Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX, trong Báo cáo chính trị có đoạn viết về giáo dục: “Phát huy tinh thần độc lập suy nghĩ và sáng tạo của học sinh, sinh viên, đề cao năng lực tự học, tự
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
NGUYỄN TRUNG CHÁNH
MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN XÃ HỘI HỌC TẬP
Ở TỈNH TIỀN GIANG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
NGUYỄN TRUNG CHÁNH
MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN XÃ HỘI HỌC TẬP
Chuyên ngành: Quản lý giáo dục
Mã số: 60.14.01.14
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Ngô Đình Phương
Nghệ An, năm 2014
Trang 3Lời cảm ơn
Sau một thời gian học tập, nghiên cứu với sự nổ lực, cố gắng của bản thân và
sự chỉ bảo tận tình của quý thầy, cô giáo và các nhà quản lý giáo dục Với tình cảm kính trọng và chân thành, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến quý thầy trong Ban giám hiệu nhà trường; quý thầy, cô ở Phòng đào tạo sau Đại học của trường Đại học Vinh và quý thầy cô giáo trực tiếp giảng dạy, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập Đặc biệt là cảm ơn thầy PGS TS Ngô Đình Phương đã trực tiếp hướng dẫn khoa học cho tôi
Và tôi cũng xin cảm ơn Sở GD&ĐT, Hội Khuyến học tỉnh Tiền Giang, Trường Đại học Tiền Giang, Cục Thống kê, TTGDTX, TTGDTX-HN các huyện, TTHTCĐ các xã phường, thị trấn trong tỉnh và các đơn vị có liên quan trong quá trình nghiên cứu
Cám ơn các anh, chị trong lớp Cao học Quản lý Giáo dục khóa 20, các đồng nghiệp đã giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành luận văn
Trong quá trình nghiên cứu, viết luận văn, bản thân đã cố gắng hết sức nhưng chắc chắn sẽ không tránh khỏi thiếu sót Kính mong nhận được sự góp ý, chỉ dẫn của quý thầy cô giáo, quý đồng nghiệp cùng các cơ quan, đơn vị
Xin trân trọng cảm ơn
Vinh, tháng 5 năm 2014
Tác giả
NGUYỄN TRUNG CHÁNH
Trang 4MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 7
1 Lý do chọn đề tài 7
2 Mục đích nghiên cứu 10
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 11
4 Giả thuyết khoa học 11
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 11
6 Phương pháp nghiên cứu 11
7 Cấu trúc của luận văn 11
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ XÂY DỰNG XÃ HỘI HỌC TẬP 12
1.1 Khái quát lịch sử nghiên cứu vấn đề 12
1.1.1 Các nghiên cứu ở nước ngoài 12
1.1.2 Các nghiên cứu ở Việt Nam 13
1.2 Các khái niệm cơ bản của đề tài 15
1.2.1 Khái niệm XHHT 15
1.2.2 Xã hội hoá và xã hội hoá giáo dục 17
1.2.3 Phát triển 20
1.2.4 Phát triển XHHT 20
1.2.5 Giải pháp và giải pháp phát triển xã hội học tập 20
1.3 Quan điểm của Đảng, Nhà nước và Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng XHHT 23
1.3.1 Quan điểm của Đảng và Nhà nước về xây dựng XHHT 23
1.3.2 Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng XHHT 25
Kết luận Chương 1 26
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN XÃ HỘI HỌC TẬP Ở TỈNH TIỀN GIANG 28
2.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên, KT-XH và tình hình giáo dục của tỉnh Tiền Giang 28
2.1.1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên tỉnh Tiền Giang 28
2.1.2 Tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Tiền Giang 29
2.1.3 Khái quát về GD-ĐT tỉnh Tiền Giang 29
2.2 Thực trạng công tác XHHT ở tỉnh Tiền Giang 37
2.2.1 Tình hình xây dựng XHHT ở tỉnh Tiền Giang 37
2.2.2 Vấn đề xây dựng mô hình XHHTở tỉnh Tiền Giang 37
2.2.3 Thực trạng hệ thống trường, lớp trong giáo dục ban đầu (giáo dục chính quy) 38
2.2.4 Thực trạng trường, lớp GDTX (giáo dục không chính quy) 42
2.3 Thực trạng phát triển XHHT ở tỉnh Tiền Giang 47
2.4 Đánh giá chung về thực trạng phát triển XHHT ở tỉnh Tiền Giang 55
Trang 52.4.2 Nguyên nhân của những thành tựu 55
2.4.3 Những tồn tại hạn chế 56
2.4.4 Nguyên nhân về những tồn tại, hạn chế 57
Kết luận Chương 2 58
CHƯƠNG 3 CÁC GIẢI PHÁP GÓP PHẦN PHÁT TRIỂN XÃ HỘI HỌC TẬPỞ TỈNH TIỀN GIANG 60
3.1 Những nguyên tắc đề xuất các giải pháp 60
3.1.1 Bảo đảm tính mục tiêu 60
3.1.2 Bảo đảm tính toàn diện 60
3.1.3 Bảo đảm tính khả thi 60
3.1.4 Bảo đảm phù hợp với các chức năng quản lý giáo dục 60
3.2 Các giải pháp góp phần phát triển XHHT ở tỉnh Tiền Giang 60
3.2.1 Đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng, quản lý - điều hành của nhà nước đối với việc phát triển XHHT 60
3.2.2 Nâng cao nhận thức của cán bộ quản lý và nhân dân về tầm quan trọng của phát triển XHHT 63
3.2.3 Tổ chức huy động toàn xã hội cùng chăm lo phát triển giáo dục 65
3.2.4 Đa dạng hóa các hình thức và phương tiện học tập 68
3.2.5 Xây dựng và đẩy mạnh hoạt động của các TTHTCĐ nhằm kết hợp tốt với Trung tâm GDTX, trường trung cấp KTKT, trường nghề 72
3.2.6 Xây dựng gia đình hiếu học, dòng họ khuyến học, khóm ấp khuyến học 76
3.3 Khảo sát sự cần thiết và khả thi của các giải pháp đề xuất 80
3.3.1 Khảo sát nhận thức về các giải pháp xây dựng XHHT ở tỉnh Tiền Giang 80
3.3.2 Khảo sát về tầm quan trọng của 6 nhóm giải pháp xây dựng XHHT nếu được áp dụng ở tỉnh Tiền Giang 81
3.3.2 Kết quả thăm dò tính khả thi của 5 nhóm giải pháp xây dựng XHHT nếu được áp dụng ở tỉnh Tiền Giang 82
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 83
1 Kết luận 84
2 Kiến nghị 84
CÁC PHỤ LỤC 87
Trang 6GD & ĐT : Giáo dục và Đào tạo
TTGDTX-HN : Trung tâm giáo dục thường xuyên-hướng nghiệp
XMC - PCGD : Xóa mù chữ - Phổ cập giáo dục
Trang 7PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Về mặt lý luận:
Bước sang thế kỷ XXI, với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học - công nghệ
và đòi hỏi của xã hội tri thức, xây dựng xã hội học tập là xu thế phát triển của nhân loại đang trở thành mối quan tâm hàng đầu của nhiều quốc gia.Việc xây dựng xã hội học tập có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, vừa là mục tiêu, động lực và giải pháp để phát triển giáo dục – đào tạo bền vững, tiến tới một xã hội văn minh, tiến bộ Trong bối cảnh hội nhập, toàn cầu hóa và phát triển kinh tế tri thức, học không chỉ tiếp nhận tri thức, kỹ năng để tìm kiếm việc làm mà còn để phát triển năng lực con người, thỏa mãn nhu cầu cuộc sống của cá nhân, phù hợp với trụ cột của giáo dục thế
kỷ 21 “học để học cách học, học để làm, học để chung sống, học để khẳng định mình” Xây dựng cả nước trở thành một xã hội học tập là một chủ trương quan trọng, một cuộc vận động cách mạng to lớn, của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta, vừa có tính cấp bách, vừa cơ bản, lâu dài phù hợp với xu thế của thời đại khi giáo dục - đào tạo đã trở thành yếu tố quyết định tương lai của mỗi dân tộc, quốc sách hàng đầu của mỗi quốc gia Xã hội học tập là điều kiện để phát huy nguồn lực con người - yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững Xã hội học tập sẽ tạo thế và lực nội sinh phát triển kinh tế tri thức và hội nhập quốc tế trong quá trình thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá, đẩy mạnh sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước Trong xã hội tri thức, những điều vừa học được có nguy cơ lạc hậu, cần phải được bổ sung Từ đó xuất hiện khái niệm Học suốt đời Nền kinh tế tri thức bắt buộc mọi người phải có kiến thức đáp ứng được nhu cầu của nó, nên ai cũng phải học, do vậy khái niệm xã hội học tập ra đời thay cho khái niệm xã hội công nghiệp Trong xã hội học tập, không phải ai cũng được đến trường, người học trở thành người tự học Năng lực học tập, lòng ham hiểu biết trở thành kho báu nội tại của mỗi con người trong xã hội mới
Hiến pháp Nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 (được sửa đổi,
bổ sung một số điều năm 2001) tại điều 35 đã chỉ rõ: “Phát triển giáo dục là quốc sách
hàng đầu” Luật Giáo dục Việt Nam năm 2005 cũng đã khẳng định: “Phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài” Hiến pháp Nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013
một lần nữa khẳng định "Phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu nhằm nâng cao
dân trí, phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài"
Trong những năm qua, ngành GD&ĐT cả nước đã có những bước phát triển mới, đạt được nhiều kết quả đáng khích lệ trong việc mở rộng quy mô, tăng cơ hội tiếp
Trang 8Tuy vậy, trước những yêu cầu tăng về quy mô, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo nguồn nhân lực theo yêu cầu đổi mới và hội nhập, việc xây dựng xã hội học tập là vấn đề bức bách cần sự quan tâm đầu tư của Đảng và Nhà nước, xã hội và của ngành giáo dục
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX, trong Báo cáo chính trị có đoạn viết về
giáo dục: “Phát huy tinh thần độc lập suy nghĩ và sáng tạo của học sinh, sinh viên,
đề cao năng lực tự học, tự hoàn thiện học vấn và tay nghề”; “đẩy mạnh phong trào học tập trong nhân dân bằng những hình thức giáo dục chính quy và không chính quy, thực hiện giáo dục cho mọi người”; “cả nước trở thành một xã hội học tập”
Tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X, một lần nữa Trung ương Đảng
nhấn mạnh quan điểm của Đảng về xã hội học tập như sau: “chuyển dần mô hình
giáo dục hiện nay sang mô hình giáo dục mở - mô hình xã hội học tập với hệ thống giáo dục suốt đời, đào tạo liên tục, liên thông giữa các bậc học, ngành học; xây dựng và phát triển hệ thống học tập cho mọi người và những hình thức học tập, thực hành linh hoạt, đáp ứng nhu cầu học tập thường xuyên, tạo nhiều khả năng, cơ hội học tập khác nhau cho người học bảo đảm sự cộng bằng xã hội trong giáo dục”
Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng tiếp tục khẳng định:
“Hoàn thiện cơ chế, chính sách xã hội hoá giáo dục, đào tạo trên cả ba phương diện: động viên các nguồn lực trong xã hội; phát huy vai trò giám sát của cộng đồng; khuyến khích các hoạt động khuyến học, khuyến tài, xây dựng xã hội học tập, tạo điều kiện để người dân được học tập suốt đời.”
