1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Tình hình nhiễm bệnh hô hấp mãn tính (CRD) trên gà thịt Sasso nuôi tại trại Giống gia cầm Thịnh Đán thành phố Thái Nguyên và biện pháp phòng trị

63 621 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 63
Dung lượng 4,47 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

* Cơ sở vật chất: Cơ sở vật chất của trại Giống gia cầm Thịnh Đán gồm có: Nhà hành chính văn phòng làm việc: 01 dãy Dãy nhà ở cho công nhân ở và trực kỹ thuật: 01 dãy Chuồng gà cho gà c

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

LÊ THỊ HỒNG CHIẾN

Tên đề tài:

“TÌNH HÌNH NHIỄM BỆNH HÔ HẤP MÃN TÍNH (CRD) GÀ THỊT SASSO NUÔI TẠI TRẠI GIỐNG GIA CẦM THỊNH ĐÁN THÀNH PHỐ

THÁI NGUYÊN VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG TRỊ”

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Thú y Khoa : Chăn nuôi Thú y Khóa học : 2009 - 2014

Giảng viên hướng dẫn: TS Từ Trung Kiên Khoa Chăn nuôi Thú y - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên

Thái Nguyên - 2013

Trang 2

Nhân dịp này em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc đến: Ban Giám hiệu trường Đại học Nông Lâm

Ban Chủ nhiệm khoa Chăn nuôi Thú y Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên cùng toàn thể các thầy, cô giáo trong khoa

Kỹ sư Luân Quang Nha, Trưởng Trại Giống gia cầm Thịnh Đán - TP Thái Nguyên và tập thể cán bộ, công nhân trại đã tạo điều kiện giúp đỡ em trong quá trình thực tập tại cơ sở

Đặc biệt, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo hướng dẫn

TS Từ Trung Kiên và cô giáo TS Trần Thị Hoan đã giúp đỡ tận tình, cổ

vũ em trong suốt quá trình thực tập và thực hiện đề tài này

Em xin chân thành cảm ơn người thân trong gia đình, bạn be và đồng nghiệp những người đã dành cho em những tình cảm, sự động viên vô cùng quý báu trong suốt quá trình học tập và thực hiện khóa luận này

Em xin kính chúc các thầy giáo, cô giáo trong Nhà trường, các thầy cô giáo trong khoa Chăn nuôi Thú y luôn mạnh khoẻ, hạnh phúc và thành đạt Chúc các bạn sinh viên mạnh khỏe, hạnh phúc và thành công trong cuộc sống

Em xin chân thành cảm ơn!

Thái Nguyên, ngày 03 tháng 12 năm 2013

Sinh viên

Lê Thị Hồng Chiến

Trang 3

LỜI NÓI ĐẦU

Thực tập tốt nghiệp là một quá trình quan trọng trong quá trình đào tạo của nhà trường Đây là khoảng thời gian giúp sinh viên tiếp cận với thực tiễn sản xuất, củng cố và hệ thống hóa toàn bộ các kiến thức đã học, ứng dụng tiến

bộ khoa học vào sản xuất Đồng thời tạo cho mình một tác phong làm việc đúng đắn, tự tin vào bản thân, có lối sống lành mạnh để trở thành người cán

bộ có trình độ chuyên môn vững vàng, đáp ứng được nhu cầu thực tiễn, góp phần vào sự phát triển của đất nước

Được sự nhất trí của Ban Giám hiệu nhà trường và Ban Chủ nhiệm khoa Chăn nuôi Thú y Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, của thầy giáo hướng

dẫn và sự tiếp nhận của cơ sở tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Tình hình nhiễm bệnh hô hấp mãn tính (CRD) trên gà thịt Sasso nuôi tại trại Giống gia cầm Thịnh Đán thành phố Thái Nguyên và biện pháp phòng trị”

Trong thời gian thực tập được sự hướng dẫn tận tình của thầy giáo

hướng dẫn TS Từ Trung Kiên và cô giáo TS Trần Thị Hoan, cùng sự nỗ

lực của bản than em đã hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này

Mặc dù đã cố gắng rất nhiều nhưng do thời gian, trình độ còn hạn chế

và bước đầu làm quen với công tác nghiên cứu khoa học, kinh nghiệm thực tế còn chưa có nhiều nên trong bản khóa luận này không tránh khỏi những thiếu sót Em rất mong được sự giúp đỡ, đóng góp quý báu của các thầy giáo, cô giáo và các bạn đồng nghiệp để bản khóa luận được hoàn thiện hơn

Sinh viên

Lê Thị Hồng Chiến

Trang 4

TT : Thể trọng

tr : Trang

Trang 5

MỤC LỤC

Trang

Phần 1: CÔNG TÁC PHỤC VỤ SẢN XUẤT 1

1.1 ĐIỀU TRA CƠ BẢN 1

1.1.1 Điều tra tự nhiên 1

1.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 2

1.1.3 Tình hình sản xuất nông nghiệp 3

1.1.4 Quá trình thành lập và phát triển của Trại Giống gia cầm Thịnh Đán 6

1.2 NHẬN XÉT CHUNG 8

1.2.1 Thuận lợi 8

1.2.2 Khó khăn 9

1.3 NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP THỰC HIỆN TỐT NGHIỆP 9

1.3.1 Nội dung thực tập tốt nghiệp 9

1.3.1.1 Công tác phục vụ sản xuất 9

1.3.1.2 Công tác nghiên cứu khoa học 10

1.3.2 Biện pháp tiến hành 10

1.4 KẾT QUẢ CÔNG TÁC PHỤC VỤ SẢN XUẤT 10

1.4.1 Công tác chăn nuôi 10

1.4.2 Công tác thú y 14

1.4.3 Tham gia các công việc khác 17

1.5 KẾT LUẬN VỀ CÔNG TÁC PHỤC VỤ SẢN XUẤT 18

1.5.1 Bài học kinh nghiệm 18

1.5.2 Tồn tại 19

Phần 2: CHUYÊN ĐỀ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC 20

2.1 ĐẶT VẤN ĐỀ 20

2.1.1 Tính cấp thiết của đề tài 20

2.1.2 Mục đích nghiên cứu 21

2.2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 21

2.2.1 Cơ sở khoa học của đề tài 21

2.2.1.1 Đặc điểm sinh lý, gải phẫu cơ quan hô hấp của gia cầm 21

2.2.1.2 Đặc điểm của bệnh hô hấp mãn tính ở gà (CRD) 23

Trang 6

2.2.1.3 Một số đặc điểm về vi khuẩn gây bệnh CRD 33

2.2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước và ngoài nước 34

2.2.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 34

2.2.2.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước 36

2.2.3 Đặc điểm của giống gà Sasso 37

2.3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 37

2.3.1 Đối tượng nghiên cứu, địa điểm, thời gian nghiên cứu 37

2.3.1.1 Đối tượng nghiên cứu 37

2.3.1.2 Địa điểm nghiên cứu 37

2.3.1.3 Thời gian nghiên cứu 38

2.3.2 Nội dung nghiên cứu 38

2.3.3 Phương pháp nghiên cứu 38

2.3.4 Các chỉ tiêu và phương pháp theo dõi 38

2.4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 40

2.4.1 Tình hình nhiễm CRD trên đàn gà thí nghiệm 41

2.4.2 Bệnh tích của gà bị nhiễm CRD 42

2.4.3 Hiệu quả điều trị bệnh CRD của Enrofloxacin 44

2.4.4 Ảnh hưởng của Enrofloxacin trong phòng bệnh đến gà thí nghiệm 2.4.4.1 Tỷ lệ nuôi sống của gà thí nghiệm 2.4.4.2 Khả năng sinh trưởng của gà thí nghiệm 46

2.4.4.3 Ảnh hưởng của thuốc Enrofloxacin đến tiêu tốn thức ăn cho 1kg tăng khối lượng 48

2.4.4.4 Ảnh hưởng của thuốc Enrofloxacin đến chi phí thức ăn và thuốc điều trị / kg khối lượng 2.5 KẾT LUẬN - TỒN TẠI - ĐỀ NGHỊ 49

