BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠOTRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH--- * * * --- NGUYỄN THỊ HUYỀN MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ TRƯỞNG BỘ MÔN TRƯỜNG CAO ĐẲNG THỂ DỤC THỂ THAO THANH HÓA Chuyên ngành: Quản l
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH - * * * -
NGUYỄN THỊ HUYỀN
MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ TRƯỞNG BỘ MÔN
TRƯỜNG CAO ĐẲNG THỂ DỤC THỂ THAO THANH HÓA
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Nghệ An, năm 2014
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH - * * * -
NGUYỄN THỊ HUYỀN
MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ TRƯỞNG BỘ MÔN
TRƯỜNG CAO ĐẲNG THỂ DỤC THỂ THAO THANH HÓA
Chuyên ngành: Quản lý giáo dục
Mã số: 60 14 01 14
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học : PGS.TS Thái Văn Thành
Nghệ An, năm 2014
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Luận văn này được thực hiện tại trường Cao đẳng Thể dục Thể thao Thanh hóa Để hoàn thành được luận văn này tôi đã nhận được rất nhiều sự động viên, giúp đỡ của nhiều cá nhân và tập thể
Trước hết, tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc đến PGS TS Thái Văn Thành - Người hướng dẫn khoa học đã tận tình giúp đỡ, chỉ bảo ân cần trong quá trình nghiên cứu, hoàn thành luận văn.
Xin cùng bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới các thầy cô giáo, người đã đem lại cho tôi những kiến thức bổ trợ, vô cùng có ích trong những năm học vừa qua
Cũng xin gửi lời cám ơn chân thành tới Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo sau đại học, Ban Chủ nhiệm Khoa Giáo dục trường Đại học Vinh đã tạo điều kiện cho tôi trong quá trình học tập.
Cuối cùng tôi xin gửi lời cám ơn đến gia đình, bạn bè và đồng nghiệp, những người đã luôn bên tôi, động viên và khuyến khích tôi trong quá trình thực hiện đề tài nghiên cứu của mình Xin chân thành cảm ơn !
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
Trang 4CBQL: Cán bộ quản lý
Trang 5MỤC LỤC
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Nước ta ngày càng hội nhập sâu vào nền kinh tế thế giới và đang bước vào giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước nên việc nhận thức đúng vai trò của nhân lực là hết sức quan trọng Con người
là chủ thể, là nhân tố lao động sáng tạo, là yếu tố quyết định khả năng cạnh tranh của nền kinh tế
Giáo dục là động lực quan trọng thúc đẩy sự phát triển xã hội Trong
những năm qua, sự nghiệp giáo dục nước ta đã có những bước phát triển mới, đạt được nhiều kết quả đáng khích lệ trong việc mở rộng quy mô, tăng
cơ hội tiếp cận giáo dục cho mọi người và chuẩn bị nguồn nhân lực cho giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Tuy vậy, sự phát triển của nền giáo dục còn nhiều hạn chế, chưa tương xứng với vị trí giáo dục là quốc sách hàng đầu Chất lượng giáo dục và đào tạo nhìn chung còn thấp, công tác quản lý giáo dục còn kém hiệu quả
Chiến lược phát triển giáo dục được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt
ngày 28/ 11/ 2001 đã chỉ rõ: “Nguyên nhân của những yếu kém bất cập
trước hết là do yếu tố chủ quan, trình độ quản lý giáo dục chưa theo kịp với thực tiễn và nhu cầu phát triển khi nền kinh tế đang chuyển từ nền kinh
tế kế hoạch hoá tập trung sang thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, chưa phối hợp tốt và sử dụng có hiệu quả nguồn lực của Nhà nước và xã hội; chậm đổi mới cả tư duy và phương thức quản lý Năng lực của cán
bộ quản lý giáo dục các cấp chưa được chú trọng nâng cao Một số bộ phận cán bộ quản lý và giáo viên suy giảm về phẩm chất đạo đức” [13]
Nhằm khắc phục nguyên nhân những yếu kém trên, Nghị quyết Đại hội Đảng X khẳng định: “Giải pháp then chốt là đổi mới và nâng cao năng lực
Trang 7quản lý nhà nước trong giáo dục - đào tạo” Chính vì thế Ban bí thư trung
ương Đảng đã Ban hành Chỉ thị số 40-CT/ TW ngày 15/ 06/ 2004 về việc xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo
dục Chỉ thị nêu rõ: “Năng lực của đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục chưa
ngang tầm với nhu cầu phát triển của sự nghiệp giáo dục Chế độ, chính sách còn bất hợp lý, chưa tạo được động lực đủ mạnh để phát huy tiềm năng của đội ngũ này Tình hình trên đòi hỏi phải tăng cường xây dựng đội ngũ Nhà Giáo và cán bộ quản lý giáo dục một cách toàn diện” [1]
Nghị quyết số 14/2005/NQ-CP ngày 02/11/2005 của Chính phủ về đổi mới cơ bản và toàn diện giáo dục cao đẳng, đại học giai đoạn 2006 - 2020
khẳng định: ''Không thể tiếp tục phát triển quy mô giáo dục đại học mà lại
buông lỏng quản lý chất lượng như thời gian qua Các bên liên quan bao gồm quản lý nhà nước, quản lý nhà trường, giảng viên, sinh viên, người sử dụng lao động và xã hội đều có trách nhiệm về chất lượng đào tạo" [9]
Lý luận đã chỉ ra rằng chất lượng đào tạo phụ thuộc vào nhiều yếu tố: Nội dung, chương trình, phương pháp đào tạo, cơ sở vật chất, đội ngũ giáo viên Trong đó đội ngũ cán bộ quản lý và giáo viên là một trong những yếu tố cực kỳ quan trọng, quyết định đến chất lượng đào tạo nguồn nhân lực Nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục đủ về
số lượng, chuẩn về chất lượng, đồng bộ về cơ cấu, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước là nhiệm
vụ quan trọng trong đổi mới quản lý giáo dục Do vậy, việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý là việc làm cấp thiết hiện nay
Trong đội ngũ cán bộ quản lý thì đội ngũ trưởng bộ môn có vai trò quan trọng, họ là những cán bộ quản lý cơ sở, trực tiếp quản lý đội ngũ giáo viên và chỉ đạo chuyên môn trong các bộ môn, nơi diễn ra các hoạt động dạy học và nâng cao tay nghề cho giáo viên
Trang 8Vai trò, trách nhiệm của trưởng bộ môn quan trọng là vậy, song trên thực tế họ đang làm công tác quản lý một cách cảm tính, theo kinh nghiệm, đặc biệt là những người mới được giao nhiệm vụ, họ hoàn toàn lúng túng trong việc thực thi các chức năng của người quản lý.
Trường Cao đẳng TDTT Thanh Hóa nằm trong hệ thống các trường đại học cao đẳng, có vai trò quan trọng trong việc đào tạo nguồn nhân lực
về thể dục thể thao, phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu các môn thể thao, tạo nguồn VĐV cho đội tuyển Quốc gia của tỉnh Thanh Hóa Được sự quan tâm chỉ đạo sát sao của Ban Thường vụ Tỉnh ủy, UBND tỉnh Thanh Hóa,
sự ủng hộ và giúp đỡ của các cấp, các ngành, Trường cao đẳng Thể dục thể thao Thanh Hóa đã đạt được những thành tích đáng kể trong việc thực hiện
sứ mệnh, nhiệm vụ được giao, đã có những chiến lược và các giải pháp để tăng cường hiệu quả công tác quản lý dạy - học; đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục hoạt động có chất lượng và hiệu quả hơn, đặc biệt là công tác xây dựng và phát triển đội ngũ trưởng bộ môn đã đạt được kết quả đáng khích lệ Nhờ đó, hoạt động của nhà trường từng bước được vận hành theo đúng nguyên lý giáo dục của Đảng, sự nghiệp GD - ĐT phát triển, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của công cuộc đổi mới đất nước Tuy vậy, trong quá trình phát triển nhà trường còn gặp nhiều khó khăn và thách thức, chất lượng và hiệu quả còn thấp, còn bất cập; năng lực chuyên môn của một bộ phận trưởng bộ môn còn hạn chế, chưa ý thức được một cách đầy đủ vai trò, vị trí, nhiệm vụ của người cán bộ quản lý trong giai đoạn hiện nay Việc phân công, phân cấp còn bộc lộ những bất cập, chưa tạo được sự chủ động trong quản lý và điều hành Một số cán bộ quản lý thiếu chủ động trong suy nghĩ, chưa theo kịp tình hình phát triển kinh tế- xã hội trong thời
kỳ mới
Trang 9Đội ngũ trưởng bộ môn là lực lượng rất quan trọng trong các nhà trường Để hoàn thành nhiệm vụ, đòi hỏi đội ngũ này phải đáp ứng yêu cầu
về phẩm chất và năng lực quản lý Chính vì vậy, cần phải nghiên cứu một cách nghiêm túc để xây dựng được một hệ thống lý luận, tập hợp được các kinh nghiệm về phát triển đội ngũ trưởng bộ môn nhằm cung cấp cơ sở khoa học cho việc phát triển đội ngũ trưởng bộ môn ngày càng tốt hơn
Xuất phát từ cơ sở lý luận và thực tiễn trên đây, tôi chọn nghiên cứu
đề tài: “Một số giải pháp phát triển đội ngũ trưởng bộ môn Trường cao đẳng Thể dục thể thao Thanh Hóa”
2 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn, đề xuất một số giải pháp phát triển đội ngũ trưởng bộ môn Trường cao đẳng TDTT Thanh Hóa, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo của nhà trường
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu: Công tác phát triển đội ngũ trưởng bộ
môn Trường cao đẳng Thể dục thể thao
3.2 Đối tượng nghiên cứu: Giải pháp phát triển đội ngũ trưởng bộ
môn Trường cao đẳng Thể dục thể thao Thanh Hóa
4 Giả thuyết khoa học
Nếu đề xuất được các giải pháp có tính khoa học, khả thi thì sẽ phát triển đội ngũ trưởng bộ môn Trường cao đẳng thể dục thể thao Thanh Hóa, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo của nhà trường
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận về phát triển đội ngũ trưởng bộ môn
trường cao đẳng
Trang 105.2 Nghiên cứu thực trạng phát triển đội ngũ trưởng bộ môn; thực
trạng công tác phát triển đội ngũ trưởng bộ môn Trường cao đẳng Thể dục thể thao Thanh Hóa;
5.3 Đề xuất một số giải pháp phát triển đội ngũ trưởng bộ môn
Trường cao đẳng Thể dục thể thao Thanh Hóa
6 Phương pháp nghiên cứu
6.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận.
