1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ bệnh đơn bào do Leucocytozoon gây ra ở gà nuôi tại huyện Yên Thế tỉnh Bắc Giang và thử nghiệm phác đồ điều trị

68 600 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 68
Dung lượng 609,26 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI CẢM ƠN Được sự đồng ý của Ban giám hiệu nhà trường, Ban chủ nhiệm khoa Chăn nuôi Thú y, giảng viên hướng dẫn và sự nhất trí của Ban lãnh đạo Trạm thú y huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang,

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

- -

HOÀNG VĂN LÂM

Tên đề tài:

"NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ BỆNH ĐƠN BÀO DO

LEUCOCYTOZOON GÂY RA Ở GÀ NUÔI TẠI HUYỆN YÊN THẾ

TỈNH BẮC GIANG VÀ THỬ NGHIỆM PHÁC ĐỒ ĐIỀU TRỊ"

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Thú y Khoa : Chăn nuôi Thú y Khóa học : 2009 - 2014

Giảng viên hướng dẫn: ThS Dương Thị Hồng Duyên Khoa Chăn nuôi Thú y - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên

Thái Nguyên - 2013

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Được sự đồng ý của Ban giám hiệu nhà trường, Ban chủ nhiệm khoa Chăn nuôi Thú y, giảng viên hướng dẫn và sự nhất trí của Ban lãnh đạo Trạm

thú y huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang, em thực hiện đề tài: "Nghiên cứu đặc

điểm dịch tễ bệnh đơn bào do Leucocytozoon gây ra ở gà nuôi tại huyện Yên Thế - tỉnh Bắc Giang và thử nghiệm phác đồ điều trị"

Trong quá trình thực hiện đề tài em đã nhận được sự quan tâm của Nhà trường, Khoa Chăn nuôi Thú y, cán bộ Trạm thú y huyện Yên Thế - tỉnh Bắc Giang, các hộ gia đình tại các xã, gia đình và bạn bè Nhân dịp này em xin gửi lời trân trọng cảm ơn đến:

Cô giáo ThS.NCS Dương Thị Hồng Duyên, GS TS Nguyễn Thị Kim Lan đã tận tình giúp đỡ và trực tiếp hướng dẫn em trong suốt quá trình thực

tập tốt nghiệp

Ban giám hiệu Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, Ban chủ nhiệm khoa Chăn nuôi Thú y cùng toàn thể các thầy cô giáo trong khoa đã tận tình dìu dắt, dạy dỗ em trong suốt thời gian học tập tại trường cũng như thời gian thực tập tốt nghiệp

Ban lãnh đạo Trạm thú y huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang cùng các cán

bộ kỹ thuật của Trạm đã tiếp nhận và tạo điều kiện giúp đỡ em em trong suốt quá trình thực hiện đề tài

Đồng thời, em xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè luôn động viên, giúp đỡ, tạo mọi thuận lợi để em hoàn thành tốt quá trình thực tập tốt nghiệp

Em xin chân thành cảm ơn!

Thái Nguyên, ngày 2 tháng 12 năm 2013

Sinh viên Hoàng Văn Lâm

Trang 3

DANH MỤC CÁC BẢNG

Trang Bảng 4.1: Thực trạng công tác phòng chống bệnh Leucocytozoon cho gà ở

huyện Yên Thế - tỉnh Bắc Giang 32

Bảng 4.2: Tỷ lệ và cường độ nhiễm Leucocytozoon ở gà theo địa phương 34 Bảng 4.3: Tỷ lệ và cường độ nhiễm Leucocytozoon ở gà theo tháng 38 Bảng 4.4: Tỷ lệ và cường độ nhiễm Leucocytozoon ở gà theo tuổi 40 Bảng 4.5: Tỷ lệ và cường độ nhiễm Leucocytozoon ở gà theo phương thức

chăn nuôi 42

Bảng 4.6: Tỷ lệ và cường độ nhiễm Leucocytozoon ở gà theo tình trạng vệ

sinh thú y 44 Bảng 4.7: Thành phần loài và tần suất xuất hiện các loài dĩn hút máu ở các

địa phương nghiên cứu 46 Bảng 4.8: Quy luật hoạt động của các loài dĩn từ tháng 01 đến tháng 05 47 Bảng 4.9 Quy luật hoạt động trong ngày của các loài dĩn 48

Bảng 4.10: Thành phần loài Leucocytozoon gây bệnh ở gà tại huyện Lục

Trang 4

DANH MỤC CÁC HÌNH

Trang Hình 2.1 Sơ đồ minh họa vòng đời Leucocytozoon ở gà 8 Hình 4.1 Biểu đồ về tỷ lệ nhiễm đơn bào Leucocytozoon ở gà tại 4 xã thuộc

huyện Yên Thế - tỉnh Bắc Giang 36

Hình 4.2 Biểu đồ về cường độ nhiễm đơn bào Leucocytozoon ở gà tại 4 xã

thuộc huyện Yên Thế - tỉnh Bắc Giang 37

Hình 4.3: Biểu đồ về tỷ lệ nhiễm đơn bào Leucocytozoon ở gà qua cá tháng 40 Hình 4.4: Biểu đồ Tỷ lệ và cường độ nhiễm Leucocytozoon ở gà theo tuổi 41

Hình 4.5 Tỷ lệ và cường độ nhiễm leucocytozoon ở gà theo phương thức

chăn nuôi 42

Hình 4.6 Biểu đồ tỷ lệ nhiễm Leucocytozoon ở gà theo tình trạng

vệ sinh thú y 45

Trang 5

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

Cs : Cộng sự KCTG : Ký chủ trung gian Nxb : Nhà xuất bản

N : Dung lượng mẫu

P : Độ tin cậy

S : Simulium

Spp : Species VSTY : Vệ sinh thú y

L : Leucocytozoon

C : Culicoides

Trang 6

MỤC LỤC

Trang

PHẦN 1: MỞ ĐẦU 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục tiêu của đề tài 2

1.3 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài 2

PHẦN 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

2.1 Cơ sở khoa học của đề tài 3

2.1.1 Đặc điểm của đơn bào Leucocytozoon ký sinh ở gà 3

2.1.1.1 Vị trí của đơn bào Leucocytozoon trong hệ thống phân loại động vật 3 2.1.1.2 Đặc điểm hình thái các loài Leucocytozoon ở gà 4

2.1.1.3 Vòng đời của Leucocytozoon ở gà 5

2.1.2 Bệnh đơn bào Leucocytozoon ở gà 10

2.1.2.1 Những thiệt hại kinh tế do bệnh Leucocytozoon gây ra 10

2.1.2.2 Dịch tễ học bệnh Leucocytozoon ở gà 11

2.1.2.3 Cơ chế sinh bệnh của bệnh Leucocytozoon 13

2.1.2.4 Triệu chứng và bệnh tích bệnh Leucocytozoon 13

2.1.2.5 Chẩn đoán bệnh Leucocytozoon 17

2.1.2.6 Phòng trị bệnh Leucocytozoon cho gà 18

2.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 20

2.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 20

2.2.2 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài 21

PHẦN 3: ĐỐI TƯỢNG, VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 23

3.1 Đối tượng nghiên cứu 23

3.2 Địa điểm, thời gian nghiên cứu 23

3.2.1 Địa điểm nghiên cứu 23

Trang 7

3.3.2 Thời gian nghiên cứu 23

3.3 Vật liệu nghiên cứu 23

3.4 Nội dung nghiên cứu 24

3.4.1 Đặc điểm dịch tễ bệnh đơn bào Leucocytozoon ở gà tại huyện

Yên Thế - tỉnh Bắc Giang 24

3.4.2 Nghiên cứu biện pháp phòng và trị bệnh 24

3.5 Phương pháp nghiên cứu 24

3.5.1 Phương pháp xác định tình trạng áp dụng các biện pháp phòng bệnh Leucocytozoon cho gà ở các địa phương nghiên cứu 24

3.5.2 Bố trí lấy mẫu và phương pháp xác định tỷ lệ, cường độ nhiễm Leucocytozoon ở gà tại các địa phương 25

3.5.2.1 Bố trí thu thập mẫu 25

3.5.2.2 Phương pháp xác định tỷ lệ và cường độ nhiễm Lecocytozoon ở gà tại các địa phương 25

3.5.3 Bố trí lấy mẫu và phương pháp xác định tỷ lệ, cường độ nhiễm Leucocytozoon ở gà theo tháng trong thời gian nghiên cứu 27

3.5.3 1 Bố trí lấy mẫu 27

3.5.3 2 Phương pháp xác định tỷ lệ và cường độ nhiễm Leucocytozoon

theo tháng 27

3.5.4 Bố trí lấy mẫu và phương pháp xác định tỷ lệ, cường độ nhiễm Leucocytozoon ở gà theo tuổi gà 27

3.5.4.1 Bố trí lấy mẫu 27

3.5.4.2 Phương pháp xác định tỷ lệ và cường độ nhiễm Leucocytozoon ở gà theo các lứa tuổi 28

3.5.5 Bố trí lấy mẫu và phương pháp xác định tỷ lệ, cường độ nhiễm Leucocytozoon ở gà theo phương thức chăn nuôi 28

3.5.5.1 Bố trí lấy mẫu 28

3.5.5.2 Phương pháp xác định tỷ lệ và cường độ nhiễm Leucocytozoon ở gà theo phương thức chăn nuôi 28

Trang 8

3.5.6 Bố trí lấy mẫu và phương pháp xác định tỷ lệ, cường độ nhiễm

Leucocytozoon theo tình trạng vệ sinh thú y 28

3.5.6.1 Bố trí lấy mẫu 28

3.5.6.2 Phương pháp xác định tỷ lệ và cường độ nhiễm Leucocytozoon ở gà theo tình trạng VSTY 29

3.5.7 Phương pháp bố trí theo dõi xác định loài Leucocytozoon ký sinh ở gà tại huyện Yên Thế - tỉnh Bắc Giang 29

3.5.8 Bố trí thu thập mẫu dĩn và phương pháp xác định loài dĩn - véc tơ truyền Leucocytozoon tại huyện Yên Thế - tỉnh Bắc Giang 29

