Trước yêu cầu đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đấtnước, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế,công tác giáo dục pháp luật cho học si
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
ĐẶNG MINH TIẾN
GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO HỌC SINH Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN VŨ QUANG, TỈNH HÀ
TĨNH TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
NGHỆ AN - 2014
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
ĐẶNG MINH TIẾN
GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO HỌC SINH Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN VŨ QUANG, TỈNH HÀ
TĨNH TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC
BỘ MÔN GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ
MÃ SỐ: 60.14.01.11
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS BÙI VĂN DŨNG
NGHỆ AN - 2014
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình nghiên cứu và hoàn thiện bản luận văn này, tôi đã nhận được sự quan tâm, giảng dạy và giúp đỡ của quý thầy, cô giáo trong Khoa Giáo dục Chính trị, Phòng Đào tạo Sau đại học Trường Đại học Vinh Đặc biệt, tôi đã nhận được sự quan tâm thường xuyên, dành nhiều thời gian hướng dẫn, giúp đỡ trực tiếp, tận tình của TS Bùi Văn Dũng - Trưởng khoa Kinh tế, Trường Đại học Vinh Bằng những tình cảm chân thành của mình, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến quý thầy, cô đã giúp đỡ tôi trong thời gian qua.
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn các đồng chí trong Ban Giám hiệu, các giáo viên dạy học bộ môn Giáo dục Công dân, các em học sinh ở các Trường THPT Cù Huy Cận, THPT Vũ Quang đã cung cấp đầy đủ thông tin, tư liệu và tạo điều kiện để tôi nghiên cứu, trao đổi những vấn đề liên quan đến đề tài.
Xin cảm ơn gia đình, bạn bè và các đồng nghiệp đã hết sức quan tâm, động viên để tôi hoàn thành bản Luận văn Thạc sĩ của mình.
Vũ Quang, tháng 10 năm 2014
TÁC GIẢ
Đặng Minh Tiến
Trang 4MỤC LỤC
Trang
A MỞ ĐẦU 6
B NỘI DUNG 16
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 16
1.1 Một số khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài 16
1.2 Tính tất yếu khách quan của việc giáo dục pháp luật cho học sinh 23
1.3 Đặc điểm của giáo dục pháp luật cho học sinh trung học phổ thông 35
* Kết luận chương 1 44
Chương 2 CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA VIỆC GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN VŨ QUANG, TỈNH HÀ TĨNH 45
2.1 Khái quát về các trường Trung học phổ thông trên địa bàn huyện Vũ Quang, tỉnh Hà Tĩnh 45
2.2 Thực trạng công tác giáo dục pháp luật cho học sinh ở các trường Trung học phổ thông trên địa bàn huyện Vũ Quang, tỉnh Hà Tĩnh 50
* Kết luận chương 2 73
Chương 3 PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN VŨ QUANG, TỈNH HÀ TĨNH 74
3.1 Phương hướng nâng cao chất lượng giáo dục pháp luật cho học trung học phổ thông trên địa bàn huyện Vũ Quang 74
3.2 Giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục pháp luật cho học sinh ở các trường THPT trên địa bàn huyện Vũ Quang hiện nay 78
* Kết luận chương 3 106
C KẾT LUẬN 107
D DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 110
Trang 5BẢNG KÝ HIỆU CÁC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG
TrangBảng 1.1 Bản chất và vai trò của pháp luật và các quyền cơ bản của công dân 36Bảng 1.2 Quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân trong các lĩnh vực đời sống 37Bảng 2.1 Thống kê số liệu học sinh vi phạm pháp luật 52
Trang 6Bảng 2.2 Số liệu phản ánh những biểu hiện khác của học sinh ở Vũ Quang tronghai năm học 53Bảng 2.3 Thống kê kết quả khảo sát năng lực đội ngũ giáo viên dạy học GDCDtrên địa bàn 61Biểu đồ 2.1 Thể hiện mức độ gia tăng của hành vi vi phạm pháp luật trong học sinh 52
Trang 7A MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong đời sống xã hội, pháp luật có vai trò đặc biệt quan trọng Nó làphương tiện không thể thiếu bảo đảm cho sự tồn tại, vận hành bình thường của
xã hội nói chung và của nền đạo đức nói riêng Pháp luật không chỉ là một côngcụ quản lý Nhà nước hữu hiệu, mà còn tạo môi trường thuận lợi cho sự pháttriển đạo đức, nhân cách con người, làm lành mạnh hoá đời sống xã hội, hướngđến một xã hội phát triển bền vững, dân chủ, công bằng và văn minh
Trước yêu cầu đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đấtnước, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế,công tác giáo dục pháp luật cho học sinh trung học phổ thông cần được tăngcường thường xuyên liên tục ở tầm cao hơn nhằm xây dựng đội ngũ người laođộng không những giỏi về chuyên môn, nghiệp vụ mà còn am hiểu pháp luật,sống làm việc theo Hiến pháp và pháp luật; biết sử dụng pháp luật để bảo vệ cácquyền, lợi ích hợp pháp chính đáng của mình; trong từng hành vi, hành độngluôn luôn tuân thủ pháp luật một cách có ý thức với tinh thần tự giác cao; biếtnêu cao tinh thần trách nhiệm của mình trước cộng đồng và xã hội
Một thực tế hiện nay, khi hệ thống pháp luật của nước ta đang từng bướcđược hoàn thiện, công tác phổ biến, giáo dục pháp luật được tổ chức thườngxuyên hơn với nhiều hình thức đa dạng, phong phú hơn trước; hệ thống thôngtin, truyền thông thực hiện chức năng tuyên truyền, giáo dục pháp luật đến mọitầng lớp nhân dân được cải thiện đáng kể Song, tình trạng vi phạm pháp luậtlại có chiều hướng gia tăng, đặc biệt là tầng lớp thanh niên, học sinh cấp THPT.Với những hành vi vi phạm thường xuyên, nguy hiểm hơn trước đã gây nênnhững bức xúc, lo lắng trong xã hội Nguyên nhân của thực trạng này thì cónhiều nhưng chúng ta phải kể đến đó là công tác giáo dục pháp luật trong nhà
Trang 8trường ở cấp học THPT chưa được chú trọng thường xuyên, hiệu quả thấp Độingũ giáo viên dạy học môn Giáo dục công dân được đào tạo kiến thức về phápluật, về kỹ năng, nghiệp vụ giáo dục pháp luật ở các trường THPT còn thiếu,phương pháp giáo dục chưa được đầu tư nghiên cứu và ứng dụng hiệu quả
Từ những thực tế trên đang đặt ra vấn đề cần phải quan tâm, đầu tư hơnnữa vào việc giáo dục pháp luật cho học sinh Đặc biệt, là học sinh ở khu vựcnông thôn và miền núi; công tác giáo dục pháp luật không nên chỉ dừng lại ở tổchức thi về pháp luật, sân khấu hóa hoạt động tuyên truyền bên cạnh dạy học mônGDCD, mà hơn hết phải có biện pháp giáo dục hữu hiệu, toàn diện, phải thực hiệnđồng thời việc phổ biến, giáo dục các quy định của pháp luật gắn với việc quản lý,uốn nắn, sửa chữa những việc làm, những hành động hằng ngày của các em, lấybiểu hiện hành vi của các em để đánh giá hiệu quả giáo dục pháp luật trong nhàtrường, phải gắn kết các lực lượng trong và ngoài nhà trường lại với nhau trongcông tác giáo dục pháp luật cho học sinh thì mới có thể đưa công tác giáo dụcpháp luật có những bước chuyển biến tích cực
Huyện Vũ Quang được thành lập năm 2000, từ sự chia tách các vùng quênghèo nhất của ba huyện Hương Sơn, Hương Khê và Đức Thọ Trên địa bàn hiện
có hai trường THPT, nhìn chung mặt bằng nhận thức của học sinh ở đây chưa cao,hiểu biết về pháp luật còn hạn chế Từ khi thành lập huyện đến nay tệ nạn xã hộiphát sinh nhiều, số lượng học sinh vi phạm pháp luật ngày càng tăng Thực tế nàyđòi hỏi cần có hình thức giáo dục pháp luật, nâng cao ý thức chấp hành pháp luậtcho học sinh nơi đây
Nhằm góp phần cùng với các nhà trường nói chung và đội ngũ giáo viênGiáo dục công dân nơi đây tìm ra các giải pháp hữu hiệu giáo dục pháp luật cho
học sinh, tác giả chọn vấn đề “Giáo dục pháp luật cho học sinh ở các trường
Trung học phổ thông trên địa bàn huyện Vũ Quang, tỉnh Hà Tĩnh trong giai đoạn hiện nay” làm đề tài Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Lý luận và phương
pháp dạy học bộ môn Giáo dục chính trị
