên cứu khoa học

Tại Mỹ có gần 50.000 HTX với khoảng 150 triệu thành viên Các HTX nông

nghiệp (3.500 HTX) đóng vai trò quan trọng, đảm nhận gần 1/3 công việc thu hoạch, chế biến và thương mại nông nghiệp Tổng doanh thu của các HTX này vào khoảng

100 tỷ euro, trong đó 1/3 thuộc về 100 HTX lớn nhất HTX ở Mỹ rất mạnh trong ngành công nghiệp sản xuất bơ sữa, ví dụ như Dairy Farmers of America (DFA) với doanh số khoảng 10 tỷ ơ-rô Trong những năm gần đây, vị trí của DFA đang bị đe dọa bởi sự nổi lên của khối HTX Farmland Industry và Agway Một điểm đặc biệt của HTX ở Mỹ là sự thành công của các HTX sản xuất chuyên ngành Thí dụ như Blue Diamond (HTX của những người trồng hạnh, chiếm khoảng 1/3 thị phần thế giới về sản phẩm này), Sunmaid (HTX chế biến nho khô, một trong những nhãn hiệu uy tín),

và Ocean Spray (HTX của những người trồng việt quất, một liên minh chiến lược có sức sống mạnh mẽ)

Trong vòng 20 năm qua, ở Mỹ nổi lên một thế hệ các HTX nông nghiệp mới dựa trên việc đánh giá lại các nguyên tắc HTX Sự ra đời của thế hệ HTX mới này xuất phát từ nhu cầu tạo thêm nguồn sinh lực mới cho các HTX nông nghiệp để nâng cao sức cạnh tranh Các HTX thế hệ mới ở các bang của Mỹ đều là những công ty lớn với tổng đầu tư khoảng 2 tỷ ơ-rô

Ở Nhật Bản, HTX là nhân tố tích cực, góp phần quan trọng vào phát triển kinh

tế Các loại hình tổ chức HTX ở Nhật Bản bao gồm: HTX nông nghiệp và HTX tiêu dùng

HTX tiêu dùng (JCCU) là tổ chức cấp cao của khu vực HTX ở Nhật Bản JCCU

có các chức năng và nhiệm vụ như: tăng cường hướng dẫn quản lý và hỗ trợ hoạt động kinh doanh cho các HTX thành viên; lập kế hoạch; phát triển và cung cấp sản phẩm, các chương trình bảo hiểm và mạng lưới thông tin đáp ứng nhu cầu của các xã viên; tổ chức các khóa học và hội thảo về công tác quản lý và giáo dục cho các HTX thành viên; xuất – nhập khẩu các mặt hàng tiêu dùng… Các HTX thành viên của JCCU đã

Trang 33

sản xuất trên 10.000 sản phẩm khác nhau mang nhãn hiệu “Co-op”, bao gồm lương thực, thực phẩm và hàng hóa tiêu dùng

Theo HTX nông nghiệp, năm 1972, Liên hiệp các HTX quốc gia Nhật Bản (BEN-NOH) chính thức được thành lập và được Chính phủ giao thực hiện các mục tiêu về phát triển nông nghiệp, nông thôn Các HTX nông nghiệp Nhật Bản có mặt ở hầu hết các làng mạc, thành phố, thị trấn Một trong những đặc điểm nổi bật nhất của HTX nông nghiệp Nhật Bản là hợp tác trong phân phối chứ không hợp tác trong sản xuất HTX nông nghiệp thực hiện hai nhiệm vụ chính: một là, cung cấp cho nông dân các yếu tố “đầu vào” phục vụ sản xuất nông nghiệp, như phân bón, hóa chất nông nghiệp, trang thiết bị, kỹ thuật trồng trọt và chăn nuôi gia súc… ; hai là, giúp nông dân tiêu thụ sản phẩm bằng cách thu gom, bảo quản, dự trữ, bán các nông sản, vật tư dựa vào mạng lưới tiêu thụ sản phẩm quốc gia và quốc tế HTX nông nghiệp là kênh tiêu thụ nông sản chính: 90% lúa gạo; trên 50% rau, hoa quả, sữa tươi… Nông dân Nhật Bản chủ yếu mua hàng qua HTX