3.5.8.1 Bố trí thu thập mẫu dĩn 29

3.5.8.2 Phương pháp xác định loài dĩn 29

3.5.9 Phương pháp đánh giá hiệu lực và độ an toàn của 3 phác đồ điều trị bệnh Leucocytozoon cho gà 30

3.5.9.1 Phương pháp đánh giá hiệu lực và độ an toàn của 3 phác đồ điều trị bệnh Leucocytozoon trên gà thí nghiệm 30

3.5.9.2 Phương pháp đánh giá hiệu lực và độ an toàn của 3 phác đồ điều trị bệnh Leucocytozoon cho gà trên thực địa 31

PHẦN 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 32

4.1 Đặc điểm dịch tễ bệnh đơn bào Leucocytozoon ở gà tại huyện Yên Thế - tỉnh Bắc Giang 32

4.1.1 Thực trạng phòng chống bệnh đơn bào Leucocytozoon cho gà ở huyện Yên Thế - tỉnh Bắc Giang 32

4.2 Tình hình nhiễm đơn bào đường máu Leucocytozoon ở gà 34

4.2.1 Tỷ lệ và cường độ nhiễm Leucocytozoon ở gà theo địa phương 34

4.2.2 Tỷ lệ và cường độ nhiễm Leucocytozoon ở gà theo tháng

trong năm 38

4.2.3 Tỷ lệ và cường độ nhiễm Leucocytozoon theo tuổi gà 40

4.2.4 Tỷ lệ và cường độ nhiễm Leucocytozoon theo phương thức chăn nuôi gà 42

Trang 9

4.2.5 Tỷ lệ và cường độ nhiễm Leucocytozoon ở gà theo tình trạng vệ

sinh thú y 44

4.2.6 Nghiên cứu đặc điểm hoạt động của dĩn - véc tơ truyền Leucocytozoon cho gà 46

4.2.6.1 Thành phần loài dĩn - véc tơ truyền Leucocytozoon cho gà ở các

địa phương 46

4.2.6.2 Quy luật hoạt động của các loài dĩn ở các địa phương nghiên cứu 47

4.3 Nghiên cứu hiệu quả của 3 phác đồ điều trị bệnh Leucocytozoon cho gà 50

PHẦN 5: KẾT LUẬN TỒN TẠI VÀ ĐỀ NGHỊ 54

5.1 Kết luận 54

5.1.1 Đặc điểm dịch tễ bệnh đơn bào Leucocytozoon ở gà tại 4 xã thuộc huyện Yên Thế - tỉnh Bắc Giang 54

5.1.2 Thử nghiệm phác đồ điều trị Leucocytozoon ở gà 54

5.2 Đề nghị 55

TÀI LIỆU THAM KHẢO 56

I Tài liệu tiếng Việt 56

II Tài liệu tiếng Anh 58

Trang 10

Tuy nhiên, cho đến nay chăn nuôi vẫn đang tồn tại một số vấn đề, các

hộ gia đình chăn nuôi gà chủ yếu với số lượng ít, chuồng trại đơn giản, những gia đình chăn nuôi gà công nghiệp với quy mô nhỏ cũng vẫn chỉ là chăn nuôi bán công nghiệp Vấn đề vệ sinh thú y trong chăn nuôi gà chưa được quan tâm đúng mức, dịch bệnh thường xảy ra, gây trở ngại cho việc phát triển chăn nuôi, gây thiệt hại kinh tế cho nhiều gia đình và cơ sở chăn nuôi gà

Ngoài những bệnh truyền nhiễm thì bệnh do ký sinh trùng gây ra cũng rất phổ biến trong chăn nuôi gà Nước ta là nước nhiệt đới có khí hậu nóng

ẩm quanh năm nên rất thích hợp cho sự phát triển và lây lan bệnh ký sinh trùng nói chung và bệnh ký sinh trùng đường máu nói riêng Theo Phạm Sỹ Lăng, Phan Địch Lân (2002) [13] đàn gia cầm nước ta thường nhiễm ký sinh trùng với tỷ lệ và cường độ cao, diễn ra quanh năm, bất kể mùa vụ và thời tiết nào Như vậy thiệt hại mà bệnh ký sinh trùng nói chung và bệnh ký sinh trùng đường máu nói riêng là rất rõ rệt

Trong các bệnh ký sinh trùng ở gà, có những bệnh do nhóm đơn bào ký sinh gây ra, chúng chiếm đoạt chất dinh dưỡng, tiết độc tố, gây ra những biến đổi bệnh lý làm cho gà gầy yếu, chậm lớn, giảm mạnh sức sản xuất thịt, trứng Đặc biệt, một số bệnh đơn bào cũng gây ra các “ổ dịch cấp tính”, làm cho gà chết nhanh với tỷ lệ cao không kém các bệnh truyền nhiễm, trong đó

có bệnh đơn bào đường máu Leucocytozoon

Theo Shane S M (2005) [47], Leucocytozoon thuộc nhóm nguyên sinh động vật, thuộc bộ huyết bào tử trùng (Heamosporidia) ký sinh trong máu và

Trang 11

cơ quan nội tạng của nhiều loài gia cầm, trong đó gà là loài mẫn cảm nhất, đặc biệt là gà được nuôi theo phương thức chuồng hở

Bệnh do các loài đơn bào Leucocytozoon ký sinh trong hồng cầu (đôi

khi thấy trong bạch cầu) gây ra xuất huyết, tan vỡ hồng cầu, dẫn đến thiếu máu và ỉa chảy phân xanh màu lá cây, làm gà chết với tỷ lệ cao tới 30 - 50%

Với diện tích đất đồi lớn, chăn nuôi gà tại huyện Yên Thế - tỉnh bắc Giang đã và đang chiếm một số lượng lớn về cơ cấu của ngành chăn nuôi tại địa phương này Tuy nhiên, việc phòng và trị bệnh ký sinh trùng đặc biệt là

bệnh do đơn bào Leucocytozoon gây ra chưa được chú trọng Xuất phát từ nhu cầu thực tế, để góp phần hạn chế thiệt hại do đơn bào Leucocytozoon gây ra,

chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài:" Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ bệnh

đơn bào do Leucocytozoon gây ra ở gà nuôi tại huyện Yên Thế - tỉnh Bắc Giang và thử nghiệm phác đồ điều trị "

1.2 Mục tiêu của đề tài

- Xác định được các loài Leucocytozoon gây bệnh cho gà và đặc điểm dịch tễ bệnh do Leucocytozoon gây ra ở đàn gà của một số địa phương thuộc

huyện Yên Thế - tỉnh Bắc Giang

- Lựa chọn phác đồ điều trị bệnh Leucocytozoon có hiệu quả cho gà

1.3 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài

- Ý nghĩa khoa học

Nghiên cứu đề tài để có những thông tin khoa học về đặc điểm dịch tễ

bệnh đơn bào Leucocytozoon ở gà tại một số địa phương thuộc huyện Yên

Thế - tỉnh Bắc Giang, đồng thời có cơ sở khoa học để xây dựng quy trình

phòng trị bệnh đơn bào Leucocytozoon cho gà có hiệu quả cao

- Ý nghĩa thực tiễn

Kết quả của đề tài là cơ sở để khuyến cáo người chăn nuôi gà áp dụng

các biện pháp phòng trị bệnh đơn bào Leucocytozoon, nhằm hạn chế tỷ lệ nhiễm Leucocytozoon cho gà, hạn chế thiệt hại do Leucocytozoon gây ra, góp

phần nâng cao năng suất chăn nuôi, thúc đẩy chăn nuôi gà nói riêng và chăn nuôi gia cầm nói chung phát triển

Trang 12

PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 Cơ sở khoa học của đề tài

Ký sinh trùng là những sinh vật sinh trưởng và phát triển trong hoặc trên cơ thể một sinh vật khác - gọi là ký chủ, chiếm đoạt chất dinh dưỡng của

ký chủ mà nó ký sinh Trong phân loại học, dựa theo cấu trúc cơ thể của ký sinh trùng mà người ta chia những ký sinh trùng động vật ra làm 3 ngành: nguyên trùng, giun sán và tiết túc Trong đó, nguyên trùng là ký sinh trùng

đơn bào (protozoa), cơ thể chỉ gồm một tế bào, thường ký sinh trong máu (Trypanosoma, Histomonas, Leucocytozoon…) hoặc trong ruột ký chủ (cầu

trùng) (Dương Công Thuận, 1995) [27]

Bệnh do đơn bào Leucocytozoon gây ra có ở nhiều nước trên thế giới

Tỷ lệ lưu hành Leucocytozoon trên đàn gà ở một số nước Châu Á khá cao: ở

Trung Quốc (7,1%), Thái Lan (13 - 18%), Malaysia (15 - 31%)

Leucocytozoon ký sinh trong hồng cầu gà, đôi khi ký sinh trong bạch cầu (tùy

theo loài), làm tan vỡ hồng cầu, gây bần huyết và gây chết gà với tỷ lệ cao, ảnh hưởng đến thu nhập của người chăn nuôi gà Bệnh cũng được phát hiện ở nhiều loài chim hoang dã

2.1.1 Đặc điểm của đơn bào Leucocytozoon ký sinh ở gà

2.1.1.1 Vị trí của đơn bào Leucocytozoon trong hệ thống phân loại động vật

Đơn bào nói chung là những nguyên sinh động vật không có khí quan

di động, thân thể khi thì trần và có thể biến dạng được, khi thì có màng bọc và

có hình dạng nhất định Đơn bào sống ký sinh ở các tế bào, các mô hay dịch thể, có thể suốt đời hoặc những giai đoạn đầu trong vòng đời của chúng Chúng tự nuôi dưỡng bằng cách thẩm thấu dinh dưỡng chiếm đoạt của ký chủ qua bề mặt cơ thể