Trang 92 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Giáo dục pháp luật cho học sinh ở nước ta hiện nay đang đặt ra những vấnđề hết sức cấp thiết cả về lý luận và thực tiễn đòi hỏi phải được nghiêm túcnghiên cứu nhằm đưa ra các giải pháp chỉ đạo hoạt động thực tiễn trong thời giantới
Điều 2 Luật Giáo dục khẳng định: “Mục tiêu giáo dục là đào tạo con
người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khoẻ, thẩm mỹ vànghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hìnhthành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứngyêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” [35;12]
Nhằm đáp ứng mục tiêu, yêu cầu của GDPL, trước thực trạng gia tăng cáchành vi vi phạm pháp luật của một bộ phận học sinh, sinh viên hiện nay, nhiềunhà khoa học, nhà giáo dục đã có những công trình nghiên cứu, bài viết nêu lênthực trạng và tìm giải pháp nhằm hạn chế các tác động tiêu cực, giáo dục ý thứcchấp hành pháp luật cho thanh niên - học sinh, gần đây đã có nhiều công trìnhnghiên cứu, bài viết tiêu biểu về vấn đề này như:
* Về sách, tài liệu liên quan
TS Trần Thị Thanh Mai, TS Trần Văn Thắng, TS Nguyễn Xuân Trường
đã biên soạn tập tài liệu “Phổ biến giáo dục pháp luật trong môn Giáo dục công
dân cấp THPT” [27] Tập tài liệu đã đi sâu giới thiệu các giải pháp nhằm nâng
cao chất lượng công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho học sinh lớp 12 thôngqua môn GDCD, giới thiệu một số phương pháp và kỹ thuật dạy học tích cực ápdụng cho phần “Công dân với pháp luật” Tập tài liệu cũng đi sâu mổ xẻ các vấnđề kiến thức mới và khó trong môn GDCD 12 để giúp cho các giáo viên dễ dànghơn trong xây dựng các bài giảng Tuy nhiên, tập tài liệu này mới dừng lại trongkhuôn khổ đổi mới phương pháp dạy học GDCD lớp 12 chứ chưa đề ra các giảipháp tổng hợp nhằm giáo dục pháp luật cho học sinh
Trang 10Trong cuốn sách: “Vai trò của pháp luật trong quá trình hình thành nhân
cách” [26] tác giả TS Nguyễn Đình Đặng Lục đã phân tích vai trò của gia đình,
nhà trường và xã hội đối với quá trình hình thành nhân cách cho người chưathành niên; các yếu tố, đặc điểm tâm lý của người chưa thành niên ảnh hưởngđến ý thức pháp luật Từ những phân tích, nhận định của mình tác giả đã rút ranhững vấn đề có tính nguyên tắc định hướng cho việc giáo dục pháp luật đối vớithế hệ trẻ
Tác giả PGS TS Nguyễn Minh Đoan với cuốn sách “Hiệu quả của pháp
luật những vấn đề lý luận và thực tiễn” [19], đã nghiên cứu làm rõ các vấn đề lý
luận về hiệu quả của pháp luật, xây dựng cơ sở khoa học cho việc đánh giá thựctrạng hiệu quả của pháp luật và tìm ra những giải pháp đúng đắn, phù hợp nhất
để từng bước nâng cao hiệu quả pháp luật ở nước ta trong những điều kiện vàhoàn cảnh cụ thể hiện nay Đây là một đóng góp rất có ý nghĩa không những vềmặt khoa học mà còn về mặt thực tiễn góp phần to lớn vào sự nghiệp xây dựngNhà nước pháp quyền XHCN ở Việt Nam
* Về các Luận án, Luận văn Thạc sĩ, Tiến sĩ
Nhằm góp phần đánh giá thực trạng và xây dựng các cơ sở khoa học choviệc nâng cao chất lượng giáo dục pháp luật và hình thành ý thức pháp luật chocông dân, học sinh, sinh viên hiện nay, thời gian gần đây đã xuất hiện nhiềucông trình khoa học là các Luận án Tiến sĩ, Luận văn Thạc sĩ tiêu biểu như:
Đào Duy Tấn với công trình “Những đặc điểm của quá trình hình thành
ý thức pháp luật ở Việt Nam hiện nay” [37], Luận án Tiến sĩ Triết học năm
2000 đã phân tích một cách khoa học những đặc điểm của quá trình hình thành
ý thức pháp luật, và những tác động của đời sống xã hội đến việc hình thành ýthức pháp luật, đó chính là mối quan hệ biện chứng giữa những tồn tại của xãhội Việt Nam hiện nay và ý thức pháp luật, ý thức công dân được hình thànhtrên cơ sở đó;
Trang 11Tác giả Hồ Việt Hiệp (2000), với Luận án Tiến sĩ Luật học “ Sự hình
thành và phát triển ý thức pháp luật của nhân dân đồng bằng sông Cửu Long trong điều kiện đổi mới ở Việt Nam hiện nay” [23] Đề tài đã cung cấp hệ thống
lý luận dựa trên những cơ sở khoa học về những tác động của đời sống, phongtục, tập quán của một vùng đồng bằng rộng lớn với hoạt động chủ yếu là sảnxuất lúa nước đến việc hình thành và phát triển ý thức pháp luật của người dânvùng Đồng bằng Sông Cửu Long, từ đó đề ra các giải pháp nhằm hình thành ýthức pháp luật bền vững cho mọi người dân vùng miền Tây Nam bộ;
“Lôgíc khách quan của quá trình hình thành và phát triển ý thức pháp
luật ở Việt Nam” [47], Luận án Tiến sĩ Triết học, tác giả Nguyễn Thị Thuý
Vân, năm 2001 đã chỉ ra những yếu tố tác động đến quá trình hình thành vàphát triển ý thức pháp luật ở Việt Nam tuân theo những quy luật khách quancủa nó, quy luật đó được hình thành trong suốt quá trình lịch sử đấu tranh dựngnước và giữ nước, trong sự nghiệp xây dựng CNXH ở Việt Nam hiện nay;
Tác giả Đặng Thị Phương Lê với đề tài Luận văn Thạc sĩ “Nâng cao chất
lượng phổ biến, giáo dục pháp luật cho học sinh, sinh viên trường Cao đẳng Nghề Kỹ thuật Công nghiệp Việt Nam - Hàn Quốc, tỉnh Nghệ An trong bối cảnh hiện nay” [25] đã nêu bật thực trạng công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho
học sinh, sinh viên hiện nay và đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượngcông tác phổ biến giáo dục pháp luật cho học sinh, sinh viên trường Cao đẳngNghề Kỹ thuật Công nghiệp Việt Nam - Hàn Quốc, tỉnh Nghệ An;
Tác giả Nguyễn Thị Kim Chi có công trình “Giáo dục ý thức chấp hành
pháp luật cho học sinh thông qua môn Giáo dục công dân lớp 12 (qua khảo sát tại trường THPT Phan Ngọc Hiển quận Ninh Kiều, TP Cần Thơ)” - Luận văn
Thạc sĩ [14];
Qua nghiên cứu các đề tài trên, các tác giả đã đi sâu phân tích những ưuđiểm và hạn chế của công tác giáo dục pháp luật thời gian qua ở các địa phương,đơn vị, đề ra các giải pháp nhằm tăng cường công tác giáo dục pháp luật cho các
Trang 12nhà trường Tuy nhiên, các giải pháp đề ra vẫn chưa mang tính toàn diện, còn bóhẹp trong phạm vi chương trình lớp 12 hoặc đổi mới nội dung và phương phápsoạn, giảng
* Các công trình, bài viết đăng trên các báo, tạp chí
Gần đây, trên các phương tiện thông tin đại chúng cũng đăng tải khánhiều bài viết nêu lên thực trạng đáng báo động của tệ nạn học đường, hành vi viphạm pháp luật ngày một gia tăng trong học sinh, sinh viên, từ đó nêu lên cácgiải pháp phát huy vai trò từ gia đình, nhà trường, xã hội đối với việc giáo dụcpháp luật cho học sinh như:
Tác giả Phạm Hồng Dương với bài viết “Tăng cường giáo dục pháp luật
và đạo đức trong các nhà trường” [18] đăng trên trang mạng của ngành www.
BenTre.edu.vn Số ra Thứ 6 ngày 27/12/2010 nhận định: Ý thức chấp hành đạođức, pháp luật của học sinh ở các cấp học càng cao, càng có chiều hướng đixuống, trong khi đó chương trình giáo dục đạo đức, pháp luật hiện nay lại vừathừa vừa thiếu
Tác giả Lê Thị Thúy Mong có bài viết “Nhà trường và công tác giáo dục
pháp luật” [31] đăng trên Báo Tin tức, số ra ngày 15/11/2013 cho rằng: Phổ
biến giáo dục pháp luật trong nhà trường là một phần của nội dung chương trìnhgiáo dục ở các cấp học, là một hoạt động thường xuyên của ngành Giáo dục vàĐào tạo Tuy nhiên, thực trạng học sinh hiện nay đang thiếu hiểu biết pháp luật,dẫn đến ý thức chấp hành pháp luật chưa cao Tác giả đã đề xuất một trongnhững giải pháp quan trọng là đẩy mạnh giáo dục pháp luật theo hướng phát huytinh thần tự giác cho học sinh
Trên Tạp chí Người đại biểu nhân dân, số ra tháng 6/2010 tác giả Nguyên
Nhung có bài “Nâng cao ý thức pháp luật cho thanh niên, thiếu niên” [32], tác
giả cho rằng, việc nâng cao ý thức pháp luật cho thanh thiếu niên hiện nay làviệc làm cấp thiết, trong đó các nhà trường giữ vai trò chủ đạo, trong việc đổi
Trang 13mới hình thức, phương pháp giáo dục; sự vào cuộc của các lực lượng xã hội làhết sức cần thiết, góp phần nâng cao ý thức pháp luật cho lực lượng thanh, thiếuniên hiện nay.
* Đánh giá chung
Nhìn chung, các công trình đều đi sâu nghiên cứu một lĩnh vực hoặc mộtvấn đề của việc nâng cao ý thức pháp luật cho các đối tượng là nhân dân, họcsinh, sinh viên từ đó xây dựng, phát triển hệ thống lý luận về các khái niệm, cấutrúc, chức năng, những đặc điểm của quá trình hình thành ý thức pháp luật ở nước
ta, đề ra những giải pháp nâng cao ý thức pháp luật hoặc xây dựng những cơ sởkhoa học, những vấn đề lý luận mang tầm vĩ mô Qua nghiên cứu các sách, báo,tạp chí, các công trình khoa học, luận án, luận văn viết về công tác GDPL chúng
ta thấy các công trình nghiên cứu đã đạt được những kết quả quan trọng như:
Thứ nhất, tất cả các công trình đã đánh giá đúng thực trạng ý thức chấp hành
pháp luật trong nhân dân, học sinh, sinh viên hiện nay ở các vùng miền nói riêng và
cả nước nói chung đang có xu hướng tăng mạnh, hành vi vi phạm ngày một nghiêmtrọng hơn;
Thứ hai, hầu hết các tác giả đều đi đến nhận định, nguyên nhân khách
quan tác động đến việc hình thành ý thức hành pháp luật trong thanh niên, họcsinh, nhân dân đó chính là những tồn tại trong xã hội, những yếu tố khách quannhư: sự tác động của nền kinh tế thị trường; sự phát triển của khoa học, côngnghệ Nguyên nhân chủ quan là những bất cập, yếu kém trong quản lý Nhànước làm phát sinh nhiều tệ nạn xã hội, nhiều tiêu cực; công tác tuyên truyền,giáo dục chưa phát huy được hiệu quả; Hệ thống pháp luật chưa được hoànthiện; sự vào cuộc, chung tay của các tổ chức, đoàn thể và lực lượng xã hội chưaquyết liệt
Thứ ba, các công trình, bài viết đã nêu ra một số giải pháp, nhằm nâng
cao ý thức pháp luật trong nhân dân, học sinh như: Nâng cao chất lượng công
Trang 14tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật; nâng cao vai trò của các tổ chức,đoàn thể nhân dân, v.v…
Thứ tư, nhiều tác giả đã cho rằng tâm lý, nhận thức của các cấp, các
ngành, của các GV, HS về vị trí, vai trò của môn GDCD nói chung và nội dunggiáo dục pháp luật trong các nhà trường nói riêng chưa được coi trọng, chưaquan tâm, đầu tư đúng mức cho công tác GDPL
Bên cạnh những đóng góp nêu trên chúng ta cũng nhận thấy, các công trìnhnghiên cứu mới chỉ đáp ứng phần nào về mặt lý luận chung về nâng cao ý thứcpháp luật cho nhân dân, thanh niên, học sinh, sinh viên mà ít có công trình đi sâuvào đánh giá cụ thể thực trạng công tác dạy và học pháp luật cho từng đối tượngcụ thể, trong đó có học sinh THPT - lực lượng chiếm đông đảo trong xã hội Chưa
có công trình, bài viết đánh giá cụ thể những hạn chế lớn của công tác giáo dụcpháp luật cho học sinh THPT hiện nay đó là: GDPL còn một chiều, nặng về dạyhọc, truyền thụ tri thức, chưa coi quá trình giáo dục pháp luật cho học sinh là quátrình đi từ truyền thụ tri thức pháp luật đến quản lý, kiểm soát những biểu hiện,hành vi của học sinh trong cuộc sống, để từ đó kịp thời uốn nắn, giáo dục hìnhthành ý thức thái độ chấp hành và tôn trọng pháp luật, đồng thời làm cơ sở để nhàtrường và đội ngũ GV đánh giá, đổi mới nội dung, hình thức, phương pháp giáodục pháp luật cho học sinh Các giải pháp mà các tác giả đưa ra, ít đi sâu vào đổimới nội dung, phương pháp GDPL cho học sinh THPT trong các nhà trườngnhằm khắc phục những tồn tại hạn chế hiện nay trong dạy và học pháp luật
Từ những kết quả đã đạt được trong các công trình của các tác giả, chúngtôi tiếp tục đi sâu vào nghiên cứu, đánh giá những khó khăn, tồn tại, hạn chếhiện nay trong công tác GDPL cho học sinh THPT Đồng thời, làm phong phúthêm về phương pháp dạy học, GDPL nhằm nâng cao chất lượng công tácGDPL cho học sinh, góp phần nâng cao chất lượng dạy học, giáo dục của cácnhà trường trên địa bàn huyện Vũ Quang
3 Mục đích và nhiệm vụ của đề tài
Trang 153.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở hệ thống hóa lý luận và khảo sát thực trạng, mục đích nghiên cứucủa đề tài là nhằm giáo dục pháp luật cho học sinh ở các trường Trung học phổthông trên địa bàn huyện Vũ Quang, tỉnh Hà Tĩnh trong giai đoạn hiện nay
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Làm rõ cơ sở lý luận của việc giáo dục pháp luật cho học sinh Trung họcphổ thông
- Khảo sát và đánh giá thực tiễn của việc giáo dục pháp luật cho học sinh
các trường Trung học phổ thông trên địa bàn huyện Vũ Quang, tỉnh Hà Tĩnh
- Xây dựng phương hướng và giải pháp nhằm nâng cao chất lượng giáo
dục pháp luật cho học sinh trung học phổ thông trên địa bàn huyện Vũ Quang,Hà Tĩnh
4 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu
Đề tài đi sâu nghiên cứu, phân tích những vấn đề lý luận và thực tiễn đặt
ra đối với quá trình giáo dục pháp luật cho học sinh nói chung và học sinh THPTtrên địa bàn huyện Vũ Quang, tỉnh Hà Tĩnh nói riêng, từ đó đề xuất các giảipháp nhằm đa dạng hóa hình thức giáo dục pháp luật cho học sinh trên địa bànhuyện Vũ Quang
- Phạm vi nghiên cứu
Trong phạm vi nghiên cứu đề tài này, chúng tôi chỉ giới hạn nghiên cứu ởhai trường THPT trên địa bàn huyện miền núi Vũ Quang, tỉnh Hà Tĩnh
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở lý luận của phương pháp nghiên cứu
Vận dụng những quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lê nin, tư tưởng củaChủ tịch Hồ Chí Minh và đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước về giáo
Trang 16dục pháp luật và các tài liệu nghiên cứu đã được công bố làm cơ sở lý luận choviệc xác định phương pháp nghiên cứu.
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp; phương pháp lịch sử logic;
phương pháp điều tra xã hội học và phương pháp khảo sát tình hình thực tế
6 Giả thuyết khoa học
Nếu xây dựng và thực hiện đồng bộ các mục tiêu, giải pháp khả thi vềgiáo dục pháp luật thì sẽ góp phần nâng cao chất lượng giáo dục pháp luật, làmgiảm thiểu các tai, tệ nạn xã hội xây ra đối với các em học sinh THPT trên địabàn huyện Vũ Quang, tỉnh Hà Tĩnh
7 Những đóng góp của luận văn
- Làm rõ về mặt lý luận và thực tiễn sự cần thiết phải giáo dục pháp luậtcho học sinh - những người sắp bước vào tuổi công dân nói chung và học sinhTHPT trên địa bàn huyện Vũ Quang
- Đề xuất các phương hướng, giải pháp góp phần nhằm đổi mới nội dung,hình thức, phương pháp giáo dục pháp luật cho học sinh
- Các kết quả điều tra, khảo sát và các giải pháp nêu trong luận văn đãđược đăng trên Tạp chí Giáo dục số 373 Kỳ 1 (7/2014), trang 37, 38, 39 với tiêuđề “Nâng cao chất lượng giáo dục pháp luật cho học sinh trung học phổ thônghiện nay”
Với những đóng góp như trên, luận văn sẽ là tài liệu tham khảo bổ ích chocác nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục trong thời gian tới
8 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dungchính của luận văn được kết cấu thành 3 chương, 7 tiết
Trang 17B NỘI DUNG
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC GIÁO DỤC PHÁP LUẬT
CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
1.1 Một số khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài
1.1.1 Khái niệm pháp luật và ý thức pháp luật
- Khái niệm pháp luật
Trong lịch sử phát triển của loài người đã có thời kỳ không có phápluật đó là thời kỳ xã hội cộng sản nguyên thủy Trong xã hội này, để điều chỉnhcác quan hệ xã hội, tạo lập trật tự, ổn định cho xã hội, người nguyên thủy sửdụng các quy phạm xã hội, đó là các tập quán và tín điều tôn giáo Các quyphạm xã hội trong chế độ cộng sản nguyên thủy có những đặc điểm
Thể hiện ý chí chung của các thành viên trong xã hội, bảo vệ lợi ích chotất cả thành viên trong xã hội Là quy tắc xử sự chung của cả cộng đồng, làkhuôn mẫu của hành vi; được thực hiện trên cơ sở tự nguyện, dựa trên tinh thầnhợp tác giúp đỡ lẫn nhau, mặc dù trong xã hội cộng sản nguyên thủy cũng đã tồntại sự cưỡng chế nhưng không phải do một bộ máy quyền lực đặc biệt tổ chứcmà do cả cộng đồng tổ chức nên; những tập quán và tín điều tôn giáo lúc bấy giờlà những quy tắc xử sự rất phù hợp để điều chỉnh các quan hệ xã hội, bởi vì nóphản ánh đúng trình độ phát triển kinh tế - xã hội của chế độ cộng sản nguyênthủy, phù hợp với tính chất khép kín của tổ chức thị tộc, bào tộc, bộ lạc
Trang 18Khi chế độ tư hữu xuất hiện và xã hội phân chia thành giai cấp những quyphạm xã hội đó trở nên không còn phù hợp Trong điều kiện xã hội mới xuất hiệnchế độ tư hữu, xã hội phân chia thành các giai cấp đối kháng, tính chất khép kíntrong xã hội bị phá vỡ, các quy phạm phản ánh ý chí và bảo vệ lợi ích chungkhông còn phù hợp Trong điều kiện lịch sử mới xã hội đòi hỏi phải có những quytắc xã hội mới để thiết lập cho xã hội một “trật tự”, loại quy phạm mới này phảithể hiện được ý chí của giai cấp thống trị và đáp ứng nhu cầu đó pháp luật đã rađời Giai đoạn đầu giai cấp thống trị tìm cách vận dụng những tập quán có nộidung phù hợp với lợi ích của giai cấp mình, biến đổi chúng và bằng con đườngNhà nước nâng chúng lên thành các quy phạm pháp luật Ví dụ: Nhà nước ViệtNam suốt thời kỳ Hùng Vương - An Dương Vương chưa có pháp luật thành văn,hình thức của pháp luật lúc bấy giờ chủ yếu là tập quán pháp Về sau các Nhànước đã nhanh chóng ban hành các văn bản pháp luật Bởi lẽ, nếu chỉ dùng cáctập quán đã chuyển hoá để điều chỉnh các quan hệ xã hội thì sẽ có rất nhiều cácquan hệ xã hội mới phát sinh trong xã hội không được điều chỉnh Vì vậy, để đápứng nhu cầu này hoạt động xây dựng pháp luật của các Nhà nước đã ra đời Hoạtđộng này lúc đầu còn đơn giản, nhiều khi chỉ là các quyết định của các cơ quan tưpháp, hành chính, sau dần trở nên hoàn thiện cùng với sự phát triển và hoàn hiệncủa bộ máy Nhà nước.
Khái niệm “pháp luật” (droit) xuất xứ La-tinh “directum” nói lên kháiniệm ngay thẳng, sự chính trực, khác với “luật pháp” (Loi) tiếng La-tinh “ligare”nghĩa là trói buộc
Theo Từ điển tiếng Việt: "Pháp luật là những quy phạm hành vi do Nhà
nước ban hành mà mọi người dân buộc phải tuân theo nhằm điều chỉnh các quan
hệ xã hội và bảo vệ trật tự xã hội” [38; 985] Với cách tiếp cận khái quát củađịnh nghĩa này, chúng ta rất khó xác định được tính giai cấp cũng như cơ sởkinh tế, xã hội khi nghiên cứu về pháp luật
Trang 19Theo Giáo trình Lý luận chung về Nhà nước và pháp luật : “Pháp luật là
hệ thống các quy tắc xử sự do Nhà nước ban hành hoặc thừa nhận và bảo đảmthực hiện, thể hiện ý chí của giai cấp thống trị trong xã hội, được quy định bởi
cơ sở kinh tế của xã hội, là yếu tố điều chỉnh các quan hệ xã hội nhằm tạo ra trật
tự và ổn định trong xã hội” [22; 209]
Như vậy, pháp luật về bản chất nguyên gốc là mối tương quan giữa conngười với con người, giữa con người với tập thể, lâu dần trở thành quy tắc xử
sự, mỗi người phải tuân thủ khi giao tiếp với nhau cũng như giao tiếp với xã hội,sau này trở thành một định chế, trở thành khoa học được mọi người tuân theo,được bảo đảm thực hiện và có chế tài khi có sự vi phạm
Hiểu theo khoa học pháp lý ta thấy pháp luật có các dấu hiệu: Thứ nhất,
pháp luật phải là hệ thống các quy tắc xử sự mà mọi cá nhân, tổ chức trong xã
hội phải có nghĩa vụ tuân thủ Thứ hai, pháp luật phải do Nhà nước ban hành và bảo đảm thực hiện Thứ ba, pháp luật là một hiện tượng xã hội vừa mang tính
giai cấp vừa mang tính xã hội có quan hệ mật thiết với nhau Vì pháp luật doNhà nước ban hành, đại diện chính thức của toàn xã hội, mang tính chất xã hội,
ở mức độ nhiều hay ít (tùy vào hoàn cảnh cụ thể) pháp luật còn thể hiện ý chí,lợi ích của các giai tầng khác trong xã hội Trong xã hội có giai cấp tồn tại nhiềuquy phạm khác nhau thể hiện ý chí, nguyện vọng của các giai cấp, các lực lượng
xã hội, nhưng chỉ có một hệ thống pháp luật thống nhất chung cho toàn xã hội.Tính giai cấp còn thể hiện ở mục đích điều chỉnh các mối quan hệ xã hội nhằmhướng tới một trật tự phù hợp với ý chí của giai cấp thống trị Với ý nghĩa đó,pháp luật chính là công cụ để thực hiện sự thống trị giai cấp, quản lí xã hội
Như vậy, Pháp luật dưới góc độ luật học được hiểu như là tổng thể cácquy tắc xử sự có tính bắt buộc chung, do Nhà nước đặt ra hoặc thừa nhận, thểhiện ý chí của giai cấp cầm quyền, được Nhà nước đảm bảo thực hiện bằng cácbiện pháp giáo dục, thuyết phục, và cưỡng chế
Trang 20Pháp luật ở Việt Nam ra đời sớm cùng với sự ra đời của Nhà nước Từ giaiđoạn đầu, trải qua hơn 1000 năm Bắc thuộc cho đến thời kỳ đầu của nền độc lập
tự chủ (triều Ngô, Đinh, Tiền Lê) chúng ta chưa có luật thành văn Luật trong suốtthời gian đó chỉ là luật tục - đó là phong tục, tập quán, quy phạm đạo đức… đượccoi như pháp luật Khi chế độ phong kiến VN bắt đầu phát triển ổn định, yêu cầucần có một bộ luật thành văn phù hợp càng trở lên cấp thiết Năm 1042, Lý TháiTông sai Trung thư sảnh - một cơ quan phụ trách việc sửa định luật lệ, chia mônloại, biên ra điều khoản làm bộ Hình thư Đây là bộ luật thành văn đầu tiên củanước ta, được soạn thảo dựa trên luật tục, tập quán của các thời trước Gọi là Hìnhthư nhưng không chỉ quy định về hình sự mà còn bao trùm các lĩnh vực khác, do
kỹ thuật lập pháp cổ các quan hệ xã hội được bảo vệ và gắn liền với quy phạmhình sự nên luật thời đó gọi là Hình pháp Kể từ đây về sau, các triều đại phongkiến Việt Nam từ đời Nhà Trần đến Nhà Nguyễn đều rất quan tâm xây dựng phápluật để điều hành đất nước
Trong thời đại Hồ Chí Minh, ngay sau Cách mạng tháng Tám, Nhà nướcdân chủ cộng hòa non trẻ đứng trước nhiệm vụ cấp thiết phải xóa bỏ hệ thốngpháp luật thực dân - phong kiến và xây dựng hệ thống pháp luật mới để quản lý
xã hội, giữ vững nền độc lập dân tộc, cùng với sự phát triển của Nhà nước,pháp luật kiểu mới ở nước ta cũng được phát triển và ngày càng hoàn thiện
Để tăng cường tuyên truyền, giáo dục và thực thi pháp luật, Quốc hộikhóa XIII đã thông qua Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật trong đó quy định lấyngày 09 tháng 11 hằng năm làm “Ngày Pháp luật Việt Nam” [36; 4], đây là dịp
để các cơ quan pháp luật tiến hành tuyên truyền, giáo dục kiến thức, ý thức chấphành pháp luật cho toàn thể nhân dân; đồng thời cũng là dịp để các cơ quan tưpháp và cơ quan hữu quan đánh giá công tác thực thi pháp luật, hành xử và xử lýcông việc theo quy định của pháp luật Quan trọng hơn cả, thông qua Ngày Phápluật Việt Nam để tất cả người dân bồi dưỡng tinh thần thượng tôn pháp luật,
"thành tín thủ pháp", đặc biệt người dân nắm và hiểu biết những vấn đề căn bản
Trang 21của pháp luật để hành xử và bảo vệ quyền lợi hợp pháp, chính đáng của chínhbản thân.
- Ý thức pháp luật
Ý thức pháp luật là một hình thái của ý thức xã hội, là một trong nhữngbiểu hiện của trình độ văn hóa xã hội Có thể định nghĩa ý thức pháp luật là tổngthể những học thuyết, tư tưởng, tình cảm của con người, thể hiện ở thái độ, sựđánh giá về tính công bằng hay không công bằng, đúng đắn hay không đúng đắncủa pháp luật hiện hành Pháp luật trong quá khứ và pháp luật cần phải có, vềtính hợp pháp hay không hợp pháp trong cách xử sự của con người, trong hoạtđộng của các cơ quan, tổ chức
Từ định nghĩa trên ta có thể thấy rằng: về mặt nội dung, ý thức pháp luậtđược cấu thành từ hai bộ phận tư tưởng pháp luật và tâm lý pháp luật
Tư tưởng pháp luật là tổng thể những tư tưởng, quan điểm, phạm trù, kháiniệm, học thuyết về pháp luật, tức là mọi vấn đề lý luận về pháp luật, về thượngtầng kiến trúc pháp lý của xã hội
Tâm lý pháp luật được thể hiện qua thái độ, tình cảm, tâm trạng, xúc cảmđối với pháp luật và các hiện tượng pháp lý khác, được hình thành một cách tựphát thông qua giao tiếp và dưới tác động của các hiện tượng pháp lý, phản ứngmột cách tự nhiên của con người đối với các hiện tượng đó
1.1.2 Khái niệm tuyên truyền pháp luật, giáo dục pháp luật và thực
hiện pháp luật
- Tuyên truyền pháp luật
Tuyên truyền pháp luật là việc công bố, giới thiệu rộng rãi nội dung củapháp luật để mọi người biết, động viên, thuyết phục, để mọi người tin tưởng vàthực hiện đúng pháp luật
- Giáo dục pháp luật
Theo cách hiểu thông thường giáo dục giáo dục pháp luật có hai nghĩa:
Theo nghĩa hẹp: Giáo dục pháp luật là giới thiệu tinh thần văn bản pháp
Trang 22luật cho người có nhu cầu; theo đó phổ biến, giáo dục pháp luật là việc truyền bápháp luật cho đối tượng nhằm nâng cao tri thức, tình cảm, niềm tin pháp luật chođối tượng từ đó nâng cao ý thức tôn trọng pháp luật, nghiêm chỉnh chấp hànhpháp luật của đối tượng.
Theo nghĩa rộng: Giáo dục pháp luật là một khâu của hoạt động tổ chứcthực hiện pháp luật, là hoạt động định hướng có tổ chức, có chủ định thông quacác hình thức giáo dục, thuyết phục, nêu gương, quản lý, giám sát nhằm mụcđích hình thành ở đối tượng tri thức pháp lý, tình cảm và hành vi xử sự phù hợpvới các đòi hỏi của hệ thống pháp luật hiện hành với các hình thức, phương tiện,phương pháp đặc thù
Giáo dục pháp luật là quá trình hoạt động thường xuyên, liên tục và lâudài của chủ thể tuyên truyền lên đối tượng, là cầu nối để chuyển tải pháp luậtvào cuộc sống Trong công tác giáo dục, giáo dục pháp luật được hiểu theonghĩa rộng và được xác định là một công việc trọng tâm và thường xuyên củacác nhà trường, các cơ quan Nhà nước, các cấp, các ngành
- Thực hiện pháp luật
Pháp luật được ban hành để hướng dẫn hành vi, điều chỉnh cách xử sự củamỗi cá nhân, tổ chức theo các quy tắc, cách thức phù hợp với yêu cầu của Nhànước Điều đó có nghĩa là, pháp luật chỉ thực sự đi vào đời sống nếu mỗi cánhân, tổ chức khi tham gia vào các quan hệ xã hội cụ thể, trong các điều kiện,hoàn cảnh cụ thể đều lựa chọn cách xử sự phù hợp với quy định của pháp luật
“Thực hiện pháp luật là hoạt động có mục đích, làm cho những quy địnhcủa pháp luật đi vào cuộc sống, trở thành những hành vi hợp pháp của các cánhân, tổ chức” [10;17]
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn chủ trương đề cao việc coi
trọng quản lý Nhà nước bằng công cụ pháp luật Năm 1922, trong bài “Việt
Nam yêu cầu ca” Người viết:
“Bảy xin Hiến pháp ban hành
Trang 23Trăm điều phải có thần linh pháp quyền” [28; 473].
Hiến pháp là đạo luật gốc, là “luật mẹ”, từ đấy là cơ sở để xây dựng hệthống luật pháp và từ đấy hình thành một Nhà nước hợp hiến thông qua tổngtuyển cử bầu ra Quốc hội, cơ quan lập pháp duy nhất Hiến pháp 1946 do đíchthân Chủ tịch Hồ Chí Minh soạn thảo thể hiện ý tưởng, quyết tâm của Người làxây dựng một “chính quyền mạnh mẽ và sáng suốt của nhân dân” [34; 4]
Trước khi có Hiến pháp, Người quan niệm một xã hội không thể sống mộtngày không có pháp luật, cho nên Người đã ký Sắc lệnh giữ lại mọi luật lệ củachế độ cũ, chỉ trừ những điều luật trái với nền độc lập, tự do Đồng thời, Người
ký một loạt sắc lệnh cấp bách: Sắc lệnh bảo đảm tự do cá nhân, Sắc lệnh bãi bỏthuế thân, Sắc lệnh tổ chức Toà án độc lập với Hành chính… Đó là nền tảngtrước mắt và lâu dài cho một Nhà nước pháp quyền
Nói về thực thi pháp luật, Người đòi hỏi tất cả mọi tổ chức và cá nhânphải chấp hành pháp luật, không ai được đứng trên và đứng ngoài pháp luật.Ngay từ những ngày đầu thành lập nước, Người đã ban hành Quốc lệnh ngày26/1/1946 Trong Quốc lệnh này, gồm 10 điều khen thưởng và 10 điều phạt, kể
cả hình phạt xử tử Trong thực tế, Người đã cho thi hành những án nghiêm khắcnhất ngay cả những cán bộ, đảng viên vi phạm Nhưng tư tưởng pháp trị lạithống nhất rất biện chứng với tư tưởng đức trị
Người chủ trương dùng biện pháp “giáo dục” và “cảm hoá” Người nóikhông dùng xử phạt là không đúng song chút gì cũng dùng đến xử phạt cũngkhông đúng Dù sử dụng pháp luật hay giáo dục cảm hoá cũng đều nhằm mụcđích đạt đến sự bình đẳng, mà cái gốc của sự bình đẳng là phải giải quyết lợi ích
cá nhân và lợi ích xã hội, lợi ích cộng đồng hài hoà, phù hợp và thuận chiều Cáivượt trội của tư tưởng Hồ Chí Minh ở chỗ không chỉ dùng duy nhất công cụpháp luật để điều hành Nhà nước mà còn biết dùng sức mạnh tổng hợp của cácbiện pháp cách mạng, các biện pháp vận động quần chúng, không chỉ dùng duy
Trang 24nhất bộ máy chính quyền mà còn biết sử dụng các định chế khác, các đoàn thể,các tổ chức trong toàn bộ hệ thống chính trị
Trong suy nghĩ của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Người luôn luôn gắn liền dânchủ với pháp luật, Người nói rằng: Pháp luật của ta hiện nay bảo vệ quyền lợicủa hàng triệu người lao động… Pháp luật của ta là pháp luật thật sự dân chủ vì
nó bảo vệ quyền tự do, dân chủ rộng rãi cho nhân dân lao động Nhà nước nàothực hiện đầy đủ dân chủ tức là thực hiện 3 quyền cho công dân: quyền chínhtrị, quyền kinh tế và quyền xã hội
1.2 Tính tất yếu khách quan của việc giáo dục pháp luật cho học sinh
1.2.1 Đặc điểm nhận thức, tâm sinh lý lứa tuổi học sinh trung học phổ thông
Lứa tuổi thanh niên là giai đoạn phát triển bắt đầu từ lúc dậy thì và kếtthúc bắt đầu khi vào tuổi người lớn, thời kỳ từ 15 - 18 tuổi gọi là tuổi đầu thanhniên, đây là lứa tuổi học sinh THPT Ở lứa tuổi này có những thay đổi nhanhchóng về tâm sinh lý, cùng với những biến đổi về cơ thể, thì đời sống tâm lý củacác em cũng có những thay đổi sâu sắc
Về mặt sinh lý, ở tuổi này các em có sự phát triển khá hoàn chỉnh về cơthể Giai đoạn này, do có sự phát triển mạnh các hóc môn sinh dục ở tuổi vịthành niên đã kích thích các em bắt đầu quan tâm đến bạn khác giới, làm xuấthiện những cảm giác, cảm xúc giới tính mới lạ Những rung cảm mới lạ này đôikhi lướt qua nhanh chóng nhưng cũng có khi kéo dài Các em thường che giấunhững rung cảm của mình bằng các biểu hiện khác nhau như: bông đùa, ngượngngùng, suồng sã, ồn ào… Những rung cảm được giấu kín này chứa đựng rấtnhiều tâm trạng: thiện cảm, buồn rầu, nhớ nhung, phấn khởi, muốn được nghemột lời nói dịu dàng âu yếm, một cử chỉ quan tâm, một nụ cười trìu mến… Đóđều là những cảm xúc trong sáng Sự can thiệp thô bạo, thiếu tế nhị lúc này đều
Trang 25làm cho các em thấy bị xúc phạm, chế giễu và hổ thẹn Tuy nhiên, có một số emkhông kiểm soát được cảm xúc của mình dẫn đến bị cuốn hút vào con đườngyêu đương, tình ái Lý trí chưa đủ giúp các em làm chủ được những rung cảm,suy nghĩ bị phân tán, thời gian và tâm trí bị cuốn hút vào đó nên kết quả học tập,lao động và sức khỏe bị giảm sút rõ rệt Thậm chí, có những hành vi tình dụcquá sớm, thiếu kiểm soát, không an toàn dẫn đến mang thai ngoài ý muốn Mặtkhác, do sự phát triển cơ thể chưa hoàn chỉnh, mang thai ở tuổi vị thành niênmang lại nhiều hậu quả nghiêm trọng cho sức khỏe như: nạo phá thai, sẩy thai,sinh thiếu cân, đẻ non, thai nhỏ so với tuổi thai, tử vong mẹ Như vậy, sự mangthai ở tuổi vị thành niên gây ảnh hưởng nặng nề đến sự phát triển thể chất vàtâm sinh lý cũng như trí tuệ của các em sau này
Về mặt tâm lý, học sinh THPT là giai đoạn có những chuyển biến lớn đòihỏi phải có những thích nghi đối với bên ngoài Các em chưa thoát khỏi gia đình
để hoàn toàn độc lập, nhưng các biểu hiện mong muốn được tự lập, muốn làmngười lớn, coi mình là người lớn, muốn được trao đổi, bàn bạc nhiều vấn đề hơnvới người lớn hơn và có xu hướng tách khỏi sự ràng buộc của gia đình Các emkhông còn đòi đi chung với cha mẹ, muốn tự chọn bạn, muốn được ăn mặc theo
ý thích, muốn được chủ động tham gia các quan hệ xã hội khác Trong suynghĩ thường thích lập luận, suy diễn và nhìn sự việc theo quan điểm lý tưởnghóa của riêng mình, không còn coi gia đình là giá trị duy nhất và bắt đầu tìmnhững chỗ dựa nhất định từ phía giáo viên, nhà trường, bạn bè nơi mình đanghọc tập Đối với các em, gia đình đại diện cho cuộc sống hằng ngày, giáo viênvà nhà trường đại diện cho tri thức, phương pháp và là “người bạn tốt” để đếnvới cuộc sống một cách vững chắc Sự cảm nhận về thế giới, về xã hội và vềchính bản thân của các em, sẽ chịu ảnh hưởng trực tiếp bởi thái độ, hành vi,niềm tin của bố mẹ, thầy cô, nhà trường Giai đoạn phát triển đặc biệt này chịuảnh hưởng rất mạnh mẽ của các điều kiện văn hóa, giáo dục, cuộc sống gia đình,
Trang 26môi trường bạn bè, môi trường xã hội, đồng thời cũng là giai đoạn gây nhiều longại cho các bậc cha mẹ và cộng đồng
Dưới góc độ xã hội, đây là lứa tuổi bắt đầu được phép tham gia một sốquan hệ xã hội nhất định, được pháp luật coi là có năng lực hành vi trong mộtvài quan hệ xã hội, đồng thời cũng bắt đầu phải chịu sự điều chỉnh của phápluật, phải chịu trách nhiệm về hành vi của mình, khi tham gia các quan hệ xãhội Ở lứa tuổi này nhân cách đang trong giai đoạn hình thành và chưa ổn định,các em rất dễ sa ngã, dễ bị rủ rê, lôi kéo vào các hành vi phạm tội do đặc tínhhiếu động, tò mò của tuổi trẻ, nhưng cũng dễ uốn nắn, dễ tiếp thu các điều hay,điều tốt khi được định hướng, được giáo dục ngay từ giai đoạn này
Thực tế đã cho thấy, những kết quả đạt được trong công tác giáo dục phápluật, nói riêng và giáo dục toàn diện nói chung ở bậc học phổ thông ở nước tahiện nay đang có những bước đi đúng hướng, đã giáo dục được những thế hệhọc sinh trở nên chăm ngoan, lễ phép, sống có ước mơ, lý tưởng và hoài bão có
ý chí vượt khó vươn lên trong học tập, rèn luyện để trở thành những người conngoan, trò giỏi, sống có ích cho cộng đồng và xã hội Tuy nhiên, trong nhữngnăm gần đây, hiện tượng học sinh THPT vi phạm pháp luật là một trong nhữnghiện tượng được dư luận xã hội quan tâm bởi tính chất nghiêm trọng của hiệntượng cũng như mức độ nguy hại của hiện tượng đối với bản thân các em, giađình và xã hội Một bộ phận học sinh cá biệt hiện nay có thể đã phần nào mấtlòng tin ở cuộc sống, các em không còn tin tưởng, hi vọng từ sự giúp đỡ của giađình, thầy cô và những người lớn khác, mà chỉ tìm thấy niềm vui, sự hòa hợp ởnhững người bạn chỉ biết rủ rê các em vào các tụ điểm vui chơi thác loạn Đây làmột vấn đề rất nhạy cảm mà có lẽ chúng ta phải thừa nhận để có thể sớm tìmđược những con đường, những giải pháp giúp cho nhóm học sinh đặc thù nàythoát khỏi những trạng thái tinh thần, tình cảm tiêu cực đã bắt đầu xảy ra đối vớihọ Kinh tế thị trường với những mặt tiêu cực của nó hiện nay đang có những tácđộng mạnh mẽ vào thế hệ trẻ Xã hội nhìn nhận đánh giá giá trị của con người
Trang 27cũng khác trước Trong điều kiện đó, khi học sinh rơi vào trạng thái tinh thần,tình cảm tiêu cực nếu không có định hướng đúng, họ sẽ rất dễ có những hành vi
vi phạm pháp luật
Qua tìm hiểu, trao đổi với những học sinh thuộc diện “cá biệt” thời gianqua chúng tôi được biết, sự tác động lớn từ đời sống gia đình là nguyên nhânchính dẫn đến những hành vi vi phạm của các em như: bản thân không tìm thấyniềm vui trong cuộc sống, điều kiện kinh tế gia đình khó khăn, tình trạng hônnhân của cha mẹ có vấn đề và các em tham gia lao động nặng nhọc để kiếmsống cùng với gia đình khi còn rất nhỏ đã tác động không nhỏ đến đời sống tâmsinh lý Nhưng cũng có nhiều em sinh ra và lớn lên trong một gia đình trí thức,kinh tế khá giả nhưng sự gắn kết, chăm sóc lẫn nhau giữa các thành viên tronggia đình không được tốt Hai hoàn cảnh sống trái ngược này thường "quy định"những mảng hành vi vi phạm khác nhau
Vì thế, trong giai đoạn phát triển này, học sinh cần được trang bị những
kỹ năng sống, được giáo dục những quy định của pháp luật có liên quan mộtcách phù hợp để giúp các em xây dựng được các mối quan hệ tốt với bạn bè; tựtin giải quyết các mẫu thuẫn, biết cách cùng hợp tác với người khác trong nhóm,hình thành lòng tự trọng cũng như biết kiềm chế sức ép từ bạn bè cùng lứa vàngười lớn khác để không tham gia vào những hành vi nguy cơ có hại cho sứckhỏe và sự an toàn cho chính bản thân và gia đình Các em cần được tiếp cận vớicác hệ thống hỗ trợ (tư vấn) cũng như cơ hội để phát triển những mối quan hệgần gũi, gắn bó với gia đình, nhà trường, bạn bè và cộng đồng Sự hỗ trợ này sẽtạo ra một môi trường an toàn trong đó các em vừa được bảo vệ, vừa có khảnăng chủ động và độc lập Đây là một lĩnh vực cần được quan tâm nhưng phảikiên trì, mềm dẻo, linh hoạt, uốn nắn với những hình thức, phương pháp phùhợp, đa dạng để tạo dựng niềm tin, thái độ có trách nhiệm của các em với cuộcsống Chúng ta phải đặc biệt coi trọng giáo dục pháp luật trong nhà trường, đưaGDPL vào chương trình học tập, sinh hoạt, vui chơi, giáo dục ý thức pháp luật
Trang 28cho học sinh ngay từ giai đoạn này sẽ có tác động lớn trong việc định hướng,phát triển hình thành tư cách công dân, góp phần điều chỉnh hành vi, nâng caonhận thức, xây dựng nhân cách, xây dựng tính hướng thiện, đảm bảo tính liêntục trong nhận thức, hình thành trong các em hành vi, thói quen tự giác xử sựđúng pháp luật, và có ý thức tuân thủ pháp luật Nếu sự quan tâm, giáo dục, giúp
đỡ không phù hợp, trong giáo dục giáo viên cứ thuyết giảng một chiều, đưanhững tri thức pháp luật khô khan, với những hình thức, phương pháp xơ cứngthì sẽ gây nên những strees nặng nề, làm mất niềm tin của các em với pháp luật,coi pháp luật là những trói buộc đối với cuộc sống Học sinh dễ nảy sinh một sốhành vi như chống đối, nói dối, đối phó, thiếu tự tin, hay sợ hãi Hành vi bỏnhà đi, tự tử của một số học sinh THPT gần đây cho thấy, những đau khổ, bế tắctrong học tập, cuộc sống mà các em gặp phải chưa được giải tỏa, thiếu sự giúp
đỡ, tư vấn, giáo dục từ thầy cô và gia đình
1.2.2 Mục đích, vai trò và ý nghĩa của giáo dục pháp luật cho học sinh
1.2.2.1 Mục đích của việc giáo dục pháp luật cho học sinh
Công tác dạy học, GDPL cho học sinh THPT có vị trí vô cùng quan trọngtrong quá trình xây dựng đội ngũ những người lao động phục vụ sự nghiệpCNH, HĐH, xây dựng Nhà nước xã hội chủ nghĩa hiện nay Là một bộ phận củacông tác giáo dục chính trị, tư tưởng, là trách nhiệm của toàn bộ hệ thống chínhtrị, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam Trong đó, nhà trường đóngvai trò chủ đạo; là khâu then chốt, quan trọng để chủ trương, chính sách củaĐảng, pháp luật của nhà nước thực sự đi vào cuộc sống xã hội, đi vào ý thức,hành động của từng học sinh - chủ thể trong xã hội.
GDPL là cầu nối để chuyển tải pháp luật vào cuộc sống Nói cách khác,quá trình đưa pháp luật vào cuộc sống được bắt đầu bằng hoạt động GDPL chohọc sinh Thực hiện pháp luật dù bằng hình thức nào - tuân thủ, thi hành phápluật, sử dụng (vận dụng) pháp luật hay áp dụng pháp luật Đó là mục tiêu, làbiểu hiện đầu tiên của hiệu quả pháp luật ở nước ta Thể hiện:
Trang 29Trước hết, mục tiêu của GDPL là làm cho học sinh có có hiểu biết pháp
luật Nếu không nhận thức đầy đủ vị trí quan trọng và không thực hiện tốt côngtác GDPL thì dù công tác xây dựng pháp luật có làm tốt đến mấy cũng khôngđạt được hiệu quả thực thi pháp luật Pháp luật của Nhà nước không phải khinào cũng được mọi người trong xã hội biết đến, tìm hiểu, đồng tình ủng hộ vàthực hiện nghiêm chỉnh, đặc biệt là lứa tuổi học sinh THPT khi sự hiểu biết củacác em về bản chất, vai trò, vị trí và các quy định của pháp luật đối với đời sốngcòn rất hạn chế Tuy rằng bản chất pháp luật của Nhà nước ta là tốt đẹp, nó phảnánh ý chí, nguyện vọng, mong muốn của đông đảo quần chúng nhân dân trong
xã hội Tuy nhiên, dù những quy định pháp luật có tốt đẹp nhưng không được
HS - người công dân tương lai biết đến, và thực hiện với ý thức, thái độ tự giácthì rất khó đưa pháp luật đi vào cuộc sống
GDPL chính là phương tiện truyền tải những thông tin, những yêu cầu,nội dung và các quy định pháp luật đến với HS, giúp cho HS hiểu biết, nắm bắtpháp luật kịp thời mà không mất quá nhiều thời gian, công sức cho việc tự tìmhiểu, tự học tập Đó chính là phương tiện hỗ trợ tích cực để nâng cao hiểu biếtpháp luật cho HS
Thứ hai, GDPL nhằm hình thành lòng tin vào pháp luật cho học sinh
Pháp luật chỉ có thể được HS thực hiện nghiêm chỉnh khi các em tintưởng vào những quy định của pháp luật Pháp luật được xây dựng là để bảo vệquyền và lợi ích của nhân dân, trong đó có học sinh, đảm bảo lợi ích chung củacộng đồng, đảm bảo công bằng và dân chủ xã hội Khi nào HS nhận thức đầy đủđược như vậy thì pháp luật không cần một biện pháp cưỡng chế nào mà HS vẫn
tự giác thực hiện
Để tạo lập niềm tin vào pháp luật cho HS đòi hỏi sự kết hợp của nhiều yếu
tố Một trong các yếu tố đóng vai trò quan trọng là GDPL để HS hiểu biết vềpháp luật, hiểu biết về quá trình thực hiện và áp dụng pháp luật Pháp luật cũng
Trang 30như mọi hiện tượng khác trong xã hội bao giờ cũng có hai mặt, không phải lúcnào nó cũng thoả mãn hết, phản ánh được đầy đủ nguyện vọng, mong muốn củatất cả mọi người trong xã hội Quá trình điều chỉnh pháp luật sẽ lấy lợi ích củađông đảo nhân dân trong xã hội làm tiêu chí, thước đo, do đó sẽ có một số ítkhông thoả mãn được Ví dụ, một bộ phận học sinh có biểu hiện yêu sớm, muốnsống thử hoặc rất nhiều học sinh có nhu cầu đi xe máy có phân khối lớn đếntrường nhưng vì các quy định pháp luật cấm điều này Chính các yếu tố hạn chếcủa các quy định pháp luật càng tạo nên sự cần thiết của công tác GDPL để HShiểu đúng pháp luật, đồng tình ủng hộ pháp luật Có như vậy mới hình thànhlòng tin vào pháp luật ở đông đảo HS.
Thứ ba, GDPL góp phần cao ý thức tự giác chấp hành pháp luật của
Ý thức tự giác chấp hành pháp luật của HS chỉ có thể được nâng cao khicông tác GDPL cho HS được tiến hành thường xuyên, kịp thời và có hình thức,phương pháp thích hợp GDPL không đơn thuần là phổ biến các văn bản phápluật đang có hiệu lực mà còn lên án các hành vi vi phạm pháp luật, đồng tìnhủng hộ các hành vi thực hiện đúng pháp luật, hình thành dư luận và tâm lý đồngtình ủng hộ với hành vi hợp pháp, lên án các hành vi vi phạm pháp luật
GDPL nhằm hình thành, củng cố tình cảm tốt đẹp của con người với phápluật, đồng thời ngày càng nâng cao sự hiểu biết của HS đối với các văn bản pháp
Trang 31luật và các hiện tượng pháp luật trong đời sống, từ đó nâng cao ý thức tự giácchấp hành pháp luật của HS.
Thứ tư, GDPL góp phần nâng cao hiệu lực và hiệu quả quản lý nhà
trường, quản lý xã hội
Vai trò quan trọng này của công tác GDPL bắt nguồn từ chính vai trò vàgiá trị xã hội của pháp luật là phương tiện hàng đầu để Nhà nước thực hiện quản
lý xã hội, trong đó có quản lý của các nhà trường, quản lý của giáo viên đối vớihọc sinh GDPL giúp cho HS có tri thức pháp lý, tình cảm pháp luật đúng đắn vàhành vi hợp pháp mà cụ thể ở đây là các em bắt đầu tiếp cận và thực hiện nhữngquy định của nhà trường về việc chấp hành giờ giấc học tập, rèn luyện; chấphành những quy định về trang phục, về quy tắc ứng xử trong nhà trường, tôntrọng bạn bè, lễ phép với thầy cô, gương mẫu đi đầu trong học tập và lao động
đó là những phẩm chất quan trọng tạo tiền đề cho việc quản lý hiệu quả của nhàtrường đối với học sinh, phát huy dân chủ và quyền tự do của mỗi người, xâydựng “trường học thân thiện, học sinh tích cực” theo tinh thần phong trào thi đua
do Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo phát động từ những năm học trước
GDPL đồng thời tạo ra khả năng đổi mới nội dung, phương pháp dạy học,phát hiện và từng bước hạn chế những hiện tượng tiêu cực, tư tưởng chống đốipháp luật diễn ra trong quá trình quản lý, giáo dục học sinh
1.2.2.2 Vai trò, ý nghĩa của giáo dục pháp luật cho học sinh trung học phổ thông
Trong sự phát triển của xã hội ngày nay, vấn đề giáo dục nhân cách, lốisống tuân thủ pháp luật, thực hiện đúng các chủ trương, đường lối, chính sáchcủa Đảng và Nhà nước đối với học sinh phổ thông là vấn đề có ý nghĩa hết sứcquan trọng Nhiều học sinh đã không biết đến vai trò của pháp luật trong đờisống xã hội, coi pháp luật chỉ là những văn bản trong đó chứa đựng những điềucấm có tính chất hình thức, không có sự liên quan ảnh hướng đến cuộc sống vàhành vi của các em
Trang 32Thực tế cho thấy, pháp luật góp phần bảo vệ các giá trị chân chính, liênquan đến hành vi đến lợi ích của con người và xã hội Pháp luật tham gia điềuchỉnh quan hệ xã hội bằng những quy phạm, điều khoản quy định các quyền vànghĩa vụ của chủ thể Các quy phạm pháp luật quy định chi tiết các hành vi đượcphép và hành vi bị cấm đoán Đồng thời, còn xác định cụ thể cách cư xử lẫnnhững hình phạt sẽ áp dụng nếu chủ thể vi phạm Ngoài ra, pháp luật còn thựchiện điều chỉnh mối quan hệ giữa con người và xã hội bằng sự bắt buộc, cưỡngchế từ bên ngoài Do vậy, có thể nói pháp luật không những là công cụ để quản
lý Nhà nước, mà còn là môi trường thuận lợi cho sự hình thành và phát triển ýthức đạo đức, lối sống của con người Tính nhất quán trong giáo dục pháp luật làtác động đến học sinh, thông qua việc hình thành lòng tin đối với sự cần thiếttuân theo những nguyên tắc cơ bản những giá trị xã hội của pháp luật; tác độngvào lòng tin đối với những quy phạm đơn giản trong đời sống thực tế hàng ngàyhướng đến hoàn thiện trong mối quan hệ lẫn nhau giữa con người
Giáo dục pháp luật là một quá trình phức tạp của một chuỗi những tác độngbên ngoài lên cấu trúc tâm lý của các em nhằm định hướng đến hình thành mụcđích, sự định hướng giá trị, những nét đặc trưng về phẩm chất, ý chí, năng lực,tính cách của con người Do vậy, giáo dục pháp luật đảm bảo sự điều chỉnh từ bênngoài đối với hành vi của con người Bởi vì lòng tin sẽ chuyển thành mục đích,định hướng giá trị và thành hành động Như vậy, cái đích cuối cùng của công tácgiáo dục pháp luật cho học sinh được thể hiện cuối cùng ở hành vi hợp pháp
Nhận thức sâu sắc vai trò của giáo dục pháp luật có ý nghĩa trực tiếp tolớn đến việc tăng cường giáo dục pháp luật cho học sinh, sẽ giúp chúng ta cóđược những định hướng đúng đắn khi lập kế hoạch, tổ chức thực hiện dạy họcpháp luật, định hướng hành vi lành mạnh, phù hợp cho học sinh trong nhàtrường phổ thông hiện nay
Thực tiễn đã chỉ ra rằng, xã hội càng phát triển giáo dục pháp luật càngphải được coi trọng, không thể thay thế giáo dục pháp luật, bằng một nội dung
Trang 33giáo dục khác với hi vọng con người sẽ tin tưởng và chấp hành tuyệt đối, điềucần phải làm hiện nay là đổi mới nội dung, phương pháp, hình thức giáo dục saocho hiệu quả nhất, phù hợp nhất để giáo dục nhân cách của con người Việt Nam.
Xu hướng những kẻ phạm tội ở tuổi vị thành niên ngày càng nhiều làm dấylên những lo lắng, quan ngại trong dư luận xã hội Có thể nhận thấy, ngoàinhững nhân tố như: hoàn cảnh, môi trường sống, phương pháp giáo dục của giađình, một trong những nguyên nhân quan trọng dẫn tới tình trạng trên là nhữngkhoảng trống chưa được khỏa lấp trong công tác giáo dục pháp luật cho họcsinh Chính những nhận thức, hiểu biết về pháp luật còn hạn chế, mơ hồ đã dẫnđến ý thức chấp hành pháp luật chưa tốt, thậm chí là có những hành vi coithường pháp luật Chỉ đến khi bị các cơ quan chức năng phát hiện, xử lý thì mọi
sự đã muộn, những hậu quả đáng tiếc đã xảy ra
Vì vậy, việc giáo dục pháp luật cho học sinh trung học phổ thông (THPT)
có vai trò đó là: Góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý Nhà nước, quản
lý xã hội; góp phần nâng cao ý thức pháp luật, văn hóa pháp lý cho học sinh,nâng cao trách nhiệm thi hành pháp luật, giảm các tệ nạn xã hội; xây dựng cácquan hệ xã hội hài hòa trên tinh thần tôn trọng đề cao pháp luật Mục đích củagiáo dục pháp luật là nhằm hình thành, làm sâu sắc mở rộng hệ thống tri thứcpháp luật cho học sinh; hình thành, bồi dưỡng niềm tin pháp luật cho học sinh;giáo dục ý thức nhân cách, rèn luyện thói quen, hành vi tuân thủ pháp luật
Từ sự phân tích trên đây cho thấy, đặc điểm của giáo dục pháp luật chohọc sinh THPT là một quá trình phức hợp nhiều yếu tố từ việc xác định vai trò
vị trí của giáo dục pháp luật đối với công dân tương lai đến việc xác định nộidung kiến thức, tính liên tục, liên thông và đồng tâm của các ngành luật và đặcđiểm tâm sinh lý cho học sinh đối với quá trình nhận thức Điểm hạn chế hiệnnay là chương trình hiện hành chú trọng quá nhiều vào bản chất, vào quyền vànghĩa vụ của một công dân tương lai, trong khi mục tiêu, nội dung, hình thức
Trang 34giáo dục pháp luật mà Đảng, Nhà nước ta chú trọng là nghững ngành luật gầngũi, liên quan đến đời sống hằng ngày của các em.
1.2.3 Chủ trương của Đảng và Nhà nước về công tác giáo dục pháp luật cho học sinh trong giai đoạn hiện nay
- Kết luận số 04-KL/TW ngày 19/4/2011 của Ban Bí thư Trung ương
Đảng (khóa XI) về thực hiện Chỉ thị số 32-CT/TW của Ban Bí thư Trung ươngĐảng về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong công tác phổ biến, giáo dụcpháp luật, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ, nhân dân đã xácđịnh: “ Hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật không ngừng được đổi mới,nội dung đã bám sát và phục vụ kịp thời việc triển khai thực hiện các nhiệm vụchính trị của Đảng, Nhà nước, phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ cụ thể của mỗi
bộ, ngành, địa phương; từng bước khắc phục được tính hình thức ” Tuynhiên, “ giáo dục pháp luật trong nhà trường chưa gắn nhiều với thực tiễn đờisống xã hội Chương trình, giáo trình, sách giáo khoa dạy và học pháp luậtchưa thực sự phù hợp Đội ngũ giảng viên, giáo viên dạy pháp luật, giáo dụccông dân còn thiếu về số lượng, chưa được đào tào chuẩn về kiến thức phápluật Kinh phí phục vụ công tác phổ biến, giáo dục pháp luật chưa được quantâm đầu tư hợp lý ” [2; 4]
Phương hướng nhiệm vụ trong thời gian tới là: “…Tiếp tục đổi mớichương trình, giáo trình, sách giáo khoa giảng dạy về pháp luật; tăng cường đàotạo, bồi dưỡng, từng bước chuẩn hoá đội ngũ giáo viên, cán bộ giảng dạy phápluật, giáo dục công dân trong tất cả các cấp học và trình độ đào tạo, đáp ứng cácnhu cầu dạy và học tập kiến thức pháp luật trong tất cả các trường trên phạm vi cảnước; đổi mới, nâng cao chất lượng giáo dục - đào tạo pháp luật cho học sinh,sinh viên trong các trường phổ thông, trung học chuyên nghiệp, cao đẳng, đại họcvới nội dung, hình thức phù hợp với từng nhóm đối tượng” [2; 7]
- Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật ngày 20 tháng 6 năm 2012 của Quốc
hội khóa XIII quy định:
Trang 35Điều 3: “…Giáo dục pháp luật trong các cơ sở giáo dục của hệ thống giáodục quốc dân được lồng ghép trong chương trình giáo dục của các cấp học vàtrình độ đào tạo; là một nội dung trong chương trình giáo dục trung học cơ sở,trung học phổ thông, giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học” [36; 4].
“Nội dung giáo dục pháp luật trong các cơ sở giáo dục của hệ thống giáodục quốc dân được xây dựng phù hợp với từng cấp học và trình độ đào tạo, phùhợp với mục tiêu giáo dục, ngành nghề đào tạo, bảo đảm tính thống nhất, đồng
bộ, phổ thông, cơ bản, thiết thực và có hệ thống Nội dung giáo dục pháp luậttrong chương trình giáo dục trung học cơ sở, trung học phổ thông trang bị kiếnthức ban đầu về quyền, nghĩa vụ của công dân, rèn luyện thói quen, ý thức tôntrọng và chấp hành pháp luật” (Điều 23) [36; 11];
Quyết định của Bộ trưởng Bộ GD-ĐT ngày 07 tháng 3 năm 2014 về việc ban
hành kế hoạch công tác phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2014 của ngành giáo dụcxác định nhiệm vụ của công tác phổ biến giáo dục pháp luật năm 2014 là:
Nhiệm vụ chung
“1 Phổ biến kịp thời, thường xuyên các quy định pháp luật mới về giáodục và các quy định pháp luật phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của từng đốitượng cán bộ, nhà giáo, người học, người lao động thuộc phạm vi quản lý của đơn
vị Tập trung triển khai việc tuyên truyền, phổ biến Hiến pháp, Nghị quyết29-NQ/TW; Luật phổ biến, giáo dục pháp luật, Luật Giáo dục đại học, Chiến lượcphát triển giáo dục giai đoạn 2011 - 2020 và các văn bản hướng dẫn
2 Đa dạng hóa các hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật; tăng cườngứng dụng công nghệ thông tin và các hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật mớitrong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật
3 Tăng cường sự phối hợp giữa ngành giáo dục, ngành tư pháp và các cơquan, tổ chức liên quan trong việc triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật”
Nhiệm vụ của các sở Giáo dục và Đào tạo
Trang 36“a) Tuyên truyền, phổ biến Hiến pháp, Nghị quyết 29-NQ/TW tới cán bộ,công chức, viên chức, nhà giáo, người học;
b) Tiếp tục triển khai Kế hoạch thực hiện Đề án 1928 giai đoạn 2013
-2016 ban hành kèm theo Quyết định số 1141/QĐ-BĐHĐA của Trưởng ban Điềuhành Đề án 1928;
c) Chỉ đạo, hướng dẫn các phòng giáo dục và đào tạo, các cơ sở giáo dụctrực thuộc tổ chức triển khai Quyết định số 1141/QĐ-BĐHĐA; tổ chức phổ biếnkịp thời, thường xuyên các quy định pháp luật mới về giáo dục và các quy địnhpháp luật phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của từng đối tượng thuộc phạm viquản lý của đơn vị;
d) Tiếp tục rà soát, bổ sung đội ngũ giáo viên môn Pháp luật, môn Giáodục công dân Phối hợp với ngành tư pháp tổ chức tập huấn, bồi dưỡng kiếnthức pháp luật, kỹ năng phổ biến, giáo dục pháp luật cho đội ngũ giáo viên mônPháp luật, môn Giáo dục công dân, báo cáo viên và cán bộ phụ trách công tácphổ biến, giáo dục pháp luật Tiếp tục bổ sung, nâng cao chất lượng tủ sách phápluật và các phương tiện, thiết bị, tài liệu, học liệu hỗ trợ công tác phổ biến, giáodục pháp luật Chỉ đạo xây dựng trang thông tin phổ biến, giáo dục pháp luậttrên website của các cơ sở giáo dục;
đ) Tổ chức hội thi học sinh giỏi, giáo viên dạy giỏi môn giáo dục côngdân Tăng cường chỉ đạo điểm về công tác phổ biến, giáo dục pháp luật Chỉ đạotriển khai Chương trình phổ biến, giáo dục ngoại khóa do Bộ Giáo dục và Đàotạo ban hành Chỉ đạo đổi mới phương pháp nhằm nâng cao chất lượng giảngdạy kiến thức pháp luật trong chương trình chính khóa; tăng cường nội dung phổbiến, giáo dục pháp luật trong các chương trình ngoại khóa và các hoạt độngngoài giờ lên lớp Tổ chức thực hiện “Ngày pháp luật” và các cuộc thi tìm hiểupháp luật;
Trang 37e) Phát động phong trào viết sáng kiến kinh nghiệm, làm đồ dùng dạyhọc; sưu tầm hình ảnh, tư liệu phục vụ công tác phổ biến, giáo dục pháp luậttrong chương trình chính khóa và ngoại khóa” [8; 6]
Từ quan điểm trên chúng ta thấy Đảng, Nhà nước ta hết sức coi trọng
công tác tuyên truyền, phổ biến và giáo dục pháp luật cho thanh niên, học sinh,coi đó là nhiệm vụ trọng tâm trong việc bồi dưỡng, giáo dục người công dântương lai đáp ứng mục tiêu, yêu cầu của thời kỳ đẩy mạnh sự nghiệp, côngnghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng các mối quan hệ xã hội hài hòa,thân thiện và phát triển bền vững
1.3 Đặc điểm của giáo dục pháp luật cho học sinh trung học phổ thông
1.3.1 Nội dung giáo dục pháp luật cho học sinh trung học phổ thông
1.3.1.1 Đặc điểm nội dung, chương trình giáo dục pháp luật thông qua môn Giáo dục công dân ở trường Trung học phổ thông
Về cấu trúc chương trình:
Cấu trúc chương trình, nội dung, mục tiêu giáo dục pháp luật cho học
sinh THPT được thực hiện ở môn GDCD lớp 12 và cấu trúc thành 2 phần lớn:
+ Phần I: Bản chất và vai trò của pháp luật đối với sự phát triển của côngdân, đất nước và nhân loại (ở các bài 1, 2, 8, 9, 10)
+ Phần II: Quyền và nghĩa vụ của công dân trong các lĩnh vực đời sống(bài 3, 4, 5, 6, 7)
Chương trình được thực hiện với thời lượng như sau: Cả năm: 37 tuần(35 tiết)
Học kỳ I: 19 tuần (18 tiết) Dạy từ bài 1 đến hết bài 9, kiểm tra 1 tiết: 1bài và kiểm tra học kỳ 1: 1 bài
Học kỳ II: 18 tuần (17 tiết) Dạy từ bài 10 đến hết bài 16, kiểm tra 1 tiết: 1bài và kiểm tra học kỳ II: 1 bài
Nội dung chương trình giáo dục pháp luật lớp 12 cụ thể như sau:
Trang 38Phần 1 Bản chất và vai trò của pháp luật đối với sự phát triển công dân,đất nước và nhân loại.
Nội dung chương trình được sắp xếp thành 6 bài và phân phối với thờilượng như sau:
Bảng 1.1 Bản chất và vai trò của pháp luật và các quyền cơ bản của công
dân
4 Quyền bình đẳng của công dân trong một số lĩnh vực
của đời sống
3
Bảng 1.2 Quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân trong các lĩnh vực đời sống
9 Pháp luật với sự phát triển bền vững của đất nước 4
10 Pháp luật với hòa bình và sự phát triển tiến bộ của nhân loại 2
Trang 39- Nhận thức được vai trò của pháp luật đối với sự tồn tại và phát triển củamỗi cá nhân, Nhà nước và xã hội
- Nắm được một số nội dung cơ bản của pháp luật có liên quan đến việc thựchiện và bảo vệ quyền bình đẳng, tự do, dân chủ và phát triển của công dân
1.3.1.2 Đặc điểm nội dung, chương trình giáo dục pháp luật được lồng ghép, tích hợp vào các hoạt động ngoài giờ lên lớp và thông qua các môn học khác
Điều 10 Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật quy định nội dung phổ biến,
giáo dục pháp luật gồm:
“1 Quy định của Hiến pháp và văn bản quy phạm pháp luật, trọng tâm làcác quy định của pháp luật về dân sự, hình sự, hành chính, hôn nhân và gia đình,bình đẳng giới, đất đai, xây dựng, bảo vệ môi trường, lao động, giáo dục, y tế,quốc phòng, an ninh, giao thông, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân
2 Các điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam làthành viên, các thỏa thuận quốc tế
Trang 403 Ý thức tôn trọng và chấp hành pháp luật; ý thức bảo vệ pháp luật; lợiích của việc chấp hành pháp luật; gương người tốt, việc tốt trong thực hiện phápluật” [35; 16]
Song song với việc đưa nội dung kiến thức pháp luật vào chương trìnhgiáo dục chính khóa thông qua môn GDCD, hoạt động GDPL cho học sinhthông qua các buổi sinh hoạt ngoại khóa, sinh hoạt đoàn thể, hoạt động ngoàigiờ lên lớp thường xuyên được triển khai trong các trường học
Phải khẳng định việc GDPL thông qua các hoạt động giáo dục ngoại khóangoài giờ lên lớp là một trong những giải pháp hữu hiệu trong điều kiện đưa cácnội dung giáo dục pháp luật vào chương trình giáo dục chính khóa gặp nhiềukhó khăn do việc phải bảo đảm chương trình, thời lượng học tập của học sinh,tránh hiện tượng lồng ghép quá nhiều kiến thức vào môn GDCD, gây quá tải chohọc sinh Thông qua hoạt động giáo dục ngoại khóa, ngoài giờ lên lớp học sinh
sẽ được tiếp thu kiến thức pháp luật một cách tự nhiên, sinh động với nhiều hìnhthức phù hợp, hấp dẫn tạo nên sân chơi lành mạnh thu hút được nhiều học sinhtham gia Các nội dung pháp luật được giáo dục trong trong trường học thườnggắn với giáo dục đạo đức, lối sống, giáo dục nhân cách học sinh, tập trung vàocác lĩnh vực như: giáo dục về quyền trẻ em, bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻem; bảo vệ môi trường; chấp hành luật giao thông; phòng chống ma túy, tộiphạm và các tệ nạn xã hội trong học đường, phòng chống HIV/AIDS; luật nghĩavụ quân sự, giáo dục giới tính và kỹ năng sống, bình đẳng giới, phòng chốngbạo lực gia đình
Bằng nhiều hình thức đa dạng, phong phú, phù hợp với tâm lý, lứa tuổi vànhận thức của người học như: lồng ghép các nội dung pháp luật vào các hoạtđộng như sinh hoạt dưới cờ, sinh hoạt lớp, sinh hoạt đoàn, hội theo chủ đề phápluật, “tuần sinh hoạt công dân học sinh”; xây dựng và tổ chức các câu lạc bộ tuổitrẻ với pháp luật, nghe nói chuyên về pháp luật (tình hình vi phạm trật tự an toàngiao thông địa phương, tình hình an ninh, trật tự an toàn xã hội ); tổ chức tham