Mô hình HTX nông nghiệp Nhật Bản được đặc trưng bởi hệ thống 3 cấp: Các HTX nông nghiệp cơ sở, các liên hiệp và các liên đoàn quốc gia HTX nông nghiệp cơ

sở có hai loại: loại thứ nhất là HTX nông nghiệp đa chức năng tham gia hầu hết các hoạt động và dịch vụ, từ tiếp thị sản phẩm nông nghiệp, cung cấp nguyên liệu sản xuất

và vật dụng thiết yếu hằng ngày, nhận gửi tiền và cho vay, đầu tư vốn, cung cấp bảo hiểm đến hướng dẫn kinh doanh cho nông dân…; loại thứ hai là HTX nông nghiệp đơn chức hoạt động trong các lĩnh vực sản xuất cụ thể như chế biến sữa, nuôi gia cầm

và các nghề truyền thống khác, tiếp thị sản phẩm của các xã viên và cung cấp nguyên liệu sản xuất…

Để giúp các tổ chức HTX hoạt động, Chính phủ Nhật Bản đã tăng cường xây dựng hệ thống phục vụ xã hội hóa nông nghiệp, coi HTX nông nghiệp là một trong những hình thức phục vụ xã hội hóa tốt nhất và yêu cầu các cấp , các ngành phải giúp

đỡ và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của tổ chức này

Phát triển và đóng góp của HTX tại một số nền kinh tế mới [46]

Ấn Độ là nước nông nghiệp, nên sự phát triển nền kinh tế của quốc gia này phụ

thuộc rất lớn vào phát triển nông nghiệp Ở Ấn Độ, HTX đã ra đời từ rất lâu và trở thành lực lượng vững mạnh, tham gia hầu hết các hoạt động kinh tế của đất nước Người nông dân coi HTX là phương tiện để tiếp nhận tín dụng, các yếu tố “đầu vào”

Trang 34

và các dịch vụ cần thiết cho sản xuất nông nghiệp Khu vực HTX có phạm vi hoạt động rất rộng, trong các lĩnh vực tín dụng, chế biến nông sản, hàng tiêu dùng, hàng thủ công mỹ nghệ và xây dựng nhà ở với tổng vốn hoạt động khoảng 18,33 tỷ USD Nổi bật nhất là các HTX tín dụng nông nghiệp, chiếm tới 43% tổng số tín dụng trong cả nước; các HTX sản xuất đường chiếm tới 62,4% tổng sản lượng đường trên cả nước; HTX sản xuất phân bón chiếm 34% tổng sản lượng phân bón được sản xuất trong nước Một trong những Liên hiệp HTX hoạt động kinh doanh có hiệu quả nhất ở Ấn

Độ là Liên hiệp HTX sản xuất sữa Amul (bang Gujaza) được thành lập từ năm 1953 Đây là một liên hiệp sản xuất sữa lớn nhất của Ấn Độ, có tới gần 2 triệu cổ phần và chiếm khoảng 42,6% thị trường sữa trong cả nước