Phân tích, hệ thông hóa các văn bản của Đảng, Nhà nước, Bộ giáo dục và đào tạo về nâng cao chất lượng đội ngũ trưởng bộ môn
6.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn.
Xây dựng hệ thống câu hỏi, khảo sát vấn đề quản lý phát triển đội ngũ trưởng bộ môn Trường cao đẳng TDTT Thanh Hóa; quan sát các hoạt động giáo dục và đào tạo; tiếp xúc trao đổi với đội ngũ trưởng bộ môn; phân tích, tổng hợp rút ra kết luận
Phương pháp chuyên gia:
Xin ý kiến các chuyên gia về sự cần thiết và tính khả thi của các biện pháp quản lý phát triển đội ngũ trưởng bộ môn, phỏng vấn các trưởng bộ môn, cán bộ quản lý về những vấn đề liên quan đến đề tài
6.3 Phương pháp thống kê toán học.
Tổng hợp phân tích, xử lý số liệu liên quan đến quản lý phát triển đội ngũ trưởng bộ môn Trường cao đẳng TDTT Thanh Hóa
7 Những đóng góp mới của luận văn
- Hệ thống hoá cơ sở lý luận về phát triển đội ngũ trưởng bộ môn Trường cao đẳng Thể dục thể thao Thanh Hoá
- Đánh giá thực trạng đội ngũ trưởng bộ môn Trường cao đẳng Thể dục thể thao Thanh Hoá
Trang 11- Đề xuất một số giải pháp quản lý phát triển đội ngũ trưởng bộ môn Trường Cao đẳng Thể dục Thể thao Thanh Hóa.
8 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, luận văn gồm 03 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về phát triển đội ngũ trưởng bộ môn
trường cao đẳng Thể dục thể thao
Chương 2: Thực trạng công tác phát triển đội ngũ trưởng bộ môn
trường cao đẳng Thể dục thể thao Thanh Hóa
Chương 3: Một số giải pháp phát triển đội ngũ trưởng bộ môn
trường cao đẳng Thể dục thể thao Thanh Hóa
Trang 12Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ TRƯỞNG
BỘ MÔN TRƯỜNG CAO ĐẲNG THỂ DỤC THỂ THAO
1.1 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ
1.1.1 Các nghiên cứu ở nước ngoài.
Cùng với quá trình phát triển về mọi mặt của đời sống kinh tế - xã hội, hệ thống giáo dục luôn được các quốc gia quan tâm phát triển và hoàn thiện để đáp ứng nhu cầu nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, đặc biệt trong giai đoạn hiện nay với sự phát triển mạnh mẽ của quá trình toàn cầu hóa và sự ra đời của nền kinh tế tri thức Ở tất cả các nước, bất luận là nước giàu hay nước nghèo, châu Á hay châu Âu, đội ngũ cán bộ quản lý nói chung và đội ngũ trưởng bộ môn nói riêng trong hệ thống trường đại học đều có vai trò quyết định đến phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài và qua đó nâng cao vị thế và trình độ phát triển của mỗi quốc gia Theo một nghiên cứu về hệ thống giáo dục của 40 quốc gia, vùng lãnh thổ của công ty giáo dục Mỹ Pearson vừa công bố, thì Phần Lan và Hàn Quốc đang nổi lên là “những cường quốc giáo dục”, dù hệ thống giáo dục của họ khác nhau Hàn Quốc được cho là có hệ thống giáo dục cứng nhắc và chú trọng thi cử, trong khi hệ thống giáo dục Phần Lan lại linh hoạt hơn Tuy nhiên, cả hai quốc gia này đều chú trọng phát triển đội ngũ trưởng bộ môn hay là những giảng viên giỏi, xem trọng trách nhiệm và có một “sứ mệnh đạo đức” nhằm đề cao nỗ lực đào tạo Theo sau Phần Lan và Hàn Quốc lần lượt là Hồng Kông, Nhật, Singapore, Anh, Hà Lan, New Zealand, Thụy Sĩ
và Canada Trong khi đó, Úc và Mỹ lần lượt được xếp ở vị trí 13 và 17 [42] Nghiên cứu còn nêu ra một số bài học cho các nhà hoạch định chính sách, giáo dục đòi hỏi sự chú ý mang tính hệ thống, tập trung, nhất quán và lâu dài mới có thể đạt sự tiến bộ Đặc biệt, đội ngũ trưởng bộ môn hay là
Trang 13những giảng viên giỏi rất quan trọng, có thể nói là những đầu tàu đối với nền giáo dục chất lượng cao Việc phát hiện và giữ chân họ chưa hẳn là vấn
đề lương cao Thay vào đó, đội ngũ trưởng bộ môn cần được đối xử như những nhà chuyên nghiệp, chứ không phải là những kỹ thuật viên trong cổ máy giáo dục khổng lồ [42]
Trưởng bộ môn là công cụ số 1 của lãnh đạo nhà trường giúp nhà
trường nâng cao chất lượng Bộ môn là nơi sinh hoạt chuyên môn, học
thuật, vì thế trưởng bộ môn là hạt nhân đòi hỏi phải là người giỏi chuyên môn nhất, đạo đức tốt, thường xuyên tổ chức sinh hoạt chuyên môn, báo cáo chuyên đề khoa học nhằm nâng cao trình độ của mình, đồng nghiệp Cách làm này giúp trưởng bộ môn nắm được trình độ của từng giảng viên (đặc biệt là những giảng viên trẻ), chất lượng giờ dạy của họ ở trên lớp, từ
đó có kế hoạch bồi dưỡng nâng cao trình độ cho cho giảng viên trong bộ môn Ở trường Đại học Lô-mô-nô-xốp (Liên bang Nga), trưởng bộ môn được quy định phải là Viện sĩ, trong khi đó Trưởng khoa chỉ là Tiến sĩ
1.1.2 Các nghiên cứu ở trong nước
Ở trong nước, trong những năm gần đây đã xuất hiện một số công trình nghiên cứu về vấn đề phát triển đội ngũ trưởng bộ môn, nhưng không nhiều Có thể nói đây vẫn là một đề tài mới trong công tác quản lý phát triển nâng cao chất lượng giáo dục bậc Đại học, Cao đẳng ở Việt Nam Mặc dù có ít công trình nghiên cứu nhưng trong các công trình gần đây, hầu hết các tác giả nêu lên vai trò, vị trí tầm quan trọng của đội ngũ trưởng
bộ môn và đề xuất một số giải pháp để phát triển đội ngũ trưởng bộ môn trong hệ thống trường Đại học, Cao đẳng nói chung Ngoài ra đã có nhiều cuộc hội thảo nghiên cứu thảo luận xung quanh vấn đề nâng cao hiệu quả hoạt động của bộ môn và trưởng bộ môn trong trường đại học như: Học viện Tài chính, Đại học Vinh Trên báo chí, các ý kiến đều thống nhất ở
Trang 14sự cần thiết phải thực hiện đồng bộ các giải pháp, trong đó đổi mới quản lý, nâng cao chất lượng giáo dục Đại học cần quan tâm chú trọng xây dựng và phát triển đội ngũ đầu ngành của bộ môn trong nhà trường.
Trên cở sở kế thừa các công trình nghiên cứu về phát triển đội ngũ
trưởng bộ môn, đề tài “Một số giải pháp phát triển đội ngũ trưởng bộ
môn Trường Cao đẳng TDTT Thanh Hóa” nhằm đáp ứng mục tiêu,
nhiệm vụ chiến lược nhà trường đặt ra, không ngừng nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo nguồn nhân lực trong lĩnh vực y khoa phục vụ cho nhu cầu của xã hội, đáp ứng yêu cầu đòi hỏi ngày càng cao trong bối cảnh hội
nhập kinh tế quốc tế hiện nay Đối với Trường Cao đẳng TDTT Thanh Hóa
đây là công trình nghiên cứu đầu tiên đề cập đến vấn đề phát triển đội ngũ trưởng bộ môn trong nhà trường
1.2 MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN CỦA ĐỀ TÀI
1.2.1 Trưởng bộ môn, Đội ngũ, Đội ngũ Trưởng bộ môn
1.2.1.1 Trưởng bộ môn
Theo Thông tư số 14/2009/TT-BGDĐT ngày 28 tháng 5 năm 2009 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành về Điều lệ trường cao đẳng thì “Trưởng bộ môn là người đứng đầu bộ môn Trưởng bộ môn do Hiệu trưởng bổ nhiệm, miễn nhiệm trên cơ sở đề nghị của Trưởng khoa sau khi tham khảo ý kiến của các giảng viên trong bộ môn Trưởng bộ môn là nhà khoa học có uy tín của ngành đào tạo tương ứng, có trình độ từ thạc sĩ trở lên Nhiệm kỳ của Trưởng bộ môn là 5 năm và có thể được bổ nhiệm lại Tuổi khi bổ nhiệm Trưởng Bộ môn do Hiệu trưởng quy định nhưng không vượt quá tuổi lao động theo quy định của Luật Lao động” [7]
Như vậy, ta có thể hiểu: Trưởng bộ môn là những người giảng viên
có uy tín, có trình độ chuyên môn cao và tham gia thực hiện công tác quản
lý (ở cấp bộ môn)
Trang 151.2.1.2 Đội ngũ
Theo từ điển tiếng Việt thì: “Đội ngũ là khối đông người cùng
chức năng nghề nghiệp được tập hợp và tổ chức thành một lực lượng”.
