Cơ sở thực tiễn của việc giáo dục kỹ năng sống cho học sinh thông qua dạy học môn Giáo dục công dân ở các trường Trung học phổ thông trên địa bàn huyện Đức Thọ, Tỉnh Hà Tĩnh...37 Kết luậ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
Trang 2NGHỆ AN - 2014
Trang 3BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS PHẠM THỊ BÌNH
Trang 4NGHỆ AN - 2014
Trang 5LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập và hoàn thiện luận văn tốt nghiệp tôi xin đượcbày tỏ lời cảm ơn chân thành nhất tới Hội đồng khoa học, Khoa Giáo dụcChính trị, phòng Đào tạo sau đại học Trường Đại học Vinh cùng các thầy cô đãtrực tiếp giảng dạy, giúp đỡ tôi hoàn thành tốt khóa học của mình Qua đâycũng xin được gửi lời cảm ơn sâu sắc tới Ban giám hiệu trường THPT TrầnPhú, Ban giám hiệu trường THPT Minh Khai, Ban giám hiệu trường THPTĐức Thọ, các thầy cô trong trường, gia đình, người thân, bạn bè đã giúp đỡ,động viên, cung cấp thông tin, tạo mọi điều kiện để tôi có thể hoàn thành tốtluận văn tốt nghiệp này
Đặc biệt tôi bày tỏ lòng biết ơn chân thành, sâu sắc nhất tới cô giáo TS.Phạm Thị Bình, người trực tiếp hướng dẫn, dìu dắt, chỉ bảo tận tình cho tôitrong suốt quá trình học tập cũng như trong quá trình hình thành và hoàn chỉnhluận văn
Mặc dù đã cố gắng trong suốt quá trình thực hiện nhưng chắc chắn luậnvăn sẽ còn nhiều thiếu sót, rất mong được sự góp ý, chỉ bảo của quý thầy cô vàbạn bè để tôi có thể hoàn thiện luận văn đầy đủ hơn
Xin chân thành cảm ơn!
Nghệ An, tháng 10 năm 2014
Tác giả
Phạm Thị Hồng Vân
Trang 6MỤC LỤC
Trang
A MỞ ĐẦU 6
B NỘI DUNG 14
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH THÔNG QUA DẠY HỌC MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 14
1.1 Cơ sở lý luận của việc giáo dục kỹ năng sống cho học sinh Trung học phổ thông thông qua dạy học môn Giáo dục công dân 14
1.2 Cơ sở thực tiễn của việc giáo dục kỹ năng sống cho học sinh thông qua dạy học môn Giáo dục công dân ở các trường Trung học phổ thông trên địa bàn huyện Đức Thọ, Tỉnh Hà Tĩnh 37
Kết luận chương 1 47
Chương 2 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH THÔNG QUA DẠY HỌC MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN ĐỨC THỌ, TỈNH HÀ TĨNH 48
2.1 Kế hoạch thực nghiệm 48
2.2 Quá trình thực nghiệm 49
2.3 Kiểm tra, đánh giá sau thực nghiệm 68
Kết luận chương 2 76
Chương 3 QUY TRÌNH VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH THÔNG QUA DẠY HỌC MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN ĐỨC THỌ, TỈNH HÀ TĨNH 77
3.1 Quy trình giáo dục kỹ năng sống trong môn Giáo dục công dân tại các trường Trung học phổ thông ở huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh 77
3.2 Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục kỹ năng sống cho học sinh thông qua dạy học môn Giáo dục công dân ở các trường Trung học phổ thông trên địa bàn huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh 85
Kết luận chương 3 99
C KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 100
D DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 103
E PHỤ LỤC
Trang 7UNICEF : The United Nations Children’s Fund
WHO : World Health Organization
XHCN : Xã hội chủ nghĩa
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Trang
Bảng 1.1 Nhận thức của học sinh về môn GDCD 44
Bảng 2.1 Thống kê kết quả điểm bài kiểm tra số 1 69
Bảng 2.2 Thống kê kết quả điểm bài kiểm tra số 2 69
Bảng 2.3 Thống kê kết quả điểm bài kiểm tra số 3 69
Bảng 2.4 Phân phối tần suất điểm qua 3 lần kiểm tra 70
Bảng 2.5 Tổng hợp kết quả trưng cầu ý kiến của học sinh sau thực nghiệm 72
Trang 9A MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Thành tựu của công cuộc đổi mới đã giúp cho nước ta có điều kiện đểnâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân lực, đào tạo nhân tài phục vụ cho sự nghiệpphát triển đất nước Xu thế đó đã mở ra những điều kiện thuận lợi mới và ngàycàng tạo ra nhiều cơ hội hơn cho thế hệ trẻ nước ta Chính vì vậy, phần lớn thế
hệ trẻ ngày nay đã xác định được ước mơ, hoài bão, sống có lý tưởng, tích cựchọc tập, rèn luyện, từng bước khẳng định giá trị để thăng tiến về vị thế, vai tròcủa mình trong xã hội Nhiều người trong số đó trở thành những tấm gươngthanh niên - học sinh vượt khó học giỏi, hiếu thảo với ông bà, cha mẹ, hòa nhãvới bạn bè, những tấm gương thanh niên - học sinh “sống đẹp, sống có ích” Song bên cạnh đó, vẫn còn một bộ phận không nhỏ thanh niên, học sinh sốngthiếu lý tưởng, thiếu niềm tin vào cuộc sống Trong thực tế đã xuất hiện những
vụ án giết người, cố ý gây thương tích mà đối tượng gây án là học sinh và nạnnhân không ai khác lại chính là bạn học, thầy cô, người thân của họ Nhiều emhọc giỏi, điểm số cao nhưng khả năng giao tiếp và tự chủ kém, khi gặp phảivướng mắc trong cuộc sống các em không biết cách chia sẻ với người khác dẫnđến bi quan, chán nản, thậm chí tự sát để giải thoát cho mình… Có nhiềunguyên nhân dẫn đến tình trạng trên, nhưng theo các chuyên gia giáo dục,nguyên nhân sâu xa là do các em còn thiếu kỹ năng sống (KNS) cần thiết để cóthể tự bảo vệ mình trước những cám dỗ và thử thách của cuộc sống
Từ thực trạng trên, cùng với các cuộc vận động “Nói không với tiêu cực
trong thi cử và bệnh thành tích trong giáo dục” và “Mỗi thầy, cô giáo là một tấm gương đạo đức tự học và sáng tạo” để tiếp tục tăng cường và nâng cao hiệu quả
giáo dục toàn diện cho học sinh, Bộ Giáo dục và Đào tạo ra Chỉ thị về việc phát
động phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”
trong các trường phổ thông giai đoạn 2008 - 2013 Đặc biệt, trong Chỉ thị có đề
cập đến nội dung “Rèn luyện kỹ năng sống cho học sinh”.
Trang 10Từ năm học 2008 - 2009, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã đưa nội dung giáodục KNS vào giảng dạy và từ năm 2011 Bộ Giáo dục và Đào tạo thực hiện giáodục KNS cho học sinh ở trường Trung học phổ thông (THPT) với sự hỗ trợ củacác tổ chức quốc tế, tiêu biểu là của UNICEF tại Việt Nam Giáo dục KNS chohọc sinh được thực hiện bằng việc khai thác nội dung của một số môn học chiếm
ưu thế, trong đó có môn Giáo dục công dân (GDCD)
GDCD là một môn học có tầm quan trọng trong việc giáo dục nhân cách,rèn luyện kỹ năng cho học sinh GDCD còn là môn đóng vai trò chính trong việctích hợp rất nhiều vấn đề như: giáo dục đạo đức, giáo dục giới tính, sức khỏesinh sản, kế hoạch hoá gia đình, bảo vệ môi trường, giáo dục pháp luật, giáo dục
về an toàn giao thông, một số kiến thức phổ thông về triết học, kinh tế, chính trị,
mỹ học… Những kiến thức này giúp trang bị cho học sinh thế giới quan duy vật,phương pháp luận nhận thức khoa học để các em phát triển toàn diện hơn cả vềđức, trí, thể, mỹ phục vụ cho thực tiễn cuộc sống Có thể nói, môn GDCD làmôn có nhiều kiến thức liên quan với cuộc sống hiện tại, rất thích hợp để giáodục KNS cho học sinh, nhằm đào tạo cho học sinh phát triển toàn diện phù hợpvới điều kiện mới của xã hội
Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề này, từ năm học 2008 - 2009các trường THPT trên địa bàn huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh đã thực hiện giáodục KNS cho học sinh thông qua dạy học môn GDCD và đã thu được những kếtquả thiết thực, đáng ghi nhận Tuy nhiên, việc giáo dục KNS cho học sinh còngặp rất nhiều khó khăn, bất cập vì nhiều nguyên nhân khác nhau Do đó, nghiêncứu cơ sở lý luận cũng như thực trạng để đưa ra những giải pháp nhằm nâng caochất lượng giáo dục KNS cho học sinh là một vấn đề cấp thiết và quan trọng Vì
vậy, chúng tôi chọn vấn đề “Giáo dục kỹ năng sống cho học sinh thông qua dạy học môn Giáo dục công dân ở các trường Trung học phổ thông trên địa bàn huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh” làm đề tài nghiên cứu cho luận văn Thạc sĩ.
Trang 112 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Thuật ngữ KNS được người Việt Nam bắt đầu biết đến từ chương trình
của UNICEF (1996) Giáo dục kỹ năng sống để bảo vệ sức khỏe và phòng
chống HIV/AIDS cho thanh thiếu niên trong và ngoài nhà trường Thông qua
quá trình thực hiện chương trình này, nội dung của khái niệm KNS và giáo dụcKNS ngày càng được mở rộng “Bởi lẽ những thách thức mà trẻ em và thanhniên phải đối mặt là rất nhiều và đòi hỏi là những kỹ năng đọc, viết, tính toán”(UNICEF) [26; 18]
Cùng với việc triển khai chương trình nêu trên, vấn đề KNS và giáo dụcKNS bắt đầu được quan tâm nghiên cứu Những nghiên cứu có xu hướng xácđịnh những kỹ năng cần thiết, ở những lĩnh vực hoạt động mà thanh thiếu niêntham gia nhằm đưa ra các đề xuất, tìm ra những biện pháp hình thành những kỹnăng này cho thanh thiếu niên, học sinh
Khái niệm KNS thực sự được hiểu với nội hàm đầy đủ và đa dạng sau hội
thảo Chất lượng giáo dục và kỹ năng sống do UNESCO tài trợ được tổ chức từ
ngày 23 đến ngày 25 tháng 10 năm 2003 tại Hà Nội Từ đó, những người làmcông tác giáo dục ở Việt Nam đã có những cài nhìn đầy đủ hơn về KNS và tráchnhiệm phải giáo dục KNS cho người học
Ngày 22 tháng 7 năm 2008, Bộ Giáo dục và Đào tạo ra Chỉ thị Số:
40/2008/CT-BGDĐT “Về việc phát động phong trào thi đua Xây dựng trường
học thân thiện, học sinh tích cực trong các trường phổ thông giai đoạn 2008
-2013” Nội dung của Chỉ thị có đề cập tới việc rèn luyện các KNS như: “kỹnăng ứng xử; kỹ năng làm việc, sinh hoạt theo nhóm; kỹ năng phòng, chống tainạn giao thông, đuối nước và các tai nạn thương tích khác; kỹ năng ứng xử vănhóa, chung sống hòa bình, phòng ngừa bạo lực và các tệ nạn xã hội” [8; 1-2].Văn bản chỉ đạo của Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc phát động phong trào thi
đua Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực giúp chúng ta có định
hướng rõ ràng hơn trong việc giáo dục KNS cho học sinh
Trang 12Ngày 28 tháng 7 năm 2013, Thứ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Nguyễn
Vinh Hiển ký duyệt Kế hoạch Số 1088/KH-BGDĐT về Hoàn thiện bộ tài liệu
giáo dục kỹ năng sống trong một số môn học và hoạt động giáo dục cấp tiểu học, trung học cơ sở và trung học phổ thông trên toàn quốc với mục tiêu nâng cao
chất lượng và đảm bảo tính thiết thực của bộ tài liệu theo ý kiến góp ý của các cán
bộ quản lý giáo dục các cấp và giáo viên trực tiếp giảng dạy; bổ sung nội dunghướng dẫn đánh giá kết quả giáo dục KNS và bộ công cụ đánh giá KNS theo từngmôn học và hoạt động giáo dục Với danh mục tài liệu đính kèm vừa bổ sung chogiáo viên nguồn tài liệu phong phú về KNS vừa có thể lấy ý kiến của các chuyêngia, các nhà khoa học, các giáo viên trực tiếp giảng dạy để bộ tài liệu thực sự hữuích đối với nhà trường phổ thông Kế hoạch trên căn cứ vào chỉ thị 40/2008/CT-
BGDĐT về việc phát động phong trào thi đua xây dựng trường học thân thiện,
học sinh tích cực cho thấy, vấn đề KNS và giáo dục KNS thực sự được quan tâm,
đầu tư nghiên cứu, phát triển
Năm 2010, Luận án tiến sĩ của nghiên cứu sinh Phan Thanh Vân “Giáo
dục kỹ năng sống cho học sinh trung học phổ thông thông qua hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp”, đây là một đề tài khai thác thế mạnh của hoạt động
ngoài giờ lên lớp để thực hiện giáo dục KNS cho học sinh trong nhà trường Nộidung đề tài nhằm giáo dục cho các em một cuộc sống tích cực trong xã hội hiệnđại, xây dựng hoặc thay đổi hành vi ở các em theo hướng tích cực phù hợp vớimục tiêu phát triển toàn diện nhân cách người học, dựa trên cơ sở giúp học sinh
có giá trị, thái độ và kỹ năng phù hợp
Đối với các môn học có đưa KNS vào nội dung giảng dạy thì môn GDCD
là môn có nhiều yếu tố thích hợp để giáo dục KNS cho học sinh Năm 2010, Bộ
Giáo dục và Đào tạo cho xuất bản cuốn tài liệu dành cho giáo viên về Giáo dục
kỹ năng sống trong môn Giáo dục công dân ở trường trung học phổ thông Cuốn
sách được biên soạn nhằm giúp giáo viên có thêm hiểu biết chung về KNS vànội dung, cách thức giáo dục KNS cho học sinh trong môn GDCD ở trường
Trang 13THPT, giúp giáo viên nhận thức đầy đủ về bản chất, mục tiêu, nguyên tắc giáodục KNS, nội dung của các KNS và việc lựa chọn các KNS cần giáo dục chohọc sinh Bên cạnh đó, tài liệu cung cấp nội dung liên quan đến việc thực hành,vận dụng những phương pháp, kỹ thuật… liên quan đến việc tổ chức dạy KNStrên lớp Đồng thời, tài liệu cũng phân tích khả năng, mục tiêu giáo dục KNScho học sinh trong môn GDCD, giới thiệu một số nội dung và địa chỉ các tiếthọc/ bài học tiêu biểu, một số bài soạn minh họa về giáo dục KNS.
Các bài viết, tài liệu nghiên cứu về KNS rất phong phú và đa dạng Một
tác phẩm gần gũi, cụ thể hơn với các bạn trẻ là cuốn Bạn trẻ và kỹ năng sống
của TS Huỳnh Văn Sơn, Đại học sư phạm thành phố Hồ Chí Minh Cuốn sáchnhư chính tâm sự của tác giả gửi tới các bạn trẻ những vấn đề trong cuộc sống.Chính tác giả đã thuyết phục các bạn trẻ phải quan tâm tới các kỹ năng cần thiếttrong cuộc sống như kỹ năng phát huy nội lực của bản thân, kỹ năng tư duy sángtạo, kỹ năng tác động đến tâm lý của người khác, kỹ năng lắng nghe, kỹ năngthuyết trình
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu khoa học và sách báo, tài liệu trên
đã phân tích, làm rõ tính tất yếu và đề ra các giải pháp nâng cao chất lượng giáodục KNS cho thanh thiếu niên nói chung, cũng như cho học sinh THPT nóiriêng sẽ góp phần tạo nên giá trị truyền thống, giáo dục đạo đức và qua đó hìnhthành nhân cách tốt cho các em
Như vậy, quan điểm về giáo dục KNS đã được đề cập đa dạng với nhiềuhình thức khác nhau nhưng việc thực hiện giáo dục KNS trong nhà trường vẫncòn nhiều hạn chế Đặc biệt, trên địa bàn huyện Đức Thọ nói riêng và tỉnh HàTĩnh nói chung chưa có công trình nào đi sâu vào nghiên cứu giáo dục KNS chohọc sinh thông qua dạy học môn Giáo dục công dân ở trường THPT vì vậy
chúng tôi chọn đề tài “Giáo dục kỹ năng sống cho học sinh thông qua dạy học
môn Giáo dục công dân ở các trường Trung học phổ thông trên địa bàn huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh” làm đề tài luận văn Thạc sĩ.
Trang 143 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Đề xuất quy trình và một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả giáo dụcKNS cho học sinh thông qua dạy học môn GDCD ở các trường THPT trên địabàn huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Giáo dục KNS cho học sinh ở các trường THPT trên địa bàn huyện Đức
Thọ, tỉnh Hà Tĩnh thông qua dạy học môn GDCD (phần Công dân với đạo đức
môn GDCD (phần Công dân với đạo đức lớp 10).
- Về địa bàn và thời gian:
Nghiên cứu thực trạng giáo dục KNS cho học sinh ở các trường THPTtrên địa bàn huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh từ năm 2008 - 2013
Trang 155 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện dựa trên những quan điểm của Chủ nghĩa Mác Lênin; tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng và pháp luật của Nhà nướcXHCN Việt Nam về sự nghiệp giáo dục và đào tạo
-Để hoàn thành mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu, luận văn vận dụng cácphương pháp của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, sửdụng tổng hợp các phương pháp như:
- Phương pháp điều tra xã hội học
- Phương pháp thống kê
- Phương pháp phân tích tổng hợp
6 Giả thuyết khoa học
Nếu xây dựng và triển khai đồng bộ các giải pháp được đề xuất trong luậnvăn sẽ góp phần nâng cao hiệu quả giáo dục KNS cho học sinh thông qua dạyhọc môn GDCD ở các trường THPT trên địa bàn huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnhtrong giai đoạn hiện nay
7 Ý nghĩa và những đóng góp của đề tài
- Đề tài hệ thống hóa và góp phần làm rõ hơn những vấn đề lý luận vềKNS và giáo dục KNS cho học sinh THPT
- Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần làm sáng tỏ thực trạng giáo dụcKNS cho học sinh ở các trường THPT trên địa bàn huyện Đức Thọ, tỉnh HàTĩnh thông qua dạy học môn Giáo dục công dân giai đoạn 2008 - 2013
- Đề tài đóng góp một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng giáo dụcKNS cho học sinh thông qua dạy học môn GDCD ở các trường THPT trên địabàn huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh
- Đề tài có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho sinh viên chuyên ngànhGiáo dục chính trị và các giáo viên dạy học môn GDCD
Trang 168 Bố cục luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, luận vănđược chia làm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc giáo dục kỹ năng sống cho
học sinh thông qua dạy học môn Giáo dục công dân ở trường Trung học phổ thông
Chương 2: Thực nghiệm sư phạm về giáo dục kỹ năng sống cho học sinh
thông qua dạy học môn Giáo dục công dân tại các trường Trung học phổ thôngtrên địa bàn huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh
Chương 3: Quy trình và một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả giáo
dục kỹ năng sống cho học sinh thông qua dạy học môn Giáo dục công dân ở cáctrường Trung học phổ thông trên địa bàn huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh
Trang 17B NỘI DUNGChương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC GIÁO DỤC
KỸ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH THÔNG QUA DẠY HỌC
MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
1.1 Cơ sở lý luận của việc giáo dục kỹ năng sống cho học sinh Trung học phổ thông thông qua dạy học môn Giáo dục công dân
1.1.1 Các khái niệm
1.1.1.1 Kỹ năng sống
Kỹ năng sống là khái niệm được sử dụng rộng rãi nhằm vào mọi lứa tuổitrong lĩnh vực hoạt động thuộc các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội Ngaynhững năm đầu thập kỷ 90, các tổ chức quốc tế như Tổ chức y tế Thế giới (WHO),Quỹ Nhi đồng Liên Hợp Quốc (UNICEF), Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Vănhóa Liên Hợp Quốc (UNESCO) đã chung sức xây dựng chương trình giáo dụcKNS cho thanh thiếu niên Tuy nhiên, cho đến nay, khái niệm này vẫn nằm trongtình trạng chưa có một định nghĩa rõ ràng và đầy đủ
Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO): “Kỹ năng sống là khả năng để cóhành vi thích ứng và tích cực, giúp các cá nhân có thể ứng xử hiệu quả trước cácnhu cầu và thách thức của cuộc sống hàng ngày” (Bộ Giáo dục và Đào tạo) [7; 7]
Theo Quỹ Nhi đồng Liên Hợp Quốc (UNICEF): “Kỹ năng sống là cách tiếpcận giúp thay đổi hành vi mới Cách tiếp cận này lưu ý đến sự cân bằng về tiếp thukiến thức, hình thành thái độ và kỹ năng” (Bộ Giáo dục và Đào tạo) [7; 7]
Theo Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên Hợp Quốc
(UNESCO): “KNS gắn với bốn trụ cột của giáo dục đó là học để biết gồm các
kỹ năng tư duy như: tư duy phê phán, tư duy sáng tạo, ra quyết định, giải quyết
vấn đề, nhận thức được hậu quả…; Học làm người gồm các kỹ năng cá nhân như: ứng phó với căng thẳng, kiểm soát cảm xúc, tự nhận thức, tự tin…; Học để
Trang 18sống với người khác gồm các kỹ năng xã hội như: giao tiếp, thương lượng, tự
khẳng định, hợp tác, làm việc theo nhóm, thể hiện sự cảm thông; Học để làm
gồm kỹ năng thực hiện công việc và các nhiệm vụ như: kỹ năng đặt mục tiêu,đảm nhận trách nhiệm…” (Bộ Giáo dục và Đào tạo) [7; 7-8]
Từ những quan điểm trên, chúng ta có thể thấy rằng, KNS bao gồm mộtloạt các kỹ năng cụ thể, cần thiết cho cuộc sống hàng ngày của con người Bảnchất của KNS là kỹ năng tự quản lý bản thân và kỹ năng xã hội cần thiết để cánhân tự lực trong cuộc sống, học tập và làm việc hiệu quả Nói cách khác “KNS
là khả năng làm chủ bản thân của mỗi người, khả năng ứng xử phù hợp vớingười khác và với xã hội, khả năng ứng phó tích cực trước các tình huống củacuộc sống” (Bộ Giáo dục và Đào tạo) [7; 8] KNS có nhiều tên gọi khác nhau ví
dụ như kỹ năng tâm lý xã hội, kỹ năng cá nhân lĩnh hội và tư duy Một KNS cóthể có nhiều tên gọi khác nhau Do đó, cần phân biệt giữa những kỹ năng đểsống còn như học chữ, học nghề, làm toán, v.v… tới bơi lội, v.v… với khái niệmKNS đã được đề cập ở các định nghĩa trên
Như vậy, KNS là khả năng làm cho hành vi và sự thay đổi của mình vàngười khác phù hợp với cách ứng xử tích cực, giúp con người có thể kiểm soát,quản lý có hiệu quả các nhu cầu trong cuộc sống, đồng thời giúp con người giảiquyết có hiệu quả những khó khăn, thách thức trong cuộc sống
KNS vừa mang tính cá nhân, vừa mang tính xã hội KNS mang tính cánhân vì đó là khả năng của mỗi cá nhân, KNS còn mang tính xã hội vì trong mỗigiai đoạn phát triển của lịch sử, ở mỗi vùng miền lại đòi hỏi ở mỗi cá nhân cónhững kỹ năng thích hợp Vì vậy, KNS không phải tự nhiên có được mà phảihình thành dần trong quá trình học tập, lĩnh hội và rèn luyện Quá trình đó diễn
ra cả trong và ngoài hệ thống giáo dục
1.1.1.2 Giáo dục kỹ năng sống
Khái niệm giáo dục được hiểu theo nghĩa rộng, hẹp khác nhau ở cấp độ xãhội và cấp độ nhà trường Ở cấp độ nhà trường khái niệm giáo dục chỉ quá trình
Trang 19giáo dục tổng thể (dạy học và giáo dục theo nghĩa hẹp) được thực hiện thôngqua các hoạt động giáo dục Hoạt động giáo dục là những hoạt động do các cơ
sở giáo dục (trường học và các cơ sở khác) tổ chức thực hiện theo kế hoạch,chương trình giáo dục, trực tiếp điều hành và chịu trách nhiệm về chúng Trongcác hoạt động giáo dục, hoạt động dạy học là nền tảng và chủ đạo không chỉtrong các môn học, mà ở tất cả các hoạt động giáo dục khác trong nhà trường
Nó là hoạt động giáo dục cơ bản nhất, có vị trí nền tảng và chức năng chủ đạotrong hệ thống các hoạt động giáo dục Hoạt động giáo dục được tổ chức có địnhhướng về mặt giá trị nhằm tạo ra những môi trường hoạt động và giao tiếp cóđịnh hướng của người học Khi tham gia các hoạt động giáo dục, người học tiếnhành các hoạt động của mình theo những nguyên tắc chung, những mục tiêuchung, những chuẩn mực giá trị chung và những biện pháp chung, nhờ vậy họđược giáo dục theo những tiêu chí chung (tuy hoạt động của mỗi người luôndiễn ra ở cấp cá nhân)
Giáo dục KNS là giáo dục cách sống tích cực trong xã hội hiện đại, xâydựng những hành vi lành mạnh và thay đổi những hành vi, thói quen tiêu cựctrên cơ sở giúp học sinh có thái độ, kiến thức, kỹ năng, giá trị cá nhân thích hợpvới thực tế xã hội Mục tiêu cơ bản của giáo dục KNS là làm thay đổi hành vicủa học sinh, chuyển từ thói quen thụ động, có thể gây rủi ro, dẫn đến hậu quảtiêu cực thành những hành vi mang tính xây dựng tích cực và có hiệu quả đểnâng cao chất lượng cuộc sống cá nhân và góp phần phát triển xã hội bền vững.Giáo dục KNS còn mang ý nghĩa tạo nền tảng tinh thần để học sinh đối mặt vớicác vấn đề từ hoàn cảnh, môi trường sống cũng như phương pháp hiệu quả đểgiải quyết các vấn đề đó Trong thực tiễn, giáo dục KNS được xem xét dưới haikhía cạnh khác nhau: là một lĩnh vực học tập như giáo dục sức khỏe, HIV/AIDS,
ở lĩnh vực này đã tồn tại cách tiếp cận KNS từ khá lâu; là một cách tiếp cận giúpgiáo viên tiến hành giáo dục có chất lượng xuyên suốt các lĩnh vực học tập
UNICEF và UNESCO cũng quan niệm rằng, giáo dục KNS không phải làlĩnh vực hay môn học nhưng nó được áp dụng lồng ghép vào các kiến thức, giá
Trang 20trị và kỹ năng quan trọng trong quá trình phát triển của cá nhân và học tập suốtđời Như vậy, giáo dục KNS được xem như là một cách tiếp cận giáo dục nhằmmục đích giúp con người có những khả năng tâm lý để tương tác với người khác
và giải quyết những vấn đề, những tình huống của cuộc sống hàng ngày mộtcách có hiệu quả
Có bốn con đường để giáo dục KNS cho học sinh: Thứ nhất, có thể tích
hợp giáo dục KNS thông qua khai thác tiềm năng giáo dục trong nội dung mônhọc qua phương pháp dạy học tích cực khuyến khích sự tương tác, cùng tham
gia, tư duy phê phán, tư duy sáng tạo… của học sinh Thứ hai, giáo dục thông
qua các chủ đề chuyên biệt về KNS dưới hình thức hoạt động ngoài giờ lên lớp của
các tổ chức Đoàn thanh niên, câu lạc bộ, Đội nhóm Thứ ba, giáo dục KNS qua
tiếp cận bốn trụ cột: học để biết, học để làm, học để cùng chung sống và học để
tự khẳng định bản thân; Thứ tư, thông qua tham vấn trực tiếp với cá nhân hoặc
nhóm học sinh
Là những nhà giáo dục, những người luôn đồng hành với quá trình pháttriển của học sinh, chúng ta càng thấy rõ tầm quan trọng phải giáo dục KNS chohọc sinh nói chung và học sinh THPT nói riêng
1.1.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến giáo dục kỹ năng sống cho học sinh Trung học phổ thông
1.1.2.1 Đặc điểm tâm lý của học sinh trung học phổ thông
Tuổi học sinh THPT là giai đoạn đã trưởng thành về mặt thể lực, nhưng
sự phát triển cơ thể còn chưa vững chắc, các em bắt đầu thời kỳ phát triển tươngđối êm ả về mặt sinh lý Sự phát triển của hệ thần kinh có những thay đổi quantrọng do cấu trúc bên trong của não phức tạp và các chức năng của não pháttriển Cấu trúc của tế bào bán cầu đại não có những đặc điểm như trong cấu trúc
tế bào đại não của người lớn Số lượng dây thần kinh liên hợp tăng lên, liên kếtcác phần khác nhau của vỏ não lại, điều đó tạo tiền đề cần thiết cho sự phức tạphóa hoạt động phân tích, tổng hợp của vỏ bán cầu đại não trong quá trình họctập và rèn luyện
Trang 21Ở học sinh THPT, tính chủ định trong nhận thức được phát triển, tri giác đãđạt tới mức cao, quan sát trở nên có mục đích, hệ thống và toàn diện hơn Tuynhiên, nếu thiếu sự chỉ đạo của giáo viên thì quan sát của các em cũng khó đạt kếtquả cao Vì vậy, giáo viên cần quan tâm hướng quan sát của các em vào nhữngnhiệm vụ nhất định, không vội kết luận khi chưa tích lũy đủ các sự kiện Cũng ởlứa tuổi này, các em đã có khả năng tư duy lý luận, tư duy trừu tượng một cáchđộc lập sáng tạo Tư duy của các em chặt chẽ hơn, có căn cứ và nhất quán hơn,tính phê phán cũng phát triển Có thể nói, nhận thức của học sinh THPT chuyểndần từ nhận thức cảm tính sang nhận thức lý tính, do đó, học tập và rèn luyệnKNS sẽ dễ đạt kết quả tốt hơn.
Sự phát triển tự ý thức là một đặc điểm nổi bật trong sự phát triển nhâncách của học sinh THPT, nó có ý nghĩa to lớn đối với sự phát triển tâm lý củacác em Học sinh THPT có nhu cầu tìm hiểu và đánh giá những đặc điểm tâm lýcủa mình: quan tâm sâu sắc tới đời sống tâm lý, phẩm chất nhân cách và nănglực riêng, xuất hiện ý thức trách nhiệm, lòng tự trọng, tình cảm nghĩa vụ đó lànhững giá trị nổi trội và bền vững Các em có khả năng đánh giá mặt mạnh, mặtyếu của bản thân mình và những người xung quanh, có những biện pháp kiểmtra đánh giá sự tự ý thức bản thân như viết nhật ký, tự kiểm điểm trong tâmtưởng, biết đối chiếu với các thần tượng, các yêu cầu của xã hội, nhận thức vị trícủa mình trong xã hội, hiện tại và tương lai
Học sinh THPT là lứa tuổi quyết định sự hình thành nhân sinh quan, thếgiới quan về xã hội, tự nhiên, các nguyên tắc và quy tắc cư xử Chỉ số đầu tiêncủa sự hình thành thế giới quan là sự phát triển hứng thú nhận thức đối vớinhững vấn đề thuộc nguyên tắc chung nhất của vũ trụ, những quy luật phổ biếncủa tự nhiên, xã hội và của sự tồn tại xã hội loài người Lứa tuổi này, các emquan tâm nhiều tới các vấn đề liên quan tới con người, vai trò của con ngườitrong lịch sử, quan hệ giữa con người và xã hội, giữa quyền lợi và nghĩa vụ, giữa
lý trí và tình cảm
Trang 22Tóm lại, sự phát triển nhân cách của học sinh THPT là một giai đoạn rấtquan trọng, giai đoạn chuyển đổi từ trẻ em lên người lớn Đây là lứa tuổi đầuthanh niên với những đặc điểm tâm lý đặc thù khác với tuổi thiếu niên, các em
đã đạt tới sự trưởng thành về thể lực và sự phát triển nhân cách Đặc điểm tâmsinh lý của học sinh THPT là điều kiện thuận lợi cho việc giáo dục KNS cho các
em có hiệu quả Các lực lượng giáo dục phải biết phát huy các yếu tố tích cực,khắc phục những hạn chế trong sự phát triển tâm sinh lý lứa tuổi này để lựachọn nội dung, hình thức tổ chức thích hợp, phát huy được tính tích cực, chủđộng của các em trong hoạt động giáo dục theo định hướng của mục tiêu giáodục KNS
1.1.2.2 Các yếu tố về chương trình giáo dục trung học phổ thông
Theo khoản 1, Điều 29, Luật Giáo dục năm 2005: “Chương trình giáo dụctrung học phổ thông quy định chuẩn kiến thức, kỹ năng, phạm vi và cấu trúc, nộidung giáo dục phổ thông, phương pháp và hình thức tổ chức hoạt động giáo dục,cách thức đánh giá kết quả giáo dục đối với các môn học ở mỗi lớp của giáo dụcphổ thông” [20; 7] Theo đó, mục tiêu giáo dục THPT là học sinh được pháttriển hài hòa về thể chất và tinh thần, con người cá nhân và con người xã hộitrên cơ sở duy trì, tăng cường và định hình các phẩm chất, năng lực đã hìnhthành ở cấp Trung học cơ sở; có kiến thức, kỹ năng phổ thông cơ bản, được địnhhướng theo lĩnh vực nghề nghiệp, phù hợp với năng khiếu và sở thích; phát triểnnăng lực cá nhân để lựa chọn hướng phát triển, tiếp tục học lên hoặc bước vàocuộc sống lao động với phẩm chất, năng lực của một công dân Để thực hiệngiáo dục KNS cho học sinh THPT thì mục tiêu về giáo dục KNS phải được đặt
ra trong chương trình giáo dục THPT Do đó, nội dung giáo dục KNS cho họcsinh THPT phải được hoạch định; các hình thức, phương pháp, kiểm tra, đánhgiá giáo dục KNS cho học sinh phải được xác định cụ thể Các yếu tố nêu trênphải được mô tả trong văn bản chương trình giáo dục KNS cho học sinh THPT
và trở thành một nội dung của chương trình giáo dục THPT
Trang 23Những phân tích trên cho thấy, nếu vấn đề KNS chưa được đặt ra, chưađược xác định như một yêu cầu, nhiệm vụ cụ thể của chương trình giáo dụcTHPT thì khó có thể thực hiện giáo dục KNS cho học sinh THPT.
1.1.2.3 Tác động của môi trường gia đình và xã hội
Dưới góc độ giáo dục, gia đình, xã hội không chỉ là lực lượng tham giavào quá trình giáo dục mà còn là môi trường giáo dục quan trọng Trong lĩnhvực giáo dục KNS cho học sinh THPT, môi trường gia đình và môi trường xãhội có thể tác động theo hướng tích cực hoặc không tích cực đối với quá trìnhhình thành và phát triển KNS của học sinh Do KNS thuộc phạm trù năng lựcnên sự trải nghiệm có ý nghĩa quan trọng đối với quá trình hình thành và pháttriển KNS Gia đình và xã hội chính là môi trường nơi xác lập các tình huốngdiễn ra sự trải nghiệm của học sinh
Gia đình là nơi diễn ra những mối quan hệ xã hội đầu tiên của con người.Những mối quan hệ trực tiếp giữa đứa trẻ và cha mẹ là những tác động qua lạiđầu tiên trong đời sống xã hội Trong gia đình, các em nhận được những kinhnghiệm và KNS đầu tiên Môi trường gia đình giúp các em có thể học hỏi vàtiếp nhận những KNS, cách giao tiếp, cách ứng xử xã hội từ cha mẹ và các thànhviên trong gia đình Cha mẹ, ông bà hay anh chị là biểu tượng, hình mẫu cho sựphấn đấu và hoàn thiện nhân cách của các em Tuy nhiên, gia đình ít dành thờigian dạy các em KNS cần thiết, ngay cả những kỹ năng tự chăm sóc và phục vụbản thân Với thực trạng hiện nay, rất nhiều em học sinh THPT ở các thành phốlớn, thị xã hoặc một số gia đình giàu có thiếu hụt những KNS cơ bản và cầnthiết, các em không biết làm bất cứ một công việc nào cho dù là những côngviệc tự phục vụ nhu cầu của bản thân hay những công việc nhà đơn giản màđáng lẽ ở lứa tuổi này các em bắt buộc phải biết để chuẩn bị cho bản thân nhữngKNS cần thiết trước khi bước vào cuộc sống của một người trưởng thành Chính
vì vậy, hướng dẫn, khuyến khích và tạo điều kiện để các em tham gia tích cựcvào công việc gia đình, chú trọng dạy các KNS cho các em là việc làm cần thiếtcủa các bậc phụ huynh
Trang 24Các mối quan hệ trong xã hội tác động tích cực tới việc hình thành và pháttriển năng lực của học sinh THPT Xã hội là môi trường thực tế, giúp học sinh hoànthiện các kỹ kỹ năng cuộc sống, chi phối một phần lớn trong suy nghĩ và hành độngcủa học sinh Bước ra môi trường xã hội, học sinh có thể học hỏi và hình thành chomình những KNS cơ bản, cần thiết một cách tự nhiên Từ những tình huống thực
tế, các em tự tìm cách giải quyết hay tìm kiếm sự hỗ trợ từ người thân, bạn bè đều
có thể hình thành KNS cho bản thân Môi trường xã hội cũng cần tạo điều kiện đểhọc sinh tham gia các hoạt động hình thành năng lực cho bản thân bằng việc chungtay góp sức của toàn thể cộng đồng
1.1.3 Giáo dục kỹ năng sống cho học sinh thông qua dạy học môn Giáo dục
công dân ở trường Trung học phổ thông
1.1.3.1 Vai trò của môn Giáo dục công dân trong việc giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trung học phổ thông
Môn GDCD là một môn học có thể giáo dục nhiều KNS cho học sinh trongnhà trường THPT, góp phần quan trọng trong việc thực hiện mục tiêu giáo dục vàhoàn thiện nhân cách toàn diện cho học sinh Điều đó thể hiện:
Về kiến thức, môn GDCD giúp học sinh có hiểu biết ban đầu về thế giớiquan và phương pháp luận biện chứng; một số phạm trù cơ bản của đạo đức học;một số yêu cầu đạo đức đối với người công dân hiện nay Giúp học sinh biết một
số phạm trù và quy luật kinh tế cơ bản, vai trò quản lý kinh tế của Nhà nước,bản chất của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Học sinh có thể hiểuđường lối, quan điểm của Đảng; các chính sách quan trọng của Nhà nước về xâydựng và bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn hiện nay Môn GDCD còn giúp họcsinh hiểu được bản chất và vai trò của pháp luật đối với sự phát triển của côngdân, đất nước, nhân loại; hiểu quyền và nghĩa vụ công dân trong các lĩnh vựccủa đời sống xã hội Đồng thời, học sinh cũng hiểu được trách nhiệm trong việcthực hiện đường lối, chính sách, quan điểm của Đảng, pháp luật của Nhà nước;hiểu trách nhiệm đạo đức, trách nhiệm tham gia kinh tế của công dân
Trang 25Về kỹ năng, học sinh có thể vận dụng được kiến thức đã học để phân tích,đánh giá các hiện tượng, các sự kiện, các vấn đề trong thực tiễn cuộc sống phùhợp với lứa tuổi Học sinh biết lựa chọn và thực hiện các hành vi ứng xử phùhợp với các giá trị xã hội Bên cạnh đó, các em học sinh cũng biết bảo vệ cáiđúng, cái tốt, cái đẹp và biết đấu tranh, phê phán đối với các hành vi, hiện tượngtiêu cực trong cuộc sống phù hợp với khả năng của bản thân.
Về thái độ, học sinh biết yêu cái đúng, cái tốt, cái đẹp; không đồng tìnhvới các hành vi, việc làm tiêu cực, biết yêu quê hương, đất nước, trân trọng vàphát huy các giá trị truyền thống của dân tộc Đồng thời, tin tưởng vào các đườnglối, chủ trương, chính sách của Đảng; tôn trọng pháp luật của Nhà nước và các quyđịnh chung của cộng đồng, của tập thể Học sinh phải có hoài bão và mục đíchsống cao đẹp
Xuất phát từ mục tiêu môn học, nội dung môn GDCD ở trường THPTđược xác định thành 5 phần chính:
Phần thứ nhất: Công dân với việc hình thành thế giới quan, phương phápluận khoa học Phần này trang bị cho học sinh những cơ sở ban đầu về thế giớiquan, phương pháp luận trong cuộc sống
Phần thứ hai: Công dân với đạo đức Phần công dân với đạo đức ở bậcTHPT là sự phát triển tiếp nối của môn GDCD ở bậc Trung học cơ sở Nhữngchuẩn mực đạo đức mà học sinh đạt được ở lớp dưới được nâng lên thành nhữnggiá trị đạo đức, tư tưởng chính trị, lối sống của con người Việt Nam thời kỳ côngnghiệp hóa, hiện đại hóa nhằm giúp học sinh giải quyết hợp lý, có hiệu quả cácmối quan hệ xã hội
Phần thứ ba: Công dân với kinh tế Phần này cung cấp cho học sinhnhững hiểu biết cơ bản về một số phạm trù, quy luật kinh tế và phương hướngphát triển kinh tế ở nước ta Trên cơ sở đó giúp học sinh có thể xác định đượcphương hướng học tập, lựa chọn ngành nghề, hoặc các lĩnh vực hoạt động khácsau khi ra trường
Trang 26Phần thứ tư: Công dân với các vấn đề chính trị - xã hội Phần này giúpcho học sinh có những hiểu biết cơ bản về Chủ nghĩa xã hội và một số chínhsách quan trọng của Đảng và Nhà nước để học sinh có thể xác định được tráchnhiệm công dân đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Phần thứ năm: Công dân với pháp luật Phần này cung cấp những hiểubiết cơ bản về bản chất, vai trò và nội dung của pháp luật trong một số lĩnh vựccủa đời sống xã hội nhằm giúp học sinh có thể chủ động, tự giác điều chỉnhhành vi của cá nhân và đánh giá được hành vi của người khác theo quyền vànghĩa vụ của công dân trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hộichủ nghĩa Việt Nam
Ngoài những bài học chính trong sách giáo khoa, chương trình còn dànhmột số thời gian cho các hoạt động thực hành, ngoại khóa, dạy học các vấn đềgắn với tình hình địa phương
Tất cả những điều đó cho thấy, mục tiêu và nội dung môn GDCD vốn đãmang các yếu tố của giáo dục KNS, rất thuận lợi cho việc giáo dục đa dạng cácKNS cho học sinh Từ đó, trang bị cho học sinh những KNS cần thiết, phù hợpvới lứa tuổi học sinh THPT; giúp các em biết sống và ứng xử phù hợp trong cácmối quan hệ với những người thân trong gia đình, với thầy cô, bạn bè và nhữngngười xung quanh; với cộng đồng, quê hương, đất nước, nhân loại, với môitrường tự nhiên để các em trở thành người có trách nhiệm với bản thân, bạn bè,gia đình và cộng đồng, người học sinh tích cực của nhà trường, người công dântốt của xã hội
1.1.3.2 Nguyên tắc giáo dục kỹ năng sống cho học sinh thông qua dạy học môn Giáo dục công dân ở trường Trung học phổ thông
Giáo dục KNS cho học sinh thông qua dạy học môn GDCD trong nhàtrường THPT cần tuân thủ một số nguyên tắc sau:
Thứ nhất, nguyên tắc tương tác: KNS không chỉ được hình thành qua việc
nghe giảng và tự đọc tài liệu mà còn phải thông qua các hoạt động tương tác với
Trang 27người khác bởi việc nghe giảng và tự đọc tài liệu chỉ giúp học sinh thay đổi nhậnthức về một vấn đề nào đó; ngược lại, có nhiều KNS được hình thành trong quátrình học sinh tương tác với những người xung quanh như kỹ năng thương lượng,
kỹ năng giải quyết vấn đề, kỹ năng xử lý mâu thuẫn, kỹ năng ứng xử, kỹ nănghợp tác chia sẻ… thông qua hoạt động học tập hoặc các hoạt động xã hội trongnhà trường Mặt khác, khi tham gia các hoạt động có tính tương tác học sinh sẽ có
cơ hội để thể hiện các ý tưởng của mình, xem xét ý tưởng của người khác, đượcđánh giá và xem xét lại những kinh nghiệm sống của bản thân Vì vậy, việc tổchức các hoạt động có tính chất tương tác trong các tiết học của môn GDCD trongnhà trường THPT cũng như các hoạt động ở địa phương nơi học tập và sinh sống
sẽ tạo cơ hội thuận lợi để giáo dục các KNS cơ bản cho học sinh
Thứ hai, nguyên tắc trải nghiệm: KNS được hình thành khi người học
được trải nghiệm qua các tình huống thực tế Học sinh chỉ có kỹ năng khi các
em tự làm việc đó, kinh nghiệm chỉ có được khi học sinh được hành động trongcác tình huống da dạng, qua đó các em dễ dàng sử dụng và điều chỉnh các kỹnăng phù hợp với điều kiện thực tế Vì vậy, giáo viên cần phải thiết kế và tổchức thực hiện các hoạt động trong và ngoài giờ học môn GDCD sao cho họcsinh có cơ hội thể hiện ý tưởng cá nhân, tự trải nghiệm và biết phân tích kinhnghiệm sống của bản thân mình và của người khác
Thứ ba, nguyên tắc tiến trình: KNS không thể hình thành trong ngày một,
ngày hai mà phải trải qua một quá trình lâu dài từ nhận thức đến hình thành thái
độ và cuối cùng là thay đổi hành vi Đây là một quá trình mà yếu tố có thể làkhởi đầu của một chu trình mới Do đó, giáo viên dạy học môn GDCD có thể tácđộng lên bất kỳ mắt xích nào trong chu trình trên, qua đó giúp các em thay đổithái độ dẫn đến mong muốn thay đổi nhận thức và hành vi, hoặc hành vi thayđổi tạo nên sự thay đổi nhận thức và thái độ…
Thứ tư, nguyên tắc thay đổi hành vi: mục đích cao nhất của giáo dục
KNS là giúp người học thay đổi hành vi theo hướng tích cực, thúc đẩy người
Trang 28học thay đổi hay định hướng lại các giá trị, thái độ và hành động của mình.Thay đổi hành vi, thái độ và giá trị ở mỗi cá nhân là một quá trình khó khăn,không đồng thời, do đó, giáo viên dạy học môn GDCD cần phải kiên trì chờđợi và tổ chức các hoạt động liên tục để học sinh duy trì hành vi mới và có thóiquen mới; tạo động lực cho học sinh điều chỉnh hoặc thay đổi giá trị, thái độ vànhững hành vi trước đây, thích nghi hoặc chấp nhận các giá trị, thái độ và hành
vi mới Mặt khác, giáo viên cần tạo điều kiện cho học sinh rút ra bài học chochính bản thân mình sau mỗi giờ học
Thứ năm, nguyên tắc thời gian - môi trường giáo dục: giáo dục KNS cần
thực hiện mọi nơi, mọi lúc và thực hiện càng sớm càng tốt Môi trường giáo dụccần được tổ chức nhằm tạo cơ hội cho học sinh áp dụng kiến thức và kỹ năngvào thực tiễn cuộc sống Giáo dục KNS được thực hiện trong gia đình, nhàtrường và xã hội Người tổ chức giáo dục có thể là cha mẹ, là thầy cô, là bạn họchay những thành viên trong cộng đồng Trong nhà trường phổ thông, giáo dụcKNS được thực hiện trong giờ học GDCD hay các môn học khác, trong các hoạtđộng ngoại khóa, các hoạt động giáo dục liên quan…
1.1.3.3 Nội dung giáo dục kỹ năng sống cho học sinh thông qua dạy học môn Giáo dục công dân trong nhà trường Trung học phổ thông
Có 21 kỹ năng để giáo dục KNS cho học sinh thông qua dạy học mônGDCD Tuy nhiên, theo giới hạn nghiên cứu luận văn tập trung giáo dục các kỹnăng như: kỹ năng hợp tác; kỹ năng tìm kiếm và xử lý thông tin; kỹ năng giaotiếp; kỹ năng thể hiện sự tự tin; kỹ năng lắng nghe tích cực; kỹ năng tư duy sángtạo; kỹ năng đảm nhận trách nhiệm
Giáo dục kỹ năng hợp tác: hợp tác là cùng chung sức làm việc, giúp đỡ,
hỗ trợ nhau trong một công việc, một lĩnh vực nào đó vì mục đích chung Kỹnăng hợp tác là khả năng cá nhân biết chia sẻ trách nhiệm, biết cam kết và cùnglàm việc có hiệu quả với nững thành viên khác trong nhóm Môn học GDCD sẽhình thành ở học sinh những kỹ năng hợp tác cơ bản như tôn trọng mục đích,
Trang 29mục tiêu hoạt động chung của nhóm; tôn trọng quyết định chung những điều đãcam kết; biết giao tiếp hiệu quả, tôn trọng, đoàn kết và cảm thông chia sẻ với cácthành viên khác trong nhóm; biết bày tỏ ý kiến, tham gia xây dựng kế hoạchhoạt động của nhóm; đồng thời biết lắng nghe, tôn trọng, xem xét các ý kiến,quan điểm của mọi người trong nhóm; nổ lực phát huy năng lực, sở trường củabản thân để hoàn thành nhiệm vụ đã được phân công, biết hỗ trợ, giúp đỡ cácthành viên khác trong quá trình hoạt động.
Giáo dục kỹ năng tìm kiếm và xử lý thông tin: trong thời đại bùng nổ
thông tin hiện nay, kỹ năng tìm kiếm và xử lý thông tin là một KNS quan trọnggiúp con người có thể có được những thông tin cần thiết một cách đầy đủ, kháchquan, chính xác kịp thời Trong quá trình học tập môn GDCD, giáo viên có thểgiúp các em hình thành khả năng tìm kiếm và xử lý thông tin thông qua các kỹnăng: xác định rõ chủ đề mà mình cần tìm kiếm thông tin là chủ đề gì? Xác địnhloại thông tin về chủ đề mà mình cẩn phải tìm kiếm là gì? Xác định các nguồn,các địa chỉ tin cậy có thể cung cấp những loại thông tin đó; tiến hành thu thậpthông tin theo kế hoạch đã định; sắp xếp các thông tin đã thu thập được theo nộidung một cách có hệ thống; phân tích, so sánh, đối chiếu, lí giải các thông tinthu thập được, đặc biệt là các thông tin trái chiều; xem xét một cách toàn diện,thấu đáo, sâu sắc các thông tin đó
Giáo dục kỹ năng giao tiếp: kỹ năng giao tiếp là khả năng có thể bày tỏ ý
kiến của bản thân theo hình thức nói, viết hoặc sử dụng ngôn ngữ cơ thể mộtcách phù hợp với hoàn cảnh và văn hóa, đồng thời biết lắng nghe, tôn trọng ýkiến người khác, ngay cả khi bất đồng quan điểm Bày tỏ ý kiến bao gồm cả bày
tỏ về suy nghĩ, ý tưởng, nhu cầu, mong muốn và cảm xúc, đồng thời nhờ sự giúp
đỡ và sự tư vấn khi cần thiết Trong quá trình học tập môn GDCD, giáo viên cóthể giúp học sinh rèn luyện kỹ năng giao tiếp bằng cách đánh giá các tình huống
và xử lý các tình huống bằng các hình thức nói, viết hay trả lời bằng ngôn ngữ
cơ thể Qua quá trình rèn luyện, các em sẽ có cách đánh giá đúng đắn, điều
Trang 30chỉnh cách giao tiếp phù hợp, hiệu quả hơn; dần dần các em sẽ cởi mở hơn trongbày tỏ suy nghĩ, cảm xúc Giáo viên GDCD bằng việc tạo điều kiện để các emgiao tiếp thường xuyên sẽ điều chỉnh, giúp đỡ các em có cách ứng xử phù hợpkhi làm việc và ở cùng với những người khác, từ đó các em cũng sẽ biết quantâm, chia sẻ, giúp đỡ, tôn trọng tới những người xung quanh.
Giáo dục kỹ năng thể hiện sự tự tin: tự tin là có niềm tin vào bản thân; tự
hài lòng với bản thân; tin rằng mình có thể trở thành một người có ích và tíchcực, có niềm tin về tương lai, cảm thấy có nghị lực để hoàn thành các nhiệm vụ
Tự tin là một kỹ năng quan trọng, giúp chúng ta có thể hoàn thành tốt việc giaotiếp, trao đổi, thương lượng hay giải quyết vấn đề Trong môn GDCD, giáo dụccho học sinh thể hiện sự tự tin là cách giáo viên rèn luyện cho các em tác phonglàm việc, trình bày vấn đề một cách quyết đoán, kiên định Học sinh có thểmạnh dạn trình bày các suy nghĩ, ý tưởng của mình, đảm nhận trách nhiệm trongcác hoạt động chung của tập thể
Giáo dục kỹ năng lắng nghe tích cực: lắng nghe tích cực là một phần quan
trọng của kỹ năng giao tiếp Người có kỹ năng lắng nghe tích cực biết thể hiện
sự tập trung chú ý và thể hiện sự quan tâm lắng nghe ý kiến hoặc phần trình bàycủa người khác (bằng các cử chỉ, điệu bộ, ánh mắt, nét mặt, nụ cười), biết cho ýkiến phản hồi mà không vội đánh giá, đồng thời có đối đáp hợp lý trong quátrình giao tiếp Để có được kỹ năng lắng nghe hiệu quả, môn GDCD giúp các
em có thể tìm hiểu thông tin về vấn đề được nghe, sắp xếp, phân tích vấn đềtheo trình tự hợp lý, lôgic Từ những thông tin nghe được, học sinh có thể trìnhbày phản hồi của mình bằng việc đồng tình hay không đồng tình về vấn đề đó.Lắng nghe tích cực là kỹ năng cần rèn luyện để học sinh có thể hiểu sâu sắc vấn
đề Biết lắng nghe sẽ thu thập được những thông tin cần thiết, từ đó có thể nêuquan điểm của mình trong giao tiếp, thương lượng, hợp tác hay giải quyết mâuthuẫn
Trang 31Giáo dục kỹ năng tư duy sáng tạo: tư duy sáng tạo là khả năng nhìn nhận
và giải quyết vấn đề theo một cách mới, với tư tưởng mới, theo phương thức mới,cách sắp xếp và tổ chức mới; là khả năng khám phá và kết nối mối quan hệ giữacác khái niệm, ý tưởng, quan điểm, sự việc; độc lập trong suy nghĩ Để hình thành
kỹ năng này, giáo viên môn GDCD sẽ đặt học sinh vào các tình huống bất ngờ, các
dự án theo chủ đề cho trước… sau đó để các em bố trí, sắp xếp, trình bày, giảiquyết theo cách riêng của từng học sinh Môn GDCD khuyến khích các ý tưởng,phương thức, cách ứng phó linh hoạt của học sinh để các em phát huy được hiệuquả tư duy sáng tạo
Giáo dục kỹ năng đảm nhận trách nhiệm: đảm nhận trách nhiệm là khả
năng con người thể hiện sự tự tin chủ động và ý thức cần chia sẻ công việc vớicác thành viên khác trong nhóm Khi đảm nhận trách nhiệm, cần dựa trên nhữngđiểm mạnh, tiềm năng của bản thân, đồng thời tìm kiếm thêm sự giúp đỡ cần thiết
để hoàn thành nhiệm vụ Trong quá trình học tập môn GDCD, để hình thành chohọc sinh kỹ năng đảm nhận trách nhiệm, người giáo viên có thể dựa vào nhữngđiểm mạnh, tiềm năng của học sinh để phân chia nhiệm vụ phù hợp Từ nhữngđiểm mạnh của mình, học sinh sẽ tự tin trong việc giải quyết vấn đề được giao.Giáo viên cần quan sát, đánh giá khách quan mức độ tham gia của các cá nhân khiđảm nhận trách nhiệm trên các tiêu chí như mức độ hòa đồng, xây dựng, giúp giảiquyết vấn đề, kết quả mục tiêu chung của cả nhóm, đồng thời tạo sự thỏa mãn vàthăng tiến cho các thành viên trong nhóm
Ngoài những kỹ năng trên, môn GDCD còn có khả năng giáo dục cho họcsinh nhiều kỹ năng khác Các kỹ năng được chuyển tải trong quá trình dạy họccác bài GDCD ở bậc THPT như giáo dục kỹ năng giải quyết vấn đề, giáo dục kỹnăng xác định giá trị, giáo dục kỹ năng tư duy phê phán, giáo dục kỹ năng đặtmục tiêu…
1.1.3.4 Những phương pháp dạy học để giáo dục kỹ năng sống cho học sinh thông qua môn Giáo dục công dân ở trường Trung học phổ thông
Trang 32Giáo dục KNS cho học sinh trong nhà trường THPT được thực hiện thôngqua dạy các môn học và tổ chức các hoạt động giáo dục nhưng không phải làlồng ghép, tích hợp thêm KNS vào nội dung các môn học và hoạt động giáo dục
mà theo cách tiếp cận mới đó là sử dụng các phương pháp và kỹ thuật dạy họctích cực để tạo điều kiện, cơ hội cho học sinh được thực hành, trải nghiệm KNStrong quá trình học tập
Việc xác định phương pháp giáo dục KNS cho học sinh có ý nghĩa rấtquan trọng, nó quyết định đến hiệu quả giáo dục Việc lựa chọn phương phápgiáo dục KNS thông qua môn GDCD có thể căn cứ vào các yếu tố: dựa vào mụctiêu giáo dục; dựa vào các giai đoạn nhận thức của học sinh; dựa vào số lượnghọc sinh; dựa vào các điều kiện cơ sở vật chất của lớp học hoặc của nhà trường;dựa vào năng lực, thói quen của người giáo viên…
Qua các cơ sở trên, chúng ta thấy rằng trong quá trình dạy học mônGDCD, giáo viên có thể sử dụng các phương pháp dạy học khác nhau để rènluyện KNS cho học sinh Trong đó, giáo viên cần coi trọng và sử dụng nhiềuhơn các phương pháp dạy học tích cực theo quan điểm “lấy học sinh làm trungtâm”, đó là các phương pháp dạy học (PPDH) như: phương pháp động não;phương pháp thảo luận nhóm; phương pháp vấn đáp; phương pháp trò chơi;phương pháp giải quyết vấn đề; phương pháp nghiên cứu tình huống
Phương pháp động não: động não là phương pháp giúp cho học sinh
trong một thời gian ngắn nảy sinh được nhiều ý tưởng, nhiều giả định về mộtvấn đề nào đó
Để thực hiện phương pháp động não, giáo viên có thể tiến hành bằngviệc nêu câu hỏi hoặc vấn đề (có nhiều cách trả lời) cần được tìm hiểu trước cảlớp hoặc trước nhóm, sau khi nêu câu hỏi giáo viên nên khích lệ học sinh phátbiểu và đóng góp ý kiến càng nhiều càng tốt; đồng thời, giáo viên cần liệt kêtất cả mọi ý kiến lên bảng hoặc giấy to không loại trừ một ý kiến nào, trừtrường hợp trùng lặp và làm sáng tỏ các ý kiến chưa rõ ràng Sau khi phân tích
Trang 33tổng hợp ý kiến học sinh, giáo viên hỏi học sinh còn thắc mắc hay bổ sung gìkhông và đưa ra kết luận.
Phương pháp động não có tác dụng không nhỏ trong giáo dục KNS cho
học sinh, đó là: kích thích, dẫn dắt học sinh suy nghĩ, khám phá tri thức mới;
kiểm tra, đánh giá kiến thức, kỹ năng và thái độ của học sinh; hình thành và rèn luyện kỹ năng giải quyết vấn đề, kỹ năng giải quyết mâu thuẫn, kỹ năng tư duy sáng tạo, kỹ năng ra quyết định, kỹ năng kiên định…
Phương pháp thảo luận nhóm: thực chất của phương pháp thảo luận nhóm
là để học sinh bàn bạc trong nhóm nhỏ Thảo luận nhóm được sử dụng rộng rãinhằm giúp cho học sinh tham gia một cách chủ động vào quá trình học tập, tạo
cơ hội cho các em chia sẻ kiến thức, kinh nghiệm, ý kiến để giải quyết một vấn
đề có liên quan đến nội dung bài học
Sử dụng phương pháp thảo luận nhóm giáo viên thường nêu chủ đề thảoluận, chia nhóm, nêu câu hỏi thảo luận và phân công vị trí thảo luận cho từngnhóm để các nhóm tiến hành thảo luận Sau khi đại diện từng nhóm trình bày kếtquả thảo luận của nhóm, được các nhóm khác nghe chất vấn, trao đổi, bổ sung ýkiến giáo viên sẽ tổng hợp các ý kiến và đưa ra kết luận
Với cách sử dụng như vậy, phương pháp thảo luận nhóm đóng vai tròquan trọng trong giáo dục KNS cho học sinh thông qua môn GDCD Đó là, việcthảo luận nhóm giúp cho kiến thức của học sinh sẽ giảm bớt phần chủ quan,phiến diện, làm tăng tính khách quan khoa học, kiến thức trở nên sâu sắc, bềnvững, dễ nhớ và nhớ nhanh hơn do được giao lưu, học hỏi giữa các thành viêntrong nhóm; nhờ không khí thảo luận cởi mở mà những em học sinh, đặc biệt lànhững em nhút nhát trở nên mạnh dạn hơn; các em học được cách trình bày ýkiến của mình, biết cách lắng nghe có phê phán ý kiến của bạn từ đó giúp họcsinh dễ hòa nhập vào cộng đồng nhóm, tạo cho các em sự tự tin, hứng thú trong
học tập và sinh hoạt Đặc biệt, sử dụng phương pháp thảo luận nhóm trong các
tiết dạy GDCD sẽ góp phần hình thành và phát triển ở học sinh các kỹ năng lắng nghe, kỹ năng hợp tác - chia sẻ, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng tìm kiếm và
Trang 34xử lý thông tin, kỹ năng giải quyết vấn đề; kỹ năng thể hiện sự tự tin, kỹ năng thương lượng, kỹ năng tư duy…
Phương pháp vấn đáp là phương pháp dạy học mà trong đó việc truyền
thụ và lĩnh hội tri thức mới của giáo viên và học sinh qua hệ thống các câu hỏi;học sinh trả lời những yêu cầu, gợi ý do giáo viên đưa ra Nói cách khác, đó làphương pháp trong đó giáo viên đặt ra câu hỏi để học sinh trả lời hoặc học sinh
có thể tranh luận với nhau và với cả giáo viên qua đó học sinh lĩnh hội được nộidung bài học
Trong dạy học GDCD, giáo viên có thể vận dụng các hình thức củaphương pháp vấn đáp như: vấn đáp tái hiện; vấn đáp giải thích, minh họa và vấnđáp tìm tòi Vấn đề quan trọng khi vận dụng phương pháp vấn đáp là giáo viênđọc câu hỏi phù hợp với nội dung bài học và đối tượng học sinh, câu hỏi sắp xếphợp lý, có các gợi ý để học sinh suy nghĩ và đưa ra câu trả lời…
Trong quá trình dạy học và học tập môn GDCD, phương pháp vấn đáp
giúp hình thành và rèn luyện ở học sinh các KNS như kỹ năng tư duy, kỹ năng trả lời câu hỏi, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng tìm kiếm và xử lý thông tin…
Phương pháp trò chơi là phương pháp tổ chức cho học sinh tìm hiểu một
vấn đề, biểu hiện thái độ hay thực hiện hành động, việc làm thông qua một tròchơi nào đó
Sử dụng phương pháp trò chơi trong dạy học môn GDCD, học sinh khôngnhững được phát triển về mặt trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ mà còn hình thành ở các
em nhiều phẩm chất và hành vi tích cực; học sinh có cơ hội để thể hiện những thái
độ, hành vi của mình; hình thành ở các em niềm tin tạo ra động cơ bên trong cho
những hành vi ứng xử trong cuộc sống; học sinh sẽ được rèn luyện kỹ năng quyết
định lựa chọn cho mình cách ứng xử đúng đắn, phù hợp trong tình huống; học sinh được hình thành năng lực quan sát, được rèn luyện kỹ năng nhận xét, đánh giá hành vi Việc sử dụng phương pháp trò chơi làm cho việc học tập được tiến
hành một cách nhẹ nhàng, sinh động, không khô khan, nhàm chán; học sinh được
Trang 35lôi cuốn vào quá trình luyện tập một cách tự nhiên, hứng thú và có tinh thần tráchnhiệm, đồng thời giải trừ được những mệt mỏi, căng thẳng trong học tập Trò chơicòn giúp tăng cường khả năng giao tiếp giữa học sinh với học sinh, giữa học sinhvới giáo viên …
Phương pháp giải quyết vấn đề là xem xét, phân tích những vấn đề đang
tồn tại và xác định các bước nhằm cải thiện tình hình Phương pháp giải quyếtvấn đề giúp học sinh vạch ra những cách thức giải quyết vấn đề, tình huống cụthể gặp phải trong cuộc sống hàng ngày
Trong dạy học môn GDCD, giáo viên cần lựa chọn các vấn đề tình huốngphù hợp, cụ thể theo nội dung bài học, phải phù hợp với chủ đề, gần gũi với thực
tế của học sinh; biết kích thích suy nghĩ, tìm tòi, sáng tạo của học sinh; cách giảiquyết vấn đề phải là cách tối ưu nhất
Như vậy, phương pháp giải quyết vấn đề sẽ giúp hình thành và phát triển
các KNS cơ bản cho học sinh như: kỹ năng giải quyết vấn đề, kỹ năng giải quyết
mâu thuẫn, kỹ năng tìm kiếm và xử lý thông tin, kỹ năng tư duy sáng tạo, kỹ năng
ra quyết định, kỹ năng kiên định, kỹ năng ứng phó với căng thẳng…
Phương pháp nghiên cứu tình huống (hay phương pháp nghiên cứu các trường hợp điển hình): nghiên cứu tình huống thường là một câu chuyện được
viết nhằm tạo ra một tình huống “thật” để minh chứng một vấn đề hay nhiều vấn
đề Đôi khi nghiên cứu tình huống có thể được thực hiện trên video hay mộtbăng cát - sét mà không phải trên dạng chữ viết Vì tình huống này được nêu lênnhằm phản ánh tính đa dạng của cuộc sống thực, nó phải tương đối phức tạp, vớicác dạng nhân vật và những tình huống khác nhau chứ không phải là một câuchuyện đơn giản
Tình huống sử dụng trong dạy học môn GDCD có thể dài hay ngắn, tuỳvào nội dung; tình huống đó phải được kết thúc bằng một loạt các vấn đề hoặccâu hỏi như: bạn nghĩ điều gì sẽ xảy ra tiếp theo?, bạn sẽ làm gì nếu bạn là nhânvật A?, nhân vật B?, vấn đề này có thể đã được ngăn chặn như thế nào? lúc này
Trang 36cần phải làm gì để hạn chế tính trầm trọng của vấn đề? Việc trả lời các câu hỏinày sẽ là nền tảng để khái quát một tình huống rộng hơn.
Sử dụng phương pháp nghiên cứu tình huống (hay phương pháp nghiên
cứu các trường hợp điển hình) trong dạy học môn GDCD sẽ giúp học sinh rèn
luyện kỹ năng đánh giá và giải quyết vấn đề, kỹ năng xác định giá trị, kỹ năng kiểm soát cảm xúc, kỹ năng tìm kiếm sự hỗ trợ, kỹ năng thể hiện sự cảm thông,
kỹ năng tư duy phê phán…
Tóm lại, vấn đề giáo dục KNS cho học sinh thông qua việc dạy học mônGDCD trong nhà trường THPT ở nước ta hiện nay đã góp phần không nhỏ trongviệc hình thành và phát triển năng lực cho học sinh Quá trình giáo dục đó phảituân thủ những nguyên tắc và dựa trên các phương pháp dạy học mới theo quanđiểm “lấy học sinh làm trung tâm”
1.1.4 Tầm quan trọng của việc giáo dục kỹ năng sống cho học sinh Trung học phổ thông
KNS là những nhịp cầu giúp con người biến kiến thức thành thái độ, hành
vi và thói quen tích cực, lành mạnh Người có KNS sẽ luôn vững vàng trướcnhững khó khăn, thử thách; biết ứng xử, giải quyết vấn đề một cách tích cực vàphù hợp; họ thường thành công hơn trong cuộc sống, luôn yêu đời và làm chủcuộc sống của mình Ngược lại, người thiếu KNS thường bị vấp ngã, dễ bị thấtbại trong cuộc sống Không những thúc đẩy sự phát triển cá nhân, KNS còn gópphần thúc đẩy sự phát triển của xã hội, giúp ngăn ngừa các vấn đề xã hội và bảo
vệ quyền con người
- Giáo dục kỹ năng sống thúc đẩy sự phát triển cá nhân và xã hội
Giáo dục KNS chính là định hướng cho các em học sinh những hành vi,thái độ sống tích cực ở xã hội hiện đại trong ba mối quan hệ cơ bản: con ngườivới chính mình; con người với tự nhiên; con người với các mối quan hệ xã hội
Trong quan hệ với chính mình, giáo dục KNS giúp học sinh biết gieonhững kiến thức vào thực tế để gặt hái những hành động cụ thể và biến hành động
Trang 37thành thói quen, rồi lại gieo những thói quen tích cực để tạo ra số phận cho mình.Trong quan hệ với gia đình, giáo dục KNS giúp học sinh biết kính trọng ông bà,hiếu thảo với cha mẹ; quan tâm, động viên, an ủi, chăm sóc những người thântrong gia đình khi ốm đau… Trong quan hệ với xã hội, giáo dục KNS giúp họcsinh biết cách ứng xử thân thiện với môi trường tự nhiên, với cộng đồng như có ýthức giữ gìn trật tự an toàn giao thông; giữ vệ sinh đường làng, ngõ phố; bảo vệmôi trường thiên nhiên… Từ đó, góp phần làm cho môi trường sống trong sạch,lành mạnh, bớt đi những tệ nạn xã hội, những bệnh tật do sự thiếu hiểu biết củachính con người gây nên; góp phần thúc đẩy những hành vi mang tính xã hội tíchcực để hài hoà mối quan hệ giữa nhu cầu - quyền lợi - nghĩa vụ trong cộng đồng.
Nắm được KNS, các em sẽ biết chuyển dịch kiến thức - “cái mình biết”
và thái độ, giá trị - “cái mình nghĩ, cảm thấy, tin tưởng” thành những hành động
cụ thể trong thực tế - “làm gì và làm cách nào” là tích cực và mang tính chất xâydựng Những điều đó sẽ giúp các em dần thích ứng với sự phát triển ngày càngcao của xã hội để vững vàng, tự tin bước tới tương lai; đóng góp công sức vào
sự nghiệp xây dựng và phát triển quê hương, đất nước
- Giáo dục kỹ năng sống là yêu cầu cấp thiết đối với thế hệ trẻ
Thế hệ trẻ chính là những chủ nhân tương lai của đất nước, là những ngườiquyết định sự phát triển của đất nước Nếu không có KNS các em sẽ không thểthực hiện tốt trách nhiệm đối với bản thân, gia đình, cộng đồng và xã hội Lứa tuổihọc sinh THPT là lứa tuổi đang hình thành những giá trị nhân cách, giàu ước mơ,ham hiểu biết, thích tìm tòi, khám phá song các em còn thiếu hiểu biết sâu sắc về
xã hội, thiếu kinh nghiệm sống nên dễ bị lôi kéo, kích động…
Đặc biệt, trong bối cảnh hội nhập quốc tế và cơ chế thị trường hiện nay,thế hệ trẻ thường xuyên chịu sự tác động đan xen của những yếu tố tích cực vàtiêu cực, luôn bị đặt vào hoàn cảnh phải lựa chọn những giá trị, phải đương đầuvới những khó khăn, thách thức, những áp lực tiêu cực của cuộc sống Nếu
Trang 38không được giáo dục KNS, nếu thiếu KNS các em sẽ dễ bị lôi kéo vào các hành
vi tiêu cực, lối sống ích kỉ, dễ phát triển lệch lạc về nhân cách…
Có thể đưa ra các lợi ích của việc giáo dục KNS cho học sinh như :
Về mặt sức khỏe: xây dựng hành vi lành mạnh tạo khả năng bảo vệ sứckhỏe cho mình và cho mọi người trong cộng đồng
Về mặt giáo dục: xây dựng mối quan hệ thân thiện, cởi mở giữa thầy trò,
sự hứng thú tự tin, chủ động sáng tạo học tập của học sinh, tăng cường sự thamgia của học sinh, nâng cao hiệu quả giáo dục
Về mặt văn hóa - xã hội: thúc đẩy hành vi mang tính xã hội, giảm bớt tỉ lệphạm pháp trong thanh thiếu niên, giảm tỉ lệ nghiện ma túy và bị lạm dụng tìnhdục ở tuổi vị thành niên
Về mặt chính trị: giải quyết một cách tích cực nhu cầu về quyền của trẻ em.Các em xác định được bổn phận và nghĩa vụ của mình đối với bản thân, gia đình và
xã hội
Vì vậy, việc giáo dục KNS cho thế hệ trẻ là rất cần thiết, giúp các em rènluyện hành vi có đạo đức, có trách nhiệm với bản thân, gia đình, nhà trường,cộng đồng, xã hội; giúp các em có khả năng ứng phó tích cực trước những tìnhhuống của cuộc sống, xây dựng mối quan hệ tốt đẹp với mọi người, sống tíchcực, chủ động, an toàn và lành mạnh
- Giáo dục kỹ năng sống nhằm thực hiện yêu cầu đổi mới giáo dục phổ
Trang 39Như vậy, mục tiêu giáo dục đã chuyển từ mục tiêu cung cấp kiến thứccho học sinh là chủ yếu sang hình thành những năng lực cần thiết cho các em,phát huy tiềm năng, khả năng sáng tạo của mỗi cá nhân Cụ thể, đối với bậcTHPT Nghị quyết số 29-NQ/TW cũng chỉ rõ “Đối với giáo dục phổ thông, tậptrung phát triển trí tuệ, thể chất, hình thành phẩm chất, năng lực công dân, pháthiện và bồi dưỡng năng khiếu, định hướng nghề nghiệp cho học sinh Nâng caochất lượng giáo dục toàn diện, chú trọng giáo dục lý tưởng, truyền thống, đạođức, lối sống, ngoại ngữ, tin học, năng lực và kỹ năng thực hành, vận dụngkiến thức vào thực tiễn Phát triển khả năng sáng tạo, tự học, khuyến khích họctập suốt đời” [22; 3-4].
Hiện nay, việc giáo dục hình thành nhân cách cho HS nói chung và giáodục KNS nói riêng ngày càng trở nên quan trọng và cấp thiết Giáo dục KNScho học sinh trong các nhà trường THPT đang là xu thế chung của nhiều nướctrên thế giới Có hơn 155 nước trên thế giới quan tâm đến việc đưa KNS vào nhàtrường trong đó có 143 nước đã đưa vào chương trình chính khóa ở Tiểu học vàTrung học dưới nhiều hình thức khác nhau như KNS được tích hợp vào một vàimôn học chính, KNS được tích hợp vào nhiều hoặc tất cả các môn học trongchương trình
Riêng ở nước ta, thuật ngữ kỹ năng sống (KNS) bắt đầu xuất hiện trongcác nhà trường phổ thông Việt Nam từ những năm 1995 - 1996, thông qua dự
án “Giáo dục KNS để bảo vệ sức khỏe và phòng chống HIV/AIDS cho thanh
niên trong và ngoài nhà trường” do Quỹ nhi đồng Liên Hợp Quốc (UNICEF)
phối hợp với Bộ Giáo dục - Đào tạo cùng Hội chữ thập đỏ Việt Nam thực hiện
Từ đó đến nay đã có nhiều cơ quan, tổ chức trong nước và quốc tế đã tiến hànhgiáo dục KNS gắn với giáo dục và các vấn đề xã hội như phòng chống ma túy,phòng chống mại dâm, phòng chống buôn bán phụ nữ và trẻ em…
Giáo dục phổ thông ở nước ta trong những năm qua đã được đổi mới cả
về mục tiêu, nội dung và phương pháp dạy học (PPDH) gắn với bốn trụ cột giáo
Trang 40dục của thế kỷ XXI: “Học để biết, học để làm, học để tự khẳng định, học để
cùng chung sống” mà thực chất là một cách tiếp cận KNS Đặc biệt, rèn luyện
KNS cho học sinh đã được Bộ Giáo dục - Đào tạo xác định là một trong năm nội
dung của phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích
cực” trong các trường phổ thông giai đoạn 2008 - 2013
Với những ý nghĩa đặc biệt nêu trên, giáo dục KNS cho học sinh thôngqua các môn học, trong đó có môn GDCD ở nhà trường THPT trong giai đoạnhiện nay có tầm quan trọng đặc biệt và sẽ là nền tảng quan trọng để giáo dụctoàn diện con người mới - con người xã hội chủ nghĩa
1.2 Cơ sở thực tiễn của việc giáo dục kỹ năng sống cho học sinh thông qua dạy học môn Giáo dục công dân ở các trường Trung học phổ thông trên địa bàn huyện Đức Thọ, Tỉnh Hà Tĩnh
1.2.1 Khái quát về các trường Trung học phổ thông trên địa bàn huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh
- Trường THPT Trần Phú
Năm 1959, trong công cuộc xây dựng CNXH ở miền Bắc, đáp ứng nhu cầuhọc tập ngày càng tăng của nhân dân, trường cấp III Đức Thọ được thành lập.Năm 1964, thể theo nguyện vọng của Đảng bộ, nhân dân Đức Thọ, Nhà trườngvinh dự được mang tên đồng chí Trần Phú - Tổng Bí thư đầu tiên của Đảng
Hiện nay, Trường THPT Trần Phú có 40 lớp với 1772 học sinh, có 109 cán
bộ công nhân viên chia thành 11 tổ chuyên môn, 100% giáo viên đạt chuẩn, 12giáo viên đạt trên chuẩn và 1 giáo viên đang học cao học Tổ bộ môn Địa -GDCD được thành lập từ tháng 9/2006 (tách ra từ Tổ bộ môn Sử - Địa - GDCD),hiện nay tổ gồm có 9 giáo viên, trong đó có 2 giáo viên nam và 7 giáo viên nữ Từđầu năm học 2008 - 2009, trường THPT Trần Phú được UBND tỉnh Hà Tĩnhcông nhận là trường chuẩn quốc gia Năm học 2012 - 2013, trường THPT TrầnPhú xếp thứ nhất trong số 39 trường THPT hệ công lập không chuyên của tỉnh HàTĩnh về kết quả đào tạo, bồi dưỡng học sinh giỏi Trong năm học 2012 - 2013 có