Liên minh HTX quốc gia Ấn Độ (NCUI) là tổ chức cao nhất, đại diện cho toàn

bộ HTX ở Ấn Độ Mục tiêu chính của NCUI là hỗ trợ và phát triển phong trào HTX ở

Ấn Độ, giáo dục và hướng dẫn nông dân xây dựng và phát triển HTX

Nhận rõ vai trò của các HTX trong nền kinh tế quốc dân, Chính phủ Ấn độ

đã thành lập công ty quốc gia phát triển HTX, thực hiện nhiều dự án khác nhau trong lĩnh vực chế biến, bảo quản, tiêu thụ nông sản, hàng tiêu dùng, lâm sản và các mặt hàng khác, đồng thời thực hiện các dự án về phát triển những vùng nông thôn còn lạc hậu Ngoài ra, Chính phủ còn khuyến khích sự phát triển của khu vực HTX thông qua xúc tiến xuất khẩu; sửa đổi luật HTX; tạo điều kiện cho các HTX tự chủ và năng động hơn; chấn chỉnh hệ thống tín dụng HTX; thiết lập mạng lưới thông tin hai chiều giữa những người nghèo nông thôn với các tổ chức HTX; bảo đảm trách nhiệm của các liên đoàn HTX đối với các HTX thành viên

Ở Thái Lan, một số mô hình HTX tiêu biểu là HTX nông nghiệp và HTX tín

dụng HTX nông nghiệp được thành lập nhằm đáp ứng nhu cầu của xã viên trong các lĩnh vực vay vốn, gửi tiết kiệm và tiền ký quỹ, tiêu thụ sản phẩm, tiếp thụ, hỗ trợ phát triển nông nghiệp và các dịch vụ khác Thông qua sự trợ giúp của Chính phủ, ngân hàng nông nghiệp và HTX nông nghiệp, xã viên được vay vốn với lãi suất thấp, thời hạn ưu đãi thích hợp cho việc kinh doanh hoặc sản xuất của họ Hiện nay, số HTX tham gia hoạt động sản xuất kinh doanh này chiếm khoảng 39% Hoạt động của HTX tín dụng nhằm đáp ứng nhu cầu xã viên về các lĩnh vực: khuyến khích gửi tiền tiết kiệm của các xã viên; góp cổ phần; cung cấp các dịch vụ vay cho xã viên… HTX tín dụng nông thôn được thành lập từ lâu Do hoạt động của HTX trong lĩnh vực này có

Trang 35

hiệu quả, nên hàng loạt HTX tín dụng đã ra đời trên khắp đất nước Bên cạnh đó, sự phát triển của HTX tiêu dùng, các loại HTX công nghiệp cũng phát triển mạnh và trở thành một trong những yếu tố quan trọng trong sự phát triển kinh tế của Thái Lan

Liên đoàn HTX Thái Lan (CLT) là tổ chức HTX cấp cao quốc gia, thực hiện chức năng đại diện, hỗ trợ, giáo dục và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các HTX và xã viên theo luật định

Để tạo điều kiện cho khu vực HTX phát triển và khuyến khích xuất khẩu, Chính phủ Thái Lan đã thành lập Bộ nông nghiệp và HTX, trong đó có hai vụ chuyên trách

về HTX là Vụ phát triển HTX (để giúp HTX thực hiện các hoạt động kinh doanh, nhằm đạt được các mục tiêu đề ra) và Vụ Kiểm toán HTX (thực hiện chức năng kiểm toán HTX và hướng dẫn nghiệp vụ kế toán trong công tác quản lý tài chính, kế toán HTX) Chính phủ cũng ban hành nhiều chính sách, như chính sách giá, tín dụng với mục tiêu bảo đảm chi phí “đầu vào” hợp lý để có giá bán ổn định cho người tiêu dùng, góp phần ổn định giá nông sản tại thị trường trong nước thấp hơn giá thị trường thế giới, khuyến khích xuất khẩu

Ở Hàn Quốc ngay sau khi thành lập vào năm 1961, Liên đoàn quốc gia HTX

nông nghiệp Hàn Quốc (NACF) đã thàch lập mạng lưới HTX từ trung ương đến cơ sở Trải qua nhiều thăm trầm trong quá trình phát triển, cho đến nay, hệ thống HTX ở Hàn Quốc đã phát triển nhanh, đáp ứng được nhu cầu ngày càng tăng lên của nông dân về

hỗ trợ dịch vụ, chiếm lĩnh toàn bộ thị trường và kinh tế nông thôn, lan ra đan xen vào kinh tế đô thị và từng bước hội nhập vào nền kinh tế thế giới