Các loài đơn bào thuộc giống Leucocytozoon ký sinh trong máu của

nhiều loài gia cầm, thủy cầm, chim và nhiều loài chim hoang dã Gà là vật

chủ cảm thụ đơn bào Leucocytozoon mạnh nhất Bệnh được Ziemann phát

hiện lần đầu tiên vào năm 1898 Từ đó đến nay, trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu về bệnh

Trang 13

Theo Levine N D (1985) [38], Leucocytozoon gây bệnh cho gà có vị

trí trong hệ thống phân loại như sau:

Ngành Protozoa

Lớp Sporozoa

Bộ Haemosporidia

Họ Leucocytozoidae Giống Leucocytozoon Loài L caullergyi (Mathis et Leger, 1909)

L sabrazeis (Mathis et Leger, 1910)

L simondi (Mathis et Leger, 1910)

L smithi (Laveran et Lucet, 1905)

L andrewsi (Atchley, 1951)

L schufneri (Prowazek, 1912)

L schoutedeni (Rodham Pons et Bequaert, 1913) Đến nay, các nhà khoa học đã phát hiện được 107 loài Leucocytozoon spp

ký sinh và gây bệnh cho gà, gà tây, vịt, ngỗng và nhiều loài chim hoang dã

Phạm Sỹ Lăng và cs (2005) [14]; (2010) [18]: có 4 loài đơn bào được xác định là tác nhân gây bệnh chính cho gà và các vật chủ khác:

Các loài dĩn Simulium spp Gà tây

2.1.1.2 Đặc điểm hình thái các loài Leucocytozoon ở gà

Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [9] cơ thể đơn bào thường do một tế bào rất nhỏ cấu thành, tổ chức của đơn bào gồm màng tế bào, chất nguyên sinh, hạt hoặc nhân tế bào

Trang 14

Đơn bào Leucocytozoon ký sinh ở hồng cầu, bạch cầu, các nội tạng của

gà và các loài chim ở hai dạng: dạng tiểu thể hình dùi trống, hoặc hình thoi nhọn hai đầu với kích thước từ 15 - 20 µm; dạng bào tử hình trứng với kích thước từ 20 - 25 µm

Phạm Sỹ Lăng và cs (2005) [14] cho biết: trong quá trình phát triển ở

ký chủ cũng như ở véc tơ trung gian truyền bệnh, các loài Leucocytozoon có

nhiều hình dạng khác nhau Kích thước của chúng thay đổi tùy thuộc vào

dạng và loài đơn bào Leucocytozoon

- Dạng bào tử (Sporozoite): hình thuẫn hoặc hình elip nhọn 2 dầu, kích

thước 10 - 15 µm Thể này thấy ở tuyến nước bọt của dĩn (véc tơ trung gian truyền bệnh)

- Dạng tiểu thể (Merozoite): hình tròn, hình trứng, kích thước 15 - 20 µm

- Dạng giao tử (Schizont): hình elip, thon nhỏ 2 đầu, kích thước 20 - 45 µm

- Dạng đại giao tử (Macrogametocyte): hình đa giác, gần tròn, kích

thước 350 - 400 µm

- Dạng tiểu phối tử (Microgametocyte): hình thuẫn, hình trứng, kích

thước 20 - 25 µm

Theo Phạm Sỹ Lăng và Tô Long Thành (2006) [15]; Phạm Sỹ Lăng và

cs (2008) [16], hai loài L caullergyi và L sabrazeis có hình dạng gần giống

nhau, chỉ khác về tính chất gây bệnh Chúng có dạng hình cầu, hình bầu dục, hình lưỡi liềm; kích thước 20 x 5 µm, không có sắc tố khi nhuộm Giemsa, ký sinh ở hồng cầu của gà, gà rừng

2.1.1.3 Vòng đời của Leucocytozoon ở gà

Saif Y M (2003) [46] cho rằng: giai đoạn sinh bào tử diễn ra trên vật chủ trung gian và có thể được hoàn thành sau 3 - 4 ngày Noãn nang phát triển

và có thể tìm thấy trong đường tiêu hóa của dĩn trong vòng 12 giờ sau khi dĩn hút máu Sau đó các noãn nang này di chuyển đến tuyến nước bọt của dĩn, có thể tìm thấy noãn nang ở tuyến nước bọt dĩn sớm nhất sau khi dĩn hút máu gà bệnh 18 ngày

Trang 15

Phạm Sỹ Lăng và cs (2005) [14] cho biết: các loài Leucocytozoon có

vòng đời rất phức tạp, cần vật chủ trung gian là các loài dĩn thuộc giống

Simulium spp và Culicoides spp Tuy đặc điểm thời tiết khí hậu của các vùng

sinh thái khác nhau mà thành phần loài dĩn cũng thay đổi

Sau khi xâm nhập vào dĩn do dĩn hút máu gà bệnh, các tiểu thể

(Merozoite) phát triển qua một số giai đoạn ở vách dạ dày thành noãn nang để thành thể bào tử (Sporozoite) Thể bào tử chuyển lên tuyến nước bọt của dĩn

sau thời gian phát triển khoảng 25 ngày Khi dĩn hút máu các loài vật chủ (gà, các loài gia cầm khác và chim hoang dã) sẽ truyền mầm bệnh vào máu

Các bào tử từ máu xâm nhập vào các tế bào nội quan như: gan, lách,

phổi, thận, tổ chức cơ để trở thành giao tử (Schizont) Các giao tử vào hồng cầu phát triển thành tiểu thể (Merozoite), giao tử thể (Gametocyte), đại giao tử (Marcrogametocyte) và tiểu giao tử (Mircrogametocyte)

Khi dĩn hút máu gia cầm bệnh, vào cơ thể dĩn, các tiểu thể lại phát triển

thành noãn nang (Oocyst), rồi bào tử (Sporozoite) trong vách dạ dày dĩn và

vòng đời lại được lặp lại

Tác giả Lê Minh Thành cho biết vòng đời của Leucocytozoon bao gồm

các giai đoạn như sau:

* Giai đoạn ở tế bào chủ:

Gia cầm bị dĩn - ký chủ trung gian truyền bệnh đốt và truyền mầm bệnh

(các bào tử Sporozoite) vào cơ thể Khi vào cơ thể gia cầm, mầm bệnh theo

máu tới gan, lách, thận, não… Tại đây, chúng xâm nhập vào các tế bào của ký chủ và bắt đầu sinh sản vô tính bằng hình thức liệt phân, kết quả từ 1

Sporozoit đã tạo ra một lượng lớn Merozoite Chính những Merozoite này mới

có khả năng xâm nhập vào máu và ký sinh ở hồng cầu (quá trình này mất 4 - 6 ngày hoặc kéo dài hơn tùy loài)

Quá trình sinh sản của đơn bào ở trong tế bào gan của vật chủ không có

chu kỳ nhất định Sau khi phát triển ở gan, tất cả các Merozoite đều vào máu

Trang 16

* Giai đoạn ở trong hồng cầu: giai đoạn này tạo thể tự dưỡng và thể phân liệt trong đó có thể mang giới tính (giao tử đực và giao tử cái) Giai đoạn

ở trong hồng cầu bắt đầu từ khi các Merozoite từ gan vào máu, tiếp cận với bề mặt hồng cầu có những thụ thể Receptor tương ứng và xâm nhập vào hồng

cầu qua 5 giai đoạn:

- Nhận diện và gắn bám

- Hình thành điểm tiếp giáp

- Tạo nên màng không bào liên tiếp màng hồng cầu

- Lọt vào màng không bào qua điểm tiếp nối chuyển động

- Hồng cầu hàn kín sau khi Merozoite lọt vào

Sau khi lọt vào trong hồng cầu, Merozoite hình thành không bào và phát

triển trong hồng cầu theo kiểu có chu kỳ, qua các thể:

Thể tự dưỡng (Trophozoite): gồm thể Trophozoite non (thể nhẫn), thể Trophozoite phát triển (thể amip) và thể Trophozoite già

Thể phân liệt (Schizont) gồm: Schizont non và Schizont già

Sau khi kết thúc 1 chu kỳ phát triển, các Merozoite trong Schizont phá

vỡ hồng cầu vào máu, một số bị thực bào hoặc chết, một số xâm nhiễm vào hồng cầu khác và tiếp tục phát triển theo chu kỳ tương tự

Sau một số chu kỳ, có những Merozoite tiếp tục xâm nhập vào hồng cầu, nhưng không tạo thành các thể Merozoite nữa mà phát triển thành thể có giới tính: Gametocyte (Macrogametocyte - giao tử cái và Microgametocyte -

giao tử đực) Sau đó giao tử dực và giao tử cái kết hợp với nhau tạo thành hợp

tử (Zygote), gây phá vỡ hồng cầu và di chuyển trong máu

Khi ký chủ trung gian là dĩn hút máu gia cầm, mầm bệnh sẽ vào ký chủ trung gian và tiếp tục vòng đời

Trong ký chủ trung gian, hợp tử nở ra và phát triển thành dạng trưởng thành (thoi trùng) Chúng di chuyển lên tuyến nước bọt của dĩn và cư trú ở đó Khi dĩn hút máu gia cầm, các thoi trùng theo tuyến nước bọt vào máu của gia cầm và bắt đầu vòng đời mới

Trang 17

Hình 2.1 Sơ đồ minh họa vòng đời Leucocytozoon ở gà

Tuy nhiên Lê Văn Năm (2011) lại cho rằng: chu kỳ phát triển sinh học

của Leucocytozoon gồm 2 giai đoạn chính Giai đoạn thứ nhất là giai đoạn

phát triển trong cơ thể dĩn - véc tơ truyền bệnh và giai đoạn hai là giai đoạn phát triển trong cơ thể vật chủ:

- Giai đoạn phát triển trong cơ thể dĩn - véc tơ truyền bệnh: đây là giai

đoạn hình thành bào tử nang (Sporogony), giai đoạn này kết thúc trong vòng 3 -

4 ngày Vì trong máu của gia cầm bệnh đã có sẵn giao tử đực và giao tử cái, hoặc

hợp tử của Leucocytozoon, nên ngay sau khi hút máu gia cầm bệnh, các tế bào

máu chứa mầm bệnh bị dịch tiêu hóa của ký chủ trung gian (dĩn) làm tan vỡ và

Trang 18

giải phóng ra các giao tử và các hợp tử Chúng nhanh chóng bám vào thành dạ dày và chui vào các tế bào niêm mạc dạ dày, ruột của dĩn Ở đó chúng bắt đầu

phát triển thành bào tử nang (Oocyst) Toàn bộ quá trình này chỉ diễn ra trong

vòng 12 giờ kể từ thời điểm dĩn hút máu gia cầm bệnh lần cuối

Trong mỗi bào tử nang bắt đầu có quá trình sinh trưởng và phát triển

thành 4 thoi trùng (Sporozoite) Các thoi trùng này nhanh chóng lớn lên và di

hành đến cư trú trong tuyến nước bọt của ký chủ trung gian truyền bệnh Chỉ

có các thoi trùng này mới có khả năng truyền bệnh Ký chủ trung gian truyền bệnh cho gia cầm thụ cảm thông qua việc hút máu của gia cầm bệnh, sau đó hút máu của gia cầm khỏe và truyền nước bọt kèm theo thoi trùng gây bệnh vào cơ thể gia cầm khỏe Như vậy, kể từ khi dĩn hút máu gia cầm bệnh lần cuối đến lúc có khả năng truyền bệnh phải mất 18 ngày

- Giai đoạn phát triển của Leucocytozoon trong cơ thể gia cầm thụ cảm

Ngay sau khi thoi trùng theo nước bọt của ký chủ trung gian truyền bệnh xâm nhập vào cơ thể gia cầm, chúng lột xác và hình thành nên các thể phân lập

trung gian (Merozoite), các thể phân lập trung gian này bám ngay vào các tế

bào máu và theo máu đi khắp cơ thể Từ đây, chúng phát triển theo hai hướng:

Hướng thứ nhất: Chúng chui vào và ký sinh trong các tế bào máu, sinh

trưởng và phát triển theo phương thức tự nhân đôi để tạo ra các thể phân lập

thế hệ 1 (Schizont - 1) Các Schizont thế hệ 1 này lớn lên nhanh chóng và tiết

ra một chất làm tan hồng cầu, chất đó được gọi là chất kháng hồng cầu (anti- erythrocyte) Dưới tác động cơ học của nhiều thể phân lập đã sinh ra trong mỗi hồng cầu, và dưới tác động của chất kháng hồng cầu, một số lượng lớn hồng cầu bị phá vỡ và giải phóng ra nhiều thể phân lập thế hệ 1, đây là nguyên nhân chính dẫn đến thiếu máu, tăng Hemobilirubin, máu trở nên loãng, nhớt và khó đông Các thể phân lập thế hệ 1 lập tức tấn công và ký sinh tiếp vào các tế bào hồng cầu mới, chúng lớn lên và lại nhân đôi để hình thành

thể phân lập thế hệ 2 (Schizont - 2), cứ tiếp tục như vậy chúng hình thành thể phân lập thế hệ 3 (Schizont - 3) thì dừng lại và bắt đầu hình thành các giao tử (Gametocyte) Giao tử đực có kích thước nhỏ gọi là Microgametocyte và giao

tử cái có kích thước lớn hơn gọi là Macrogametocyte Kết thúc giai đoạn sinh

sản vô tính và bắt đầu giai đoạn sinh sản hữu tính

Trang 19

Giai đoạn sinh sản hữu tính xảy ra trong các tế bào hồng cầu Giao tử đực chui vào giao tử cái để thụ tinh và hình thành nên hợp tử Hợp tử được bọc bởi một màng và được gọi là bào tử, có kích thước trung bình 14,5 - 5,5

µm Sau đó, chúng phát triển thành các bào tử hình thoi, có kích thước lên đến

45 µm Chỉ có các thoi trùng này mới có khả năng lây truyền thông qua côn trùng hút máu gia cầm bệnh và truyền thoi trùng gây bệnh cho gia cầm khỏe

Hướng thứ hai: Sau khi các thoi trùng theo máu di hành khắp nơi trong

cơ thể, một phần chúng cư trú tại các cơ quan như lách, thận, phổi, gan, dạ dày tuyến, dạ dày cơ, ruột non, buồng trứng, ống dẫn trứng và não Tại đây, chúng lột xác và chui vào ký sinh trong các tế bào nội mô, tế bào lưới và đại thực bào của các cơ quan kể trên của gia cầm thụ cảm Trong các tế bào đó chúng bắt đầu sinh trưởng, lớn lên và sinh sản theo phương thức tự nhân đôi, làm vỡ nát các tế bào của các cơ quan nội tạng ký chủ Sau đó chúng phát

triển và tạo nên thể phân lập cực đại gọi là Megaloschizont với kích thước lên

đến 400 µm và làm tắc nhiều mao mạch của các cơ quan ký chủ Để tiếp tục

phát triển, trong mỗi Megaloschizont hình thành nên 2 thể phân lập trung gian Merozoite, chúng lớn lên và rời khỏi Megaloschizont, rời khỏi tế bào của cơ

quan ký chủ, chui vào các tế bào máu để ký sinh và quá trình phát triển được tiếp tục lặp lại như hướng thứ nhất - kết thúc giai đoạn sinh sản vô tính trong các tế bào nội mô ở các cơ quan nội tạng của gia cầm thụ cảm

* Tính chuyên biệt của Leucocytozoon

Theo Johannes Kaufmann (1996) [36], mỗi loài Leucocytozoon chỉ ký

sinh trong một hoặc một số ký chủ nhất định

2.1.2 Bệnh đơn bào Leucocytozoon ở gà

2.1.2.1 Những thiệt hại kinh tế do bệnh Leucocytozoon gây ra

Bệnh đơn bào Leucocytozoon ở gà không gây thành ổ dịch lớn nguy

hiểm, ít làm cho gà chết đột ngột và chết hàng loạt (trừ trường hợp đặc biệt) Song, đơn bào này đã gây tác hại nghiêm trọng, làm cho sự sinh trưởng và phát triển của gà bị ngừng trệ, cơ thể gầy còm, thiếu máu, khả năng tăng trọng giảm, số lượng và chất lượng của thịt, trứng giảm, dẫn đến năng suất chăn nuôi giảm thấp

Trang 20

Olsen O W (1986) [43], cho biết: ngoài gà (tỷ lệ nhiễm cao và mắc

bệnh nặng nhất), vịt nhiễm Leucocytozoon cũng thường bị bệnh ở thể nặng,

các triệu chứng lâm sàng thể hiện rõ rệt, tỷ lệ tử vong cao

Theo Shane S M (2005) [47], Leucocytozoonosis thường gặp ở các

nước nhiệt đới, đặc biệt là ở những nơi mà các trang trại nằm gần ao, hồ Đàn gia cầm mắc bệnh giảm mạnh tốc độ tăng trưởng, tỷ lệ chết cao có thể lên đến 100% nếu không được chữa trị kịp thời

Phạm Sỹ Lăng và cs (2005) [14] cho rằng: gà bị bệnh đơn bào đường

máu Leucocytozoon ở thể cấp tính có thể chết đột ngột do xuất huyết các nội

quan và thiếu máu cấp Gà mái giảm đẻ hoặc ngừng đẻ, kém ăn, giảm tăng trọng và gầy yếu nhanh Gà mắc bệnh sẽ chết sau 3 - 6 ngày với tỷ lệ tới trên 50% số gà bị bệnh

Lê Văn Năm (2001) [21] cho biết: tại một số địa phương như Bắc Giang, Thái Nguyên, Bắc Ninh, Hải Dương, Vĩnh Phúc, bệnh đơn bào

Leucocytozoon xuất hiện ở hầu hết các đàn gà nuôi thả vườn với tỷ lệ dao

động từ 40 - 70%, gây thiệt hại vô cùng to lớn cho người chăn nuôi

2.1.2.2 Dịch tễ học bệnh Leucocytozoon ở gà

Lê Đức Quyết và cs (2009) [23] cho biết: tỷ lệ nhiễm Leucocytozoon

phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố như: tuổi gia cầm, giống, địa hình, vùng sinh thái, phương thức chăn nuôi

Theo Lê Văn Năm (2001) [21], bệnh do Leucocytozoon gây ra có tính

chu kỳ rõ rệt, phụ thuộc vào mùa sinh sản và phát triển của côn trùng hút máu truyền bệnh

Loài gây bệnh và động vật mắc bệnh

Trong tự nhiên, gà, gà rừng, chim trĩ và các loài chim thuộc bộ gà

(Galliformes) đều có thể bị bệnh Bệnh từ gà nhà có thể truyền lây sang gà

rừng qua ký chủ trung gian và ngược lại Phạm Sỹ Lăng và cs (2005) [11];

(2010) [15] cho rằng: có 4 loài đơn bào giống Leucocytozoon chủ yếu ký sinh

và gây bệnh cho gà:

* L caulleryi (Mathis et Leger, 1909)

Loài này ký sinh và gây bệnh cho gà nhà, gà rừng ở các nước thuộc Đông và Đông Á: Nhật Bản, Malaysia, Thái Lan, Việt Nam, các bang thuộc

Trang 21

khu vực Bắc Mỹ Vật chủ trung gian của L caulleryi là các loài dĩn thuộc giống Culicoides như: C arakava, C circumscriptus, C odibilis