2.5.1 Kết luận 49

2.5.2 Tồn tại 50

2.5.3 Đề nghị 50

TÀI LIỆU THAM KHẢO 51

I TÀI LIỆU TIẾNG VIỆT 51

II TÀI LIỆU TIẾNG NƯỚC NGOÀI 52

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG

Trang

Bảng 1.1: Chế độ chiếu sáng cho đàn gà sinh sản 14

Bảng 1.2: Lịch phòng vaccine cho gà 15

Bảng 1.3: Kết quả công tác phục vụ sản xuất 18

Bảng 2.1: Sơ đồ bố trí thí nghiệm 38

Bảng 2.2 Tỷ lệ gà thịt Sasso nhiễm CRD theo tuần tuổi 42

Bảng 2.3: Bệnh tích mổ khám của gà thí nghiệm Bảng 2.4: Kết quả điều trị của gà mắc CRD đợt 1 Bảng 2.5: Kết quả điều trị của gà mắc bệnh CRD đợt 2 Bảng 2.6: Tỷ lệ nuôi sống của gà thí nghiệm qua các tuần tuổi Bảng 2.7: Sinh trưởng tích lũy của gà thí nghiệm qua các tuần tuổi 46

Bảng 2.8: Tiêu tốn TĂ/kg tăng khối lượng của gà thí nghiệm (kgTĂ/kg tăng khối lượng) 49

Bảng 2.9 Chi phí thuốc thú y/1 gà thí nghiệm (1000đ/gà) DANH MỤC CÁC HÌNH Trang Hình 2.1 Đồ thị sinh trưởng tích luỹ của gà thí nghiệm 47

Trang 8

Phần 1 CÔNG TÁC PHỤC VỤ SẢN XUẤT

1.1 ĐIỀU TRA CƠ BẢN

1.1.1 Điều tra tự nhiên

- Vị trí địa lý

Trại Giống gia cầm Thịnh Đán là đơn vị trực thuộc Trung tâm Giống vật nuôi tỉnh Thái Nguyên, nằm trên địa bàn phường Thịnh Đán, thành phố Thái Nguyên, nằm trên tuyến đường đi hồ Núi Cốc, cách trung tâm thành phố 4km về phía tây, ranh giới của phường được xác định như sau:

+ Phía đông nam giáp phường Tân Lập

+ Phía tây nam giáp với xã Thịnh Đức

+ Phía tây giáp với xã Quyết Thắng

+ Phía bắc giáp với phường Tân Thịnh

- Điều kiện khí hậu thuỷ văn

Phường Thịnh Đán nằm ở phía tây của thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên nằm trong vùng khí hậu chung của miền núi phía bắc Việt Nam, nên khu vực chịu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới gió mùa Mùa đông, khí hậu lạnh, khô hanh, độ ẩm thấp Mùa hè, khí hậu nóng ẩm, mưa nhiều Dao động nhiệt độ và độ ẩm bình quân các mùa trong năm tương đối cao, thể hiện rõ rệt là mùa mưa và mùa khô

+ Mùa mưa: Kéo dài từ tháng 5 đến tháng 10, nhiệt độ dao động từ 21 đến

360C, độ ẩm từ 80 - 86% lượng mưa biến động từ 120,6 đến 283,9 mm/tháng nhưng tập trung nhiều vào các tháng 6, 7, 8 Nhìn chung, khí hậu vào mùa mưa thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp Tuy vậy, có những ngày nóng ẩm thất thường nên cần chú ý đến phòng chống dịch bệnh xảy ra đối với đàn gia súc, gia cầm, gây thiệt hại cho sản xuất

+ Mùa khô: Kéo dài từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, thời gian này khí hậu thường lạnh và khô hanh, nhiệt độ giảm đáng kể Nhiệt độ trung bình dao động từ 13,70

C đến 24,80C (có những ngày xuống dưới 100C), ẩm độ thấp, biến động nhiệt giữa ngày và đêm rất lớn Ngoài ra trong mùa đông còn chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc, giá rét và sương muối kéo dài từ 6 - 10 ngày gây

Trang 9

ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng, phát triển và sức chống đỡ bệnh của cây trồng và vật nuôi

- Diện tích hoa màu 162 ha

- Diện tích đất trồng cây ăn quả 52 ha

- Diện tích đất ở 91 ha

- Diện tích đất lâm nghiệp 88,1 ha

- Diện tích đất nuôi trồng thuỷ sản 16,9 ha

số là người Kinh, Nùng, Sán dìu, Tày…

+ Dân cư

Đời sống văn hoá, tinh thần của nhân dân trong những năm gần đây được nâng lên rõ rệt, hầu hết các hộ gia đình đều có phương tiện nghe nhìn như: Đài, TV, sách báo Đây là điều kiện thuận lợi để người dân trong phường nắm bắt kịp thời chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước, các thông tin khoa học kỹ thuật để phục vụ đời sống hàng ngày Ngoài ra, phong trào xây dựng nếp sống văn hoá trong phường được đẩy mạnh như: xây dựng gia đình văn hoá, làng xóm văn hoá

Trang 10

cán bộ y tế luôn tận tuỵ với công việc, thường xuyên quan tâm chăm sóc sức khoẻ, khám chữa bệnh cho nhân dân Mọi trẻ em dưới 6 tuổi đều được tiêm phòng vaccine đầy đủ

+ Giáo dục

Đây là một phường có trình độ dân trí khá cao Có rất nhiều cơ quan trường học đóng trên địa bàn phường như: Trường Cao đẳng Sư Phạm Thái Nguyên, trường Cao đẳng Kinh tế, trường Cao đẳng Y, trường Công nhân Cơ điện, trường Trung học phổ thông Ngô Quyền, trường Trung học cơ sở Lương Ngọc Quyến, trường Tiểu học Thịnh Đán Trong những năm vừa qua phường

đã hoàn thành chương trình giáo dục phổ cập trung học cơ sở

+ An ninh chính trị

Do tập trung nhiều nhà máy, trường học, dân cư đông, lượng người giao lưu nhiều nên công tác quản lý xã hội của phường khá phức tạp Do đó, hoạt động của các ban ngành trong phường phải thường xuyên, liên tục, tích cực và đồng bộ Phường đã tích cực xây dựng nếp sống văn hoá, nâng cao ý thức trách nhiệm của người dân, đẩy mạnh sản xuất, tạo công ăn việc làm cho người dân nhằm từng bước đẩy lùi các tệ nạn xã hội như: nghiện hút, trộm cắp, cờ bạc…

1.1.3 Tình hình sản xuất nông nghiệp

- Ngành trồng trọt

Ngành trồng trọt đóng vai trò quan trọng và là nguồn thu chủ yếu của nhân dân Do vậy, sản phẩm của ngành trồng trọt được người dân quan tâm và phát triển Cây nông nghiệp chủ yếu và là cây trồng mũi nhọn trên địa bàn của phường là cây lúa với diện tích trồng khá lớn (89 ha) Để nâng cao hiệu quả sản xuất, phường đã thực hiện thâm canh tăng vụ (2 vụ/năm) đưa các giống lúa mới có năng suất cao vào sản xuất Ngoài ra còn có một số cây khác được trồng khá nhiều như: khoai lang, lạc, đỗ, ngô và một số cây rau màu khác được trồng xen giữa các vụ lúa nhưng chủ yếu là trồng vào mùa đông

- Diện tích trồng cây ăn quả khá lớn, song vườn tạp vẫn nhiều, cây trồng thiếu tập trung lại chưa thâm canh nên năng suất thấp, sản phẩm chủ yếu mang tính tự cung tự cấp, chưa mang tính chất hàng hoá cao, cây ăn quả chủ yếu là: na, cam, quýt, nhãn, vải

Trang 11

- Cây lâm nghiệp: Với đặc điểm của vùng trung du miền núi, do đó diện tích đất đồi núi chiếm khá lớn Phường đã thực hiện chính sách giao đất, giao rừng cho các hộ nông dân nên diện tích cây lâm nghiệp đã được nâng lên, phủ xanh gần hết diện tích đất trống, đồi núi trọc và diện tích rừng mới trồng, tạo điều kiện cho việc quản lý, khai thác hợp lý

- Ngành chăn nuôi

Song song với sự phát triển của ngành trồng trọt, ngành chăn nuôi cũng phát triển không ngừng Chăn nuôi cung cấp sức kéo, phân bón cho trồng trọt, đồng thời cung cấp thực phẩm và nguồn thu nhập kinh tế không nhỏ cho các hộ nông dân

