BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG THÁI THỊ THANH DUYÊN NGHIÊN CỨU MỐI QUAN HỆ GIỮA QUẢN TRỊ CÔNG TY VÀ QUẢN TRỊ RỦI RO CỦA CÁC NGÂN HÀNG TMCP VIỆT NAM Chuyên ngành: QUẢN TRỊ KINH D
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
THÁI THỊ THANH DUYÊN
NGHIÊN CỨU MỐI QUAN HỆ GIỮA QUẢN TRỊ CÔNG TY VÀ QUẢN TRỊ RỦI RO CỦA CÁC NGÂN HÀNG TMCP VIỆT NAM
Chuyên ngành: QUẢN TRỊ KINH DOANH
Mã số: 60.34.05
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH
Đà Nẵng - Năm 2014
Trang 2Công trình được hoàn thành tại
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
Người hướng dẫn khoa học :TS TRƯƠNG HỒNG TRÌNH
Phản biện 1: TS Đinh Thị Lệ Trâm
Phản biện 2: TS Huỳnh Huy Hòa
Luận văn đã được bảo vệ tại Hội đồng chấm Luận văn tốt nghiệp Thạc sĩ Quản trị kinh doanh họp tại Đại học Đà Nẵng vào ngày 04 tháng 10 năm 2014
Có thể tìm hiểu luận văn tại:
Trung tâm Thông tin - Học liệu, Đại học Đà Nẵng
Thư viện trường Đại học Kinh tế, Đại học Đà Nẵng
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Quản trị công ty là chủ đề luôn giành được nhiều quan tâm trong suốt quá trình phát triển của nền kinh tế Ðối với lĩnh vực ngân hàng tài chính, do vai trò quan trọng và đặc thù của ngân hàng đối với tính ổn định và bền vững của toàn bộ nền kinh tế, do sự bùng nổ của khủng hoảng tài chính kèm theo những yếu kém và thất bại trong hoạt động của nhiều ngân hàng thời gian qua, quản trị công ty và quản trị rủi ro, đặc biệt là rủi ro tài chính đang trở thành vấn đề quan tâm hàng đầu tại nhiều quốc gia trên thế giới, từ những nước phát triển có nền tài chính vượt bậc như Mỹ, châu Âu, Nhật Bản… cho đến những nước đang phát triển trong đó có Việt Nam
Hệ thống tài chính đóng vai trò vô cùng quan trọng đối với một nền kinh tế thị trường và mối đe dọa quan trọng nhất đối với ngành tài chính là quản trị rủi ro không đúng Vì vậy việc điều tra các hoạt động quản trị rủi ro của các ngân hàng và vai trò của hệ thống quản trị trở nên cấp thiết Nghiên cứu mối liên kết giữa quản trị công ty đến công tác quản trị rủi ro tài chính của các ngân hàng Việt Nam là vấn đề đang được quan tâm hiện nay Từ đó mà các ngân hàng có những hướng giải pháp điều chỉnh để hoạt động quản trị mang lại hiệu quả tốt hơn, giảm thiểu rủi ro nhiều hơn Vì vậy nghiên cứu mối quan hệ giữa QTCT và QTRR của các ngân hàng TMCP Việt Nam sẽ giúp các ngân hàng giải quyết được vấn đề này
2 Mục tiêu nghiên cứu
+ Tìm hiểu một cách hệ thống các yếu tố Quản trị công ty thông qua tìm hiểu cơ chế bên ngoài và bên trong
+ Tìm hiểu về quản trị rủi ro và cách thức đo lường rủi ro tài chính trong ngân hàng
+ Mục đích chính là nghiên cứu mối quan hệ giữa Quản trị công ty và Quản trị rủi ro tài chính của hệ thống các ngân hàng
Trang 4TMCP Việt Nam
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu:
đề tài tập trung nghiên cứu các yếu tố về QTCT có mối quan hệ như thế nào với QTRR tài chính của các NHTMCP Việt Nam Phạm vi nghiên cứu: nghiên cứu chỉ tập trung vào QTCT theo cơ chế bên trong, bên ngoài, QTRR tài chính thuần túy Mẫu nghiên cứu của đề tài bao gồm các Báo cáo tài chính, Báo cáo thường niên, Báo cáo quản trị công ty, Báo cáo tình hình hoạt động của 26 Ngân hàng TMCP Việt Nam trong giai đoạn 2009 – 2013, không nghiên cứu các
Ngân hàng TMCP được cổ phần hóa từ ngân hàng quốc doanh
4 Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu các lý thuyết có
liên quan đến QTCT và các nghiên cứu thực nghiệm trước đây Đề tài dùng phương pháp định lượng để đo lường và nghiên cứu mối
quan hệ giữa QTCT và QTRR tài chính
5 Bố cục đề tài
Chương 1: Cơ sở lý luận về Quản trị công ty và Quản trị rủi ro ngân hàng
Chương 2: Phương pháp nghiên cứu mối quan hệ giữa QTCT
và QTRR của các NHTMCP Việt Nam
Chương 3: Kết quả nghiên cứu mối quan hệ giữa QTCT và
QTRR của các NHTMCP Việt Nam
6 Tổng quan tài liệu nghiên cứu
Nghiên cứu về QTCT, QTRR, đặc biệt là nghiên cứu mối quan hệ này đã ngày càng phổ biến trong những năm gần đây Vấn đề này đã được nghiên cứu ở nhiều quốc gia, nhiều thời điểm
và phạm vi khác nhau Mỗi tác giả tiếp cận một khía cạnh khác nhau và cũng có những kết quả đánh giá tương đồng Từ việc kế thừa
và chọn lọc những nhân tố đặc trưng, phổ biến của các nghiên cứu đi trước, đề tài đã xây dựng mô hình nghiên cứu riêng để xem xét mối tương quan giữa hai cấu trúc trên
Trang 5CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ CÔNG TY
VÀ QUẢN TRỊ RỦI RO NGÂN HÀNG
QTCT là một hệ thống các cơ chế và quy định, thông qua đó, công ty được định hướng điều hành và kiểm soát nhằm đáp ứng quyền lợi của nhà đầu tư, người lao động và những người điều hành công ty
QTCT xác định quyền hạn và trách nhiệm giữa các nhóm lợi ích, các thành viên khác nhau trong công ty (các cổ đông, HĐQT, ban điều hành, ban kiểm soát và những người liên quan khác của công ty) QTCT lập ra các nguyên tắc và quy trình, thủ tục ra quyết định trong công ty, qua đó ngăn chặn sự lạm dụng quyền lực và chức
vụ, giảm thiểu những rủi ro liên quan đến hoặc có nguồn gốc từ những giao dịch với các bên có liên quan, những xung đột lợi ích tiềm năng và từ việc không có tiêu chuẩn rõ ràng hoặc không tuân thủ các quy định về công bố thông tin và không minh bạch
hàng
Các ngân hàng có tầm vô cùng quan trọng đối với sự phát triển
của nền kinh tế QTCT hiệu quả rất cần thiết để xây dựng và duy trì
sự tín nhiệm và lòng tin của công chúng đối với hệ thống ngân hàng QTCT yếu kém có thể dẫn đến sự sụp đổ của các ngân hàng, gây nên những tổn thất kinh tế và xã hội cực kỳ nghiêm trọng QTCT yếu
Trang 6kém có thể khiến thị trường mất niềm tin vào khả năng quản lý hiệu quả tài sản và nợ phải trả của ngân hàng, kể cả tài sản tiền gửi
1.1.3 Học thuyết liên quan tới quản trị công ty
1.1.4 Cách tiếp cận theo cơ chế Quản trị công ty trong ngành ngân hàng
Ciancanelli and Gonzales (2000) chỉ ra rằng trong ngành ngân hàng, những quy định và quy tắc điều chỉnh cơ chế là đại diện do cơ chế QTCT bên ngoài Quy định ngân hàng đại diện cho sự tồn tại của lợi ích khác nhau giữa lợi ích của cá nhân và công ty Những quy định và quy tắc điều tiết hoạt động ngân hàng thông qua sự quản lý
và điều chỉnh của Ngân hàng Trung ương, cơ quan giám sát Quốc tế Nghĩa vụ pháp lý và quy định chính thức là một phần của cơ chế khuyến khích bên ngoài
QTCT nội bộ là cơ chế về trách nhiệm, giám sát, kiểm soát và quản lý của một công ty liên quan đến việc sử dụng các nguồn lực và chấp nhận rủi ro (Llewellyn và Sinha, 2000) Quản trị nội bộ công ty bắt đầu với HĐQT Một công ty điều chỉnh tốt cần phải cân bằng vai trò của ba nhóm: cổ đông, HĐQT, và quản lý, trong khi đáp ứng tất
cả các cam kết tài chính và các nghĩa vụ khác với một loạt các các bên liên quan Các cơ chế nội bộ của công việc quản trị doanh nghiệp
để kiểm tra và cân bằng quyền lực của nhà quản lý, các cổ đông, giám đốc và các bên liên quan Ủy ban Basel về Giám sát Ngân hàng (1999) dựa trên trách nhiệm của hội đồng quản trị và quản lý ngân
Trang 7hàng để đánh giá thực hiện quản trị công ty tốt
Rủi ro là khả năng những sự kiện chưa chắc chắn trong tương lai sẽ làm cho chủ thể không đạt được những mục tiêu chiến lược và mục tiêu hoạt động, cũng như chi phí cơ hội của việc làm mất những
cơ hội thị trường
Theo quan điểm của Greuning và Bratanovic (2003), rủi ro ngân hàng được phân thành bốn loại chính: rủi ro hoạt động, rủi ro kinh doanh, rủi ro sự kiện và rủi ro tài chính
Theo Dan G (2009), Quản trị rủi ro là một quá trình mà các nhà quản lý ngân hàng đáp ứng nhu cầu phù hợp, đo lường rủi ro hoạt động, xác định các rủi ro chính, lựa chọn các rủi ro có thể giảm
và tăng, có được nguồn sản xuất phù hợp và giám sát các vị trí có khả năng rủi ro
QTRR luôn là hoạt động trung tâm trong các tổ chức tài chính – ngân hàng Mặt khác trong nền kinh tế thị trường nếu không chấp nhận rủi ro thì không thể tạo các cơ hội đầu tư, kinh doanh mới Do
đó QTRR là một yêu cầu tất yếu đặt ra trong quá trình tồn tại và phát triển của NHTM Quản trị rủi ro là một phần quan trọng của quản trị chiến lược của bất kỳ tổ chức Nó là quá trình mà các tổ chức có phương pháp giải quyết các rủi ro gắn với hoạt động của mình với mục tiêu đạt được lợi ích bền vững trong từng hoạt động và trên danh mục đầu tư của tất cả các hoạt động
Trang 81.2.3 Nguyên tắc của quản trị rủi ro
Theo thông lệ quốc tế, một hệ thống quản trị rủi ro lành mạnh phải có:
- Có sự giám sát của Hội đồng Quản trị và Ban điều hành (BOM);
- Có chính sách, quy trình và hạn mức thích hợp và đầy đủ (PPL);
- Có các hệ thống thông tin quản lý (MIS), hệ thống theo dõi giám sát và đo lường rủi ro thích hợp;
- Kiểm soát nội bộ toàn diện (ICs)
• Khái niệm về vốn của ngân hàng
Về khái niệm vốn tự có của ngân hàng thương mại, theo Luật các TCTD Việt Nam đã sửa đổi và bổ sung năm 2010, vốn tự có của Ngân hàng thương mại bao gồm: giá trị thực có của vốn điều lệ, các quỹ dự trữ và một số tài sản nợ khác, gồm các khoản vốn điều lệ, quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ, quỹ dự trữ đặc biệt để dự phòng bù đắp rủi ro,lợi nhuận chưa chia, giá trị tăng thêm do định giá lại tài sản cố định, vốn Nhà nước cấp để cho vay dài hạn, các loại vốn, quỹ khác,…
• Đo lường rủi ro vốn
Các tỷ lệ an toàn trong hoạt động ngân hàng: Tỷ lệ giữa Vốn
tự có so với tổng nguồn vốn huy động, tỷ lệ giữa Vốn tự có so với tổng tài sản (*), tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu (CAR – Capital Adequacy Ratio)
• Khái niệm rủi ro tín dụng
Rủi ro tín dụng được định nghĩa là xác suất mà một số tài sản
Trang 9của ngân hàng (đặc biệt là các khoản vay) sẽ suy giảm giá trị hay không thể thu hồi
Quản trị rủi ro tín dụng hiệu quả liên quan đến việc quản lý chặt chẽ mối quan hệ giữa rủi ro/lợi nhuận và kiểm soát và giảm thiểu rủi ro tín dụng trong nhiều khía cạnh khác nhau, chẳng hạn như chất lượng tín dụng, mức độ tập trung, loại tiền tệ, thời gian đáo hạn, các hình thức bảo đảm và các loại công cụ tín dụng
• Các chỉ số đánh giá rủi ro tín dụng: Chỉ số tỷ lệ nợ quá
hạn, tỷ lệ nợ xấu, hệ số rủi ro tín dụng, tỷ lệ xóa nợ Để đánh giá rủi
ro tín dụng, ta còn sử dụng các chỉ số khác như: Dư nợ trên vốn huy động, chỉ tiêu hệ số thu nợ, chỉ tiêu vòng quay vốn tín dụng, trích lập
dự phòng rủi ro
c Quản trị rủi ro thanh khoản
• Khái niệm rủi ro thanh khoản
Rủi ro thanh khoản có thể xuất phát từ những nguyên nhân như đặc điểm tài sản tài chính do ngân hàng suy giảm về niềm tin; do
dự mất cân đối về thời hạn giữa nguồn vốn huy động và đầu tư vốn;
do những người rút tiền ổ ạt, tức thời; hoặc liên quan đến các cam
kết tín dụng của ngân hàng, các khoản ngoại bảng
Quản trị rủi ro thanh khoản liên quan tới việc không chỉ phân tích bảng cân đối kế toán và các khoản ngoại bảng của ngân hàng mà còn phải dự báo dòng tiền tương lai cũng như các yêu cầu tài trợ mà ngân hàng cần đáp ứng Đồng thời ngân hàng cần xác định được khả năng huy động/vay mượn trên thị trường, giám sát các dấu hiệu xói mòn lòng tin của thị trường
• Phương pháp QTRR thanh khoản - PP tiếp cận chỉ số
thanh khoản: Chỉ số trạng thái tiền mặt, chỉ số năng lực cho vay, chỉ
số chứng khoán thanh khoản, chỉ số tiền gửi cơ sở , chỉ số cấu trúc
Trang 10tiền gửi, chỉ số Dư nợ / TG khách hàng, chỉ số (tiền mặt + tiền gửi tại
Christopher và Mo Fung Yung đã nghiên cứu mối quan hệ
giữa QTCT và hiệu quả hoạt động ngân hàng của 76 ngân hàng tại HongKong Nghiên cứu này đã tập trung vào cách các ngân hàng lựa chọn cấu trúc và chiến lược mà sẽ lần lượt ảnh hưởng đến hiệu quả của họ trong ngành công nghiệp ngân hàng Hồng Kông Tác giả sử dụng phương pháp hồi quy dữ liệu bảng để kiểm tra mối quan hệ giữa QTCT, hoạt động ngân hàng, trong việc kiểm soát đối với một
số yếu tố cụ thể công ty mà có thể ảnh hưởng đến hoạt động ngân hàng Đối với việc đo lường các biến đại diện cho QTCT, tác giả đã lựa chọn các yếu tố về quy mô HĐQT, mức độ cho vay các bên liên quan, thị phần các khoản nợ và quy mô tài sản ngân hàng để đưa vào
mô hình nghiên cứu
các ngân hàng có quy mô HĐQT lớn hơn và với một mức độ cho vay các bên liên quan thấp hơn có xu hướng hoạt động tốt Quy mô của các ngân hàng đang liên quan tích cực đến hiệu quả ngân hàng, chỉ ra rằng các ngân hàng lớn hơn có hiệu quả hoạt động tốt hơn
Q.Q.Aboagye và Anthony Kyereboah-Coleman
Nhóm tác giả nghiên cứu về QTCT và quản trị rủi ro ngân hàng ở Ghana Nghiên cứu báo cáo tài chính của 23 ngân hàng giai đoạn 2005-2008 Các yếu tố về QTCT được đo lường thông qua chỉ
Trang 11số sức mạnh HĐQT Nghiên cứu điều tra trạng thái của QTCT trong các ngành công nghiệp ngân hàng Ghana tác động ba biện pháp rủi
ro ngân hàng – rủi ro vốn, rủi ro tín dụng và rủi ro thanh khoản như thế nào Chỉ số về tình trạng của QTCT là số điểm của HĐQT dựa trên một chỉ số theo dõi sức mạnh của HĐQT Chỉ số bảng được xây dựng dựa trên tổng các thành phần sau: HĐQT độc lập, quy mô HĐQT, Ủy ban Kiểm toán, kiểm toán viên nội bộ, Chủ tịch/ Giám đốc điều hành (CEO) và một số yếu tố khác
HĐQT không có tác động đáng kể đến rủi ro vốn, rủi ro tín dụng cũng như rủi ro thanh khoản Hành vi gửi tiền dường như ảnh hưởng duy nhất đến quản lý thanh khoản Nhóm tác giả cũng không tìm thấy bằng chứng cho thấy hành động của cổ đông làm giảm rủi ro tín dụng của các ngân hàng Đồng thời kết quả còn cho thấy ngân hàng
ít vốn hơn có khả năng tổ chức, trong khi tổng tài sản ngân hàng chỉ
quan trọng trong quản trị rủi ro vốn
Phillip Ormrod (2012)
Nghiên cứu của nhóm tác giả về QTCT và rủi ro Nghiên cứu này tập trung vào một khía cạnh của QTCT chính là cơ cấu HĐQT
và quy trình Nghiên cứu sử dụng một cách tiếp cận thu thập dữ liệu
và phân tích kết hợp định lượng (ví dụ: hồi quy) và các phương pháp định tính (ví dụ như khảo sát và phỏng vấn chuyên gia) để làm sáng
tỏ các nội dung hoạt động của HĐQT và quản trị rủi ro
chính khủng hoảng, nghiên cứu đã tìm cách: Xác định cơ cấu hội
đồng quản trị và các quy trình tại chỗ trước cuộc khủng hoảng 2008
– 2009 Mối liên hệ giữa các sắp xếp HĐQT và rủi ro tài chính và
Trang 12rủi ro kinh doanh của công ty dựa trên dữ liệu công ty trong giai đoạn 2007- 2009 Xác định cơ cấu hội đồng quản trị và các quy trình
quan trọng đối với việc thực hiện trách nhiệm HĐQT đối với rủi ro
và các cộng sự (2007)
Nhóm tác giả cũng đã đưa ra kết quả nghiên cứu về mối quan
hệ giữa ba cấu trúc QTCT, quản trị rủi ro và hiệu quả hoạt động ngân hàng Nghiên cứu này cung cấp một mô hình khái niệm được gọi là
Mô hình tam giác và sau đó kiểm tra nó trong một nghiên cứu thực nghiệm Mục đích là để điều tra mối quan hệ giữa QTCT quản trị rủi
ro, và ngân hàng hoạt động trong lĩnh vực ngân hàng Indonesia Nghiên cứu này xem xét liệu các loại quyền sở hữu đã quản ảnh hưởng đến các mối quan hệ, và có quyền sở hữu cấu trúc là một yếu
tố quyết định quan trọng của quản trị công ty Nhóm tác giả đã xây dựng ba cấu trúc thành các biến cụ thể để có thể xác định và đo lường hoạt động
tiếp cận mới để giải thích cơ chế QTCT được gọi là mô hình tam giác Mô hình cho thấy rằng việc thực hiện QTCT tốt xảy ra khi có mối quan hệ giữa ba cấu trúc Riêng đối với mối quan hệ giữa QTCT
và QTRR, nghiên cứu đã đưa ra kết luận rằng QTCT có ảnh hưởng đáng kể và tiêu cực về quản trị rủi ro Đồng thời mối quan hệ giữa
QTCT và QTRR là nhạy cảm với loại quyền sở hữu ngân hàng
Mục tiêu của nghiên cứu này là để điều tra mối quan hệ giữa cơ chế quản trị nội bộ và rủi ro ngân hàng trong bối cảnh Tunisia Đặc biệt nhấn mạnh vào tác động của cơ cấu sở hữu và hội đồng quản trị đối với rủi ro ngân hàng Một mặt, thông qua
Trang 13việc xem xét tài liệu lý thuyết và thực nghiệm, tác giả đã xây dựng giả thuyết hoạt động sau khi đưa ra nền tảng lý thuyết của lĩnh vực quản trị rủi ro và ngân hàng Mặt khác, trên một bảng điều khiển của 10 ngân hàng Tunisia niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng khoán của Tunis trong giai đoạn 2002 - 2009, các tác giả
sử dụng phần mềm Eviews 7, tiến hành kiểm tra các đặc điểm kỹ thuật của mô hình kinh tế
Kết luận: Mỗi tác giả có một cách tiếp cận khác nhau, họ khai
thác một hay nhiều khía cạnh của QTCT và QTRR Điểm chung của các nghiên cứu này là các tác giả đều dùng yếu tố về HĐQT và cơ cấu sở hữu để đại diện cho việc đánh giá về QTCT Riêng về yếu tố QTRR, nhiều tác giả nghiên cứu về rủi ro hoạt động, rủi ro kinh doanh và phổ biến nhất là đo lường các yếu tố về rủi ro tài chính
CHƯƠNG 2
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU MỐI QUAN HỆ GIỮA QUẢN TRỊ CÔNG TY VÀ QUẢN TRỊ RỦI RO CỦA CÁC NGÂN HÀNG TMCP VIỆT NAM
Theo số liệu thống kê của NHNN, tính đến 31/12/2013, Việt Nam hiện có 1 ngân hàng chính sách xã hội, 1 ngân hàng phát triển,
5 ngân hàng thương mại nhà nước, 4 ngân hàng liên doanh, 5 ngân hàng 100% vốn đầu tư nước ngoài, 49 văn phòng đại diện của ngân hàng nước ngoài, 50 chi nhánh ngân hàng nước ngoài, 32 NHTM cổ phần Theo thống kê của NHNN, mặc dù số lượng NHTM cổ phần lớn gấp hơn 6 lần NHTM nhà nước, nhưng tổng vốn tự có lại chỉ khoảng 50,000 tỷ đồng, các chỉ tiêu về hiệu quả hoạt động cũng thấp