LỜI CẢM ƠN Được sự đồng ý của Ban giám hiệu nhà trường, Ban chủ nhiệm khoa Chăn nuôi Thú y, giảng viên hướng dẫn và sự nhất trí của Ban lãnh đạo Trạm thú y huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang,
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
- -
HOÀNG VĂN LÂM
Tên đề tài:
"NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ BỆNH ĐƠN BÀO DO
LEUCOCYTOZOON GÂY RA Ở GÀ NUÔI TẠI HUYỆN YÊN THẾ
TỈNH BẮC GIANG VÀ THỬ NGHIỆM PHÁC ĐỒ ĐIỀU TRỊ"
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Thú y Khoa : Chăn nuôi Thú y Khóa học : 2009 - 2014
Giảng viên hướng dẫn: ThS Dương Thị Hồng Duyên Khoa Chăn nuôi Thú y - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
Thái Nguyên - 2013
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Được sự đồng ý của Ban giám hiệu nhà trường, Ban chủ nhiệm khoa Chăn nuôi Thú y, giảng viên hướng dẫn và sự nhất trí của Ban lãnh đạo Trạm
thú y huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang, em thực hiện đề tài: "Nghiên cứu đặc
điểm dịch tễ bệnh đơn bào do Leucocytozoon gây ra ở gà nuôi tại huyện Yên Thế - tỉnh Bắc Giang và thử nghiệm phác đồ điều trị"
Trong quá trình thực hiện đề tài em đã nhận được sự quan tâm của Nhà trường, Khoa Chăn nuôi Thú y, cán bộ Trạm thú y huyện Yên Thế - tỉnh Bắc Giang, các hộ gia đình tại các xã, gia đình và bạn bè Nhân dịp này em xin gửi lời trân trọng cảm ơn đến:
Cô giáo ThS.NCS Dương Thị Hồng Duyên, GS TS Nguyễn Thị Kim Lan đã tận tình giúp đỡ và trực tiếp hướng dẫn em trong suốt quá trình thực
tập tốt nghiệp
Ban giám hiệu Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, Ban chủ nhiệm khoa Chăn nuôi Thú y cùng toàn thể các thầy cô giáo trong khoa đã tận tình dìu dắt, dạy dỗ em trong suốt thời gian học tập tại trường cũng như thời gian thực tập tốt nghiệp
Ban lãnh đạo Trạm thú y huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang cùng các cán
bộ kỹ thuật của Trạm đã tiếp nhận và tạo điều kiện giúp đỡ em em trong suốt quá trình thực hiện đề tài
Đồng thời, em xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè luôn động viên, giúp đỡ, tạo mọi thuận lợi để em hoàn thành tốt quá trình thực tập tốt nghiệp
Em xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày 2 tháng 12 năm 2013
Sinh viên Hoàng Văn Lâm
Trang 3DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang Bảng 4.1: Thực trạng công tác phòng chống bệnh Leucocytozoon cho gà ở
huyện Yên Thế - tỉnh Bắc Giang 32
Bảng 4.2: Tỷ lệ và cường độ nhiễm Leucocytozoon ở gà theo địa phương 34 Bảng 4.3: Tỷ lệ và cường độ nhiễm Leucocytozoon ở gà theo tháng 38 Bảng 4.4: Tỷ lệ và cường độ nhiễm Leucocytozoon ở gà theo tuổi 40 Bảng 4.5: Tỷ lệ và cường độ nhiễm Leucocytozoon ở gà theo phương thức
chăn nuôi 42
Bảng 4.6: Tỷ lệ và cường độ nhiễm Leucocytozoon ở gà theo tình trạng vệ
sinh thú y 44 Bảng 4.7: Thành phần loài và tần suất xuất hiện các loài dĩn hút máu ở các
địa phương nghiên cứu 46 Bảng 4.8: Quy luật hoạt động của các loài dĩn từ tháng 01 đến tháng 05 47 Bảng 4.9 Quy luật hoạt động trong ngày của các loài dĩn 48
Bảng 4.10: Thành phần loài Leucocytozoon gây bệnh ở gà tại huyện Lục
Trang 4DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang Hình 2.1 Sơ đồ minh họa vòng đời Leucocytozoon ở gà 8 Hình 4.1 Biểu đồ về tỷ lệ nhiễm đơn bào Leucocytozoon ở gà tại 4 xã thuộc
huyện Yên Thế - tỉnh Bắc Giang 36
Hình 4.2 Biểu đồ về cường độ nhiễm đơn bào Leucocytozoon ở gà tại 4 xã
thuộc huyện Yên Thế - tỉnh Bắc Giang 37
Hình 4.3: Biểu đồ về tỷ lệ nhiễm đơn bào Leucocytozoon ở gà qua cá tháng 40 Hình 4.4: Biểu đồ Tỷ lệ và cường độ nhiễm Leucocytozoon ở gà theo tuổi 41
Hình 4.5 Tỷ lệ và cường độ nhiễm leucocytozoon ở gà theo phương thức
chăn nuôi 42
Hình 4.6 Biểu đồ tỷ lệ nhiễm Leucocytozoon ở gà theo tình trạng
vệ sinh thú y 45
Trang 5DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Cs : Cộng sự KCTG : Ký chủ trung gian Nxb : Nhà xuất bản
N : Dung lượng mẫu
P : Độ tin cậy
S : Simulium
Spp : Species VSTY : Vệ sinh thú y
L : Leucocytozoon
C : Culicoides
Trang 6MỤC LỤC
Trang
PHẦN 1: MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu của đề tài 2
1.3 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài 2
PHẦN 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1 Cơ sở khoa học của đề tài 3
2.1.1 Đặc điểm của đơn bào Leucocytozoon ký sinh ở gà 3
2.1.1.1 Vị trí của đơn bào Leucocytozoon trong hệ thống phân loại động vật 3 2.1.1.2 Đặc điểm hình thái các loài Leucocytozoon ở gà 4
2.1.1.3 Vòng đời của Leucocytozoon ở gà 5
2.1.2 Bệnh đơn bào Leucocytozoon ở gà 10
2.1.2.1 Những thiệt hại kinh tế do bệnh Leucocytozoon gây ra 10
2.1.2.2 Dịch tễ học bệnh Leucocytozoon ở gà 11
2.1.2.3 Cơ chế sinh bệnh của bệnh Leucocytozoon 13
2.1.2.4 Triệu chứng và bệnh tích bệnh Leucocytozoon 13
2.1.2.5 Chẩn đoán bệnh Leucocytozoon 17
2.1.2.6 Phòng trị bệnh Leucocytozoon cho gà 18
2.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 20
2.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 20
2.2.2 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài 21
PHẦN 3: ĐỐI TƯỢNG, VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 23
3.1 Đối tượng nghiên cứu 23
3.2 Địa điểm, thời gian nghiên cứu 23
3.2.1 Địa điểm nghiên cứu 23
Trang 73.3.2 Thời gian nghiên cứu 23
3.3 Vật liệu nghiên cứu 23
3.4 Nội dung nghiên cứu 24
3.4.1 Đặc điểm dịch tễ bệnh đơn bào Leucocytozoon ở gà tại huyện
Yên Thế - tỉnh Bắc Giang 24
3.4.2 Nghiên cứu biện pháp phòng và trị bệnh 24
3.5 Phương pháp nghiên cứu 24
3.5.1 Phương pháp xác định tình trạng áp dụng các biện pháp phòng bệnh Leucocytozoon cho gà ở các địa phương nghiên cứu 24
3.5.2 Bố trí lấy mẫu và phương pháp xác định tỷ lệ, cường độ nhiễm Leucocytozoon ở gà tại các địa phương 25
3.5.2.1 Bố trí thu thập mẫu 25
3.5.2.2 Phương pháp xác định tỷ lệ và cường độ nhiễm Lecocytozoon ở gà tại các địa phương 25
3.5.3 Bố trí lấy mẫu và phương pháp xác định tỷ lệ, cường độ nhiễm Leucocytozoon ở gà theo tháng trong thời gian nghiên cứu 27
3.5.3 1 Bố trí lấy mẫu 27
3.5.3 2 Phương pháp xác định tỷ lệ và cường độ nhiễm Leucocytozoon
theo tháng 27
3.5.4 Bố trí lấy mẫu và phương pháp xác định tỷ lệ, cường độ nhiễm Leucocytozoon ở gà theo tuổi gà 27
3.5.4.1 Bố trí lấy mẫu 27
3.5.4.2 Phương pháp xác định tỷ lệ và cường độ nhiễm Leucocytozoon ở gà theo các lứa tuổi 28