+ Chăn nuôi trâu bò

Tổng đàn trâu bò của phường có khoảng 600 con, trong đó chủ yếu là trâu, trung bình mỗi hộ nông dân có một trâu hoặc bò cày kéo Hình thức chăn nuôi trâu bò là tận dụng các bãi thả tự nhiên và sản phẩm phụ của ngành trồng trọt, nên thức ăn cung cấp cho đàn trâu bò chưa thật đầy đủ cả số lượng

và chất lượng Việc dự trữ các loại thức ăn cho trâu bò vào vụ đông chưa được quan tâm đầy đủ, vì vậy về mùa đông trâu bò thường có sức khoẻ kém nên hay mắc bệnh Chuồng trại và công tác vệ sinh thú y chưa được chú trọng nhiều Công tác tiêm phòng chưa triệt để, nên trâu bò thường xuyên bị mắc các bệnh ký sinh trùng và một số bệnh khác

+ Chăn nuôi lợn

Hầu hết các hộ dân đều chăn nuôi lợn, nhưng số lượng nuôi còn ít Thức ăn sử dụng cho chăn nuôi lợn chủ yếu là tận dụng các phế phụ phẩm của ngành trồng trọt như: lúa, ngô, khoai, sắn, Vì vậy, năng suất chăn nuôi lợn chưa cao Tuy nhiên, một số hộ gia đình mạnh dạn đầu tư vốn cho chăn nuôi, biết áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào chăn nuôi như: Sử dụng các loại thức ăn hỗn hợp ngoài thị trường để rút ngắn thời gian chăn nuôi, tăng năng suất đem lại hiệu quả kinh tế cao cho người chăn nuôi

Công tác giống lợn đã được quan tâm, nhiều hộ gia đình chăn nuôi lợn nái Móng Cái hay nái F1 (Móng cái x Landrace) hoặc nái ngoại thuần để chủ động con giống và cung cấp một phần sản phẩm ra thị trường

Trang 12

Công tác vệ sinh thú y còn hạn chế, việc tiêm phòng hàng năm chưa triệt để nên bệnh vẫn xảy ra gây thiệt hại cho người chăn nuôi, đồng thời ảnh hưởng đến sản phẩm chăn nuôi cung cấp ra thị trường Trong những năm tới, mục tiêu là phải đưa được năng suất sản phẩm, chất lượng thịt đạt tiêu chuẩn xuất khẩu cũng như đẩy mạnh hơn nữa việc chăn nuôi theo hình thức chăn nuôi công nghiệp

+ Chăn nuôi gia cầm

Nhìn chung, chăn nuôi gia cầm trong toàn phường Thịnh Đán khá phát triển, chủ yếu là chăn nuôi gà, vịt theo phương thức chăn nuôi tự nhiên và bán chăn thả Bên cạnh đó có một số hộ gia đình mạnh dạn đầu tư vốn xây dựng các trang trại quy mô từ 5.000 - 8.000 gà thịt/lứa, áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất nên đã đưa năng suất lên cao Ngoài ra, trên địa bàn phường còn có Trại Giống gia cầm Thịnh Đán thuộc Trung tâm Giống vật nuôi tỉnh Thái Nguyên Đây là nơi chuyên cung cấp con giống cho nhân dân trong vùng và một số địa phương khác

Nhờ các tiến bộ khoa học kỹ thuật áp dụng vào chăn nuôi đã có một số gia đình chăn nuôi theo phương thức công nghiệp và bán công nghiệp, mua các con giống mới có năng suất cao về nuôi như: gà Tam Hoàng, Lương Phượng, Sasso, ISA, AA, Ross 508, CP 707, Hyline, vịt Khakicampbel Kết quả đã đem lại thu nhập khá cao cho các hộ chăn nuôi

* Công tác thú y

Công tác thú y đóng vai trò quan trọng then chốt trong chăn nuôi, nó quyết định đến thành công hay thất bại của người chăn nuôi, đặc biệt trong điều kiện chăn nuôi quảng canh Ngoài ra, nó còn ảnh hưởng đến sức khoẻ của cộng đồng, ảnh hưởng đến phát triển kinh tế của người dân Vì vậy, công tác thú y luôn được ban lãnh đạo các cấp, ngành, địa phương cùng người chăn nuôi hết sức quan tâm, chú trọng như:

+ Tuyên truyền lợi ích vệ sinh phòng dịch bệnh cho người và vật nuôi + Tập trung chỉ đạo tiêm phòng cho đàn gia súc gia cầm trên địa bàn + Thường xuyên đào tạo, tập huấn đội ngũ cán bộ thú y cơ sở

+ Theo dõi tình hình, diễn biến dịch bệnh để kịp thời có phương án chỉ đạo

Trang 13

Chính vì vậy, trong nhiều năm gần đây ngành chăn nuôi của phường được phát triển mạnh, đảm bảo an toàn kể cả giai đoạn dịch cúm gia cầm xảy

ra hầu hết các địa phương trong toàn quốc

1.1.4 Quá trình thành lập và phát triển của Trại Giống gia cầm Thịnh Đán

- Quá trình thành lập

Trại Giống gia cầm Thịnh Đán được thành lập từ tháng 4 năm 1995 trên

cơ sở tiếp quản cơ sở của Chi cục thú y tỉnh Bắc Thái Năm 2001 tỉnh Thái Nguyên nâng cấp và đổi tên thành Trại Giống gia cầm Thịnh Đán Trại có diện tích 5.200m2 với tường bao bọc xung quanh thành hệ thống khép kín, với

hệ thống cơ sở hoàn thiện Trại đã và đang giữ vai trò quan trọng trong việc cung cấp con giống, chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật về chăn nuôi gia cầm cho người chăn nuôi ở trong và ngoài tỉnh

* Cơ sở vật chất: Cơ sở vật chất của trại Giống gia cầm Thịnh Đán gồm có:

Nhà hành chính (văn phòng làm việc): 01 dãy

Dãy nhà ở cho công nhân ở và trực kỹ thuật: 01 dãy

Chuồng gà cho gà con mới nở, chờ xuất: 01 chuồng

Dãy chuồng gà nuôi gà thịt, hậu bị: 01 dãy

Dãy chuồng nuôi gà sinh sản: 01 dãy

Kho chứa thức ăn, bảo quản trứng: 01 kho

Trại có hệ thống lưới B40 để quây khi chăn thả đảm bảo cho gà được nuôi nhốt trong quây có khoảng không để vận động, sân chơi phục vụ cho công tác phối giống

Trại có hệ thống tường rào bảo vệ bao quanh đảm bảo vệ sinh thú y

Về thiết bị, máy móc phục vụ cho chăn nuôi gồm có: 2 máy ấp trứng,

02 máy nở, 1 máy phun thuốc sát trùng, máy bơm nước, hệ thống giếng khoan

và các trang thiết bị khác đảm bảo phục vụ chăn nuôi

* Cơ cấu tổ chức: Cơ cấu của trại được tổ chức và biên chế như sau:

Trại trưởng: 01 người

Cán bộ kỹ thuật: 01 người

Kế toán: 01 người

Trang 14

Công nhân: 02 người

Có thể nói đội ngũ cán bộ công nhân viên của trại là một đội ngũ trẻ có

kỹ thuật và trách nhiệm với công việc

- Chức năng và nhiệm vụ của Trại

Nuôi giữ các giống gia cầm gốc được tỉnh cho phép nhập

Nuôi khảo nghiệm các giống gia cầm thuần, con lai, sản xuất con giống tới tận tay người chăn nuôi

Áp dụng và chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật về chăn nuôi gia cầm cho người dân

Là nơi để thực hiện các đề tài nghiên cứu khoa học về chăn nuôi gia cầm

- Tình hình sản xuất của Trại

* Ngành trồng trọt

Do diện tích của trại hẹp nên việc phát triển ngành trồng trọt phục vụ chăn nuôi của trại rất hạn chế, chưa có điều kiện để phát triển

* Ngành chăn nuôi

Từ năm 2003 - 2004, chăn nuôi của trại chủ yếu là 03 giống gà chính là: ISA

- JA57, Lương Phượng, Sasso Ngoài ra, còn có ngan Pháp bố mẹ dòng R51

Đến năm 2005, nhập giống gà Sao của Hunggari về nuôi thích nghi và sản xuất thử nghiệm

