Nước ta nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa có một mùa mưa kéo dài từ tháng 4 đến tháng 6 với khí hậu nóng ẩm, mưa nhiều đã tạo điều kiện thuận lợi cho nhiều loài ký sinh trùng p
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
BÙI THỊ NGÂN
Tên đề tài:
“NGHIÊN CỨU BIỆN PHÁP PHÒNG VÀ CHỮA BỆNH DO
GIUN TRÒN TRICHOCEPHALUS SPP GÂY RA Ở LỢN TẠI HUYỆN PHÚ BÌNH, TỈNH THÁI NGUYÊN”
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Chăn nuôi - Thú y Khoa : Chăn nuôi thú y Khóa học : 2009 - 2014
Thái Nguyên - 2013
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
BÙI THỊ NGÂN
Tên đề tài:
“NGHIÊN CỨU BIỆN PHÁP PHÒNG VÀ CHỮA BỆNH DO
GIUN TRÒN TRICHOCEPHALUS SPP GÂY RA Ở LỢN TẠI HUYỆN PHÚ BÌNH, TỈNH THÁI NGUYÊN”
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Chăn nuôi - Thú y Khoa : Chăn nuôi thú y Khóa học : 2009 - 2014
Giảng viên hướng dẫn: TS Phan Thị Hồng Phúc Khoa Chăn nuôi thú y - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
Thái Nguyên - 2013
Trang 3Trong quá trình thực hiện đề tài em đã nhận được sự quan tâm của nhà trường, Khoa Chăn nuôi Thú y, cán bộ Trạm Thú y huyện Phú Bình, các hộ chăn nuôi lợn tại các xã, bạn bè và gia đình
Nhân dịp này em xin gửi lời cảm ơn đến Ban Giám hiệu Nhà trường, khoa Chăn nuôi Thú y trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, Trạm Thú y huyện Phú Bình đã tạo điều kiện thuận lợi giúp em hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này Đặc biệt em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo hướng dẫn
TS Phan Thị Hồng Phúc, GS.TS Nguyễn Thị Kim Lan, NCS Nguyễn Thị Bích Ngà đã tận tình hướng dẫn chỉ bảo giúp đỡ em trong quá trình thực hiện
đề tài
Em xin gửi lời cảm ơn tới tập thể lớp 41-TY đã quan tâm, giúp đỡ, động viên em trong suốt quá trình học tập, rèn luyện tại trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
Một lần nữa, em xin kính chúc toàn thể thầy, cô giáo trong khoa Chăn nuôi Thú y sức khỏe, hạnh phúc và thành đạt Chúc cán bộ, nhân viên Trạm Thú y huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên công tác tốt, chúc các bạn sinh viên mạnh khỏe, học tập tốt và thành công trong cuộc sống
Thái Nguyên, ngày 21 tháng 11 năm 2013
Sinh viên
Bùi Thị Ngân
Trang 4
DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 4.1 Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun T suis ở lợn tại huyện Phú Bình,
tỉnh Thái Nguyên 30
Bảng 4.2 Hiệu lực của một số thuốc tẩy giun T suis cho lợn thí nghiêm 33
Bảng 4.3 Hiệu lực của thuốc tẩy giun T suis cho lợn trên thực địa 35
Bảng 4.4 Độ an toàn của thuốc tẩy giun T suis cho lợn trên thực địa 36
Bảng 4.5 Khả năng sinh nhiệt và tác dụng diệt trứng giun T suis của công thức ủ I 37
Bảng 4.6 Khả năng sinh nhiệt và tác dụng diệt trứng giun T suis
của công thức ủ II 38
Bảng 4.7 Khả năng sinh nhiệt và tác dụng diệt trứng giun T suis của công thức ủ III 39
Bảng 4.8 Đánh giá khả năng sinh nhiệt và tác dụng diệt trứng giun
T susi của 3 công thức ủ 41
Bảng 4.9 Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun T suis ở lợn trước khi thử nghiệm biện pháp phòng bệnh 43
Bảng 4.10 Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun T suis ở lợn sau 2 tháng
thử nghiệm 44
Bảng 4.11 Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun T suis ở lợn sau 3 tháng
thử nghiệm 45
Trang 5DANH MỤC CÁC HÌNH VÀ BIỂU ĐỒ
Trang
Hình 2.1 Giun Trichocephalus suis 6
Hình 2.2 Sơ đồ vòng đời của giun T suis ở lợn 7
Biểu đồ 4.1: Tỷ lệ nhiễm giun T suis ở các xã huyện Phú Bình 32
Biểu đồ 4.2: Cường độ nhiễm giun T suis ở các xã huyện Phú Bình 32
Đồ thị 4.3: Sự thay đổi nhiệt độ của 3 công thức ủ phân 40
Trang 6DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT
Trang 7MỤC LỤC
Trang
Phần 1: MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục đích nghiên cứu 2
1.3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3
1.3.1 Ý nghĩa khoa học 3
1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn 3
PHẦN 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
2.1 Cơ sở khoa học của đề tài 4
2.1.1 Đặc điểm sinh học của giun T suis lợn 4
2.1.1.1 Vị trí của giun T suis trong hệ thống phân loại động vật học 4
2.1.1.2 Đặc điểm hình thái, cấu tạo của giun T suis lợn 4
2.1.1.3 Vòng đời của giun T suis 7
2.1.1.4 Sự phát triển, sức đề kháng của trứng giun T suis lợn ở ngoại cảnh 8
2.1.2 Bệnh giun T suis ở lợn 9
2.1.2.1 Đặc điểm dịch tễ bệnh giun T suis 9
2.1.2.2 Cơ chế sinh bệnh 12
2.1.2.3 Triệu chứng lâm sàng và bệnh tích 13
2.1.2.4 Chẩn đoán bệnh giun T.suis ở lợn 14
2.1.2.5 Biện pháp phòng và trị bệnh giun Trichocephalus suis cho lợn 16
2.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 21
2.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 21
2.2.2 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài 22
PHẦN 3: ĐỐI TƯỢNG, VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24
3.1 Đối tượng và vật liệu nghiên cứu 24
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu 24
3.1.2 Vật liệu nghiên cứu 24
3.2 Địa điểm nghiên cứu và thời gian nghiên cứu 24
3.2.1 Địa điểm nghiên cứu 24
Trang 83.2.2 Thời gian nghiên cứu 24
3.3 Nội dung nghiên cứu 25
3.3.1 Xác định tỷ lệ và cường độ nhiễm giun T.susi ký sinh ở lợn tại huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên 25
3.3.2 Nghiên cứu biện pháp phòng trị bệnh T.susi cho lợn 25
3.3.2.1 Xác định hiệu lực và độ an toàn của một số thuốc tẩy giun T suis 25
3.3.2.2 Nghiên cứu biện pháp phòng bệnh giun T suis lợn ở huyện Phú Bình,
tỉnh Thái Nguyên 25
3.4 Phương pháp nghiên cứu 25
3.4.1 Phương pháp nghiên cứu biện pháp phòng trị bệnh giun T suis cho lợn 25
3.4.1.1 Phương pháp thu thập, xét nghiệm mẫu, thu nhận trứng giun T suis 25
3.4.1.2 Xác định tỷ lệ và cường độ nhiễm giun T suis ở lợn 26
3.4.1.3 Xác định hiệu lực và độ an toàn của thuốc tẩy giun T.suis cho lợn 27
3.4.1.4 Bố trí thí nghiệm xác định công thức ủ phân có khả năng sinh nhiệt tốt
để diệt trứng giun T suis lợn 27
3.4.1.5 Phương pháp thử nghiệm các biện pháp phòng bệnh giun T suis trên
thực địa 28
3.4.2.6 Đề xuất một số biện pháp phòng trị bệnh giun T suis cho lợn 29
3.4.2 Phương pháp xử lý số liệu 29
PHẦN 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 30
4.1 Kết quả xác định tỷ lệ và cường độ nhiễm giun T suis ở lợn nuôi tại một số xã, huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên 30
4.2 Nghiên cứu biện pháp phòng bệnh và điều trị bệnh cho lợn tại
huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên 33
4.2.1 Hiệu lực và độ an toàn của một số thuốc tẩy trong điều trị bệnh giun
T suis cho lợn 33
4.2.1.1 Hiệu lực và độ an toàn của một số thuốc tẩy trong điều trị bệnh giun
T suis cho lợn thí nghiệm 33
4.2.1.2 Hiệu lực và độ an toàn của một số thuốc tẩy trong điều trị bệnh giun
T suis cho lợn trên thực địa 35
4.2.2 Nghiên cứu công thức ủ phân để tăng khả năng sinh nhiệt diệt trứng giun
T suis 37
Trang 94.2.3 Nghiên cứu thử nghiệm biện pháp phòng bệnh giun T suis cho lợn 42
4.2.3.1 Thử nghiệm biện pháp phòng trị bệnh giun T suis cho lợn 42
4.2.3.2 Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun T suis ở lợn sau 2 tháng thử nghiệm 44
4.2.3.3 Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun T suis ở lợn sau 3 tháng thử nghiệm 45
4.3 Đề xuất một số biện pháp trị bệnh giun T suis cho lợn 46
Phần 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 48
5.1 Kết luận 48
5.2 Tồn tại 48
5.3 Đề nghị 48
TÀI LIỆU THAM KHẢO 48
I TÀI LIỆU TIẾNG VIỆT 49
II TÀI LIỆU DỊCH 51
III TÀI LIỆU TIẾNG NƯỚC NGOÀI 51
Trang 10Ngành chăn nuôi lợn chiếm tỷ trọng lớn nhất trong chăn nuôi, so với các loài gia súc khác lợn vẫn là đối tượng được người dân chăn nuôi nhiều nhất và sản phẩm thịt lợn được nhiều người tiêu dùng trong nước cũng như thế giới ưa chuộng (ở nước ta thịt lợn được dùng làm thực phẩm chiếm đến 75%) Chăn nuôi lợn là một trong ba ngành chăn nuôi quan trọng nhất của nước ta là: chăn nuôi lợn; chăn nuôi trâu, bò và chăn nuôi gia cầm
Xác định được vai trò quan trọng của chăn nuôi lợn trong những năm qua Đảng và Nhà nước đã có nhiều chủ trương, chính sách nhằm thúc đẩy chăn nuôi lợn phát triển cả về số lượng và chất lượng
Tuy nhiên, để ngành chăn nuôi phát triển bền vững thì ngoài việc thực hiện tốt công tác giống, thức ăn… còn phải quan tâm nhiều hơn đến công tác thú
y, đặc biệt trong xu hướng chăn nuôi tập trung, quy mô trang trại như hiện nay
Nước ta nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa có một mùa mưa kéo dài từ tháng 4 đến tháng 6 với khí hậu nóng ẩm, mưa nhiều đã tạo điều kiện thuận lợi cho nhiều loài ký sinh trùng phát triển, ký sinh và gây bệnh cho vật nuôi Đây chính là vấn đề khó khăn lớn cho ngành chăn nuôi nói chung và
Trang 11ngành chăn nuôi lợn nói riêng trong công tác phòng trừ và điều trị bệnh ký sinh trùng Bệnh ký sinh trùng ở gia súc, gia cầm nói chung và bệnh ký sinh trùng đường tiêu hoá lợn nói riêng không gây ra các ổ dịch lớn như những bệnh truyền nhiễm do virus, vi khuẩn Song bệnh ký sinh trùng thường diễn ra
ở thể mãn tính, làm lợn sinh trưởng và phát triển chậm, tiêu tốn thức ăn tăng
và các chi phí như thuốc điều trị, công chăm sóc nuôi dưỡng cũng tăng Ngoài
ra ký sinh trùng ký sinh còn làm giảm sức đề kháng của lợn và là yếu tố mở đường cho nhiều loại vi khuẩn, vi rút xâm nhập gây bệnh (Trịnh Văn Thịnh
và cs, 1978 [28])
Một đại diện tiêu biểu của các loài ký sinh trùng gây bệnh cho vật nuôi
là loài giun tròn Trichocephalus spp Ký sinh ở đường tiêu hóa lợn Bệnh giun
tóc đã gây nhiều trở ngại cho ngành chăn nuôi lợn, làm cho lợn gầy yếu, sức
đề kháng giảm, làm cho lợn bị mắc một số bệnh kế phát do vi khuẩn xâm nhập vào qua các vết loét ở ruột như hội chứng tiêu chảy ở lợn (Nguyễn Thị Kim Lan và cs, 2006) [13] Lợn sinh trưởng chậm và làm giảm hiệu quả, năng suất chăn nuôi
Ở một số tỉnh phía Bắc như Thái Nguyên người dân chủ yếu làm nghề nông nghiệp, chăn nuôi lợn chiến một vị trí quan trọng trong cơ cấu vật nuôi
và là một trong các nguồn thu nhập chính cho người nông dân Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có công trình nghiên cứu đầy đủ và có hệ thống về bệnh do
Trichocephalus spp gây ra ở lợn tại tỉnh Thái Nguyên, vì vậy vẫn chưa có
quy trình phòng chống bệnh hiệu quả
Do đó, để góp phần vào công tác phòng trừ, khống chế dịch bệnh, tăng sức đề kháng nâng cao năng xuất chăn nuôi lợn cho người nông dân ở các
tỉnh miền núi phía Bắc, chúng em tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu biện pháp phòng và chữa bệnh do giun tròn Trichocephalus spp gây ra ở lợn tại huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên”
1.2 Mục đích nghiên cứu
- Nghiên cứu biện pháp phòng trị bệnh Trichocephalus spp cho lợn
- Đề xuất quy trình phòng bệnh giun Trichocephalus spp cho lợn
Trang 121.3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
1.3.1 Ý nghĩa khoa học
Kết quả của đề tài là những thông tin khoa học về bệnh và quy trình
phòng chống bệnh giun Trichocephalus spp.cho lợn, có một số đóng góp mới
cho khoa học
1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả của đề tài là cơ sở khoa học để khuyến cáo người chăn nuôi áp
dụng quy trình phòng, trị bệnh giun Trichocephalus spp cho lợn, nhằm hạn chế
tỷ lệ và cường độ nhiễm giun ở lợn, hạn chế tác hại đối với lợn, góp phần nâng cao năng suất chăn nuôi, thúc đẩy ngành chăn nuôi lợn phát triển
Trang 13PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Cơ sở khoa học của đề tài
2.1.1 Đặc điểm sinh học của giun T suis lợn
2.1.1.1 Vị trí của giun T suis trong hệ thống phân loại động vật học
Theo Phan Thế Việt và cs (1977) [33], Nguyễn Thị Lê và cs (1996)
[20] vị trí của giun tròn Trichocephalus suis (T suis) trong hệ thống phân loại
động vật như sau:
Lớp Nematoda Rudolphi, 1808
Phân lớp Enoplia Chitwood, 1933
Bộ Trichocephalida Skrjabin et Schulz, 1928
Phân bộ Trichocephalata Skrjabin et Schulz, 1928
Họ Trichocephalidae Baird, 1953
Phân họ Trichocephalinae Ransom, 1911
Giống Trichocephalus Schrank, 1788
Loài Trichocephalus suis Schrank, 1788
2.1.1.2 Đặc điểm hình thái, cấu tạo của giun T suis lợn
Theo Đỗ Dương Thái và cs (1975) [24], màu sắc trứng giun T suis là
một màu ổn định, thay đổi ít từ màu vàng nhạt đến màu vàng sẫm Hình dạng
trứng giun T suis không bất thường đáng kể nhưng chiều ngang của trứng có
thể thay đổi chút ít, có những chiều ngang rộng hẹp khác nhau Trứng giun
T suis có chu kỳ phát triển chậm, vì vậy hình dạng nhân bên trong ít có
những thay đổi Nhân bên trong thường thành một khối chưa phân chia
Theo Skrjabin K I (1979) [36] giun tròn T suis có hình thái cấu tạo như sau:
Con đực có chiều dài thân trung bình là 40,35 mm; tối thiểu 33,0 mm; tối đa
là 48,0 mm Chiều dài của phần trước trung bình là 25,3 mm (20 - 30 mm); phần sau 15,1mm (12 - 19 mm) Tỷ lệ chiều dài của phần trước với phần sau là 1,68: 1 Thân con đực phủ lớp cutin được vạch bởi nhiều rãnh ngang, làm cho lớp cutin có nhiều mấp mô, hình răng nhỏ Thực quản kéo dài dọc theo phần mỏng trước thân và chuyển vào ruột ở chỗ ranh giới giữ phần mỏng và dày của thân Chiều rộng của phần trước thực quản 0,035 - 0,44 mm; của chỗ
Trang 14chuyển vào ruột 0,074 - 0,092 mm Thực quản được bao quanh bởi một hàng
tế bào đơn nhân dạng móc xích Ruột kết thúc bởi huyệt trên phần đuôi Hệ thống sinh dục của con đực gồm những ống dẫn tinh uốn khúc chiếm hầu hết phần sau thân Đuôi con đực vòng xoắn ốc Gai giao hợp kết thúc bằng một đỉnh nhọn Chiều dài gai xê dịch từ 1,74 - 2,48 mm Chỗ rộng nhất của gai là gốc gai dài 0,084 - 0,110 mm Có bao gai bọc xung quanh và cùng với gai lồi
ra khỏi lỗ huyệt Bao gai được phủ bởi rất nhiều gai nhỏ, những gai này xếp theo thứ tự quân cờ Số lượng hàng gai nhỏ gần nơi chuyển của bao vào thân là
24 - 42; ở đầu đối diện với nó số lượng hàng tăng tới 44 - 56 Hình dạng bao gai tròn, căng, dài 0,044 mm Chiều rộng chỗ gần huyệt là 0,057 - 0,092 mm; trong khi đó ở chỗ cuối gai là 0,079 - 0,159 mm Tất cả con đực có một đầu bao gai gập hình cổ tay áo hay là hình bao tay, bao này một phần hay toàn bộ bao phủ phần bao gai lồi ra khỏi thân Chiều dài của chỗ gập là 0,242 - 0,330 mm; chiều rộng là 0,290 - 0,352 mm
Con cái: Chiều dài thân trung bình 45,55 mm; tối thiểu 38 mm và tối đa
53 mm Chiều dài phần trước mỏng của thân trung bình là 30,55 mm (25 - 35 mm); chiều dài phần sau dày là 15 mm (13 - 18 mm) Như vậy tỷ lệ giữa phần trước và phần sau là 2,04 : 1 Trên ranh giới chỗ chuyển tiếp của phần thân trước và phần thân sau, hơi dịch về phía sau cách đầu cuối của thực quản có âm
hộ Âm hộ này nhô ra ngoài, dạng hình trụ hơi cong về phía sau (0,037 - 0,61 mm)
và hơi rộng ở chỗ cạnh tự do (0,050 - 0,075 mm) Chỗ này được phủ rất nhiều gai nhỏ hình lưới (3 - 4 µm) Ngay trước âm hộ, tử cung có hình ống thẳng hay hơi cong, dài 0,92 - 1,28 mm; trong tử cung có trứng xếp thành một hàng Đuôi con cái tù Trứng dài 0,056 - 0,066 mm và rộng 0,025 - 0,030 mm
Theo Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [20], con đực dài 37,52 - 40,63 mm; rộng nhất 0,634 - 0,713 mm Phần trước cơ thể dài 23,48 - 25,75 mm; phần sau dài 14,00 - 15,00 mm; có dạng xoắn lò xo Gai sinh dục dài 1,70 - 2,55 mm; rộng 0,07 - 0,10 mm; mút cuối gai nhọn Bao gai phủ đầy gai nhỏ Lỗ huyệt nằm ở mút cuối đuôi Con cái dài 37,89 - 50,60 mm; rộng 0,734 - 1,012 mm; phần trước cơ thể dài 23 - 33 mm Ống sinh dục đơn Âm đạo có thành cơ dày, chứa đầy trứng Kích thước trứng 0,024 - 0,027 x 0,056 - 0,061 mm
Trang 15Trứng của giun T suis có hình hạt chanh, màu vàng nhạt, kích thước
0,052 - 0,061 x 0,027 - 0,03 mm Hai cực có hai nút trong, vỏ dày gồm 2 lớp
Hình 2.1 Giun Trichocephalus suis
a: Trứng giun; b: Giun cái; c: Giun đực
(Nguồn: Phan Địch Lân và cs, 2005) [ ] Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (2009) [18]: Giun T suis có màu trắng đục
Thân chia ra làm hai phần rõ rệt: Phần đầu nhỏ, trông giống như sợi tóc; phần sau ngắn và to, bên trong là ruột và cơ quan sinh sản Giun đực đuôi hơi tù, cuộn tròn lại, có một gai giao hợp dài 1,70 - 2 mm, lỗ huyệt thông ra ngoài phần cuối của giun Giun cái đuôi thẳng, hậu môn ở đoạn cuối của thân
Nguyễn Thị Kim Lan (2012) [16] cho biết: Hình thể của giun giống như một sợi tóc màu trắng Cơ thể chia thành hai phần rõ rệt Phần trước nhỏ như sợi tóc, dưới lớp biểu bì là thực quản, thực quản do các tế bào xếp nối tiếp như chuỗi hạt, phần này chiếm 2/3 chiều dài cơ thể Phần sau ngắn và to, bên trong là ruột và cơ quan sinh sản Giun đực dài 20 - 52 mm đuôi hơi tù, phần đuôi cuộn tròn lại chỉ có một gai giao hợp rất dài 5 - 7 mm, gai giao hợp được bọc trong một cái màng có nhiều gai nhỏ bao phủ Giun cái dài 39 - 53
mm, đuôi thẳng, âm hộ ở đoạn cuối cùng của thực quản
Trang 162.1.1.3 Vòng đời của giun T suis
Vòng đời phát triển của giun T suis diễn ra theo sơ đồ sau:
Hình 2.2 Sơ đồ vòng đời của giun T suis ở lợn
Thời gian hoàn thành vòng đời của giun T suis là 30 - 52 ngày
Skrjabin K I (1979) [36] cho biết: Vòng đời của giun T suis không
cần vật chủ trung gian Trứng được bài tiết cùng với phân lợn ra môi trường ngoại cảnh Ở môi trường thuận lợi, thời gian để trứng phát triển thành dạng cảm nhiễm từ 3 đến 4 tuần Trong thời gian này, có thể thấy ấu trùng đã hình thành hoàn toàn và chuyển động bên trong trứng
Theo Trịnh Văn Thịnh (1985) [29], Đào Trọng Đạt và cs (1996) [4],
tuổi thọ của giun T suis ở lợn từ 4 - 5 tháng Chu kỳ sinh học của giun T suis
gồm hai giai đoạn: Một giai đoạn ở ngoài ngoại cảnh, phát triển từ trứng đến
ấu trùng cảm nhiễm; giai đoạn thứ hai ở ký chủ, trứng cảm nhiễm phát triển thành giun trưởng thành Không có thời kỳ di hành trong cơ thể ký chủ
Theo Lương Văn Huấn và cs (1990) [7], giun T suis sống được trong
cơ thể lợn 114 ngày
Bonner Stewart T và cs (2000) [34] cho biết: Những ấu trùng này nằm sâu trong niêm mạc 2 tuần, nhô ra khỏi niêm mạc ở tuần thứ 3 và phát triển thành giun trưởng thành trong khi bám vào niêm mạc ruột già
Trang 17Theo Phan Địch Lân và cs (2005) [19], giun cái đẻ trứng trong ruột già
ký chủ, trứng theo phân ra ngoài, gặp điều kiện thuận lợi qua 15 - 28 ngày trứng phát triển thành trứng cảm nhiễm
Phạm Sỹ Lăng và cs (2006) [17] cho biết: Điều kiện thuận lợi nhất cho sự
phát triển của trứng giun T suis thành trứng cảm nhiễm ở ngoài môi trường là
nhiệt đột từ 18 - 30 0C, ẩm độ 80 - 85 % sẽ phát triển thành trứng cảm nhiễm sau 15 - 28 ngày
Nguyễn Thị Kim Lan (2012) [16] cho biết: Sau khi thụ tinh, giun cái đẻ trứng trong ruột già ký chủ Trứng theo phân ra ngoài, gặp điều kiện thuận lợi qua 15 - 28 ngày trứng phát triển thành trứng cảm nhiễm Trứng này theo thức
ăn, nước uống vào đường tiêu hóa của ký chủ, ấu trùng được nở ra, chui sâu vào niêm mạc ruột già, tiếp tục phát triển thành giun trưởng thành Thời gian
hoàn thành vòng đời trong cơ thể tùy loài, nhưng đối với T suis cần 30 ngày
2.1.1.4 Sự phát triển, sức đề kháng của trứng giun T suis lợn ở ngoại cảnh
Sức đề kháng là khả năng chống lại những tác nhân ngoại cảnh tác
động đến sự sinh trưởng và phát triển bình thường của trứng giun T suis Việc nghiên cứu về sức đề kháng của trứng T suis ở môi trường ngoại cảnh
có ý nghĩa quan trọng trong dịch tễ học bệnh giun T suis, đồng thời là cơ sở khoa học để đề ra những biện pháp phòng trị bệnh giun T suis có hiệu quả
Ở môi trường ngoại cảnh, trứng giun T suis phát triển thuận lợi nhất ở
nhiệt độ từ 18 - 30 0C, ẩm độ 80 - 85 % Theo Đặng Văn Ngữ và cs (1965) [23],
ở ẩm độ tối đa (gần 100 %) nếu ở nhiệt độ 22 0C thì trứng phát triển được đến giai đoạn ấu trùng Nhưng cũng có điều kiện ẩm độ như trên mà ở 30 0C thì trứng sẽ chết sau 1 tháng
Đỗ Dương Thái và cs (1975) [24] cho biết, trứng giun T suis bị hủy hoại nếu ẩm độ dưới 30 % kéo dài Mặt khác, trứng giun T.suis có thể bị diệt bởi
những tia tử ngoại của ánh sáng mặt trời Trong cùng một thời gian dưới tác dụng của tia tử ngoại thì trứng đã phát triển đến giai đoạn ấu trùng bị diệt nhanh hơn trứng non
Theo Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [20], trứng giun giun T suis bị diệt
dưới tác dụng của ủ phân nhiệt sinh học Sau 3 - 4 tuần, nhiệt độ hố ủ tăng lên
Trang 18tới 45 oC sẽ làm hủy trứng giun giun T suis Tuy nhiên, trứng non có khả
năng chịu đựng các điều kiện nhiệt độ cao hơn trứng ở giai đoạn ấu trùng
Trứng T suis có vỏ dày nên có sức đề kháng cao với điều kiện ngoại cảnh Theo Lehand S Shapiri (2005) [36], trứng T suis có thể tồn tại rất lâu
(vài năm) trong đất
Sự phát triển của trứng phụ thuộc vào nhiệt độ: Ở 30 oC cần 17 ngày, ở nhiệt
độ thấp hơn, thời gian này kéo dài hơn Ở 10o
C trứng ngừng phát triển nhưng vẫn duy trì khả năng sống Nhiệt độ từ 45 oC trở lên diệt được trứng giun T suis
Phạm Sỹ Lăng và cs (2006) [17] cho biết: Các chất sát trùng như dung
dịch NaOH 2 %, Cresyl 3%, nước vôi 10 % diệt được trứng giun T suis
Theo Nguyễn Văn Huy (2010) [8], vào mùa hè trứng T suis cần 17 - 30 ngày,
mùa đông cần 17 - 34 ngày để phát triển thành trứng cảm nhiễm
2.1.2 Bệnh giun T suis ở lợn
2.1.2.1 Đặc điểm dịch tễ bệnh giun T suis
* Động vật mắc bệnh
Theo Phan Thế Việt và cs (1977) [33], lợn nhà và lợn rừng đều có khả
năng nhiễm giun T suis
Theo Nguyễn Phước Tương (2002) [32], người nhiễm bệnh khi nuốt
phải trứng giun T suis lẫn trong nước hay trong thức ăn thực vật chưa được nấu chín Sau khi vào ruột người, ấu trùng phát triển thành giun T suis trưởng
thành, khu trú ở ruột thừa và gây bệnh cho người Giun đẻ trứng, trứng này được bài xuất ra ngoài qua phân người, sau khi phát triển và chứa ấu trùng thì
có khả năng gây nhiễm cho lợn (tuy nhiên tỷ lệ trứng phát triển chỉ có 11 %,
trong khi giun T suis ở lợn có tỷ lệ phát triển là 86 %)
Phan Địch Lân và cs (2005) [19] đã điều tra trên các giống lợn Yorkshire, Landrace nhập nội, lợn lai F1 (ngoại x nội) và giống lợn nội ở vùng đồng bằng (Hà Nội, Hà Tây) cho biết: thành phần các loại giun sán chính ở lợn ngoại, lợn lai và lợn nội khác nhau không nhiều; các loài giun sán
phổ biến ở lợn ngoại và lợn lai cũng là: T suis, A suum, O ransomi…
Bùi Qúy Huy (2006) [8] cho biết, giun T suis ở lợn và giun Trichuris
trichiura ở người có nhiều điểm giống nhau về hình thái, hóa học và kháng
nguyên, do đó bệnh giun T suis dễ lây sang người
Trang 19* Đường lây nhiễm
Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (2009) [18], bệnh lây nhiễm qua đường tiêu hóa do lợn nuốt phải trứng cảm nhiễm lẫn trong thức ăn, nước uống
Lây nhiễm trực tiếp: Lợn bệnh bài xuất trứng giun T suis qua phân,
những trứng này phát tán trên nền chuồng, máng ăn, máng uống Vì vậy, lợn
khỏe dễ dàng bị nhiễm trứng giun T suis Lây nhiễm trực tiếp chủ yếu giữa
lợn bệnh và lợn khỏe trong cùng một ô chuồng Lợn con nhiễm bệnh chủ yếu khi bú sữa mẹ, nuốt phải trứng bám ở đầu vú lợn mẹ
Lây nhiễm gián tiếp: Dụng cụ chăn nuôi, người chăm sóc… cũng là tác nhân mang mầm bệnh Đây là những yếu tố trung gian góp phần lây nhiễm
giun T suis từ lợn bệnh sang lợn khỏe, từ ô chuồng này sang ô chuồng khác
Ngoài ra, ruồi, chuột cũng có thể phân tán trứng giun, gió cuốn trứng
giun theo bụi, mang trứng giun T suis từ chuồng này sang chuồng khác gây
phát tán mầm bệnh
* Tuổi mắc bệnh
Lương Văn Huấn và cs (1990) [7] cho biết: Tỷ lệ nhiễm giun T suis
theo tuổi lợn như sau:
Dưới 3 tháng tuổi nhiễm tỷ lệ 20,4 %
Từ 3 - 4 tháng tuổi nhiễm tỷ lệ 21,2 %
Từ 5 - 6 tháng tuổi nhiễm tỷ lệ 8,5 %
Trên 6 tháng tuổi nhiễm tỷ lệ 6,4 %
Nguyễn Đăng Khải (1996) [9] cho biết: Tỷ lệ nhiễm giun T suis ở lợn
cao nhất ở giai đoạn 2 - 6 tháng tuổi sau đó giảm dần, ít gây hại đối với lợn
Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (2006) [17], bệnh giun T suis ở lợn phân bố
trên toàn thế giới Tại Việt Nam, bệnh đã được phát hiện ở tất cả các tỉnh
miền Bắc, miền Trung và miền Nam Ở Hà Nội, lợn bị nhiễm giun T suis từ
4,3 - 30 % (ở lợn từ 2 - 6 tháng tuổi) và 0,56 - 7,8 % (ở lợn trên 6 tháng tuổi)
Phạm Sỹ Lăng và cs (2009) [18] cho biết: Bệnh giun T suis thường xảy
ra đối với lợn dưới 6 tháng tuổi Lợn nái và lợn trưởng thành nhiễm giun
T suis nhẹ hơn, ít thể hiện các triệu chứng lâm sàng
Trang 20Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (2009) [18], bệnh giun T suis lây nhiễm
quanh năm, nhưng tập trung từ mùa xuân tới mùa thu Mùa đông, thời tiết lạnh, ẩm độ thấp, không thích hợp cho trứng phát triển thành dạng trứng cảm
nhiễm nên tỷ lệ nhiễm giun T suis trong đàn lợn giảm đi
Nguyễn Đăng Khải, Nguyễn Đăng Nhượng (1975) đã mổ khám 89 con lợn ở vùng đồng bằng và miền núi thuộc các tỉnh Quảng Ninh, Quảng Ngãi,
Bình Định, kết quả cho thấy: Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun T suis có sự khác
nhau giữa các vùng, trong đó sự khác nhau này có liên quan đến khí hậu giữa các vùng Vùng đồng bằng, do mùa khô hạn kéo dài, nhiều ánh sáng (tổng số giờ chiếu nắng 2000 - 2300 giờ /năm) nhiệt độ những tháng nóng có thể lên tới 38 – 40
0C nên tỷ lệ nhiễm các loài giun sán nói chung đều thấp, đặc biệt là các loài
giun sán nhiễm trực tiếp như T suis (dẫn theo Trịnh Văn Thịnh và Đỗ Dương
Thái, 1978) [28]
* Phương thức chăn nuôi
Phương thức chăn nuôi là một trong những yếu tố quan trọng có ảnh
hưởng tới khả năng nhiễm giun T suis của lợn
Trang 21Phạm Văn Lan (1970) mổ khám 57 lợn và xét nghiệm 1000 mẫu phân tại xã Yên Nguyên (Tuyên Quang) cho thấy tỷ lệ nhiễm các loài giun tròn ở
lợn nuôi thả rông là 96,5 % Trong đó, tỷ lệ nhiễm giun T suis ở lợn nuôi
nhốt là 30 %; lợn nuôi thả rông là 47 % (dẫn theo Trịnh Văn Thịnh và cs, 1978) [28]
Phạm Sỹ Lăng và cs (2009) [18] cho biết: Các cơ sở chăn nuôi có
điều kiện vệ sinh kém, lợn bị nhiễm giun T suis với tỷ lệ cao gây thiệt hại
đáng kể cho đàn lợn
* Yếu tố streess
Các yếu tố stress (chuồng trại chật chội, thức ăn kém dinh dưỡng, nhiệt
độ ẩm độ môi trường thay đổi…) đóng vai trò thúc đẩy mức độ và tốc độ lây
lan bệnh giun T suis ở lợn
2.1.2.2 Cơ chế sinh bệnh
* Vị trí gây bệnh
Giun T suis ký sinh và gây bệnh ở ruột già lợn, đặc biệt là manh tràng
và kết tràng (Nguyễn Thị Kim Lan và cs, 1999) [12]
* Đường xâm nhập vào cơ thể
Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [12] cho biết: Bệnh giun T suis lây nhiễm trực tiếp không qua vật chủ trung gian Trứng giun T suis cảm
nhiễm xâm nhập vào cơ thể vật chủ qua đường tiêu hóa do lợn ăn phải thức
ăn, nước uống có lẫn trứng giun Giun T suis ký sinh và gây bệnh ở ruột già lợn, đặc biệt ở manh tràng và kết tràng
* Đường bài xuất mầm bệnh
Lợn mắc bệnh sau một thời gian thì bài xuất trứng theo phân ra ngoại cảnh
Vì vậy, trứng được phát tán rộng rãi ở ngoài tự nhiên và quá trình phát triển bắt đầu để tạo thành trứng cảm nhiễm (trứng có chứa ấu trùng bên trong)
* Cơ chế sinh bệnh
Giun T suis có phần đầu nhỏ, dài, phần này cắm sâu vào niêm mạc ruột
gây tổn thương, mở đường cho vi khuẩn gây bệnh vào cơ thể ký chủ Trong
quá trình sống, giun T suis tiết độc tố và thải cặn bã làm con vật trúng độc
Giun T suis lấy dịch tổ chức niêm mạc ruột để sống gây nên hiện tượng
xuất huyết, viêm ruột và dẫn đến ỉa chảy (Nguyễn Thị Kim Lan và cs, 1999) [12]
Trang 22Ngoài tác động chiếm đoạt chất dinh dưỡng của lợn, giun T suis còn
gây tác hại nặng nề cho lợn
- Tác động cơ giới: Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [12], Phạm
Sỹ Lăng và cs (2006) [17], phần đầu của giun cắm sâu vào thành ruột gây tổn thương, làm niêm mạc ruột già bị viêm và xuất huyết, gây rối loạn tiêu hóa, làm cho lợn có hội chứng hồng lỵ
- Tác động mang trùng: Theo Đào Trọng Đạt và cs (1996) [5], giun
T suis ký sinh gây tổn thương, tạo điều kiện cho các nhân tố khác xâm nhập
Nhân tố gây bệnh kế phát là xoắn khuẩn và phẩy khuẩn
- Tác động do độc tố: Độc tố là những sản phẩm mà giun T suis bài tiết
ra làm cho ký chủ trúng độc, gầy còm, thiếu máu, gây rối loạn tiêu hóa
2.1.2.3 Triệu chứng lâm sàng và bệnh tích
* Triệu chứng lâm sàng
Triệu chứng lâm sàng của bệnh thay đổi tùy thuộc vào tuổi con vật và
số lượng giun T suis ký sinh trong cơ thể lợn Ở những lợn trưởng thành
không thấy biểu hiện triệu chứng lâm sàng nhưng khi kiểm tra phân lợn mới
thấy lợn nhiễm giun T suis
Theo Skrjabin K I (1979) [36], triệu chứng bệnh giun T suis phụ
thuộc vào cường độ cảm nhiễm Khi nhiễm nặng, lợn có biểu hiện da khô, xù
lông, ỉa chảy rồi bị táo bón… Độc tố do T suis tiết ra có tác động gây bệnh
mạnh, làm cho vi nhung mao và các tế bào biểu mô mất đi tính chất cấu tạo
và bị phân hủy
Lợn bị bệnh giun T suis có những biểu hiện lâm sàng giống hội chứng
hồng lỵ Vì vậy, nhiều trường hợp nghi bệnh lỵ điều trị bằng kháng sinh
không khỏi Khi xét nghiệm phân mới phát hiện giun T suis ký sinh (Đào
Trọng Đạt và cs, 1996) [5]
Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (2006) [17], khi lợn nhiễm giun T suis ở cường
độ nhẹ thì triệu chứng lâm sàng không rõ Khi nặng thì con vật gầy yếu, thiếu
máu, trong phân có lẫn máu và niêm mạc ruột, có khi con vật bị kiết lỵ Nếu gây
nhiễm cho lợn với lượng trứng T suis lớn (20.000 - 200.000 trứng), thì triệu
chứng biểu hiện rất nặng: ỉa chảy, hô hấp khó, lợn có thể chết Lợn bị nhiễm giun
T suis mãn tính còi cọc, thiếu máu, tăng trọng giảm
Trang 23Lợn trưởng thành nhiễm giun T suis thường không thể hiện rõ các triệu chứng lâm sàng Lợn con ở 2 - 4 tháng tuổi bị nhiễm giun T suis xuất hiện các
triệu chứng như: Ỉa chảy, lúc đầu phân lỏng sau phân sệt có nhiều dịch nhầy như dịch mũi, lẫn máu, mỗi lần thải phân, lợn bệnh phải cong lưng lên để rặn nhưng phân ra rất ít Các triệu chứng trên giống như lợn bị bệnh lỵ Nếu lợn bị bệnh mãn tính thì còi cọc, thiếu máu, tăng trọng giảm (Phạm Sỹ Lăng và cs, 2006) [17]
Theo Trần Thị Dân (2008) [3], ruột già khác ruột non ở chỗ: Không có nhung mao nhưng có vi nhung mao Về tổng quát, ruột non là nơi tiết nước còn ruột già là nơi hấp thu nước Ruột già nguyên vẹn có thể hấp thu bù trừ nước khi ruột non tiết nhiều Tuy nhiên, những tổn thương ở ruột già do tác
động của giun T suis ký sinh sẽ làm giảm khả năng tái hấp thu nước, dẫn đến
tiêu chảy
* Bệnh tích
Theo Rutter J M và cs (1974) [37], khi mổ khám những lợn con bị
bệnh T suis thấy: Viêm ruột tăng lên trong hầu hết các trường hợp, thành ruột
già dày lên và phù thũng, trong ruột chứa chất nhày, máu và các tế bào hoại tử bong ra từ lớp niêm mạc
Theo Trịnh Văn Thịnh và cs (1982) [29], xác lợn chết gầy, có nhiều giun
T suis ở ruột già (nhất là manh tràng) Một số giun vẫn cắm sâu đầu vào niêm
mạc ruột Trên niêm mạc ruột có nốt loét to bằng hạt đậu xanh Khi bị nhiễm nặng, toàn bộ manh tràng xuất huyết màu hồng sẫm Niêm mạc ruột bị bong ra
Đào Trọng Đạt và cs (1996) [5] cho biết: Giun T suis ký sinh gây viêm
niêm mạc, thâm nhiễm tế bào, hình thành nhiều vết loét và tạo ra nhiều niêm dịch
Theo Nguyễn Thị Kim Lan (2012) [16], xác lợn chết gầy, có nhiều giun
ở ruột già (nhất là ở manh tràng) Một số giun vẫn cắm sâu vào niêm mạc ruột, phải kéo mạnh mới lấy ra được trên niêm mạc ruột có vết loét to bằng
hạt đậu xanh Khi bị nhiễm nặng toàn bộ ruột già có giun T suis ký sinh dày
đặc, niêm mạc ruột sần sùi có thể bị bong tróc từng mảng
2.1.2.4 Chẩn đoán bệnh giun T.suis ở lợn
Việc chẩn đoán bệnh giun T suis ở lợn có thể dựa vào đặc điểm dịch
tễ, triệu chứng lâm sàng của bệnh, xét nghiệm phân lợn và kiểm tra bệnh tích
Trang 24* Với lợn còn sống
Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [12], để chẩn đoán bệnh có thể
áp dụng hai phương pháp là chẩn đoán lâm sàng kết hợp với đặc điểm dịch tễ
và chẩn đoán trong phòng thí nghiệm
Chẩn đoán trong phòng thí nghiệm gồm: Nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng Nghiên cứu định tính nhằm xác định có hoặc không có giun
T suis ký sinh Đây là phương pháp thông dụng để nghiên cứu tình hình nhiễm
giun T suis ở lợn Nghiên cứu định lượng nhằm xác định lượng trứng trong phân
để đánh giá mức độ nhiễm và hiệu quả của một số thuốc tẩy giun
Phương pháp chẩn đoán lâm sàng kết hợp với đặc điểm dịch tễ: Những biểu hiện lâm sàng cần chú ý là lợn ăn kém, gầy yếu, da khô, lông xù, ỉa chảy, tình trạng vệ sinh thú y… Tuy nhiên, nếu căn cứ vào các đặc điểm nói trên để chẩn đoán thì sẽ không chính xác Bởi vì các bệnh ký sinh trùng thường có những triệu chứng lâm sàng tương tự nhau (rối loạn tiêu hóa, thể trạng gầy, da khô, lông xù…) Vì vậy, để chẩn đoán chính xác bệnh phải tiến hành xét
nghiệm phân tìm trứng giun T suis
Theo Phan Lục và cs (2006) [21], có 4 phương pháp xét nghiệm phân:
- Phương pháp Fullerborn
Nguyên lý của phương pháp này là dựa trên sự chênh lệch về tỷ trọng của dung dịch muối NaCl bão hòa (D = 1,18 - 1,2) lớn hơn tỷ trọng của trứng
giun T suis, do đó trứng sẽ nổi lên trên, ta có thể tìm thấy trứng giun T suis
dưới kính hiển vi (độ phóng đại 100 lần hoặc 400 lần)
- Phương pháp Darling
Nguyên lý chung của phương pháp này là dựa trên sự chênh lệch về tỷ
trọng giữa dung dịch NaCl bão hòa và trứng giun T suis nhẹ hơn ra khỏi phân Khi đó dùng vòng sắt vớt lớp váng phía trên, ta tìm được trứng giun T suis
Cách xét nghiệm mẫu: lấy khoảng 5 - 10 gam mẫu phân của con vật cần chẩn đoán, cho vào cốc thủy tinh Cho vào cốc đó lượng nước sạch bằng 10 lần thể tích khối lượng phân, dùng đũa thủy tinh khuấy tan phân và lọc qua lưới lọc Phần cặn bã bỏ đi, dung dịch lọc được cho vào các ống ly tâm và ly tâm với tốc
độ 3000 vòng /phút trong thời gian 3 - 5 phút Sau đó, đỏ bỏ lớp nước phía trên
và giữ lại cặn trong các ống ly tâm Tiếp theo cho nước muối bão hòa vào các
Trang 25ống ly tâm, đậy nắp miệng ống và lắc đều cho cặn hòa đều trong dung dịch, tiến hành ly tâm lần 2 với tốc độ và thời gian như trên Dùng lồng vòng sắt vớt lớp váng nổi trên bề mặt, đặt lên phiến kính sạch và soi dưới kính hiển vi tìm trứng
kính hiển vi tìm trứng giun T suis
- Để xác định cường độ nhiễm, có thể dùng phương pháp đếm số
trứng giun T suis trong buồng đếm Mc Master nhằm xác định số trứng giun
T suis /gam phân
* Với lợn chết: Chu Thị Thơm và cs (2006) [31] cho biết: Đối với nhiều
bệnh giun sán, phương pháp chẩn đoán khi con vật chết là chính xác nhất Việc
chẩn đoán bệnh giun T suis được tiến hành qua phương pháp mổ khám, kiểm tra bệnh tích ở ruột già và tìm giun T suis Khi phát hiện nhẹ nhàng lấy giun ra và
để chết tự nhiên trong nước sạch, sau đó bảo quản trong dung dịch Barbagallo (dung dịch Barbagallo gồm 30 ml Formol; 7,5 g NaCl; nước cất 1000 ml) và ghi
nhãn đầy đủ
2.1.2.5 Biện pháp phòng và trị bệnh giun T suis cho lợn
* Biện pháp phòng bệnh
Việc phòng bệnh giun T suis nói riêng và các bệnh ký sinh trùng đường
tiêu hóa ở lợn nói chung có ý nghĩa quan trọng Vì vậy, để nâng cao hiệu quả
trong việc phòng bệnh giun T suis cần thực hiện tốt các giải pháp sau:
- Vệ sinh chuồng trại, thiết bị sạch sẽ Không sử dụng các dụng cụ chăn nuôi khi chưa qua khử trùng Cơ sở chăn nuôi phải được xây dựng ở nơi cao ráo, có nhiều ánh sáng mặt trời chiếu trực tiếp Chuồng trại khi xây dựng phải đảm bảo đông ấm hè mát
- Không nuôi chung lợn ở nhiều lứa tuổi khác nhau trong cùng một khu vực
Trang 26- Thức ăn phải đảm bảo, nước uống sạch sẽ
- Có kế hoạch tẩy giun T suis cho lợn theo định kỳ
- Chất thải từ đàn gia súc phải được thu gom hàng ngày và ủ kỹ đúng nơi quy định Thường xuyên có biện pháp tiêu diệt côn trùng, chuột và động vật hoang dã vì chúng là những động vật môi giới mang mầm bệnh phát tán trong tự nhiên
Phạm Hữu Doanh và cs (1995) [2] cho biết: Lợn rất mẫn cảm với bệnh
ký sinh trùng, vì vậy chỉ cho lợn ăn rau bèo khi đã rửa sạch sẽ và định kỳ tẩy giun sán bằng các thuốc đặc hiệu Thức ăn, nước uống phải luôn luôn sạch
Biện pháp hữu hiệu để phòng chống bệnh giun sán ở gia súc là biện pháp phòng trừ bệnh tổng hợp, nghĩa là ở những vùng sinh thái nhất định, đồng thời sử dụng nhiều biện pháp có hiệu quả đối với tất cả các giai đoạn phát triển của giun sán, ở môi trường cũng như trong cơ thể vật chủ (Nguyễn Thị Lê và cs, 1996) [20]
Theo Phạm Văn Khuê và cs (1996) [11], biện pháp phòng bệnh tổng hợp đối với các bệnh giun tròn nói chung ở lợn gồm:
- Diệt căn bệnh trong cơ thể lợn: định kỳ tẩy giun cho lợn Mỗi năm
tẩy mấy lần là tuỳ điều kiện của từng vùng và từng loại lợn
- Diệt căn bệnh bên ngoài: trứng giun khuếch tán ra bên ngoài là
nguyên nhân chủ yếu làm căn bệnh lan tràn Có thể diệt trứng giun bằng cách
ủ phân hoặc các biện pháp lý hoá Các loại thuốc hoá học diệt trứng giun có hiệu quả như: Creolin, axit cacbonic kiềm tính
Đào Trọng Đạt và Phan Thanh Phượng (1986) [4] cho biết: Ủ phân
theo phương pháp nhiệt sinh học là cách tốt nhất để tiêu diệt trứng giun T
suis Nhiệt độ môi trường xung quanh có ảnh hưởng trực tiếp đến nhiệt độ
trong hố ủ Trong cùng một hố ủ, về mùa hè có thể duy trì ở nhiệt độ 50 0C Nhưng vào mùa đông, nhiệt độ chỉ là 37 0C Tuy nhiên, nếu ủ phân kín với lá xanh, rắc vôi, lân thì nhiệt độ trong hố ủ có thể lên tới 50 0C, khi đó trứng
giun T suis sẽ bị diệt bởi nhiệt độ cao
Phan Lục và cs (2006) [22], Chu Thị Thơm và cs (2006) [31] cho biết: Để
phòng bệnh giun T suis phải thường xuyên vệ sinh chuồng trại, dụng cụ chăn
Trang 27nuôi Phân, rác ủ đúng kỹ thuật để diệt trứng giun, định kỳ tẩy giun Tăng cường chăm sóc, nuôi dưỡng để gia súc có sức đề kháng cao với bệnh tật
Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (2006) [17], để phòng bệnh T suis cần thực
hiện tốt các biện pháp sau:
- Thực hiện vệ sinh chuồng trại và khu vực xung quanh chuồng nuôi để hạn chế sự phát tán trứng giun; đồng thời sử dụng hóa chất phun vào chuồng trại theo định kỳ như: Dung dịch NaOH 2 %, Cresyl 3 %, nước vôi 10 % để diệt trứng giun
- Ở các cơ sở bị ô nhiễm, có thể sử dụng một trong những hóa dược đặc hiệu tẩy dự phòng cho lợn nái trước khi sinh và cho lợn lứa tuổi 2 - 4 tháng tuổi
- Ủ phân cũng là biện pháp diệt trứng giun có hiệu quả
* Điều trị bệnh giun T suis
Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [12], việc dùng thuốc tẩy giun phải đạt được những yêu cầu sau:
Trước hết phải tiêu diệt được ký sinh trùng, dùng thuốc tẩy trùng cho vật nuôi Chữa cho con vật ốm khỏi bệnh và đảm bảo cho ngoại cảnh không
bị nhiễm bệnh giun sán Tránh mầm bệnh nhiễm vào những con vật khác Phải dùng thuốc tẩy giun sán từ lúc nó chưa trưởng thành, chưa đẻ trứng và phải tiêu độc thật tốt phân có trứng giun
Dùng thuốc tẩy giun sán thì phải dùng thuốc hướng ký sinh trùng, tức
là độc với giun sán mà không độc với ký chủ, nên chọn thuốc có hiệu lực nhất đối với ký sinh trùng, đồng thời ít nguy hiểm nhất đối với ký chủ, rẻ tiền và
dễ dùng nhất
Ngăn chặn không cho con vật ốm tái nhiễm, chăm sóc nuôi dưỡng tốt,
bổ sung đầy đủ dinh dưỡng, đưa con vật ra khỏi nơi có bệnh, tiêu độc chỗ đó trước khi đưa vật nuôi vào lại
Hướng mới trong việc chữa ký sinh trùng là tìm những thuốc có hiệu
lực chống được nhiều loài ký sinh trùng như: Mebendazol có tác dụng tẩy
nhiều loài giun tròn
Theo Phạm Khắc Hiếu (2009) [6], hiện nay trên thị trường có nhiều
thuốc điều trị bệnh giun T suis và được chia thành các nhóm:
Trang 28• Các Benzimidazol
Đây là nhóm thuốc quan trọng vì phổ chống ký sinh trùng rộng, không
chỉ tác dụng lên giun trưởng thành mà cả lên trứng và ấu trùng Các
Benzimidazol ức chế quá trình trao đổi chất sản sinh năng lượng của giun
thông qua cơ chế: Ức chế enzyme Fumaratreductase, nhằm cản sự hấp thu
glucose, đồng thời ức chế sự trùng hợp (polymerization) tại các vi mao quản trong hệ thống trao đổi chất của giun Quá trình tác động của thuốc xảy ra chậm, do đó điều kiện cơ bản để đạt hiệu lực cao là thuốc phải duy trì sự gắn
kết trong thời gian dài với giun T suis
•Các Macrolid
Là những thuốc có vòng Lacton lớn Đáng chú ý là các Ivermectin và các Milbemycin Thuốc có tác dụng tẩy giun T suis và các giun tròn đường
tiêu hóa khác ở lợn
Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (2009) [18], có thể dùng một trong các hóa
dược sau để tẩy giun T suis cho lợn
Mebenvet: Dùng liều 50 mg /kg TT, trộn thức ăn cho lợn ăn một lần Fenbendazol: Liều 30 mg /kg TT, trộn thức ăn cho lợn ăn từ 6 - 15 ngày Levamisol: Liều 7,5 mg /kg TT, trộn thức ăn hoặc tiêm cho lợn
Febentel: Liều 20 mg /kg TT, thuốc dùng dạng uống
Ivermectin: Liều 0,2 - 0,3 mg /kg TT, thuốc dùng tiêm cho lợn 2 lần,
cách nhau 1 - 2 ngày
Phan Lục và Nguyễn Đức Tâm (2000) [21], cho biết: Levamisol tên thương phẩm là Tramisol hay Ripercol, thuốc có thể trộn vào thức ăn hay pha nước uống có phổ tác dụng rộng với giun T suis Ngoài ra, fenbendazol tên thương phẩm là Safe Guard, thuốc có thể trộn vào thức ăn dùng liên tục trong
3 ngày, không tồn dư trong cơ thể, có hiệu quả mạnh đối với giun T suis
Theo Nguyễn Xuân Bình và cs (1996) [1] cho biết: Hiện này trên thị
trường có nhiều thuốc điều trị bệnh giun T suis Tuy nhiên, tác giả khuyên nên dùng một trong các hóa dược sau đây để tẩy giun T suis cho lợn:
- Levamisol: Liều 7,5 mg /kg TT
- Mebendazol: Liều 0,5 mg /kg TT
- Ivermectin: Liều 0,3 mg /kg TT
Trang 29Trong thời gian điều trị cần chăm sóc, nuôi dưỡng tốt
Nguyễn Văn Thanh và cs (2004) [25] cho biết: Có thể dùng Tayzu để tẩy giun T suis cho lợn với liều 4g /30 - 40 kg TT, trộn vào thức ăn hoặc dùng Levasol 7,5 % tiêm dưới da với liều 1ml/10 kg TT
Để tẩy giun T suis có hiệu quả cần thực hiện tốt một số yêu cầu sau:
+ Trước tiên phải chẩn đoán bệnh chính xác Sau đó tẩy cho những lợn
bị nhiễm nặng và có biểu hiện lâm sàng Với mục đích phòng bệnh thì nên tẩy cho cả đàn vì có những con đang mang mầm bệnh nhưng chưa phát hiện được
+ Xác định thời điểm tẩy thích hợp Tốt nhất là tẩy vào mùa xuân (tháng 3 - 4) và mùa thu (tháng 8 - 9) Lượng phân thải ra phải đem ủ nhiệt sinh học để diệt mầm bệnh, sau 15 - 20 ngày kiểm tra để đánh giá hiệu quả của thuốc (Nguyễn Thị Lê và cs, 1996) [20]
• Các Imidazothiazol
Các thuốc nhóm này tan trong nước, phổ chống giun tròn rộng Tác
dụng chống ký sinh trùng nhanh hơn so với các benzymidazol
Thuốc có tác dụng kích thích hạch, gây co cơ nhanh và kéo dài Ở liều
cao gây ức chế hệ enzym Fumaratreductase của giun T suis Trong ruột,
Levamisol tác dụng với cả giun trưởng thành và dạng ấu trùng của giun
Ngoài ra, thuốc còn kích thích hệ thống miễn dịch của lợn
Liều lượng: Tetramisol 12 mg /kg TT
Trang 30Bản thân sự thiếu năng lượng này làm cho giun tê liệt nặng hơn Tuy nhiên, quá trình liệt này có hồi phục
Liều lượng Piperazin Adipat: 200 - 400 mg /kg TT
Các muối của Piperazin ổn định hơn Do đó sử dụng các muối Citrat,
Phosphat và Adipat Trong 3 muối này, muối Citrat tan tốt trong nước nhưng
vị đắng Muối Phosphat và Adipat tan ít hơn và ít vị đắng hơn (Phạm Khắc
Hiếu, 2009) [6]
2.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước
2.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước
Theo Trịnh Văn Thịnh (1963) [26], tỷ lệ nhiễm giun T suis ở lợn từ
2 - 6 tháng tuổi là 4,3 - 30 %; lợn trên 6 tháng tuổi nhiễm 0,56 - 7,8 % Tỷ lệ nhiễm thấp nhất trong những điều kiện chăn nuôi tốt, vệ sinh và ăn đủ (2,5 %), điều kiện chăn nuôi kém thì tỷ lệ tăng cao (23 %)
Phạm Văn Khuê (1982) [10] cho biết, tỷ lệ nhiễm T suis ở lợn của một số
tỉnh phía Bắc: Nghĩa Lộ nhiễm 40,3 %; Quảng Ninh 33,7 %; Bắc Giang; Bắc Ninh 27,3 %; Thanh Hoá 12,5 %; Hưng Yên 15,1 %; Nam Định; Hà Nam 33,3
%; Hà Tĩnh 19,4 %; cường độ nhiễm cao, có trường hợp thấy 1219 giun T suis
ký sinh ở ruột già của một lợn
Ở một số tỉnh phía Nam, Lương Văn Huấn và cs (1990) [7] cho biết:
Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế lợn nhiễm T suis với tỷ lệ 14 %;
Quảng Nam - Đà Nẵng 8,75 %; Quảng Ngãi, Bình Định 27,5 %; Phú Yên, Khánh Hoà 8,3 %; Lâm Đồng 10 %; Đồng Nai 26,3 %; Bình Dương, Bình Phước 10 %; Tây Ninh 8,6 %; thành phố Hồ Chí Minh 39,0 %; Long An 11 %, Tiền Giang 2 %; Cần Thơ, Sóc Trăng 8,69 - 30 %
Nguyễn Thị Kim Lan và cs (2006) [13] khi nghiên cứu T suis và các loại
ký sinh trùng đường tiêu hóa lợn tại Thái Nguyên thấy: Đàn lợn nuôi ở Thái
Nguyên nhiễm T suis, Oesophagostomum sp và Fasciolopsis buski Trong đó, lợn bình thường nhiễm T suis 23,01 %; Oesophagostomum 20,86 %;
Fasciolopsis buski 18,71 %; tỷ lệ nhiễm tương ứng ở lợn tiêu chảy là 27,01
%; 23,85 % và 16,95 %, mức độ nhiễm T suis ở lợn tiêu chảy lớn hơn lợn
bình thường