Với gần 1.400 HTX thành viên, hoạt động của NACF rất đa dạng, bao gồm từ tiếp thị sản phẩm, chế biến, cung cấp vật tư và hàng tiêu dùng, tín dụng và ngân hàng, bảo hiểm, kho tàng, vận tải, khuyến nông, xuất bản và các dịch vụ hỗ trợ cho 5 triệu nông dân và cộng đồng nông thôn NACF nắm giữ 40% thị phần nông sản trong nước

và là một ngân hàng có số tiền gửi lớn nhất Hàn Quốc Nhằm mở rộng thị trường nông sản, NACF quản lý một mạng lưới dịch vụ vận chuyển nông sản từ cửa nông trại đến người tiêu dùng, giúp người nông dân sản xuất theo đúng yêu cầu của thị trường, giảm tối thiểu chi phí lưu thông, hao hụt, thất thoát NACF cũng điều hành một hệ thống doanh nghiệp kinh doanh nông sản lớn nhất và cạnh tranh mạnh nhất NACF chịu trách nhiệm cung cấp các vật tư nông nghiệp bảo đảm cho nông dân có đủ vật tư thiết yếu đúng thời gian, giá rẻ, chất lượng Trong khâu chế biến, NACF sở hữu một hệ

Trang 36

thống hạ tầng và thiết bị hùng hậu giúp tăng thêm giá trị cho hàng nông sản Trong hoạt động tín dụng ngân hàng, NACF điều hành cả hệ thống ngân hàng nông nghiệp

và các quỹ tín dụng của HTX, cung cấp nhiều loại dịch vụ: giao dịch ngân hàng, dịch

vụ thẻ tín dụng, tín dụng cho vay, đầu tư, bảo hiểm, giao dịch quốc tế… Hệ thống bảo hiểm của NACF chiếm lĩnh toàn bộ thị trường nông thôn

Ở Ma-lai-xi-a, các tổ chức HTX được thành lập từ những năm đầu của thế kỷ

XX Sự phát triển vững chắc của kinh tế HTX là một trong những động lực thúc đẩy

sự phát triển kinh tế của nước này Tổ chức HTX Ma-lai-xi-a (ANGKASA) là tổ chức cấp cao của các HTX Ma-lai-xi-a, có nhiệm vụ hỗ trợ các HTX thành viên về phương thức điều hành và quản lý các hoạt động của HTX qua việc tư vấn, giáo dục hoặc tổ chức những dịch vụ cần thiết Các nguyên tắc của HTX được ANGKASA nêu cụ thể như sau: quản lý dân chủ; thành viên tự nguyện; thu nhập bình đẳng; phân phối lợi nhuận kinh doanh theo mức độ sử dụng các dịch vụ của các xã viên và mức đóng góp

cổ phần của xã viên; hoàn trả vốn theo mức đầu tư; xúc tiến công tác đào tạo phổ cập kiến thức quản lý và khoa học kỹ thuật nông nghiệp cho các xã viên

Năm 1993, Luật HTX của Ma-lai-xi-a ra đời tạo khung pháp lý để các HTX hoạt động, xây dựng kế hoạch phát triển và đào tạo cán bộ quản lý HTX, củng cố quyền của xã viên cũng như công tác đào tạo xã viên Luật cũng quy định về luật kiểm toán nội bộ và xây dựng báo cáo tổng hợp của Ban chủ nhiệm HTX trong đại hội xã viên thường kỳ hằng năm Chính phủ Ma-lai-xi-a đã thành lập Cục phát triển HTX với một số hoạt động chính, như quản lý và giám sát các hoạt động của HTX; giúp đỡ tài chính và phát triển kết cấu hạ tầng; xây dựng kế hoạch phát triển HTX, đào tạo cán bộ quản lý…