[40]
Trong các tổ chức xã hội, khái niệm về đội ngũ được dùng như đội ngũ tri thức, đội ngũ cán bộ, công chức đều có gốc xuất phát từ đội ngũ theo thuật ngữ quân sự, đó là một khối đông người, được tổ chức thành một lực lượng để chiến đấu hoặc bảo vệ v.v
Các khái niệm tuy có khác nhau nhưng đều phản ánh một điều, đó là một nhóm người được tổ chức và tập hợp thành một lực lượng để thực hiện một hay nhiều chức năng, có thể có cùng nghề nghiệp hoặc không cùng một nghề nghiệp nhưng cùng có chung một mục đích nhất định
Từ cách hiểu trên, có thể nêu chung: Đội ngũ là một tập thể gồm số đông người, có cùng lý tưởng, cùng mục đích, làm việc theo sự chỉ huy thống nhất, có kế hoạch, gắn bó với nhau về quyền lợi vật chất cũng như tinh thần
1.2.1.2 Đội ngũ Trưởng bộ môn
Đội ngũ Trưởng bộ môn là tập hợp tất cả các trưởng bộ môn có uy tín, có trình độ chuyên môn cao và tham gia thực hiện công tác quản lý (ở cấp độ bộ môn) tại các trường Cao đẳng, Đại học được tổ chức thành một lực lượng (có tổ chức) cùng chung một nhiệm vụ là thực hiện các mục tiêu giáo dục đã đề ra cho tập hợp đó, tổ chức đó Họ làm việc có kế hoạch và gắn bó với nhau thông qua lợi ích về vật chất và tinh thần trong khuôn khổ quy định của pháp luật, thể chế xã hội Họ chính là nguồn lực quan trọng trong lĩnh vực giáo dục Đại học
1.2.1.3 Đội ngũ Trưởng bộ môn trường cao đẳng Thể dục Thể thao
Trang 16Đội ngũ Trưởng bộ môn trường cao đẳng TDTT là một tập thể bao
gồm những cán bộ quản lý giáo dục có phẩm chất chính trị vững vàng, có
đủ năng lực về thể chất và tâm lý, được đào tạo, trang bị những kiến thức chuyên ngành các môn thể thao, có kiến thức sư phạm chuyên ngành GDTC và các chuyên ngành liên quan đến thể thao, GDTC cùng các kỹ năng thực hành các động tác để thực hiện nhiệm vụ huấn luyện vận động viên năng khiếu các môn thể thao, đào tạo giáo viên GDTC và giáo viên Thể dục - Quốc phòng đạt trình độ cao đẳng TDTT
1.2.2 Phát triển và phát triển đội ngũ trưởng bộ môn
1.2.2.1 Phát triển
Theo tôi phát triển được hiểu là cả một quá trình quan trọng mà qua
đó sự lớn mạnh của cá nhân hay tổ chức có thể đạt được những tiềm năng đầy đủ nhất của họ theo thời gian
Phát triển là thuật ngữ được sử dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực như phát triển kinh tế, phát triển xã hội, phát triển nguồn nhân lực, phát triển đội ngũ
Các học giả Việt Nam cũng định nghĩa phát triển theo nhiều góc độ khác nhau Nguyễn Văn Đạm cho rằng: Phát triển “lớn lên về mặt kích thước, độ rộng (số lượng) hay về mặt giá trị, tầm quan trọng (chất lượng)” [19]
Theo tác giả Đặng Bá Lãm, “Phát triển là một quá trình vận động từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, theo đó cái cũ chuyển biến mất và cái mới ra đời v.v Phát triển là một quá trình nội tại: bước chuyển từ thấp lên cao xảy ra bởi vì trong cái thấp đã chứa đựng dưới dạng tiềm tàng những khuynh hướng dẫn đến cái cao Còn cái cao là cái thấp đã phát triển” [25]
Trang 17Theo từ điển tiếng Việt, phát triển là “Biến đổi hoặc làm cho biến đổi
từ ít đến nhiều, hẹp đến rộng, thấp đến cao, đơn giản đến phức tạp” [40]
Từ điển Anh - Việt thì giải thích rằng phát triển ai, cái gì chính là
“làm cho ai/ cái gì tăng trưởng dần dần, trở nên hoặc làm cho trưởng thành hơn, tiến triển hơn hoặc có tổ chức hơn” [37]
Theo quan điểm triết học, phát triển là khái niệm biểu hiện sự thay đổi tăng tiến cả về chất, cả về không gian lẫn thời gian của sự vật hiện tượng và con người trong xã hội Như vậy, phát triển được hiểu là sự tăng trưởng, sự chuyển biến theo chiều hướng tích cực, tiến lên
Như vậy, sự vật, hiện tượng, con người, xã hội biến đổi để tăng tiến
về số lượng, chất lượng dưới tác động của bên trong hoặc bên ngoài đều được xem là phát triển
1.2.2.2 Phát triển đội ngũ trưởng bộ môn
Phát triển đội ngũ trưởng bộ môn thực chất là xây dựng và phát triển
cả ba yếu tố: Quy mô, cơ cấu, chất lượng Trong đó quy mô được biểu hiện bằng số lượng, cơ cấu thể hiện sự hợp lý trong bố trí về nhiệm vụ, độ tuổi, giới tính, chuyên môn, nghiệp vụ hay nói cách khác là tạo ra một ê kíp đồng bộ, đồng tâm có khả năng hỗ trợ, bù đắp cho nhau về mọi mặt Chất lượng đây là yếu tố quan trọng nhất trong việc xây dựng và phát triển đội ngũ Trưởng bộ môn
Phát triển đội ngũ trưởng bộ môn trường cao đẳng là xây dựng quy hoạch phát triển đội ngũ, thực hiện tuyển chọ, đào tạo, sắp xếp, bổ nhiệm,
sử dụng, bồi dưỡng cũng như tạo môi trường và động cơ cho đội ngũ này phát triển Để thực hiện tốt việc này cần phải nghiên cứu kĩ đặc điểm của từng địa phương, vùng miền, bối cảnh chính trị, kinh tế, xã hội hiện tại cùng quy mô trường lớp và đặc điểm tâm lý của người CBQL để đè ra nội dung giải pháp cho phù hợp
Trang 18Phát triển đội ngũ trưởng bộ môn trường cao đẳng phải thỏa mãn: đảm bảo về chất lượng, đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, đồng thời phát triển đúng định hướng, có hiệu quả để góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực
1.2.3 Giải pháp và giải pháp phát triển đội ngũ trưởng bộ môn trường cao đẳng Thể dục Thể thao
1.2.3.1 Giải pháp
Theo Từ điển Tiếng Việt của tác giả Hoàng Phê:“Giải pháp được
xem là phương pháp giải quyết một công việc, một vấn đề cụ thể”.[30]
Còn theo tác giả Nguyễn Văn Đạm, “giải pháp là toàn bộ những ý nghĩa có hệ thống cùng với những quyết định và hành động theo sau, dẫn tới sự khắc phục một khó khăn” [19]
Để hiểu rõ hơn khái niệm giải pháp, chúng ta cần phân biệt với một
số khái niệm như: phương pháp, biện pháp Điểm giống nhau của các khái niệm này là đều nói về cách làm, cách tiến hành, cách giải quyết một công việc, một vấn đề Còn điểm khác nhau ở chỗ, biện pháp chủ yếu nhấn mạnh đến cách làm, cách hành động cụ thể, trong khi đó thì phương pháp nhấn mạnh đến trình tự các bước có quan hệ với nhau để tiến hành một công việc
có mục đích
Theo từ điển Tiếng Việt phổ thông của Viện ngôn ngữ học, đó là
“Biện pháp là cách làm, cách giải quyết một vấn đề cụ thể” [41]
Theo từ điển Tiếng Việt của nhà xuất bản Từ điển Bách khoa Hà Nội năm 2005 “Biện pháp là cách hành động lựa chọn sao cho phù hợp với mục đích” [38]
Về khái niệm phương pháp, theo tác giả Nguyễn Văn Đạm, “phương pháp được hiểu là trình tự cần theo trong các bước có quan hệ với nhau khi tiến hành một công việc có mục đích nhất định” [19]
Trang 19Còn theo tác giả Hoàng Phê, “phương pháp là hệ thống các cách sử dụng để tiến hành một công việc nào đó” [30].