* L simondi (Mathis et Leger, 1910)

L simondi ký sinh và gây bệnh cho vịt nhà và vịt trời, ngỗng nhà và

ngỗng trời, các loài thuỷ cầm nuôi và hoang dã ở Mỹ, Canada, các nước vùng

Balkan và Việt Nam.Vật chủ trung gian: các loài dĩn thuộc giống Simulium spp

* L smithi (Laveran et Lucet, 1905)

Loài này ký sinh ở gà tây tại các bang thuộc vùng Đông Mỹ (Bắc Dakota, Nebraska), CHLB Đức, các nước vùng Balkan Vật chủ trung gian

của L smithi là các loài dĩn thuộc giống Simulium spp

Lương Văn Huấn và Lê Hữu Khương (1997) [5] cho biết loài L caullergyi có đặc điểm như sau: cơ thể đơn bào hình hơi tròn, kích thước 15,0

-15,5 µm Tế bào vật chủ cũng tròn, kích thước 20 µm Ở trong cơ thể dĩn -

véc tơ truyền bệnh, Zygote có dạng tròn đường kính 14 µm, sau đó kéo dài, kích thước 21µm, chúng xuyên qua vách ruột tạo thành Oocyst hình gần tròn, kích thước 4 -14 x 5-14 µm Oocyst phát triển thành thoi trùng (Sporozoite)

Các thoi trùng đến tuyến nước bọt của dĩn có kích thước 7 - 11 x 1 - 2 µm

Tuổi mắc bệnh: Gà ở các lứa tuổi đều bị bệnh Tuổi gà càng cao tỷ lệ

và cường độ nhiễm bệnh càng tăng

Mùa vụ: Gà mắc bệnh ở tất cả các mùa trong năm, nhưng nhiễm nhiều

và nặng ở mùa Hè và mùa Xuân

Điều kiện vệ sinh thú y: Điều kiện vệ sinh thú y đối với chuồng trại và

khu vực xung quanh chuồng trại, dụng cụ và môi trường chăn nuôi là một

trong những yếu tố có ảnh hưởng lớn tới khả năng nhiễm bệnh Leucocytozoon

của gà Điều này có liên quan mật thiết với sự tồn tại và phát triển của các loài dĩn hút máu - véc tơ truyền bệnh

Trang 22

Yếu tố stress: Các yếu tố strees như chuồng trại chật chội, khí hậu ẩm,

thấp, thức ăn kém dinh dưỡng đóng vai trò thúc đẩy mức độ và tốc độ lây

lan bệnh Leucocytozoon ở gà

2.1.2.3 Cơ chế sinh bệnh của bệnh Leucocytozoon

Bệnh lây truyền từ gà bệnh sang gà khoẻ qua đường máu nhờ vật chủ

trung gian là các loài dĩn thuộc họ Culicoides spp và Simulium spp Dĩn hút

máu của gà bệnh có đơn bào ký sinh trong máu Vào cơ thể dĩn, đơn bào phát triển qua 3 giai đoạn, cuối cùng thành bào tử nằm ở tuyến nước bọt của dĩn Khi dĩn mang mầm bệnh hút máu gà khoẻ, bào tử sẽ được truyền cho gà khoẻ

và gây bệnh cho gà

Các bào tử xâm nhập vào các tế bào nội quan như: gan, lách, phổi,

thận, tổ chức cơ để trở thành bào tử (Schizont); các bào tử vào hồng cầu phát triển thành tiểu thể (Merozoite), giao tử thể (Gametocyte), đại giao tử (Marcrogametocyte) và tiểu giao tử (Mircrogametocyte) Chúng phát triển,

phá huỷ tế bào hồng cầu và gây hoại tử các cơ quan tổ chức, đặc biệt là lách

và gan Đồng thời chúng tiết ra chất anti-erythrocyte làm tan hồng cầu

2.1.2.4 Triệu chứng và bệnh tích bệnh Leucocytozoon

* Triệu chứng bệnh Leucocytozoon

Orlov F M (1975) [22] cho biết: gà tây thường mắc bệnh trước 12 tuần tuổi Gà bệnh bỏ ăn, suy yếu toàn thân, ít vận động, rối loạn vận động Gà tây bắt đầu chết từ 2 - 3 ngày sau khi xuất hiện những triệu chứng đầu tiên

Theo tài liệu của Viện Thú y Quốc gia (2001) [30]; (2002) [31], triệu

chứng chủ yếu của gà mắc bệnh do đơn bào Leucocytozoon gây ra là:

- Ho ra máu và chết đột ngột

- Thiếu máu, đặc biệt mào và tích do thiếu máu nên có màu tím tái

- Nhịp thở nhanh

- Phân có mầu xanh

- Giảm sản lượng trứng và trứng có vỏ mỏng (với gà mái đẻ)

- Xuất huyết da chân

Nguyễn Thị Kim Lan và cs (2009) [11] cho biết: Bệnh thường xảy ra thành dịch tại một số khu vực vùng núi và trung du thuộc các nước Đông

Trang 23

Nam Á, nhất là vào mùa hè và mùa xuân, khi mà các loài dĩn - véc tơ truyền bệnh phát triển và hoạt động mạnh

Thời gian ủ bệnh từ 4 - 7 ngày

Gà bệnh thể hiện các triệu chứng đặc trưng sau:

Thể cấp tính: gà ở lứa tuổi từ 1 - 3 tháng chết đột ngột do xuất huyết các nội tạng, hồng cầu tan vỡ hàng loạt, gây bần huyết cấp tính; ỉa chảy nặng, phân có màu xanh lá cây, thường có lẫn máu Gà mái đang đẻ bị bệnh sẽ giảm

đẻ hoặc ngừng đẻ do đơn bào tác động vào cơ quan sinh sản Gà trưởng thành mắc bệnh sẽ giảm tăng trọng, gầy yếu nhanh, nhưng chết ít hơn gà con Gà ở lứa tuổi từ 1 - 3 tháng bị bệnh sẽ chết sau 3 - 6 ngày với tỷ lệ cao

Lê Văn Năm (2001) [21] cho biết, triệu chứng của gà bị bệnh

Leucocytozoon gồm các thể như sau:

- Thể quá cấp:

Trong suốt thời gian ủ bệnh, gà bị sốt cao nhưng có thể vẫn ăn uống bình thường nên người chăn nuôi hầu như không để ý, hoặc không quan sát thấy những biểu hiện bất thường của đàn gà Bệnh bỗng dưng bùng phát lẻ tẻ khi gặp các yếu tố strees bất lợi, với các triệu chứng điển hình như: đột nhiên

ho hoặc hắt hơi, mào, tích tái nhợt, ộc máu ra miệng, mũi, đôi khi ở cả hậu môn rồi chết Một số khác lại có triệu chứng lừ đừ hoặc có triệu chứng thần kinh, nhảy sốc lên rồi rơi xuống nền dãy dụa và chết Cả hai trường hợp trên đều do dập vỡ gan, hoặc xuất huyết não bởi sự phát triển quá mạnh của các

Leucocytozoon trong các cơ quan đó

Số gà chết như mô tả trên không xảy ra ồ ạt, nhưng tăng dần qua mỗi ngày Nếu không được chẩn đoán đúng và điều trị kịp thời, tỷ lệ chết sẽ rất cao

- Thể cấp tính:

Đây là thể bệnh phổ biến nhất và gắn liền với thời tiết ẩm ướt do mưa phùn kéo dài Khí hậu ẩm thấp tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển, sinh sôi, nảy nở của véc tơ truyền bệnh

Trong những đàn gà mắc bệnh ở thể này, lúc đầu chỉ thấy một số ít gà

có biểu hiện sốt cao, mào thâm tái, sau vài ngày trở nên trắng bệch Khi cắt tiết gà thấy máu rất loãng, khó đông

Trang 24

Gà bị bệnh giảm ăn, ít vận động, đi lại không vững Gà bị tiêu chảy, phân có màu xanh đậm

Gà bệnh gầy sút nhanh, yếu dần và rất khó thở, thở khò khè, phải vươn

cổ ra để thở Nếu độ ẩm không khí cao, chuồng nuôi ẩm thấp thì gà bệnh càng khó thở và rất dễ chết Tuy nhiên, gà chết không ồ ạt, nhưng tỷ lệ chết tăng dần qua mỗi ngày Lúc đầu gà chỉ chết vào ban đêm, về sau chết bất kỳ lúc nào, tỷ lệ chết có thể lên đến 70% Bệnh nặng hơn nếu gà bị bệnh ghép với CRD, Newcastle

Ở gà mái: triệu chứng thường thấy là giảm sản lượng trứng, đồng thời khối lượng trứng của gà bệnh cũng giảm rõ rệt, vỏ trứng mềm, dễ vỡ, hoặc ngược lại vỏ rất dầy Khi cho ấp trứng của những đàn gà đẻ bị mắc bệnh

Leucocytozoon thì tỷ lệ ấp nở giảm, gà mới nở bị chết yểu trong 3 - 5 ngày

đầu chiếm tỷ lệ rất cao

Đây là thể bệnh thường gặp ở gà bị nhiễm số lượng Leucocytozoon ít

Ngoài ra, các loài chim hoang dã, gia cầm sống sót sau khi mắc bệnh hoặc những gia cầm, thủy cầm được chăn nuôi quảng canh cũng có thể bị bệnh ở thể mạn tính

Bệnh có những biểu hiện không rõ ràng, gà vẫn ăn uống bình thường, đôi khi giảm ăn tức thời Các triệu chứng như ủ rũ, động kinh hoặc đi lại không vững đều ngắt quãng, không xuất hiện liên tục Gà bệnh thiếu máu, lờ