Quyết định số 112/2005/QĐ-TTg ngày 18 tháng 5 năm 2005 của Thủ tướng
chính phủ phê duyệt Đề án xây dựng xã hội học tập giai đoạn 2005 - 2010đã xác định:
"Xây dựng cả nước trở thành một xã hội học tập với tiêu chí cơ bản là tạo cơ hội và điều kiện thuận lợi để mọi người ở mọi lứa tuổi, mọi trình độ được học tập thường xuyên, học liên tục, học suốt đời ở mọi nơi, mọi lúc, mọi cấp, mọi trình độ; huy động sức mạnh tổng hợp của toàn xã hội tham gia xây dựng và phát triển giáo dục"
Quyết định số 89/QĐ-TTg ngày 09 tháng 01 năm 2013 của Thủ tướng chính phủ phê duyệt Đề án Xây dựng xã hội học tập giai đoạn 2012 - 2020 nhấn mạnh: “Trong
xã hội học tập, mọi cá nhân có trách nhiệm học tập thường xuyên, suốt đời, tận dụng mọi cơ hội học tập để làm người công dân tốt; có nghề, lao động với hiệu quả ngày càng cao; học cho bản thân và những người xung quanh hạnh phúc; học để góp phần phát triển quê hương, đất nước và nhân loại Các cơ quan nhà nước, các tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân, cộng đồng dân cư và gia đình
có trách nhiệm cung ứng các cơ hội học tập và tạo điều kiện thuận lợi để mọi người được học tập suốt đời Xây dựng xã hội học tập dựa trên nền tảng phát triển đồng
Trang 9động học tập suốt đời ở ngoài nhà trường; ưu tiên các đối tượng chính sách, người dân tộc, phụ nữ, người bị thiệt thòi”
Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Tiền Giang lần thứ IX nhiệm kỳ 2010
– 2015 đã khẳng định: “Đổi mới, phát triển mạnh mẽ GD&ĐT, khoa học và công
nghệ, chủ động bảo vệ môi trường, hạn chế tác hại của biến đổi khí hậu, xây dựng
xã hội học tập, tạo điều kiện để người dân được học tập suốt đời”
1.2 Về mặt thực tiễn:
Hiện nay, nâng cao dân trí là một yêu cầu bức thiết mang một ý nghĩa chiến lược về phát triển nhân tố con người trong sự nghiệp CNH, HĐH đất nước, nhất là trong điều kiện khoa học - công nghệ đang trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp và công cuộc công nghiệp hóa đang chuyển dần qua nền kinh tế tri thức mà cốt lõi là đội ngũ công nhân trí thức có trình độ chuyên môn cao Lịch sử phát triển của nhiều nước trên thế giới đã cho chúng ta thấy rằng, tất cả các nước có nền kinh tế hùng mạnh, có khoa học - công nghệ phát triển đều là những nước có nền giáo dục - đào tạo tiên tiến, luôn xem phát triển sự nghiệp giáo dục - đào tạo là nhiệm vụ chiến lược hàng đầu của quốc gia mình Giáo dục - đào tạo và phát triển kinh tế - xã hội ngày càng gắn bó chặt chẽ với nhau, giáo dục - đào tạo cũng đồng thời gắn bó hữu
cơ với khoa học - công nghệ Chính điều đó đã đặt giáo dục đứng ở vị trí trung tâm của sự phát triển Giáo dục có sứ mạng giúp mọi người phát huy tất cả tài năng và tiềm lực sáng tạo của mình Để thực hiện được sứ mạng đó, việc xây dựng xã hội học tập trở thành xu thế tất yếu của các nước trên thế giới trước yêu cầu mới của thời đại Đặc biệt đối với Việt Nam sau khi trở thành thành viên chính thức của WTO
Tại tỉnh Tiền Giang, nền kinh tế chủ yếu là nông nghiệp, vì vậy, cùng một lúc chúng ta vừa phải chuyển đổi sang nền kinh tế công nghiệp vừa chuyển một số lĩnh vực sang kinh tế tri thức Do đó, mô hình xã hội học tập chắc chắn phải có cấu trúc, cơ chế, giải pháp quản lý và vận hành khác với các địa phương trong cả nước Song, phương châm học suốt đời; đào tạo liên tục; GDTX phải là bất di bất dịch của
mô hình xã hội học tập ở bất kỳ không gian nào, thời gian nào
Trong những năm gần đây, GD&ĐT tỉnh Tiền Giang đã có những bước phát triển
cả về quy mô và chất lượng, góp phần nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương Tuy nhiên, trước sự phát triển như vũ bão của công nghệ thông tin, của nền kinh tế tri thức, của xu thế hội nhập và toàn cầu hóa và yêu cầu đổi mới căn bản toàn diện Giáo dục Việt Nam trong thời kỳ CNH, HĐH thì GD&ĐT tỉnh Tiền Giang nói riêng và vấn đề xây dựng mô hình xã hội học tập ở Tiền Giang nói chung bộc lộ nhiều hạn chế Những tiêu chí cơ
Trang 10được học tập thường xuyên, học liên tục, học suốt đời ở mọi nơi, mọi lúc, mọi cấp, mọi trình độ đã được ngành GD&ĐT, Hội Khuyến học cùng với các địa phương trong tỉnh, các tổ chức, đoàn thể nhân dân và cơ quan thông tin xây dựng và đẩy mạnh công tác tuyên truyền vận động, khuyến học khuyến tài, tổng thể chung nhận thức của người dân về xây dựng xã hội học tập là tốt nhưng bước chuyển từ nhận thức đến hành động vẫn còn khoảng cách
Bên cạnh đó, nền tảng phát triển đồng thời của hai bộ phận cấu thành mô hình
xã hội học tập: giáo dục chính quy và GDTX của hệ thống giáo dục quốc dân trong
đó GDTX thực hiện các chương trình học tập nhằm tạo các điều kiện tốt nhất đáp ứng mọi yêu cầu học tập suốt đời, học tập liên tục của mọi công dân chưa có sự gắn kết, liên thông làm tiền đề để xây dựng xã hội học tập
Vấn đề xây dựng xã hội học tập ở Tiền Giang là một vấn đề có ý nghĩa quyết định và cấp bách đối với đòi hỏi CNH, HĐH của đất nước và của tỉnh Tiền Giang Đây là một vấn đề lớn, phức tạp đòi hỏi phải có công trình nghiên cứu khoa học với phương pháp tiếp cận hệ thống trên cơ sở phân tích thực trạng và định hướng xây dựng mô hình xã hội học tập ở tỉnh Tiền Giang Trên cơ sở hệ thống giáo dục mở, từ
đó sẽ khắc phục dần sự phân biệt truyền thống giữa giáo dục ban đầu với GDTX, khắc phục quan niệm cổ truyền về tuổi đi học và tuổi lao động trong đời người, khắc phục cách hiểu cứng nhắc và tạo ra một hàng rào phân cách giữa giáo dục hàn lâm
và giáo dục nghề nghiệp
Bên cạnh đó, các công trình nghiên cứu về vấn đề này chưa nhiều và chưa có những nghiên cứu sâu về giải pháp phát triển xã hội học tập ở tỉnh Tiền Giang Các hoạt động xây dựng xã hội học tập ở tỉnh Tiền Giang trong những năm qua tuy được quan tâm, nhưng trong triển khai thực hiện gặp nhiều khó khăn do đây là vấn đề vừa mới, vừa khó và hiệu quả mang lại chưa cao, mặt bằng dân trí dù được cải thiện nhưng vẫn còn ở mức thấp Trong những năm gần đây chỉ có duy nhất một công trình nghiên cứu về mô hình xã hội học tập tại tỉnh Tiền Giang, đó là: Đề tài khoa học cấp tỉnh “Xây dựng mô hình xã hội học tập giai đoạn 2006 – 2015” của Hội khuyến học tỉnh Tiền Giang
Xuất phát từ những lý do nêu trên chúng tôi chọn đề tài luận văn “Một số giải
pháp phát triển xã hội học tập ở tỉnh Tiền Giang với mong muốn thông qua việc
định hướng phát triển mô hình về xã hội học tập trên địa bàn Tiền Giang sẽ có điều kiện để tuyên truyền sâu rộng trong nhân dân về ý thức học tập, học suốt đời, qua đó huy động mọi nguồn lực hình thành và xây dựng xã hội học tập
2 Mục đích nghiên cứu
Trang 11Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn, luận văn đề xuất một số giải pháp phát triển xã hội học tập ở tỉnh Tiền Giang nhằm đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản
và toàn diện GD&ĐT
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu: Công tác phát triển xã hội học tập
3.2 Đối tượng nghiên cứu: Giải pháp phát triển xã hội học tập ở tỉnh Tiền Giang
4 Giả thuyết khoa học
Có thể phát triển xã hội học tập ở tỉnh Tiền Giang cả về quy mô và chất lượng, góp phần nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương nếu đề xuất được các giải pháp có cơ sở khoa học và có tính khả thi
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận của đề tài
5.2.Nghiên cứu cơ sở thực tiễn của đề tài
5.3 Đề xuất các giải pháp phát triển xã hội học tập ở tỉnh Tiền Giang
6 Phương pháp nghiên cứu
6.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận:
Nhóm phương pháp này nhằm thu thập các thông tin lý luận để xây dựng cơ
sở lý luận của đề tài Thuộc nhóm các phương pháp nghiên cứu lý luận có các phương pháp nghiên cứu cụ thể sau đây:
6.1.1 Phương pháp phân tích – tổng hợp tài liệu;
6.1.2 Phương pháp khái quát hóa các nhận định độc lập;
6.2 Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Nhóm phương pháp này nhằm thu thập các các thông tin thực tiễn để xây dựng cơ sở thực tiễn của đề tài Thuộc nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn có các phương pháp nghiên cứu cụ thể sau đây:
6.2.1 Phương pháp điều tra;
6.2.2 Phương pháp tổng kết kinh nghiệm giáo dục;
6.2.3 Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia;
6.2.4 Phương pháp thống kê toán học
7 Cấu trúc của luận văn
7.1 Phần mở đầu: Nêu lý do chọn đề tài và cấu trúc luận văn
7.2 Nội dung nghiên cứu: Dự kiến có 3 chương
Chương 1: Cơ sở lý luận của vấn đề phát triển xã hội học tập
Chương 2: Vấn đề phát triển xã hội học tập ở tỉnh Tiền Giang
Chương 3: Một số giải pháp phát triển xã hội học tập ở tỉnh Tiền Giang
Trang 12CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ XÂY DỰNG XÃ HỘI HỌC TẬP 1.1 Khái quát lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1 Các nghiên cứu ở nước ngoài
Xây dựng XHHT đã trở thành một trào lưu của thế giới khi bước vào thế kỷ XXI Trong kế hoạch phát triển giáo dục của nhiều nước như Mỹ, Canada, Nga, Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc… đều coi XHHT như “mô hình của giáo dục trong một xã hội đang thay đổi” Singapore đề ra: “Nhà trường tư duy, quốc gia học tập” Mục tiêu giáo dục của Thái Lan trong kỷ nguyên toàn cầu hoá là xây dựng XHHT… Đài Loan cũng đưa ra chính sách “Tiến tới xây dựng XHHT”, công bố năm 1998 là “năm học tập suốt đời cho mọi người”
Thật ra, vấn đề xây dựng XHHT trên thế giới bắt đầu được nghiên cứu từ những thập niên 60 của thế kỷ trước Đônanson là người đầu tiên đã đưa ra ý tưởng cho rằng, xã hội trong tương lai sẽ có nhiều biến đổi rất nhanh chóng, do đó nhu cầu học tập sẽ tăng lên hơn nhiều Con người cần phải học để hiểu, để tác động, để điều hành các biến đổi đó Năng lực học tập phải trở thành một thuộc tính bản chất của mỗi người, ai cũng phải biết học suốt đời một cách thành thục Từ đó theo Đônanson, các công ty, các phong trào xã hội và chính quyền đều phải là các “hệ thống học tập”
Năm 1972, Etga Phô viết cuốn “Học để tồn tại” Trong cuốn sách này, tác giả đã nhấn mạnh “nếu học tập là việc động chạm đến suốt đời của con người, cả theo nghĩa thời gian, cả theo nghĩa đa dạng và đối với mọi người trong xã hội, kể cả các nguồn lực xã hội, kinh tế và giáo dục, khi đó chúng ta phải đi xa hơn việc tháo
dỡ tất cả các hệ thống giáo dục cho đến lúc nào đạt được tình trạng của một XHHT”
Trong một cuốn sách công bố năm 1968 Rôbớt Hútchin cũng đã khẳng định
sự cần thiết tiến tới một “XHHT” với hai lí do “là người ta có nhiều thời gian nghỉ ngơi hơn và thế giới biến đổi nhanh hơn”
Giắc Đơlô, trong công trình nghiên cứu: “Học tập một kho báu tiềm ẩn” đã
đi sâu vào vấn đề “Học tập suốt đời” và gắn bó với quan niệm: “XHHT là xã hội ở
đó mọi sự đều là cơ hội học tập và phát triển mọi khả năng”
Ông cho rằng, nguyên tắc “Học tập suốt đời” đòi hỏi biết cách nắm được vững tri thức ngoài nhà trường hoặc ở nơi làm việc cũng như ở ngoài xã hội, trong suốt cuộc đời Do đó, cần phải kết hợp giáo dục chính quy ở nhà trường với giáo dục không chính quy ở ngoài nhà trường, giáo dục trong XHHT cần phải có những đặc điểm sau đây:
- Đó là một nền giáo dục thể hiện được tính mềm dẻo, đa dạng và khả thi
Trang 13liên tục về sự hình thành con người toàn diện, cả về tri thức và cả những khả năng của họ (khả năng phán đoán trong tư duy và khả năng hành động trong đời sống hằng ngày)
- Đó là một nền giáo dục tạo ra được những cơ hội học tập cho mỗi một con người và mỗi cộng đồng có nhu cầu nắm bắt thông tin và tri thức, làm chủ được các công nghệ mới
- Đó là nền giáo dục coi trọng giáo dục cơ sở, tận lực phát triển giáo dục trung học và đại chúng hoá giáo dục đại học
Phong trào Giáo dục cho mọi người ra đời và bắt đầu phát triển mạnh mẽ từ năm 1990, khi các đại biểu tham dự Diễn đàn Thế giới Giáo dục cho mọi người ở Jomtien, Thái Lan cùng nhau cam kết cung cấp Giáo dục tiểu học có chất lượng cho tất cả trẻ em và giảm một cách đáng kể tỷ lệ mù chữ của người lớn vào cuối thập kỷ Đến tháng 4/2000, tại Diễn đàn Giáo dục Quốc tế ở Dakar, Xênêgan, hơn 1100 đại biểu bao gồm các nhà lãnh đạo, nhà quản lư giáo dục, các giáo viên, nhà nghiên cứu… đến từ 164 quốc gia, trong đó có Việt Nam đã cùng nhau tổng kết lại những tiến bộ đã đạt được kể từ sau Diễn đàn ở Jomtien, đồng thời khẳng định một lần nữa tầm nhìn về Giáo dục cho mọi người đến năm 2015 Các mục tiêu đề ra tại Diễn đàn Dakar gồm 6 nhóm chính:
- Mở rộng chăm sóc và giáo dục mầm non;
- Hoàn thành phổ cập giáo dục tiểu học đến năm 2015;
- Tăng cường hiểu biết và kỹ năng sống cho thanh niên và người lớn;
- Đạt mức 50% tỷ lệ biết đọc, biết viết của người lớn vào năm 2015;
- Đạt cân bằng giới vào năm 2005 và bình đẳng giới vào năm 2015;
- Cải thiện chất lượng giáo dục
Sau đó 3 tháng, tại hội nghị G8, họp ở Ôkinawa, Nhật Bản, tháng 7/2000, nguyên thủ của các nước này đã cho rằng: “Sự thách thức đối với mỗi nước là phải trở thành một XHHT và phải đảm bảo cho công dân của mình được trang bị kiến thức, kỹ năng và tay nghề cho thế kỷ mới” Tại Hội nghị của UNESCO họp ở Giơnevơ tháng 12/2003 đã gắn XHHT với xã hội thông tin, xã hội tri thức Từ đó các đại biểu dự hội nghị đã đi tới thống nhất XHHT, xã hội tri thức, xã hội thông tin đều đặt ra con người vào vị trí trung tâm, đều tập trung vào con người, tạo điều kiện cho con người phát triển bền vững và là điều kiện của mọi sự phát triển của kinh tế
xã hội
1.1.2 Các nghiên cứu ở Việt Nam
Cũng như các quốc gia khác, Việt Nam đã có nhiều nỗ lực nhằm hướng tới
Trang 14tựu sau: Giáo dục mầm non đã có những chuyển hướng quan trọng trong việc hình thành mạng lưới giáo dục mầm non trong cả nước trên tinh thần Quyết định 161/QĐ-TTg ngày 15/11/2002 của Thủ tướng Chính phủ Đề án phát triển Giáo dục cho mọi người giai đoạn 2006 - 2015 để thực hiện Quyết định 161QĐ-TTg đã được Chính phủ thông qua tại phiên họp tháng 11/2005 Về giáo dục tiểu học, đã có 45 tỉnh, thành đạt chuẩn phổ cập tiểu học đúng độ tuổi đạt 71,43% số tỉnh, thành của cả nước; Về giáo dục trung học cơ sở, đã có 46 tỉnh, thành đạt chuẩn phổ cập trung học
cơ sở đạt 73,02% số tỉnh, thành của cả nước; Hiện nay nhiều tỉnh, thành đang phấn đấu đạt chuẩn phổ cập giáo dục trung học Năm học qua tổng số học sinh được giáo dục-đào tạo chính quy trên cả nước là 24.114.850 người, giáo dục-đào tạo không chính quy là 11.217.949 người và giáo dục dành cho trẻ có hoàn cảnh đặc biệt ( khuyết tật, mồ côi, cơ nhỡ…) là 36.200 người Như vậy, tổng số người học năm học qua của cả nước là 35.368.999 người chiếm gần 2/5 dân số cả nước; 3/5 dân số còn lại được bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng qua mạng lưới trên 9000 TTHTCĐ được phân bố rộng khắp ở các xã, phường trong cả nước cho thấy Việt Nam đã có nhiều
nỗ lực thực hiện các mục tiêu Giáo dục cho mọi người hướng tới XHHT
Tuy nhiên, nhiệm vụ còn lại cũng rất nặng nề, muốn thực hiện được các mục tiêu đã đề ra trong Kế hoạch hành động quốc gia Giáo dục cho mọi người cần có sự phối hợp tích cực của các Bộ, Ban, Ngành ở Trung ương và sự quyết tâm thực hiện của các địa phương
Nghiên cứu về vấn đề xây dựng xã hội học tập ở Việt Nam, từ sau Đại hội
IX của Đảng đã xuất hiện hàng loạt bài báo của các tác giả Vũ Oanh, Phạm Minh Hạc, Phạm Tất Dong, Nguyễn Minh Đường, Thái Xuân Đào, Nguyễn Như Ất, Nguyễn Viết Sự, Nguyễn Xuân Đường, Phan Đức Thành, Nguyễn Mạnh Cầm… bàn
về vấn đề XHHT và xây dựng XHHT
Các bài báo này đã đề cập tới những nội dung chủ yếu sau đây :
- Vị trí, chức năng và sự cần thiết phải xây dựng XHHT ở Việt Nam đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp CNH, HĐH đất nước
- Quan niệm về XHHT, từ các phương diện tiếp cận khác nhau
- Định hướng phát triển, phương châm, mô hình, lộ trình xây dựng XHHT ở nước ta
- Các giải pháp và một số bài học kinh nghiệm về xây dựng XHHT
- Sự khẳng định Trung tâm học tập cộng đồng là hạt nhân, là đơn vị tổ chức học tập của XHHT
- Hội Khuyến học làm nồng cốt liên kết các lực lượng xây dựng XHHT… Các công trình nghiên cứu trên đây là những nét phác thảo ban đầu về
Trang 15Ngoài ra, còn có một số luận văn thạc sĩ nghiên cứu về xây dựng XHHT ở các địa phương Các nghiên cứu trong một số luận văn trên đã đề cập đến thực trạng nhận thức về XHHT và đề xuất các giải pháp xây dựng XHHT ở các địa phương
Riêng ở tỉnh Tiền Giang, ngoài những văn bản có tính chất chủ trương, đường lối của Tỉnh uỷ, Uỷ ban Nhân dân tỉnh, Sở GD&ĐT…, thì những năm gần đây hầu như chỉ có duy nhất một công trình nghiên cứu về mô hình xã hội học tập tại tỉnh Tiền Giang đó là: Đề tài khoa học cấp tỉnh “Xây dựng mô hình xã hội học tập giai đoạn 2006 – 2015” của Hội khuyến học tỉnh Tiền Giang Ngoài ra chưa có tác giả nào đi sâu nghiên cứu vấn đề này
1.2 Các khái niệm cơ bản của đề tài
1.2.1 Khái niệm XHHT
Khái niệm XHHT lần đầu tiên xuất hiện trong bản báo cáo: “Học để làm người” trình UNESCO năm 1975 của “Hội đồng Quốc tế về phát triển giáo dục” do ông Edgare Fause, nguyên Thủ tướng, Bộ trưởng Bộ Giáo dục Pháp, làm chủ tịch trình bày Trong bản báo cáo này, Hội đồng cho rằng, hướng về tương lai thay cho các cuộc cải cách “từng mảng” này cần phải tư duy lại và tập trung vào hai khái niệm gắn bó với nhau là “GDTX” và “XHHT”
Bước vào thế kỷ XXI, xây dựng XHHT đã trở thành một trào lưu của thế giới Tổ chức các nước trong Hội đồng kinh tế Châu Á-Thái Bình Dương (APEC) họp tháng 4/2000, Hội nghị thượng đỉnh G8 họp tháng 7/2000, đều có lời kêu gọi các nước xây dựng XHHT trên quan điểm học tập suốt đời, đảm bảo cho công dân của mình được trang bị kiến thức, kỹ năng và tay nghề cần cho thế kỷ mới
Theo các quan chức của UNESCO, XHHT có những đặc trưng nổi bật :
- Mọi người đều được học tập, học thường xuyên, học suốt đời
- Toàn bộ môi trường xung quanh đều có thể tạo ra cơ hội học tập và phát huy tài năng của mỗi người
- Con người được tiếp nhận trình độ giáo dục cơ bản để học tập và tự hoàn thiện
- Nhà trường mang lại cho mọi người lòng mong muốn và sự hào hứng được học tập, với năng lực “học cách học” và với sự tò mò trí tuệ
- Mỗi cá nhân đều có thể lần lượt làm người dạy và làm người học
- Xã hội dựa trên thành tựu, cập nhật và ứng dụng tri thức
- Người học trở thành những nhà nghiên cứu, còn người dạy, dạy cho người học cách đánh giá và quản lý những thông tin mà họ được cung cấp…
Còn theo Risac Etoa, XHHT có những đặc trưng sau đây :
Trang 16- XHHT là một xã hội có học, một xã hội đảm bảo mọi người đều tự tạo cho mình khả năng tự học và tự học suốt đời; nhu cầu học tập, động cơ học tập là nội lực quan trọng
- XHHT là một thị trường học tập, tạo cho mọi người có khả năng cạnh tranh trí tuệ, một thị trường tạo cơ hội học tập, cập nhật kỹ năng và trình độ của từng người với tư cách là người lao động
- XHHT tạo ra cho người học có phương pháp tiếp cận học tập đối với cuộc sống, tác động vào cách nghĩ, cách nhìn và lối sống thực tiễn của từng người, coi đây
là điều kiện cần thiết cho cuộc sống của con người trong thời kỳ đầy biến động, đầy ngẫu nhiên và cũng là thời đại của hợp tác, giao lưu và phát triển
- XHHT gắn liền với ý tưởng xã hội hoá giáo dục - mọi người làm giáo dục
và giáo dục cho mọi người
Ở Việt Nam, thuật ngữ XHHT lần đầu tiên xuất hiện trong Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX: "đẩy mạnh phong trào học tập trong nhân dân bằng những hình thức giáo dục chính quy và không chính quy, thực hiện giáo dục cho mọi người, cả nước trở thành một xã hội học tập"
Khái niệm này lại được đề cập trong Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 BCHTW khoá IX: “Phát triển quy mô giáo dục cả đại trà và mũi nhọn , phát triển giáo dục không chính quy, các hình thức học tập cộng đồng ở các xã, phường gắn với nhu cầu thực tế của đời sống kinh tế - xã hội, tạo điều kiện thuận lợi cho mọi người có thể học tập suốt đời, hướng tới xã hội học tập"
Văn kiện Đại hội đại biểu lần thứ X của Đảng tiếp tục khẳng định “Xây
dựng nền giáo dục của dân, do dân, vì dân, ðảm bảo công bằng về cõ hội học tập cho mọi ngýời tạo ðiều kiện ðể toàn xã hội học tập và học tập suốt đời"
Theo tác giả Phạm Minh Hạc, “XHHT là một xã hội mọi người đều lấy học tập làm một công việc thường xuyên, suốt đời, học trong nhà trường và ngoài nhà trường, chính quy và không chính quy, như là một phần không thể thiếu được của đời mình, lấy học tập làm phương pháp tiếp cận (cách nhìn, cách xử lý) của cuộc sống nhằm phát triển con người bền vững - động lực cho toàn bộ sự tiến bộ xă hội”
Tác giả Phạm Tất Dong đưa ra quan điểm: “Trong xã hội học tập, mỗi con người phải được GDTX, đào tạo liên tục, học tập suốt đời, lấy sự học hỏi làm lẽ sống của mình Mỗi người đều có cơ hội học tập, học ở trường, học tập trong đời sống kinh tế, xã hội, văn hóa, do đó, hệ thống giáo dục không chỉ bó hẹp trong các hình thức học ngoài nhà trường Đó là hệ thống giáo dục mềm dẻo, tạo ra sự đa dạng của các ngành học, của các hình thức học về các kênh liên thông giữa các hình thức giáo dục khác
Trang 17Theo tác giả Đoàn Minh Tuấn, hiểu nột cách đơn giản: “Xã hội học tập là
một xã hội mà ở đó việc học tập trở thành một nhu cầu tự nhiên và trở thành nếp
cảm, nếp nghĩ của cộng đồng dân cư trong xã hội”
Tác giả Nguyễn Như Ất quan niệm: “vấn đề xây dựng xã hội học tập sau thế
kỷ XX là vấn đề nóng hổi của giáo dục toàn cầu, tuy cho đến nay khái niệm xã hội học tập vẫn chưa đi đến thống nhất nhưng như thế vẫn không cản trở con đường nhiều nước đi tìm để thiết lập mô hình xã hội học tập trong thực tiễn”
Theo quan điểm của tác giả Vũ Oanh, XHHT là “một xã hội vì người học, của người học, do người học, lấy người học và việc học suốt đời làm trung tâm”
Tác giả Nguyễn Viết Sự lại xem xét khái niệm XHHT từ các tiêu chí của nó Theo tác giả, XHHT là một xã hội trong đó:
- Kinh tế giáo dục chiếm tổng giá trị sản lượng kinh tế quốc dân từ 6-8%
- Bình quân trình độ văn hoá người lao động: Trung học phổ thông
- Nền giáo dục phát triển dành cho mọi người theo hướng chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá
- Mọi người dân thể hiện sự ham học hỏi, quý trọng thầy và nghề dạy học, coi trọng tri thức Luôn có ý chí výõn lên chiếm lĩnh ðỉnh cao khoa học kỹ thuật
- Nhà nước thực sự coi giáo dục là quốc sách hàng ðầu, là động lực chủ yếu cho phát triển kinh tế - xã hội
- Hình thành và phát triển bền vững hệ thống giáo dục quốc dân với sự phong phú đa dạng về phương thức giáo dục, tạo sự liên thông trong giáo dục
Từ việc trình bày khái niệm XHHT theo quan niệm của các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước, chúng tôi cho rằng XHHT về bản chất là một xã hội mà trong
đó mọi người đều được học tập, học tập thường xuyên, học tập suốt đời và mọi lực lượng trong xã hội đều có trách nhiệm tạo cơ hội học tập cho mọi người dân
1.2.2 Xã hội hoá và xã hội hoá giáo dục
1.2.2.1 Xã hội hoá
Thuật ngữ “Xã hội hóa” dùng để chỉ chức năng nguyên thủy của giáo dục (Socialization), được các nhà xã hội học sử dụng để mô tả những phương cách, các giá trị, các vai trò mà xã hội đã quy ước, tạo cơ sở cho quá trình hình thành và phát triển nhân cách con người
Nhà xã hội học Pháp Emile Durkheim (1858 – 1917) là một trong số rất ít người sử dụng thuật ngữ “Xã hội hóa” Ông nêu: “giáo dục vừa có chức năng phân hóa vừa có chức năng xã hội hóa”
Trang 18Theo Đại từ điển Tiếng Việt thì khái niệm “XHH được hiểu là làm cho một việc gì, một cái gì đó thành của chung xã hội”
Kể từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam thực hiện chủ trương cải cách tổ chức
bộ máy Nhà nước theo hướng xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thì thuật ngữ xã hội hóa được sử dụng khá phổ biến trong các văn kiện, trong các hội nghị, hội thảo…
Nhiều công trình nghiên cứu về XHH đều nhận định: “Bản chất của xã hội hóa là cách làm, cách thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng bằng con đường giác ngộ, huy động và tổ chức sự tham gia của mọi người dân, mọi lực lượng xã hội; tạo ra sự phối hợp liên ngành một cách có kế hoạch dưới sự chỉ đạo và quản lý thống nhất của Nhà nước, làm cho việc giải quyết các vấn đề xã hội thực sự là của dân, do dân và vì dân”
Xã hội hóa không phải là buông lỏng sự quản lý hoặc từ bỏ chức năng quản
lý thống nhất của Nhà nước mà thực chất là tăng cường sự quản lý của Nhà nước bằng pháp luật
Xã hội hóa gắn liền với mở rộng dân chủ, khắc phục dần tính thụ động, thờ
ơ, phó mặc cho Nhà nước
Xã hội hóa là làm sao phải thu hút mọi tổ chức trong xã hội, mọi thành phần kinh tế tham gia thực hiện các dự án phát triển của Nhà nước
Tất cả những đặc điểm trên thể hiện khá đầy đủ về nội dung, vai trò cũng như ý nghĩa của hoạt động xã hội hóa
1.2.2.2 Xã hội hoá giáo dục
Qua nghiên cứu lý luận cũng như trong thực tiễn hoạt động giáo dục, cho thấy có sự khác biệt rõ ràng về ý nghĩa tính chất xã hội của giáo dục và xã hội hóa công tác giáo dục Thực tế nếu tự thân vận động, giáo dục dù không có định hướng
cụ thể rõ ràng vẫn thể hiện tính chất xã hội nhưng không đạt đến trình độ XHH đích thực theo ý nghĩa xã hội và nhân văn của nó Cần phân biệt XHHGD và xã hội hóa công tác giáo dục
Xã hội hóa giáo dục là việc thực hiện mối liên hệ phổ biến giữa hoạt động giáo dục và cộng đồng xã hội, là làm cho giáo dục phù hợp với sự phát triển của xã hội, thích ứng với xã hội Xã hội hóa công tác giáo dục là duy trì sự cân bằng giữa hoạt động giáo dục và xã hội
Xã hội hóa giáo dục là cách nói gọn của XHHCTGD với nội hàm là phương thức, cách thức, phương châm, cách làm giáo dục, tổ chức và quản lý giáo dục Đảng
ta chủ trương XHHGD là một tư tưởng chiến lược, một bộ phận không thể thiếu
Trang 19Đặc điểm của XHHGD là mở rộng quy mô, mở rộng trách nhiệm giáo dục, chuyển hướng từ giáo dục tinh hoa thành giáo dục đại chúng – giáo dục cho mọi người – xây dựng xã hội học tập Hoạt động giáo dục từ chỗ là trách nhiệm của ngành giáo dục, do Nhà nước đảm trách, đến mọi cá nhân, tập thể, cộng đồng cùng chăm lo Điều đó tạo nên động lực mới và sức mạnh tổng hợp, tính công bằng xã hội của GD& ĐT
Như vậy, XHHGD là quá trình tăng cường tính xã hội của giáo dục lên tầm cao mới, đa phương hóa nguồn lực, đa dạng hóa các loại hình đào tạo, cộng đồng hóa trách nhiệm
Tác giả Phạm Minh Hạc cho rằng XHHGD là: “Làm cho xã hội nhận rõ trách nhiệm đối với giáo dục, giáo dục phục vụ đắc lực cho phát triển kinh tế- xã hội, thực hiện việc kết hợp giáo dục trong nhà trường và ngoài nhà trường, tạo điều kiện
để giáo dục kết hợp với lao động, học đi đôi với hành; xã hội hóa giáo dục có quan
hệ hữu cơ với dân chủ hóa giáo dục”
Xã hội hóa giáo dục đã được nhiều quốc gia trên thế giới quan tâm và thực hiện từ nhiều thập kỷ qua, hoạt động XHHGD luôn vận động và phát triển
Ở nước ta, XHHGD là điều kiện cần thiết và tất yếu để phát triển GD& ĐT, XHHGD là chủ trương đúng đắn, mang tính chiến lược của Đảng “Xã hội hóa giáo dục là chính sách huy động mọi nguồn lực của nhân dân, của các tổ chức kinh tế - xã hội tham gia vào sự nghiệp giáo dục, đầu tư vào hoạt động giáo dục trên cơ sở phù hợp với khả năng tài chính và trình độ chuyên môn nhằm xây dựng xã hội học tập”
Văn kiện Đại hội IX của Đảng có nêu: “Thực hiện chủ trương xã hội hóa giáo dục, phát triển đa dạng các hình thức đào tạo, đẩy mạnh việc xây dựng các quỹ khuyến khích phát triển tài năng, các tổ chức khuyến học, bảo trợ giáo dục”
Đại hội Đại biểu Toàn quốc lần thứ X nhấn mạnh: “Đổi mới cơ cấu tổ chức, nội dung, phương pháp dạy và học theo hướng “Chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa” Phát huy trí sáng tạo, khả năng vận dụng, thực hành của người học Đề cao trách nhiệm của gia đình, nhà trường và xã hội Chuyển dần mô hình giáo dục hiện nay sang mô hình giáo dục mở - mô hình xã hội học tập với hệ thống học tập suốt đời”
Trong công cuộc CNH, HĐH đất nước, Chính phủ đã ban hành các văn bản pháp quy và tổ chức thực hiện rộng rãi chủ trương XHHGD và XHHGD phải được hiểu trên phương diện rộng là toàn thể nhân dân, toàn thể xă hội tham gia vào giáo dục, làm cho hoạt động giáo dục trở thành hoạt động chung của toàn xă hội
Trang 20Xã hội hóa giáo dục, theo chúng tôi phải được hiểu trên phương diện rộng là toàn thể nhân dân, toàn thể xã hội tham gia vào sự nghiệp giáo dục, làm cho hoạt
động giáo dục trở thành hoạt động chung của toàn xã hội
1.2.3 Phát triển
Phát triển là thuật ngữ được sử dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực như phát triển kinh tế, phát triển xã hội, phát triển nguồn nhân lực, phát triển đội ngũ…, theo nghĩa thông thường “phát triển” được hiểu là sự tăng trưởng, là sự chuyển biến theo chiều hướng tích cực, tiến lên
Từ điển Tiếng Việt đã giải thích khái niệm “phát triển” như sau: “biến đổi hoặc làm cho biến đổi, từ ít đến nhiều, hẹp đến rộng, thấp đến cao, đơn giản đến phức tạp” Phát triển là mở mang từ nhỏ thành to, từ yếu thành mạnh Phát triển là khuynh hướng vận động đã xác định về hướng của sự vật: hướng đi lên từ thấp đến cao, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn
1.2.4 Phát triển XHHT
Phát triển XHHT là nhằm hình thành một xã hội thực hiện tốt sự gắn kết chặt chẽ giữa học tập ban đầu trong các nhà trường với học tập suốt đời bên ngoài nhà trường, giữa giáo dục với phát triển kinh tế - xã hội, mọi người có nhu cầu đều được học tập thường xuyên, suốt đời, học gắn với hành, được tri thức hoá, ai cũng được phát huy mọi tiềm năng của mình Phát triển XHHT còn là nhằm tạo ra một môi trường giáo dục, trong đó mọi người đều được cung cấp cơ hội học tập, với thiết chế giáo dục mở, mềm dẻo, linh hoạt, thích ứng điều kiện học của từng người, từng
cơ quan, đơn vị một môi trường trong đó mọi lực lượng xã hội, mọi tầng lớp xã hội đều tự giác học hành và tích cực tạo ra các cơ hội, điều kiện học hành cho xã hội sao cho cả xã hội trở thành một trường học lớn, mỗi người dân là một học trò, nhu cầu học luôn được đáp ứng và là nơi đào tạo nguồn nhân lực dồi dào, đa dạng với nhiều trình độ, nhiều năng lực khác nhau đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước, hội nhập kinh tế quốc tế trong một thị trường lao động luôn biến động dưới sự tác động tiến
bộ của khoa học và công nghệ
Phát triển XHHT ở nước ta đã trở thành một nhiệm vụ chiến lược nhằm thực hiện mục tiêu “nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài”, đáp ứng nhu cầu CNH, HĐH đất nước, đưa đất nước phát triển nhanh và bền vững, sớm sánh vai với các nước phát triển trong khu vực và thế giới
1.2.5 Giải pháp và giải pháp phát triển xã hội học tập
1.2.5.1 Giải pháp
Theo từ điển Tiếng Việt giải pháp là: “Phương pháp giải quyết một vấn đề
cụ thể nào đó” Như vậy nói đến giải pháp là nói đến những cách thức tác động
Trang 21tựu trung lại, nhằm đạt được mục đích hoạt động Giải pháp càng thích hợp, càng tối
ưu, càng giúp con người nhanh chóng giải quyết những vấn đề đặt ra Tuy nhiên, để
có được những giải pháp như vậy, cần phải dựa trên những cơ sở lý luận và thực tiễn đáng tin cậy
1.2.5.2 Giải pháp phát triển xã hội học tập
Giải pháp phát triển XHHT là những cách thức tác động chủ thể quản lý giáo dục hướng vào việc giải quyết những vấn đề đặt ra của hệ thống giáo dục, làm cho hệ thống đó vận hành và tạo ra những biến đổi về chất lượng của quá trình phát triển XHHT Phát triển XHHT là một trong những nhân tố quan trọng phát triển sự nghiệp giáo dục Phát triển xã hội học tập là xu thế phát triển của nhân loại.Việc nghiên cứu, xây dựng các giải pháp phát triển xã hội học tập có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, vừa là mục tiêu, động lực và giải pháp để phát triển giáo dục – đào tạo bền vững, tiến tới một xã hội văn minh, tiến bộ
Thông thường các giải pháp phát triển XHHT phải đảm bảo thực hiện cho được các chức năng: kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra đánh giá quá trình xây dựng và phát triển XHHT
a Định hướng phát triển XHHT ở nước ta
Trong quá trình phát triển XHHT ở nước ta cần xuất phát từ các định hướng sau đây:
Phát triển XHHT là con đường sáng tạo của nhân dân ta nhằm “phát triển mọi tiềm năng có sẵn ở mỗi con người Việt Nam”, phát huy nội lực của người học bằng tự học, tự rèn luyện, tự lập thân, lập nghiệp; khai thác và phát triển những tiềm năng của xã hội nói chung của ngành giáo dục nói riêng để phát triển giáo dục
Phát triển XHHT ở Việt Nam là nhằm thực hiện có hiệu quả các chương trình mục tiêu giáo dục đến năm 2020 là duy trì một cách bền vững kết quả chống
mù chữ, phổ cập tiểu học đúng độ tuổi, phổ cập THCS, tạo tiền đề để phổ cập trung học ở giai đoạn tiếp theo, phát triển mạnh mẽ đào tạo nghề, trung học chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học và sau đại học, nâng cao chất lượng, và hiện đại hoá giáo dục, củng cố hệ thống công lập, đồng thời đẩy mạnh việc mở rộng, nâng cao chất lượng giáo dục “không chính quy”, giáo dục “ngoài công lập”, giáo dục từ xa, khu vực nông thôn, nông nghiệp, vùng dân tộc ít người, tăng cường chỉ đạo mở rộng phong trào tự học và đào tạo nhân lực đại trà, coi trọng đào tạo tinh hoa, bồi dưỡng, phát triển nhân tài
Phát triển XHHT dựa trên đường lối phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, theo phương thức xã hội hoá giáo dục kết hợp với vai trò chủ đạo của Nhà nước, phát huy truyền thống hiếu học, tôn sư trọng đạo của dân tộc, kế thừa và phát
Trang 22- Mạnh dạn đổi mới cơ chế quản lý giáo dục hiện nay theo hướng phân cấp
mạnh để tăng cường tính tự chủ và tự chịu trách nhiệm cho địa phương và các cơ sở giáo dục, ứng dụng sáng tạo những thành tựu về khoa học, công nghệ nói chung và thành tựu về khoa học giáo dục nói riêng để xây dựng nền giáo dục Việt Nam tiên tiến, hiện đại, giàu bản sắc văn hoá dân tộc, tạo tiền đề cho nền giáo dục nước ta hội nhập với nền giáo dục tiên tiến của các nước trong khu vực và trên thế giới
b Mục tiêu phát triển XHHT ở nước ta
Mục tiêu phát triển XHHT ở nước ta gắn với mục tiêu phát triển kinh tế xã hội, với Chiến lược phát triển giáo dục và Kế hoạch hành động quốc gia giáo dục cho mọi người 2003-2015, góp phần thực hiện thành công sự nghiệp CNH, HĐH Từ mục tiêu tổng quát trên đây cần cụ thể hoá thành những yêu cầu, nhằm từng bước xây dựng XHHT ở nước ta
Trước tiên, phải khắc phục những yếu kém trong giáo dục, tạo bước chuyển biến cơ bản về chất lượng giáo dục theo hướng tiếp cận với trình độ tiên tiến của thế giới, phù hợp với thực tiễn Việt Nam, phục vụ thiết thực các chương trình, mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, của từng vùng, từng địa phương Phấn đấu đưa nền giáo dục nước ta thoát khỏi tình trạng tụt hậu trên một số lĩnh vực so với các nước phát triển trong khu vực
Đồng thời hình thành được cơ cấu hệ thống giáo dục mới của XHHT gồm hai khu vực giáo dục trong nhà trường (giáo dục chính quy) và giáo dục ngoài nhà trường (GDTX) liên thông với nhau, huy động được hai đối tượng người học có số lượng lớn: thế hệ trẻ và một bộ phận người lớn tuổi cần được thụ hưởng giáo dục phổ cập trong “độ tuổi đi học”; các nhà lãnh đạo của hệ thống chính trị các cấp và các nhà quản lư, các doanh nhân, các nhà giáo dục, khoa học - công nghệ
c Nhiệm vụ phát triển XHHT ở nước ta
Phát triển XHHT ở nước ta cần hướng vào thực hiện hai nhiệm vụ cơ bản sau đây:
- Tạo cơ hội và điều kiện cho mọi người có nhu cầu đều được học thường
xuyên, suốt đời, học gắn với hành, được tri thức hoá, ai cũng được phát huy mọi tiềm năng của mình Học để có những kỹ năng làm việc và kỹ năng sống nhằm tạo nên năng lực thích ứng và phát triển của mỗi người trong một xã hội hiện đại và thường xuyên thay đổi Học để biết vận dụng tri thức, để biết giao tiếp, ứng xử, để cùng chung sống với nhau, biết tuân thủ pháp luật, bảo vệ môi trường, biết thích nghi với những thay đổi về việc làm, biết tự tạo việc làm, biết tự rèn luyện đạo đức, thể lực…
Trang 23Có thể học ở mọi lúc, mọi nơi, học ở mọi người, mọi việc, trong lao động, giao tiếp, giải trí, học bằng nhiều cách Mọi người học tập lẫn nhau và giúp nhau học tập
Mở rộng cơ chế để mọi người đều hiểu biết và có trách nhiệm, nghĩa vụ học tập và góp phần xây dựng và phát triển XHHT Huy động mọi tiềm năng trí tuệ, tài lực, vật lực trong toàn xă hội, tạo ra nhiều nguồn lực đa dạng để vừa phát triển giáo dục đào tạo trong các trường học, vừa tạo điều kiện hỗ trợ tổ chức nhiều hình thức giáo dục mới, đa dạng bên ngoài nhà trường để xây dựng phong trào học tập và môi trường giáo dục lành mạnh trong toàn xã hội, hướng tới XHHT Những hoạt động này có thể gọi tắt là “khuyến học” với ý nghĩa là khuyến khích hỗ trợ, tạo điều kiện cho việc học, tự học
1.3 Quan điểm của Đảng, Nhà nước và Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng XHHT
1.3.1 Quan điểm của Đảng và Nhà nước về xây dựng XHHT
Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương, chính sách phát triển giáo dục, giúp cho nhiều người có cơ hội học tập, thu hút ngày càng nhiều người tham gia xây dựng giáo dục, hướng tới một XHHT như đã nêu ở Nghị quyết Trung ương 4 (khoá VII), Nghị quyết Trung ương 2 (khoá VIII) Luật Giáo dục thể hiện rất rõ ràng: “ GDTX giúp mọi người vừa làm vừa học, học liên tục, học suốt đời nhằm hoàn thiện nhân cách, mở rộng hiểu biết, nâng cao trình độ học vấn, chuyên môn, nghiệp vụ để cải thiện chất lượng cuộc sống, tìm việc làm, tự tạo việc làm và thích nghi với đời sống xã hội Nhà nước có chính sách phát triển GDTX, thực hiện giáo dục cho mọi người, xây dựng xã hội học tập”
Báo cáo chính trị tại Đại hội Đảng lần thứ IX đã chỉ rõ: “Phát huy nguồn lực trí tuệ và sức mạnh tinh thần của người Việt Nam, coi phát triển giáo dục- đào tạo, khoa học và công nghệ là nền tảng, và động lực của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá
Đến Đại hội X Đảng lại tiếp tục xác định: “Phấn đấu xây dựng nền giáo dục hiện đại, của dân, do dân và vì dân, bảo đảm công bằng về cơ hội học tập cho mọi người, tạo điều kiện để toàn xã hội học tập và học tập suốt đời, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước”
Chiến lược phát triển giáo dục 2001-2010 đã nêu: Xây dựng XHHT “tạo điều kiện cho mọi người, ở mọi lứa tuổi, mọi trình độ được học thường xuyên, học suốt đời”
Kết luận của Hội nghị Trung ương 6 (khoá IX) cũng chỉ rõ: Phát triển giáo
Trang 24với nhu cầu thực tế đời sống kinh tế xã hội, tạo điều kiện cho mọi người có thể học tập suốt đời, hướng tới XHHT
Trước khi có 3 văn kiện trên, ngày 24 tháng 8 năm 1999 của Bộ Chính trị ra Chỉ thị số 50-CT/TW “về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với Hội Khuyến học Việt Nam” và Chỉ thị số 29/1999/CT-TTg ngày 15-10-1999 của Thủ tướng Chính phủ “về việc phát huy vai trò của Hội Khuyến học Việt Nam trong sự nghiệp phát triển giáo dục” đã đề cập đến mục tiêu phát triển giáo dục là từng bước hình thành một XHHT, đưa sự nghiệp giáo dục lên ngang tầm đòi hỏi của CNH, HĐH đất nước
Đến ngày 18 tháng 5 năm 2005, Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định số 112/2005/QĐ-TTg về việc phê duyệt Đề án “Xây dựng xã hội học tập giai đoạn 2005-2010”, việc xây dựng XHHT ở nước ta được tổ chức thực hiện một cách có hệ thống hơn Quyết định của Thủ tướng Chính phủ xác định: Xây dựng cả nước trở thành xã hội học tập với tiêu chí cơ bản là tạo cơ hội và điều kiện thuận lợi để mọi người ở mọi lứa tổi, mọi trình độ được học tập thường xuyên, học liên tục, học suốt đời ở mọi nơi, mọi lúc, mọi cấp, mọi trình độ; huy động sức mạnh của toàn xã hội tham gia xây dựng và phát triển giáo dục, mọi người, mọi tổ chức đều có trách nhiệm, nghĩa vụ trong việc học tập và tích cực tham gia xây dựng XHHT
Chỉ thị số 11-CT/TW ngày 13 tháng 4 năm 2007 của Bộ Chính trị về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác khuyến học, khuyến tài, xây dựng xã hội học tập đã tiếp tục khẳng định quan điểm chỉ đạo của Đảng là : “ Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục trong Đảng và nhân dân với nhiều hình thức phong phú, thiết thực để nhận thức rõ về sự cần thiết, tầm quan trọng của việc xây dựng xã hội học tập ở nước ta hiện nay; xác định xây dựng xã hội học tập là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân, là một mục tiêu cơ bản trong chiến lược chấn hưng và phát triển giáo dục của nước ta” và “ Cụ thể hoá các mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp xây dựng
xã hội học tập trong từng địa phương, đơn vị Trước mắt rà soát, bổ sung nội dung
kế hoạch thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ trong “ Đề án xây dựng xã hội học tập giai đoạn 2005-2010” mà Chính phủ đã ban hành Thường xuyên theo dõi, đôn đốc, kiểm tra, chỉ đạo giải quyết kịp thời các khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện”
Xây dựng cả nước trở thành XHHT được dựa trên nền tảng phát triển đồng thời, gắn kết, liên thông cả hai bộ phận cấu thành: giáo dục chính quy và giáo dục không thường xuyên của hệ thống giáo dục quốc dân, trong đó GDTX thực hiện các chương trình học tập nhằm tạo các điều kiện tốt nhất đáp ứng mọi yêu cầu học tập suốt đời, học liên tục của mọi công dân, sẽ là một bộ phận có chức năng quan trọng, làm tiền đề để xây dựng XHHT
Trang 251.3.2 Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng XHHT
Ở Việt Nam, vấn đề xây dựng XHHT chỉ mới đặt ra cách đây không lâu, tuy nhiên XHHT đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh quan tâm ngay từ khi thành lập nước Việt Nam dân chủ cộng hòa Mặc dù Bác không nói tới XHHT, nhưng tư tưởng
“giáo dục cho mọi người” và “mọi người cho giáo dục” đã được thể hiện rõ qua việc làm, qua các bài phát biểu, các bài nói chuyện của Người
Tư tưởng “giáo dục cho mọi người” của Chủ tịch Hồ Chí Minh:
Ngay trong phiên họp đầu tiên (ngày 3-9-1945) của Chính phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu Vì vậy tôi đề nghị mở một chiến dịch để chống nạn mù chữ” [29,8] Người đặt ra 3 nhiệm vụ cách mạng trước mắt của Chính phủ là: Chống nạn đói, nạn thất học, nạn ngoại xâm và coi chống giặc dốt cũng quan trọng như chống giặc đói và giặc ngoại xâm
Vì vậy, chỉ 6 ngày sau khi đọc bản “Tuyên ngôn độc lập”, ngày 8-9-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký ban hành ba sắc lệnh về chống nạn thất học
- Sắc lệnh 17 về việc thành lập Nha Bình dân học vụ trong toàn nước Việt Nam để trông nom việc học tập của dân chúng
- Sắc lệnh số 19 về việc thành lập những lớp học bình dân buổi tối cho nông dân và thợ thuyền
- Sắc lệnh 20 công bố việc học chữ quốc ngữ là bắt buộc và không mất tiền cho tất cả mọi ngýời và hạn trong một nãm, toàn thể dân chúng Việt Nam trên 8 tuổi phải biết ðọc, biết viết chữ quốc ngữ
Đầu tháng 10/1945, trong “Lời kêu gọi toàn dân chống nạn thất học” Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh: “Muốn giữ vững nền độc lập, muốn làm cho dân mạnh, nước giàu, mọi người Việt Nam cần phải hiểu biết quyền lợi của mình, phải
có kiến thức mới để có thể tham gia vào công cuộc xây dựng nước nhà và trước hết phải biết đọc, biết viết chữ quốc ngữ”
Tư tưởng “Giáo dục cho mọi người” của Chủ tịch Hồ Chí Minh còn được thể hiện rõ khi Bác trả lời báo chí tháng 1/1946: “Tôi chỉ có một ham muốn, một ham muốn tột bậc là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta hoàn toàn
tự do, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn, áo mặc, được học hành”
Tư tưởng “Học tập suốt đời” của Chủ tịch Hồ Chí Minh :
Với mục đích phải làm cho dân tộc Việt Nam trở thành một dân tộc thông thái, Chủ tịch Hồ Chí Minh không những chỉ kêu gọi mọi người học tập, mà còn kêu gọi mọi người học tập thường xuyên, học tập suốt đời Có thể nói đây là một tư tưởng tiến bộ đi trước thời đại
Trang 26Trong thư gửi Quân nhân học báo (tháng 4/1946), Bác đã căn dặn: “Quân nhân phải biết võ, phải biết văn… Muốn biết thì thi đua học Học không bao giờ ngừng Học mãi để tiến bộ mãi Càng tiến bộ càng thấy phải học thêm”… Đối với nhân dân, Bác cũng khuyên “Học hành là vô cùng, học càng nhiều, biết càng nhiều càng tốt” Bản thân Bác là một tấm gương sáng về học suốt đời Năm 1961, khi nói chuyện với cán bộ, đảng viên hoạt động lâu năm, Bác đã tâm sự “Tôi năm nay 71 tuổi, ngày nào cũng phải học, công việc có tiến triển, không học thì không theo kịp, công việc nó sẽ gạt mình ra phía sau Chúng ta là đảng viên già, hiểu biết của chúng
ta hồi 30 tuổi so với hiểu biết của lớp trẻ bây giờ…thì chúng mình dốt lắm… Tôi cũng dốt lắm Nếu thế hệ già khôn hõn thế hệ trẻ thì không tốt Thế hệ già thua thế
hệ trẻ mới là tốt”
Tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về “Mọi người cho giáo dục”:
Để có thể bảo đảm ai cũng được học hành Chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan tâm đến việc tuyên truyền nâng cao nhận thức của toàn dân, của tổ chức Đảng, chính quyền, đoàn thể các cấp về vị trí, vai trò của bình dân học vụ, từ đó động viên toàn
xã hội hăng hái tham gia chống nạn thất học Bác đã kêu gọi “Những người chưa biết chữ hãy gắng sức mà học cho biết đọc Vợ chưa biết thì chồng bảo, em chưa biết thì anh bảo, người ăn, người làm không biết thì chủ bảo, người giàu có thì mở lớp ở
tư gia dạy cho những người không biết chữ ở làng xóm láng giềng Các chủ ấp, chủ đồn điền, chủ hầm mỏ, nhà máy th́ mở lớp cho những tá điền, những người làm của mình”
Xuất phát từ tư tưởng này của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhiều khẩu hiệu được đưa ra như “Dạy bình dân học vụ là yêu nước”, “Giúp đỡ bình dân học vụ là yêu nước”, “Chống mù chữ cũng như chống ngoại xâm”, “Mỗi gia đình là một lớp bình dân học vụ” Các khẩu hiệu này được viết dán ở trong nhà, ở mặt tường, ở thân cây hoặc được hô vang trong buổi truyền thanh, trong các đội ngũ diễu hành, các buổi rước đuốc… Có thể nói nhờ tuyên truyền mạnh mẽ và rầm rộ như vậy, công cuộc chống mù chữ đã được toàn xã hội tham gia
Giáo viên tuyên thệ “Còn trời còn nước còn non Còn người mù chữ, ta còn gắng công” Các cụ già chia nhau đến giờ học thì gọi con cháu, dân làng đi học… Theo lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhiều cá nhân, dân làng đã đứng ra mở lớp bình dân học vụ để dạy chữ cho người chưa biết chữ
Các tổ chức đoàn thể đã đóng góp sức cùng Bình dân học vụ lo việc xoá mù chữ, nâng cao trình độ văn hoá cho hội viên của mình Có thể nói đây
là đặc trưng quan trọng của việc xây dựng XHHT.
Kết luận Chương 1
Trang 27Qua nghiên cứu từ cơ sở lý luận và thực tiễn, chúng ta thấy rằng việc xây
dựng và phát triển XHHT trên phạm vi cả nước nói chung và tỉnh Tiền Giang nói riêng là một yêu cầu tất yếu Bởi vì bản chất XHHT là một môi trường giáo dục, trong đó mọi người đều được cung cấp cơ hội học tập, với thiết chế giáo dục mở, mềm dẻo, linh hoạt, thích ứng điều kiện học của từng người, từng cơ quan, đơn vị một môi trường trong đó mọi lực lượng xã hội, mọi tầng lớp xã hội đều tự giác học hành và tích cực tạo ra các cơ hội, điều kiện học hành cho xã hội sao cho cả xã hội trở thành một trường học lớn, mỗi người dân là một học trò, nhu cầu học luôn được đáp ứng và là nơi đào tạo nguồn nhân lực dồi dào, đa dạng với nhiều trình độ, nhiều năng lực khác nhau đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước, hội nhập kinh tế quốc tế trong một thị trường lao động luôn biến động dưới sự tác động tiến bộ của khoa học
và công nghệ
Trong các thế kỷ gần đây, việc tạo điều kiện và cơ hội cho nhân dân học tập
để nâng cao trình độ về mọi mặt là mối quan tâm của nhiều quốc gia trên thế giới Xây dựng XHHT trở thành tất yếu khách quan đối với tất cả các quốc gia, dân tộc Đối với nhà nước ta là nhà nước của dân, do dân và vì dân, vì vậy Đảng và nhà nước hết sức quan tâm đến việc phát triển XHHT để cung cấp cho con người đầy đủ các điều kiện, các cơ hội để học tập, phát triển, bảo đảm cho con người luôn có được các phẩm chất: trí tuệ, kỹ năng, thái độ thích ứng đòi hỏi của một xã hội luôn biến đổi Việc xây dựng và phát triển XHHT trở thành nhu cầu bức thiết của toàn dân tộc, nhằm góp phần đưa đất nước sớm vượt qua những thách thức, hoàn thành sự nghiệp CNH, HĐH Để làm được điều đó, cần quan tâm nghiên cứu cả lý luận và thực tiễn
để hoàn thiện các chủ trương, chính sách, giải pháp về xây dựng XHHT
Trang 28CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN XÃ HỘI HỌC TẬP Ở TỈNH TIỀN GIANG 2.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên, KT-XH và tình hình giáo dục của tỉnh Tiền Giang
2.1.1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên tỉnh Tiền Giang
Tiền Giang là tỉnh vừa thuộc vùng đồng bằng châu thổ sông Cửu Long, vừa nằm trong Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, nằm cách thành phố Hồ Chí Minh 70
km về hướng Nam và cách thành phố Cần Thơ 90 km về hướng Bắc Phía Bắc và Đông Bắc giáp tỉnh Long An và thành phố Hồ Chí Minh, Phía Tây giáp tỉnh Đồng Tháp, Phía Nam giáp tỉnh Bến Tre và tỉnh Vĩnh Long, Phía Đông giáp biển Đông Tỉnh Tiền Giang nằm dọc bờ Bắc sông Tiền với chiều dài 120km và có diện tích tự nhiên là 2.481,77 km2, chiếm khoảng 6% diện tích Đồng bằng sông Cửu Long, 8,1% diện tích Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam Dân số năm 2012 là 1.690.118 người, chiếm khoảng 9,8% dân số Vùng đồng bằng sông Cửu Long, 11,4% dân số Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, mật độ dân số 674 người/km2 Tình hình dân số ổn định, không biến động nhiều chủ yếu là do biến động cơ học, tỷ lệ tăng dân số tự nhiên hàng năm là 10‰ Dân cư khu vực thành thị chiếm 14,7%, khu vực nông thôn chiếm 85,3% Đây là tỉnh có diện tích nhỏ nhưng mật độ dân số cao nhất khu
vực đồng bằng sông Cửu Long (Số liệu thống kê năm 2012)
Toàn tỉnh có 10 đơn vị hành chính cấp huyện (8 huyện, 01 thành phố, 01 thị xã)
và 169 đơn vị hành chính cấp xã, trong đó có 46 xã vùng sâu Thành phố Mỹ Tho, trung tâm hành chính của tỉnh, là đô thị loại 2
Tiền Giang có địa hình tương đối bằng phẳng, đất phù sa trung tính, ít chua dọc sông Tiền, chiếm khoảng 53% diện tích toàn tỉnh, thích hợp cho nhiều loại giống cây trồng và vật nuôi Bờ biển dài 32km với hàng ngàn hecta bãi bồi ven biển, nhiều lợi thế trong nuôi trồng các loài thủy hải sản (nghêu, tôm, cua) và phát triển kinh tế biển Khí hậu Tiền Giang chia làm 2 mùa rõ rệt: Mùa khô bắt đầu từ tháng 12 và mùa mưa từ tháng 5 Nhiệt độ trung bình hàng năm khoảng 270C; lượng mưa trung bình hằng năm 1,467mm
Về mặt lịch sử, Tiền Giang có bề dầy truyền thống đáng tự hào với Di tích văn hóa Óc Eo, Gò Thành (từ thế kỷ I đến thế kỷ VI sau công nguyên); với chiến tích Rạch Gầm-Xoài Mút; với những anh hùng Trương Định, Thủ khoa - Nguyễn Hữu Huân,
Âu Dương Lân, Đốc Binh Kiều, Bốn Ông - Tứ Kiệt; thời kỳ cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng có Long Hưng, quê hương Nam kỳ khởi nghĩa, có chiến thắng Ấp Bắc, và biết bao chiến sĩ, anh hùng cách mạng có tên tuổi gắn liền với 2 cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ giải phóng dân tộc Tỉnh Tiền Giang còn nổi tiếng với nhiều
Trang 29lăng mộ, đền chùa: lăng Hoàng Gia, Lăng Trương Định, lăng Tứ Kiệt, chùa Vĩnh Tràng, chùa Bửu Lâm, chùa Sắc Tứ,
Tiền Giang là nơi tọa lạc của trường Đại học Tiền Giang, Viện nghiên cứu cây ăn quả miền Nam, Trung tâm Quốc gia giống thủy sản nước ngọt Nam bộ, có ba trường Cao đẳng, tám trường TCCN và các trường dạy nghề Tiền Giang cũng là nơi tập trung nhiều bệnh viện và có hệ thống y tế cơ sở đầy đủ từ tuyến xã, huyện đến tuyến tỉnh Tuy có một ít khó khăn về điều kiện tự nhiên nhưng Tiền Giang có vị trí khá thuận lợi mà trước đây là một trong những trung tâm văn hóa, giáo dục ở Nam
bộ
2.1.2 Tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Tiền Giang
Kinh tế tiếp tục ổn định và tăng trưởng GDP trong năm 2012 ước tính đạt 16.568 tỷ đồng (giá so sánh năm 1994) tăng 9,8% so với năm 2011 (cả nước là 5,03%) Sản xuất công nghiệp giữ nhịp độ tăng khá; sản xuất nông nghiệp, lĩnh vực dịch vụ, lĩnh vực giáo dục, y tế, văn hóa - xã hội đạt kết quả tốt, có nhiều chuyển biến tích cực; quốc phòng, an ninh, trật tự an toàn xã hội được đảm bảo; công tác bảo đảm an sinh xã hội được đẩy mạnh, hoạt động chăm lo đối tượng chính sách, hộ nghèo được tăng cường tốt hơn; nhiều vấn đề xã hội bức xúc cơ bản được giải quyết v.v
Hiện nay nền kinh tế của tỉnh đang chuyển biến tích cực về cơ cấu, tỷ trọng công nghiệp dịch vụ ngày càng tăng đi đôi với việc phát triển các khu công nghiệp như: Mỹ Tho, Tân Hương, Tân Phước, cụm công nghiệp Tân Mỹ Chánh (Mỹ Tho) GDP của tỉnh tăng bình quân 10 % mỗi năm Thu nhập bình quân đầu người đạt 1.094 USD/năm Số hộ nghèo hộ nghèo, hộ cận nghèo năm 2012 toàn tỉnh là 35.658
hộ, chiếm tỷ lệ 8,03%
Thế mạnh của du lịch Tiền Giang chủ yếu nhờ vào các di tích văn hóa lịch
sử và sinh thái Mặc dù chịu tác động của suy thoái kinh tế thế giới nhưng lượng du khách đến Tiền Giang vẫn đạt một triệu lượt khách (năm 2012)
Tuy vậy, nhìn chung tỷ trọng nông nghiệp vẫn chiếm phần lớn trong cơ cấu kinh tế của tỉnh, do đó Tiền Giang cơ bản vẫn là tỉnh nông nghiệp, sản xuất công nghiệp chưa bền vững, sức cạnh tranh của nhiều sản phẩm công nghiệp còn thấp, kết cấu hạ tầng chưa đáp ứng cho sự phát triển, địa bàn kinh tế trọng điểm thiếu vốn đầu
tư Tai nạn giao thông vẫn còn phức tạp Công tác bảo vệ và chăm sóc sức khỏe của nhân dân còn một số mặt bất cập
2.1.3 Khái quát về GD-ĐT tỉnh Tiền Giang
Sự nghiệp GD-ĐT Tiền Giang có những bước phát triển mới Hệ thống
Trang 30mới và trang bị thiết bị dạy học mới, từng bước đáp ứng được nhu cầu học tập của nhân dân Toàn hệ thống GD&ĐT của tình tiếp tục thực hiện đổi mới nội dung giáo dục, đào tạo, quan tâm đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, xây dựng phòng học, mua sắm thiết bị dạy học đã góp phần nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo
2.1.3.1 Tình hình chung
- Giáo dục mầm non: UBND tỉnh kiện toàn Ban chỉ đạo chống mù chữ và
PCGD tỉnh Tiền Giang, ban hành Kế hoạch số 167/KH-UBND ngày 24/12/2010 về PCGD mầm non cho trẻ em 5 tuổi giai đoạn 2010-2015 Tiền Giang đang thực hiện chương trình giáo dục mầm non mới cho 143 trường (đạt tỷ lệ 90%) Đến tháng 8/2013, toàn tỉnh có 11 trường mầm non đạt chuẩn quốc gia đạt 5.6%
- Giáo dục tiểu học: Mạng lưới trường, lớp tiểu học đã ổn định Mục tiêu
năm học 2014-2015 toàn cấp tiểu học sẽ thực hiện chương trình 2 buổi/ngày Dạy học theo nhóm môn; dạy học dựa vào chuẩn kiến thức, kĩ năng; dạy tiếng Anh ở tiểu học đi vào nền nếp Tính đến thời điểm tháng 8/2013, toàn tỉnh có 92 trường tiểu học đạt chuẩn quốc gia đạt tỉ lệ 40.5% trên tổng số trương tiểu học trong tỉnh
- Giáo dục trung học: Mạng lưới trường, lớp cấp trung học được phát triển
ngày càng hợp lý hơn phục vụ nhu cầu học tập của học sinh, quy mô học sinh bậc trung học có xu hướng giảm nhẹ phù hợp với xu hướng giảm tỷ lệ gia tăng dân số của tỉnh Ngành GD-ĐT Tiền Giang đang phấn đấu thực hiện dạy 2 buổi/ngày đối với giáo dục trung học Đến tháng 8/2013, số trường đạt chuẩn quốc gia: THCS 13 trường đạt 10.4%, THPT 3 trường đạt 8.3%
- GDTX: Thực hiện kế hoạch xây dựng xã hội học tập, Sở GD&ĐT đã tham
mưu UBND tỉnh kế hoạch tăng cường mạng lưới cơ sở GDTX, trong đó tập trung củng cố, xây dựng, mở rộng quy mô hợp lý, nâng cao chất lượng, năng lực của các TTGDTX cấp tỉnh và cấp huyện đã được thành lập Mô hình Trung tâm học tập cộng đồng được nhân rộng và phát triển ở các xã, phường, thị trấn, thực hiện tốt các chương trình xóa mù chữ, giáo dục tiếp tục sau khi biết chữ, và các chương trình giáo dục đáp ứng yêu cầu của người học trong cộng đồng dân cư Hiện toàn tỉnh có 100% (169/169) số xã, phường, thị trấn thành lập được TTHTCĐ Trong toàn tỉnh có
169 trên 169 xã (phường) tiếp tục giữ vững XMC và PCGDTH, tỷ lệ chuẩn XMC đạt 99,83%, tỷ lệ chuẩn PCGDTH đạt 99,86% Có 123 xã (phường) và 3 đơn vị cấp huyện không còn người mù chữ; 149 xã (phường) có tỷ lệ chuẩn PCGDTH đạt 100%
Trong giai đoạn 2008 – 2013, Công tác đào tạo nghề có chuyển biến tích cực, nâng tỷ kệ lao động qua đào tạo lên 33,06% góp phần thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động giữa các khu vực kinh tế Hằng năm có khoảng 1.800 học sinh
Trang 31trong tỉnh được đào tạo, có khoảng 1.600 tốt nghiệp Số học sinh tốt nghiệp đa số đi làm ở các tỉnh bạn và TP Hồ Chí Minh
2.1.3.2 Quy mô phát triển giáo dục
- Quy mô phát triển trường lớp ở các ngành học, cấp học:
Quy mô trường lớp ở các ngành học, cấp học trong từng năm học đều tăng
so với các năm học trước Một số trường tiểu học giảm là do sắp xếp lại các trường học theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, phù hợp với sự phát triển giao thông và yêu cầu phát triển giáo dục của địa phương
Bảng 2.1 Tổng hợp số liệu trường lớp đầu năm học 2013-2014
Các tiêu chí Năm học
2013-2014
Trong đó Công
lập
Bán công
Dân lập
Tư thục
- Quy mô phát triển học sinh ở các ngành học, cấp học:
Số lượng học sinh các cấp học trong các năm qua giảm dần do công tác Dân
số - Kế hoạch hóa gia đình ở địa phương thực hiện tốt, tuy nhiên hai năm gần đây
Trang 32Tỉnh Tiền Giang hiện đã hoàn thành PCGD tiểu học (1996), PCGD tiểu học đúng độ tuổi (2004) và PCGD THCS (2006) Hiện nay đang tiến hành PCGD trung học ở những nơi có điều kiện
2.1.3.3 Chất lượng giáo dục
Chất lượng giáo dục là một trong những nội dung mà các cấp QLGD luôn quan tâm chỉ đạo, đảm bảo thực hiện được mục tiêu nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài
Chất lượng dạy và học ở Tiền Giang ngày càng được nâng cao và vững chắc Hoạt động dạy học ở các trường đi vào nền nếp Đổi mới phương pháp dạy học, đổi mới cách soạn giảng theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động của học học sinh có nhiều chuyển biến Dạy học dựa vào chuẩn kiến thức, kỹ năng đã đi vào nền nếp, bước đầu đạt hiệu quả Cách kiểm tra, đánh giá học sinh được thực hiện nghiêm túc, đúng theo yêu cầu, quy định của Bộ GD-ĐT Kết quả hạnh kiểm, học lực của học sinh có những chuyển biến; tỷ lệ học sinh có học lực khá giỏi tăng lên và
giảm tỷ lệ học sinh có học lực yếu kém (phụ lục 1.3.)
Việc huy động học sinh trong các độ tuổi ra lớp: tỷ lệ huy động học sinh trong độ tuổi tiểu học ra lớp học và học xong cấp tiểu học vượt chỉ tiêu đề án Đối với cấp THCS tỷ lệ huy động học sinh hàng năm tăng khoảng 3% (trên mức tăng dự kiến hàng năm) Tỷ lệ học sinh nhà trẻ huy động tuy có tăng nhưng chưa đạt kế hoạch đề ra Tỷ lệ huy động học sinh trong độ tuổi THPT có tăng hàng năm nhưng chưa đạt mức dự kiến Tỷ lệ học sinh bỏ học cấp THCS và THPT vẫn còn diễn biến
phức tạp (phụ lục 1.4) Công tác phân luồng học sinh sau THCS được thực hiện tốt
từ năm học 2008-2009 trở đi, do đó hiệu quả đào tạo bậc THPT được nâng lên rõ rệt,
từ 60,64% (năm học 2008-2009) tăng lên 79,23% (năm học 2011-2012) (phụ lục
1.5).
Về đào tạo đại học, quy mô học sinh, sinh viên đang học tại Trường Đại học Tiền Giang là 10.296 sinh viên Chương trình đào tạo được cải tiến theo hướng hiện đại, giảm tải; nhiều ngành mới được mở góp phần đa dạng hóa ngành nghề đào tạo, đáp ứng yêu cầu nguồn nhân lực cho xã hội Kỳ thi tuyển sinh đại học, cao đẳng năm
2013 được tổ chức nghiêm túc và kỷ cương; công tác chấm thi và công bố kết quả thi của Trường đảm bảo đúng quy định, kết quả có 2.046 sinh viên trúng tuyển đại học, cao đẳng năm 2013, đạt 72,6% chỉ tiêu Hàng năm, số lương học viên, sinh viên tốt
nghiệp có tăng lên (phụ lục 1.6)
Về đào tạo nghề, tính từ đầu năm đến hết tháng 9/2013 các cơ sở dạy nghề cấp tỉnh và các huyện đã mở 175 lớp với hơn 5.120 lao động học nghề, đạt 64% kế hoạch; trong đó 72 lớp nghề phi nông nghiệp với 1.824 lao động, đạt 49% so kế hoạch năm; 103 lớp nông nghiệp với hơn 3.296 lao động, đạt 82,4% kế hoạch Ước
Trang 33thực hiện công tác mở lớp đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến cuối năm đạt 90% kế hoạch vốn đề ra
Nhìn chung, chất lượng giáo dục Tiền Giang phát triển ổn định và nâng dẩn hàng năm Các ngành học, cấp học đều phát triển ngang bằng hoặc cao hơn các tỉnh thuộc đồng bằng sông Cửu Long Tiền Giang là một trong những tỉnh phấn đấu đạt mức chất lượng cao của cả nước
2.1.3.4 Đội ngũ nhà giáo
Tính đến đầu năm học 2013-2014, số lượng GV tỉnh Tiền Giang tạm đủ so với yêu cầu định biên và nhu cầu thực tế Ngành GD-ĐT Tiền Giang hiện có 19.803 cán bộ, giáo viên và nhân viên, với 98,7% giáo viên đạt trình độ chuẩn; trong đó có 32% đạt trình độ trên chuẩn; 286 cán bộ, giáo viên có trình độ sau đại học cơ bản đáp ứng nhu cầu số lượng đội ngũ cán bộ, giáo viên, viên chức cho các cấp học Hiện nay còn thiếu một số GV mầm non, GV tiểu học dạy môn tiếng Anh và một số
bộ môn của cấp học THPT
Theo Thông tư liên tịch số 35/2006/TTLT-BGDĐT-BNV quy định định mức biên chế đối với các cơ sở giáo dục phổ thông, thì tỉnh Tiền Giang từ bậc học mầm non đến cấp THCS biên chế giáo viên trên lớp đều đạt yêu cầu Đối với cấp THPT, quy định mỗi lớp được bố trí biên chế không quá 2,25 GV, tỉnh chỉ bố trí đạt 2,17 GV/lớp, số lượng GV còn thiếu khoảng 168 người nên các trường bố trí dạy thừa giờ, thỉnh giảng dẫn đến tình trạng một số GV dạy khá nhiều tiết trong tuần, gây mỏi mệt và thiếu sự đầu tư trong công tác soạn giảng, nghiên cứu tài liệu Sở GD-ĐT từng bước điều chỉnh về số lượng và cơ cấu bộ môn ở các trường để khắc
phục tình trạng thừa, thiếu cục bộ một số môn học (phụ lục 1.7)
Bảng 2.2 Tổng hợp số liệu học sinh và giáo viên năm học 2013-2014
Các tiêu chí Năm học
2013-2014
Trong đó Công lập Bán
công Dân lập Tư thục
Trang 342.1.3.5 Các điều kiện đáp ứng cho giáo dục
Trong giai đoạn 2008-2012, ngành GD&ĐT đã tập trung đầu tư xây dựng CSVC trường học, đóng mới bàn ghế học sinh và GV, trang bị bảng lớp, toàn tỉnh có tổng số 9.269 phòng học, giảng đường ở tất cả các cấp, bậc học; trong đó có 7.078 phòng học kiên cố, chiếm tỉ lệ 76,3% Nhiều trường học được xây dựng khang trang với đầy đủ trang thiết bị đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng dạy và học Tổng kinh phí đầu tư xây dựng CSVC giai đoạn 2006-2010 là 1.506 tỷ đồng Mua sắm thiết bị dạy học đáp ứng được yêu cầu phục vụ đổi mới chương trình giáo dục phổ thông và tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong việc dạy và học Cụ thể:
Trang bị 313 phòng máy vi tính, với số lượng 7.428 máy vi tính, 313 máy in
và các thiết bị nối mạng cho phòng máy 2.409 máy chiếu (projector) kết nối với máy vi tính được lắp đặt cố định tại các phòng học, phòng học bô môn cho các trường trung học cơ sở, trung học phổ thông, trung cấp chuyên nghiệp, trung tâm GDTX-hướng nghiệp
Mua sắm thiết bị lab cho 16 phòng bộ môn của 9 trường trung học phổ thông Trang bị 35 máy in siêu tốc cho các trường Trung học phổ thông và Sở GD&ĐT phục vụ công tác thi trắc nghiệm Trang bị thiết bị dạy học các môn Vật lý, Hóa học, Sinh học cho 31 trường Trung học phổ thông
Bảng 2.3 Tổng hợp số liệu phòng học hiện có năm 2010 và nhu cầu đến năm học 2015-2016
Bậc học
Số phòng hiện có năm 2010 Nhu cầu đến
năm học 2015-2016 (phòng)
Trang 35(2.378 phòng học) Đã hoàn thành đưa vào sử dụng 1.702 phòng, tỉ lệ 92,7% so tổng
số phòng và 114 nhà công vụ giáo viên với diện tích 5.472m2, tỉ lệ 100%
Bảng 2.4 Số liệu phòng học được triển khai xây dựngtheo kế hoạch từ năm
2008 đến năm 2012
TT Bậc học
Kế hoạch triển khai Số phòng
học hoàn thành
Số phòng học đang xây dựng
Tổng vốn đầu tư cho phát triển giáo dục ở tỉnh Tiền Giang thực hiện trong 5
năm từ 2008 đến 2012 là 890.421 triệu đồng; trong đó vốn trái phiếu Chính phủ 221.213 triệu đồng và vốn ngân sách tỉnh 669.208 triệu đồng
Bảng 2.5 Số liệu vốn đầu tư huy động cho phát triển giáo dục ở tỉnh Tiền Giang từ 2008 đến 2012
Trang 36Bảng 2.6 Tổng hợp kinh phí đầu tư xây dựng trường học cho yêu cầu phát triển GD&ĐT đến năm 2015
Kỷ cương, nền nếp, môi trường sư phạm được giữ vững Chất lượng giáo dục toàn diện duy trì ổn định Việc triển khai thực hiện đổi mới chương trình giáo dục phổ thông được thực hiện nghiêm túc Công tác QLGD thực hiện đổi mới từ Sở đến các đơn vị; tăng cường quan tâm, chỉ đạo việc thực hiện các điều kiện đảm bảo chất lượng giáo dục
2.1.3.6 Những hạn chế, bất cập
CSVC mặc dù được tăng cường đầu tư nhưng vẫn chưa đáp ứng yêu cầu phát triển giáo dục Một số trường phổ thông vẫn còn thiếu phòng thực hành thí nghiệm nên chưa sử dụng hết hiệu suất các thiết bị dạy học đã được trang bị Tiến độ xây dựng trường mầm non, trung học đạt chuẩn quốc gia còn chậm
Công tác quản lý chuyên môn ở một số trường chưa chặt chẽ GV chưa mạnh dạn đổi mới Công tác bồi dưỡng học sinh yếu kém chưa hiệu quả, tỷ lệ học sinh THPT trong độ tuổi đến trường đạt chưa cao, tỷ lệ học sinh bỏ học tuy giảm nhưng chưa ổn định
Chất lượng giáo dục tuy có nâng lên song chưa đáp ứng yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng cho địa phương Tình trạng tiêu cực trong dạy thêm, học thêm, bệnh thành tích trong giáo dục vẫn còn tồn tại
Trang 372.2 Thực trạng công tác XHHT ở tỉnh Tiền Giang
2.2.1 Tình hình xây dựng XHHT ở tỉnh Tiền Giang
Từ quan điểm, đường lối xây dựng sự nghiệp giáo dục theo định hướng XHHT của Đảng và Nhà nước việc xây dựng và phát triển XHHT ở tỉnh Tiền Giang được thể hiện bởi 3 đặc tính sau đây:
- Có sự lãnh đạo và quản lý thống nhất của Đảng và Nhà nước theo các mục tiêu chiến lược Quốc gia về GD&ĐT
- Có một hệ thống giáo dục mềm dẻo, linh hoạt đáp ứng nhu cầu học tập phong phú, đa dạng của mọi tầng lớp nhân dân
- Có các nguồn lực đầu tư cho giáo dục dồi dào, hiệu quả được huy động từ
sự đóng góp của toàn xã hội
Ba đặc tính của XHHT hình thành nên ba bộ phận cơ bản:
- Bộ phận quản lý, lãnh đạo học tập, gồm: cấp Ủy, chính quyền và các cơ quan tham mưu, giúp việc
- Bộ phận phục vụ các nhu cầu học tập của nhân dân, gồm: hệ thống trường học và các cơ sở học tập ngoài nhà trường
- Bộ phận cung ứng các điều kiện để duy trì và phát triển hệ thống giáo dục, gồm: các nguồn đầu tư của Nhà nước và đóng góp của nhân dân
2.2.2 Vấn đề xây dựng mô hình XHHTở tỉnh Tiền Giang
Việc xây dựng mô hình XHHT ở Tiền Giang phải phản ánh được các đặc tính chủ yếu của XHHT ở Việt Nam: có sự lãnh đạo và quản lý thống nhất của Đảng
và Nhà nước theo các mục tiêu chiến lược quốc gia về GD-ĐT; có một hệ thống giáo dục mềm dẻo, linh hoạt đáp ứng nhu cầu học tập phong phú, đa dạng của mọi tầng lớp nhân dân; có các nguồn lực đầu tư cho GD dồi dào, hiệu quả được huy động từ
sự đóng góp của toàn xã hội
Trang 38Bảng 2.7 Định hướng mô hình tổng quát XHHT xã, phường, thị trấn ở tỉnh Tiền Giang đến năm 2020
QUẢN LÝ, LÃNH ĐẠO XHHT
Đảng ủy, UBND xã
Sở Giáo dục & Đào tạo – Phòng Giáo dục & và
Đào tạo Hội đồng giáo dục xã
Hệ thống trường học và cơ sở học tập ngoài nhà trường
Trường học Cơ sở học tập ngoài nhà trường
Hệ thống các nguồn lực xã hội đầu tư cho giáo dục Nhà nước đầu
2.2.3 Thực trạng hệ thống trường, lớp trong giáo dục ban đầu (giáo dục chính quy)
Được sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo kịp thời và sâu sát của Uỷ ban nhân dân
Các nhóm, lớp mầm non tư nhân
Tỉnh Huyện
Xã
Hội khuyến học và các phong trào khuyến học khuyến tài
Nhân dân đóng góp
Tổ chức cá nhân đầu tư
Đoàn thể, tổ chức K.tế,X.hội tài trợ
- Trung tâm văn hóa thểthao
- Trung tâm học tập cộng đồng
- Các thiết chế khác
Lớp học của các cơ quan đoàn thể Điểm thông tin K.học - C.Nghệ Các cơ sở dạy tin học,ngoại ngữ,nghề
Bưu điện Văn hóa
xã
Cơ sở giáo dục khác
Trang 39huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, các ban, ngành, đoàn thể có liên quan trong việc thực hiện các chỉ tiêu giáo dục được thực hiện tốt
Việc “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” và “Nói không tiêu cực trong thi cử và bệnh thành tích trong giáo dục, với vi phạm đạo đức nhà giáo và tình trạng học sinh không đạt chuẩn lên lớp” với việc “ Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” đã được lực lượng CBQL, giáo viên và nhân viên trong ngành nhiệt tình ủng hộ, đã từng bước nâng cao trình độ, nhận thức cũng như hành động của đội ngũ CBQL, giáo viên và nhân viên để đáp ứng yêu cầu hoạt động trong giai đoạn mới
Truyền thống hiếu học cũng là một đặc điểm nổi bật của người Tiền Giang, trong thời kỳ phong kiến, được mệnh danh là đất học, đất khoa cử, nơi có nhiều người đỗ đạt chỉ sau vùng đất Gia Định, có người được khắc tên trên bia Tiến sĩ tại kinh thành Huế như Phan Hiển Đạo Tiền Giang còn tự hào với trường Trung học Nguyễn Đình Chiểu, trường trung học được thành lập sớm nhất Việt Nam, ngôi trường có truyền thống cách mạng, nơi đã ươm mầm cho nhiều nhân tài, nhiều nhà hoạt động cách mạng nổi tiếng của đất nước như Cố Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Phạm Hùng, Cố Phó Chủ tịch Hội đồng Nhà nước Huỳnh Tấn Phát, Giáo sư Viện sĩ Trần Đại Nghĩa, Bác sĩ Nguyễn Văn Hưởng… và rất nhiều những nhân tài đã và đang cống hiến trên nhiều lĩnh vực, ở mọi miền đất nước
Được nuôi dưỡng ở vùng đất giàu truyển thống, thế hệ trẻ Tiền Giang luôn
tự hào và quyết tâm phấn đấu học tập, rèn luyện Thời gian qua, truyền thống hiếu học được thế hệ trẻ phát huy tích cực, thành tích học tập của con em Tiền Giang được đánh giá cao; hằng năm số học sinh tốt nghiệp THPT, trúng tuyển vào đại học, cao đẳng đều đứng đầu khu vực …
Công tác GD&ĐT trên địa bàn tỉnh Tiền Giang thời gian qua có chuyển biến tích cực trên nhiều mặt: Mạng lưới trường lớp từng bước được quy hoạch khá hợp lý, cơ sở vật chất phục vụ dạy và học được tăng cường, qui mô trường lớp đủ để đáp ứng nhu cầu học tập; đối tượng mù chữ trong độ tuổi đã thu hẹp (số còn mù chữ còn 0,02%), tỷ lệ đạt trình độ học vấn tiểu học trở lên đạt 92%, 99,99% số người từ 15-35 tuổi đạt chuẩn chống mù chữ; có 2 xã còn người mù chữ (xã Tân Thới và Tân Thạnh, huyện Tân Phú Đông)
99,93% số trẻ 14 tuổi đạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học (số trẻ 14 tuổi đã tốt nghiệp tiểu học 20.445/20.459 trẻ phải phổ cập), có 159 xã và 5 huyện có tỷ lệ tiêu chuẩn PCGDTH đạt 100% (TP Mỹ Tho, Gò Công Tây, Gò Công Đông, TX Gò Công, Tân Phú Đông)
Trang 40Giáo dục tiếp tục sau khi biết chữ, đã huy động nhiều đối tượng ra lớp, có 1.148 học viên theo học các lớp Tỷ lệ độ tuổi 15-35 hoàn thành bậc tiểu học đạt 94,24%.PCGD tiểu học và phổ cập tiểu học đúng độ tuổi được củng cố và phát triển vững chắc, giữ trạng thái ổn định đây là cơ sở và là tiền đề vững chắc cho việc củng
cố chất lượng PCGD THCS;
Về phổ cập giáo dục trung học cơ sở, với tỷ lệ các tiêu chuẩn như sau:
- 100% trẻ 6 tuổi vào lớp 1
- 99,60% trẻ tốt nghiệp tiểu học vào lớp 6 (tăng 0,05%)
- 98,40% trẻ 11-14 tuổi tốt nghiệp tiểu học (tăng 0,2%)
- 97,70% tốt nghiệp THCS (giảm 0,23%)
- 88,24% thanh thiếu niên 15 -18 tuổi tốt nghiệp THCS (tăng 0,64%);
- 93,38% trẻ 11-14 tuổi vào học trung học cơ sở (tăng 1,08% so với năm 2011); các đơn vị có tỷ lệ huy động cao như TP.Mỹ Tho 96,38%, Chợ Gạo 95,87%, Châu Thành 95,72%; các đơn vị có tỷ lệ huy động còn thấp như Cái Bè, Gò Công Đông, Tân Phú Đông
- 169/169 xã, phường, thị trấn đạt chuẩn phổ cập giáo dục trung học cơ sở Công tác xã hội hóa giáo dục ngày càng phát huy tác dụng và có hiệu quả;
cuộc vận động " Ngày toàn dân đưa trẻ em đến trường" hằng năm đều được các
ngành, các cấp quan tâm hỗ trợ và góp sức cùng ngành giáo dục, làm cho cuộc vận động có ý nghĩa thiết thực và đạt hiệu quả; qua cuộc vận động nhiều địa phương đã huy động 100% số trẻ 6 tuổi vào học lớp một và hơn 99 % trẻ tốt nghiệp tiểu học vào học lớp 6
Công tác quản lý ở các trường học mà đặc biệt là ở các trường tiểu học, trung học cơ sở thời gian qua đã có nhiều chuyển biến tích cực, đã tập trung cao cho việc huy động học sinh, duy trì sĩ số, chống lưu ban bỏ học; đổi mới phương pháp giảng dạy, nâng cao chất lượng giáo dục và hiệu quả đào tạo ở các cấp học, bậc học.Tiền Giang đã đạt chuẩn PCGD tiểu học và chống mù chữ tháng 12 năm 1996; đạt chuẩn PCGD tiểu học đúng độ tuổi tháng 12 năm 2004; đạt chuẩn PCGD trung học cơ sở tháng 12 năm 2006
Mạng lưới các trường mầm non, phổ thông, các cơ sở đào tạo trong tỉnh đã
và đang được sắp xếp lại phù hợp với quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của địa phương và Nghị định 90/CP của Chính phủ: 100% xã, thị trấn đều có trường tiểu học, trường trung học cơ sở và TTHTCĐ Toàn tỉnh hiện có 571 trường với 9448 lớp học bao gồm 182 nhà trẻ, trường mầm non, mẫu giáo; 227 trường tiểu học; 126