Như vậy, khái niệm giải pháp tuy có những điểm chung với các khái niệm trên nhưng nó cũng có điểm riêng Điểm riêng cơ bản của thuật ngữ này là nhấn mạnh đến phương pháp giải quyết một vấn đề, với sự khắc phục khó khăn nhất định Trong một giải pháp có thể có nhiều biện pháp Giải pháp càng thích hợp, càng tối ưu càng giúp chúng ta nhanh chóng giải quyết những vấn đề đặt ra Tuy nhiên, để có được những giải pháp như vậy, cần phải dựa trên những cơ sở lý luận và thực tiễn đáng tin cậy
1.2.3.2 Giải pháp phát triển đội ngũ trưởng bộ môn trường cao đẳng Thể dục Thể thao
Giải pháp phát triển đội ngũ trưởng bộ môn là hệ thống các cách thức tổ chức, điều khiển hoạt động phát triển đội ngũ trưởng bộ môn Từ đó
đề xuất các giải pháp phát triển đội ngũ trưởng bộ môn, thực chất là đưa ra các cách thức tổ chức, điếu khiển có hiệu quả hoạt động phát triển đội ngũ trưởng bộ môn
Giải pháp phát triển đội ngũ trưởng bộ môn trường cao đẳng thể dục thể thao là các hoạt động cụ thể dược chủ thể quản lý sử dụng để tác động đến các thành tố cấu trúc của đọi ngũ trưởng bộ môn nhằm giải quyết những vấn đề tồn tại của đội ngũ này, phát ,triển nó theo mục tiêu, định hướng đã xác định; làm cho đội ngũ này có đủ về số lượng, đảm bảo về chất lượng và đồng bộ về cơ cấu
Xét về quy mô, chất lượng, cơ cấu dưới góc nhìn việc phát triển nguồn nhân lực của nền kinh tế tri thức thì nội dung xây dựng và phát triển đội ngũ trưởng bộ môn bao gồm: Lập kế hoạch phát triển đội ngũ trưởng
bộ môn; tuyển dụng; bố trí; sử dụng; đào tạo bồi dưỡng đội ngũ; kiểm tra, đánh giá, sàng lọc; công tác thi đua, khen thưởng đội ngũ
Trang 20Trong đó, tạo động cơ và tạo môi trường cho sự phát triển là tạo điều kiện cho đội ngũ trưởng bộ môn phát huy vai trò của họ như thực hiện tốt chính sách đãi ngộ, chế độ khen thưởng, kỷ luật; xây dựng điển hình tiên tiến nhân ra diện rộng Tạo cơ hội cho cá nhân thăng tiến, tạo ra những ước
mơ hoài bão kích thích cho sự phát triển; tạo cơ hội cho đội ngũ trưởng bộ môn có điều kiện học tập, bồi dưỡng, giao lưu trao đổi và học tập kinh nghiệm
1.3 MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ TRƯỞNG BỘ MÔN TRƯỜNG CAO ĐẲNG TDTT
1.3.1 Vị trí, vai trò của trưởng bộ môn trường cao đẳng TDTT
Trong bộ máy tổ chức nhà trường cao đẳng TDTT, trưởng bộ môn có một vị trí quan trọng trong việc điều hành chuyên môn của bộ môn; là mắt xích gắn kết giữa hiệu trưởng và giảng viên để bộ máy hoạt động đồng bộ
và có hiệu quả Trong trường cao đẳng, người Hiệu trưởng với quyền hạn
và trách nhiệm của mình, lựa chọn những giảng viên – huấn luyện viên có hiểu biết, có phẩm chất chính trị tốt, năng lực chuyên môn vững vàng, khả năng quản lý giỏi; biết huy động, tập hợp lực lượng để làm trưởng bộ môn Trưởng bộ môn giúp Hiệu trưởng triển khai các nội dung kế hoạch hoạt động của nhà trường đến từng giảng viên – huấn luyện viên
Trưởng bộ môn có trách nhiệm thay mặt hiệu trưởng điều hành, tổ chức, chỉ đạo tổ chức thực hiện việc dạy – học, trực tiếp viết giáo trình giảng dạy và các hoạt động giáo dục Quản lý công tác huấn luyện, tuyển chọn và đào tạo vận động viên năng khiếu các môn thể thao Tham mưu cho hiệu trưởng trong việc bố trí, sắp xếp đội ngũ giảng viên – huấn luyện viên giảng dạy và huấn luyện một cách phù hợp để phát huy khả năng của
họ Tổ chức kiểm tra, đánh giá xếp loại giờ dạy, giờ huấn luyện của giảng
Trang 21viên – huấn luyện viên theo đúng quy trình đề ra Để chỉ dạo tốt thì người trưởng bộ môn phải có kiến thức khoa học quản lý, quản lý giáo dục.
Trưởng bộ môn phải là người luôn đi đầu trong nghiên cứu khoa học,
có năng lực vững vàng về trình độ chuyên môn và nghiệp vụ, biết phát huy thế mạnh của bản thân và huy động được khả năng sáng tạo của các giảng viên - huấn luyện viên trong việc đổi mới phương pháp dạy học và huấn luyện, bồi dưỡng giảng viên - huấn luyện viên và nhiều hoạt động chuyên môn khác Người trưởng bộ môn phải thực sự là chỗ dựa đáng tin cậy về chuyên môn của bộ môn
Trưởng bộ môn là người có tấm lòng bao dung, nhân hậu, phải thực
sự là trung tâm của sự đoàn kết trong bộ môn, bảo vệ quyền lợi cho giảng viên - huấn luyện viên; hiểu được tính cách, hoàn cảnh của các thành viên trong bộ môn, biết chia sẻ với họ những niềm vui, nỗi buồn; biết phát huy được thế mạnh của từng thành viên, tạo động lực để bộ môn phát triển Trưởng bộ môn phải kiên quyết đấu tranh với những biểu hiện tiêu cực, trì trệ, bảo thủ Để chỉ đạo bộ môn hoạt động có hiệu quả, người trưởng bộ môn phải không ngừng trau dồi kiến thức, nghiệp vụ sư phạm, nghiệp vụ quản lý
1.3.2 Nhiệm vụ, quyền hạn của trưởng bộ môn trường cao đẳng TDTT
1.3.2.1 Trưởng bộ môn quản lý đội ngũ giảng viên, huấn luyện viên trong bộ môn.
Là người trực tiếp quản lý hoạt động giảng dạy, công tác chính trị, đạo đức nghề nghiệp của GV, HLV trong bộ môn nhưng nhiệm vụ trọng tâm là hoạt động chuyên môn; tổ chức sinh hoạt theo đúng định kỳ, kiểm tra, đánh giá, xếp loại GV và HLV Qua các buổi sinh hoạt, TBM đánh giá
Trang 22kết quả đạt được và chỉ rõ những tồn tại của các cá nhân để có hướng khắc phục, xây dựng bộ môn vững mạnh.
1.3.2.2 Trưởng bộ môn quản lý kế hoạch hoạt động của bộ môn.
TBM phải giúp GV, HLV nâng cao nhận thức về những yêu cầu đặt
ra của ngành giáo dục trong thời đại mới, cụ thể là phải thấm nhuần các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước về giáo dục; nắm rõ các nguyên tắc giáo dục, văn bản hướng dẫn của Bộ GD&ĐT ban hành, là căn
cứ pháp lý để Nhà nước tiến hành chỉ đạo, giám sát, kiểm tra hoạt động day học của các cơ sở giáo dục Căn cứ vào kế hoạch của nhà trường, TBM quản lý việc tiến hành thực hiện kế hoạch của GV, HLV Qua đó tạo sự chuyển biến trong nhận thức và hành động để nâng cao chất lượng giảng dạy và huấn luyện cũng như giáo dục học sinh, sinh viên, vận động viên, đáp ứng yêu cầu của công cuộc xây dựng đất nước trong giai đoạn mới
1.3.2.3 Trưởng bộ môn tổ chức và thực hiện phong trào đổi mới phương pháp dạy học, tự học, tự bồ dưỡng, NCKH của GV, HLV trong
Công tác bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho GV, HLV là nhiệm
vụ chính có ý nghĩa chiến lược lâu dài Công tác bồi dưỡng GV, HLV cần phải được triển khai một cách thường xuyên, liên tục và có hệ thống Điều này đòi hỏi nhà quản lý phải thực hiện việc quản lý mục tiêu, kế hoạch, tổ chức, kiểm tra công tác bồi dưỡng một cách có hiệu quả
Trang 23Người TBM phải có kỹ năng khai thác trí lực tập thể vào việc hoạch định kế hoạch chương trình tự học, tự nghiên cứu, tự bồi dưỡng Đồng thời, cần quan tâm tạo điều kiện để cho GV, HLV triển khai các đề tài NCKH, các sáng kiến kinh nghiệm đáp ứng yêu cầu đổi mới nội dung và PPDH hiện nay.
1.3.2.4 Trưởng bộ môn tổ chức kiểm tra, đánh giá công tác giảng dạy, phương pháp giáo dục của GV, HLV trong bộ môn.
TBM là người trực tiếp kiểm tra, đánh giá, xếp loại chuyên môn của
GV, HLV trong bộ môn Bởi vậy, TBM phải có trình độ, năng lực chuyên môn, hiểu và vận dụng tốt các văn bản thanh tra, kiểm tra, đánh giá Để đánh giá đúng năng lực của GV, HLV trong bộ môn, TBM cần phải có thông tin đầy đủ, chính xác, kịp thời Việc tổ chức sinh hoạt bộ môn phải theo đúng định kỳ, đúng quy trình, đánh giá phải đảm bảo tính công bằng, khách quan, khoa học và coi đây là sinh hoạt chính trị, giúp đỡ nhau bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ
1.3.3 Yêu cầu về phẩm chất và năng lực của trưởng bộ môn trường cao đẳng TDTT
1.3.3.1 Yêu cầu về năng lực của Trưởng bộ môn trường cao đẳng TDTT.
Từ điển Tiếng Việt giải nghĩa “Năng lực là khả năng, điều kiện
chủ quan hay tự nhiên sẵn có để thực hiện một hoạt động nào đó; hoặc
là phẩm chất tâm lý, sinh lý tạo ra cho con người khả năng hoàn thành một loại hoạt động nào đó.” [40].