3.5.5 Bố trí lấy mẫu và phương pháp xác định tỷ lệ, cường độ nhiễm Leucocytozoon ở gà theo phương thức chăn nuôi 28
3.5.5.1 Bố trí lấy mẫu 28
3.5.5.2 Phương pháp xác định tỷ lệ và cường độ nhiễm Leucocytozoon ở gà theo phương thức chăn nuôi 28
Trang 83.5.6 Bố trí lấy mẫu và phương pháp xác định tỷ lệ, cường độ nhiễm
Leucocytozoon theo tình trạng vệ sinh thú y 28
3.5.6.1 Bố trí lấy mẫu 28
3.5.6.2 Phương pháp xác định tỷ lệ và cường độ nhiễm Leucocytozoon ở gà theo tình trạng VSTY 29
3.5.7 Phương pháp bố trí theo dõi xác định loài Leucocytozoon ký sinh ở gà tại huyện Yên Thế - tỉnh Bắc Giang 29
3.5.8 Bố trí thu thập mẫu dĩn và phương pháp xác định loài dĩn - véc tơ truyền Leucocytozoon tại huyện Yên Thế - tỉnh Bắc Giang 29
3.5.8.1 Bố trí thu thập mẫu dĩn 29
3.5.8.2 Phương pháp xác định loài dĩn 29
3.5.9 Phương pháp đánh giá hiệu lực và độ an toàn của 3 phác đồ điều trị bệnh Leucocytozoon cho gà 30
3.5.9.1 Phương pháp đánh giá hiệu lực và độ an toàn của 3 phác đồ điều trị bệnh Leucocytozoon trên gà thí nghiệm 30
3.5.9.2 Phương pháp đánh giá hiệu lực và độ an toàn của 3 phác đồ điều trị bệnh Leucocytozoon cho gà trên thực địa 31
PHẦN 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 32
4.1 Đặc điểm dịch tễ bệnh đơn bào Leucocytozoon ở gà tại huyện Yên Thế - tỉnh Bắc Giang 32
4.1.1 Thực trạng phòng chống bệnh đơn bào Leucocytozoon cho gà ở huyện Yên Thế - tỉnh Bắc Giang 32
4.2 Tình hình nhiễm đơn bào đường máu Leucocytozoon ở gà 34
4.2.1 Tỷ lệ và cường độ nhiễm Leucocytozoon ở gà theo địa phương 34
4.2.2 Tỷ lệ và cường độ nhiễm Leucocytozoon ở gà theo tháng
trong năm 38
4.2.3 Tỷ lệ và cường độ nhiễm Leucocytozoon theo tuổi gà 40
4.2.4 Tỷ lệ và cường độ nhiễm Leucocytozoon theo phương thức chăn nuôi gà 42
Trang 94.2.5 Tỷ lệ và cường độ nhiễm Leucocytozoon ở gà theo tình trạng vệ
sinh thú y 44
4.2.6 Nghiên cứu đặc điểm hoạt động của dĩn - véc tơ truyền Leucocytozoon cho gà 46
4.2.6.1 Thành phần loài dĩn - véc tơ truyền Leucocytozoon cho gà ở các
địa phương 46
4.2.6.2 Quy luật hoạt động của các loài dĩn ở các địa phương nghiên cứu 47
4.3 Nghiên cứu hiệu quả của 3 phác đồ điều trị bệnh Leucocytozoon cho gà 50
PHẦN 5: KẾT LUẬN TỒN TẠI VÀ ĐỀ NGHỊ 54
5.1 Kết luận 54
5.1.1 Đặc điểm dịch tễ bệnh đơn bào Leucocytozoon ở gà tại 4 xã thuộc huyện Yên Thế - tỉnh Bắc Giang 54
5.1.2 Thử nghiệm phác đồ điều trị Leucocytozoon ở gà 54
5.2 Đề nghị 55
TÀI LIỆU THAM KHẢO 56
I Tài liệu tiếng Việt 56
II Tài liệu tiếng Anh 58
Trang 10Tuy nhiên, cho đến nay chăn nuôi vẫn đang tồn tại một số vấn đề, các
hộ gia đình chăn nuôi gà chủ yếu với số lượng ít, chuồng trại đơn giản, những gia đình chăn nuôi gà công nghiệp với quy mô nhỏ cũng vẫn chỉ là chăn nuôi bán công nghiệp Vấn đề vệ sinh thú y trong chăn nuôi gà chưa được quan tâm đúng mức, dịch bệnh thường xảy ra, gây trở ngại cho việc phát triển chăn nuôi, gây thiệt hại kinh tế cho nhiều gia đình và cơ sở chăn nuôi gà
Ngoài những bệnh truyền nhiễm thì bệnh do ký sinh trùng gây ra cũng rất phổ biến trong chăn nuôi gà Nước ta là nước nhiệt đới có khí hậu nóng
ẩm quanh năm nên rất thích hợp cho sự phát triển và lây lan bệnh ký sinh trùng nói chung và bệnh ký sinh trùng đường máu nói riêng Theo Phạm Sỹ Lăng, Phan Địch Lân (2002) [13] đàn gia cầm nước ta thường nhiễm ký sinh trùng với tỷ lệ và cường độ cao, diễn ra quanh năm, bất kể mùa vụ và thời tiết nào Như vậy thiệt hại mà bệnh ký sinh trùng nói chung và bệnh ký sinh trùng đường máu nói riêng là rất rõ rệt
Trong các bệnh ký sinh trùng ở gà, có những bệnh do nhóm đơn bào ký sinh gây ra, chúng chiếm đoạt chất dinh dưỡng, tiết độc tố, gây ra những biến đổi bệnh lý làm cho gà gầy yếu, chậm lớn, giảm mạnh sức sản xuất thịt, trứng Đặc biệt, một số bệnh đơn bào cũng gây ra các “ổ dịch cấp tính”, làm cho gà chết nhanh với tỷ lệ cao không kém các bệnh truyền nhiễm, trong đó
có bệnh đơn bào đường máu Leucocytozoon
Theo Shane S M (2005) [47], Leucocytozoon thuộc nhóm nguyên sinh động vật, thuộc bộ huyết bào tử trùng (Heamosporidia) ký sinh trong máu và
Trang 11cơ quan nội tạng của nhiều loài gia cầm, trong đó gà là loài mẫn cảm nhất, đặc biệt là gà được nuôi theo phương thức chuồng hở
Bệnh do các loài đơn bào Leucocytozoon ký sinh trong hồng cầu (đôi
khi thấy trong bạch cầu) gây ra xuất huyết, tan vỡ hồng cầu, dẫn đến thiếu máu và ỉa chảy phân xanh màu lá cây, làm gà chết với tỷ lệ cao tới 30 - 50%
Với diện tích đất đồi lớn, chăn nuôi gà tại huyện Yên Thế - tỉnh bắc Giang đã và đang chiếm một số lượng lớn về cơ cấu của ngành chăn nuôi tại địa phương này Tuy nhiên, việc phòng và trị bệnh ký sinh trùng đặc biệt là
bệnh do đơn bào Leucocytozoon gây ra chưa được chú trọng Xuất phát từ nhu cầu thực tế, để góp phần hạn chế thiệt hại do đơn bào Leucocytozoon gây ra,
chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài:" Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ bệnh
đơn bào do Leucocytozoon gây ra ở gà nuôi tại huyện Yên Thế - tỉnh Bắc Giang và thử nghiệm phác đồ điều trị "
1.2 Mục tiêu của đề tài
- Xác định được các loài Leucocytozoon gây bệnh cho gà và đặc điểm dịch tễ bệnh do Leucocytozoon gây ra ở đàn gà của một số địa phương thuộc
huyện Yên Thế - tỉnh Bắc Giang
- Lựa chọn phác đồ điều trị bệnh Leucocytozoon có hiệu quả cho gà
1.3 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài
- Ý nghĩa khoa học
Nghiên cứu đề tài để có những thông tin khoa học về đặc điểm dịch tễ
bệnh đơn bào Leucocytozoon ở gà tại một số địa phương thuộc huyện Yên
Thế - tỉnh Bắc Giang, đồng thời có cơ sở khoa học để xây dựng quy trình
phòng trị bệnh đơn bào Leucocytozoon cho gà có hiệu quả cao
- Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả của đề tài là cơ sở để khuyến cáo người chăn nuôi gà áp dụng
các biện pháp phòng trị bệnh đơn bào Leucocytozoon, nhằm hạn chế tỷ lệ nhiễm Leucocytozoon cho gà, hạn chế thiệt hại do Leucocytozoon gây ra, góp
phần nâng cao năng suất chăn nuôi, thúc đẩy chăn nuôi gà nói riêng và chăn nuôi gia cầm nói chung phát triển
Trang 12PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Cơ sở khoa học của đề tài
Ký sinh trùng là những sinh vật sinh trưởng và phát triển trong hoặc trên cơ thể một sinh vật khác - gọi là ký chủ, chiếm đoạt chất dinh dưỡng của
ký chủ mà nó ký sinh Trong phân loại học, dựa theo cấu trúc cơ thể của ký sinh trùng mà người ta chia những ký sinh trùng động vật ra làm 3 ngành: nguyên trùng, giun sán và tiết túc Trong đó, nguyên trùng là ký sinh trùng