Năm 2006, Trại đã nhập 40 con thỏ, giống thỏ ngoại Newzeland thuần nuôi thử nghiệm và sản xuất giống cùng với một số giống thỏ nội

Năm 2009, trại tập trung vào sản xuất gà giống Lương Phượng, Sasso

và con lai của 2 giống gà trên để cung cấp nhu cầu con giống đạt chất lượng cao cho nhân dân trong tỉnh và các tỉnh lân cận như: Bắc Kạn, Lạng Sơn Cuối năm 2009, Trại đã nhập giống gà mới WA (là con lai Ai Cập với

gà Ucraina) về nuôi thích nghi và khảo nghiệm

Trang 15

Năm 2010 trại nhập đàn gà Mía, Lương Phượng về nuôi để sản xuất con giống

Năm 2011 trại nhập đàn gà Sasso dòng A, B, Mía, Lương Phượng về nuôi để sản xuất con giống

Năm 2012 trại nhập đàn gà Sasso dòng A, B, Mía về nuôi để sản xuất con giống

Mấy năm gần đây tình hình dịch cúm gia cầm trong nước có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển đàn gà của trại, như số lượng giống gốc và địa bàn mở rộng phục vụ sản xuất, mặc dù trại luôn đảm bảo được an toàn dịch bệnh

* Công tác thú y:

Công tác thú y hết sức được quan tâm Với phương châm "phòng bệnh hơn chữa bệnh", trại giống gia cầm đã triệt để thực hiện tốt quy trình vệ sinh thú y đồng thời công tác chăm sóc, nuôi dưỡng cũng chú ý đúng mức nên dịch bệnh không xảy

ra, đàn gia cầm tiếp tục duy trì, số lượng đầu con không ngừng tăng lên

Hệ thống chuồng nuôi được đảm bảo thông thoáng về mùa hè, ấm áp về mùa đông Mùa hè có hệ thống làm mát bằng quạt và vòi phun nước, mùa đông có hệ thống chắn gió Trại có hàng rào chắn xây bao xung quanh đảm bảo ngăn cách, biệt lập với khu dân cư, cổng ra vào có hố sát trùng, khu vực chăn nuôi có hàng rào barie và hố vôi sát trùng Hàng ngày chuồng trại, máng

ăn, máng uống, dụng cụ cho ăn được quét dọn, cọ rửa sạch sẽ trước khi cho gà

ăn Quy trình tiêm phòng cho đàn gia cầm được thực hiện nghiêm túc với loại vaccine như: Cúm gia cầm, Gumboro, Newcastle, Đậu, Bệnh viêm phế quản truyền nhiễm Chuồng trại thường xuyên thay chất độn và định kỳ tổng vệ sinh toàn bộ khu vực trại Hàng ngày cán bộ kỹ thuật theo dõi, phát hiện gia cầm nhiễm bệnh và tiến hành điều trị hoặc loại thải kịp thời

Trang 16

Ban lãnh đạo trại thường xuyên quan tâm, chú ý đến phát triển sản xuất

và nâng cao đời sống cho cán bộ, công nhân viên của trại

Trại có đội ngũ cán bộ trẻ có trình độ, nhiệt tình, năng động sáng tạo, sẵn sàng tiếp nhận và hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao Đặc biệt luôn có sự đoàn kết thống nhất cao

Trại nằm trong địa bàn thành phố Thái Nguyên, có vị trí gần các trung tâm khoa học kỹ thuật và trục đường giao thông là điều kiện thuận lợi để phát triển sản xuất, tiếp nhận và chuyển giao các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất

1.3 NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP THỰC HIỆN TỐT NGHIỆP

1.3.1 Nội dung thực tập tốt nghiệp

1.3.1.1 Công tác phục vụ sản xuất

Để đảm bảo tốt nhiệm vụ thực tập tốt nghiệp theo yêu cầu của nhà trường, khoa cũng như giáo viên hướng dẫn, chúng tôi đã đưa ra một số nội dung trong thời gian thực tập tại cơ sở như sau:

- Công tác ứng dụng tiến bộ kỹ thuật về chăn nuôi

+ Công tác giống: Tham gia chọn lọc gà giống các loại

+ Công tác thức ăn: Tính toán lượng thức ăn gà ăn hàng ngày

+ Công tác chăm sóc nuôi dưỡng: Chăm sóc toàn bộ gà của trại giống

- Công tác thú y

Công tác thú y tại cơ sở trong thời gian thực tập chúng tôi đề ra công việc phải thực hiện như sau:

+ Ra vào trại đúng nội quy quy định

+ Làm tốt công tác vệ sinh môi trường, chuồng trại và khu vực xung quanh + Thực hiện nghiêm túc quy trình tiêm phòng

+ Phát hiện và điều trị bệnh kịp thời cho vật nuôi

Trang 17

+ Tích cực tham gia vào các phong trào hoạt động chung

1.3.1.2 Công tác nghiên cứu khoa học

Thực hiện chuyên đề nghiên cứu khoa học với tên đề tài: “Tình hình nhiễm bệnh hô hấp mãn tính (CRD) trên gà thịt Sasso nuôi tại Trại Giống gia cầm Thịnh Đán thành phố Thái Nguyên và biện pháp phòng trị”

1.3.2 Biện pháp tiến hành

Trong thời gian thực tập tại cơ sở theo yêu cầu của nội dung thực tập tốt nghiệp bản thân đề ra một số biện pháp thực hiện như sau:

- Tìm hiểu kỹ tình hình sản xuất chăn nuôi ở cơ sở thực tập và khu vực vành đai

- Tham gia tích cực công tác tiêm phòng, chẩn đoán và điều trị bệnh cho gia cầm

- Tham gia công tác chuyển giao con giống và kỹ thuật cho các hộ sản xuất

- Luôn luôn chấp hành, tham gia các hoạt động của cơ sở, tiếp thu ý kiến của cán bộ lãnh đạo, của cô giáo hướng dẫn, tranh thủ thời gian tiếp xúc với thực tế để nâng cao tay nghề, nắm vững kiến thức chuyên ngành hơn nữa

- Áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật mới mà bản thân tôi đã được học và tìm hiểu vào thực tiễn sản xuất

-Tích cực bám sát cơ sở để nắm bắt phát hiện những nơi có dịch bệnh xảy ra, để có biện pháp can thiệp kịp thời

1.4 KẾT QUẢ CÔNG TÁC PHỤC VỤ SẢN XUẤT

Trong quá trình thực tập tại Trại Giống gia cầm Thịnh Đán, được sự giúp đỡ tận tình của thầy giáo hướng dẫn và cán bộ, công nhân viên của trại, kết hợp với sự nỗ lực cố gắng của bản thân, tôi đã lĩnh hội được nhiều kinh nghiệm quý báu trong thực tiễn sản xuất và đã đạt được một số kết quả sau:

1.4.1 Công tác chăn nuôi

* Công tác chuẩn bị chuồng trại:

Trước khi nhận gà vào nuôi, chuồng đã được để trống từ 10 - 15 ngày

và quét dọn sạch bên trong và bên ngoài, lối đi, hệ thống cống rãnh thoát nước nền chuồng, tường nhà và vách ngăn được quét vôi, sau đó tiến hành phun thuốc sát trùng bằng dung dịch Benkocid, nồng độ 0,5 - 1%

Trang 18

Tất cả các dụng cụ như: khay ăn, máng uống, chụp sưởi, đèn sưởi, đều được cọ rửa sạch sẽ và phun thuốc sát trùng famsafe trong vòng 20 phút với tỷ lệ 1: 200, phơi nắng dụng cụ trước khi cho vào chuồng nuôi

* Công tác chọn giống

Công tác chọn giống là một phần hết sức quan trọng quyết định đến hiệu quả chăn nuôi Trong quá trình chăn nuôi tại cơ sở, chúng tôi đã tiến hành công tác chọn giống gà ở các giai đoạn phát triển khác nhau, đáp ứng theo yêu cầu của người chăn nuôi, cụ thể:

- Đối với gà mái sinh sản: Gà mái sinh sản cần được chọn lọc rất chặt chẽ, để đáp ứng tiêu chuẩn sản xuất con giống cung cấp cho thị trường chăn nuôi Vì vậy, chúng tôi tiến hành chọn lọc, loại thải những con bị khuyết tật, mào tích kém phát triển, xương háng hẹp, lỗ huyệt nhỏ, mầu sắc lông không đặc trưng của giống, lông xù, đặc biệt là ở giai đoạn gà hậu bị

- Đối với trứng giống: Muốn có con giống tốt thì phải có quả trứng giống tốt Vì vậy, khi đưa trứng vào ấp chúng tôi tiến hành chọn lọc những quả trứng đạt tiêu chuẩn cho vào ấp Trứng cho vào ấp là những quả trứng được chọn từ đàn gia cầm khoẻ mạnh và nuôi dưỡng theo một quy trình đạt tiêu chuẩn, không mắc bệnh, có tỷ lệ trống mái phù hợp Mỗi ngày nhặt trứng 2

- 4 lần để tránh dập vỡ, sau đó chọn lọc, loại bỏ những quả bị dập vỡ, bẩn, dị hình, Những quả trứng đạt tiêu chuẩn ấp là những quả trứng có hình ovan, chia làm hai đầu rõ rệt (một đầu to một đầu nhỏ), vỏ trứng sạch, đều, nhẵn, khối lượng trứng phù hợp, không quá to cũng không quá nhỏ đối với từng giống Ví

dụ như gà Lương Phượng thì khối lượng trứng cho vào ấp phù hợp là từ 50 - 60 gram, gà sao từ 45 - 55 gram Trứng trước khi ấp được cho vào phòng xông trứng bằng foocmol + thuốc tím với liều lượng 17 gram thuốc tím và 35 ml foocmol cho 1m3 không khí trong thời gian từ 15 - 20 phút, sau đó xếp trứng vào khay và cho vào máy ấp

- Kiểm tra trứng ấp: Sau khi đưa trứng vào ấp một thời gian, tiến hành soi trứng để kiểm tra phôi ở các giai đoạn 6, 11, 18 ngày ấp để loại bỏ kịp thời trứng không phôi, chết phôi, qua đó cũng đánh giá được chất lượng trứng đưa

Trang 19

vào ấp để kịp thời điều chỉnh chế độ ấp hoặc chế độ chăm sóc nuôi dưỡng của đàn gà sinh sản sao cho đạt hiệu quả cao nhất

- Phân loại gà con mới nở ra: Gà con mới nở ra phải chọn phân loại loại

I, loại II Gà loại I là những con nhanh nhẹn khoẻ mạnh, mắt sáng lông mượt, chân bóng, không hở rốn, khoèo chân, vẹo mỏ và đảm bảo khối lượng quy định đối với từng loại giống

* Công tác chăm sóc nuôi dưỡng

Tuỳ theo từng giai đoạn phát triển của gà và tuỳ từng loại gà mà ta áp dụng quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng cho phù hợp

- Giai đoạn úm gà con: Khi chuyển từ khu ấp trứng về chúng tôi tiến hành cho gà con vào quây và cho gà uống nước ngay Nước uống cho gà phải sạch và pha B.complex + vitamin C + đường glucoza 5% cho gà uống hết lượt sau 2 - 3h mới cho gà ăn bằng khay

Giai đoạn đầu nhiệt độ trong quây là 35 - 370C Sau 1 tuần tuổi nhiệt độ cần thiết là trên 300C, sau đó nhiệt độ giảm dần theo ngày tuổi

- Nuôi gà thịt (giai đoạn 21 - 70 ngày tuổi): Ở giai đoạn này gà phát triển nhanh nên ăn nhiều Thức ăn của gà giai đoạn này có kích thước to hơn

để phù hợp với khẩu vị của gà Thành phần dinh dưỡng phải đảm bảo protein thô 21%, năng lượng trao đổi là 2900 kcal/kg thức ăn Hàng ngày phải cung cấp đủ thức ăn, nước uống, cho gà ăn tự do và thay nước 2 lần/ngày

- Nuôi gà sinh sản (từ 21 ngày tuổi trở đi): Thời gian nuôi gà sinh sản được chia thành các giai đoạn khác nhau: giai đoạn gà con; giai đoạn gà dò và hậu bị; giai đoạn sinh sản

+ Giai đoạn gà con (từ 4 - 6 tuần tuổi): Giai đoạn này gà tiếp tục sinh trưởng với tốc độ nhanh nên việc cung cấp thức ăn cho gà phải đảm bảo đầy

đủ cả số và chất lượng, cụ thể là: hàm lượng protein trong thức ăn phải đạt từ 18-20%; năng lượng trao đổi đạt từ 2750-2800 kcal/kg Ngoài ra, cần phải đảm bảo đầy đủ và cân đối các axit amin thiết yếu đặc biệt là lyzin và methionin Ở giai đoạn này, gà được nuôi với chế độ ăn tự do

+ Giai đoạn gà dò và hậu bị (từ 7 tuần tuổi đến đẻ bói): Nuôi dưỡng gà trong giai đoạn này có ý nghĩa rất quan trọng để nâng cao khả năng sinh sản

Trang 20

của gà ở giai đoạn tiếp theo Vì vậy, yêu cầu nuôi dưỡng chăm sóc trong giai đoạn này phải đảm bảo cho gà sinh trưởng, phát dục bình thường, gà không quá béo, không quá gầy và đảm bảo độ đồng đều cao về khối lượng Thức ăn trong giai đoạn này cần phải đảm bảo có 15-17% protein, năng lượng trao đổi biến động từ 2600 - 2700 kcal/kg thức ăn

+ Giai đoạn gà đẻ: Chúng tôi đã chú ý chuẩn bị đầy đủ máng ăn, máng uống cho gà theo quy định, không để gà bị khát nước vì nếu gà thiếu nước gà

sẽ giảm tỷ lệ đẻ và khối lượng trứng Nền chuồng luôn khô, độ dày của đệm lót đảm bảo đạt 10 - 15cm, ổ đẻ được đưa vào chuồng nuôi trước tuổi đẻ đầu

dự kiến khoảng 2 tuần để gà mái làm quen Thường xuyên bổ sung đệm lót mới và vệ sinh sạch sẽ, hạn chế gà đẻ xuống nền

Về cách cho ăn, cho gà 3 ngày ăn 1 ngày nhịn hoặc là ngày nào cũng cho ăn theo khẩu phần khống chế Khẩu phần này được xác định tuỳ theo khối lượng cơ thể gà Cứ 50 g khối lượng cơ thể vượt so với quy định giảm 5 g thức ăn/gà/ngày, nhưng lượng thức ăn không thấp hơn ở tuần trước; cứ 50 g khối lượng cơ thể thấp hơn so với quy định tăng 5 g thức ăn/gà/ngày Chỉ cho

ăn một bữa để giảm những ảnh hưởng xấu và stress cho gà Khi phân phối thức ăn vào máng, phải đảm bảo trong vòng 4 phút tất cả các máng đều có thức ăn Máng ăn cho gà giai đoạn này cần treo cao cho gờ miệng máng luôn ngang với lưng gà để tránh rơi vãi thức ăn (chú ý trong giai đoạn nuôi khống chế phải khống chế cả nước uống) Đối với gà nuôi tại Trại Giống gia cầm Thịnh Đán sử dụng thức ăn hỗn hợp 0521 của CP có thành phần dinh dưỡng: đạm 19%; xơ thô 6%; Ca 0,8 -1,0%; P 0,6%; NaCl 0,3-0,5%; năng lượng trao đổi 2900 kcal/kg

Đối với gà nuôi trong Trại Giống gia cầm Thịnh Đán sử dụng thức ăn

9624 của CP có thành phần dinh dưỡng: đạm 16,5%; xơ thô 6%; Ca 3,5 - 34,0%; P 0,5%; NaCl 0,3-0,5%; năng lượng trao đổi 2700 kcal/kg

* Chế độ chiếu sáng

Chế độ chiếu sáng cùng với chế độ ăn có tác dụng kích thích hay kìm hãm sự phát dục của gà trống và mái sớm hay muộn hơn quy định Điều cần ghi nhớ để áp dụng cho đàn gà sinh sản đó là: Không tăng thời gian chiếu

Trang 21

sáng và cường độ chiếu sáng trong giai đoạn hậu bị, không được giảm thời gian và cường độ chiếu sáng trong giai đoạn đẻ trứng Với chuồng nuôi ở trại,

là chuồng thông thoáng tự nhiên, việc khống chế thời gian chiếu sáng tự nhiên thực tế là rất khó Ở giai đoạn đẻ, thời gian chiếu sáng nâng dần lên từ 14h - 17h/ngày Chúng tôi thực hiện chế độ chiếu sáng theo hướng dẫn của Viện chăn nuôi như sau:

Bảng 1.1: Chế độ chiếu sáng cho đàn gà sinh sản Tuổi tuần Thời gian Cường độ W/m 2 chuồng nuôi

Tiêm phòng vaccine cho đàn gia cầm để có miễn dịch chủ động đảm bảo

an toàn trước dịch bệnh Trước ngày sử dụng vaccine không pha thuốc kháng sinh vào nước uống trong vòng 8 - 12 h, pha vaccine vào lọ dùng để nhỏ trực tiếp vào miệng, mắt, mũi hoặc pha ở dạng dung dịch để tiêm Tính toán liều vaccine phải đủ để mỗi con nhận được một liều Dụng cụ pha và nhỏ vaccine không có thuốc sát trùng hoặc xà phòng, nhiệt độ đảm bảo từ 20 - 250C

Chúng tôi sử dụng vaccine phòng bệnh cho đàn gà theo lịch như sau:

Trang 22

Bảng 1.2: Lịch phòng vaccine cho gà Ngày tuổi Loại vaccine Phương pháp dùng

1-5

Lasota lần 1, IB Nhỏ mắt mũi 1 giọt

Gumboro lần 1 Nhỏ miệng 1 - 2 giọt

Marek Tiêm dưới da

10 Gumboro lần 2 Nhỏ miệng 1 - 2 giọt

25 Gumboro lần 3 Nhỏ miệng 1 - 2 giọt

Lasota lần 2 Nhỏ mắt hoặc mũi 1 giọt

35 Newcastle hệ 1 Tiêm dưới da 0,5ml/con

* Bệnh viêm đường hô hấp cấp mãn tính ở gà (CRD, hen gà)

Gà mắc bệnh có biểu hiện chảy nước mắt, nước mũi, thở khò khè, phải

há mồm ra để thở, xoã cánh, gà hay quét mỏ xuống đất, đứng ủ rũ, có tiếng rít rất điển hình (nghe rõ về đêm), gà kém ăn, gầy đi nhanh chóng

Trang 23

- Bệnh tích:

Xác gà gầy, nhợt nhạt, khí quản có dịch, niêm mạc có chấm đỏ, phổi nhợt

nhạt Khi ghép với E.coli thấy xuất huyết dưới da, lách sưng, ruột xuất huyết

- Điều trị:

+ Anti- CRD: liều 2 g/lít nước uống, dùng liên tục trong vòng 3-5 ngày Tất cả các loại bệnh khi điều trị cần kết hợp với các loại thuốc nhằm tăng sức đề kháng như: B.complex (1 g/3 lít nước), vitamin C, đường glucose

+ Bệnh CRD thường ghép với bệnh E.coli, do đó khi điều trị bệnh

chúng tôi sử dụng Bio- Enrafloxacin 10%, liều lượng 1ml/2 lít nước uống dùng trong 3 - 5 ngày

* Bệnh cầu trùng (Coccidiosis)

- Nguyên nhân:

+ Là bệnh do ký sinh trùng Eimeria gây ra Gây bệnh ở gà có 9 loại cầu

trùng khác nhau Tỷ lệ bệnh cao nhất ở giai đoạn từ 15 - 45 ngày tuổi

+ Bệnh xảy ra quanh năm nhưng nặng nhất là vào vụ xuân hè khi thời

tiết nóng ẩm

- Triệu chứng: Thường gặp ở 2 thể

+ Cầu trùng manh tràng: thường gặp ở gà con từ 4-6 tuần tuổi; gà bệnh ủ

rũ, bỏ ăn, uống nước nhiều, phân lỏng lẫn máu tươi hoặc có màu sôcôla, mào nhợt nhạt (do thiếu máu) Mổ khám thấy manh tràng sưng to, chứa đầy máu + Cầu trùng ruột non gà: Bệnh thường ở thể nhẹ Triệu chứng chủ yếu

là gà ủ rũ, xù lông, cánh rũ, chậm chạp, phân màu đen như bùn, lẫn nhầy đôi khi lẫn máu; gà gầy, chậm lớn, chết rải rác kéo dài tỷ lệ chết thấp

Trang 24

- 5 ngày liên tục Ngoài ra, để chống chảy máu chúng tôi kết hợp với Hanvit C

và K, liều lượng 0,5-1g/1 lít nước uống

* Bệnh bạch lỵ gà con

- Nguyên nhân: do vi khuẩn gram âm Salmonella gallinarum và Salmonella pullrum gây ra

- Triệu chứng: gà con mắc bệnh biểu hiện kém ăn, lông xù, ủ rũ, phân

có màu trắng, phân loãng dần và dính quanh hậu môn Đối với gà thường ở thể mãn tính

1.4.3 Tham gia các công việc khác

Trong thời gian thực tập, ngoài việc chăm sóc, nuôi dưỡng đàn gà thí nghiệm, bản thân tôi còn tham gia vào một số công việc khác như:

+ Tiêu độc, khử trùng chuồng trại và khu vực xung quanh

+ Tham gia chọn lọc và loại thải đàn gà giống bố mẹ

+ Chăm sóc đàn gà bố mẹ, gà con, gà thịt

+ Tham gia quản lý máy ấp, chọn trứng, chọn lọc gà giống

+ Tham gia công tác tư vấn kỹ thuật chăn nuôi như hướng dẫn kỹ thuật chăn nuôi cho các hộ gia đình mua con giống của trại, từ khâu xây dựng chuồng trại đến khâu vệ sinh phòng bệnh cũng như kỹ thuật chăm sóc, nuôi dưỡng khi nuôi gia cầm, gia súc

Sau 6 tháng thực tập tốt nghiệp tại Trại Giống gia cầm Thịnh Đán - thành phố Thái Nguyên chúng tôi đã tham gia và hoàn thành dược một số công tác phục vụ sản xuất đã đề ra Kết quả của công tác này được thể hiện tổng quát qua bảng sau:

Trang 25

Bảng 1.3: Kết quả công tác phục vụ sản xuất

Nội dung công việc Đơn vị Số lượng

1.5 KẾT LUẬN VỀ CÔNG TÁC PHỤC VỤ SẢN XUẤT

1.5.1 Bài học kinh nghiệm

Qua thời gian thực tập tại Trại Giống gia cầm Thịnh Đán, được sự giúp

đỡ của Ban lãnh đạo trại, cán bộ phụ trách và đặc biệt thầy giáo hướng dẫn TS.Từ Trung Kiên, cùng với chính quyền địa phương đã tạo điều kiện thuận

lợi giúp tôi bước đầu tiếp xúc với thực tiễn sản xuất Qua đó tôi đã vận dụng được những kiến thức đã học ở trường để củng cố thêm kiến thức và rèn luyện thêm chuyên môn của mình

Trang 26

Qua đợt thực tập này tôi thấy mình trưởng thành hơn về nhiều mặt, điều quan trọng nhất là tôi đã rút ra bài học kinh nghiệm bổ ích về chuyên môn từ thực tiễn sản xuất như:

+ Áp dụng các kiến thức đã học vào thực tiễn sản suất

+ Biết cách chăm sóc, nuôi dưỡng, quản lý

+ Biết cách dùng một số loại vaccine phòng bệnh và thuốc điều trị bệnh + Biết chẩn đoán một số bệnh thông thường và biện pháp điều trị

+ Tay nghề thực tế được nâng lên rõ rệt

Trong thời gian thực tập được tiếp xúc với thực tế sản xuất đã giúp tôi khẳng định được tư tưởng vững vàng, rèn luyện tác phong làm việc, trau dồi, củng cố và nâng cao kiến thức về chuyên môn nghiệp vụ, giúp tôi yêu ngành yêu nghề, say mê với công việc và không ngừng cố gắng học hỏi để làm tốt hơn khi ra thực tế sản xuất Tôi thấy rằng việc đi thực tập là một việc rất cần thiết đối với bản thân tôi cũng như tất cả các sinh viên trước khi tốt nghiệp ra trường

+ Còn non về tay nghề, đôi khi chưa mạnh dạn trong công việc

+ Các kiến thức được học tập và rèn luyện ở trường chưa thể vận dụng hết vào thực tiễn sản xuất

+ Qua thời gian thực tập tôi thấy từ kiến thức sách vở vận dụng vào thực tế là một quá trình dài Do vậy, tôi nhận thấy mình cần phải học hỏi nhiều hơn, cố gắng rèn luyện để vươn lên, khắc phục những khó khăn và sai sót của bản thân

Trang 27

Phần 2 CHUYÊN ĐỀ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC

Tên đề tài: “Tình hình nhiễm bệnh hô hấp mãn tính (CRD) trên gà thịt Sasso nuôi tại Trại Giống gia cầm Thịnh Đán thành phố Thái Nguyên

và biện pháp phòng trị”

2.1 ĐẶT VẤN ĐỀ

2.1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Việt Nam là một nước đang phát triển, có trên 70% dân số sống bằng sản xuất nông nghiệp, trong đó chăn nuôi chiếm một vị trí hết sức quan trọng Những năm gần đây ngành chăn nuôi nước ta nói chung và ngành chăn nuôi gia cầm nói riêng đã và đang có xu hướng phát triển rõ rệt cả về số lượng và chất lượng, mang lại nguồn thực phẩm cho con người Ở nước ta, việc chăn thả gia cầm tự nhiên (nuôi quảng canh) đang có xu hướng thu hẹp, nhiều nơi, nhiều hộ gia đình đã chuyển hướng sang nuôi công nghiệp (tập trung thâm canh)

Đứng thứ hai về cung cấp thực phẩm sau ngành chăn nuôi lợn, thời gian quay vòng vốn nhanh, lại tận dụng sản phẩm từ ngành trồng trọt, nên ngành chăn nuôi gia cầm ngày càng trở thành mũi nhọn phát triển nông nghiệp ở nước ta Để đạt được hiệu quả kinh tế cao trong ngành chăn nuôi gà, ngoài những yếu tố như: giống, thức ăn, chế độ chăm sóc nuôi dưỡng thì vấn

đề phòng trị bệnh cho gà có ý nghĩa rất lớn

Trong những năm gần đây, dịch bệnh ở đàn gia cầm nước ta có chiều hướng gia tăng và diễn biến phức tạp ảnh hưởng rất lớn đến số lượng và chất lượng đàn gà Thực tế chăn nuôi cho thấy gà là một vật nuôi khá mẫn cảm với bệnh truyền nhiễm như: H5N1, newcastle, CRD… Những bệnh này

có ảnh hưởng rất lớn tới số lượng và chất lượng đàn gà Từ đó, gây thiệt hại nghiêm trọng đến kinh tế và sự phát triển chăn nuôi gà, đặc biệt là chăn nuôi gà công nghiệp

Tỷ lệ gà chết do CRD thường từ 15 - 20% nhưng điều quan trọng là gà

dễ bị nhờn thuốc và gà bị viêm đường hô hấp kéo dài, làm cho gà gầy yếu, giảm tăng khối lượng, giảm tỉ lệ đẻ trứng, gây thiệt hại lớn về kinh tế

Trang 28

Trong môi trường chăn nuôi công nghiệp bệnh CRD là bệnh rất phổ biến và dễ phát sinh thành dịch Xuất phát từ thực tế trên chúng tôi tiến hành

nghiên cứu đề tài: “Tình hình nhiễm bệnh hô hấp mãn tính (CRD) trên gà thịt Sasso nuôi tại Trại Giống gia cầm Thịnh Đán thành phố Thái Nguyên

2.2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.2.1 Cơ sở khoa học của đề tài

2.2.1.1 Đặc điểm sinh lý, gải phẫu cơ quan hô hấp của gia cầm

Theo Nguyễn Duy Hoan và cs (1998) [5] cho biết:

* Hệ hô hấp của gia cầm

Hệ hô hấp của gia cầm gồm: lỗ mũi, xoang mũi, khí quản, 2 phế quản,

2 phổi + 9 túi khí

Hai lỗ mũi nằm ở gốc mỏ và có đường kính rất nhỏ, ở gà phía ngoài hai

lỗ mũi có "van mũi hóa sừng bất động" và xung quanh lỗ mũi có lông cứng nhằm ngăn ngừa bụi và nước

Xoang mũi được phát triển từ xoang miệng sơ cấp ở ngày ấp thứ 7 Xoang mũi ngắn, chia ra 2 phần: phần xương và phần sụn Xoang mũi nằm ở

mỏ trên Xoang mũi là cơ quan thu nhận và lọc khí rồi chuyển vào khí quản, ở

gà thanh quản dưới có hai nếp gấp liên kết, hai nếp gấp đó bị dao động bởi không khí và tạo nên âm thanh

Trang 29

Khí quản là ống tương đối dài bao gồm nhiều vòng sụn và nhiều vòng hóa xương Số vòng khí quản ở gà là 110-120 và hầu hết là sụn, còn ở thủy cầm hầu hết đã hóa xương Khí quản tương đối cong queo, thành khí quản được cấu tạo bởi màng nhầy, màng xơ đàn hồi và màng thanh dịch ngoài

Khí quản chia ra làm hai phế quản ở xoang ngực phía sau xương ngực Mỗi phế quản dài 6-7cm và có đường kính 5-6mm Thành phế quản cấu tạo bởi màng nhầy, ở đó có nhiều tuyến nhỏ tạo ra các dịch nhầy; màng xơ đàn hồi và màng thanh dịch ngoài

Phổi và phế quản được hình thành từ các nếp gấp ống hàu ở cuối khí quản vào ngày ấp thứ 4 Phổi của gia cầm màu đỏ tươi, cấu trúc xốp, có dạng bọc nhỏ kéo dài, ít đàn hồi Phổi nằm ở xoang ngực phía trục xương sống từ trục xương sườn thứ nhất đến mép trước của thận Chức năng chính của phổi

là làm nhiệm vu trao đổi khí

Túi khí là tổ chức mỏng bên trong chứa đầy khí Các túi khí là sự mở rộng và tiếp dài của khí quản Cơ thể gia cầm có 9 túi khí chính, trong đó có 4 đôi xếp đối xứng, còn 1 túi khí đơn Các đôi túi khí xếp đối xứng là đôi túi khí xương đòn, đôi túi khí ngực trước, đôi túi khí ngực sau, đôi túi khí bụng.Túi khí đơn là túi khí cổ Các túi khí thực ra không phải là xoang tận cùng của phế quản sơ cấp và phế quản thứ cấp mà tất cả chỉ là phế nang khổng lồ

* Tần số hô hấp

Theo Hoàng Toàn Thắng và cs (2006) [17] tần số hô hấp dao động trong khoảng lớn, nó phụ thuộc vào loài, tuổi, trạng thái sức khoẻ, sinh lý của gia cầm Trong điều kiện nuôi dưỡng tốt, tần số hô hấp tương đối ổn định Ban đêm tần số hô hấp giảm xuống 30-40% Nếu nhiệt độ tăng tới 370C thì nhịp thở của gà lên tới 150 lần/phút

* Hoạt động trao đổi khí của gia cầm

Cơ chế hoạt động của gia cầm gồm các động tác hít vào và động tác thở

ra với sự hoạt động của phổi và hệ thống 9 túi khí chính

Hoạt lượng của phổi và túi khí của gia cầm bao gồm: khi lưu thông, khí hít thêm, khí thở ra thêm Hoạt lượng của phổi và túi khí nói lên khả năng

hô hấp lớn nhất của gia cầm

Trang 30

Sau khi thở ra thêm trong phổi vẫn có một lượng khí nhỏ lưu lại gọi là khí cặn Hoạt lượng phổi và túi khí của gà tổng cộng là 169cm3

Nhu cầu O2 và lượng CO2 thải ra sau 1 giờ tính trên 1kg thể trọng của

gà như sau:

Loại gà Nhu cầu O 2 (lít) CO 2 thải ra (lít)

Gà con 1-20 ngày tuổi 2,0 - 2,4 1,4 - 1,6

Gà con 21-50 ngày tuổi 1,0 - 1,8 0,7 - 1,2

Một lượng nhỏ khí O2 được hoà tan vào máu và theo máu đến các mô bào, còn phần lớn kết hợp với hemoglobin trong hồng cầu để tạo oxyhemoglobin gọi là dung lượng O2 máu, dao động trong khoảng 12-21 cm khối (Nguyễn Duy Hoan, 1998) [5]

2.2.1.2 Đặc điểm của bệnh hô hấp mãn tính ở gà (CRD)

* Đặc điểm chung:

Bệnh hô hấp mãn tính ở gà là một bệnh truyền nhiễm của nhiều loại

gia cầm, do nhiều loại Mycoplasma gây ra, trong đó quan trọng nhất là Mycoplasma gallisepticum (MG) và Mycoplasma synoviea (MS)

Mầm bệnh MG là nguyên nhân chính gây bệnh viêm đường hô hấp mãn tính ở gà Bệnh này chủ yếu làm cho gà chậm lớn, tiêu tốn thức ăn cao, thuốc điều trị kém (Đào Thị Hảo, 2007) [4]

Chu Minh Khôi (2001) [9] đã tổng hợp: CRD có thời gian ủ bệnh kéo dài nên khó phát hiện trong giai đoạn đầu Nếu chủ quan không theo dõi kịp thời phát hiện bệnh sớm, bệnh sẽ trở thành mãn tính, chữa sẽ khó khăn và tốn nhiều thuốc, vì khi đó mũi, túi khí niêm mạc thanh phế quản đã biến đổi gây cản trở hô hấp

CRD có thể xếp theo 3 dạng như sau:

+ Bệnh viêm đường hô hấp mãn tính chính: nguyên nhân bị bệnh là do căng thẳng (stress) lượng vi khuẩn MG tăng làm phát bệnh, thường có kiêm

nhiễm một số vi khuẩn thứ cấp như: E.coli, Streptococus

+ Bệnh viêm đường hô hấp mãn tính thứ cấp: Xuất phát từ gà bị bệnh khác như cầu trùng, viêm phế quản truyền nhiễm, làm cơ thể yếu đi có dịp cho vi khuẩn MG bùng lên sinh bệnh

Trang 31

+ Bệnh viêm đương hô hấp mãn tính giả: Thể hiện triệu chứng, bệnh

tích ở túi khí của một số bệnh khác như Mycoplasmosis (Nguyễn Thanh Sơn

và cs 2004) [15]

* Mầm bệnh:

Theo Hoàng Huy Liệu (2002) [11] cho biết CRD do 3 loài Mycoplasma gây ra: M.gallisepticum, M.synoviea, M.meleagridis Nhưng chủ yếu là loài M.galliepsepticum Mycoplasma có nghĩa là “dạng nấm”, nhìn dưới kính hiển

vi thì giống như tế bào động vật, nhỏ, không nhân, gallisepticum có nghĩa là

“gây độc cho gà mái” Điều này được thấy rõ tỷ lệ nhiễm bệnh ở gà đẻ trứng rất cao và sản lượng trứng giảm đáng kể

Trần Xuân Hạnh và cs (2004) [3] đã nhận định và hầu hết các loại gia cầm đều mẫn cảm với bệnh này Đặc biệt gà nuôi theo hướng tập trung công nghiệp thì tỷ lệ nhiễm bệnh càng cao Bệnh xuất hiện hầu hết ở các nước trên thế giới Trong những năm gần đây người ta đã sử dụng thuốc kháng sinh mới như: tamulin, tylosin, spiramycin để điều trị nên đã khống chế được bệnh này

Mycoplasma gallisepticum là một loài vi khuẩn kích thước rất nhỏ, nhỏ

hơn các loại vi khuẩn thường thấy nhưng lớn hơn các loại virus Nó rất ít mẫn cảm với các loại kháng sinh thông thường nên điều trị bệnh phải chọn kháng sinh đặc trị

Theo Nguyễn Lân Dũng và cs (2007) [2] nghiên cứu và kết luận:

Mycoplasma có kích thước ngang khoảng 150-300nm thường là 250nm, khó thấy dưới kính hiển vi quang học bình thường Mycoplasma không có thành tế

bảo, bắt màu gram âm, có tính đa hình thái, có dạng nhỏ đến mức lọt qua nến lọc vi khuẩn dễ mẫn cảm với áp suất thẩm thấu, mẫn cảm với cồn, với các chất hoạt động bề mặt (xà phòng, bột giặt, ), không mẫn cảm với penixilin, xicioselin, xephalosporin, baxitraxin và các kháng sinh khác ức chế quá trình tổng hợp thành tế bào

Mycoplasma thuộc loại hiếu khí và yếm khí không bắt buộc, nhiệt độ

tốt nhất là 370C, pH: 7,0-8,0 Nó có thể phát triển tốt trên phôi gà và trên một số môi trường nhân tạo như môi trường huyết thanh, môi trường có chứa hemoglobin, xistien Trên môi trường thạch chúng cũng có thể tạo nên những khuẩn lạc nhỏ bé Khuẩn lạc có cấu tạo hạt, ở giữa có màu vàng nâu,

Ngày đăng: 01/09/2020, 12:00

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.3: Kết quả công tác phục vụ sản xuất - Tình hình nhiễm bệnh hô hấp mãn tính (CRD) trên gà thịt Sasso nuôi tại trại Giống gia cầm Thịnh Đán thành phố Thái Nguyên và biện pháp phòng trị
Bảng 1.3 Kết quả công tác phục vụ sản xuất (Trang 25)
Bảng 2.1: Sơ theo dõi trí thí nghiệm - Tình hình nhiễm bệnh hô hấp mãn tính (CRD) trên gà thịt Sasso nuôi tại trại Giống gia cầm Thịnh Đán thành phố Thái Nguyên và biện pháp phòng trị
Bảng 2.1 Sơ theo dõi trí thí nghiệm (Trang 45)
Bảng 2.3. Tỷ lệ gà thịt Sasso nhiễm CRD theo tháng tuổi - Tình hình nhiễm bệnh hô hấp mãn tính (CRD) trên gà thịt Sasso nuôi tại trại Giống gia cầm Thịnh Đán thành phố Thái Nguyên và biện pháp phòng trị
Bảng 2.3. Tỷ lệ gà thịt Sasso nhiễm CRD theo tháng tuổi (Trang 49)
Bảng 2.4. Bệnh tích mổ khám của gà nhiễm bệnh CRD - Tình hình nhiễm bệnh hô hấp mãn tính (CRD) trên gà thịt Sasso nuôi tại trại Giống gia cầm Thịnh Đán thành phố Thái Nguyên và biện pháp phòng trị
Bảng 2.4. Bệnh tích mổ khám của gà nhiễm bệnh CRD (Trang 50)
Bảng 2.5. Hiệu lực điều trị bệnh CRD của thuốc Enrofloxacin - Tình hình nhiễm bệnh hô hấp mãn tính (CRD) trên gà thịt Sasso nuôi tại trại Giống gia cầm Thịnh Đán thành phố Thái Nguyên và biện pháp phòng trị
Bảng 2.5. Hiệu lực điều trị bệnh CRD của thuốc Enrofloxacin (Trang 52)
Bảng 2.6: Sinh trưởng tích lũy của gà thí nghiệm qua các tuần tuổi - Tình hình nhiễm bệnh hô hấp mãn tính (CRD) trên gà thịt Sasso nuôi tại trại Giống gia cầm Thịnh Đán thành phố Thái Nguyên và biện pháp phòng trị
Bảng 2.6 Sinh trưởng tích lũy của gà thí nghiệm qua các tuần tuổi (Trang 53)
Bảng 2.7: Tiêu tốn TĂ/kg tăng khối lượng của gà thí nghiệm - Tình hình nhiễm bệnh hô hấp mãn tính (CRD) trên gà thịt Sasso nuôi tại trại Giống gia cầm Thịnh Đán thành phố Thái Nguyên và biện pháp phòng trị
Bảng 2.7 Tiêu tốn TĂ/kg tăng khối lượng của gà thí nghiệm (Trang 56)
Hình 14: Thuốc Enrofloxacin - Tình hình nhiễm bệnh hô hấp mãn tính (CRD) trên gà thịt Sasso nuôi tại trại Giống gia cầm Thịnh Đán thành phố Thái Nguyên và biện pháp phòng trị
Hình 14 Thuốc Enrofloxacin (Trang 63)
Hình 13: Thuốc sát trùng - Tình hình nhiễm bệnh hô hấp mãn tính (CRD) trên gà thịt Sasso nuôi tại trại Giống gia cầm Thịnh Đán thành phố Thái Nguyên và biện pháp phòng trị
Hình 13 Thuốc sát trùng (Trang 63)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm