bộ giáo dục và đào tạo Trờng Đại học Vinh PHÙNG XUÂN LÀI GIÁO DỤC TÍNH TÍCH CỰC, CHỦ ĐỘNG CHIẾM LĨNH TRI THỨC TOÁN HỌC CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THễNG TRONG DẠY HỌC TỰ CHỌN CHỦ ĐỀ BÁM S
Trang 1bộ giáo dục và đào tạo Trờng Đại học Vinh
PHÙNG XUÂN LÀI
GIÁO DỤC TÍNH TÍCH CỰC, CHỦ ĐỘNG CHIẾM LĨNH TRI THỨC TOÁN HỌC CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THễNG TRONG DẠY HỌC TỰ CHỌN CHỦ ĐỀ BÁM SÁT
ĐẠI SỐ 10 NÂNG CAO
Chuyờn ngành: Lí LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC BỘ MễN TOÁN
Mó số: 60.14.01.11
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Nghệ An, 2014
Trang 2bộ giáo dục và đào tạo Trờng Đại học Vinh
PHÙNG XUÂN LÀI
GIÁO DỤC TÍNH TÍCH CỰC, CHỦ ĐỘNG CHIẾM LĨNH TRI THỨC TOÁN HỌC CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THễNG TRONG DẠY HỌC TỰ CHỌN CHỦ ĐỀ BÁM SÁT
ĐẠI SỐ 10 NÂNG CAO
Chuyờn ngành: Lí LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC BỘ MễN TOÁN
Mó số: 60.14.01.11
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học:
TS NGUYỄN HỮU HẬU
Nghệ An, 2014
Trang 3Nghệ An, ngày 10/10/2014.
Phùng Xuân Lài
Trang 4MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 6
1.1 Tăng cường tính tích cực, chủ động chiếm lĩnh tri thức trong dạy học 6
1.1.1 Tính tích cực và tính tích cực học tập của học sinh 6
1.1.2 Vai trò phải phát huy tính tích cực, chủ đông chiếm lĩnh tri thức của học sinh 11
1.1.3 Khái niệm chiếm lĩnh tri thức 13
1.1.4 Các cấp độ chiếm lĩnh tri thức trong dạy học 16
1.2 Một số vấn đề dạy học tự chọn 19
1.2.1 Một số vấn đề về nội dung, phương pháp và thời lượng dạy học các chủ đề môn toán ở lớp 10 THPT 20
1.2.2 Thực trạng của việc dạy học tự chọn môn toán ( Khảo sát tại một số trường Trung học phổ thông ở Hà Tĩnh 26
1.2.3 Sự cần thiết phải tiến hành dạy học chủ đề tự chọn bám sát Đại số 10 ……… 33
1.3 Vấn đề lựa chọn và phối hợp các phương pháp dạy học tích cực nhằm tăng cường tính chủ động, tích cực chiếm lĩnh tri thức toán học của học sinh 34
1.3.1 Cơ sở lựa chọn các phương pháp dạy học 34
1.3.2 Phương pháp dạy học tích cực……… 35
1.3.3 Đặc trưng, bản chất của phương pháp dạy học tích cực 42
1.3.4 Một số phương pháp dạy học tích cực cần được áp dụng ở trường THPT hiện nay 43
1.4 Kết luận Chương I 48
Trang 5Chương II: MỘT SỐ PHƯƠNG THỨC TỔ CHỨC DẠY HỌC TỰ CHỌN CHỦ
ĐỀ BÁM SÁT ĐẠI SỐ 10 CHƯƠNG TRÌNH NÂNG CAO 49
2.1 Căn cứ xây dựng và thực hiện các phương thức tổ chức dạy học tự chọn chủ đề bám sát 49
2.1.1 Dựa vào yêu cầu Sách Giáo khoa 49
2.1.2 Dựa vào yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học hiện nay ở trường phổ thông 50
2.1.3 Dựa vào những khó khăn mà giáo viên gặp phải khi dạy học tự chọn 51
2.1.4 Dựa vào trình độ nhận thức của học sinh 51
2.2 Một số phương thức tổ chức dạy học chủ đề bám sát Đại số 10 chương trình Nâng cao 52
2.2.1 Phương thức 1: Vận dụng một số phương pháp dạy học không truyền thống vào dạy học tự chọn chủ đề bám sát chương trình nâng cao Đại số 10 52
2.2.2 Phương thức 2: Thiết kế tài liệu tự học môn toán theo tinh thần module dạy học 77
2.2.3 Phương thứ 3: Tạo động cơ, hứng thú cho học sinh để phát huy khả năng chủ động chiếm lĩnh tri thức 92
2.2.4 Phương thức 4: Giáo viên chú ý đến việc xây dựng, lựa chọn nội dung các chuyên đề dạy học chủ đề tự chọn bám sát Đại số 10 góp phần giáo dục tính tích cực, chủ động chiếm lĩnh tri thức của học sinh 111
2.2.5 Kết luận chương II 132
Chương III THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 134
3.1 Mục đích thực nghiệm 134
3.2 Tổ chức và nội dung thực nghiệm 134
3.2.1 Tổ chức thực nghiệm 134
3.2 Nội dung thực nghiệm 135
Trang 63.3 Đánh giá thực nghiệm 137
3.3.1 Đánh giá định tính 137
3.3.2 Đánh giá định lượng 138
3.4 Kết luận chung về thực nghiệm 140
KẾT LUẬN 140
TÀI LIỆU THAM KHẢO 142
Trang 7QUY ƯỚC VỀ CÁC CHỮ VIẾT TẮT
SỬ DỤNG TRONG LUẬN VĂN
Trang 8PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
1.1 Đổi mới trong giáo dục đã và đang được toàn xã hội quan tâm, đặc biệttrong giai đoạn hiện nay Trong đó vấn đề đổi mới nội dung và phương pháp dạyhọc rất được chú trọng Nghị quyết TW 4 (khoá VII) và nghị quyết TW 2 (khoáVIII) đã chỉ rõ: “phương pháp giáo dục phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủđộng, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm từng cấp học, môn học; bồidưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm; rèn luyện kỹ năng vậndụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui hứng thúhọc tập của học sinh” Luật giáo dục 2005 [7, tr142]
Trong Nghị quyết hội nghị TW 8( khóa XI) nêu rõ về đổi mới căn bản, toàndiện giáo dục và đào tạo là: Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ và đồng bộ các yếu tố cơbản của giáo dục, đào tạo theo hướng coi trọng phát triển phẩm chất, năng lực củangười học; Đối với giáo dục phổ thông, tập trung phát triển trí tuệ, thể chất, hìnhthành phẩm chất, năng lực công dân, phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu, địnhhướng nghề nghiệp cho học sinh Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, chútrọng giáo dục lý tưởng, truyền thống, đạo đức, lối sống, ngoại ngữ, tin học, nănglực và kỹ năng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn Phát triển khả năngsáng tạo, tự học, khuyến khích học tập suốt đời; Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phươngpháp dạy và học theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo vàvận dụng kiến thức, kỹ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt mộtchiều, ghi nhớ máy móc Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học,tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kỹ năng, phát triển nănglực Chuyển từ học chủ yếu trên lớp sang tổ chức hình thức học tập đa dạng, chú ýcác hoạt động xã hội, ngoại khóa, nghiên cứu khoa học Đẩy mạnh ứng dụng côngnghệ thông tin và truyền thông trong dạy và học
Trang 91.2 Trong những thập kỷ cuối của thế kỷ 20, giáo dục của nhiều nước trên thế
giới thể hiện rõ xu thế “Hướng đến từng cá nhân” trong quá trình dạy học Xu thế
này dựa trên quan niệm cho rằng giáo dục thực chất là một quá trình xã hội hoá từng
cá nhân, đó là quá trình bắt nguồn từ bên trong tinh thần và có sắc thái cá tính, nhằmhoàn thiện “cái tôi” của mỗi người học Cách tiếp cận cá thể hoá quá trình dạy họcthể hiện rõ rệt trong từng khâu của giáo dục, từ việc xây dựng nội dung, phươngpháp tới việc tổ chức dạy học ở thế kỷ 21, một trong các xu thế nổi bật của giáo dục
vẫn là “Hướng đến cá nhân” Càng ngày người học càng được cung cấp nhiều hơn
“các cơ hội lựa chọn” Cũng vì quan niệm như vậy, đã từ lâu và càng ngày càng rõhơn, chương trình dạy học của nhiều nước nhấn mạnh tới việc tạo cho học sinh các
cơ hội và điều kiện tự chọn
1.3 Trong khi vấn đề “tự chọn” trong giáo dục tuy không còn là mới mẻ nhưngvẫn luôn luôn mang tính thời sự với nhiều nước trên thế giới thì ở nước ta đây vẫncòn là vấn đề chưa được nghiên cứu nhiều Trong khi đó, việc tổ chức thực hiệndạy học phân ban kết hợp với dạy học tự chọn ở trường THPT cũng đã bắt đầuthực hiện từ năm học 2006 – 2007, cho nên đội ngũ quản lý và giáo viên còn nhiều
bỡ ngỡ, gặp nhiều lúng trong cách tổ chức và giảng dạy Điều đó đòi hỏi cần phải
có những nghiên cứu đầy đủ hơn về xây dựng nội dung, tài liệu và phương phápdạy học “tự chọn” ở các trường THPT
Thực tiễn cho thấy việc tổ chức dạy học phân ban ở một số trường THPT chưaxuất phát từ năng lực, sở trường của học sinh (thường là theo ý muốn chủ quan củaphụ huynh học sinh và của học sinh, hoặc tiện lợi cho công tác quản lý của nhàtrường Vì vậy bên cạnh những học sinh thật sự có khả năng tiếp thu được kiếnthức nội dung môn học theo ban mình đã chọn vẫn còn có những học sinh chưađáp ứng được yêu cầu, các em cần phải được rèn luyện, bổ sung thêm về kiến thức
và kỹ năng nhằm theo kịp chương trình nâng cao Bên cạnh đó thì việc nhìn nhận
về vấn đề “dạy học tự chọn ” ở các trường THPT cũng chưa được hiểu và đầu tưđúng mức tương xứng với vai trò của nó Thực tiễn sư phạm cho thấy việc dạy học
Trang 10các môn tự chọn ở các trường hầu như đang áp dụng dựa trên tỷ lệ của giáo viên bộmôn để phân bố, lựa chọn môn học tự chọn Hơn nữa môn học tự chọn chưa cóđịnh hướng, phân phối chương trình cụ thể như chương trình chính khóa vì thế dẫntới giáo viên không đầu tư, đổi mới phương pháp dạy học nên giờ dạy không cóhiệu quả
1.4 Chương trình Đại số 10 Nâng cao đóng vai trò quan trọng trong chươngtrình môn Toán của THPT vì lượng kiến thức rộng, và nhiều nội dung kiến thứchọc sinh dễ mắc sai lầm trong quá trình chiếm lĩnh tri thức đó Hơn nữa cũng lànền tảng cho học sinh tiếp tục học các lớp trên và phục vụ cho thi đại học, caođẳng Bên cạnh đó phân phối chương trình chính khóa chỉ có 2 tiết/ tuần dành choban cơ bản và 3 tiết/tuần dành cho chương trình phân ban Vì vậy tổ chức các tiếtdạy tự chọn theo chủ đề bám sát theo hướng phát huy tính tích cực, chủ độngchiếm lĩnh tri thức cho học sinh là cần thiết
Với mong muốn góp phần giúp cho giáo viên và học sinh có phương phápgiảng dạy và học tập tốt hơn trong khi dạy và học nội dung “tự chọn”, chúng tôi
lựa chọn đề tài luận văn “Giáo dục tính tích cực, chủ động chiếm lĩnh tri thức toán học của học sinh Trung học phổ thông trong dạy học tự chọn chủ đề bám sát Đại số 10 Nâng cao”
2 Mục đích nghiên cứu
Xây dựng phương thức dạy học chủ đề tự chọn bám sát Đại số 10 chương trìnhnâng cao theo hướng tăng cường tính tích cực, chủ động chiếm lĩnh tri thức toánhọc của học sinh
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
Luận văn có nhiệm vụ giải đáp các câu hỏi khoa học sau đây:
3.1 Để tăng cường tính tích cực, chủ động chiếm lĩnh tri thức toán học cho họcsinh cần dựa trên những cơ sở lí luận nào?
3.2 Cơ sở lí luận về dạy học tự chọn môn Toán gồm những vấn đề gì?
Trang 113.3 Thực trạng của việc dạy học tự chọn cho học sinh Trung học phổ thônghiện nay như thế nào?
3.4 Những phương pháp dạy học tích cực nào phù hợp cho dạy học tự chọn chủ
đề bám sát Đại số 10 chương trình Nâng cao?
3.5 Những phương thức nào để phát huy tính tích cực, chủ động chiếm lĩnh trithức toán học của học sinh trong dạy học tự chọn chủ đề bám sát Đại số 10 chươngtrình Nâng cao?
3.6 Kết quả thực nghiệm sư phạm là như thế nào?
4 Đối tượng nghiên cứu
Quá trình dạy học Đại số 10 chương trình Nâng cao
5 Giả thuyết khoa học
Nếu thiết kế được các phương thức dạy học “tự chọn” thích hợp (biên soạn tài
liệu, vận dụng phương pháp dạy học tích cực, lựa chọn hình thức tổ chức phù hợp)
thì sẽ tăng cường được tính tích cực, chủ động chiếm lĩnh tri thức của học sinh.
6 Phương pháp nghiên cứu
6.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận:
+ Nghiên cứu những tài liệu lý luận có liên quan đến dạy học “tự chọn”
+ Nghiên cứu những tài liệu về lý luận dạy học môn toán ở trường phổ thông
6.2 Phương pháp điều tra quan sát
+ Điều tra chất lượng học sinh trước và sau khi thực nghiệm
+ Quan sát giờ dạy để tìm hiểu thực tế dạy học tự chọn ở một số trường THPT.6.3 Thực nghiệm sư phạm
Tiến hành thực nghiệm sư phạm để kiểm tra tính hiệu quả của các phương thức
mà luận văn đã đề ra về dạy học tự chọn cho học sinh
7 Đóng góp của luận văn
7.1.Hệ thống hóa cơ sở lí luận cơ bản về tăng cường tính tích cực, chủ độngchiếm lĩnh tri thức của học sinh
Trang 127.2 Xây dựng các phương thức nhằm tăng cường tính tích cực, chủ động chiếmlĩnh tri thức cho học sinh trong dạy học tự chọn chủ đề bám sát Đại số 10 chươngtrình Nâng cao.
7.3 Kết quả nghiên cứu của luận văn là tài liệu tham khảo cho giáo viên Trunghọc phổ thông
8 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục Nội dung chính củaluận văn được chia làm 3 chương:
Chương I: Cơ sở lý luận và thực tiễn
Chương II: Một số phương thức tổ chức dạy học tự chọn chủ đề bám sát Đại số 10 chương trình Nâng cao
Chương III: Thực nghiệm sư phạm
KẾT LUẬN
Trang 13Chẳng hạn: Tích cực hăng say phát biểu trong học tập, tích cực học tập, tích
cực đấu tranh chống bệnh thành tích trong giáo dục, tích cực đổi mới phương pháp dạy học, làm việc rất tích cực,
Theo những công trình nghiên cứu đã có, có thể hiểu tính cực là sự chủ động,
hăng hái, nhiệt tình với nhiệm vụ được giao
Tính tích cực là một phẩm chất vốn có của con người trong đời sống xã hội Đểtồn tại và phát triển, con người luôn tìm tòi, khám phá cải biến môi trường để phục
vụ cho con người Tuy vậy, tính tích cực có mặt tự phát và tự giác:
- Mặt tự phát của tính tích cực là những yếu tố tiềm ẩn bên trong, bẩm sinh tính tò mò, hiếu kì, linh hoạt trong đời sống hàng ngày
- Mặt tự giác của tính tích cực là trạng thái tâm lý tích cực có mục đích và đối tượng rõ rệt, do đó có hoat động để chiếm lĩnh đối tượng đó Tính tích cực tự giác thể hiện ở óc quan sát, tính phê phán trong tư duy, trí tò mò khoa học, … Nhờ tính tích cực tự giác, có ý thức con người có thể đạt được nhiều tiến bộ trong đời sống và phát triển nhanh hơn so với tính tích cực tự phát
Trang 14Vì vậy, hình thành và phát triển tính tích cực của con người là một trong nhữngnhiệm vụ chủ yếu của giáo dục, nhằm đào tạo những người lao động năng độngthích ứng và góp phần phát triển cộng đồng.
1.1.1.2 Tính tích cực học tập
Học tập là một trong những hoạt động của con người để nhận thức thế giới, ởlứa tuổi đi học thì đây là hoạt động chủ yếu của người học Thông qua quá trìnhhọc tập (trong và ngoài nhà trường), con người nhận thức được, lĩnh hội đượcnhững tri thức loài người đã tích lũy được, đồng thời có thể nghiên cứu và tìm ranhững tri thức khoa học mới
*) Qua tham khảo kết quả nghiên cứu về tính tích cực học tập trong nhữngcông trình của Kharlamop I.F (1979) [11, tr142], Nguyễn Bá Kim (2009) [26,
tr143], có thể thấy rằng:
Tính tích cực trong hoạt động học tập thực chất là tính tích cực của nhận thức,đặc trưng ở khát vọng hiểu biết, cố gắng trí tuệ và nghị lực cao trong quá trìnhngười học chiếm lĩnh tri thức Trong hoạt động học tập, nó diễn ra ở nhiều hoạt
động khác nhau: Tri giác tài liệu (đọc tài liệu, thông hiểu tài liệu, ghi nhớ nội dung), luyện tập, vận dụng tri thức, và được thể hiện dưới nhiều hình thức đa
dạng, phong phú
Các hình thức biểu hiện đó là:
+, Xúc cảm, chú ý học tập: Thể hiện ở niềm vui, hăng hái trả lời các câu hỏi
của người dạy, thích phát biểu ý kiến của mình trước vấn đề nêu ra
+, Sự nỗ lực của ý chí, hành vi thực hiện Thể hiện ở sự kiên trì, nhẫn nại, hoàn
thành các bài tập Có quyết tâm, có ý chí vượt lên trong học tập Hăng hái tham giavào mọi hình thức của hoạt động học tập
+, Kết quả lĩnh hội: nhanh, đúng, tái hiện được khi cần, chủ động vận dụng
được kiến thức, kỹ năng khi gặp tình huống mới để nhận thức những vấn đề mới.Đặc biệt, tính tích cực học tập có mối liên hệ nhân quả với những phẩm chấtnhân cách của người học như:
Trang 15- Tính tự giác, tư duy độc lập: Đó là sự tự nhận thức được nhu cầu học tập của
mình và có giá trị thúc đẩy hoạt động có kết quả, bên cạnh đó là sự tự phân tích,tìm hiểu, giải quyết những nhiệm vụ nhận thức Đây là biểu hiện cao của tính tíchcực
- Tính chủ động, sáng tọa trong học tập: Thể hiện ở việc làm chủ các hành
động trong toàn bộ hoặc trong từng giai đoạn của quá trình nhận thức như đặt ranhiệm vụ lập kế hoạch thực hiện nhiệm vụ đó, tự đọc thêm, làm thêm các bài tập,
tự kiểm tra…
Tính tích cực của người học, người dạy là người tổ chức, hướng dẫn, thiết kế,
cố vấn Khuynh hướng chú trọng đến người học, nhằm phát huy tiềm năng sángtạo của người học đang được nhiều nước tiên tiến trên thế giới coi là tư tưởng chỉđạo đổi mới phương pháp dạy học Do đó, nhiều phương pháp dạy học tích cựcđang được áp dụng ngày càng phổ biến hơn Cùng với sự phát triển của công nghệ
mà nhiều phương tiện kỹ thuật dạy học mới cũng xuất hiện giúp nâng cao hiệu quảcủa việc sử dụng những phương pháp dạy học theo hướng tích cực hóa người học
Ví dụ 1: Khi dạy “ Đồ thị của hàm số bậc hai” ta nhận thấy những biểu
hiện tính tích cực trong quá trình học tập của học sinh như sau:
+, Xúc cảm, sự chú ý: Học sinh muốn biết được nội dung chính của bài dạy,
cách xác định đồ thị của hàm số có dạng yax2 bxc (a 0).Từ đó học sinhhứng thú tìm hiểu vấn đề, hăng hái trả lời các câu hỏi của giáo viên , muốn trìnhbày ý kiến của mình, mong muốn giáo viên giải thích cặn kẽ những vấn đề chưahiểu rõ,
Chẳng hạn khi giáo viên muốn đưa ra ví dụ vẽ đồ thị các hàm số 2 2
Trang 16+, Sự nỗ lực của ý chí, hành vi: Thể hiện ở sự kiên trì, nhẫn nại, vượt khó khăn
khi giải quyết nhiệm vụ được giao, học sinh đua nhau trong quá trình giải bài toánnói trên, hăng hái tham gia các hoạt động học tập: tính toán, biến đổi, tranh luận,giơ tay phát biểu ý kiến, đánh giá nhận xét và bổ sung các câu trả lời của bạn,
+, Kết quả lĩnh hội: Nắm vững quy trình tiến hành cách chuyển đổi từ hàm số
có dạng yax2 bxc (a 0) về dạng ) a
a
b x ( a y
4 2
, từ đó học sinh chủ độngvận dụng (nhận dạng và thể hiện) cách tìm tọa độ đỉnh, trục đối xứng, lập bảngbiến thiên, vẽ đồ thị của hàm số yax2 bxc (a 0) và vận dụng được các dạngtoán liên quan đến hàm số bậc hai như: Cách xác định hàm số bậc hai, tìm giá trịlớn nhất, nhỏ nhất
Bên cạnh đó Theo tác giả Bùi Văn Nghị [29, tr143] có thể phân tích các biểuhiện của tính tích cực nhận thức của học sinh trong học tập như sau:
+ Học sinh có chú ý học tập không? Có hăng hái tham gia vào các hoạt độnghọc tập không?
+ Có hoàn thành nhiệm vụ được giao không?
+ Có hiểu bài không? Có thể trình bày lại nội dung bài học theo ngôn ngữ riêngkhông?
+ Có vận dụng được những kiến thức đã học vào thực tiễn không?
+ Có đọc thêm, làm thêm các bài tập khác không?
+ Tích cực nhất thời hay thường xuyên liên tục?
+ Tốc độ học tập có nhanh không?
+ Có hứng thú trong học tập không hay vì một ngoại lực nào đó mà phải học?
+ Có quyết tâm, có ý chí vượt khó khăn trong học tập không?
+ Có sáng tạo trong học tập không?
Trên đây là những biểu hiện tính tích cực học tập của học sinh trong quá trình
chiếm lĩnh kiến thức, giáo viên khi dựa vào những biểu hiện này để đánh giá tínhtích cực học tập của học sinh từ đó có thể điều chỉnh cách dạy của mình sao cho
Trang 17việc phát triển khả năng nhận thức của học sinh diễn ra tốt nhất nhằm nâng caohiệu quả dạy học môn Toán nói chung, dạy học Đại số 10 nói riêng.
1.1.1.3 Các cấp độ của tính tích cực trong học tập
Theo những kết quả nghiên cứu trong các công trình của G.I Sukina, ông đãchia tính tích cực trong học tập thành ba cấp độ như sau:
Cấp độ 1 Tính tích cực bắt chước, tái hiện
Đây là cấp độ thấp nhất của tính tích cực, chủ yếu dựa vào trí nhớ để tái hiệnnhững điều đã nhận thức được
Ví dụ 2: học sinh có thể bắt chước ngay vào giải phương trình 2 2 3 4 0
x x
sau khi giáo viên nêu phương pháp và giải phương trình 2 4 5 0
Ví dụ 3: Sau khi giải phương trình 2 4 5 0
x
x (1) thì học sinh không chỉgiải quyết được phương trình có dạng 2 0
Trang 18Đây là cấp độ cao nhất của tính tích cực nhận thức Nó được đặc trưng bằng
sự khẳng định còn đường suy nghĩ riêng của người học, vượt ra khỏi khuôn mẫutạo ra cái mới, cái có giá trị Tính sáng tạo tạo điều kiện cho sự phát triển các khảnăng và tiềm năng sáng tạo của cá nhân Tính sáng tạo biểu thị khả năng tự tìmkiếm nhiệm vụ mới, phương pháp mới giải quyết mới, khả năng sử dụng kiến thức,
kĩ năng trong những tình huống mới
Ví dụ 4: Qua cách giải phương trình (1) trên của giáo viên thì học sinh không
chỉ dừng lại ở cách giải các bài toán bằng cách đặt mà các em có thể giải quyết các
bài toán như 2x 3 3x 1, 5
2
3 2 2
1.1.2 Vai trò phát huy tính tích cực, chủ động chiếm lĩnh tri thức của học sinh
Phát huy tính tích cực, chủ động chiếm lĩnh tri thức của học sinh là tăng cường
hoạt động trí tuệ độc lập của học sinh trong quá trình thu nhận tri thức rèn luyện kỹnăng kỹ xảo Tích cực hóa việc dạy học không phải chỉ có giá trị về mặt kết quả trídục mà còn đặc biệt quan trọng về mặt giáo dục, nó ảnh hưởng đến việc hình thànhnhân cách của học sinh Phát huy tính tích cực trong học tập của học sinh có tácdụng phát triển những đức tính quý giá như tính mục đích, lòng ham hiểu biết, tínhkiên trì, óc phê phán Những phẩm chất cá nhân này trở thành những yếu tố kíchthích bên trong điều chỉnh hoạt động nhận thức của học sinh đó là những điều kiệnhết sức quan trọng giúp cho việc học tập đạt kết quả tốt
Trang 19Nội dung chính trong sự đổi mới phương pháp dạy học hiện nay là ‘Cốt lõi của
phương pháp dạy học là phát huy tính tích cực, chủ động chiếm lĩnh tri thức trong học tập của học sinh, khơi dậy và phát triển khả năng tự học, nhằm hình thành cho học sinh tư duy tích cực, độc lập, sáng tạo, để tạo cho học sinh học tập một cách tích cực, chủ động, chống lại thói quen học tập thụ động Đó là hướng tới học tập trong hoạt động và bằng hoạt động, tức là cho học sinh được suy nghĩ nhiều hơn, thảo luận nhiều hơn, hoạt động nhiều hơn, khi đứng trước một vấn đề của nội dung bài học hay một yêu cầu thực tiễn của cuộc sống" Đây chính là tiêu chí, thước
đo, đánh giá sự đổi mới phương pháp dạy học
Trên tinh thần đó, việc dạy học không chỉ phải thực hiện nhiệm vụ trang bị chohọc sinh, những kiến thức cần thiết về môn dạy, mà điều có ý nghĩa to lớn còn ởchổ dần dần hình thành và rèn luyện cho học sinh tính tích cực, độc lập sáng tạotrong quá trình học tập, để học sinh có thể chủ động, tự lực, tự đào tạo, tự hoànthiện tri thức trong hoạt động thực tiễn sau này Do đó, việc thiết kế những nộidung dạy học cụ thể, nhằm tạo môi trường để tư duy nhận thức của học sinh đượchoạt động tích cực, là rất cần thiết
Phương pháp dạy học mới đã chú trọng đến việc phát huy tối đa tính tích cực,độc lập của học sinh, đề cao phương pháp tự học, "chuyển quá trình giáo dục sangquá trình tự giáo dục" Xóa bỏ cách học cũ theo kiểu “thầy đọc, trò chép”, "họcvẹt", "học tủ", "học thuộc lòng mà không hiểu, không kích thích được học sinh suynghĩ, tìm tòi, rèn luyện trí thông minh", chuyển đổi chức năng từ thông báo, táihiện sang tìm tòi, khám phá và chiếm lĩnh tri thức
Vì vậy “ Vai trò phát huy tính tích cực, chủ động chiếm lĩnh tri thức của họcsinh” trong dạy học đóng vai trò hết sức quan trọng trong sự đổi mới phương phápdạy học hiện nay
1.1.3 Khái niệm chiếm lĩnh tri thức
Theo Từ điển tiếng Việt “Chiếm lĩnh là chiếm giữ để giành quyền làm chủ”
[35, tr144] Như vậy, có thể hiểu chiếm lĩnh là một động từ chỉ hành động của
Trang 20một cá nhân hoặc tập thể tiến hành chiếm giữ một cái gì đó theo mục tiêu đểgiành quyền làm chủ cho mình.
1.1.3.1 Khái niệm chiếm lĩnh tri thức dưới góc độ của phương pháp dạy học
Là quá trình chủ thể nhận thức được vấn đề, thâm nhập vào vấn đề, hiểu vấn
đề và chủ thể giải quyết được vấn đề Trên cơ sở nghiên cứu, phân tích các tài liệuliên quan đến các phương pháp dạy học tích cực, luận văn đề xuất quan niệm vềnội hàm khái niệm chiếm lĩnh tri thức theo tinh thần đáp ứng yêu cầu tích cực hoáhoạt động học tập của học sinh như sau:
Chiếm lĩnh tri thức là quá trình chủ động suy nghĩ, nỗ lực hành động, sử dụng các khả năng trí tuệ (quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp, ) cùng với phẩm chất cá nhân như khát vọng học tập, ý chí kiên trì, nhẫn nại hướng tới vấn đề cần giải quyết mà chưa biết cụ thể, để nắm bắt làm chủ vấn đề đó, bổ sung vào vốn hiểu biết riêng đã có của mình.
1.1.3.2 Những thể hiện của chiếm lĩnh tri thức trong dạy học Toán
- Người học tự chủ, tìm tòi vấn đề đặt ra; được trao đổi, tranh luận nhằm xâydựng và bảo vệ tri thức vừa tìm được;
- Chiếm lĩnh tri thức được thực hiện qua hàng loạt hoạt động, trong đó giáoviên khéo léo đặt học sinh vào vị trí người phát hiện những tri thức thông quanhững câu hỏi hoặc những yêu cầu hành động, mà khi học sinh giải đáp hoặc thựchiện được thì sẽ dần xuất hiện con đường dẫn đến tri thức;
- Chiếm lĩnh tri thức không chỉ làm cho học sinh có được những tri thức sâusắc, vững chắc, vận dụng được mà quan trọng hơn là trang bị cho họ những thủpháp suy nghĩ, những cách thức phát hiện và giải quyết vấn đề một cách độc lập,
tự chủ, sáng tạo;
- Chủ động vận dụng linh hoạt những kiến thức, kỹ năng đã học để nhận thức
và giải quyết các vấn đề mới
Ví dụ 5 Trước khi học định lý dấu tam thức bậc hai học sinh đã nắm vững đồ
thị của hàm bậc hai Từ đó giáo viên có thể xây dựng cách tiếp cận định lý dấu tam
Trang 21thức bạc hai như sau Ta cho học sinh quan sát các trường hợp về đồ thị của hàm
GV yêu cầu học sinh trả lời những câu hỏi kiểu như:
Nếu 0, hãy so sánh dấu của hệ số a và dấu của f (x)?
Nếu 0, hãy so sánh dấu của hệ số a và dấu của f (x)?
Nếu 0, hãy so sánh dấu của hệ số a và dấu của f (x)?
Từ những hoạt động tranh luận trên học sinh có thể tự hình thành, khám phá vàbiểu định lý như sau:
y
Trang 22Cho tam thức bậc hai: f(x) = ax2 + bx + c ( a 0)
Nếu 0 thì f(x) cùng dấu với hệ số a với mọi x
Nếu 0thì f(x) cùng dấu với hệ số a với mọi x (-2b a)
Nếu 0 thì f(x) có hai nghiệm x1 và x2 Khi đó, f(x)trái dấu với hệ số a với mọi
x nằm trong khoảng (x1; x2), và f(x) cùng dấu với hệ số a với mọi x nằm ngoàiđoạn [x1; x2] ( tức là với x < x1 hoặc x > x2)
Để dẫn các em khắc sâu, vận dụng định lý có hiệu quả giáo viên khéo léo dẫn dắthọc sinh bằng các tình huống
H1: Nhìn vào định lý, hãy cho biết, trường hợp nào thì f(x) luôn giữ nguyên một dấu?
H2: Để f(x) luôn nhận dấu dương với mọi x, cần có những điều kiện gì?
H3: Nếu a > 0, < 0 ta suy ra dấu của f(x) như thế nào?
Hoặc thay bằng câu hỏi trên giáo viên có thể thay bằng bài toán sau
Qua đây thể hiện học sinh phải biết cách tìm tòi, vận dụng linh hoạt kỹ năng , nắmvững bản chất định lý và cách vận dụng biến bài toán từ “ lạ’ về “quen” để giảiquyết vấn đề
Ví dụ 6: Trong quá trình dạy học phần bất phương trình giáo viên có thể đưa ra
bài toán sau
Giải bất phương trình x 3 2x 1 50 3x 12
Khi đưa bài toán này ở đây, dưới góc độ là một bài toán về bất phương trình nhưngtrong quá trình giải quyết bài toán học sinh nhìn nhận dưới những cách giải khácnhau Mỗi cách giải đó phải có những tư duy, kỷ năng nhất định thể hiện được sựchủ động chiếm lĩnh tri thức, giải quyết vấn đề
Đối với bài toán này ngoài cách giải cho bài toán bất phương trình thôngdụng, học sinh thể nhìn bài toán trên theo một khía cạnh khác, đó là sử dụng tínhchất của véc tơ như sau:
Trang 230 3 50
0 1 2
0 3
x
Đặt u( x 3; 2x 1; 50 3x ), v(1;1;1)
Khi đó ta có: u v x 3 2x 1 50 3x
48 3
50 1 2
bất phương trình có nghĩa tức là 3 x503
1.1.4 Các cấp độ hoạt động chiếm lĩnh tri thức của học sinh trong dạy học
Để dẫn đến các cấp độ hoạt động chiếm lĩnh tri thức của học sinh trong dạy họcchúng tôi dựa vào những căn cứ sau:
- Độ liên kết lôgic của các kiến thức khi tiến hành các hoạt động chiếm lĩnh tri thức;
- Tính tích cực trong quá trình tiến hành các hoạt động chiếm lĩnh tri thức;
- Tính độc lập và độ thành thạo của các hoạt động chiếm lĩnh tri thức;
- Sự phức tạp, khó khăn khi tiến các hoạt động chiếm lĩnh tri thức;
- Tính vừa sức của người học khi tiến hành các hoạt động chiếm lĩnh tri thức
Từ những căn cứ trên chúng tôi đưa ra các cấp độ hoạt động chiếm lĩnh tri thứccủa học sinh trong dạy học như sau:
Cấp độ 1: Giáo viên tổ chức các tình huống dạy học hướng học sinh vào vấn đề
cần giải quyết, bằng cách giảng giải, thuyết trình, vấn đáp cho học sinh hiểu đượcvấn đề để gợi động cơ, nhu cầu ham muốn tìm hiểu vấn đề đó Đồng thời, giáoviên hướng học sinh vào việc huy động, áp dụng những kiến thức, cách thức hoạt
Trang 24động mà học sinh đã nắm được hoặc đã được giáo viên chỉ ra một cách tườngminh.
Mặc dù tri thức không phải do học sinh hoàn toàn chiếm lĩnh được, nhưng trithức không được trình bày dưới dạng có sẵn mà học sinh phải nỗ lực lắng nghe,làm theo chỉ dẫn của giáo viên thì mới có thể nắm bắt một cách vững chắc được.Tuy nhiên, cần lưu ý rằng, nếu tri thức cần truyền thụ được chiếm lĩnh bởi họcsinh theo cách thức chiếm lĩnh các tiêu chuẩn hay hình mẫu có sẵn, thì tính tíchcực của người học cũng không cao Vận dụng cấp độ chiếm lĩnh này đảm bảo đượchiệu quả hình thành kiến thức, rèn luyện kĩ năng cho học sinh và tạo tiền đề cầnthiết cho học sinh có thể thích ứng được với cấp độ chiếm lĩnh 2 trong dạy học.Nhưng nếu trong dạy học luôn chỉ sử dụng cấp độ này thì không đủ để cho họcsinh chiếm lĩnh tri thức một cách sâu sắc, vững chắc và có khả năng vận dụng linhhoạt
Cấp độ 2: Học sinh nhận ra vấn đề trong tình huống do giáo viên đưa ra; họcsinh biết giải quyết vấn đề dưới sự định hướng của giáo viên khi cần thiết Giáodục không chỉ ra cho học sinh một cách tường minh các tri thức và cách thức hoạtđộng học sinh cần áp dụng, mà giáo viên chỉ giảng giải, thuyết trình, thông báomột phần (giúp học sinh vượt qua chỗ quá khó) hay định hướng (chứ không chỉrõ), gợi ý (cụ thể hóa, chi tiết hóa thêm một bước để thu hẹp hơn phạm vi, mức độtìm tòi giải quyết cho vừa sức với học sinh) cho học sinh có thể tự tìm tòi, huyđộng hoặc xây dựng tri thức và cách thức hoạt động phù hợp để giải quyết vấn đề
đó Để làm được điều đó, giáo viên cần tổ chức cho học sinh hợp tác, trao đổi,tranh luận nhằm xây dựng và bảo vệ tri thức vừa tìm được Ở mức độ cao hơn giáoviên có thể khuyến khích học sinh phát biểu và giải quyết vấn đề theo cách riêngcủa mình bằng cách lựa chọn, đề xuất và áp dụng kiến thức để giải quyết vấn đềkhông theo các định hướng của giáo viên
Để thực hiện có hiệu qủa mức độ này thì không phải dễ Nó phụ thuộc vào trình
độ hiểu biết, khả năng sư phạm của giáo viên, đánh giá được trình độ nhận thức
Trang 25của học sinh ở mức độ nào Không phải bất cứ một sự gợi ý, hướng dẫn hay địnhhướng nào của giáo viên cũng đều có thể khích lệ, kích thích được hoạt động tìmtòi sáng tạo của học sinh, và không phải bao giờ học sinh cũng có đủ khả năng để
để tự mình tìm tòi, sáng tạo được tri thức mới cần học
Cấp độ 3: Học sinh chủ động, nỗ lực hành động phát hiện vấn đề, biết cách thứchoạt động phát hiện và giải quyết vấn đề Giáo viên không có sự định hướng nào.Giáo viên chỉ có trách nhiệm thực hiện pha thể chế hóa: đánh giá vai trò và ý nghĩacủa kết quả đạt được, chuyển kiến thức có tính chất cá nhân thành tri thức chung,nhấn mạnh các tri thức phương pháp có thể rút ra từ quá trình nghiên cứu và giảiquyết vấn đề
Ở mức độ cao hơn học sinh phải tự xác định điều họ muốn nghiên cứu, lựa chọncon đường, giải pháp và tự lực nghiên cứu cho đến khi tìm được kết quả
Căn cứ vào trình độ học sinh, vào nội dung bài học mà lựa chọn đưa ra các mức
độ phù hợp nhằm yêu cầu học sinh tự lực phát biểu vấn đề của bài học Lúc đầu cóthể đưa ra mức độ cao hơn để thăm dò, sau đó hướng dẫn, giảm dần mức độ khókhăn cho học sinh khi cần thiết
Tùy thuộc vào tính chất phức tạp, khó khăn của vấn đề mà giáo viên đề ra cácmức độ khác nhau khi yêu cầu học sinh hoạt động Còn độ khó của vấn đề lại tùythuộc vào vai trò tổ chức của giáo viên Giáo viên yêu cầu học sinh tự lực càng caothì sự gợi ý, hé mở cũng giảm và mức độ khó khăn càng lớn
1.2 Một số vấn đề về dạy học tự chọn
Dạy học tự chọn là một phương thức và xu thế trong giáo dục, xuất hiện từ khálâu trên thế giới Xu thế này xuất phát từ mục đích giáo dục phải hướng tới sự pháttriển cao nhất của cá nhân học sinh, khai thác và tạo điều kiện năng lực, sở trường,năng khiếu cá nhân học sinh được bộc lộ, nuôi dưỡng và hoàn thiện trí tuệ cùngnhân cách học sinh trong suốt quá trình giáo dục
Thông qua các báo cáo giới thiệu chương trình của một số nước như Anh, Pháp,Đức, Hungary, Italia, Hà Lan, Tây Ban Nha, Thụy Điển, Thụy Sỹ, Mĩ, Canada,
Trang 26Singapo, Hàn Quốc có thể thấy rằng giáo dục phổ thông ở nhiều nước trên thếgiới hiện nay ngày càng thể hiện rõ hơn tính “phân hoá” nhằm đáp ứng nhiều hơnđến sự lựa chọn của mỗi cá nhân học sinh Việc phân hoá bằng hình thức tự chọn,
về cơ bản, thường được tiến hành từ trung học cơ sở và thể hiện đậm nét hơn ở cấptrung học phổ thông
Tuy đã xuất hiện một hình thức dạy học tự chọn tương đối triệt để ở mức độkhá cao (ở Mĩ) như kiểu học tập ở nhà (Home schooling: Học sinh có thể lựa chọngiữa việc học ở nhà trường và ở nhà) hoặc trường tự chọn (Magnet school: Họcsinh có thể chọn cách thức học tập cho mọi môn học và tỉ trọng thời gian dành chomỗi môn học) nhưng hiện nay nhiều nước đều lựa chọn phương án tăng cường cácmôn học tự chọn và các nội dung tự chọn của các môn học bắt buộc
Việc đưa vào chương trình trung học phổ thông các môn học tự chọn và các nộidung tự chọn của các môn học bắt buộc cũng như phân bổ thời lượng dành choviệc dạy học này có khác biệt đối với các nước nhưng xu thế chung là:
+ Có các môn học và các nội dung học tự chọn bắt buộc và tự chọn tuỳ ý
+ Thời lượng dành cho việc dạy học tự chọn chiếm tỷ lệ khá cao thường vàokhoảng 40% (ở trung học cơ sở thường khoảng 10%)
Ở nước ta, theo kế hoạch giáo dục của trường trung học cơ sở (THCS) đã dành
2 tiết / tuần ở lớp 8 và 9 cho việc dạy học các chủ đề tự chọn Kế hoạch dạy học
trong trường trung học phổ thông (THPT) cũng đã nêu “ đưa vào các tiết học tự
chọn, một phần dành cho việc bám sát, nâng cao kiến thức, kỹ năng của các môn phân hoá, phần khác dành cho việc cung cấp một số nội dung mới theo nhu cầu của người học và yêu cầu của cộng đồng” và dành 2 tiết / tuần ở lớp 10, 3 tiết /
tuần ở lớp 11 và 12 cho dạy học tự chọn
Tại phiên họp Hội đồng Quốc gia giáo dục ngày 09/01/2006, sau khi xem xét tờtrình của Bộ Giáo dục và Đào tạo, Thủ tướng chính phủ – Chủ tịch Hội đồng - đãkết luận về chủ trương phân ban trung học phổ thông áp dụng từ năm 2006 – 2007:
Việc dạy học phân hoá ở trung học phổ thông được thực hiện bằng sự kết hợp
Trang 27phân ban với dạy học tự chọn Trong đó, ban khoa học tự nhiên (KHTN) và ban
khoa học xã hội và nhân văn (KHXH - NV) phân hoá theo hướng lựa chọn nghềnghiệp của học sinh sau khi tốt nghiệp THPT: nhóm ngành nghề phát triển trên cơ
sở toán học và ban KHTN; nhóm ngành nghề phát triển trên cơ sở KHXH và NV.Ban KHXH – NV được bổ sung thêm môn Ngoại ngữ có nội dung nâng cao, đápứng tốt nhu cầu học tập ngoại ngữ, ban cơ bản thực hiện phân hoá linh hoạt bằngdạy học tự chọn ở các mức độ nâng cao khác nhau, nhằm đáp ứng yêu cầu học lênđại học, cao đẳng; học trung cấp chuyên nghiệp; tham gia lao động sản xuất
Như vậy, dạy học tự chọn đã trở thành hình thức dạy học pháp quy, phù hợp với
xu thế chung của thế giới nhằm sớm phát hiện năng lực cá nhân và giúp sự địnhhướng, phát triển của học sinh
Có nhiều hình thức dạy học tự chọn: trường tự chọn, môn học tự chọn, nội dung
tự chọn trong các môn học bắt buộc, phương pháp dạy học tự chọn trong mỗi nộidung của chương trình Như vậy chủ đề tự chọn chỉ là một nhánh nhỏ của loại hìnhhọc theo chương trình tự chọn
1.2.1 Một số vấn đề về nội dung, phương pháp và thời lượng dạy học các chủ đề môn toán ở lớp 10 THPT
1.2.1.1 Một số vấn đề về nội dung
Theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc dạy phân ban ở trung họcphổ thông, đó là phân ban sớm, rộng, kết hợp với dạy học tự chọn, trường trunghọc phổ thông được phân làm ba ban: ban ban khoa học tự nhiên, ban KHXH –
NV và ban cơ bản Chọn ban KHTN, học sinh sẽ học sách giáo khoa nâng cao củamôn toán, lý, hoá, sinh và sách giáo khoa theo chương trình chuẩn của các môncòn lại Chọn ban KHXH – NV học sinh sẽ học sách giáo khoa nâng cao của cácmôn ngữ văn, sử, địa, tiếng nước ngoài và sách giáo khoa theo chương trình chuẩncủa các môn còn lại, ban cơ bản dạy và học theo chương trình chuẩn Mức độchênh lệch của chương trình nâng cao phải đảm bảo theo yêu cầu từ chương trìnhchuẩn nâng lên 20% tính cả về thời lượng và nội dung Cùng với việc biên soạn
Trang 28sách giáo khoa theo chương trình phân ban, Bộ cũng đã tổ chức xây dựng chươngtrình khung các chủ đề tự chọn (danh mục 273 chủ đề) của 12 môn học, trong đónêu cụ thể tên, nội dung, định hướng phương pháp dạy học và đánh giá của từngchủ đề.
Theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo, nội dung dạy học tự chọn đối vớicác môn nói chung, đối với môn toán nói riêng cần phải đáp ứng các mục tiêu vàphù hợp với các nguyên tắc sau:
* Mục tiêu:
- Bổ sung và khai thác sâu chương trình chính thức ở trường THPT
- Phát triển tư duy; bồi dưỡng năng lực tự chọn, tự giải quyết vấn đề và kíchthích tính tích cực, tự giác học tập của học sinh
- Đáp ứng nhu cầu và nguyện vọng học tập của các đối tượng học sinh khácnhau:
• Giúp học sinh diện đại trà học được những vấn đề cơ bản trong chương trìnhchính thức
• Bồi dưỡng học sinh có năng khiếu
• Góp phần chuẩn bị cho học sinh bước vào cuộc sống
* Nguyên tắc:
- Hỗ trợ chương trình chính thức
- Đáp ứng các mục tiêu dạy học tự chọn
- Tăng cường thực hành
- Bảo đảm tính liên thông với nội dung chính khoá
- Đảm bảo tính khả thi, phù hợp với kế hoạch dạy học tự chọn
* Các nội dung tự chọn thường được viết theo hai hướng:
- Hướng bám sát: Chủ yếu là giải bài tập, rèn khả năng vận dụng định nghĩa,định lý, các công thức sách giáo khoa
Trang 29- Hướng nâng cao: Chủ yếu giúp học sinh có cơ hội “luyện” giải bài tập và tạo
ra sự thăng bằng về kiến thức lý thuyết của chương trình chuẩn và chương trìnhnâng cao
Ngoài ra còn có chủ đề tự chọn mang tính đáp ứng: Giúp học sinh có điều kiệntiếp cận với những ứng dụng phong phú của toán học, với những phương pháp suynghĩ trong học toán và giải toán…loại chủ đề này rất phong phú và dành cho mọiđối tượng học sinh yêu thích toán học (chủ đề môn học rộng, phóng khoáng, cần gìhọc nấy)
Trong các loại chủ đề tự chọn này Bộ Giáo dục và Đào tạo tập trung chủ yếuvào hai chủ đề bám sát và nâng cao ở bộ môn toán Còn chủ đề tự chọn mang tínhđáp ứng chủ yếu ở môn tin học Mỗi chủ đề đều giải quyết một vấn đề kiến thứctương đối hoàn chỉnh Mặt khác, mỗi chủ đề đều có tính độc lập tương đối so vớicác chủ đề khác, mà kông cần “khớp nối” với nhau theo một trật tự nghiêm ngặt Cũng theo chủ trương của Bộ Giáo dục và Đào tạo, đối với các chủ đề bám sátthì giáo viên tự biên soạn tài liệu để dạy cho phù hợp với đối tượng học sinh củalớp mình Bộ Giáo dục và Đào tạo đã biên soạn tài liệu cho một số chủ đề (chủ yếu
là các chủ đề nâng cao), giáo có thể sử dụng để dạy hoặc có thể biên soạn lại chophù hợp với học sinh của mình Dù là loại tài liệu nào thì nội dung dạy học đều cầnđược viết một khoa học, giản dị, cơ bản, ích dụng và phù hợp với đối tượng sửdụng
Nội dung chương trình Đại số 10
Chương trinh Đại số 10 gồm có:
Chương I Mệnh đề - Tập hợp (8 tiết)
Chương II Hàm số bậc nhất và bậc hai (7 tiết)
Chương III Phương trình và hệ phương trình (12 tiết)
Chương IV Bất đẳng thức Bất phương trình (11 tiết)
Chương V Thống kê (5 tiết)
Chương VI Góc lượng giác và cung lượng giác.(11 tiết)
Trang 30Từ trên ta thấy chương trình và lượng kiến thức để giáo viên, học sinh thực hiệnrộng, và nhiều phần khó như phương trình, bất phương trình, bất đẳng thức vànhiều phần mới lạ như mệnh đề, thống kê, cung và góc lượng giác Hơn nữa kiếnthức lớp 10 là nền tảng cho học sinh tiếp tục học lên các lớp trên và đóng vai trò rấtlớn trong các kỳ thi Đại học, cao đẳng… Bên cạnh đó thì sự tiếp cận phương phápgiảng dạy từ cấp 2 lên cấp 3 cũng ít nhiều có sự khác biệt Với lượng chương trình,kiến thức nhiều, rộng, khó cùng với đó là lượng thời gian thực hiện trên lớp có hạn( 2 tiết/ tuần đối với lớp cơ bản, 3 tiết/ tuần đối với lớp nâng cao) dẫn tới sự đổimới phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động chiếm lĩnhtri thức của học sinh trong các tiết dạy sẽ gặp khó khăn.
Đặc biệt đối với những trường thuộc vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khókhăn, nền kinh tế còn gặp nhiều khó khăn, sự đầu tư cho con em học thêm còn hạnchế, ý thức học tập còn yếu thì sự đổi mới phương pháp trong dạy học nói chung,dạy toán nói riêng lại càng khó khăn Nhưng trong sự phát triển chung của toàn xãhội, nhu cầu tất yếu của học sinh thì buộc giáo viên phải biết phát huy, tìm ranhững phương pháp tốt nhất, có hiệu quả trong quá trình thực hiện dạy học
Chính vì thế nếu biết phát huy tiết dạy tự chọn thì sẽ góp phần rất lớn trong dạyhọc
- Để góp phần có hiệu quả hơn trong sự đổi mới phương pháp giảng dạy nóichung, dạy tự chọn môn toán nói riêng thì “Giáo dục tính tích cực, chủ động chiếmlĩnh tri thức toán học của học sinh” là một vấn đề rất thiết thực vì nó sẽ đáp ứngđược nhu cầu trong sự đổi mới của nền giáo dục hiện nay, góp phần nâng cao kiếnthức cho học sinh
1.2.1.2 Thời lượng dạy và sự phát triển trong chủ đề dạy học tự chọn tự chọn ở trường THPT
- Vấn đề thực hiện dạy học tự chọn là nội dung được thực hiện tùy vào thực tếcủa từng trường THPT, từng sở Giáo dục và Đào tạo để từ đó có định hướng trongquá trình phân bố các tiết, các môn dạy dạy học tự chọn Qua khảo sát một số
Trang 31trường THPT tại Hà Tĩnh thì mỗi tuần thường được phân trên 4 tiết dạy học tựchọn trên một lớp học, mổi môn học được phân dạy một tiết/ tuần Trong đó mônToán hầu hết được bố trí dạy tự chọn Từ đó cho thấy thời lượng dạy học tự chọn
là rất lớn chiếm đến 37 tiết trong năm học, trong khi đó thời lượng học chính khóacủa môn toán chỉ có 3 tiết/ tuần đối với ban cơ bản, 4 tiết/ tuần đối với ban nângcao
- Trong giai đoạn hiện nay ta nhận thấy vai trò của dạy học tự chọn ở cấp THPThiện nay Sau 2015, Bộ Giáo dục và Đào tạo dự kiến sẽ thay thế học phân ban ởcấp THPT hiện nay bằng phân hóa theo hướng tự chọn Tuy nhiên làm thế nào đểhọc sinh được chọn theo nhu cầu và khả năng của mình Từ lớp 11, ngoài 3 mônbắt buộc (toán, văn, ngoại ngữ 1), học sinh sẽ học các chuyên đề tự chọn phù hợpvới những đặc điểm cá nhân, định hướng nghề nghiệp Trên cơ sở danh sáchchuyên đề do Bộ ban hành, Sở Giáo dục và Đào tạo đề xuất, tùy điều kiện, nănglực, từng trường sẽ tổ chức cho học sinh chọn và học các chuyên đề phù hợp Trong chương trình THPT mới, dạy học tự chọn là một hình thức dạy học mới,
có tính pháp lý, có quy mô rộng khắp trong tất cả các trường trung học; dạy học tựchọn có chương trình, có tài liệu Dạy học tự chọn vừa rất mới mẻ, vừa rất phứctạp trong khi các điều kiện thực hiện của các trường còn rất khó khăn.Việc xâydựng được phương án tổ chức của hiệu trưởng và nhà trường rất quan trọng
Có rất nhiều hình thức tổ chức lớp học trong dạy học tự chọn như:
- Trường công bố các môn học có chủ đề tự chọn, tên, loại chủ đề, học sinh căn
cứ nguyện vọng, khả năng đăng ký học các chủ đề (theo mẫu), trường tổng hợp,sắp xếp lớp học, nếu số học sinh đăng ký ít thì tư vấn cho các em chọn chủ đềkhác
- Phân học sinh thành “khối” bằng cách tập hợp học sinh thành nhóm học theochủ đề nâng cao, hoặc bám sát các môn toán – vật lý – hoá học, hoặc toán – hoáhọc- sinh học, ngữ văn – toán – tiếng anh, ngữ văn – sử - địa,…theo nguyện vọng
và năng lực của học sinh
Trang 32- Các trường để từng lớp chọn môn hoặc chủ đề, hoặc do giáo viên chủ nhiệmlựa chọn môn học hoặc chỉ tổ chức dạy học theo chủ đề ở một số môn như toán,ngữ văn; có trường quy định ban KHTN toán, vật lý, hoá học, ban KHXH – NVhọc các môn ngữ văn, lịch sử, địa lý, xong trên thực tế để thuận lợi cho việc quản
lý và phù hợp với điều kiện thực tế của nhà trường về giáo viên và cơ sở vật chấtnên hầu hết các trường mới chỉ tổ chức dạy học tự chọn theo lớp đã cơ cấu từ đầunăm học với thời gian được bố trí theo thời khóa biểu chính khoá
1.2.1.3 Vấn đề về phương pháp dạy học tự chọn
Điều nổi bật của đổi mới chương trình giáo dục phổ thông hiện nay là đổimới phương pháp dạy học nhằm tăng cường tính chủ động, tích cực, sáng tạo củangười học Thông qua quá trình dạy học, người học có được các cơ hội để rènluyện kỹ năng tự học, biết cách tự kiến tạo nên kiến thức mới với sự hướng dẫncủa giáo viên
Phương pháp dạy học tự chọn môn toán về thực chất vẫn là vận dụng linh hoạt,sáng tạo các phương pháp dạy học bộ môn vào những điều kiện cụ thể của từngchủ đề tự chọn, phù hợp với đối tượng học sinh học chủ đề Tuy nhiên, cần lưu ýđến một số đặc điểm sau:
- Các chủ đề tự chọn nhằm hướng dẫn học sinh tự học Nội dung các kiến thức
kỹ năng thường tập trung vào một số vấn đề nào đó tương đối hoàn chỉnh nên dunglượng bài học khá lớn
- Cấu trúc chung của một chủ đề tự chọn thường gồm hai phần: phần nội dungbài đọc và phần hướng dẫn thực hiện các nhiệm vụ (trả lời câu hỏi hoặc giải toán).Phần bài đọc có thể được chia nhỏ và đan xen với phần hướng dẫn thực hiện Phầnbài đọc cung cấp cho học sinh một số kiến thức cơ bản cần trang bị và khắc sâu Các
kỹ năng cần hình thành và rèn luyện thông qua việc thực hiện các nhiệm vụ đượcgiao như trả lời câu hỏi hay giải các bài toán đã cho
* Các bước lên lớp một chủ đề tự chọn (theo hình thức tự học trên lớp có sựhướng dẫn của giáo viên)
Trang 33Bước 1: Giới thiệu mục tiêu và những nội dung cơ bản của tiết học, nêu rõnhững nhiệm vụ (cách thức hoạt động) mà học sinh cần thực hiện.
Bước 2: Giao nhiệm vụ cho học sinh (đọc phần nào, trả lời những câu hỏinào và giải những bài toán nào) trong những tiết học Có thể cho học sinh làm việc
cá nhân hoặc theo nhóm Cách thức và tiến trình hoạt động của học sinh thường đãđược nêu rõ trong tài liệu, giáo viên dựa vào đó mà điều hành tiết học Yêu cầu họcsinh (hoặc đại diện mỗi nhóm) lên bảng trình bày lời giải hoặc trả lời các câu hỏi.Học sinh khác tham gia, khi cần thiết giáo viên giải thích rõ thêm cho học sinhhiểu được các kiến thức khó, những câu hỏi và bài tập mà đa số học sinh khôngthực hiện được
Bước 3: Tổng kết, rút kinh nghiệm và đánh giá sau khi học sinh học xongmột chủ đề /1 tiết Từ đó giáo viên bổ sung và tổng quát hóa tiết dạy với những nộidung trọng tâm, các dạng toán thường gặp giúp học sinh nắm rõ kiến thức
1.2.2 Thực trạng của việc dạy học tự chọn môn toán ( Khảo sát tại một số trường Trung học phổ thông ở Hà Tĩnh)
1.2.2.1 Mục đích của việc khảo sát
Tìm hiểu về mức độ hiểu của giáo viên về việc dạy học tự chọn; thực trạngviệc việc dạy học tự chọn; sự cần thiết của việc dạy học tự chọn đối với học sinh.Trên cơ sở đó đề xuất các định hướng góp phần giúp giáo viên phát huy tính tíchcực, chủ động của học sinh trong học tập, nâng cao hiệu quả đổi mới phương phápdạy học tự chọn bộ môn Toán
1.2.2.2 Đối tượng khảo sát
Đối tượng khảo sát là 42 giáo viên dạy Toán và 384 phiếu thăm dò qua, 38phiếu đánh giá kết quả học tập của học sinh ở một số trường THPT trên địa bàntỉnh Hà Tình: THPT Lý Chính Thắng; THPT Lê Hữu Trác; THPT Hương Sơn;THPT Trần Phú
1.2.2.3 Nội dung
Trang 34Tìm hiểu sự phân công dạy học tự chọn; sự vận dụng đổi mới phương pháp dạyhọc, nội dung truyền đạt trong các tiết dạy tự chọn môn Toán; tìm hiểu về mức độtích cực, hứng thú của học sinh trong học các tiết học tự chọn nói chung, môn toánnói riêng tại một số trường THPT tại Hà Tĩnh, Đánh giá về mức độ đạt được saumột số tiết học tự chọn môn toán của học sinh.
1.2.2.4 Phương pháp
Để có được thông tin khách quan, chính xác chúng tôi tiến hành phỏng vấn, dựgiờ, sử dụng phiếu hỏi với các đối tượng là giáo viên và học sinh Đồng thời,chúng tôi sử dụng phương pháp tổng kết kinh nghiệm và phương pháp nghiên cứunhững tài liệu liên quan đến thực trạng dạy học ở trường THPT
1.2.2.5 Kết quả khảo sát được đánh giá từng phần như sau
a, Sự phân bố dạy môn học học tự chọn ở các môn tại các trường THPT
Trong quá trình khảo sát tại các trường THPT Lý Chính Thắng, THPT Lê HữuTrác, THPT Hương Sơn, THPT Trần Phú chúng tôi thu được kết quả về sự phân
bố dạy học các môn được chọn như sau:
Bảng 1 Phân bố số lớp được chọn môn dạy học tự chọn khối 10 tại các trường
THPT
Lê HữuTrác
THPTHươngSơn
THPTTrầnPhú
Trang 35b, Nội dung giáo viên truyền đạt kiến thức trong các tiết dạy học tự chọn
Chúng tôi tiến hành phát phiếu thăm dò (96 phiếu) tới học sinh tại tất cả lớp cómôn toán được phân dạy học tự chọn tại mỗi trường THPT, số phiếu được chia đềucho các lớp, chúng tôi thu được kết quả về nội dung giáo viên thường dạy trongcác tiết tự chọn môn toán tại các lớp như sau:
Bảng 2 Bảng kết quả đánh giá giáo viên chọn nội dung truyền đạt trong các tiết
dạy học tự chọn môn toán
Trường THPT
Nội dung giáo viên dạy
THPT
Lý ChínhThắng
THPT
Lê HữuTrác
THPTHươngSơn
THPTTrầnPhúGiáo viên ôn tập lý thuyết
SGK và củng cố kiến thức,
làm bài tập SGK
45(46,8%)
33 (34,3%)
43 (44,8%)
37(38.5%)Giáo viên đưa ra các bài tập
học sinh áp dụng giải
43(44,8%)
48(50%)
36( 37,5%)
39(40,6%)Dựa trên kiến thức đã học,
học sinh khám phá, mở rộng,
hình thành những bài toán,
dạng toán mới
8(8,4%)
15(15,7)
21(17,3%)
20(20,9%)
Trang 36c, Đánh giá tính tích cực, hứng thú trong giờ học tự chọn đối với học sinh
Để đánh giá về sự hứng thú, tích cực trong quá trình học tập tiết tự chọn môn toán, giống như trên chúng tôi thu được kết quả như sau
Bảng 3: Đánh giá về sự hứng thú trong học tập tiêt học tự chọn môn toán
Trường THPT
Mức độ đánh giá
THPTLýChínhThắng
THPT
Lê HữuTrác
THPTHươngSơn
THPTTrầnPhúRất thích học tiết tự chọn
môn toán
38(39,5%)
47(48,9%)
5254,1%)
55(57.3%)Thích học tiết tự chọn
môn toán
36(37,5%)
38(39,5%)
37( 38,5%)
29(30.2%)Không thích học tự chọn
môn toán
22(23%)
11(11,6%)
7(7.4%)
12(12.5%)
d, Kết quả kiểm tra đánh giá kiến thức học sinh sau khi dự giờ một tiết học
tự chọn
Sau khi dự giờ xong tiết học tự chọn tại trường THPT Lý Chính Thắng dogiáo viên Lê Thi Hương Giang dạy tại lớp 10A3 Nội dung tiết dạy tự chọn trênlớp là giáo viên ôn lại lý thuyết, vận dụng vào bài tập phần liên quan đến Hàm sốbậc hai, sau tiết dạy chúng tôi đã tiến hành khảo sát mức độ vận dụng, nắm kiếnthức của học sinh bằng phiếu thăm dò với bài kiểm tra sau:
a, Parabol đi qua hai điểm A(1; -2); B(-1; 5) ( 4 điểm).
b, Đi qua M(1 ;1) và trục đối xứng là x = 3 ( 3điểm).
c, Tọa độ đỉnh là I(-2; 1) ( 3 điểm).
Thời gian làm 25 phút, sỹ số học sinh 38, chúng tôi thu được kết quả như sau
Bảng 4 Kết quả về bài kểm tra sau khi dự giờ tiết dạy tự chọn
Điểm
(xếp loại)
8-10 (Giỏi)
6,5-8 (Khá)
5 - 6,5 (Tb)
< 5 (Yếu, kém)
Trang 37Số học sinh
đạt
4 (10,5%)
12 (31.5%)
15 (39,5%)
7 (18.5%)
1.2.2.6 Kết luận khảo sát
Về phía giáo viên đều nhận thức được vai trò của việc dạy học tự chọn là nhằmnâng cao thêm kiến thức cho học sinh khá giỏi, cũng cố thêm kiến thức cho họcsinh yếu kém, áp dụng những phương pháp dạy học không truyền thống nhằmnâng cao chất lượng giờ dạy, nhằm phát huy tính tích cực chủ động chiếm lĩnh trithức cho học sinh Nhưng thực tế cho thấy nhiều giáo viên vẫn xem các tiết dạy học
tự chọn như các tiết dạy luyện tập, chưa có sự đổi mới trong cách soạn bài, phươngpháp trong giảng dạy, định hướng cụ thể về nội dung và các hoạt động trong các tiếtdạy, thường ra ít bài tập trong các phần chương trình chính khóa đang học và cho họcsinh lên bảng trình bày cho tới khi hết giờ, dẫn tới các tiết dạy học tự chọn nhàm chán,chưa mang lại hiệu quả cao
Bên cạnh đó sự sắp xếp dạy học tự chọn tại các trường ở các môn, các lớp cũngchưa phù hợp với mục đích, ý nghĩa của môn học tự chọn Sự sắp xếp dạy các môn tựchọn hầu như đang dựa trên tỷ lệ mặt bằng của từng bộ môn để nhà trường đưa ra họccác môn tự chọn, không phải xuất phát từ sự chỉ đạo của Sở giáo dục và Đào tạo, theonguyện vọng của học sinh
Đánh giá của giáo viên về quá trình vận dụng phương pháp dạy học “Tăng cường tính tích cực, chủ động chiếm lĩnh tri thức toán học của học sinh THPT trong dạy học tự chọn ”
Qua trao đổi với một số giáo viên chúng tôi thấy rằng trong các giờ học tự
chọn để đáp ứng được yêu cầu trên là không nhiều Lí do mà giáo viên đưa ra là:Với lượng kiến thức sách giáo khoa như hiện nay khá nhiều, nên các tiết dạy tựchọn là dành để củng cố thêm những phần mà học sinh còn yếu, hầu như là làm bàitập tại các phần mà đang học trong chính khóa, giáo viên chưa đổi mới nhiều trongphương pháp dạy, các tiết dạy chưa có các hoạt động chưa khơi gợi tính tích cực,chủ động chiếm lĩnh tri thức cao
Trang 38Chúng tôi cũng tiến hành dự giờ một số tiết học tự chọn môn toán ở trườngTHPT Lý Chính Thắng, THPT Lê Hữu Trác Nhìn chung, trong các giờ mà chúngtôi tới dự, đều là các tiết chữa bài tập trong các tiết đó cũng có giờ học sinh đượchoạt động, qua sự dẫn đắt của giáo viên, học sinh được tự trình bày lời giải và đánhgiá nhận xét lời giải của nhau qua việc thực hiện hình thức hoạt động nhóm Tuynhiên, vẫn còn nhiều giờ học giáo viên ít thực hiện các hoạt động trên, có đôi khigiáo viên sắp xếp, phân bố thời gian chưa hợp lí, nhất là giáo viên dành nhiều thờigian cho việc trình bày bảng và việc ghi chép bài của học sinh Chẳng hạn, giáoviên giành nhiều thời gian cho việc nhắc các tiêu đề, các định nghĩa, định lí, và ápdụng vào các bài tập cụ thể hơn là việc tổ chức cho học sinh hoạt động nhằm xâydựng cho học sinh hình thành cách giải của mỗi dạng toán, xây dựng các hoạt độngcủa học sinh, khi giảng bài giáo viên cũng có có đặt câu hỏi cho học sinh nhưngchất lượng câu hỏi chưa cao, chủ yếu là câu hỏi để học sinh tái hiện kiến thức chứ
ít có tính gợi vấn đề cho học sinh suy nghĩ, một số câu hỏi lại quá khó nên khôngtạo được cơ hội cho học sinh tích cực suy nghĩ và giải quyết những vấn đề cơ bảntrong bài học Hình thức dạy học chưa đa dạng, phong phú, cách thức truyền đạtchưa sinh động, chưa gây hứng thú cho học sinh Một số giáo viên có ý thức dạytheo định hướng đổi mới phương pháp thì khá lúng túng, mất nhiều thời gian để xử
lí tình huống, nhất là khi học sinh không thực hiện được yêu cầu như mong muốn,học sinh giải sai, không trả lời được câu hỏi, trả lời không theo dự kiến,…Chẳnghạn khi giáo viên bài toán tìm m để phương trình: 4 2 1 2 2 1 0
0
Mà quên mất điều kiện t 0, dẫn đến lời giải sai
Đáng lẽ nhằm giúp học sinh hiểu việc tìm điều kiện ẩn số phụ trong quá trìnhgiảng dạy giáo viên phải chỉ rõ cho học sinh thấy: Tìm điều kiện cho ẩn phụ thực
Trang 39chất là tìm miền giá trị của hàm t = (x) (biểu thức đặt ẩn phụ), với x thuộc miềnxác định mà bài toán đã cho Hay nói nôm na là tìm t để phương trình t = (x) cónghiệm x thuộc miền xác định đã cho, giáo viên có thể đưa ra ví dụ đơn giản,chẳng hạn: “Tìm điều kiện của ẩn phụ: t = x2 1; t = x ; …” nhằm dẫn dắt học
sinh dễ hiểu, phát huy tính tích cực, chủ động chiếm lĩnh tri thức hơn, nhưng giáoviên chưa thể hiện được trong các tiết dạy, dẫn tới học sinh không nắm rõ đượcđiều kiện của ẩn mới (t) theo ẩn củ (x) như thế nào
- Về phía học sinh khi nói đến các tiết tự chọn nói chung, môn toán nói riêngnhìn chung học sinh hầu như chưa hiểu rõ vai trò của các tiết tự chọn và luôn xemcác tiết dạy học tự chọn như các tiết dạy học luyện tập, ngoại khóa, dẫn tới ý thứchọc tập trong các tiết học tự chọn thường không tốt, không phát huy được tính tíchcực nên hiệu quả các tiết học tự chọn đạt không cao
- Về phía ban giám hiệu các trường THPT tuy đã thực hiện đúng theo kế hoạchchỉ đạo của nghành nhưng do nhiều yếu tố tác động nên chưa đầu tư, quan tâm đếntiết tự chọn đúng mức
Qua bảng khảo sát về tính cần thiết của các nhóm giải pháp nhằm nâng cao chấtlượng dạy học tự chọn ở các trường THPT cho chúng ta thấy các giải pháp đều cótính cần thiết cao Trong đó giải pháp đổi mới phương pháp dạy học chiếm tỷ lệcao trên 80% số ý kiến giáo viên và cán bộ quản lý của nhà trường cho rằng nhómbiện pháp 2 nhóm là rất cần thiết
1.2.3 Sự cần thiết phải tiến hành dạy học chủ đề tự chọn bám sát Đại số 10
Các nội dung toán trong chương trình đại số 10 là một trong những nội dung cơbản của chương trình toán phổ thông, là nền tảng cho phép ta xây dựng phươngpháp giải các dạng toán trọng tâm trong chương trình toán THPT, một số phần vàphương pháp giải cho phép tiếp cận những kiến thức toán học phổ thông một cách
có hệ thống (chẳng hạn phương trình, bất phương trình, hệ phương trình, bất đẳngthức…) Đồng thời đây còn là một cách giải toán có hiệu quả, nhanh chóng, tổng
Trang 40quát, tránh được một số sai lầm do trực giác, mặt khác có tác dụng tích cực trongviệc phát triển tư tuy trừu tượng, năng lực phân tích tổng hợp.
Việc nghiên cứu phương trình, bất phương trình, bất đẳng thức mở rộng kiếnthức toán học cho học sinh tạo khả năng làm cho học sinh quen với các phép toántrên các đối tượng không chỉ là bài toán cụ thể mà là các dạng toán có tính chấttương tự
Đại số 10 có nhiều ứng dụng lớn vì sẽ trang bị kiến thức cho các lớp sau vàtrong quá trình thi đại học – cao đẳng, do đó chương trình đại số 10 tạo điều kiệnthực hiện mối liên hệ bên trong trường phổ thông Vì vậy việc nghiên cứu kỹ hơn
về nội dung trong chương trình đại số 10 sẽ cung cấp cho học sinh một công cụhữu hiệu để giải quyết các vấn đề trong đời sống cũng như nghiên cứu các bộ mônkhoa học khác Điều này cũng giúp cho học sinh thấy được nguồn gốc thực tế củatoán học, góp phần bồi dưỡng thế giới quan duy vật biện chứng cho học sinh Chương trình đại số 10 chứa đựng nhiều kiến thức khó và trừu tượng Chươngtrình Sách Giáo khoa vẫn còn những biểu hiện “quá tải”, vẫn còn quá nặng về lýthuyết, yếu về thực hành và ứng dụng
Thời lượng dành cho môn toán nói chung, dành cho nội dung đại số 10 nóiriêng còn ít Vì vậy, trong khi giảng dạy người giáo viên không có điều kiện giúphọc sinh nắm vững các nội dung trong chương trình
Một số học sinh do lựa chọn ban học không dựa trên năng lực của bản thân nênkhi theo học chương trình nâng cao (với lượng kiến thhức mỗi bài lớn) làm cho các
em cảm thấy quá sức và không theo kịp
Vì những lý do trên đây việc dạy một số nội dung trong chủ đề tự chọn bám sátchương trình đại số 10 Sách Giáo khoa nâng cao là cần thiết, giúp cho học sinhđược học kỹ hơn và có được nhiều cơ hội hơn để rèn luyện kỹ năng giải bài toántrong chương trình, tránh được những sai lầm thường gặp