đơn bào (protozoa), cơ thể chỉ gồm một tế bào, thường ký sinh trong máu (Trypanosoma, Histomonas, Leucocytozoon…) hoặc trong ruột ký chủ (cầu
trùng) (Dương Công Thuận, 1995) [27]
Bệnh do đơn bào Leucocytozoon gây ra có ở nhiều nước trên thế giới
Tỷ lệ lưu hành Leucocytozoon trên đàn gà ở một số nước Châu Á khá cao: ở
Trung Quốc (7,1%), Thái Lan (13 - 18%), Malaysia (15 - 31%)
Leucocytozoon ký sinh trong hồng cầu gà, đôi khi ký sinh trong bạch cầu (tùy
theo loài), làm tan vỡ hồng cầu, gây bần huyết và gây chết gà với tỷ lệ cao, ảnh hưởng đến thu nhập của người chăn nuôi gà Bệnh cũng được phát hiện ở nhiều loài chim hoang dã
2.1.1 Đặc điểm của đơn bào Leucocytozoon ký sinh ở gà
2.1.1.1 Vị trí của đơn bào Leucocytozoon trong hệ thống phân loại động vật
Đơn bào nói chung là những nguyên sinh động vật không có khí quan
di động, thân thể khi thì trần và có thể biến dạng được, khi thì có màng bọc và
có hình dạng nhất định Đơn bào sống ký sinh ở các tế bào, các mô hay dịch thể, có thể suốt đời hoặc những giai đoạn đầu trong vòng đời của chúng Chúng tự nuôi dưỡng bằng cách thẩm thấu dinh dưỡng chiếm đoạt của ký chủ qua bề mặt cơ thể
Các loài đơn bào thuộc giống Leucocytozoon ký sinh trong máu của
nhiều loài gia cầm, thủy cầm, chim và nhiều loài chim hoang dã Gà là vật
chủ cảm thụ đơn bào Leucocytozoon mạnh nhất Bệnh được Ziemann phát
hiện lần đầu tiên vào năm 1898 Từ đó đến nay, trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu về bệnh
Trang 13Theo Levine N D (1985) [38], Leucocytozoon gây bệnh cho gà có vị
trí trong hệ thống phân loại như sau:
Ngành Protozoa
Lớp Sporozoa
Bộ Haemosporidia
Họ Leucocytozoidae Giống Leucocytozoon Loài L caullergyi (Mathis et Leger, 1909)
L sabrazeis (Mathis et Leger, 1910)
L simondi (Mathis et Leger, 1910)
L smithi (Laveran et Lucet, 1905)
L andrewsi (Atchley, 1951)
L schufneri (Prowazek, 1912)
L schoutedeni (Rodham Pons et Bequaert, 1913) Đến nay, các nhà khoa học đã phát hiện được 107 loài Leucocytozoon spp
ký sinh và gây bệnh cho gà, gà tây, vịt, ngỗng và nhiều loài chim hoang dã
Phạm Sỹ Lăng và cs (2005) [14]; (2010) [18]: có 4 loài đơn bào được xác định là tác nhân gây bệnh chính cho gà và các vật chủ khác:
Các loài dĩn Simulium spp Gà tây
2.1.1.2 Đặc điểm hình thái các loài Leucocytozoon ở gà
Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [9] cơ thể đơn bào thường do một tế bào rất nhỏ cấu thành, tổ chức của đơn bào gồm màng tế bào, chất nguyên sinh, hạt hoặc nhân tế bào
Trang 14Đơn bào Leucocytozoon ký sinh ở hồng cầu, bạch cầu, các nội tạng của
gà và các loài chim ở hai dạng: dạng tiểu thể hình dùi trống, hoặc hình thoi nhọn hai đầu với kích thước từ 15 - 20 µm; dạng bào tử hình trứng với kích thước từ 20 - 25 µm
Phạm Sỹ Lăng và cs (2005) [14] cho biết: trong quá trình phát triển ở
ký chủ cũng như ở véc tơ trung gian truyền bệnh, các loài Leucocytozoon có
nhiều hình dạng khác nhau Kích thước của chúng thay đổi tùy thuộc vào
dạng và loài đơn bào Leucocytozoon
- Dạng bào tử (Sporozoite): hình thuẫn hoặc hình elip nhọn 2 dầu, kích
thước 10 - 15 µm Thể này thấy ở tuyến nước bọt của dĩn (véc tơ trung gian truyền bệnh)
- Dạng tiểu thể (Merozoite): hình tròn, hình trứng, kích thước 15 - 20 µm
- Dạng giao tử (Schizont): hình elip, thon nhỏ 2 đầu, kích thước 20 - 45 µm
- Dạng đại giao tử (Macrogametocyte): hình đa giác, gần tròn, kích
thước 350 - 400 µm
- Dạng tiểu phối tử (Microgametocyte): hình thuẫn, hình trứng, kích
thước 20 - 25 µm
Theo Phạm Sỹ Lăng và Tô Long Thành (2006) [15]; Phạm Sỹ Lăng và
cs (2008) [16], hai loài L caullergyi và L sabrazeis có hình dạng gần giống
nhau, chỉ khác về tính chất gây bệnh Chúng có dạng hình cầu, hình bầu dục, hình lưỡi liềm; kích thước 20 x 5 µm, không có sắc tố khi nhuộm Giemsa, ký sinh ở hồng cầu của gà, gà rừng
2.1.1.3 Vòng đời của Leucocytozoon ở gà
Saif Y M (2003) [46] cho rằng: giai đoạn sinh bào tử diễn ra trên vật chủ trung gian và có thể được hoàn thành sau 3 - 4 ngày Noãn nang phát triển
và có thể tìm thấy trong đường tiêu hóa của dĩn trong vòng 12 giờ sau khi dĩn hút máu Sau đó các noãn nang này di chuyển đến tuyến nước bọt của dĩn, có thể tìm thấy noãn nang ở tuyến nước bọt dĩn sớm nhất sau khi dĩn hút máu gà bệnh 18 ngày
Trang 15Phạm Sỹ Lăng và cs (2005) [14] cho biết: các loài Leucocytozoon có
vòng đời rất phức tạp, cần vật chủ trung gian là các loài dĩn thuộc giống
Simulium spp và Culicoides spp Tuy đặc điểm thời tiết khí hậu của các vùng
sinh thái khác nhau mà thành phần loài dĩn cũng thay đổi
Sau khi xâm nhập vào dĩn do dĩn hút máu gà bệnh, các tiểu thể
(Merozoite) phát triển qua một số giai đoạn ở vách dạ dày thành noãn nang để thành thể bào tử (Sporozoite) Thể bào tử chuyển lên tuyến nước bọt của dĩn
sau thời gian phát triển khoảng 25 ngày Khi dĩn hút máu các loài vật chủ (gà, các loài gia cầm khác và chim hoang dã) sẽ truyền mầm bệnh vào máu
Các bào tử từ máu xâm nhập vào các tế bào nội quan như: gan, lách,
phổi, thận, tổ chức cơ để trở thành giao tử (Schizont) Các giao tử vào hồng cầu phát triển thành tiểu thể (Merozoite), giao tử thể (Gametocyte), đại giao tử (Marcrogametocyte) và tiểu giao tử (Mircrogametocyte)
Khi dĩn hút máu gia cầm bệnh, vào cơ thể dĩn, các tiểu thể lại phát triển
thành noãn nang (Oocyst), rồi bào tử (Sporozoite) trong vách dạ dày dĩn và
vòng đời lại được lặp lại
Tác giả Lê Minh Thành cho biết vòng đời của Leucocytozoon bao gồm
các giai đoạn như sau:
* Giai đoạn ở tế bào chủ:
Gia cầm bị dĩn - ký chủ trung gian truyền bệnh đốt và truyền mầm bệnh
(các bào tử Sporozoite) vào cơ thể Khi vào cơ thể gia cầm, mầm bệnh theo
máu tới gan, lách, thận, não… Tại đây, chúng xâm nhập vào các tế bào của ký chủ và bắt đầu sinh sản vô tính bằng hình thức liệt phân, kết quả từ 1
Sporozoit đã tạo ra một lượng lớn Merozoite Chính những Merozoite này mới
có khả năng xâm nhập vào máu và ký sinh ở hồng cầu (quá trình này mất 4 - 6 ngày hoặc kéo dài hơn tùy loài)
Quá trình sinh sản của đơn bào ở trong tế bào gan của vật chủ không có
chu kỳ nhất định Sau khi phát triển ở gan, tất cả các Merozoite đều vào máu
Trang 16* Giai đoạn ở trong hồng cầu: giai đoạn này tạo thể tự dưỡng và thể phân liệt trong đó có thể mang giới tính (giao tử đực và giao tử cái) Giai đoạn
ở trong hồng cầu bắt đầu từ khi các Merozoite từ gan vào máu, tiếp cận với bề mặt hồng cầu có những thụ thể Receptor tương ứng và xâm nhập vào hồng
cầu qua 5 giai đoạn:
- Nhận diện và gắn bám
- Hình thành điểm tiếp giáp
- Tạo nên màng không bào liên tiếp màng hồng cầu
- Lọt vào màng không bào qua điểm tiếp nối chuyển động
- Hồng cầu hàn kín sau khi Merozoite lọt vào
Sau khi lọt vào trong hồng cầu, Merozoite hình thành không bào và phát
triển trong hồng cầu theo kiểu có chu kỳ, qua các thể:
Thể tự dưỡng (Trophozoite): gồm thể Trophozoite non (thể nhẫn), thể Trophozoite phát triển (thể amip) và thể Trophozoite già
Thể phân liệt (Schizont) gồm: Schizont non và Schizont già
Sau khi kết thúc 1 chu kỳ phát triển, các Merozoite trong Schizont phá
vỡ hồng cầu vào máu, một số bị thực bào hoặc chết, một số xâm nhiễm vào hồng cầu khác và tiếp tục phát triển theo chu kỳ tương tự
Sau một số chu kỳ, có những Merozoite tiếp tục xâm nhập vào hồng cầu, nhưng không tạo thành các thể Merozoite nữa mà phát triển thành thể có giới tính: Gametocyte (Macrogametocyte - giao tử cái và Microgametocyte -
giao tử đực) Sau đó giao tử dực và giao tử cái kết hợp với nhau tạo thành hợp
tử (Zygote), gây phá vỡ hồng cầu và di chuyển trong máu
Khi ký chủ trung gian là dĩn hút máu gia cầm, mầm bệnh sẽ vào ký chủ trung gian và tiếp tục vòng đời
Trong ký chủ trung gian, hợp tử nở ra và phát triển thành dạng trưởng thành (thoi trùng) Chúng di chuyển lên tuyến nước bọt của dĩn và cư trú ở đó Khi dĩn hút máu gia cầm, các thoi trùng theo tuyến nước bọt vào máu của gia cầm và bắt đầu vòng đời mới
Trang 17Hình 2.1 Sơ đồ minh họa vòng đời Leucocytozoon ở gà
Tuy nhiên Lê Văn Năm (2011) lại cho rằng: chu kỳ phát triển sinh học
của Leucocytozoon gồm 2 giai đoạn chính Giai đoạn thứ nhất là giai đoạn
phát triển trong cơ thể dĩn - véc tơ truyền bệnh và giai đoạn hai là giai đoạn phát triển trong cơ thể vật chủ:
- Giai đoạn phát triển trong cơ thể dĩn - véc tơ truyền bệnh: đây là giai
đoạn hình thành bào tử nang (Sporogony), giai đoạn này kết thúc trong vòng 3 -
4 ngày Vì trong máu của gia cầm bệnh đã có sẵn giao tử đực và giao tử cái, hoặc
hợp tử của Leucocytozoon, nên ngay sau khi hút máu gia cầm bệnh, các tế bào
máu chứa mầm bệnh bị dịch tiêu hóa của ký chủ trung gian (dĩn) làm tan vỡ và
Trang 18giải phóng ra các giao tử và các hợp tử Chúng nhanh chóng bám vào thành dạ dày và chui vào các tế bào niêm mạc dạ dày, ruột của dĩn Ở đó chúng bắt đầu
phát triển thành bào tử nang (Oocyst) Toàn bộ quá trình này chỉ diễn ra trong
vòng 12 giờ kể từ thời điểm dĩn hút máu gia cầm bệnh lần cuối
Trong mỗi bào tử nang bắt đầu có quá trình sinh trưởng và phát triển
thành 4 thoi trùng (Sporozoite) Các thoi trùng này nhanh chóng lớn lên và di
hành đến cư trú trong tuyến nước bọt của ký chủ trung gian truyền bệnh Chỉ
có các thoi trùng này mới có khả năng truyền bệnh Ký chủ trung gian truyền bệnh cho gia cầm thụ cảm thông qua việc hút máu của gia cầm bệnh, sau đó hút máu của gia cầm khỏe và truyền nước bọt kèm theo thoi trùng gây bệnh vào cơ thể gia cầm khỏe Như vậy, kể từ khi dĩn hút máu gia cầm bệnh lần cuối đến lúc có khả năng truyền bệnh phải mất 18 ngày
- Giai đoạn phát triển của Leucocytozoon trong cơ thể gia cầm thụ cảm
Ngay sau khi thoi trùng theo nước bọt của ký chủ trung gian truyền bệnh xâm nhập vào cơ thể gia cầm, chúng lột xác và hình thành nên các thể phân lập
trung gian (Merozoite), các thể phân lập trung gian này bám ngay vào các tế
bào máu và theo máu đi khắp cơ thể Từ đây, chúng phát triển theo hai hướng:
Hướng thứ nhất: Chúng chui vào và ký sinh trong các tế bào máu, sinh
trưởng và phát triển theo phương thức tự nhân đôi để tạo ra các thể phân lập
thế hệ 1 (Schizont - 1) Các Schizont thế hệ 1 này lớn lên nhanh chóng và tiết
ra một chất làm tan hồng cầu, chất đó được gọi là chất kháng hồng cầu (anti- erythrocyte) Dưới tác động cơ học của nhiều thể phân lập đã sinh ra trong mỗi hồng cầu, và dưới tác động của chất kháng hồng cầu, một số lượng lớn hồng cầu bị phá vỡ và giải phóng ra nhiều thể phân lập thế hệ 1, đây là nguyên nhân chính dẫn đến thiếu máu, tăng Hemobilirubin, máu trở nên loãng, nhớt và khó đông Các thể phân lập thế hệ 1 lập tức tấn công và ký sinh tiếp vào các tế bào hồng cầu mới, chúng lớn lên và lại nhân đôi để hình thành
thể phân lập thế hệ 2 (Schizont - 2), cứ tiếp tục như vậy chúng hình thành thể phân lập thế hệ 3 (Schizont - 3) thì dừng lại và bắt đầu hình thành các giao tử (Gametocyte) Giao tử đực có kích thước nhỏ gọi là Microgametocyte và giao
tử cái có kích thước lớn hơn gọi là Macrogametocyte Kết thúc giai đoạn sinh
sản vô tính và bắt đầu giai đoạn sinh sản hữu tính
Trang 19Giai đoạn sinh sản hữu tính xảy ra trong các tế bào hồng cầu Giao tử đực chui vào giao tử cái để thụ tinh và hình thành nên hợp tử Hợp tử được bọc bởi một màng và được gọi là bào tử, có kích thước trung bình 14,5 - 5,5
µm Sau đó, chúng phát triển thành các bào tử hình thoi, có kích thước lên đến
45 µm Chỉ có các thoi trùng này mới có khả năng lây truyền thông qua côn trùng hút máu gia cầm bệnh và truyền thoi trùng gây bệnh cho gia cầm khỏe
Hướng thứ hai: Sau khi các thoi trùng theo máu di hành khắp nơi trong
cơ thể, một phần chúng cư trú tại các cơ quan như lách, thận, phổi, gan, dạ dày tuyến, dạ dày cơ, ruột non, buồng trứng, ống dẫn trứng và não Tại đây, chúng lột xác và chui vào ký sinh trong các tế bào nội mô, tế bào lưới và đại thực bào của các cơ quan kể trên của gia cầm thụ cảm Trong các tế bào đó chúng bắt đầu sinh trưởng, lớn lên và sinh sản theo phương thức tự nhân đôi, làm vỡ nát các tế bào của các cơ quan nội tạng ký chủ Sau đó chúng phát
triển và tạo nên thể phân lập cực đại gọi là Megaloschizont với kích thước lên
đến 400 µm và làm tắc nhiều mao mạch của các cơ quan ký chủ Để tiếp tục
phát triển, trong mỗi Megaloschizont hình thành nên 2 thể phân lập trung gian Merozoite, chúng lớn lên và rời khỏi Megaloschizont, rời khỏi tế bào của cơ
quan ký chủ, chui vào các tế bào máu để ký sinh và quá trình phát triển được tiếp tục lặp lại như hướng thứ nhất - kết thúc giai đoạn sinh sản vô tính trong các tế bào nội mô ở các cơ quan nội tạng của gia cầm thụ cảm
* Tính chuyên biệt của Leucocytozoon
Theo Johannes Kaufmann (1996) [36], mỗi loài Leucocytozoon chỉ ký
sinh trong một hoặc một số ký chủ nhất định
2.1.2 Bệnh đơn bào Leucocytozoon ở gà
2.1.2.1 Những thiệt hại kinh tế do bệnh Leucocytozoon gây ra
Bệnh đơn bào Leucocytozoon ở gà không gây thành ổ dịch lớn nguy
hiểm, ít làm cho gà chết đột ngột và chết hàng loạt (trừ trường hợp đặc biệt) Song, đơn bào này đã gây tác hại nghiêm trọng, làm cho sự sinh trưởng và phát triển của gà bị ngừng trệ, cơ thể gầy còm, thiếu máu, khả năng tăng trọng giảm, số lượng và chất lượng của thịt, trứng giảm, dẫn đến năng suất chăn nuôi giảm thấp
Trang 20Olsen O W (1986) [43], cho biết: ngoài gà (tỷ lệ nhiễm cao và mắc
bệnh nặng nhất), vịt nhiễm Leucocytozoon cũng thường bị bệnh ở thể nặng,
các triệu chứng lâm sàng thể hiện rõ rệt, tỷ lệ tử vong cao
Theo Shane S M (2005) [47], Leucocytozoonosis thường gặp ở các
nước nhiệt đới, đặc biệt là ở những nơi mà các trang trại nằm gần ao, hồ Đàn gia cầm mắc bệnh giảm mạnh tốc độ tăng trưởng, tỷ lệ chết cao có thể lên đến 100% nếu không được chữa trị kịp thời
Phạm Sỹ Lăng và cs (2005) [14] cho rằng: gà bị bệnh đơn bào đường
máu Leucocytozoon ở thể cấp tính có thể chết đột ngột do xuất huyết các nội
quan và thiếu máu cấp Gà mái giảm đẻ hoặc ngừng đẻ, kém ăn, giảm tăng trọng và gầy yếu nhanh Gà mắc bệnh sẽ chết sau 3 - 6 ngày với tỷ lệ tới trên 50% số gà bị bệnh
Lê Văn Năm (2001) [21] cho biết: tại một số địa phương như Bắc Giang, Thái Nguyên, Bắc Ninh, Hải Dương, Vĩnh Phúc, bệnh đơn bào
Leucocytozoon xuất hiện ở hầu hết các đàn gà nuôi thả vườn với tỷ lệ dao
động từ 40 - 70%, gây thiệt hại vô cùng to lớn cho người chăn nuôi
2.1.2.2 Dịch tễ học bệnh Leucocytozoon ở gà
Lê Đức Quyết và cs (2009) [23] cho biết: tỷ lệ nhiễm Leucocytozoon
phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố như: tuổi gia cầm, giống, địa hình, vùng sinh thái, phương thức chăn nuôi
Theo Lê Văn Năm (2001) [21], bệnh do Leucocytozoon gây ra có tính
chu kỳ rõ rệt, phụ thuộc vào mùa sinh sản và phát triển của côn trùng hút máu truyền bệnh
Loài gây bệnh và động vật mắc bệnh
Trong tự nhiên, gà, gà rừng, chim trĩ và các loài chim thuộc bộ gà
(Galliformes) đều có thể bị bệnh Bệnh từ gà nhà có thể truyền lây sang gà
rừng qua ký chủ trung gian và ngược lại Phạm Sỹ Lăng và cs (2005) [11];
(2010) [15] cho rằng: có 4 loài đơn bào giống Leucocytozoon chủ yếu ký sinh
và gây bệnh cho gà:
* L caulleryi (Mathis et Leger, 1909)
Loài này ký sinh và gây bệnh cho gà nhà, gà rừng ở các nước thuộc Đông và Đông Á: Nhật Bản, Malaysia, Thái Lan, Việt Nam, các bang thuộc
Trang 21khu vực Bắc Mỹ Vật chủ trung gian của L caulleryi là các loài dĩn thuộc giống Culicoides như: C arakava, C circumscriptus, C odibilis
* L simondi (Mathis et Leger, 1910)
L simondi ký sinh và gây bệnh cho vịt nhà và vịt trời, ngỗng nhà và
ngỗng trời, các loài thuỷ cầm nuôi và hoang dã ở Mỹ, Canada, các nước vùng
Balkan và Việt Nam.Vật chủ trung gian: các loài dĩn thuộc giống Simulium spp
* L smithi (Laveran et Lucet, 1905)
Loài này ký sinh ở gà tây tại các bang thuộc vùng Đông Mỹ (Bắc Dakota, Nebraska), CHLB Đức, các nước vùng Balkan Vật chủ trung gian
của L smithi là các loài dĩn thuộc giống Simulium spp
Lương Văn Huấn và Lê Hữu Khương (1997) [5] cho biết loài L caullergyi có đặc điểm như sau: cơ thể đơn bào hình hơi tròn, kích thước 15,0
-15,5 µm Tế bào vật chủ cũng tròn, kích thước 20 µm Ở trong cơ thể dĩn -
véc tơ truyền bệnh, Zygote có dạng tròn đường kính 14 µm, sau đó kéo dài, kích thước 21µm, chúng xuyên qua vách ruột tạo thành Oocyst hình gần tròn, kích thước 4 -14 x 5-14 µm Oocyst phát triển thành thoi trùng (Sporozoite)
Các thoi trùng đến tuyến nước bọt của dĩn có kích thước 7 - 11 x 1 - 2 µm
Tuổi mắc bệnh: Gà ở các lứa tuổi đều bị bệnh Tuổi gà càng cao tỷ lệ
và cường độ nhiễm bệnh càng tăng
Mùa vụ: Gà mắc bệnh ở tất cả các mùa trong năm, nhưng nhiễm nhiều
và nặng ở mùa Hè và mùa Xuân
Điều kiện vệ sinh thú y: Điều kiện vệ sinh thú y đối với chuồng trại và
khu vực xung quanh chuồng trại, dụng cụ và môi trường chăn nuôi là một
trong những yếu tố có ảnh hưởng lớn tới khả năng nhiễm bệnh Leucocytozoon
của gà Điều này có liên quan mật thiết với sự tồn tại và phát triển của các loài dĩn hút máu - véc tơ truyền bệnh
Trang 22Yếu tố stress: Các yếu tố strees như chuồng trại chật chội, khí hậu ẩm,
thấp, thức ăn kém dinh dưỡng đóng vai trò thúc đẩy mức độ và tốc độ lây
lan bệnh Leucocytozoon ở gà
2.1.2.3 Cơ chế sinh bệnh của bệnh Leucocytozoon
Bệnh lây truyền từ gà bệnh sang gà khoẻ qua đường máu nhờ vật chủ
trung gian là các loài dĩn thuộc họ Culicoides spp và Simulium spp Dĩn hút
máu của gà bệnh có đơn bào ký sinh trong máu Vào cơ thể dĩn, đơn bào phát triển qua 3 giai đoạn, cuối cùng thành bào tử nằm ở tuyến nước bọt của dĩn Khi dĩn mang mầm bệnh hút máu gà khoẻ, bào tử sẽ được truyền cho gà khoẻ
và gây bệnh cho gà
Các bào tử xâm nhập vào các tế bào nội quan như: gan, lách, phổi,
thận, tổ chức cơ để trở thành bào tử (Schizont); các bào tử vào hồng cầu phát triển thành tiểu thể (Merozoite), giao tử thể (Gametocyte), đại giao tử (Marcrogametocyte) và tiểu giao tử (Mircrogametocyte) Chúng phát triển,
phá huỷ tế bào hồng cầu và gây hoại tử các cơ quan tổ chức, đặc biệt là lách
và gan Đồng thời chúng tiết ra chất anti-erythrocyte làm tan hồng cầu
2.1.2.4 Triệu chứng và bệnh tích bệnh Leucocytozoon
* Triệu chứng bệnh Leucocytozoon
Orlov F M (1975) [22] cho biết: gà tây thường mắc bệnh trước 12 tuần tuổi Gà bệnh bỏ ăn, suy yếu toàn thân, ít vận động, rối loạn vận động Gà tây bắt đầu chết từ 2 - 3 ngày sau khi xuất hiện những triệu chứng đầu tiên
Theo tài liệu của Viện Thú y Quốc gia (2001) [30]; (2002) [31], triệu
chứng chủ yếu của gà mắc bệnh do đơn bào Leucocytozoon gây ra là:
- Ho ra máu và chết đột ngột
- Thiếu máu, đặc biệt mào và tích do thiếu máu nên có màu tím tái
- Nhịp thở nhanh
- Phân có mầu xanh
- Giảm sản lượng trứng và trứng có vỏ mỏng (với gà mái đẻ)
- Xuất huyết da chân
Nguyễn Thị Kim Lan và cs (2009) [11] cho biết: Bệnh thường xảy ra thành dịch tại một số khu vực vùng núi và trung du thuộc các nước Đông
Trang 23Nam Á, nhất là vào mùa hè và mùa xuân, khi mà các loài dĩn - véc tơ truyền bệnh phát triển và hoạt động mạnh
Thời gian ủ bệnh từ 4 - 7 ngày
Gà bệnh thể hiện các triệu chứng đặc trưng sau:
Thể cấp tính: gà ở lứa tuổi từ 1 - 3 tháng chết đột ngột do xuất huyết các nội tạng, hồng cầu tan vỡ hàng loạt, gây bần huyết cấp tính; ỉa chảy nặng, phân có màu xanh lá cây, thường có lẫn máu Gà mái đang đẻ bị bệnh sẽ giảm
đẻ hoặc ngừng đẻ do đơn bào tác động vào cơ quan sinh sản Gà trưởng thành mắc bệnh sẽ giảm tăng trọng, gầy yếu nhanh, nhưng chết ít hơn gà con Gà ở lứa tuổi từ 1 - 3 tháng bị bệnh sẽ chết sau 3 - 6 ngày với tỷ lệ cao
Lê Văn Năm (2001) [21] cho biết, triệu chứng của gà bị bệnh
Leucocytozoon gồm các thể như sau:
- Thể quá cấp:
Trong suốt thời gian ủ bệnh, gà bị sốt cao nhưng có thể vẫn ăn uống bình thường nên người chăn nuôi hầu như không để ý, hoặc không quan sát thấy những biểu hiện bất thường của đàn gà Bệnh bỗng dưng bùng phát lẻ tẻ khi gặp các yếu tố strees bất lợi, với các triệu chứng điển hình như: đột nhiên
ho hoặc hắt hơi, mào, tích tái nhợt, ộc máu ra miệng, mũi, đôi khi ở cả hậu môn rồi chết Một số khác lại có triệu chứng lừ đừ hoặc có triệu chứng thần kinh, nhảy sốc lên rồi rơi xuống nền dãy dụa và chết Cả hai trường hợp trên đều do dập vỡ gan, hoặc xuất huyết não bởi sự phát triển quá mạnh của các
Leucocytozoon trong các cơ quan đó
Số gà chết như mô tả trên không xảy ra ồ ạt, nhưng tăng dần qua mỗi ngày Nếu không được chẩn đoán đúng và điều trị kịp thời, tỷ lệ chết sẽ rất cao
- Thể cấp tính:
Đây là thể bệnh phổ biến nhất và gắn liền với thời tiết ẩm ướt do mưa phùn kéo dài Khí hậu ẩm thấp tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển, sinh sôi, nảy nở của véc tơ truyền bệnh
Trong những đàn gà mắc bệnh ở thể này, lúc đầu chỉ thấy một số ít gà
có biểu hiện sốt cao, mào thâm tái, sau vài ngày trở nên trắng bệch Khi cắt tiết gà thấy máu rất loãng, khó đông
Trang 24Gà bị bệnh giảm ăn, ít vận động, đi lại không vững Gà bị tiêu chảy, phân có màu xanh đậm
Gà bệnh gầy sút nhanh, yếu dần và rất khó thở, thở khò khè, phải vươn
cổ ra để thở Nếu độ ẩm không khí cao, chuồng nuôi ẩm thấp thì gà bệnh càng khó thở và rất dễ chết Tuy nhiên, gà chết không ồ ạt, nhưng tỷ lệ chết tăng dần qua mỗi ngày Lúc đầu gà chỉ chết vào ban đêm, về sau chết bất kỳ lúc nào, tỷ lệ chết có thể lên đến 70% Bệnh nặng hơn nếu gà bị bệnh ghép với CRD, Newcastle
Ở gà mái: triệu chứng thường thấy là giảm sản lượng trứng, đồng thời khối lượng trứng của gà bệnh cũng giảm rõ rệt, vỏ trứng mềm, dễ vỡ, hoặc ngược lại vỏ rất dầy Khi cho ấp trứng của những đàn gà đẻ bị mắc bệnh
Leucocytozoon thì tỷ lệ ấp nở giảm, gà mới nở bị chết yểu trong 3 - 5 ngày
đầu chiếm tỷ lệ rất cao
Đây là thể bệnh thường gặp ở gà bị nhiễm số lượng Leucocytozoon ít
Ngoài ra, các loài chim hoang dã, gia cầm sống sót sau khi mắc bệnh hoặc những gia cầm, thủy cầm được chăn nuôi quảng canh cũng có thể bị bệnh ở thể mạn tính
Bệnh có những biểu hiện không rõ ràng, gà vẫn ăn uống bình thường, đôi khi giảm ăn tức thời Các triệu chứng như ủ rũ, động kinh hoặc đi lại không vững đều ngắt quãng, không xuất hiện liên tục Gà bệnh thiếu máu, lờ
đờ, tỷ lệ chết không đáng kể nhưng chúng mang mầm bệnh trong nhiều năm
và trở thành nguồn bệnh tiềm tàng nguy hiểm
Trang 25* Bệnh tích bệnh Leucocytozoon
Mổ khám gà bệnh thấy: xuất huyết đỏ sẫm ở tất cả các phủ tạng (tim, lách, phổi, thận) và tổ chức cơ Đôi khi cũng có các điểm hoại tử trắng trên mặt gan giống như bệnh tụ huyết trùng gia cầm Ngoài ra, có thể thấy bệnh tích ở đường tiêu hóa như: niêm mạc đường tiêu hoá bị tổn thương và xuất huyết
Olsen O W (1986) [43] cho biết, gà bị nhiễm đơn bào Leucocytozoon
ở cường độ nặng có các bệnh tích điển hình thì tỷ lệ tử vong cao Các cơ quan nội tạng ký chủ có số lượng đơn bào ký sinh khác nhau Các đơn bào ký sinh trong các cơ quan được bao bọc bởi một lớp do tế bào lympho và bạch cầu
đơn nhân lớn tạo nên thể Megaloschizont
Theo Lâm Thị Thu Hương (2005) [7], khi mổ khám và quan sát bằng mắt thường, thấy trên cơ thể gà có những nốt mầu trắng đục hay vàng, đỏ hoặc chuyển sang đen, có kích thước từ 0,2 - 0,5 mm, đôi khi lên đến 1 mm
Những nốt này là bệnh tích do một giai đoạn phát triển của đơn bào L caulleryi gây ra Đơn bào Leucocytozoon được phát hiện ở nhiều vị trí trên cơ thể gà Một gà có thể nhiễm Leucocytozoon cùng lúc trên 6 cơ quan phủ tạng
Sự nhiễm Leucocytozoon thường gặp nhiều nhất ở các cơ quan như phổi, gan,
thận, mô cơ
Lê Văn Năm (2001) [21] cho biết: bệnh tích đại thể của bệnh do đơn
bào Leucocytozoon gây ra ở gà rất điển hình, được quan sát thấy trong nhiều
cơ quan nội tạng như: gan, lách, thận, tim, phổi, ruột non, não, buồng trứng và ống dẫn trứng Những biến đổi đại thể ở các cơ quan nội tạng như sau:
Gan: sưng to, mềm nhũn và dễ vỡ, trên bề mặt gan thấy nhiều điểm trắng Đây là kết quả của các thể phân lập của Leucocytozoon ở gan tạo nên,
làm giòn, xốp và tắc nghẽn các mao mạch, dẫn đến xuất huyết tràn lan, thậm chí vỡ mao mạch, dẫn đến vỡ gan, chảy máu vào xoang bụng
Lách: sưng to, giòn, dễ vỡ, trên bề mặt lách có nhiều điểm xuất huyết
hoặc hoại tử
Thận: sưng to, xuất huyết
Buồng trứng và ống dẫn trứng: buồng trứng bị viêm, thoái hóa; ống dẫn
trứng sưng, dầy lên và có nhiều điểm xuất huyết
Trang 26Tim: tim to, cơ tim dầy lên nhưng trương lực cơ bị giảm, cơ trở nên
mềm nhão
Phổi: sung huyết nặng
Ruột non, dạ dày tuyến, dạ dày cơ: viêm tăng sinh, dầy lên, đôi khi thấy
các điểm hoại tử hoặc nốt loét
Não: các đại hợp bào phát triển ở não gây tắc nghẽn các mao mạch, dẫn
đến bị phù nề, sung huyết và xuất huyết não
2.1.2.5 Chẩn đoán bệnh Leucocytozoon
* Với gà còn sống
Nguyễn Xuân Bình và cs (2002) [1] cho biết: Hiện nay, có nhiều bệnh mới ở gia cầm có triệu chứng lâm sàng và bệnh tích giống nhau, nhưng nguyên nhân gây bệnh lại khác nhau, làm cho việc chẩn đoán lâm sàng và điều trị bệnh dễ bị sai lầm, gây nên những tổn thất đáng kể cho chăn nuôi
Do vậy, để chẩn đoán một cách chính xác bệnh có phải do ký sinh trùng
đường máu Leucocytozoon gây ra hay không, người ta thường sử dụng kết
hợp các phương pháp chẩn đoán để mang lại hiệu quả cao hơn
+ Chẩn đoán lâm sàng: Gà lứa tuổi 1 - 3 tháng chết đột ngột, các phủ tạng đều bị xuất huyết; ỉa chảy, phân xanh có lẫn máu làm cho gà chết với tỷ
Chẩn đoán phân biệt Nguyễn Thị Kim Lan và cs (2009) [11] cho biết: cần chẩn đoán phân biệt với bệnh tụ huyết trùng gia cầm Triệu chứng và bệnh tích của bệnh đơn bào đường máu ở gia cầm cũng giống như bệnh tụ huyết trùng gia cầm Tuy nhiên, bệnh tụ huyết trùng làm gà chết ở tất cả các
Trang 27lứa tuổi Bệnh tụ huyết trùng gia cầm điều trị bằng Streptomycin có hiệu quả nhưng bệnh do đơn bào đường máu điều trị bằng Streptomycin lại không có hiệu quả
Theo Lê Văn Năm (2001) [21], cần chẩn đoán phân biệt bệnh do đơn
bào Leucocytozoon gây ra với các bệnh sau:
Bệnh Marek: không có các biến đổi ở gan, lách, thận phổi ở gà dưới 45 ngày tuổi và trên 1 năm tuổi Bệnh Marek không có ở thủy cầm và ít gặp ở hoang cầm
Bệnh bạch huyết (Leucosis): Bệnh ít gặp ở gia cầm dưới 6 tháng tuổi Bệnh có rất nhiều thể khác nhau như Leucosis dạng võng mô, Leucosis hồng cầu, Leucosis tủy xương, Leucosis limfo Mỗi thể bệnh khác nhau chúng lại
có những đặc điểm riêng khác biệt
Bệnh sốt rét gà: Các biểu hiện về dịch tễ và lâm sàng của bệnh sốt rét
gà rất giống với bệnh do Leucocytozoon gây ra Tuy nhiên, khi mổ khám thì bệnh sốt rét gà không có những biểu hiện giống như bệnh Leucocytozoon
Gan của gà bị sốt rét có màu xanh đen hoặc đen, kích thước nhỏ hơn bình thường, túi mật căng chứa đầy mật
* Với gia cầm chết:
Phương pháp chẩn đoán sau khi gia cầm chết là phương pháp chuẩn đoán bệnh chính xác nhất Việc chẩn đoán được tiến hành qua phương pháp
mổ khám, kiểm tra bệnh tích kết hợp với việc lấy các cơ quan nội tạng như
gan, lách, phổi, thận kiểm tra để tìm đơn bào Leucocytozoon ký sinh
2.1.2.6 Phòng trị bệnh Leucocytozoon cho gà
* Trị bệnh Leucocytozoon cho gà
Có thể sử dụng một trong các loại Sulfonamide sau để điều trị gà bệnh:
- Pyrimethamin: dùng liều 0,5 - 1 ppm/ kg thức ăn, cho gà ăn 2 tuần liên tục
- Sulfadimethoxin: dùng liều 50 - 75 mg/ kg thức ăn, cho gà ăn liên tục
1 - 2 tuần
- Sulfaquinoxalin: dùng liều 50 mg/ kg thức ăn, cho gà ăn liên tục 1 - 2 tuần
Để nâng cao hiệu quả điều trị, dùng phối hợp thuốc Sulfonamide với Vitamin B1, Vitamin C
Trang 28Orlov F M (1975) [22] cho biết: có ý kiến cho rằng, aterbin có tác dụng đến giao tử bào thành thục
Tuy nhiên, Saif Y M (2003) [46] cho rằng: Hiệu quả điều trị bệnh
Leucocytozoonsis là hạn chế Đối với L simondi, điều trị không có hiệu quả
Pyrimethamine (1ppm) và Sulfadimethoxine (10ppm) sử dụng đồng thời để
điều trị bệnh cũng không có hiệu quả với L caullergyi
Theo Lê Văn Năm (2001) [21]: Các loại thuốc có chứa các nguyên liệu như: Sulfamonomethoxin, Salfadimethoxin, Clopidol đều có tác dụng phòng
trị tốt bệnh do Leucocytozoon gây ra Tác giả cho biết thêm, hiện nay bệnh ký
sinh trùng đường máu thường bị bội nhiễm và ghép với nhiều bệnh khác Do
đó chúng ta cần phải phối hợp các phác đồ khi điều trị thì mới có hiệu quả điều trị cao
- Không nên xây chuồng ở những vùng gần đồng ruộng, vùng có ao hồ hay vùng có diện tích mặt nước lớn, vì đây là môi trường thích hợp cho ký chủ trung gian phát triển
Bộ Nông nghiệp và Công nghiệp thực phẩm (1993) đưa ra những tiêu chuẩn đối với việc chuẩn bị chuồng trại nuôi gia cầm như sau:
- Phải chuẩn bị đầy đủ chuồng nuôi, rèm che, kho đựng thức ăn, bể chứa nước, dụng cụ chăn nuôi, thuốc thú y, các phương tiện sưởi ấm, làm mát đảm bảo cho số lượng gà định nuôi
- Chuồng nuôi, hệ thống cống rãnh, khu vực kho chứa thức ăn, dụng cụ chăn nuôi phải được vệ sinh đảm bảo, sát trùng triệt để
Trang 29- Cây xanh, cỏ dại cách chuồng 10 - 15 mét phải được phát quang Các động vật cư trú truyền dịch bệnh cho đàn gà như chuột, cáo, chồn, côn trùng, chim tự nhiên phải được tiêu diệt
- Có phòng mổ khám, chẩn đoán bệnh và thiêu xác hoặc hố tự hoại cách
xa khu vực chăn nuôi và cuối hướng gió
2.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước
2.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước
Theo Hoàng Thạch (2004) [24], các cơ quan nội tạng nếu nhiễm
Leucocytozoon Ở cường độ nhẹ thì chưa thấy biến đổi gì, nhưng nếu nhiễm
vừa và nặng (3 - 6 ký sinh trùng trên 1 vi trường) thì xuất hiện sự thoái hoá, biến màu, thậm chí hoại tử từng đám nhỏ, nếu kéo dài thì tăng sinh, làm giảm chức năng hoạt động hoặc bị phá hoại, rõ nhất là gan và lách
Lâm Thị Thu Hương và cs (2005) [7] cho biết: tần suất xuất hiện các
nang Leucocytozoon trên một số cơ quan phủ tạng của gà tương ứng: cơ là
96,22%, phổi là 92,45%, thận là 86,80%, gan là 81,13%
Lê Đức Quyết và cs (2009) [23] cho biết: tỷ lệ nhiễm Leucocytozoon
phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố như: tuổi gia cầm, giống, địa hình, vùng sinh
thái, phương thức chăn nuôi… Kết quả nghiên cứu về Leucocytozoon ở gà tại
một số tỉnh Nam Trung Bộ như sau:
Tỷ lệ nhiễm Leucocytozoon chung là 13,29%, cụ thể ở Phú Yên tỷ lệ
nhiễm là 20%, Bình Định 9,54%, Khánh Hoà 12,04%
Tỷ lệ nhiễm Leucocytozoon cao ở vùng núi (27,34%) và thấp ở vùng
đồng bằng (12,46%)
Tỷ lệ lưu hành Leucocytozoon ở gà địa phương là 12,46%, cao hơn
nhiều so với gà ngoại (7,61%)
Tỷ lệ nhiễm Leucocytozoon cao nhất là ở gà giai đoạn > 6 tuần tuổi
(15,6%), kế đến là ở độ tuổi 4 - 6 tuần (13,5%) và thấp nhất là ở độ tuổi dưới
4 tuần (7,6%)
Bằng phương pháp nhuộm Giemsa và định loại đơn bào Leucocytozoon
ký sinh trên đàn gà ở một số tỉnh Nam Trung Bộ (căn cứ vào hình thái, vị trí, mầu sắc, kích thước của các giao tử gametocyte ký sinh trong máu gà), tác giả
cũng đã xác định có 2 loài ký sinh trên đàn gà là L caullergyi và L sabrazesi
Trang 30Khi khảo sát tình hình nhiễm ký sinh trùng đường máu trên gà thịt tại hai tỉnh Vĩnh Long và Sóc Trăng, Nguyễn Hữu Hưng (2011) [5] cho biết: đàn gà thịt nhiễm ký sinh trùng đường máu với tỷ lệ khá cao (30,47%) Trong đó tỷ lệ nhiễm ở Vĩnh Long là 32,38% và ở Sóc Trăng là 28,22% Tác giả cũng cho biết
gà Tam Hoàng có tỷ lệ nhiễm cao hơn hai giống Neulohman và Brown AAA Gà nuôi nuôi theo kiểu chuồng hở tỷ lệ nhiễm cao hơn so với kiểu chuồng kín
2.2.2 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài
Ở Liên Xô, Nikitin N K và Artemenko M N (1927) trong khi kiểm tra
máu chim trời ở Uciran đã tìm thấy Leucocytozoon ở 7% số chim (Trích
Orlov F M, 1975 [22])
Huchzermeyer F W và Sutherland B (1978) [35] lần đầu tiên đã phát
hiện được Leucocytozoon smithi ở phía Bắc Châu Phi và tác giả cho rằng Simulium nigritarse là ký chủ trung gian của ký sinh trùng này
Morii T và cs (1984) [39] đã thử nghiệm lây nhiễm những thoi trùng
Leucocytozoon được chiết từ tuyến nước bọt của dĩn, kết quả nhận thấy: các
thoi trùng được phân lập vào ngày thứ 2 sau khi dĩn hút máu gia cầm bệnh thì không lây nhiễm được cho gà Các thoi trùng được phân lập vào ngày thứ 3 thì có khả năng gây nhiễm cho gà
Morii T và cs (1986) [39] đã phân lập các thoi trùng từ tuyến nước bọt
của Culicoides arakawa và gây bệnh cho gà Kết quả thấy thoi trùng xuất hiện
trong ngoại vi máu gia cầm vào ngày thứ 15 và biến mất vào ngày thứ 26 sau khi gây nhiễm Kháng nguyên hòa tan được tìm thấy trong huyết thanh của gà gây nhiễm trong khoảng 10 - 17 ngày và kháng thể tương đồng xuất hiện ở ngày thứ 17 sau gây nhiễm
Nakamura K và cs (2001) [40] khi nghiên cứu ảnh hưởng của
Leucocytozoon trên gà đẻ nhận thấy: Leucocytozoon ảnh hưởng nghiêm trọng
đến khả năng sản xuất trứng của gà, thậm chí có thể ngừng đẻ Tìm thấy một
số lượng lớn thể phân liệt thế hệ 2 trong buồng trứng và ống dẫn trứng Gây phù và làm giảm áp lực của các mô lận cận với các mô có đơn bào ký sinh
Steele E J và cs (2001) [48] cho biết: sự phát triển của Leucocytozoon smithi có những nét tương đồng với sự phát triển của các loài Plasmodium và Haemoproteus trong ký chủ trung gian
Trang 31Bằng phương pháp sử dụng phản ứng chuỗi polimerasa (PCR) giao
thức là sự kết hợp của 3 chuỗi PCR riêng biệt của các loài Haemoproteus, Plasmodium và Leucocytozoon, Hellgren O và cs (2004) [33] đã tìm thấy 22 loài ký sinh trùng khác nhau gồm có 4 loài Haemoproteus, 8 loài Plasmodium
và 10 loài Leucocytozoon trong 6 loài chim tước được nghiên cứu
Shane S M (2005) [47] cho biết: việc kết hợp Clopidol anticoccidial trong thức ăn chăn nuôi với các hàm lượng khác nhau từ 125 - 250 ppm đã
ngăn chăn được Leucocytozoonosis ở gà tây tại Hoa Kỳ
Omori S và cs (2008) [45] đã tiến hành phân tích bộ gen của
Leucocytozoon caulleryi, kết quả đã mô tả được bộ gen nhiễm sắc thể của L caulleryi với chiều dài 5.959 bp
Tully T N và cs (2009) [49] cho rằng: việc sử dụng Chloriquine (250 mg/ 120 ml nước uống cho 1 - 2 tuần) hoặc pyrimethamine có thể điều trị
được bệnh do Leucocytozoon gây ra
Có thể sử dụng kết hợp pyrimethamine (1 ppm) với salfadimethoxin (10
ppm) trong thức ăn chăn nuôi để phòng bệnh do L caulleryi và và sử dụng Clopidol (0,0125 - 0,025%) trong thức ăn để phòng bệnh do L smithi gây ra [40]
Hoạt động chăn nuôi vịt tại các bán đảo phía Bắc của Michigan - Seney
đã bị ngừng trệ do Leucocytozoon đã làm chết một số lượng lớn vịt, gây thiệt
hại nghiêm trọng về kinh tế cho người chăn nuôi
Mullen G R., Durden L (2009) [41] cho biết: gà đồng cỏ Attwater đang bị đe dọa tấn công bởi một loài ký sinh trùng đường máu thuộc giống
Leucocytozoon, gây nhiều thiệt hại nghiêm trọng
Omori S và cs (2010) [45] đã sử phương pháp phân tích đếm tế bào dòng
chảy, tách giao bào Leucocytozoon để xác định sự có mặt của đơn bào trong máu
Phương pháp này có thể xác định được những mẫu máu bị nhiễm ký sinh trùng đường máu mà các phương pháp thông thường khác không tìm thấy được
Hill A G và cs (2010) [34] sử dụng phương pháp PCR để kiểm tra 107 mẫu máu chim cánh cụt mắt vàng từ 4 khu vực riêng biệt trên khu vực phía nam đảo Oamaru Kết quả kiểm tra thấy 83% số mẫu kiểm tra là dương tính
với Leucocytozoon
Trang 32PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, VẬT LIỆU, NỘI DUNG
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng nghiên cứu
- Gà nuôi tại một số địa phương thuộc huyện Yên Thế - tỉnh Bắc Giang
- Bệnh đơn bào Leucocytozoon ở gà
3.2 Địa điểm, thời gian nghiên cứu
3.2.1 Địa điểm nghiên cứu
- Đề tài được thực hiện ở các nông hộ, các trại chăn nuôi gà gia đình và tập thể với các quy mô khác nhau tại huyện Yên Thế - tỉnh Bắc Giang
- Địa điểm xét nghiệm mẫu:
+ Phòng thí nghiệm Khoa Chăn nuôi Thú y - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
+ Viện Sốt rét - Ký sinh trùng - Côn trùng Trung ương
3.3.2 Thời gian nghiên cứu
Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 6 năm 2013 đến tháng 11 năm 2013
3.3 Vật liệu nghiên cứu
* Vật liệu nghiên cứu
- Mẫu máu gà để xét nghiệm đơn bào Leucocytozoon
- Gà khỏe và gà bệnh để thử nghiệm hiệu quả điều trị của một số phác
đồ và xây dựng quy trình phòng trị bệnh Leucocytozoon cho gà
- Các mẫu dĩn (để xác định loài dĩn - véc tơ truyền đơn bào
Leucocytozoon cho gà)
* Dụng cụ và hoá chất
- Kính hiển vi quang học, kính lúp
- Bộ kim lấy máu
- Tube tráng chất chống đông máu (dung dịch EDTA 1%)
- Thuốc điều trị bệnh Leucocytozoon ở gà, thuốc phun diệt dĩn - véc tơ truyền bệnh Leucocytozoon cho gà
- Lam kính và lamen
- Thuốc nhuộm giemsa
Trang 33- Dầu Bạch dương, cồn 960, cồn methanol
- Hoá chất và các dụng cụ thí nghiệm khác
3.4 Nội dung nghiên cứu
3.4.1 Đặc điểm dịch tễ bệnh đơn bào Leucocytozoon ở gà tại huyện Yên Thế - tỉnh Bắc Giang
* Thực trạng công tác phòng bệnh Leucocytozoon cho gà ở các địa phương thuộc huyện Yên Thế - tỉnh Bắc Giang
* Tình hình nhiễm đơn bào Leucocytozoon ở gà tại huyện Yên Thế - tỉnh Bắc Giang
- Tỷ lệ và cường độ nhiễm Leucocytozoon ở gà tại các địa phương
- Tỷ lệ và cường độ nhiễm Leucocytozoon ở gà theo tháng trong năm
- Tỷ lệ và cường độ nhiễm Leucocytozoon theo tuổi gà
- Tỷ lệ và cường độ nhiễm Leucocytozoon theo phương thức chăn nuôi
- Tỷ lệ và cường độ nhiễm Leucocytozoon theo điều kiện vệ sinh thú y
- Thành phần loài đơn bào Leucocytozoon ký sinh và gây bệnh cho gà
tại huyện Yên Thế - tỉnh Bắc Giang
* Nghiên cứu thành phần các loài dĩn - véc tơ truyền bệnh Leucocytozoon cho gà tại huyện Yên Thế - tỉnh Bắc Giang
- Thành phần loài dĩn - véc tơ truyền Leucocytozoon cho gà ở các
địa phương
3.4.2 Nghiên cứu biện pháp phòng và trị bệnh
Nghiên cứu biện pháp trị bệnh Leucocytozoon cho gà
- Xác định hiệu lực và độ an toàn của 3 phác đồ điều trị bệnh
Xác định bằng phương pháp trực tiếp quan sát, hỏi chủ hộ trong một số
hộ chăn nuôi gia cầm trong 4 xã của huyện Yên Thế - tỉnh Bắc Giang Cụ thể như sau:
Trang 34Địa phương (Xã) Số hộ điều tra
* Phương pháp thu thập mẫu
Mẫu máu được thu thập ngẫu nhiên từ gà nuôi tại các nông hộ, các trại chăn nuôi gà ở các địa phương của huyện Yên Thế - tỉnh Bắc Giang
Chuẩn bị những phiến kính mới đã được tẩy mỡ bằng cách ngâm và rửa
xà phòng, sau đó ngâm trong cồn 960 trong 3 giờ rồi lau khô bằng khăn mềm không có xơ Đồng thời, chọn những lamen kích thước 2 x 2 cm, rìa thật phẳng và nhẵn
Trước khi lấy mẫu máu xét nghiệm, quan sát kỹ các biểu hiện lâm sàng của gà Dùng kim lấy 1 giọt máu tươi của gà tại tĩnh mạch cánh, đặt lên phiến kính, cách bờ phiến kính khoảng 1 cm Đặt cạnh của một lamen lên giọt máu, nghiêng 450 với phiến kính Khi giọt máu đã tràn ra khắp cạnh của lamen thì đẩy lamen về phía trước, làm cho máu được dàn thành một lớp mỏng và đều trên phiến kính Cố định tiêu bản bằng cồn methanol Làm 3 tiêu bản máu/ gà Tiêu bản được ghi số thứ tự bằng bút chì mỡ Ghi nhật ký thí nghiệm các