Đối với đội ngũ trưởng bộ môn năng lực được hiểu là trên cơ sở hệ thống tri thức mà người giảng viên được trang bị, họ phải hình thành và nắm vững hệ thống các kỹ năng để tiến hành hoạt động sư phạm, quản lý, nghiên cứu khoa học có hiệu quả
Trang 24Chủ tịch Hồ Chí Minh từng xác định và nhấn mạnh TDTT “là một công tác trong những công tác cách mạng”, theo đó những phẩm chất cơ bản của người cán bộ TDTT theo tư tưởng Hồ Chí Minh là: người cán bộ TDTT không chỉ có đạo đức cách mạng, mà còn phải có chuyên môn giỏi Nếu chỉ có đạo đức mà không có chuyên môn thì làm việc gì cũng sẽ gặp khó khăn, có chuyên môn mà không có đạo đức thì trở thành người vô dụng
Ngoài những tiêu chuẩn về mặt đạo đức và chính trị, một trưởng bộ môn trường cao đẳng TDTT phải đạt các yêu cầu cụ thể:
- Có năng lực chuyên môn cao nắm bắt được những phát triển mới nhất thực tiễn chuyên môn của mình;
- Có năng lực giảng dạy phù hợp với lĩnh vực chuyên môn sâu của mình;
- Có năng lực nghiên cứu sâu trong lĩnh vực chuyên môn của mình
- Có khả năng quản lý bao quát, toàn diện
Điều kiện đầu tiên của một người cán bộ TDTT là phải có trình độ giỏi về chuyên môn (cả về thực hành cũng như lý thuyết) về các môn thể thao, đặc biệt là môn thể thao mà mình trực tiếp giảng dạy và huấn luyện Bởi vì trong quá trình giảng dạy và huấn luyện, đòi hỏi người cán bộ TDTT phải thị phạm động tác, kỹ thuật một cách chuẩn xác để người học bắt chước và làm theo Người cán bộ TDTT là hình ảnh sống mô phạm để học sinh, sinh viên, vận động viên lấy đó làm chuẩn mực Trong quá trình giảng dạy và huấn luyện, ngoài năng lực về chuyên môn, người cán bộ TDTT còn phải được trang bị kiến thực về phương pháp huấn luyện, soạn thảo kế hoạch, chương trình, giáo án, kiến thức về tâm sinh lý các lứa tuổi để phục
vụ cho công tác giảng dạy và huấn luyện của mình Đặc biệt, phải là người nhạy cảm trong chỉ đạo đấu pháp thi đấu để nhanh chóng thay đổi chiến thuật khi phát hiện thấy không hiệu quả Nhờ có chuyên môn giỏi nên mỗi
Trang 25khi học sinh, sinh viên, vận động viên mắc sai lầm trong tập luyện, người cán bộ TDTT như một “bác sĩ” chữa bệnh, biết được căn nguyên gây bệnh
để tìm ra bài thuốc có hiệu quả
Hiện nay, hầu hết đội ngũ trưởng bộ môn trường cao đẳng TDTT mặc dù có năng lực chuyên môn, kỹ năng giảng dạy và huấn luyện nhưng vẫn chưa thực sự mạnh về các nghiệp vụ quản lý, đặc biệt là nghệ thuật quản lý xung đột và đàm phán Vì vậy, để phát triển năng lực toàn diện cho đội ngũ trưởng bộ môn trường cao đẳng TDTT cần xác định:
- Những đặc điểm chuyên môn do mình phụ trách;
- Các phương pháp phù hợp với chuyên môn đó;
- Các đặc tính, sở thích và khả năng của cá nhân với những phương pháp giảng dạy khác nhau;
- Những xu thế của thời đại trong học tập và phát triển;
- Công nghệ học tập, giáo dục, và đào tạo
Từ những phân tích trên, trưởng bộ môn trường cao đẳng TDTT cần đáp ứng các yêu cầu về năng lực cụ thể sau:
- Năng lực sử dụng các phương pháp giảng dạy tích cực phù hợp với chuyên môn của mình (giảng dạy bằng tình huống, thảo luận nhóm, khám phá, mô phỏng, dự án )
- Năng lực truyền đạt (viết bài giảng và tài liệu học tập, trình bày, đặt câu hỏi, lắng nghe, và phản hồi)
- Năng lực giải quyết vấn đề và ra quyết định
- Năng lực nghiên cứu, ứng dụng các tiến bộ về khoa học công nghệ trong lĩnh vực mình đào tạo
- Năng lực quản lý xung đột và đàm phán
- Năng lực sử dụng công nghệ trong giảng dạy (PowerPoint, máy tính, web, các phần mềm sử dụng trong chuyên môn, )
Trang 26- Năng lực không ngừng học tập và phát triển bản thân.
Chiến lược phát triển hệ thống giáo dục đại học đến năm 2020 có thực hiện được hay không, điều quan trọng và cốt lõi phụ thuộc vào việc hệ thống giáo dục đại học của chúng ta có phát triển được đội ngũ trưởng bộ môn đủ về số lượng, mạnh về chất lượng hay không Phát triển đội ngũ trưởng bộ môn không phải là việc làm một lần là xong, trong điều kiện bùng nổ tri thức hiện nay, công việc này cần được coi là công việc thường xuyên, liên tục của toàn hệ thống, từng trường, khoa và từng bộ môn
1.3.3.2 Yêu cầu về phẩm chất của Trưởng bộ môn trường cao đẳng TDTT
Phẩm chất của trưởng bộ môn tạo nên linh hồn và sức mạnh của bộ môn Đối với trưởng bộ môn trường cao đẳng TDTT Thanh Hóa cần đáp ứng các yêu cầu về phẩm chất sau:
- Người trưởng bộ môn trường cao đẳng TDTT phải thật sự mẫu mực: Trong mọi giai đoạn lịch sử, người thầy bao giờ cũng được xã hội tôn vinh và kính trọng Nghề giáo được coi là một trong những nghề cao quý
nhất trong những nghề cao quý Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói: "Nhiệm
vụ thầy giáo rất vẻ vang, vì nếu không có thầy giáo thì không có giáo dục…Không có giáo dục thì nói gì đến kinh tế, văn hóa [26], và nhận xét
về công việc của người thầy giáo “Có gì vẻ vang hơn là đào tạo những thế
hệ sau này tích cực xây dựng chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản Người thầy giáo tốt, thầy giáo xứng đáng là thầy giáo, là người vẻ vang nhất” [26].
Đối với cán bộ TDTT, Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu phải đem những hiểu biết của mình ra phục vụ đắc lực sức khỏe nhân dân, thực hiện mục tiêu “Dân cường nước thịnh”; phải có tinh thần quyết tâm vượt qua
Trang 27mọi khó khăn; phải luôn trau dồi đạo đức cách mạng, và tích cực hăng hái công tác để phục vụ nhân dân, phục vụ đất nước
Người cán bộ TDTT phải là tấm gương về đạo đức lối sống để học sinh, sinh viên, vận động viên noi theo Mọi biểu hiện về đạo đức lối sống của người cán bộ TDTT đều đập vào mắt học sinh, sinh viên, vận động viên Vì vậy đòi hỏi người cán bộ TDTT phải luôn tu dưỡng và phấn đấu không ngừng để giáo dục học sinh, sinh viên, vận động viên có tinh thần tập thể, kính thầy, yêu bạn, tập luyện và thi đấu hết mình vì danh dự của tổ quốc
Bên cạnh đó, phong cách của người cán bộ TDTT được thể hiện qua biện pháp, cách thức mà người cán bộ sử dụng để thực hiện nhiệm vụ của mình Phong cách ấy giữ vai trò quan trọng trong tất cả các khâu hoạt động
và thực thi công việc Nó được quy định bởi chức năng, nhiệm vụ, phẩm chất, tri thức và điều kiện hoạt động của người cán bộ
Ngoài ra, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, đối với người cán bộ TDTT, phải có phong cách làm việc dân chủ, tập thể Đây là phong cách hết sức quan trọng và không thể thiếu được của người cán bộ TDTT là trưởng bộ môn trong trường cao đẳng TDTT, vì người cán bộ TDTT bao giờ cũng được gắn với một tổ chức, một tập thể Sức mạnh và trí tuệ của người cán
bộ TDTT đều bắt nguồn từ tập thể Vì vậy, người trưởng bộ môn phải có phong cách làm việc tập thể, dân chủ mới quy tụ và phát huy được sức mạnh và trí tuệ của tập thể Nhưng người trưởng bộ môn có ý thức và tinh thần làm việc tập thể mà lại không có tinh thần quyết đoán, không dám chịu trách nhiệm cá nhân trước tập thể thì không có những quyết định sáng suốt, kịp thời và đúng đắn, không đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn
- Đội ngũ trưởng bộ môn trường cao đẳng TDTT cần phải có cái
“tâm”, “tài” và “đức”: Cái “Tâm” của đội ngũ trưởng bộ môn trường cao
Trang 28đẳng TDTT thể hiện ở sự tâm huyết với nghề, có tâm huyết với nghề mới
có hứng thú, say mê chăm chút từng bài giảng, từng nội dung tiết giảng; mới thường xuyên tìm tòi, nghiên cứu, chỉnh lý, bổ sung nội dung và phương pháp giảng dạy để đem lại hiệu quả cao nhất cho người học Cái
“Tâm” người trưởng bộ môn tốt không phải chỉ lòng yêu ngành, yêu nghề
mà phải được biểu hiện thành những hành động cụ thể:
- Phải biết hiến thân cho nghề dạy học, biết hi sinh vì lợi ích tương lai;
- Luôn nêu cao tinh thần trách nhiệm với nghề nghiệp Phải cảm thấy sung sướng, hạnh phúc khi được đứng trên bục giảng;
- Luôn tìm tòi, học hỏi, sáng tạo để đem lại chất lượng cao nhất khi giảng dạy, giảng viên không bị giới hạn không gian (lớp học) và thời gian (08 giờ vàng ngọc), không phải bước ra khỏi lớp học là chấm dứt hoạt động
sư phạm mà vẫn tiếp tục suy nghĩ về nội dung, phương pháp giảng, về thái
độ tiếp nhận bài học của sinh viên để tự đổi mới;
- Nhiệt tình trong xây dựng đơn vị, chân thành trong giúp đỡ đồng nghiệp
Về cái “Tài” của đội ngũ trưởng bộ môn trường cao đẳng TDTT , “Tài”
ở đây thể hiện tài năng về trí tuệ và tài năng nghiệp vụ sư phạm Tài năng
sẽ giúp cho người dạy nắm vững và nhuần nhuyễn nội dung hệ thống các kiến thức cơ bản của môn học, khả năng phát hiện vấn đề bổ sung vào nội dung bài giảng; tài năng nghiệp vụ sư phạm thể hiện ở việc áp dụng các phương pháp giảng dạy, khả năng trình bày và khả năng xử lý các tình huống sư phạm trong quá trình giảng dạy Kết hợp được giữa nội dung và phương pháp sẽ làm cho bài giảng thêm phong phú, sinh động, hấp dẫn và
có hiệu quả cao, làm cho người học hứng thú, say mê, tránh nhàm chán, từ
đó chủ động, tích cực nghiên cứu, tìm hiểu trong học tập
Đội ngũ trưởng bộ môn không chỉ truyền kiến thức cho người học mà
Trang 29có nhiệm vụ tổ chức và điều khiển hoạt động của họ, hướng họ đi tìm kiếm
và lĩnh hội tri thức Chính vì vậy người thầy phải: Nắm vững và sử dụng hợp lý các phương pháp dạy học tiên tiến; rèn luyện năng lực ngôn ngữ truyền đạt kiến thức rõ ràng, dễ hiểu, vừa sức
Ngoài ra, “Đức” là yêu cầu không thể thiếu đối với đội ngũ trưởng bộ môn trường cao đẳng TDTT
"Đức” của đội ngũ trưởng bộ môn trường cao đẳng TDTT trước hết thể hiện ở thái độ, tác phong chuẩn mực khi thực hiện giảng dạy và trong lối sống, trở thành tấm gương, vừa là người giảng viên, vừa là người cán TDTT ưu tú cho người học, đồng nghiệp noi theo
“Đức” của đội ngũ trưởng bộ môn trường cao đẳng TDTT còn thể hiện ở sự hi sinh vô tư “tất cả vì học sinh thân yêu”, giúp đỡ người học một cách chân thành, không vì vụ lợi, không phân biệt đối xử Cái “Đức” ấy còn được biểu hiện ở sự kiên quyết đấu tranh chống những cái xấu, cái sai trong xã hội và chính bản thân mình
Bên cạnh đó, họ còn vừa là người thầy, người cha, vừa là người anh,
là bạn của học sinh, sinh viên, vận động viên Là người thầy về kiến thức,
kỹ chiến thuật của học sinh, sinh viên, vận động viên, nhằm khồn ngừng trang bị cho học sinh, sinh viên, vận động viên hoàn thiện kỹ năng, kỹ xảo
về môn thể thao mà họ theo đuổi Là người cha tinh thần đối với học sinh, sinh viên, vận động viên, xem học sinh, sinh viên, vận động viên như những đứa con của mình, lo cho sức khỏe cùng với nhu cầu về tinh thần của mỗi học sinh, sinh viên, vận động viên để họ có đầy đủ sức khỏe bảo đảm tập luyện và thi đấu đạt hiệu quả cao nhất Học sinh, sinh viên, vận động viên nhất là lứa tuổi nhỏ phải xa gia đình suốt quá trình tập trung huấn luyện và thi đấu nên rất cần tình cảm thân mật, gần gũi của người thân Hơn lúc nào hết, người cán bộ TDTT sẽ đóng vai trò như ột người
Trang 30anh, người chị luôn đi sát bên họ đê an ủi, động viên, khích lệ, vỗ về nhằm tạo nên một tình cảm thân thương để họ vượt qua những khó khăn Có những việc mà học sinh, sinh viên, vận động viên không biết chia sẻ với ai, nhất là những khi thất bại hay gặp những trắc trở trong học tập, tập luyện hay trong cuộc sống; lúc đó người cán bộ TDTT chính là người bạn để trao đổi tâm tư tình cảm, chia sẻ , khơi dậy những trăn trở để họ cảm thấy được gần gũi mà thổ lộ những điều khó nói Qua đó, có thể nắm bắt được những suy nghĩ của học sinh, sinh viên, vận động viên mà có phương pháp giúp
đỡ, động viên họ vươn lên hoàn thành nhiệm vụ
Phẩm chất đạo đức và năng lực chuyên môn có quan hệ biện chứng với nhau Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn kết hợp chặt chẽ hai yêu cầu này để xem xét, đánh giá sử dụng cán bộ TDTT Người giải thích: Đạo đức và tài năng là hai mặt không thể tách rời trong mỗi người cán bộ TDTT Bác luôn coi trọng tiêu chí đạo đức, lấy đạo đức làm gốc, làm nền tảng của người cán bộ
Những quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về phẩm chất của người cán bộ TDTT cho đến nay vẫn còn nguyên giá trị, mỗi cán bộ TDTT cần nhận thức và quán triệt tốt hơn nữa những lời dạy của Bác, để hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao Có như vậy, nền TDTT cách mạng mới ngày càng phát triển mạnh mẽ cả về TDTT quần chúng và thể thao thành tích cao, ngày càng đa dạng về loại hình và phong phú về nội dung, ngày càng thể hiện tính ưu việt của mình, góp phần tích cực vào công cuộc thực hiện mục tiêu “Dân cường, nước thịnh” như lời Bác Hồ đã dạy
1.4 MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ TRƯỞNG BỘ MÔN TRƯỜNG CAO ĐẲNG TDTT
1.4.1 Sự cần thiết phải phát triển đội ngũ trưởng bộ môn trường cao đẳng TDTT.
Trang 31Sở dĩ cần phải phát triển đội ngũ trưởng bộ môn trường cao đẳng TDTT Thanh Hóa là bởi những lý do sau đây:
1.4.1.1 Xu hướng phát triển của giáo dục đại học thế giới.
GDĐH trên thế giới đang phát triển theo các xu hướng sau đây:
- Đại chúng hóa: Chuyển từ giáo dục tinh hoa (elite) sang giáo dục
đại chúng và phổ cập (Masificantion & Univerzalization) Quy mô GDĐH tăng nhanh ở nhiều nước như Mĩ, Hàn Quốc, Nhật Bản tỷ lệ SV trong độ tuổi tư 18 – 26 lên đến 40 – 60%
- Đa dạng hóa: phát triển nhiều loại hình trường với cơ cấu đào tạo
đa dạng về trình độ và ngành nghề theo hướng hàn lâm (Academy) hoặc nghề nghiệp và công nghệ nặng về thực hành (Professional)
- Tư nhân hóa: Để tăng cường hiệu quả đào tạo và thu hút nhiều
nguồn nhân lực ngoài ngân sách nhà nước cho GDĐH, nhiều nước phần lớn các trường ĐH là ĐH tư
- Bảo đảm chất lượng và nâng cao khả năng cạnh tranh; Tập đoàn
hóa và công nghiệp hóa hệ thống GDĐH
- Phát triển mạng lưới các trường đại học nghiên cứu để trở thành
các trung tâm sản xuất, sử dụng, phân phối, xuất khẩu tri thức và chuyển giao công nghệ mới, hiện đại Thông qua đào tạo và nghiên cứu để phát hiện và thu hút nhân tài khoa học và công nghệ
- Đẩy mạnh các loại hình dịch vụ đào tạo nhân lực quốc tế và khu
vực Các trường đại học trở thành các cơ sở dịch vụ đào tạo nhân lực thu
hút vốn đầu tư vào đào tạo từ nhiều nước, đặc biệt là các nước đang phát triển có nhu cầu tiếp cận với công nghệ hiện đại
Chính các xu hướng phát triển này của GDĐH đã tác động trực tiếp đến đội ngũ giảng viên, CBQL cũng như đến công tác xây dựng và nâng
Trang 32cao chất lượng đội ngũ GV, CBQL nói chung trong đó có đội ngũ quản lý
bộ môn trường cao đẳng TDTT nói riêng
1.4.1.2 Yêu cầu của đổi mới giáo dục đại học Việt Nam.
Sau gần 30 năm đổi mới của đất nước, giáo dục đại học Việt Nam đã từng bước phát triển rõ rệt về quy mô, đa dạng về loại hình trường và hình thức đào tạo, nguồn lực xã hội được huy động nhiều hơn và đạt được nhiều kết quả tích cực, cung cấp nguồn lao động chủ yếu có trình độ cao đẳng, đại học, thạc sĩ và tiến sĩ phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội, quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, bảo đảm an ninh quốc phòng và hội nhập kinh tế quốc tế
Tuy nhiên, giáo dục đại học nước ta cũng đang đứng trước những
thách thức rất to lớn, đó là: “Phương pháp quản lý nhà nước đối với các
trường đại học, cao đẳng chậm được thay đổi, không đảm bảo được yêu cầu nâng cao chất lượng đào tạo của toàn bộ hệ thống, chưa phát huy mạnh mẽ được sự sáng tạo của đội ngũ nhà giáo, các nhà quản lý và sinh viên Chất lượng nguồn nhân lực đang là khâu yếu kém, kéo dài của toàn bộ
hệ thống kinh tế” [5].
Vì thế, giáo dục đại học Việt Nam cần phải được đổi mới một cách cơ bản và toàn diện Trong Chiến lược phát triển giáo dục 2011 - 2020 đã xác
định: “Đến năm 2020, nền giáo dục nước ta được đổi mới căn bản và toàn
diện theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế; chất lượng giáo dục được nâng cao một cách toàn diện, gồm: giáo dục đạo đức, kỹ năng sống, năng lực sáng tạo, năng lực thực hành, năng lực ngoại ngữ và tin học; đáp ứng nhu cầu nhân lực, nhất là nhân lực chất lượng cao phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và xây dựng nền kinh tế tri thức; đảm bảo công bằng xã hội trong giáo dục và cơ hội học tập suốt đời cho mỗi người dân, từng bước hình
Trang 33thành xã hội học tập” [36] Trong đó việc phát triển đội ngũ giảng viên
(bao gồm các đội ngũ trưởng bộ môn) cho hệ thống giáo dục đại học được
cụ thể hoá như sau: “Tiếp tục đào tạo, đào tạo lại, bồi dưỡng đội ngũ nhà
giáo để đến năm 2020, 38,5% giáo viên trung cấp chuyên nghiệp, 60% giảng viên cao đẳng và 100% giảng viên đại học đạt trình độ thạc sĩ trở lên; 100% giảng viên đại học và cao đẳng sử dụng thành thạo một ngoại ngữ”; và “Thực hiện đề án đào tạo giảng viên có trình độ tiến sĩ các trường đại học, cao đẳng với phương án kết hợp đào tạo trong và ngoài nước để đến năm 2020 có 25% giảng viên đại học và 8% giảng viên cao đẳng là tiến sĩ” [36].
1.4.1.3 Phát triển thể dục thể thao: Yêu cầu khách quan trong giai đoạn hiện nay
Hoạt động TDTT nhằm góp phần nâng cao sức khỏe và chất lượng cuộc sống của nhân dân, chất lượng nguồn nhân lực… Phát triển TDTT được xem là chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước trong quá trình thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh Chính
vì vậy, ngay từ những ngày đầu tiên xây dựng nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kêu gọi toàn dân tập thể dục vì “Dân cường thì nước thịnh” Đó cũng là quan điểm xuyên suốt của Đảng ta trong quá trình lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng và phát triển đất nước với định hướng:
vì sức khỏe và hạnh phúc của nhân dân, vì sự nghiệp xây dựng và bảo vệ
Tổ quốc
Trong những năm qua, phong trào tập luyện TDTT trong quần chúng nhân dân đã có bước phát triển mới cả về bề rộng lẫn chiều sâu Cơ chế, thể chế quản lý nhà nước về TDTT được củng cố và hoàn thiện; hình thành hệ thống các tổ chức xã hội về TDTT Tiềm lực khoa học công nghệ và y học thể thao tăng lên rõ rệt Cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ nghiên cứu hiện
Trang 34đại Xã hội hóa hoạt động thể thao thành tích cao, phát triển phù hợp với xu thế phát triển thể thao thành tích cao hiện đại trên thế giới Hoạt động hợp tác quốc tế về thể thao đã góp phần nâng cao trình độ vận động viên; năng lực tổ chức, điều hành của đội ngũ cán bộ quản lý, trọng tài, nhân viên y tế…; thông qua đó hình ảnh đất nước, con người Việt Nam được quảng bá rộng rãi trên toàn thế giới.
Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đã đạt được, trong những năm gần đây, TDTT Việt Nam vẫn còn tồn tại những yếu kém như: Phong trào TDTT quần chúng phát triển mạnh nhưng chưa đều, chất lượng chưa cao; Công tác giáo dục thể chất trong nhà trường và các hoạt động thể thao ngoại khóa của học sinh, sinh viên chưa được coi trọng, chưa đáp ứng yêu cầu duy trì và nâng cao sức khỏe cho học sinh; Công tác quản lý ngành còn ảnh hưởng bởi cơ chế bao cấp, chưa bắt kịp với tình hình phát triển kinh tế
- xã hội hiện nay; Cơ chế chính sách nguồn nhân lực thể thao còn hạn chế, bất cập; Công tác giáo dục tư tưởng, đạo đức trong thi đấu, thưởng thức thể thao chưa được quan tâm đúng mức; Tỷ trọng ngân sách nhà nước đầu tư cho phát triển ngành TDTT còn thấp, chưa đáp ứng nhu cầu TDTT trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng gay gắt về thành tích thi đấu giữa các quốc gia trong khu vực, châu lục và thế giới Hoạt động của một số liên đoàn, hiệp hội TDTT còn bị động, còn phục thuộc vào sự hỗ trợ của cơ quan quản lý nhà nước; Thiếu các quy định pháp lý về việc tham gia thực hiện một số hoạt động tác nghiệp trong lĩnh vực TDTT; Hợp tác quốc tế về TDTT chưa xứng với tiềm năng của ngành
Xác định những hạn chế, yếu kém và nguyên nhân giúp cho chúng ta
có cái nhìn tổng thể, khách quan và toàn diện nhằm định hướng tốt công tác tuyên truyền góp phần đưa phong trào TDTT phát triển phù hợp với yêu cầu khách quan trong giai đoạn hiện nay
Trang 35Từ đó, để tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, tạo bước phát triển mạnh mẽ của sự nghiệp TDTT trong những năm tới, Bộ Chính trị yêu cầu các cấp ủy Đảng quán triệt và thực hiện tốt Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 01/ 12/ 2011 “Về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, tạo bước phát triển
mạnh mẽ về thể dục, thể thao đến năm 2020” với quan điểm: “Phát triển
thể dục, thể thao là một yêu cầu khách quan của xã hội, nhằm góp phần nâng cao sức khỏe, thể lực và chất lượng cuộc sống của nhân dân, chất lượng nguồn nhân lực; giáo dục ý chí, đạo đức, xây dựng lối sống và môi trường văn hóa lành mạnh, góp phần củng cố khối đại đoàn kết toàn dân,
mở rộng quan hệ hữu nghị và hợp tác quốc tế; đồng thời là trách nhiệm của các cấp ủy đảng, chính quyền, đoàn thể, tổ chức xã hội và của mỗi người dân.Các cấp ủy đảng có trách nhiệm thường xuyên lãnh đạo công tác thể dục, thể thao, đảm bảo cho sự nghiệp thể dục, thể thao ngày càng phát triển”.[4] Và Nghị quyết cũng khẳng định: “Đầu tư cho thể dục thể
thao là đầu tư cho con người, cho sự phát triển của đất nước Tăng tỷ lệ chi ngân sách nhà nước, ưu tiên đầu tư xây dựng cơ sở vật chất thể dục, thể thao và đào tạo vận động viên thể thao thành tích cao; đồng thới phát huy các nguồn lực của xã hội để phát triển thể dục, thể thao, phát huy mạnh mẽ vai trò của các tổ chức xã hội trong quản lý, điều hành các hoạt động thể dục, thể thao”.[4]
1.4.1.4 Nhu cầu đào tạo nguồn nhân lực cho ngành TDTT ở nước
ta hiện nay.
Tổ chức, chỉ đạo công tác đào tạo nguồn nhân lực cho phát triển TDTT là một trong những nội dung quan trọng của quản lý nhà nước về TDTT đã được Luật Thể dục, Thể thao quy định tại khoản 2 điều 6 Để đảm bảo phát triển sự nghiệp TDTT theo đúng định hướng, không ngừng nâng cao chất lượng các hoạt động thể dục, thể thao, đòi hỏi phải có nguồn
Trang 36nhân lực rất lớn, đa dạng và phong phú, bao gồm nhiều lực lượng lao động khác nhau về chuyên môn nghiệp vụ và trình độ đào tạo, từ cán bộ quản lý cấp cao ở trung ương cho đến cán bộ quản lý ở cơ sở; từ cán bộ giảng viên đại học đến giáo viên tiểu học, mầm non; từ huấn luyện viên đội tuyển quốc gia đến hướng dẫn viên ở cơ sở và cán bộ chuyên môn nghiệp vụ, cán
bộ khoa học thuộc các lĩnh vực chuyên ngành có liên quan cho đến các lực lượng lao động kinh doanh dịch vụ khác tác nghiệp trong lĩnh vực TDTT
Vì vậy, nhà nước ban hành các chính sách và thống nhất quản lý công tác đào tạo, bồi dưỡng nhân lực nhằm đáp ứng được yêu cầu phát triển sự nghiệp thể dục thể thao
Từ những nhu cầu trên, ngày 11/11/2013 Thủ tướng Chính phủ đã ra
Quyết định số 2160/QĐ-TTg về việc phê duyệt “Quy hoạch phát triển thể
dục, thể thao Việt Nam đến năm 2020, định hướng đến năm 2030” Theo
quy hoạch đến năm 2020, thể dục, thể thao cơ bản được phát triển đồng đều giữa các đối tượng, rộng khắp giữa các vùng, miền, các địa phương trong
cả nước, góp phần nâng cao sức khỏe và tuổi thọ của người Việt Nam, vì
sự nghiệp dân cường, nước thịnh Thành tích ở một số môn thể thao có thế mạnh của Việt Nam đạt trình độ của châu lục và thế giới Phấn đấu đến năm 2030, Việt Nam trở thành quốc gia có nền thể dục, thể thao phát triển
ở châu lục Cụ thể là:
- Nhân lực trực tiếp làm việc trong lĩnh vực thể dục, thể thao (ngoài lực lượng vận động viên, huấn luyện viên, trọng tài; giáo viên, giảng viên thể dục thể thao) khoảng 22.000 người, năm 2020 khoảng 29.000 người, và năm 2030 sẽ đạt khoảng 38.000 người Số nhân lực có trình độ đại học trở lên phải đạt 50% vào năm 2015, trên 60% vào năm 2020 và đạt trên 80% vào năm 2030
Trang 37- Riêng giáo dục thể chất và thể thao trong nhà trường phấn đấu đạt
tỉ lệ giáo viên, giảng viên thể dục, thể thao trên số học sinh tiểu học đạt 1/450 vào năm 2015, 1/400 vào năm 2020 và 1/350 vào năm 2030 Trung học cơ sở và trung học phổ thông đạt 1/400 vào năm 2015, 1/350 vào năm 2020,1/300 vào năm 2030
- Thể dục, thể thao quần chúng: Người tập luyện thể dục, thể thao thường xuyên đạt 28% dân số vào năm 2015, đạt 33% dân số vào năm
2020 và đạt trên 40% dân số vào năm 2030 Gia đình thể thao đạt 22% tổng
số hộ gia đình vào năm 2015, đạt 25% tổng số hộ gia đình vào năm 2020
và đạt trên 30% tổng số hộ gia đình vào năm 2030
- Thể dục, thể thao trong lực lượng vũ trang: Tỷ lệ cán bộ, chiến sỹ tập luyện thể dục, thể thao thường xuyên đạt 90% từ năm 2015 trở đi đối với lực lượng quân đội nhân dân; đạt 85% vào năm 2015 và đạt 100% từ năm 2020 trở đi đối với lực lượng công an nhân dân Tỷ lệ cán bộ, chiến sỹ đạt tiêu chuẩn rèn luyện thể lực đạt 80% vào năm 2015, đạt 85% vào năm
2020 và đạt trên 90% vào năm 2030 [35]
1.4.1.5 Định hướng phát triển TDTT tỉnh Thanh Hóa giai đoạn
2011 - 2020.
- Về thể thao quần chúng: Tỷ lệ dân số thường xuyên tập thể dục: 35- 40% Tỷ lệ số hộ đạt tiêu chuẩn gia đình thể thao: 20 - 25%; Tỷ lệ các trường, lực lượng vũ trang thực hiện giáo dục thể chất có nề nếp 98% và 85% chương trình ngoại khoá
- Về thể thao thành tích cao: Tiếp tục củng cố nâng cấp hệ thống đào tạo VĐV 4 tuyến :Tuyến 1: có 80 - 100 VĐV (với 60-70 VĐV cấp kiện tướng); Tuyến 2: có 300 - 350 VĐV (với 110-120 VĐV cấp I); Tuyến 3: có
800 - 1.000 VĐV (thuộc cấp huyện quản lý); Tuyến 4: có 8.000 - 10.000 VĐV (thuộc các trường quản lý) Tập trung đầu tư phát triển 18 môn thể
Trang 38thao, trong đó tập trung cho các môn thể thao có thế mạnh (Điền kinh, Bơi lặn, các môn Võ, Vật; Bắn súng, Cầu mây, Bóng đá), tạo sự phát triển vững chắc về thể thao thành tích cao, phấn đấu để Thanh Hoá luôn là một trong những trung tâm TDTT mạnh của cả nước Thực tế tại các kỳ Đại hội TDTT, Hội khoẻ Phù đổng toàn quốc, Thanh Hóa đều ở tốp các đoàn dẫn đầu quốc gia, đồng thời thường xuyên cung cấp cho trung ương nhiều HLV, VĐV tài năng thi đấu luôn giành tỷ lệ cao về huy chương trong đoàn thể thao Việt Nam tại các kỳ SEA Games
- Về đào tạo vận động viên năng khiếu và giáo viên giáo dục thể chất:
Dự kiến chỉ tiêu đào tạo hàng năm Giai đoạn 2012 – 2015, hàng năm đào
tạo từ 1180 đến 1560 học sinh, sinh viên, trong đó: Hệ chính quy đào tạo năng khiếu các môn thể thao 350 - 400 VĐV (20 môn thể thao) tạo nguồn cung cấp VĐV cho trung tâm đào tạo VĐV của tỉnh và các đội tuyển Quốc gia; trung học năng khiếu TDTT 60 - 80 học sinh; liên kết đào tạo Trung học sư phạm TDTT cho khu vực 100 - 200 học sinh; đào tạo liên thông trung học sư phạm TDTT lên cao đẳng sư phạm TDTT 70 - 100 sinh viên; cao đẳng sư phạm TDTT cho Thanh hóa và khu vực 150 - 200 sinh viên; cao đẳng TDTT (Cán bộ, HLV) cho Thanh Hóa và khu vực 100 - 150 sinh
viên Hệ không chính quy: Cao đẳng sư phạm TDTT 60 - 70 sinh viên; đại
học TDTT 40 - 50 sinh viên; đại học sư phạm thể dục quốc phòng 50 - 60 sinh viên; bồi dưỡng ngắn hạn 200 - 250 học viên (hướng dẫn viên trọng tài cho cơ sở)
1.4.1.6 Những hạn chế của đội ngũ trưởng bộ môn trường cao đẳng TDTT của nước ta hiện nay.
Có thể phác thảo những hạn chế của đội ngũ trưởng bộ môn trường cao đẳng TDTT ở nước ta hiện nay trên những nét chính sau đây:
- Việc bao quát và thể chế hóa các quan điểm, chủ trương của đảng và nhà nước về phát triển giáo dục và đào tạo còn chậm và lúng túng Nên
Trang 39việc xây dựng, tổ chức thực hiện chiến lược, kế hoạch phát triển giáo dục - đào tạo vẫn chưa thực sự đáp ứng được yêu cầu của xã hội và nhu cầu phát triển của người học.
- Việc phân định giữa công tác quản lý, hoạt động quản trị và công tác chuyên môn chưa thực sự chuyên nghiệp trong đội ngũ trưởng bộ môn trường cao đẳng TDTT
- Các kỹ năng quản lý của đội ngũ trưởng bộ môn nhằm tạo sự "đoàn kết thực chất" trong bộ môn vẫn có những hạn chế nhất định, phần nhiều vẫn phụ thuộc vào các đồng chí trưởng bộ môn "cán bộ nào, phong trào đó"
- Về thực hiện phương pháp giảng dạy, vẫn đa phần nghiêng về phương pháp giảng dạy truyền thống, các kỹ năng mềm trong công tác giảng dạy chưa thực sự được phát huy, để tạo sự giao thoa, công hưởng phát huy được tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kỹ năng của người học đối với quá trình dạy và học Việc nghiên cứu đổi mới, cải tiến nội dung chương trình, phương pháp dạy học theo hướng hiện đại, hội nhập vẫn còn những hạn chế nhất định
- Công tác nghiên cứu khoa học chưa thực sự có nhiều ý tưởng hay - công trình mới có giá trị cao với cuộc sống và sự phát triển của xã hội và
có ý nghĩa hội nhập
Chính những hạn chế nêu trên đòi hỏi công tác phát triển đội ngũ trưởng bộ môn ở hệ thống các trường ĐH, cao đẳng nói chung và đội ngũ trưởng bộ môn trường cao đẳng TDTT nói riêng là nhiệm vụ trọng tâm và phải được quan tâm hàng đầu [11]
(Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 4/11/2013 Hội nghị TW 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo)
1.4.2 Nội dung phát triển đội ngũ trưởng bộ môn trường cao đẳng TDTT.
Trang 40Để hoàn thiện quy hoạch đội ngũ trưởng bộ môn, thì cấp quản lý phải lập kế hoạch cho sự cân đối trong tương lai bằng cách so sánh số lượng trưởng bộ môn cần thiết với số lượng trưởng bộ môn hiện có, phân tích độ tuổi, trình độ, năng lực, khả năng làm việc, thời gian công tác của từng người trong đội ngũ để ấn định số lượng cần thiết đưa vào trong quy hoạch Mặt khác, cấp quản lý còn phải căn cứ vào nhu cầu phát triển trong tương lai để tạo nguồn cán bộ quản lý cũng như các nguồn lực khác Quy hoạch với phương châm “động” và “mở”: Một chức danh có thể quy hoạch nhiều người, một người có thể quy hoạch nhiều chức danh
Quy hoạch thường gắn kết với các khâu: Nhận xét, đánh giá, đào tạo, bồi dưỡng, luân chuyển, sắp xếp, sử dụng, bãi miễn Quy hoạch luôn được xem xét, đánh giá, bổ sung, điều chỉnh hàng năm Quy hoạch cán bộ phải mang tính khoa học, thực tiễn, vừa tạo được nguồn lực, vừa tạo được động lực thúc đẩy sự phấn đấu vươn lên của cán bộ
1.4.2.2 Đào tạo, bồi dưỡng
Bồi dưỡng, đào tạo đội ngũ trưởng bộ môn là quá trình bổ sung tri thức, kỹ năng thái độ nhằm nâng cao trình độ quản lý cho trưởng bộ môn tạo tiền đề cho trưởng bộ môn thực hiện công tác quản lý có hiệu quả Bồi dưỡng cho đội ngũ được coi là một quá trình cập nhật hóa kiến thức, kỹ năng còn thiếu và lạc hậu