1.3.3 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

Nghiên cứu kinh nghiệm phát triển HTX ở một số nước đại diện cho các khu vực khác nhau với với trình độ phát triển khác nhau luận văn rút ra một số nhận xét chung và cũng là những bài học kinh nghiệm hữu ích có thể tham khảo đối với Việt Nam như sau:

- Vai trò vị trí của HTX đều được các nước xem trọng nên sớm có luật HTX và nhiều chính sách phù hợp để HTX phát triển, thực hiện các mục tiêu KT-XH của xã viên, xác lập vai trò của HTX đối với khu vực dân cư vốn kém thế lực về kinh tế

Trang 37

- HTX thật sự là một tổ chức tự nguyện của xã viên, đa dạng và phong phú về hình thức do yêu cầu của xã viên và cộng đồng Mục đích của HTX là gắn bó cùng nhau để tạo ra mọi dịch vụ đáp ứng nhu cầu xã viên và hoạt động xã hội vì cộng đồng

- Nhà nước luôn đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ, nuôi dưỡng và phát triển phong trào HTX nhằm vừa phát triển kinh tế vừa góp phần thực hiện các mục tiêu xã hội trên cơ sở pháp lý là không bao cấp và không can thiệp vào công việc của HTX, HTX được bình đẳng với mọi loại hình kinh tế khác

Trang 38

CHƯƠNG 2 : PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Địa bàn nghiên cứu

Để thực hiện luận văn, tác giả lựa chọn điểm nghiên cứu là các HTX có trụ sở làm việc tại các huyện, thành phố trong tỉnh (10 huyện, 01 thành phố) Các HTX được lựa chọn nghiên cứu theo phương pháp chọn ngẫu nhiên cho từng loại hình hoạt động

2.2 Phương pháp thu thập thông tin

- Thông tin thứ cấp (số liệu, tài liệu có sẵn) được thu thập từ các thông tin được

công bố chính thức từ các cơ quan nhà nước, các nghiên cứu của các cá nhân, tổ chức trong và ngoài nước về kinh tế hợp tác và HTX

+ Số liệu thứ cấp là những số liệu liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến vấn đề nghiên cứu của đề tài, chủ yếu là kết quả nghiên cứu và được công bố chính thức

+ Số liệu thứ cấp được thu thập từ các nguồn khác nhau như: các báo cáo của Liên minh HTX Việt Nam; Liên minh HTX tỉnh Hà Giang, các sở ban ngành của tỉnh, các báo cáo của các tổ chức trong và ngoài nước, tài liệu từ các trang web trên Internet, các công trình nghiên cứu và các tài liệu khác có liên quan đến phát triển kinh

tế tập thể, HTX

Nội dung thu thập thông tin thứ cấp được thể hiện trong bảng sau:

Bảng 2.1 Phương pháp thu thập thông tin

Thông tin cần thu thập Mục đích Nguồn thu thập Phương pháp

Sách chuyên khảo, báo cáo của ICA, Internet

Tra cứu tài liệu,

Sách chuyên khảo, Chương trình công tác toàn khoá của Liên minh HTX Việt Nam, Các văn bản chính sách về phát triển kinh tế hợp tác

Tra cứu tài liệu,

kế thừa

Trang 39

xã Đặc điểm tự nhiên Tìm hiểu khái quát

đặc điểm tự nhiên, hiện trạng phát triển kinh tế xã hội của tỉnh Hà Giang

Báo cáo quy hoạch địa chính Hà Giang;

Báo cáo tình hình phát triển kinh tế -

- Báo cáo tình hình phát triển KT-XH xã hội hàng năm

-Báo cáo hàng năm của Liên minh HTX

Hà Giang

Tra cứu tài liệu, kế thừa;

2.3 Phương pháp xử lý số liệu

Trên cơ sở các thông tin, số liệu đã thu thập, tiến hành chọn lọc, hệ thống hóa

để tính toán các chỉ tiêu cần nghiên cứu Sử dụng phương pháp phân tổ thống kê để hệ thống hóa, tổng hợp tài liệu, phân chia theo các nội dung, chỉ tiêu cho phù hợp với việc nghiên cứu về phát triển các loại hình hợp tác xã tại địa bàn nghiên cứu Công cụ sử dụng tính toán trong luận văn là phần mềm máy tính Excel

- Tài liệu thứ cấp: được sắp xếp cho từng nội dung nghiên cứu và phân thành 3 nhóm: i) những tài liệu về lý luận; ii) những tài liệu về tổng quan và thực tiễn nói chung; iii) những tài liệu của các sở, ban, ngành và các huyện, thành phố trên địa bàn tỉnh

- Tài liệu sơ cấp: Mỗi loại mẫu được khảo sát theo bảng hỏi theo yêu cầu nội dung nghiên cứu của đề tài và bổ sung các thông tin thiếu, chưa đầy đủ; số liệu điều tra được xử lý qua phần mềm Excel

- Kiểm tra phiếu điều tra: tiến hành thu thập số liệu tại địa bàn nghiên cứu

- Xây dựng cơ sở dữ liệu và vào số liệu: thực hiện trên phần mềm Excel

2.4 Phương pháp phân tích

- Phương pháp thống kê kinh tế: được sử dụng để phân tích số liệu kết hợp với phương pháp so sánh nhằm làm rõ tình hình biến động của các chỉ tiêu nghiên cứu trong mối quan hệ với các chỉ tiêu khác Cụ thể, qua các chỉ tiêu về số tuyệt đối, số

Trang 40

tương đối, số bình quân, tốc độ phát triển, đưa ra những kết luận về những kết quả, thành tựu đạt được, những tồn tại, khó khăn trong quá trình phát triển của từng loại hình HTX, tác động của việc phát triển các loại hình hợp tác trong vấn đề tạo việc làm, tăng thu nhập cho người lao động, thúc đẩy kinh tế phát triển,…và những vấn đề đặt

ra, trên cơ sở đó đưa ra những giải pháp phù hợp, có căn cứ khoa học

- Phương pháp thống kê mô tả: thông qua số liệu thống kê mô tả tình hình phát triển một số loại hình hợp tác xã ở tỉnh Hà Giang

- Phương pháp so sánh: so sánh kết quả của các thời kỳ, hiệu quả hoạt động của các loại hình HTX

- Phương pháp phân tích SWOT và phương pháp tiếp cận có sự tham gia trong nghiên cứu: Đây là phương pháp nghiên cứu phân tích điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội

và thách thức với sự tham gia phân tích và đánh giá của đội ngũ cán bộ quản lý hợp tác

xã, xã viên và người lao động thông qua quá trình gặp gỡ trao đổi và phỏng vấn Mục tiêu của phương pháp này nhằm đưa ra cách nhìn nhiều chiều từ nhiều đối tượng khác nhau, từ đó có sự so sánh và lựa chọn phân tích đúng trong nghiên cứu

2.5 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu

- Chỉ tiêu phân tích: tình hình phát triển hợp tác xã theo từng loại hình

- Chỉ tiêu số lượng: số lượng hợp tác xã theo từng loại hình biến động tăng,

giảm qua các năm

- Chỉ tiêu chất lượng: được phản ánh thông qua tình hình tổ chức, quản lý, điều hành hoạt động của hợp tác xã, mức độ dân chủ, mức độ đoàn kết, hợp tác và độ tin

cậy của xã viên đối với hợp tác xã, tác động của phát triển hợp tác xã đến đời sống xã

viên, người lao động và hiệu quả hoạt động kinh doanh dịch vụ của hợp tác xã; đánh giá kết qủa sản xuất kinh doanh của các hợp tác xã theo từng loại hình, tham gia các hoạt động phúc lợi, đóng góp vào ngân sách Nhà nước, tác động đến đời sống kinh tế

hộ xã viên

- Các chỉ tiêu bổ trợ: qui mô lao động, số hợp tác xã hoạt động sản xuất kinh doanh có hiệu quả, tình hình hoạt động theo luật, trích quỹ và phân phối lợi nhuận, nhu cầu đào tạo, nhu cầu hỗ trợ …

Ngày đăng: 20/07/2015, 09:18

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1 Phương pháp thu thập thông tin - Phát triển các loại hình hợp tác xã ở tỉnh Hà Giang  Luận văn ThS. Kinh doanh và quản lý
Bảng 2.1 Phương pháp thu thập thông tin (Trang 38)
Bảng 3.3 Số lƣợng HTX trên địa bàn tỉnh Hà Giang (2006-2013) - Phát triển các loại hình hợp tác xã ở tỉnh Hà Giang  Luận văn ThS. Kinh doanh và quản lý
Bảng 3.3 Số lƣợng HTX trên địa bàn tỉnh Hà Giang (2006-2013) (Trang 60)
Bảng 3.4 Số lƣợng HTX theo loại hình tại Hà Giang (2006-2013) - Phát triển các loại hình hợp tác xã ở tỉnh Hà Giang  Luận văn ThS. Kinh doanh và quản lý
Bảng 3.4 Số lƣợng HTX theo loại hình tại Hà Giang (2006-2013) (Trang 61)
Bảng 3.5 Phát triển HTX theo địa bàn - Phát triển các loại hình hợp tác xã ở tỉnh Hà Giang  Luận văn ThS. Kinh doanh và quản lý
Bảng 3.5 Phát triển HTX theo địa bàn (Trang 62)
Bảng 3.6. Chất lƣợng bộ máy hoạt động sản xuất kinh doanh của các HTX - Phát triển các loại hình hợp tác xã ở tỉnh Hà Giang  Luận văn ThS. Kinh doanh và quản lý
Bảng 3.6. Chất lƣợng bộ máy hoạt động sản xuất kinh doanh của các HTX (Trang 64)
Bảng 3.8 Hiệu quả sản xuất kinh doanh của các HTX theo từng lĩnh vực - Phát triển các loại hình hợp tác xã ở tỉnh Hà Giang  Luận văn ThS. Kinh doanh và quản lý
Bảng 3.8 Hiệu quả sản xuất kinh doanh của các HTX theo từng lĩnh vực (Trang 69)
Bảng 4.2 Dự báo cơ cấu sử dụng lao động tỉnh Hà Giang đến 2020 - Phát triển các loại hình hợp tác xã ở tỉnh Hà Giang  Luận văn ThS. Kinh doanh và quản lý
Bảng 4.2 Dự báo cơ cấu sử dụng lao động tỉnh Hà Giang đến 2020 (Trang 85)
Bảng 4.3 Dự báo phát triển kinh tế tập thể trên địa bàn tỉnh Hà Giang - Phát triển các loại hình hợp tác xã ở tỉnh Hà Giang  Luận văn ThS. Kinh doanh và quản lý
Bảng 4.3 Dự báo phát triển kinh tế tập thể trên địa bàn tỉnh Hà Giang (Trang 86)
Bảng 4.4 Tái cấu trúc các loại hình HTX phân theo lĩnh vực kinh tế Giai đoạn - Phát triển các loại hình hợp tác xã ở tỉnh Hà Giang  Luận văn ThS. Kinh doanh và quản lý
Bảng 4.4 Tái cấu trúc các loại hình HTX phân theo lĩnh vực kinh tế Giai đoạn (Trang 99)
Bảng 4.5  Một số tiêu chí về đào tạo nguồn nhân lực đối với HTX giai đoạn 2012 - - Phát triển các loại hình hợp tác xã ở tỉnh Hà Giang  Luận văn ThS. Kinh doanh và quản lý
Bảng 4.5 Một số tiêu chí về đào tạo nguồn nhân lực đối với HTX giai đoạn 2012 - (Trang 100)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w