Thành phần loài đơn bào Leucocytozoon gây bệnh ở gà tại một số xã thuộc huyện Phú Bình - tỉnh Thái Nguyên và trại gà tại trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên.... Thành phần loài đơn bào
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM - -
LÊ THÁI HỌC
Tên đề tài:
"NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ BỆNH ĐƠN BÀO DO
LEUCOCYTOZOON SPP GÂY RA Ở GÀ NUÔI TẠI HUYỆN PHÚ BÌNH,
TRẠI GÀ TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÁI NGUYÊN VÀ
THỬ NGHIỆM PHÁC ĐỒ ĐIỀU TRỊ BỆNH”
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Thú y
Khoa : Chăn nuôi Thú y
Khoá học : 2009 - 2013
Thái Nguyên, 2013
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM - -
LÊ THÁI HỌC
Tên đề tài:
"NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ BỆNH ĐƠN BÀO DO
LEUCOCYTOZOON SPP GÂY RA Ở GÀ NUÔI TẠI HUYỆN PHÚ BÌNH,
TRẠI GÀ TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÁI NGUYÊN VÀ
THỬ NGHIỆM PHÁC ĐỒ ĐIỀU TRỊ BỆNH”
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Thú y
Khoa : Chăn nuôi Thú y
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Sau 4 năm học tập tại trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên và 6 tháng thực tập, với nỗ lực của bản thân, em đã nhận sự giúp đỡ, hướng dẫn tận tình của nhiều cá nhân và tập thể, đến nay khóa luận của em đã hoàn thành Nhân dịp này, cho phép em được bày tỏ lòng biết ơn và cảm ơn chân
thành tới thầy giáo hướng dẫn TS Đỗ Quốc Tuấn, cô giáo ThS Dương Thị
Hồng Duyên, GS TS Nguyễn Thị Kim Lan và các thầy cô trong khoa
Chăn nuôi Thú y đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn, giúp đỡ em trong suốt quá trình thực tập và hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này
Em xin trân trọng cảm ơn sự giúp đỡ to lớn về cở sở vật chất của khoa Chăn nuôi Thú y - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
Em xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành tới Ban giám hiệu, Khoa Chăn nuôi Thú y - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã giúp đỡ tạo điều kiện cho em trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu tại trường
Em xin trân trọng cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của cán bộ trạm thú y huyện Phú Bình, cán bộ các xã: Thượng Đình, Nhã Lộng, Xuân Phương, Điềm Thụy và nhân dân huyện Phú Bình - tỉnh Thái Nguyên đã tạo điều kiện giúp đỡ em trong suốt quá trình thực hiện đề tài
Trong suốt quá trình thực hiện đề tài em cũng nhận được sự quan tâm động viên sâu sắc của gia đình và bạn bè
Em xin chân thành cảm ơn mọi sự giúp đỡ quý báu đó
Thái Nguyên, tháng 12 năm 2013
Sinh viên thực hiện
Lê Thái Học
Trang 4LỜI NÓI ĐẦU
Thực hiện phương châm "Học đi đôi với hành, lý thuyết gắn liền với thực tiễn sản xuất", thực tập tốt nghiệp là giai đoạn cuối cùng của chương trình đào tạo ở các trường Đại học nói chung và trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên nói riêng Giai đoạn thực tập đóng vai trò rất quan trọng đối với mỗi sinh viên trước khi ra trường Đây là khoảng thời gian để sinh viên củng
cố và hệ thống hóa những kiến thức đã học, đồng thời làm quen với phương pháp nghiên cứu khoa học và tiếp cận thực tiễn sản xuất Qua đó, giúp sinh viên nâng cao lý luận chuyên môn và kinh nghiệm cho bản thân
Được sự nhất trí của Ban giám hiệu trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, Ban Chủ nhiệm khoa Chăn nuôi - Thú y, sự hướng dẫn tận tình của
thầy giáo TS Đỗ Quốc Tuấn, cô giáo ThS Dương Thị Hồng Duyên và sự
tiếp nhận của Trạm thú y huyện Phú Bình, tôi tiến hành thực hiện đề tài:
"Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ bệnh đơn bào do Leucocytozoon spp gây ra ở
gà nuôi tại huyện Phú Bình, trại gà tại trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên và thử nghiệm phác đồ điều trị bệnh”
Do bước đầu làm quen với phương pháp nghiên cứu khoa học nên bản khóa luận này không tránh khỏi những thiếu sót và hạn chế Tôi kính mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo và các bạn đồng nghiệp để khóa luận của tôi hoàn thiện hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 4.1: Thành phần loài Leucocytozoon gây bệnh ở gà tại một số xã thuộc
huyện Phú Bình - tỉnh Thái Nguyên và trại gà tại trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên 34
Bảng 4.2: Tỷ lệ và cường độ nhiễm Lecocytozoon ở gà tại một số xã thuộc
huyện Phú Bình - tỉnh Thái Nguyên và trại gà tại trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên 36
Bảng 4.3: Tỷ lệ và cường độ nhiễm Leucocytozoon ở gà theo tháng trong năm 40 Bảng 4.4: Tỷ lệ và cường độ nhiễm Leucocytozoon ở gà theo tuổi 44 Bảng 4.5: Tỷ lệ và cường độ nhiễm Leucocytozoon ở gà theo phương thức
Bảng 4.9: Tổng hợp kết quả thử nghiệm thuốc điều trị bệnh Leucocytozoon
cho gà trong phòng thí nghiệm 54
Bảng 4.10: Độ an toàn của phác đồ điều trị bệnh đơn bào Leucocytozoon cho
gà trong phòng thí nghiệm 55
Trang 6DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang Hình 4 1: Biểu đồ tỷ lệ nhiễm và cường độ nhiễm Leucocytozoon giữa các
địa điểm nghiên cứu 38 Hình 4.2: Biểu đồ cường độ nhiễm đơn bào Leucocytozoon ở gà tại các địa
điểm tiến hành nghiên cứu 39 Hình 4 3:Biểu đồ tỉ lệ nhiễm Leucocytozoon theo tháng của gà tại huyện Phú
Bình 41 Hình 4.4: Biểu đồ tỷ lệ nhiễm Leucocytozoon theo tháng của gà tại trại gà
trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên 43 Hình 4.5: Biểu đồ tỷ lệ nhiễm Leucocytozoon ở gà theo tuổi 45 Hình 4 6: Biểu đồ so sánh tỷ lệ nhiễm đơn bào Leucocytozoon ở gà giữa các
phương thức chăn nuôi khác nhau 48
Trang 8MỤC LỤC
Trang
Phần 1: MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.3 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài 2
1.3.1 Ý nghĩa khoa học 2
1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn 2
Phần 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1 Tình hình chăn nuôi gà trên thế giới và trong nước 3
2.1.1 Tình hình chăn nuôi gà trên thế giới 3
2.1.2 Tình hình chăn nuôi gà tại Việt Nam 4
2.1.3 Tình hình chăn nuôi gà tại huyện Phú Bình 5
2.2 Cơ sở khoa học của đề tài 6
2.2.1 Đặc điểm của đơn bào Leucocytozoon ký sinh ở gà 6
2.2.2 Bệnh đơn bào Leucocytozoon ở gà 13
2.3 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 22
2.3.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 22
2.3.2 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài 23
Phần 3: ĐỐI TƯỢNG, VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 26
3.1 Đối tượng nghiên cứu 26
3.2 Vật liệu nghiên cứu 26
3.3 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 26
3.3.1 Địa điểm nghiên cứu 26
3.3.2 Thời gian nghiên cứu: 26
3.4 Nội dung nghiên cứu 27
3.4.1 Xác định thành phần loài Leucocytozoon ký sinh ở gà nuôi tại một số xã thuộc huyện Phú Bình - tỉnh Thái Nguyên và trại gà tại trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên 27
Trang 93.4.2 Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ bệnh Leucocytozoon ở gà tại một số xã
thuộc huyện Phú Bình - tỉnh Thái Nguyên và trại gà trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên 27
3.4.3 Nghiên cứu phác đồ điều trị bệnh Leucocytozoon cho gà tại 27
3.5 Phương pháp nghiên cứu 28 3.5.1 Bố trí lấy mẫu và phương pháp xác định tỷ lệ, cường độ nhiễm
Leucocytozoon ở gà tại một số xã thuộc huyện Phú Bình - tỉnh Thái Nguyên
và trại gà tại trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên 28 3.5.2 Bố trí lấy mẫu và phương pháp xác định tỷ lệ, cường độ nhiễm
Leucocytozoon ở gà theo tháng trong năm 30
3.5.3 Bố trí lấy mẫu và phương pháp xác định tỷ lệ, cường độ nhiễm
Leucocytozoon ở gà theo tuổi gà 30
3.5.4 Bố trí lấy mẫu và phương pháp xác định tỷ lệ, cường độ nhiễm
Leucocytozoon ở gà theo phương thức chăn nuôi 31
3.5.5 Bố trí lấy mẫu và phương pháp xác định tỷ lệ, cường độ nhiễm
Leucocytozoon theo tình trạng vệ sinh thú y 31
3.5.6 Bố trí theo dõi và phương pháp xác định tỷ lệ, cường độ nhiễm
Leucocytozoon ở gà theo loại gà 32
3.5.7 Phương pháp đánh giá hiệu lực và độ an toàn của 3 phác đồ điều trị
bệnh Leucocytozoon trên gà thí nghiệm 32
Phần 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 34
4.1 Thành phần loài đơn bào Leucocytozoon gây bệnh ở gà tại một số xã
thuộc huyện Phú Bình - tỉnh Thái Nguyên và trại gà tại trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên 34
4.2 Đặc điểm dịch tễ bệnh đơn bào Leucocytozoon ở gà tại một số xã thuộc
huyện Phú Bình - tỉnh Thái Nguyên và trại gà tại trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên 35
4.2.1 Tỷ lệ và cường độ nhiễm Lecocytozoon ở gà tại một số xã thuộc huyện
Phú Bình - tỉnh Thái Nguyên và trại gà tại trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên 35
4.2.2 Tỷ lệ và cường độ nhiễm Leucocytozoon ở gà theo tháng trong năm 39
4.2.3 Tỷ lệ và cường độ nhiễm Leucocytozoon theo tuổi 43
Trang 104.2.4 Tỷ lệ và cường độ nhiễm Leucocytozoon theo phương thức
chăn nuôi 46
4.2.5 Tỷ lệ và cường độ nhiễm Leucocytozoon ở gà theo tình trạng vệ sinh thú y 49
4.2.6 Tỷ lệ và cường độ nhiễm Leucocytozoon theo loại gà 51
4.3 Nghiên cứu phác đồ điều trị bệnh Leucocytozoon cho gà tại phòng thí nghiệm 52
4.3.1 Thử nghiệm phác đồ điều trị bệnh Leucocytozoons cho gà trong phòng thí nghiệm 53
4.3.2 Độ an toàn của ba phác đồ điều trị bệnh đơn bào Leucocytozoon
cho gà 55
Phần 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 56
5.1 Kết luận 56
5.1.1 Thành phần loài đơn bào Leucocytozoon gây bệnh ở gà tại một số xã thuộc huyện Phú Bình - tỉnh Thái Nguyên và trại gà tại trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên 56
5.1.2 Đặc điểm dịch tễ bệnh đơn bào đường máu Leucocytozoon ở gà
huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên và trại gà trường Đại học Nông Lâm
Thái Nguyên 56
5.2 Đề nghị 57
TÀI LIỆU THAM KHẢO 58
I Tài liệu tiếng Việt 58
II Tài liệu tiếng Anh 59
III Tài liệu mạng 61
Trang 11Chính vì vậy, chăn nuôi gia cầm ngày càng có những bước phát triển vượt bậc về cả số lượng và chất lượng, đóng vai trò không thể thiếu trong sự phát triển kinh tế - xã hội, cải thiện kinh tế gia đình, góp phần vào việc xóa đói giảm nghèo tại các địa phương
Huyện Phú Bình - tỉnh Thái Nguyên là một huyện miền núi với gần 80% dân số làm nông nghiệp Sự phát triển nhanh của đàn gà huyện Phú Bình - tỉnh Thái Nguyên trong những năm gần đây đã góp phần quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả kinh tế và cải thiện đời sống của nhiều hộ chăn nuôi trong huyện Tuy nhiên trong nhiều năm qua, dịch bệnh vẫn thường xuyên xảy ra Theo Phạm
Sỹ Lăng, Phan Địch Lân (2002)[10], ngành chăn nuôi gia cầm nước ta còn gặp một số trở ngại do dịch bệnh thường xuyên xảy ra, trong đó trước hết phải kể đến bệnh ký sinh trùng Đàn gia cầm thường nhiễm ký sinh trùng với tỷ lệ và cường độ cao, diễn ra quanh năm, bất kể mùa vụ và thời tiết nào Hàng năm, thiệt hại do bệnh ký sinh trùng gây ra chiếm một tỷ lệ khá cao trong tổng thu
nhập của ngành Trong đó bệnh đơn bào đường máu do Leucocytozoon
(Leucocytozoonosis) gây thiệt hại không nhỏ cho ngành chăn nuôi gà, làm cho
gà gầy yếu, chậm lớn, giảm mạnh sức sản xuất thịt, trứng và làm cho gà chết nhanh với tỷ lệ cao tới 30 - 50% (Phạm Sỹ Lăng và cs, 2006)[12]
Trong những năm gần đây, chăn nuôi gia cầm tại Thái Nguyên phát triển khá mạnh Đây là tỉnh trung du miền núi phía Bắc có điều kiện thuận lợi cho chăn nuôi gà phát triển, đặc biệt là chăn nuôi gà thả vườn Vì vậy, việc
Trang 12nghiên cứu xác định sự tồn tại và gây bệnh của đơn bào Leucocytozoon trên đàn
gà để có biện pháp phòng trị có hiệu quả là rất cần thiết Xuất phát từ nhu cầu
cấp bách của thực tế chăn nuôi gà chúng tôi thực hiện đề tài: "Nghiên cứu đặc
điểm dịch tễ bệnh đơn bào do Leucocytozoon spp gây ra ở gà nuôi tại huyện Phú Bình, trại gà tại trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên và thử nghiệm phác đồ điều trị bệnh”
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
- Xác định được các loài Leucocytozoon gây bệnh cho gà và đặc điểm dịch tễ bệnh do Leucocytozoon gây ra ở đàn gà của một số địa phương thuộc
tỉnh Thái Nguyên và trại gà trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
- Lựa chọn phác đồ điều trị bệnh Leucocytozoon có hiệu quả cho gà
1.3 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài
1.3.1 Ý nghĩa khoa học
Nghiên cứu đề tài để có những thông tin khoa học về đặc điểm dịch tễ
bệnh đơn bào Leucocytozoon ở gà tại một số xã thuộc huyện Phú Bình và trại
gà trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên, đồng thời có
cơ sở khoa học để xây dựng quy trình phòng trị bệnh đơn bào Leucocytozoon
cho gà có hiệu quả cao
1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả của đề tài là cơ sở để khuyến cáo người chăn nuôi gà áp dụng
các biện pháp phòng trị bệnh đơn bào Leucocytozoon, nhằm hạn chế tỷ lệ nhiễm Leucocytozoon cho gà, hạn chế thiệt hại do Leucocytozoon gây ra, góp
phần nâng cao năng suất chăn nuôi, thúc đẩy ngành chăn nuôi gà nói riêng và chăn nuôi gia cầm nói chung phát triển
Trang 13Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Tình hình chăn nuôi gà trên thế giới và trong nước
2.1.1 Tình hình chăn nuôi gà trên thế giới
Theo thống kê của tổ chức Nông lương thế giới - FAO năm 2011 số lượng gà là 20.708,003 triệu con, đây là một con số không nhỏ đóng góp vào nền chăn nuôi thế giới Hiện nay các quốc gia có số lượng gà lớn nhất thế giới được tổng hợp như sau :
Xếp hạng Tên quốc gia Số lượng gà (triệu con)
Trứng gia cầm: Tổng sản lượng toàn thế giới năm 2011 là 65,18 triệu tấn Tám quốc gia có sản lượng trứng đứng đầu thế giới là:
Xếp hạng Tên quốc gia Sản lượng trứng (triệu tấn/năm)
Trang 14cao), chăn nuôi quy mô trang trại (bán thâm canh ) và chăn nuôi quy mô nông
hộ (quy mô nhỏ và quảng canh)
Phương thức chăn nuôi quy mô lớn thâm canh sản xuất hàng hóa chất lượng cao chủ yếu ở các nước phát triển ở Châu Âu, Châu Mỹ, Châu Úc và một số nước Châu Á, Châu Phi, Châu Mỹ La Tinh Trong chăn nuôi công nghiệp thâm canh các công nghệ cao về cơ giới và tin học được áp dụng trong chuồng trại, cho ăn, vệ sinh, thu hoạch sản phẩm, xử lý môi trường
và quản lý đàn Các công nghệ sinh học và công nghệ sinh sản được áp dụng trong chăn nuôi như nhân giống, lai tạo nâng cao khả năng sinh sản
và điều khiển giới tính
Chăn nuôi bán thâm canh và quảng canh tại phần lớn các nước đang phát triển ở Châu Á, Châu Phi, Châu Mỹ La Tinh và các nước khu vực Trung Đông Trong chăn nuôi quảng canh tận dụng, dựa vào thiên nhiên sản phẩm chăn nuôi năng suất thấp nhưng được thị trường coi như là một phần của chăn nuôi hữu cơ
Chăn nuôi hữu cơ (chăn nuôi sạch) đang được thực hiên ở một số nước phát triển, sản phẩm chăn nuôi được người tiêu dùng ưa chuộng Xu hướng chăn nuôi gắn liền với tự nhiên đang được đặt ra cho thế kỉ 21 là không chăn nuôi gà công nghiệp trên lồng tầng và không chăn nuôi heo trên nền xi măng Tuy nhiên năng suất của chăn nuôi hữu cơ thấp làm cho giá thành sản phẩm thường cao là mâu thuẫn với chăn nuôi quy mô công nghiệp, quy mô lớn do đó đang là thách thức của nhân loại trong mở rộng và phổ cập chăn nuôi hữu cơ
Như vậy, chăn nuôi gà trên thế giới có xu hướng phát triển mạnh, đóng góp một phần không nhỏ vào nền chăn nuôi toàn cầu Ngày nay, chăn nuôi gà đang phát triển theo hướng đảm bảo kinh tế cao nhưng đảm bảo phát triển theo xu thế chất lượng cao, an toàn thực phẩm và bảo vệ môi trường
2.1.2 Tình hình chăn nuôi gà tại Việt Nam
Căn cứ vào các di chỉ khảo cổ khai quật được, nhiều nhà khoa học khẳng định rằng nghề nuôi gà ở Việt Nam đã xuất hiện cách đây khoảng
3200 - 3500 năm trước và vùng nuôi gà sớm nhất là vùng giữa núi Ba Vì và núi Tam Đảo Bên cạnh nghề chăn nuôi gà truyền thống từ năm 1974 Việt Nam đã dần hình thành ngành chăn nuôi gà công nghiệp Mặc dù chưa phát
Trang 15triển tới trình độ cao, song nó đã sản xuất đạt tới 25,6 % số lượng gà tại Việt Nam Sau ngành chăn nuôi lợn, ngành chăn nuôi gà chiếm vị trí số hai (gần 19 %) tổng giá trị sản xuất của ngành chăn nuôi Chính vì lẽ đó có thể nói chăn nuôi gà là ngành kinh tế không thể thiếu trong nền sản xuất nông nghiệp ở Việt Nam
Theo thống kê số lượng gà theo 6 vùng trên cả nước (năm 2012) cho thấy hai vùng nuôi gà lớn nhất là Đồng bằng Sông Hồng và khu vực Trung du
và miền núi phía Bắc
Bắc Trung Bộ và duyên hải miền Trung 46,1
Hiện nay ở Việt Nam tồn tại 3 phương thức chăn nuôi gà chủ yếu là: chăn nuôi quảng canh, chăn nuôi bán công nghiệp và chăn nuôi công nghiệp Trong đó chăn nuôi công nghiệp đang là xu hướng chăn nuôi phát triển nhất
và cho hiệu quả kinh tế cao
Trong chiến lược phát triển nông nghiệp nông thôn, nông dân đến năm
2020 của Việt Nam, ngành chăn nuôi được coi là ngành sản xuất chính trong
cơ cấu nông nghiệp Trong chăn nuôi và đặc biệt chăn nuôi gia cầm, trong đó chủ yếu là gà được đưa lên vị trí thứ 2 sau chăn nuôi lợn
2.1.3 Tình hình chăn nuôi gà tại huyện Phú Bình
Chăn nuôi nói chung và chăn nuôi gia cầm nói riêng là nghề sản xuất truyền thống lâu đời và chiếm vị trí quan trọng trong tổng giá trị sản xuất nông nghiệp của huyện Phú Bình Trong những năm qua, chăn nuôi gia cầm không những phát triển về số lượng mà cả chất lượng, năm sau cao hơn năm trước, đặc biệt là hình thành nhiều trang trại quy mô lớn sản xuất theo hướng hàng hóa tập trung, góp phần đáng kể vào sự phát triển kinh tế nói chung của huyện Theo số liệu thống kê của Sở Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn tỉnh Thái Nguyên
Trang 16tính đến năm 2011 tổng đàn gà của huyện Phú Bình là 1.635.340 con, trong đó đàn gà được nuôi tập chung tại hai xã là Tân Kim và Tân Khánh
2.2 Cơ sở khoa học của đề tài
Ký sinh trùng là những sinh vật sinh trưởng và phát triển trong hoặc trên cơ thể một sinh vật khác - gọi là ký chủ, chiếm đoạt chất dinh dưỡng của
ký chủ mà nó ký sinh Trong phân loại học, dựa theo cấu trúc cơ thể của ký sinh trùng mà người ta chia những ký sinh trùng động vật ra làm 3 ngành: nguyên trùng, giun sán và tiết túc Trong đó, nguyên trùng là ký sinh trùng
đơn bào (protozoa), cơ thể chỉ gồm một tế bào, thường ký sinh trong máu (Trypanosoma, Histomonas, Leucocytozoon…) hoặc trong ruột ký chủ (cầu
trùng) (Dương Công Thuận, 1995) [20]
Bệnh do đơn bào Leucocytozoon gây ra có ở nhiều nước trên thế giới Tỷ
lệ lưu hành Leucocytozoon trên đàn gà ở một số nước Châu Á khá cao: ở Trung Quốc (7,1%), Thái Lan (13 - 18%), Malaysia (15 - 31%) Leucocytozoon ký sinh
trong hồng cầu gà, đôi khi ký sinh trong bạch cầu (tùy theo loài), làm tan vỡ hồng cầu, gây bần huyết và gây chết gà với tỷ lệ cao, ảnh hưởng đến thu nhập của người chăn nuôi gà Bệnh cũng được phát hiện ở nhiều loài chim hoang dã
2.2.1 Đặc điểm của đơn bào Leucocytozoon ký sinh ở gà
2.2.1.1 Vị trí của đơn bào Leucocytozoon trong hệ thống phân loại động vật
Đơn bào nói chung là những nguyên sinh động vật không có khí quan di động, thân thể khi thì trần và có thể biến dạng được, khi thì có màng bọc và có hình dạng nhất định Đơn bào sống ký sinh ở các tế bào, các mô hay dịch thể, có thể suốt đời hoặc những giai đoạn đầu của nó Chúng tự nuôi dưỡng bằng cách thẩm thấu dinh dưỡng chiếm đoạt của ký chủ qua bề mặt cơ thể
Các loài đơn bào thuộc giống Leucocytozoon ký sinh trong máu của
nhiều loài gia cầm, thủy cầm, chim và nhiều loài chim hoang dã Gà là vật
chủ cảm thụ đơn bào Leucocytozoon mạnh nhất Bệnh được Ziemann phát
hiện lần đầu tiên vào năm 1898 Từ đó đến nay, trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu về bệnh
Theo Levine N D (1985) [28], Leucocytozoon gây bệnh cho gà có vị
trí trong hệ thống phân loại như sau:
Trang 17Ngành Protozoa
Lớp Sporozoa
Bộ Haemosporidia
Họ Leucocytozoidae Giống Leucocytozoon Loài Leucocytozoon caullergyi (Mathis et Leger, 1909)
Leucocytozoon sabrazeis (Mathis et Leger, 1910) Leucocytozoon simondi (Mathis et Leger, 1910) Leucocytozoon smithi (Laveran et Lucet, 1905) Leucocytozoon andrewsi (Atchley,1951)
Leucocytozoon schufneri (Prowazek, 1912) Leucocytozoon schoutedeni (Rodham Pons et Bequaert, 1913)
Đến nay, các nhà khoa học đã phát hiện được 107 loài Leucocytozoon spp
ký sinh và gây bệnh cho gà, gà tây, vịt, ngỗng và nhiều loài chim hoang dã
2.2.1.2 Đặc điểm hình thái các loài Leucocytozoon ở gà
Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [7], cơ thể đơn bào thường do một tế bào rất nhỏ cấu thành, tổ chức của đơn bào gồm màng tế bào, chất nguyên sinh, hạt hoặc nhân tế bào
Đơn bào Leucocytozoon ký sinh ở hồng cầu, bạch cầu, các nội tạng của
gà và các loài chim ở hai dạng: dạng tiểu thể hình dùi trống, hoặc hình thoi nhọn hai đầu với kích thước từ 15 - 20 µm; dạng bào tử hình trứng với kích thước từ 20 - 25 µm
Phạm Sỹ Lăng và cs (2005) [11] cho rằng: trong quá trình phát triển ở
ký chủ cũng như ở véc tơ trung gian truyền bệnh, các loài Leucocytozoon có
nhiều hình dạng khác nhau Kích thước của chúng thay đổi tuỳ thuộc dạng và
loài đơn bào Leucocytozoon
- Dạng bào tử (Sporozoite): hình thuẫn, hình elíp nhọn 2 dầu, kích thước 10 -
15 µm Thể này thấy ở tuyến nước bọt của dĩn (vector trung gian truyền bệnh)
- Dạng tiểu thể (Merozoite): hình tròn hoặc hình trứng, kích thước
15 - 20 µ m
- Dạng giao tử (Schizont): hình elíp, thon nhỏ 2 đầu, kích thước 20 - 45 µm
- Dạng đại giao tử (Macrogametocyte): hình đa giác hoặc gần tròn, kích
thước 350 - 400 µm
Trang 18- Dạng tiểu phối tử (Microgametocyte): hình thuẫn hoặc hình trứng,
kích thước 20 - 25 µm
Theo Phạm Sỹ Lăng và Tô Long Thành (2006) [12]; Phạm Sỹ Lăng và
cs (2008) [16], hai loài L caullergyi và L sabrazeis có hình dạng gần giống
nhau, chỉ khác về tính chất gây bệnh Chúng có dạng hình cầu, hình bầu dục, hình lưỡi liềm; kích thước 20 x 5 µm, không có sắc tố khi nhuộm Giemsa, ký sinh ở hồng cầu của gà, gà rừng
2.2.1.3 Vòng đời của Leucocytozoon ở gà
Saif Y M (2003) [36] cho rằng: giai đoạn sinh bào tử diễn ra trên vật chủ trung gian và có thể được hoàn thành sau 3 - 4 ngày Noãn nang phát triển
và có thể tìm thấy trong đường tiêu hóa của dĩn (véc tơ trung gian truyền bệnh) trong vòng 12 giờ sau khi dĩn hút máu Sau đó các noãn nang này di chuyển đến tuyến nước bọt của dĩn, có thể tìm thấy noãn nang ở tuyến nước bọt dĩn sớm nhất sau khi dĩn hút máu gà bệnh 18 ngày
Phạm Sỹ Lăng và cs (2005) [11] cho biết: các loài Leucocytozoon có
vòng đời rất phức tạp, cần vector trung gian truyền bệnh là các loài dĩn thuộc
giống Simulium spp và Culicoides spp Tùy đặc điểm thời tiết, khí hậu của
từng vùng sinh thái khác nhau mà thành phần loài dĩn cũng thay đổi
Sau khi mầm bệnh xâm nhập vào dĩn do dĩn hút máu gà bệnh, các tiểu
thể (Merozoite) phát triển qua một số giai đoạn ở vách dạ dày của dĩn thành noãn nang và cuối cùng thành thể bào tử (Sporozoite) Thể bào tử chuyển lên
tuyến nước bọt của dĩn sau thời gian phát triển khoảng 25 ngày Khi dĩn hút máu các loài vật chủ (gà, các loài gia cầm khác và chim hoang dã) sẽ truyền mầm bệnh vào máu của vật chủ
Các bào tử từ máu xâm nhập vào các tế bào nội quan như: gan, lách,
phổi, thận, tổ chức cơ để trở thành giao tử (Schizont) Các giao tử vào hồng cầu phát triển thành tiểu thể (Merozoite), giao tử thể (Gametocyte), đại giao tử (Marcrogametocyte) và tiểu giao tử (Mircrogametocyte)
Khi dĩn hút máu gia cầm bệnh, vào cơ thể dĩn, các tiểu thể lại phát triển
thành noãn nang (Oocyste), rồi bào tử (Sporozoite) trong vách dạ dày dĩn và
vòng đời lại được lặp lại
Trang 19Tác giả Lê Minh Thành cho biết, vòng đời của Leucocytozoon bao gồm
các giai đoạn như sau:
* Giai đoạn ở tế bào chủ:
Gia cầm bị dĩn - ký chủ trung gian truyền bệnh đốt và truyền mầm bệnh
(các bào tử Sporozoite) vào cơ thể Khi vào cơ thể gia cầm, mầm bệnh theo
máu tới gan, lách, thận, não… Tại đây, chúng xâm nhập vào các tế bào của ký chủ và bắt đầu sinh sản vô tính bằng hình thức liệt phân, kết quả từ 1
Sporozoit đã tạo ra một lượng lớn Merozoite Chính những Merozoite e này
mới có khả năng xâm nhập vào máu và ký sinh ở hồng cầu (quá trình này mất
4 - 6 ngày hoặc kéo dài hơn tùy loài)
Quá trình sinh sản của đơn bào ở trong tế bào gan của vật chủ không có
chu kỳ nhất định Sau khi phát triển ở gan, tất cả các Merozoite đều vào máu
* Giai đoạn ở trong hồng cầu:
Giai đoạn này tạo thể tự dưỡng và thể phân liệt trong đó có thể mang giới tính (giao tử đực và giao tử cái) Giai đoạn ở trong hồng cầu bắt đầu từ
khi các Merozoite từ gan vào máu, tiếp cận với bề mặt hồng cầu có những thụ thể Receptor tương ứng và xâm nhập vào hồng cầu qua 5 giai đoạn:
- Nhận diện và gắn bám
- Hình thành điểm tiếp giáp
- Tạo nên màng không bào liên tiếp màng hồng cầu
- Lọt vào màng không bào qua điểm tiếp nối chuyển động
- Hồng cầu hàn kín sau khi Merozoite lọt vào
Sau khi lọt vào trong hồng cầu, Merozoite hình thành không bào và
phát triển trong hồng cầu theo kiểu có chu kỳ, qua các thể:
Thể tự dưỡng (Trophozoite): gồm thể Trophozoite non (thể nhẫn), thể
Trophozoite phát triển (thể amip) và thể Trophozoite già
Thể phân liệt (Schizont) gồm: Schizont non và Schizont già
Sau khi kết thúc một chu kỳ phát triển, các Merozoite trong Schizont
phá vỡ hồng cầu vào máu, một số bị thực bào hoặc chết, một số xâm nhiễm vào hồng cầu khác và tiếp tục phát triển theo chu kỳ tương tự
Sau một số chu kỳ, có những Merozoite tiếp tục xâm nhập vào hồng cầu, nhưng không tạo thành các thể Merozoite nữa mà phát triển thành thể có
Trang 20giới tính: Gametocyte (Macrogametocyte - giao tử cái và Microgametocyte -
giao tử đực) Sau đó giao tử đực và giao tử cái kết hợp với nhau tạo thành hợp
tử (Zygote), gây phá vỡ hồng cầu và di chuyển trong máu
Khi ký chủ trung gian là dĩn hút máu gia cầm, mầm bệnh sẽ vào ký chủ trung gian và tiếp tục vòng đời
Trong ký chủ trung gian, hợp tử nở ra và phát triển thành dạng trưởng thành (thoi trùng) Chúng di chuyển lên tuyến nước bọt của dĩn và cư trú ở đó
Khi dĩn hút máu gia cầm, các thoi trùng theo tuyến nước bọt vào máu của gia cầm và bắt đầu vòng đời mới
Sơ đồ minh họa vòng đời Leucocytozoon ở gà
Trang 21Tuy nhiên, Lê Văn Năm (2011) [16] lại cho rằng: chu kỳ phát triển sinh
học của Leucocytozoon gồm 2 giai đoạn chính Giai đoạn thứ nhất là giai
đoạn phát triển trong cơ thể ký chủ trung gian truyền bệnh và giai đoạn hai là giai đoạn phát triển trong cơ thể vật chủ:
* Giai đoạn phát triển trong cơ thể ký chủ trung gian truyền bệnh (dĩn)
Đây là giai đoạn hình thành bào tử nang (Sporogony), giai đoạn này kết thúc
trong vòng 3 - 4 ngày Vì trong máu của gia cầm bệnh đã có sẵn giao tử đực
và giao tử cái, hoặc hợp tử của Leucocytozoon, nên ngay sau khi hút máu gia
cầm bệnh, các tế bào máu chứa mầm bệnh bị dịch tiêu hóa của ký chủ trung gian (dĩn) làm tan vỡ và giải phóng ra các giao tử và các hợp tử Chúng nhanh chóng bám vào thành dạ dày và chui vào các tế bào niêm mạc dạ dày, ruột của
dĩn Ở đó chúng bắt đầu phát triển thành bào tử nang (Oocyst) Toàn bộ quá
trình này chỉ diễn ra trong vòng 12 giờ kể từ thời điểm dĩn hút máu gia cầm bệnh lần cuối
Trong mỗi bào tử nang bắt đầu có quá trình sinh trưởng và phát triển
thành 4 thoi trùng (Sporozoite) Các thoi trùng này nhanh chóng lớn lên và di
hành đến cư trú trong tuyến nước bọt của ký chủ trung gian truyền bệnh Chỉ
có các thoi trùng này mới có khả năng truyền bệnh Ký chủ trung gian truyền bệnh cho gia cầm thụ cảm thông qua việc hút máu của gia cầm bệnh, sau đó hút máu của gia cầm khỏe và truyền nước bọt kèm theo thoi trùng gây bệnh vào cơ thể gia cầm khỏe Như vậy, kể từ khi dĩn hút máu gia cầm bệnh lần cuối đến lúc có khả năng truyền bệnh phải mất 18 ngày
* Giai đoạn phát triển của Leucocytozoon trong cơ thể gia cầm thụ cảm
Ngay sau khi thoi trùng theo nước bọt của ký chủ trung gian truyền bệnh xâm nhập vào cơ thể gia cầm, chúng lột xác và hình thành nên các thể phân lập
trung gian (Merozoite), các thể phân lập trung gian này bám ngay vào các tế
bào máu và theo máu đi khắp cơ thể Từ đây, chúng phát triển theo hai hướng:
Hướng thứ nhất: Chúng chui vào và ký sinh trong các tế bào máu, sinh
trưởng và phát triển theo phương thức tự nhân đôi để tạo ra các thể phân lập thế
hệ 1 (Schizont - 1) Các Schizont thế hệ 1 này lớn lên nhanh chóng và tiết ra một
chất làm tan hồng cầu, chất đó được gọi là chất kháng hồng cầu (anti - erythrocyte) Dưới tác động cơ học của nhiều thể phân lập đã sinh ra trong mỗi
Trang 22hồng cầu, và dưới tác động của chất kháng hồng cầu, một số lượng lớn hồng cầu
bị phá vỡ và giải phóng ra nhiều thể phân lập thế hệ 1, đây là nguyên nhân chính dẫn đến thiếu máu, tăng Hemobilirubin, máu trở nên loãng, nhớt và khó đông Các thể phân lập thế hệ 1 lập tức tấn công và ký sinh tiếp vào các tế bào hồng cầu mới, chúng lớn lên và lại nhân đôi để hình thành thể phân lập thế hệ 2
(Schizont - 2), cứ tiếp tục như vậy chúng hình thành thể phân lập thế hệ 3 (Schizont - 3) thì dừng lại và bắt đầu hình thành các giao tử (Gametocyte) Giao
tử đực có kích thước nhỏ gọi là Microgametocyte và giao tử cái có kích thước lớn hơn gọi là Macrogametocyte Kết thúc giai đoạn sinh sản vô tính và bắt đầu
giai đoạn sinh sản hữu tính
Giai đoạn sinh sản hữu tính xảy ra trong các tế bào hồng cầu Giao tử đực chui vào giao tử cái để thụ tinh và hình thành nên hợp tử Hợp tử được bọc bởi một màng và được gọi là bào tử, có kích thước trung bình 14,5 - 5,5 µm Sau đó, chúng phát triển thành các bào tử hình thoi, có kích thước lên đến 45
µm Chỉ có các thoi trùng này mới có khả năng lây truyền thông qua côn trùng hút máu gia cầm bệnh và truyền thoi trùng gây bệnh cho gia cầm khỏe
Hướng thứ hai: Sau khi các thoi trùng theo máu di hành khắp các nơi
trong cơ thể, một phần chúng cư trú tại các cơ quan như lách, thận, phổi, gan,
dạ dày tuyến, dạ dày cơ, ruột non, buồng trứng, ống dẫn trứng và não Tại đây, chúng lột xác và chui vào ký sinh trong các tế bào nội mô, tế bào lưới và đại thực bào của các cơ quan kể trên của gia cầm thụ cảm Trong các tế bào
đó chúng bắt đầu sinh trưởng, lớn lên và sinh sản theo phương thức tự nhân đôi, làm vỡ nát các tế bào của các cơ quan nội tạng ký chủ Sau đó chúng phát
triển và tạo nên thể phân lập cực đại gọi là Megaloschizont với kích thước lên
đến 400 µm và làm tắc nhiều mao mạch của các cơ quan ký chủ Để tiếp tục
phát triển, trong mỗi Megaloschizont hình thành nên 2 thể phân lập trung gian
Merozoite, chúng lớn lên và rời khỏi Megaloschizont, rời khỏi tế bào của cơ
quan ký chủ, chui vào các tế bào máu để ký sinh và quá trình phát triển được tiếp tục lặp lại như hướng thứ nhất - kết thúc giai đoạn sinh sản vô tính trong các tế bào nội mô ở các cơ quan nội tạng của gia cầm thụ cảm
Trang 23* Tính chuyên biệt của Leucocytozoon
Theo Johannes Kaufmann (1996) [26], mỗi loài Leucocytozoon chỉ
ký sinh trong một hoặc một số ký chủ nhất định
2.2.2 Bệnh đơn bào Leucocytozoon ở gà
2.2.2.1 Những thiệt hại kinh tế do bệnh Leucocytozoon gây ra
Bệnh đơn bào Leucocytozoon ở gà không gây thành ổ dịch lớn nguy
hiểm, ít làm cho gà chết đột ngột và chết hàng loạt (trừ trường hợp đặc biệt) Song, đơn bào này đã gây tác hại nghiêm trọng, làm cho sự sinh trưởng và phát triển của gà bị ngừng trệ, cơ thể gầy còm, thiếu máu, khả năng tăng trọng giảm, số lượng và chất lượng của thịt, trứng giảm, dẫn đến năng suất chăn nuôi giảm thấp
Olsen O W (1986) [33], cho biết: ngoài gà (tỷ lệ nhiễm cao và mắc
bệnh nặng nhất), vịt nhiễm Leucocytozoon cũng thường bị bệnh ở thể
nặng, các triệu chứng lâm sàng thể hiện rõ rệt, tỷ lệ chết cao
Theo Shane S M (2005) [37], Leucocytozoonosis thường gặp ở các
nước nhiệt đới, đặc biệt là ở những nơi mà các trang trại nằm gần ao, hồ Đàn gia cầm mắc bệnh giảm mạnh tốc độ tăng trưởng, tỷ lệ chết cao có thể lên đến 100% nếu không được chữa trị kịp thời
Phạm Sỹ Lăng và cs (2005) [11] cho rằng: gà bị bệnh đơn bào
đường máu Leucocytozoon ở thể cấp tính có thể chết đột ngột do xuất
huyết các nội quan và thiếu máu cấp Gà mái giảm đẻ hoặc ngừng đẻ, kém
ăn, giảm tăng trọng và gầy yếu nhanh Gà mắc bệnh sẽ chết sau 3 - 6 ngày với tỷ lệ tới trên 50% số gà bị bệnh
Lê Văn Năm (2011) [16] cho biết: tại một số địa phương như Bắc Giang, Thái Nguyên, Bắc Ninh, Hải Dương, Vĩnh Phúc, bệnh đơn bào
Leucocytozoon xuất hiện ở hầu hết các đàn gà nuôi thả vườn với tỷ lệ dao
động từ 40 - 70%, gây thiệt hại vô cùng to lớn cho người chăn nuôi
2.2.2.2 Dịch tễ học bệnh Leucocytozoon ở gà
Lê Đức Quyết và cs (2009) [18] cho biết: tỷ lệ nhiễm Leucocytozoon
phụ thuộc rất nhiều vào yếu tố như: tuổi gia cầm, giống, địa hình, vùng sinh thái, phương thức chăn nuôi…
Theo Lê Văn Năm (2011) [16], bệnh do Leucocytozoon gây ra có tính
chu kỳ rõ rệt, phụ thuộc vào mùa sinh sản và phát triển của côn trùng hút máu truyền bệnh
Trang 24Loài gây bệnh và động vật mắc bệnh
Trong tự nhiên, gà, gà rừng, chim trĩ và các loài chim thuộc bộ gà
(Galliformes) đều có thể bị bệnh Bệnh từ gà nhà có thể truyền lây sang gà
rừng qua ký chủ trung gian và ngược lại
Phạm Sỹ Lăng và cs (2005) [11]; (2010) [15] cho rằng: có 4 loài đơn
bào giống Leucocytozoon chủ yếu ký sinh và gây bệnh cho gà:
* Leucocytozoon caulleryi (Mathis et Leger, 1909)
Loài này ký sinh và gây bệnh cho gà nhà, gà rừng ở các nước thuộc Đông và Đông Á: Nhật Bản, Malaysia, Thái Lan, Việt Nam, các bang thuộc khu vực Bắc Mỹ
Véc tơ truyền Leucocytozoon caulleryi cho gà là các loài dĩn thuộc giống Culicoides như: C arakava, C circumscriptus, C odibilis
* Leucocytozoon sabrazeis (Mathis et Leger, 1910)
Loài này ký sinh và gây bệnh cho gà và chim hoang dã ở các nước Đông Nam Á: Philippine, Thái Lan, Malaysia, Việt Nam
Véc tơ truyền Leucocytozoon sabrazeisc cho gà: các loài dĩn thuộc giống Culicoides spp và Simulium spp
* Leucocytozoon simondi (Mathis et Leger, 1910)
Leucocytozoon simondi ký sinh và gây bệnh cho vịt nhà và vịt trời,
ngỗng nhà và ngỗng trời, các loài thuỷ cầm nuôi và hoang dã ở Mỹ, Canada, các nước vùng Balkan và Việt Nam
Véc tơ truyền bệnh là: các loài dĩn Simulium spp
* Leucocytozoon smithi (Laveran et Lucet, 1905)
Loài này ký sinh ở gà tây tại các bang thuộc vùng Đông Mỹ (Bắc Dakota, Nebraska), CHLB Đức, các nước vùng Balkan
Véc tơ truyền Leucocytozoon smithi cho gà là các loài dĩn Simulium spp
Lương Văn Huấn và Lê Hữu Khương (1997) [3] cho biết loài
Leucocytozoon caullergyi có đặc điểm như sau: cơ thể đơn bào hơi tròn, kích
thước 15,0 - 15,5 µm Tế bào vật chủ cũng tròn, kích thước 20 µm Ở trong cơ
thể dĩn - véc tơ truyền Leucocytozoon, Zygote có dạng tròn đường kính 14µm,
sau đó kéo dài, kích thước 21µm, chúng xuyên qua vách ruột tạo thành
Oocyst hình gần tròn kích thước 4 - 14 x 5 - 14 µm Oocyst phát triển thành
Trang 25thoi trùng (Sporozoite) Các thoi trùng đến tuyến nước bọt của dĩn có kích
thước 7 - 11 x 1 - 2 µm
Tuổi mắc bệnh: Gà ở các lứa tuổi đều bị bệnh Tuổi gà càng cao tỷ lệ
và cường độ nhiễm bệnh càng tăng
Mùa vụ: Gà mắc bệnh ở tất cả các mùa trong năm, nhưng nhiễm nhiều
và nặng ở mùa Hè và mùa Xuân
Điều kiện vệ sinh thú y: điều kiện vệ sinh thú y đối với chuồng trại và
khu vực xung quanh chuồng trại, dụng cụ và môi trường chăn nuôi là một
trong những yếu tố có ảnh hưởng lớn tới khả năng nhiễm bệnh Leucocytozoon
của gà Điều này có liên quan mật thiết với sự tồn tại và phát triển của các loài dĩn hút máu - Véc tơ truyền bệnh
Yếu tố stress: các yếu tố strees như chuồng trại chật chội, khí hậu ẩm,
thấp, thức ăn kém dinh dưỡng đóng vai trò thúc đẩy mức độ và tốc độ lây
lan bệnh Leucocytozoon ở gà
2.2.2.3 Cơ chế sinh bệnh của bệnh Leucocytozoon
Bệnh lây truyền từ gà bệnh sang gà khoẻ qua đường máu nhờ vật chủ
trung gian là các loài dĩn thuộc họ Culicoides spp và Simulium spp Dĩn hút
máu của gà bệnh có đơn bào ký sinh trong máu Vào cơ thể dĩn, đơn bào phát triển qua 3 giai đoạn, cuối cùng thành bào tử nằm ở tuyến nước bọt của dĩn Khi dĩn mang mầm bệnh hút máu gà khoẻ, bào tử sẽ được truyền cho gà khoẻ
và gây bệnh cho gà
Các bào tử xâm nhập vào các tế bào nội quan như: gan, lách, phổi,
thận, tổ chức cơ để trở thành bào tử (Schizont); các bào tử vào hồng cầu phát triển thành tiểu thể (Merozoite), giao tử thể (Gametocyte), đại giao tử (Marcrogametocyte) và tiểu giao tử (Mircrogametocyte) Chúng phát triển,
phá huỷ tế bào hồng cầu và gây hoại tử các cơ quan tổ chức, đặc biệt là lách
và gan Đồng thời chúng tiết ra chất antierythrocyte làm tan hồng cầu
2.2.2.4 Triệu chứng và bệnh tích bệnh Leucocytozoon
* Triệu chứng bệnh Leucocytozoon
Orlov F M (1975) [17] cho biết: gà tây thường mắc bệnh trước 12 tuần tuổi Gà bệnh bỏ ăn, suy yếu toàn thân, ít vận động, rối loạn vận động Gà tây bắt đầu chết từ 2 - 3 ngày sau khi xuất hiện những triệu chứng đầu tiên
Trang 26Theo tài liệu của Viện Thú y Quốc gia (2001) [21]; (2002) [22], triệu
chứng chủ yếu của gà mắc bệnh do đơn bào Leucocytozoon gây ra là:
- Ho ra máu và chết đột ngột
- Thiếu máu, đặc biệt mào và tích do thiếu máu nên có màu tím tái
- Nhịp thở nhanh
- Phân có mầu xanh lá cây
- Giảm sản lượng trứng và trứng có vỏ mỏng (với gà mái đẻ)
- Xuất huyết da chân
Nguyễn Thị Kim Lan và cs (2009) [9] cho biết: Bệnh thường xảy ra thành dịch tại một số khu vực vùng núi và trung du thuộc các nước Đông Nam Á, nhất là vào mùa hè và mùa xuân, khi mà các loài dĩn - ký chủ trung gian phát triển và hoạt động mạnh
Thời gian ủ bệnh từ 4 - 7 ngày
Gà bệnh thể hiện các triệu chứng đặc trưng sau:
Thể cấp tính: gà ở lứa tuổi từ 1 - 3 tháng chết đột ngột do xuất huyết các nội tạng, hồng cầu tan vỡ hàng loạt, gây bần huyết cấp tính; ỉa chảy nặng, phân
có màu xanh lá cây, thường có lẫn máu Gà mái đang đẻ bị bệnh sẽ giảm đẻ hoặc ngừng đẻ do đơn bào tác động vào cơ quan sinh sản Gà trưởng thành mắc bệnh sẽ giảm tăng trọng, gầy yếu nhanh, nhưng chết ít hơn gà con Gà ở lứa tuổi từ 1 - 3 tháng bị bệnh sẽ chết sau 3 - 6 ngày với tỷ lệ cao
Lê Văn Năm (2011) [16] cho biết, triệu chứng của bệnh Leucocytozoon
gồm các thể như sau:
- Thể quá cấp:
Trong suốt thời gian ủ bệnh, gà bị sốt cao nhưng có thể vẫn ăn uống bình thường nên người chăn nuôi hầu như không để ý, hoặc không quan sát thấy những biểu hiện bất thường của đàn gà Bệnh bỗng dưng bùng phát lẻ tẻ khi gặp các yếu tố strees bất lợi, với các triệu chứng điển hình như: đột nhiên
ho hoặc hắt hơi, mào, tích tái nhợt, ộc máu ra miệng, mũi, đôi khi ở cả hậu môn rồi chết Một số khác lại có triệu chứng lừ đừ hoặc có triệu chứng thần kinh, nhảy sốc lên rồi rơi xuống nền dãy dụa và chết Cả hai trường hợp trên đều do dập vỡ gan, hoặc xuất huyết não bởi sự phát triển quá mạnh của các
Leucocytozoon trong các cơ quan đó
Trang 27Số gà chết như mô tả trên không xảy ra ồ ạt, nhưng tăng dần qua mỗi ngày Nếu không được chẩn đoán đúng và điều trị kịp thời, tỷ lệ chết sẽ rất cao
- Thể cấp tính:
Đây là thể bệnh phổ biến nhất và gắn liền với thời tiết ẩm ướt do mưa phùn kéo dài Khí hậu ẩm thấp tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển, sinh sôi, nảy nở của véc tơ truyền bệnh
Trong những đàn gà mắc bệnh ở thể này, lúc đầu chỉ thấy một số ít gà
có biểu hiện sốt cao, mào thâm tái, sau vài ngày trở nên trắng bệch Khi cắt tiết gà thấy máu rất loãng, khó đông
Gà bị bệnh giảm ăn, ít vận động, đi lại không vững Gà bị tiêu chảy, phân có màu xanh đậm
Gà bệnh gầy sút nhanh, yếu dần và rất khó thở, thở khò khè, phải vươn
cổ ra để thở Nếu độ ẩm không khí cao, chuồng nuôi ẩm thấp thì gà bệnh càng khó thở và rất dễ chết Tuy nhiên, gà chết không ồ ạt, nhưng tỷ lệ chết tăng dần qua mỗi ngày Lúc đầu gà chỉ chết vào ban đêm, về sau chết bất kỳ lúc nào, tỷ lệ chết có thể lên đến 70% Bệnh nặng hơn nếu gà bị bệnh ghép với CRD, Newcastle
Ở gà mái: triệu chứng thường thấy là giảm sản lượng trứng, đồng thời khối lượng trứng của gà bệnh cũng giảm rõ rệt, vỏ trứng mềm, dễ vỡ, hoặc ngược lại vỏ rất dầy Khi cho ấp trứng của những đàn gà đẻ bị mắc bệnh
Leucocytozoon thì tỷ lệ ấp nở giảm, gà mới nở bị chết yểu trong 3 - 5 ngày
đầu chiếm tỷ lệ rất cao
- Thể mạn tính:
Đây là thể bệnh thường gặp ở gà bị nhiễm số lượng Leucocytozoon ít
Ngoài ra, các loài chim hoang dã, gia cầm sống sót sau khi mắc bệnh hoặc những gia cầm, thủy cầm được chăn nuôi quảng canh cũng có thể bị bệnh ở thể mạn tính
Trang 28Bệnh có những biểu hiện không rõ ràng, gà vẫn ăn uống bình thường, đôi khi giảm ăn tức thời Các triệu chứng như ủ rũ, động kinh hoặc đi lại không vững đều ngắt quãng, không xuất hiện liên tục Gà bệnh thiếu máu, lờ
đờ, tỷ lệ chết không đáng kể nhưng chúng mang mầm bệnh trong nhiều năm
và trở thành nguồn bệnh tiềm tàng nguy hiểm
* Bệnh tích bệnh Leucocytozoon
Mổ khám gà bệnh thấy: xuất huyết đỏ sẫm ở tất cả các phủ tạng (tim, lách, phổi, thận) và tổ chức cơ Đôi khi cũng có các điểm hoại tử trắng trên mặt gan giống như bệnh tụ huyết trùng gia cầm Ngoài ra, có thể thấy bệnh tích ở đường tiêu hóa như: niêm mạc đường tiêu hoá bị tổn thương và xuất huyết
Olsen O W (1986) [33] cho biết, gà bị nhiễm đơn bào Leucocytozoon
ở cường độ nặng, có các bệnh tích điển hình thì tỷ lệ tử vong cao Các cơ quan nội tạng ký chủ có số lượng đơn bào ký sinh khác nhau Các đơn bào ký sinh trong các cơ quan được bao bọc bởi một lớp do tế bào lympho và bạch
cầu đơn nhân lớn tạo nên thể Megaloschizont
Theo Lâm Thị Thu Hương (2005) [5], khi mổ khám và quan sát bằng mắt thường, thấy trên cơ thể gà có những nốt mầu trắng đục hay vàng, đỏ hoặc chuyển sang đen, có kích thước từ 0,2 - 0,5 mm, đôi khi lên đến 1mm Những nốt này là bệnh tích do một giai đoạn phát triển của đơn bào
Leucocytozoon caulleryi gây ra Đơn bào Leucocytozoon được phát hiện ở
nhiều vị trí trên cơ thể gà Một gà có thể nhiễm Leucocytozoon cùng lúc trên 6
cơ quan phủ tạng Sự nhiễm Leucocytozoon thường gặp nhiều nhất ở các cơ
quan như phổi, gan, thận, mô cơ
Lê Văn Năm (2011) [16] cho biết: bệnh tích đại thể của bệnh do đơn
bào Leucocytozoon gây ra ở gà rất điển hình, được quan sát thấy trong nhiều
cơ quan nội tạng như: gan, lách, thận, tim, phổi, ruột non, não, buồng trứng và ống dẫn trứng Những biến đổi đại thể ở các cơ quan nội tạng như sau:
Gan: sưng to, mềm nhũn và dễ vỡ, trên bề mặt gan thấy nhiều điểm
trắng Đây là kết quả của các thể phân lập của Leucocytozoon ở gan tạo nên,
làm giòn, xốp và tắc nghẽn các mao mạch, dẫn đến xuất huyết tràn lan, thậm chí vỡ mao mạch, dẫn đến vỡ gan, chảy máu vào xoang bụng
Trang 29Lách: sưng to, giòn, dễ vỡ, trên bề mặt lách có nhiều điểm xuất huyết
hoặc hoại tử
Thận: sưng to, xuất huyết
Buồng trứng và ống dẫn trứng: buồng trứng bị viêm, thoái hóa; ống
dẫn trứng sưng, dầy lên và có nhiều điểm xuất huyết
Tim: tim to, cơ tim dầy lên nhưng trương lực cơ bị giảm, cơ trở nên
mềm nhão
Phổi: sung huyết nặng
Ruột non, dạ dày tuyến, dạ dày cơ: viêm tăng sinh, dầy lên, đôi khi thấy
các điểm hoại tử hoặc nốt loét
Não: các đại hợp bào phát triển ở não gây tắc nghẽn các mao mạch, dẫn
đến bị phù nề, sung huyết và xuất huyết não
2.2.2.5 Chẩn đoán bệnh Leucocytozoon
* Với gà còn sống
Nguyễn Xuân Bình và cs (2002) [1] cho biết: hiện nay, có nhiều bệnh mới ở gia cầm có triệu chứng lâm sàng và bệnh tích giống nhau, nhưng nguyên nhân gây bệnh lại khác nhau, làm cho việc chẩn đoán lâm sàng và điều trị bệnh dễ bị sai lầm, gây nên những tổn thất đáng kể cho chăn nuôi
Do vậy, để chẩn đoán một cách chính xác bệnh có phải do ký sinh
trùng đường máu Leucocytozoon gây ra hay không, người ta thường sử dụng
kết hợp các phương pháp chẩn đoán để mang lại hiệu quả cao hơn
+ Chẩn đoán lâm sàng: Gà lứa tuổi 1 - 3 tháng chết đột ngột, các phủ tạng đều bị xuất huyết; ỉa chảy, phân xanh có lẫn máu làm cho gà chết với tỷ lệ cao
+ Chẩn đoán xét nghiệm: Lấy mẫu máu và phủ tạng, dàn tiêu bản, nhuộm Giemsa và soi kính để tìm đơn bào gây bệnh
Phạm Sỹ Lăng và cs (2009) [14] cho rằng: có thể sử dụng phương pháp làm tiêu bản máu, dàn mỏng, nhuộm Giemsa, kiểm tra dưới kính hiển vi tìm
ký sinh trùng, và sử dụng phương pháp ngưng kết trên gel thạch để phát hiện
kháng thể kháng Leucocytozoon spp
Lê Đức Quyết và cs (2009) [18] cho biết: gần đây, các phương pháp huyết thanh học cũng đã được áp dụng để chẩn đoán bệnh như phương pháp Latex - agglutination, phương pháp khuếch tán trên thạch
Trang 30+ Chẩn đoán phân biệt:
Nguyễn Thị Kim Lan và cs (2009) [9] cho biết: cần chẩn đoán phân biệt với bệnh tụ huyết trùng gia cầm Triệu chứng và bệnh tích của bệnh đơn bào đường máu ở gia cầm cũng giống như bệnh tụ huyết trùng gia cầm Nhưng bệnh đơn bào đường máu chỉ làm chết gà ở lứa tuổi 1 - 3 tháng Tuy nhiên, bệnh tụ huyết trùng làm gà chết ở tất cả các lứa tuổi Bệnh tụ huyết trùng gia cầm điều trị bằng Streptomycin có hiệu quả nhưng bệnh do đơn bào đường máu điều trị bằng Streptomycin lại không có hiệu quả
Theo Lê Văn Năm (2011) [16], cần chẩn đoán phân biệt bệnh do đơn
bào Leucocytozoon gây ra với các bệnh sau:
Bệnh Marek: không có các biến đổi ở gan, lách, thận phổi ở gà dưới 45 ngày tuổi và trên 1 năm tuổi Bệnh Marek không có ở thủy cầm và ít gặp ở hoang cầm
Bệnh bạch huyết (Leucosis): Bệnh ít gặp ở gia cầm dưới 6 tháng tuổi Bệnh có rất nhiều thể khác nhau như Leucosis dạng võng mô, Leucosis hồng cầu, Leucosis tủy xương, Leucosis limfo Mỗi thể bệnh khác nhau chúng lại
có những đặc điểm riêng khác biệt
Bệnh sốt rét gà: Các biểu hiện về dịch tễ và lâm sàng của bệnh sốt rét
gà rất giống với bệnh do Leucocytozoon gây ra Tuy nhiên, khi mổ khám thì bệnh sốt rét gà không có những biểu hiện giống như bệnh Leucocytozoon
Gan của gà bị sốt rét có màu xanh đen hoặc đen, kích thước nhỏ hơn bình thường, túi mật căng chứa đầy mật
* Với gia cầm chết:
Phương pháp chẩn đoán sau khi gia cầm chết là phương pháp chính xác nhất Việc chẩn đoán được tiến hành qua phương pháp mổ khám, kiểm tra bệnh tích kết hợp với việc lấy các cơ quan nội tạng như gan, lách, phổi, thận
để tìm đơn bào Leucocytozoon ký sinh
2.2.2.6 Phòng trị bệnh Leucocytozoon cho gà
* Phòng bệnh
- Phát hiện sớm gà mắc bệnh và gà mang trùng để điều trị kịp thời, tránh lây lan bệnh trong đàn gà
Trang 31- Gà chết không được mổ thịt mà phải xử lý như gà ốm chết do các bệnh truyền nhiễm, sử dụng thuốc sát trùng khi xử lý
- Định kỳ phun thuốc diệt côn trùng để diệt dĩn hút máu và truyền bệnh cho gà Có thể dùng Hantox-spray hoặc Iodin 1%, 2 - 3 tuần/ lần, đặc biệt là vào mùa hè và mùa thu khi dĩn hoạt động mạnh để không làm ảnh hưởng đến sức khỏe của đàn gà
- Không nên xây chuồng ở những vùng gần đồng ruộng, vùng có ao hồ hay vùng có diện tích mặt nước lớn, vì đây là môi trường thích hợp cho ký chủ trung gian phát triển
Bộ Nông nghiệp và Công nghiệp thực phẩm (1993), [2] đưa ra những tiêu chuẩn đối với việc chuẩn bị chuồng trại nuôi gia cầm như sau:
- Phải chuẩn bị đầy đủ chuồng nuôi, rèm che, kho đựng thức ăn, bể chứa nước, dụng cụ chăn nuôi, thuốc thú y, các phương tiện sưởi ấm, làm mát đảm bảo cho số lượng gà định nuôi
- Chuồng nuôi, hệ thống cống rãnh, khu vực kho chứa thức ăn, dụng cụ chăn nuôi phải được vệ sinh đảm bảo, sát trùng triệt để
- Cây xanh, cỏ dại cách chuồng 10 - 15 mét phải được phát quang Các động vật cư trú truyền bệnh cho đàn gà như chuột, cáo, chồn, côn trùng, chim
tự nhiên phải được tiêu diệt
- Có phòng mổ khám, chẩn đoán bệnh và thiêu xác hoặc hố tự hoại cách xa khu vực chăn nuôi và cuối hướng gió
* Trị bệnh
Có thể sử dụng một trong các loại Sulfonamide sau để điều trị gà bệnh:
- Pyrimethamin: dùng liều 0,5 - 1 ppm/ kg thức ăn, cho gà ăn 2 tuần liên tục
- Sulfadimethoxin: dùng liều 50 - 75 mg/ kg thức ăn, cho gà ăn liên tục
Trang 32Orlov F M (1975) [17] cho biết: có ý kiến cho rằng, aterbin có tác dụng đến giao tử bào thành thục
Tuy nhiên, Saif Y M (2003) [36] cho rằng: Hiệu quả điều trị bệnh
Leucocytozoonsis là hạn chế Đối với L simondi, điều trị không có hiệu quả
Pyrimethamine (1ppm) và Sulfadimethoxine (10ppm) sử dụng đồng thời để
điều trị bệnh cũng không có hiệu quả với L caullergyi
Theo Lê Văn Năm (2011) [16], các loại thuốc có chứa các nguyên liệu như: Sulfamonomethoxin, Sulfadimethoxin, Clopidol đều có tác dụng phòng
trị tốt bệnh do Leucocytozoon gây ra Tác giả cho biết thêm, hiện nay bệnh ký
sinh trùng đường máu thường bị bội nhiễm và ghép với nhiều bệnh khác Do
đó chúng ta cần phải phối hợp các phác đồ khi điều trị thì mới có hiệu quả điều trị cao
2.3 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước
2.3.1 Tình hình nghiên cứu trong nước
Theo Hoàng Thạch (2004) [19], các cơ quan nội tạng nếu nhiễm
Leucocytozoon Ở cường độ nhẹ thì chưa thấy biến đổi gì, nhưng nếu nhiễm ở
cường độ vừa và nặng (3 - 6) ký sinh trùng trên một vi trường) thì sẽ xuất hiện
sự thoái hóa, biến màu, thậm chí hoại tử từng đám nhỏ, nếu kéo dài thì tăng sinh, làm giảm chức năng hoạt động hoặc bị phá hoại rõ nhất là gan và lách
Lâm Thị Thu Hương và cs (2005) [5] cho biết: tần suất xuất hiện các
nang Leucocytozoon trên một số cơ quan phủ tạng của gà tương ứng: cơ là
96,22%, phổi là 92,45%, thận là 86,80%, gan là 81,13%
Lê Đức Quyết và cs (2009) [18] cho biết: tỷ lệ nhiễm Leucocytozoon
phụ thuộc vào nhiều yếu như: tuổi gia cầm, giống, địa hình, vùng sinh thái,
phương thức chăn nuôi… Kết quả nghiên cứu của tác giả về Leucocytozoon ở
gà tại một số tỉnh Nam Trung Bộ như sau:
Tỷ lệ nhiễm Leucocytozoon chung là 13,29%, cụ thể ở Phú Yên tỷ lệ
nhiễm là 20%, Bình Định 9,54%, Khánh Hoà 12,04%
Tỷ lệ nhiễm Leucocytozoon cao ở vùng núi (27,34%) và thấp ở vùng
đồng bằng (12,46%)
Tỷ lệ lưu hành Leucocytozoon ở gà địa phương là 12,46%, cao hơn
nhiều so với gà ngoại (7,61%)
Trang 33Tỷ lệ nhiễm Leucocytozoon cao nhất là ở gà giai đoạn > 6 tuần tuổi
(15,6%), kế đến là ở độ tuổi 4 - 6 tuần (13,5%) và thấp nhất là ở độ tuổi dưới
4 tuần (7,6%)
Bằng phương pháp nhuộm Giemsa và định loài đơn bào Leucocytozoon
ký sinh trên đàn gà ở một số tỉnh Nam Trung Bộ (căn cứ vào hình thái, vị trí, mầu sắc, kích thước của giao tử gametocyte ký sinh trong máu gà), tác giả
cũng xác định có 2 loài ký sinh trên đàn gà là L caullergyi và L sabrazesi
Khi khảo sát tình hình nhiễm ký sinh trùng đường máu trên gà thịt tại hai tỉnh Vĩnh Long và Sóc Trăng, Nguyễn Hữu Hưng (2011) [4] cho biết: đàn
gà thịt nhiễm ký sinh trùng đường máu với tỷ lệ khá cao (30,47%) Trong đó
tỷ lệ nhiễm ở Vĩnh Long là 32,38% và ở Sóc Trăng là 28,22% Tác giả cũng cho biết gà Tam Hoàng có tỷ lệ nhiễm cao hơn hai giống Newlohman và Brown AAA Gà nuôi theo kiểu chuồng hở có tỷ nhiễm cao hơn so với kiểu chuồng kín
2.3.2 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài
Trong 91 con chim sẻ được xét nghiệm ở thung lũng Jordan (Israel),
người ta xác định tỷ lệ nhiễm Leucocytozoon là 79% [36]
Ở một số gà con 9 - 20 ngày tuổi tại Stewart Island, đã phát hiện
100% số mẫu xét nghiệm dương tính với đơn bào Leucocytozoon [37]
Ở Liên Xô, Nikitin N K và Artemenko M N (1927) trong khi kiểm
tra máu chim trời ở Ucrain đã tìm thấy Leucocytozoon ở 7% số chim (trích
Orlov F M.1975, [17])
Huchzermeyer F W và Sutherland B (1978) [25] lần đầu tiên đã
phát hiện được Leucocytozoon smithi ở phía bắc Châu Phi và tác giả cho rằng Simulium nigritarse là ký chủ trung gian của ký sinh trùng này
Morii T và cs (1984) [40] đã thử nghiệm lây nhiễm những thoi trùng
Leucocytozoon được chiết từ tuyến nước bọt của dĩn, kết quả nhận thấy: các
thoi trùng được phân lập vào ngày thứ 2 sau khi dĩn hút máu gia cầm bệnh thì không lây nhiễm được cho gà Các thoi trùng được phân lập vào ngày thứ 3 thì có khả năng gây nhiễm cho gà
Morii T và cs (1986) [30] đã phân lập các thoi trùng từ tuyến nước
bọt của Culicoides arakawa và gây bệnh cho gà Kết quả thấy thoi trùng
Trang 34xuất hiện trong ngoại vi máu gia cầm vào ngày thứ 15 và biến mất vào ngày thứ 26 sau khi gây nhiễm Kháng nguyên hòa tan được tìm thấy trong huyết thanh của gà gây nhiễm trong khoảng 10 - 17 ngày và kháng thể tương đồng xuất hiện ở ngày thứ 17 sau gây nhiễm
Nakamura K và cs (2001) [32] nghiên cứu ảnh hưởng của
Leucocytozoon trên đàn gà đẻ thấy: Leucocytozoon ảnh hưởng nghiêm
trọng đến khả năng sản xuất trứng của gà, thậm chí có thể ngừng đẻ Tìm thấy một số lượng lớn thể phân liệt thế hệ 2 trong buồng trứng và ống dẫn trứng Gây phù và làm giảm áp lực của các mô lân cận với các mô có đơn bào ký sinh
Steele E J và cs (2001) [37] cho biết: sự phát triển của
Leucocytozoon smithi có những nét tương đồng với sự phát triển của các
loài Plasmodium và Haemoproteus trong ký chủ trung gian
Bằng phương pháp sử dụng chuỗi polimerasa (PCR) giao thức là sự kết
hợp của 3 chuỗi PCR riêng biệt của các loài Haemoproteus, Plasmodium và
Leucocytozoon, Hellgren O và cs (2004) [23] đã tìm thấy 22 loài ký sinh trùng
khác nhau gồm có 4 loài Haemoproteus, 8 loài Plasmodium và 10 loài
Leucocytozoon trong 6 loài chim tước được nghiên cứu
Shane S M (2005) [36] cho biết: việc kết hợp Clopidol anticoccidial trong thức ăn chăn nuôi với các hàm lượng khác nhau từ 125 - 150 ppm đã
ngăn chặn được Leucocytozoon ở gà tây tại Hoa Kỳ
Omori S và cs (2008) [33] đã phân tích bộ gen của Leucocytozoon
caulleryi Kết quả đã mô tả được bộ gen nhiễm sắc thể của Leucocytozoon caulleryi với chiều dài 5,959 bp
Có thể sử dụng kết hợp pyrimethamine (1 ppm) với sulfadimethoxin
(10 ppm) trong thức ăn chăn nuôi để phòng bệnh do Leucocytozoon
caulleryi và sử dụng Clopidol (0,0125 - 0,025%) trong thức ăn để phòng
bệnh do Leucocytozoon smithi gây ra [39]
Hoạt động chăn nuôi vịt tại các bán đảo phía Bắc của Michigan -
Seney đã bị ngừng trệ do Leucocytozoon đã làm chết một số lượng lớn vịt,
gây thiệt hại nghiêm trọng về kinh tế cho người chăn nuôi [40]
Mullen G R., Durden L (2009) [31] cho biết: gà đồng cỏ Attwater
Trang 35đang bị đe dọa tấn công bởi một loài ký sinh trùng đường máu thuộc giống
Leucocytozoon, gây nhiều thiệt hại nghiêm trọng
Omori S và cs (2010) [34] đã sử dụng phương pháp phân tích đếm tế
bào dòng chảy, tách giao bào Leucocytozoon để xác định sự có mặt của đơn
bào trong máu Phương pháp này có thế xác định được những mẫu máu bị nhiễm ký sinh trùng đường máu mà các phương pháp thông thường khác không tìm thấy được
Hill A G và cs (2010) [24] sử dụng phương pháp PCR để kiểm tra
107 mẫu máu chim cánh cụt mắt vàng từ 4 khu vực riêng biệt trên khu vực phía nam đảo Oamaru Kết quả kiểm tra thấy 83% số mẫu kiểm tra là
dương tính với Leucocytozoon
Trang 36Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, VẬT LIỆU, NỘI DUNG
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng nghiên cứu
- Gà nuôi tại 4 xã thuộc huyện Phú Bình - tỉnh Thái Nguyên và trại gà trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
- Bệnh đơn bào Leucocytozoon ở gà
3.2 Vật liệu nghiên cứu
* Vật liệu nghiên cứu
- Gà khỏe và gà bị bệnh Leucocytozoonosis để thử nghiệm hiệu quả điều trị của một số phác đồ điều trị bệnh Leucocytozoon cho gà
- Mẫu máu gà ( để xác dịnh tình nhiễm Leucocytozoon )
* Dụng cụ và hoá chất
- Kính hiển vi quang học, kính lúp
- Bộ kim lấy máu
- Thuốc điều trị bệnh Leucocytozoon ở gà
- Thuốc nhuộm giemsa
- Dầu Bạch dương, cồn 960, cồn methanol
- Hoá chất và các dụng cụ thí nghiệm khác
3.3 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
3.3.1 Địa điểm nghiên cứu
- Đề tài được thực hiện ở các nông hộ, các trại chăn nuôi gà gia đình và tập thể với các quy mô khác nhau tại một số xã thuộc huyện Phú Bình - tỉnh Thái Nguyên và trại gà trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
- Địa điểm xét nghiệm mẫu:
Phòng thí nghiệm Khoa Chăn nuôi Thú y - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
3.3.2 Thời gian nghiên cứu:
Từ tháng 6/2013 đến tháng 10/2013
Trang 373.4 Nội dung nghiên cứu
3.4.1 Xác định thành phần loài Leucocytozoon ký sinh ở gà nuôi tại một số
xã thuộc huyện Phú Bình - tỉnh Thái Nguyên và trại gà tại trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
Các tiêu bản máu sau khi xét nghiệm thấy có đơn bào đường máu ký sinh, chúng tôi tiến hành phân loại theo căn cứ vào hình thái, kích thước, của các loại đơn bào đã phát hiện được theo khóa định loại của Levine N
D (1985)
3.4.2 Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ bệnh Leucocytozoon ở gà tại một số xã thuộc huyện Phú Bình - tỉnh Thái Nguyên và trại gà trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
- Tỷ lệ và cường độ nhiễm Leucocytozoon ở gà tại các xã và trại gà tại
trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
- Tỷ lệ và cường độ nhiễm Leucocytozoon ở gà theo địa hình
- Tỷ lệ và cường độ nhiễm Leucocytozoon ở gà theo tháng trong năm
- Tỷ lệ và cường độ nhiễm Leucocytozoon theo tuổi gà
- Tỷ lệ và cường độ nhiễm Leucocytozoon theo phương thức chăn nuôi
- Tỷ lệ và cường độ nhiễm Leucocytozoon theo điều kiện vệ sinh thú y
- Tỷ lệ và cường độ nhiễm Leucocytozoon theo loại gà
3.4.3 Nghiên cứu phác đồ điều trị bệnh Leucocytozoon cho gà tại
3.4.3.1 Thử nghiệm một số phác đồ điều trị bệnh Leucocytozoon cho gà
Phác đồ sử dụng
và liều lượng
- Daimentol Soda (1 - 2 g/ 1lít nước)
- Biomunliquid (0,5 - 1ml/1lít nước)
- Sutrim - NT (1 g/1lít nước)
- Biomunliquid (0,5 - 1ml/1lít nước)
- T - coryzin (1,5 - 2g/ lít nước)
- Biomunliquid (0,5 - 1ml/1lít nước) Nghiên cứu độ an toàn của 3 phác đồ thử nghiệm điều trị bệnh
Leucocytozoon cho gà