đờ, tỷ lệ chết không đáng kể nhưng chúng mang mầm bệnh trong nhiều năm

và trở thành nguồn bệnh tiềm tàng nguy hiểm

Trang 25

* Bệnh tích bệnh Leucocytozoon

Mổ khám gà bệnh thấy: xuất huyết đỏ sẫm ở tất cả các phủ tạng (tim, lách, phổi, thận) và tổ chức cơ Đôi khi cũng có các điểm hoại tử trắng trên mặt gan giống như bệnh tụ huyết trùng gia cầm Ngoài ra, có thể thấy bệnh tích ở đường tiêu hóa như: niêm mạc đường tiêu hoá bị tổn thương và xuất huyết

Olsen O W (1986) [43] cho biết, gà bị nhiễm đơn bào Leucocytozoon

ở cường độ nặng có các bệnh tích điển hình thì tỷ lệ tử vong cao Các cơ quan nội tạng ký chủ có số lượng đơn bào ký sinh khác nhau Các đơn bào ký sinh trong các cơ quan được bao bọc bởi một lớp do tế bào lympho và bạch cầu

đơn nhân lớn tạo nên thể Megaloschizont

Theo Lâm Thị Thu Hương (2005) [7], khi mổ khám và quan sát bằng mắt thường, thấy trên cơ thể gà có những nốt mầu trắng đục hay vàng, đỏ hoặc chuyển sang đen, có kích thước từ 0,2 - 0,5 mm, đôi khi lên đến 1 mm

Những nốt này là bệnh tích do một giai đoạn phát triển của đơn bào L caulleryi gây ra Đơn bào Leucocytozoon được phát hiện ở nhiều vị trí trên cơ thể gà Một gà có thể nhiễm Leucocytozoon cùng lúc trên 6 cơ quan phủ tạng

Sự nhiễm Leucocytozoon thường gặp nhiều nhất ở các cơ quan như phổi, gan,

thận, mô cơ

Lê Văn Năm (2001) [21] cho biết: bệnh tích đại thể của bệnh do đơn

bào Leucocytozoon gây ra ở gà rất điển hình, được quan sát thấy trong nhiều

cơ quan nội tạng như: gan, lách, thận, tim, phổi, ruột non, não, buồng trứng và ống dẫn trứng Những biến đổi đại thể ở các cơ quan nội tạng như sau:

Gan: sưng to, mềm nhũn và dễ vỡ, trên bề mặt gan thấy nhiều điểm trắng Đây là kết quả của các thể phân lập của Leucocytozoon ở gan tạo nên,

làm giòn, xốp và tắc nghẽn các mao mạch, dẫn đến xuất huyết tràn lan, thậm chí vỡ mao mạch, dẫn đến vỡ gan, chảy máu vào xoang bụng

Lách: sưng to, giòn, dễ vỡ, trên bề mặt lách có nhiều điểm xuất huyết

hoặc hoại tử

Thận: sưng to, xuất huyết

Buồng trứng và ống dẫn trứng: buồng trứng bị viêm, thoái hóa; ống dẫn

trứng sưng, dầy lên và có nhiều điểm xuất huyết

Trang 26

Tim: tim to, cơ tim dầy lên nhưng trương lực cơ bị giảm, cơ trở nên

mềm nhão

Phổi: sung huyết nặng

Ruột non, dạ dày tuyến, dạ dày cơ: viêm tăng sinh, dầy lên, đôi khi thấy

các điểm hoại tử hoặc nốt loét

Não: các đại hợp bào phát triển ở não gây tắc nghẽn các mao mạch, dẫn

đến bị phù nề, sung huyết và xuất huyết não

2.1.2.5 Chẩn đoán bệnh Leucocytozoon

* Với gà còn sống

Nguyễn Xuân Bình và cs (2002) [1] cho biết: Hiện nay, có nhiều bệnh mới ở gia cầm có triệu chứng lâm sàng và bệnh tích giống nhau, nhưng nguyên nhân gây bệnh lại khác nhau, làm cho việc chẩn đoán lâm sàng và điều trị bệnh dễ bị sai lầm, gây nên những tổn thất đáng kể cho chăn nuôi

Do vậy, để chẩn đoán một cách chính xác bệnh có phải do ký sinh trùng

đường máu Leucocytozoon gây ra hay không, người ta thường sử dụng kết

hợp các phương pháp chẩn đoán để mang lại hiệu quả cao hơn

+ Chẩn đoán lâm sàng: Gà lứa tuổi 1 - 3 tháng chết đột ngột, các phủ tạng đều bị xuất huyết; ỉa chảy, phân xanh có lẫn máu làm cho gà chết với tỷ

Chẩn đoán phân biệt Nguyễn Thị Kim Lan và cs (2009) [11] cho biết: cần chẩn đoán phân biệt với bệnh tụ huyết trùng gia cầm Triệu chứng và bệnh tích của bệnh đơn bào đường máu ở gia cầm cũng giống như bệnh tụ huyết trùng gia cầm Tuy nhiên, bệnh tụ huyết trùng làm gà chết ở tất cả các

Trang 27

lứa tuổi Bệnh tụ huyết trùng gia cầm điều trị bằng Streptomycin có hiệu quả nhưng bệnh do đơn bào đường máu điều trị bằng Streptomycin lại không có hiệu quả

Theo Lê Văn Năm (2001) [21], cần chẩn đoán phân biệt bệnh do đơn

bào Leucocytozoon gây ra với các bệnh sau:

Bệnh Marek: không có các biến đổi ở gan, lách, thận phổi ở gà dưới 45 ngày tuổi và trên 1 năm tuổi Bệnh Marek không có ở thủy cầm và ít gặp ở hoang cầm

Bệnh bạch huyết (Leucosis): Bệnh ít gặp ở gia cầm dưới 6 tháng tuổi Bệnh có rất nhiều thể khác nhau như Leucosis dạng võng mô, Leucosis hồng cầu, Leucosis tủy xương, Leucosis limfo Mỗi thể bệnh khác nhau chúng lại

có những đặc điểm riêng khác biệt

Bệnh sốt rét gà: Các biểu hiện về dịch tễ và lâm sàng của bệnh sốt rét

gà rất giống với bệnh do Leucocytozoon gây ra Tuy nhiên, khi mổ khám thì bệnh sốt rét gà không có những biểu hiện giống như bệnh Leucocytozoon

Gan của gà bị sốt rét có màu xanh đen hoặc đen, kích thước nhỏ hơn bình thường, túi mật căng chứa đầy mật

* Với gia cầm chết:

Phương pháp chẩn đoán sau khi gia cầm chết là phương pháp chuẩn đoán bệnh chính xác nhất Việc chẩn đoán được tiến hành qua phương pháp

mổ khám, kiểm tra bệnh tích kết hợp với việc lấy các cơ quan nội tạng như

gan, lách, phổi, thận kiểm tra để tìm đơn bào Leucocytozoon ký sinh

2.1.2.6 Phòng trị bệnh Leucocytozoon cho gà

* Trị bệnh Leucocytozoon cho gà

Có thể sử dụng một trong các loại Sulfonamide sau để điều trị gà bệnh:

- Pyrimethamin: dùng liều 0,5 - 1 ppm/ kg thức ăn, cho gà ăn 2 tuần liên tục

- Sulfadimethoxin: dùng liều 50 - 75 mg/ kg thức ăn, cho gà ăn liên tục

1 - 2 tuần

- Sulfaquinoxalin: dùng liều 50 mg/ kg thức ăn, cho gà ăn liên tục 1 - 2 tuần

Để nâng cao hiệu quả điều trị, dùng phối hợp thuốc Sulfonamide với Vitamin B1, Vitamin C

Trang 28

Orlov F M (1975) [22] cho biết: có ý kiến cho rằng, aterbin có tác dụng đến giao tử bào thành thục

Tuy nhiên, Saif Y M (2003) [46] cho rằng: Hiệu quả điều trị bệnh

Leucocytozoonsis là hạn chế Đối với L simondi, điều trị không có hiệu quả

Pyrimethamine (1ppm) và Sulfadimethoxine (10ppm) sử dụng đồng thời để

điều trị bệnh cũng không có hiệu quả với L caullergyi

Theo Lê Văn Năm (2001) [21]: Các loại thuốc có chứa các nguyên liệu như: Sulfamonomethoxin, Salfadimethoxin, Clopidol đều có tác dụng phòng

trị tốt bệnh do Leucocytozoon gây ra Tác giả cho biết thêm, hiện nay bệnh ký

sinh trùng đường máu thường bị bội nhiễm và ghép với nhiều bệnh khác Do

đó chúng ta cần phải phối hợp các phác đồ khi điều trị thì mới có hiệu quả điều trị cao

- Không nên xây chuồng ở những vùng gần đồng ruộng, vùng có ao hồ hay vùng có diện tích mặt nước lớn, vì đây là môi trường thích hợp cho ký chủ trung gian phát triển

Bộ Nông nghiệp và Công nghiệp thực phẩm (1993) đưa ra những tiêu chuẩn đối với việc chuẩn bị chuồng trại nuôi gia cầm như sau:

- Phải chuẩn bị đầy đủ chuồng nuôi, rèm che, kho đựng thức ăn, bể chứa nước, dụng cụ chăn nuôi, thuốc thú y, các phương tiện sưởi ấm, làm mát đảm bảo cho số lượng gà định nuôi

- Chuồng nuôi, hệ thống cống rãnh, khu vực kho chứa thức ăn, dụng cụ chăn nuôi phải được vệ sinh đảm bảo, sát trùng triệt để

Trang 29

- Cây xanh, cỏ dại cách chuồng 10 - 15 mét phải được phát quang Các động vật cư trú truyền dịch bệnh cho đàn gà như chuột, cáo, chồn, côn trùng, chim tự nhiên phải được tiêu diệt

- Có phòng mổ khám, chẩn đoán bệnh và thiêu xác hoặc hố tự hoại cách

xa khu vực chăn nuôi và cuối hướng gió

2.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước

2.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước

Theo Hoàng Thạch (2004) [24], các cơ quan nội tạng nếu nhiễm

Leucocytozoon Ở cường độ nhẹ thì chưa thấy biến đổi gì, nhưng nếu nhiễm

vừa và nặng (3 - 6 ký sinh trùng trên 1 vi trường) thì xuất hiện sự thoái hoá, biến màu, thậm chí hoại tử từng đám nhỏ, nếu kéo dài thì tăng sinh, làm giảm chức năng hoạt động hoặc bị phá hoại, rõ nhất là gan và lách

Lâm Thị Thu Hương và cs (2005) [7] cho biết: tần suất xuất hiện các

nang Leucocytozoon trên một số cơ quan phủ tạng của gà tương ứng: cơ là

96,22%, phổi là 92,45%, thận là 86,80%, gan là 81,13%

Lê Đức Quyết và cs (2009) [23] cho biết: tỷ lệ nhiễm Leucocytozoon

phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố như: tuổi gia cầm, giống, địa hình, vùng sinh

thái, phương thức chăn nuôi… Kết quả nghiên cứu về Leucocytozoon ở gà tại

một số tỉnh Nam Trung Bộ như sau:

Tỷ lệ nhiễm Leucocytozoon chung là 13,29%, cụ thể ở Phú Yên tỷ lệ

nhiễm là 20%, Bình Định 9,54%, Khánh Hoà 12,04%

Tỷ lệ nhiễm Leucocytozoon cao ở vùng núi (27,34%) và thấp ở vùng

đồng bằng (12,46%)

Tỷ lệ lưu hành Leucocytozoon ở gà địa phương là 12,46%, cao hơn

nhiều so với gà ngoại (7,61%)

Tỷ lệ nhiễm Leucocytozoon cao nhất là ở gà giai đoạn > 6 tuần tuổi

(15,6%), kế đến là ở độ tuổi 4 - 6 tuần (13,5%) và thấp nhất là ở độ tuổi dưới

4 tuần (7,6%)

Bằng phương pháp nhuộm Giemsa và định loại đơn bào Leucocytozoon

ký sinh trên đàn gà ở một số tỉnh Nam Trung Bộ (căn cứ vào hình thái, vị trí, mầu sắc, kích thước của các giao tử gametocyte ký sinh trong máu gà), tác giả

cũng đã xác định có 2 loài ký sinh trên đàn gà là L caullergyi và L sabrazesi

Trang 30

Khi khảo sát tình hình nhiễm ký sinh trùng đường máu trên gà thịt tại hai tỉnh Vĩnh Long và Sóc Trăng, Nguyễn Hữu Hưng (2011) [5] cho biết: đàn gà thịt nhiễm ký sinh trùng đường máu với tỷ lệ khá cao (30,47%) Trong đó tỷ lệ nhiễm ở Vĩnh Long là 32,38% và ở Sóc Trăng là 28,22% Tác giả cũng cho biết

gà Tam Hoàng có tỷ lệ nhiễm cao hơn hai giống Neulohman và Brown AAA Gà nuôi nuôi theo kiểu chuồng hở tỷ lệ nhiễm cao hơn so với kiểu chuồng kín

2.2.2 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài

Ở Liên Xô, Nikitin N K và Artemenko M N (1927) trong khi kiểm tra

máu chim trời ở Uciran đã tìm thấy Leucocytozoon ở 7% số chim (Trích

Orlov F M, 1975 [22])

Huchzermeyer F W và Sutherland B (1978) [35] lần đầu tiên đã phát

hiện được Leucocytozoon smithi ở phía Bắc Châu Phi và tác giả cho rằng Simulium nigritarse là ký chủ trung gian của ký sinh trùng này

Morii T và cs (1984) [39] đã thử nghiệm lây nhiễm những thoi trùng

Leucocytozoon được chiết từ tuyến nước bọt của dĩn, kết quả nhận thấy: các

thoi trùng được phân lập vào ngày thứ 2 sau khi dĩn hút máu gia cầm bệnh thì không lây nhiễm được cho gà Các thoi trùng được phân lập vào ngày thứ 3 thì có khả năng gây nhiễm cho gà

Morii T và cs (1986) [39] đã phân lập các thoi trùng từ tuyến nước bọt

của Culicoides arakawa và gây bệnh cho gà Kết quả thấy thoi trùng xuất hiện

trong ngoại vi máu gia cầm vào ngày thứ 15 và biến mất vào ngày thứ 26 sau khi gây nhiễm Kháng nguyên hòa tan được tìm thấy trong huyết thanh của gà gây nhiễm trong khoảng 10 - 17 ngày và kháng thể tương đồng xuất hiện ở ngày thứ 17 sau gây nhiễm

Nakamura K và cs (2001) [40] khi nghiên cứu ảnh hưởng của

Leucocytozoon trên gà đẻ nhận thấy: Leucocytozoon ảnh hưởng nghiêm trọng

đến khả năng sản xuất trứng của gà, thậm chí có thể ngừng đẻ Tìm thấy một

số lượng lớn thể phân liệt thế hệ 2 trong buồng trứng và ống dẫn trứng Gây phù và làm giảm áp lực của các mô lận cận với các mô có đơn bào ký sinh

Steele E J và cs (2001) [48] cho biết: sự phát triển của Leucocytozoon smithi có những nét tương đồng với sự phát triển của các loài Plasmodium và Haemoproteus trong ký chủ trung gian

Trang 31

Bằng phương pháp sử dụng phản ứng chuỗi polimerasa (PCR) giao

thức là sự kết hợp của 3 chuỗi PCR riêng biệt của các loài Haemoproteus, Plasmodium và Leucocytozoon, Hellgren O và cs (2004) [33] đã tìm thấy 22 loài ký sinh trùng khác nhau gồm có 4 loài Haemoproteus, 8 loài Plasmodium

và 10 loài Leucocytozoon trong 6 loài chim tước được nghiên cứu

Shane S M (2005) [47] cho biết: việc kết hợp Clopidol anticoccidial trong thức ăn chăn nuôi với các hàm lượng khác nhau từ 125 - 250 ppm đã

ngăn chăn được Leucocytozoonosis ở gà tây tại Hoa Kỳ

Omori S và cs (2008) [45] đã tiến hành phân tích bộ gen của

Leucocytozoon caulleryi, kết quả đã mô tả được bộ gen nhiễm sắc thể của L caulleryi với chiều dài 5.959 bp

Tully T N và cs (2009) [49] cho rằng: việc sử dụng Chloriquine (250 mg/ 120 ml nước uống cho 1 - 2 tuần) hoặc pyrimethamine có thể điều trị

được bệnh do Leucocytozoon gây ra

Có thể sử dụng kết hợp pyrimethamine (1 ppm) với salfadimethoxin (10

ppm) trong thức ăn chăn nuôi để phòng bệnh do L caulleryi và và sử dụng Clopidol (0,0125 - 0,025%) trong thức ăn để phòng bệnh do L smithi gây ra [40]

Hoạt động chăn nuôi vịt tại các bán đảo phía Bắc của Michigan - Seney

đã bị ngừng trệ do Leucocytozoon đã làm chết một số lượng lớn vịt, gây thiệt

hại nghiêm trọng về kinh tế cho người chăn nuôi

Mullen G R., Durden L (2009) [41] cho biết: gà đồng cỏ Attwater đang bị đe dọa tấn công bởi một loài ký sinh trùng đường máu thuộc giống

Leucocytozoon, gây nhiều thiệt hại nghiêm trọng

Omori S và cs (2010) [45] đã sử phương pháp phân tích đếm tế bào dòng

chảy, tách giao bào Leucocytozoon để xác định sự có mặt của đơn bào trong máu

Phương pháp này có thể xác định được những mẫu máu bị nhiễm ký sinh trùng đường máu mà các phương pháp thông thường khác không tìm thấy được

Hill A G và cs (2010) [34] sử dụng phương pháp PCR để kiểm tra 107 mẫu máu chim cánh cụt mắt vàng từ 4 khu vực riêng biệt trên khu vực phía nam đảo Oamaru Kết quả kiểm tra thấy 83% số mẫu kiểm tra là dương tính

với Leucocytozoon

Trang 32

PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, VẬT LIỆU, NỘI DUNG

VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Đối tượng nghiên cứu

- Gà nuôi tại một số địa phương thuộc huyện Yên Thế - tỉnh Bắc Giang

- Bệnh đơn bào Leucocytozoon ở gà

3.2 Địa điểm, thời gian nghiên cứu

3.2.1 Địa điểm nghiên cứu

- Đề tài được thực hiện ở các nông hộ, các trại chăn nuôi gà gia đình và tập thể với các quy mô khác nhau tại huyện Yên Thế - tỉnh Bắc Giang

- Địa điểm xét nghiệm mẫu:

+ Phòng thí nghiệm Khoa Chăn nuôi Thú y - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên

+ Viện Sốt rét - Ký sinh trùng - Côn trùng Trung ương

3.3.2 Thời gian nghiên cứu

Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 6 năm 2013 đến tháng 11 năm 2013

3.3 Vật liệu nghiên cứu

* Vật liệu nghiên cứu

- Mẫu máu gà để xét nghiệm đơn bào Leucocytozoon

- Gà khỏe và gà bệnh để thử nghiệm hiệu quả điều trị của một số phác

đồ và xây dựng quy trình phòng trị bệnh Leucocytozoon cho gà

- Các mẫu dĩn (để xác định loài dĩn - véc tơ truyền đơn bào

Leucocytozoon cho gà)

* Dụng cụ và hoá chất

- Kính hiển vi quang học, kính lúp

- Bộ kim lấy máu

- Tube tráng chất chống đông máu (dung dịch EDTA 1%)

- Thuốc điều trị bệnh Leucocytozoon ở gà, thuốc phun diệt dĩn - véc tơ truyền bệnh Leucocytozoon cho gà

- Lam kính và lamen

- Thuốc nhuộm giemsa

Trang 33

- Dầu Bạch dương, cồn 960, cồn methanol

- Hoá chất và các dụng cụ thí nghiệm khác

3.4 Nội dung nghiên cứu

3.4.1 Đặc điểm dịch tễ bệnh đơn bào Leucocytozoon ở gà tại huyện Yên Thế - tỉnh Bắc Giang

* Thực trạng công tác phòng bệnh Leucocytozoon cho gà ở các địa phương thuộc huyện Yên Thế - tỉnh Bắc Giang

* Tình hình nhiễm đơn bào Leucocytozoon ở gà tại huyện Yên Thế - tỉnh Bắc Giang

- Tỷ lệ và cường độ nhiễm Leucocytozoon ở gà tại các địa phương

- Tỷ lệ và cường độ nhiễm Leucocytozoon ở gà theo tháng trong năm

- Tỷ lệ và cường độ nhiễm Leucocytozoon theo tuổi gà

- Tỷ lệ và cường độ nhiễm Leucocytozoon theo phương thức chăn nuôi

- Tỷ lệ và cường độ nhiễm Leucocytozoon theo điều kiện vệ sinh thú y

- Thành phần loài đơn bào Leucocytozoon ký sinh và gây bệnh cho gà

tại huyện Yên Thế - tỉnh Bắc Giang

* Nghiên cứu thành phần các loài dĩn - véc tơ truyền bệnh Leucocytozoon cho gà tại huyện Yên Thế - tỉnh Bắc Giang

- Thành phần loài dĩn - véc tơ truyền Leucocytozoon cho gà ở các

địa phương

3.4.2 Nghiên cứu biện pháp phòng và trị bệnh

Nghiên cứu biện pháp trị bệnh Leucocytozoon cho gà

- Xác định hiệu lực và độ an toàn của 3 phác đồ điều trị bệnh

Xác định bằng phương pháp trực tiếp quan sát, hỏi chủ hộ trong một số

hộ chăn nuôi gia cầm trong 4 xã của huyện Yên Thế - tỉnh Bắc Giang Cụ thể như sau:

Trang 34

Địa phương (Xã) Số hộ điều tra

* Phương pháp thu thập mẫu

Mẫu máu được thu thập ngẫu nhiên từ gà nuôi tại các nông hộ, các trại chăn nuôi gà ở các địa phương của huyện Yên Thế - tỉnh Bắc Giang

Chuẩn bị những phiến kính mới đã được tẩy mỡ bằng cách ngâm và rửa

xà phòng, sau đó ngâm trong cồn 960 trong 3 giờ rồi lau khô bằng khăn mềm không có xơ Đồng thời, chọn những lamen kích thước 2 x 2 cm, rìa thật phẳng và nhẵn

Trước khi lấy mẫu máu xét nghiệm, quan sát kỹ các biểu hiện lâm sàng của gà Dùng kim lấy 1 giọt máu tươi của gà tại tĩnh mạch cánh, đặt lên phiến kính, cách bờ phiến kính khoảng 1 cm Đặt cạnh của một lamen lên giọt máu, nghiêng 450 với phiến kính Khi giọt máu đã tràn ra khắp cạnh của lamen thì đẩy lamen về phía trước, làm cho máu được dàn thành một lớp mỏng và đều trên phiến kính Cố định tiêu bản bằng cồn methanol Làm 3 tiêu bản máu/ gà Tiêu bản được ghi số thứ tự bằng bút chì mỡ Ghi nhật ký thí nghiệm các

Ngày đăng: 01/09/2020, 12:00

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.1. Sơ đồ minh họa vòng đời Leucocytozoon ở gà - Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ bệnh đơn bào do Leucocytozoon gây ra ở gà nuôi tại huyện Yên Thế  tỉnh Bắc Giang và thử nghiệm phác đồ điều trị
Hình 2.1. Sơ đồ minh họa vòng đời Leucocytozoon ở gà (Trang 17)
Bảng 4.2: Tỷ lệ và cường độ nhiễm Leucocytozoon - Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ bệnh đơn bào do Leucocytozoon gây ra ở gà nuôi tại huyện Yên Thế  tỉnh Bắc Giang và thử nghiệm phác đồ điều trị
Bảng 4.2 Tỷ lệ và cường độ nhiễm Leucocytozoon (Trang 43)
Hình 4.1. Biểu đồ về tỷ lệ nhiễm đơn bào Leucocytozoon ở gà - Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ bệnh đơn bào do Leucocytozoon gây ra ở gà nuôi tại huyện Yên Thế  tỉnh Bắc Giang và thử nghiệm phác đồ điều trị
Hình 4.1. Biểu đồ về tỷ lệ nhiễm đơn bào Leucocytozoon ở gà (Trang 45)
Hình 4.2. Biểu đồ về cường độ nhiễm đơn bào Leucocytozoon ở gà - Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ bệnh đơn bào do Leucocytozoon gây ra ở gà nuôi tại huyện Yên Thế  tỉnh Bắc Giang và thử nghiệm phác đồ điều trị
Hình 4.2. Biểu đồ về cường độ nhiễm đơn bào Leucocytozoon ở gà (Trang 46)
Bảng 4.3: Tỷ lệ và cường độ nhiễm Leucocytozoon ở gà theo tháng - Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ bệnh đơn bào do Leucocytozoon gây ra ở gà nuôi tại huyện Yên Thế  tỉnh Bắc Giang và thử nghiệm phác đồ điều trị
Bảng 4.3 Tỷ lệ và cường độ nhiễm Leucocytozoon ở gà theo tháng (Trang 47)
Hình 4.3: Biểu đồ về tỷ lệ nhiễm đơn bào Leucocytozoon ở gà theo tháng   4.2.3. Tỷ lệ và cường độ nhiễm Leucocytozoon theo tuổi gà - Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ bệnh đơn bào do Leucocytozoon gây ra ở gà nuôi tại huyện Yên Thế  tỉnh Bắc Giang và thử nghiệm phác đồ điều trị
Hình 4.3 Biểu đồ về tỷ lệ nhiễm đơn bào Leucocytozoon ở gà theo tháng 4.2.3. Tỷ lệ và cường độ nhiễm Leucocytozoon theo tuổi gà (Trang 49)
Hình 4.4: Biểu đồ tỷ lệ nhiễm Leucocytozoon ở gà theo tuổi - Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ bệnh đơn bào do Leucocytozoon gây ra ở gà nuôi tại huyện Yên Thế  tỉnh Bắc Giang và thử nghiệm phác đồ điều trị
Hình 4.4 Biểu đồ tỷ lệ nhiễm Leucocytozoon ở gà theo tuổi (Trang 50)
Hình 4.5. Biểu đồ tỷ lệ và cường độ nhiễm Leucocytozoon ở gà theo - Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ bệnh đơn bào do Leucocytozoon gây ra ở gà nuôi tại huyện Yên Thế  tỉnh Bắc Giang và thử nghiệm phác đồ điều trị
Hình 4.5. Biểu đồ tỷ lệ và cường độ nhiễm Leucocytozoon ở gà theo (Trang 51)
Hình 4.6. Biểu đồ tỷ lệ nhiễm Leucocytozoon ở gà theo tình trạng - Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ bệnh đơn bào do Leucocytozoon gây ra ở gà nuôi tại huyện Yên Thế  tỉnh Bắc Giang và thử nghiệm phác đồ điều trị
Hình 4.6. Biểu đồ tỷ lệ nhiễm Leucocytozoon ở gà theo tình trạng (Trang 54)
Bảng 4.7: Thành phần loài và tần suất xuất hiện các loài dĩn hút máu - Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ bệnh đơn bào do Leucocytozoon gây ra ở gà nuôi tại huyện Yên Thế  tỉnh Bắc Giang và thử nghiệm phác đồ điều trị
Bảng 4.7 Thành phần loài và tần suất xuất hiện các loài dĩn hút máu (Trang 55)
Bảng 4.10: Thành phần loài Leucocytozoon gây bệnh ở gà - Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ bệnh đơn bào do Leucocytozoon gây ra ở gà nuôi tại huyện Yên Thế  tỉnh Bắc Giang và thử nghiệm phác đồ điều trị
Bảng 4.10 Thành phần loài Leucocytozoon gây bệnh ở gà (Trang 58)
Bảng 4.11: Kết quả thử nghiệm phác đồ điều trị bệnh Leucocytozoon trên gà - Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ bệnh đơn bào do Leucocytozoon gây ra ở gà nuôi tại huyện Yên Thế  tỉnh Bắc Giang và thử nghiệm phác đồ điều trị
Bảng 4.11 Kết quả thử nghiệm phác đồ điều trị bệnh Leucocytozoon trên gà (Trang 59)
Bảng 4.12: Độ an toàn của phác đồ điều trị bệnh đơn bào Leucocytozoon - Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ bệnh đơn bào do Leucocytozoon gây ra ở gà nuôi tại huyện Yên Thế  tỉnh Bắc Giang và thử nghiệm phác đồ điều trị
Bảng 4.12 Độ an toàn của phác đồ điều trị bệnh đơn bào Leucocytozoon (Trang 60)
Bảng 4.13: Kết quả thử nghiệm phác đồ điều trị bệnh Leucocytozoon trên gà - Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ bệnh đơn bào do Leucocytozoon gây ra ở gà nuôi tại huyện Yên Thế  tỉnh Bắc Giang và thử nghiệm phác đồ điều trị
Bảng 4.13 Kết quả thử nghiệm phác đồ điều trị bệnh Leucocytozoon trên gà (Trang 61)
Bảng 4.14: Độ an toàn của phác đồ điều trị bệnh đơn bào Leucocytozoon - Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ bệnh đơn bào do Leucocytozoon gây ra ở gà nuôi tại huyện Yên Thế  tỉnh Bắc Giang và thử nghiệm phác đồ điều trị
Bảng 4.14 Độ an toàn của phác đồ điều trị bệnh đơn bào Leucocytozoon (Trang 62)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm