1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Dạy học phần văn học lãng mạn việt nam 1930 - 1945 ở trường trung học phổ thông

149 1,9K 6

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 149
Dung lượng 0,97 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để chất lượng dạy học phần VHLM được nâng cao, trước hết phải nắm vững các khái niệm về chủ nghĩa lãng mạn, về đặc điểm các khuynh hướng và trào lưu trong văn học Việt Nam 1930-1945 như

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

******

LÊ THỊ NGỌC ANH

DẠY HỌC PHẦN VĂN HỌC LÃNG MẠN VIỆT NAM

1930- 1945

Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

NGHỆ AN, 5/2014

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Chuyên ngành : Lý luận và phương pháp dạy học bộ môn Ngữ

văn

Mã số : 60 14 01 11

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS ĐINH TRÍ DŨNG

Trang 4

Với tình cảm trân trọng và chân thành, tôi xin được bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc tới Trường Đại học Vinh, khoa Ngữ văn đã tạo điều kiện cho chúng tôi được tham gia học tập, nghiên cứu khoa học để nâng cao trình độ.

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới các giảng viên, các nhà khoa học

đã tận tình giảng dạy và giúp đỡ chúng tôi trong quá trình học tập cũng như trong nghiên cứu khoa học Đặc biệt tôi xin chân thành cảm ơn PGS.TS Đinh Trí Dũng, người thầy đã tận tâm giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn này

Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu và giáo viên tổ Văn trường THPT Trần Hưng Đạo, Quận Gò Vấp, thành phố Hồ Chí Minh; các bạn bè đồng nghiệp, người thân đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu hoàn thành khoá học và luận văn

Trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn tốt nghiệp, bản thân tôi

đã nỗ lực và cố gắng, song chắc chắn không thể tránh khỏi thiếu sót Vì vậy, rất mong nhận được ý kiến đóng góp quý báu của các nhà khoa học, các nhà giáo, bạn bè và đồng nghiệp để luận văn được hoàn thiện hơn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Nghệ An, tháng 5 năm 2014

Tác giả

Lê Thị Ngọc Anh

Trang 5

LỜI CẢM ƠN 4

MỤC LỤC 5

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 9

DANH MỤC CÁC BẢNG 10

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2

2.1 Các công trình nghiên cứu về đổi mới phương pháp dạy học văn 2

2.2 Các công trình nghiên cứu về văn học lãng mạn 3

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4

3.1 Đối tượng nghiên cứu 4

3.2 Phạm vi nghiên cứu 4

4 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 4

4.1 Mục đích 4

4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 4

5 Phương pháp nghiên cứu 4

5.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết 5

5.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn 5

6 Cấu trúc luận văn 5

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 6

1.1 Cơ sở lý luận 6

Trang 6

1.1.2 Những định hướng cơ bản của việc dạy học Ngữ văn hiện nay 10

1.1.3 Đặc trưng của môn Ngữ văn trong nhà trường phổ thông 16

1.1.4 Đặc trưng thẩm mỹ của các trào lưu, khuynh hướng văn học 18

1.2 Cơ sở thực tiễn 22

1.2.1 Chương trình phần VHLM Việt Nam 1930-1945 ở trường THPT 22 Bảng 1.1 Thống kê phần VHLM trong chương trình lớp 11 năm 2000 26

Bảng 1.2 Thống kê phần VHLM trong chương trình lớp 11hiện nay 27

1.2.2 Thuận lợi và khó khăn trong dạy học phần VHLM 1930-1945 30

1.2.3 Tình hình dạy học phần văn học lãng mạn Việt Nam 1930-1945 trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh 32

b.Về hạn chế: 35

Tiểu kết chương 1 36

Trong chương trình Ngữ vănTHPT, phần VHLM Việt Nam 1930-1945 có một vị trí và ý nghĩa rất quan trọng Vì thế làm thế nào để dạy học phần VHLM có hiệu quả là niềm trăn trở đối với nhiều giáo viên dạy Ngữ văn có tâm huyết và yêu nghề Để chất lượng dạy học phần VHLM được nâng cao, trước hết phải nắm vững các khái niệm về chủ nghĩa lãng mạn, về đặc điểm các khuynh hướng và trào lưu trong văn học Việt Nam 1930-1945 như trào lưu lãng mạn, trào lưu hiện thực, trào lưu cách mạng Dạy học VHLM cũng phải gắn với đặc trưng môn Ngữ văn trong nhà trường phổ thông; với những phương pháp, biện pháp phù hợp cho từng thể loại, từng tác giả, tác phẩm Trong bối cảnh giáo dục đang tiến hành một cuộc đổi mới căn bản và toàn diện như hiện nay, chất lượng dạy học

Trang 7

giáo viên phải hiểu rõ bản chất của việc đổi mới phương pháp dạy học văn, tiếp nhận những tri thức mới về dạy học hiện đại và đặt nó trong

những hoàn cảnh cụ thể .36

Chương 2 ĐỊNH HƯỚNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC PHẦN VĂN HỌC LÃNG MẠN VIỆT NAM 1930-1945 Ở TRƯỜNG THPT 37

2.1.1 Bám sát đặc trưng thẩm mỹ, thi pháp của trào lưu VHLM 37

2.1.2 Nhận thức được tính đa dạng, phong phú trong phong cách các nhà văn lãng mạn 38

2.1.3 Tôn trọng đặc trưng thể loại của từng tác phẩm VHLM 39

Bảng 2.1 Thống kê các thể loại VHLM được giảng dạy trong chương trình THPT 42

2.2 Những nội dung cần dạy học ở phần VHLM 43

2.2.1 Tri thức chung về trào lưu văn học lãng mạn 43

2.2.2 Tri thức về tác giả văn học lãng mạn 48

2.2.3 Tri thức về thể loại 53

2.2.4 Tri thức về tác phẩm 57

2.3 Phương pháp dạy học phần văn học lãng mạn 60

2.3.1 Phương pháp đọc diễn cảm 60

2.3.2 Phương pháp giảng bình 63

2.3.3 Phương pháp nêu vấn đề 66

2.3.4 Phương pháp gợi mở 69

Trang 8

Chương 3

THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 77

3.1 Mục đích, yêu cầu, nội dung và cách thức thực nghiệm 77

3.1.1 Mục đích thực nghiệm 77

3.1.2 Yêu cầu thực nghiệm 77

3.1.3 Nội dung thực nghiệm 77

3.1.4 Cách thức thực nghiệm 77

3.2.Tổ chức thực nghiệm 78

3.2.1 Chọn lớp thực nghiệm và lớp đối chứng 78

3.2.2 Giáo án thực nghiệm 78

3.2.3 Dạy thực nghiệm và dạy đối chứng 109

3.3 Đánh giá thực nghiệm 110

3.3.1 Nhận xét quá trình học tập của lớp thực nghiệm 110

3.3.2.Kết quả học tập của lớp thực nghiệm 112

Bảng 3.1 Kết quả trả lời trắc nghiệm – Hai đứa trẻ 112

3.3.3.Đề xuất, kiến nghị 116

KẾT LUẬN 119

TÀI LIỆU THAM KHẢO 122

PHỤ LỤC 1

Trang 10

LỜI CẢM ƠN 4

MỤC LỤC 5

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 9

DANH MỤC CÁC BẢNG 10

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 6

Bảng 1.1 Thống kê phần VHLM trong chương trình lớp 11 năm 2000 26

Bảng 1.2 Thống kê phần VHLM trong chương trình lớp 11hiện nay 27

Chương 2 ĐỊNH HƯỚNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC PHẦN VĂN HỌC LÃNG MẠN VIỆT NAM 1930-1945 Ở TRƯỜNG THPT 37

Bảng 2.1 Thống kê các thể loại VHLM được giảng dạy trong chương trình THPT 42

CNLM Chủ nghĩa lãng mạn

PPDH Phương pháp dạy học SGK Sách giáo khoa

THPT Trung học phổ thông

VHHT Văn học hiện thực VHLM Văn học lãng mạn

Trang 11

THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 77

KẾT LUẬN 119

TÀI LIỆU THAM KHẢO 122

PHỤ LỤC 1

Trang 12

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Để đáp ứng đòi hỏi của cuộc sống, giáo dục nước ta phải đổi mới căn bản và toàn diện từ trường phổ thông đến các trường Đại học nhằm đáp ứng tốt nhất nhu cầu chiếm lĩnh tri thức và rèn luyện của người học trong thời đại mới Đổi mới phương pháp dạy học Văn cũng không nằm ngoài mục đích trên Ngữ văn là một môn học có thế mạnh khơi gợi những rung cảm, những cảm xúc thẩm mỹ ở các em học sinh Vì thế môn Ngữ văn còn góp phần hoàn thiện nhân cách và hình thành đời sống tâm hồn phong phú cho các em học sinh

Các tác phẩm văn học theo khuynh hướng lãng mạn giai đoạn 1930-1945 được đưa vào giảng dạy trong nhà trường đều là những tác phẩm xuất sắc của nền văn học nước nhà Nhưng chính cái hay của tác phẩm cũng tạo nên những khó khăn cho người dạy Nếu không có cách tổ chức học tập tốt, người giáo viên sẽ làm mất đi vẻ đẹp vốn có của tác phẩm nghệ thuật mà nhà văn công phu sáng tạo

Là một giáo viên trực tiếp giảng dạy ở trường phổ thông 13 năm, tôi đã trải qua giai đoạn giao thời giữa những phương pháp giảng dạy truyền thống

và đổi mới phương pháp dạy học Tôi đã có nhiều cố gắng, nỗ lực trong quá trình đổi mới phương pháp giảng dạy Văn nói chung và giảng dạy văn học lãng mạn nói riêng song chưa thật hài lòng và thoả mãn Tôi mong muốn các tiết dạy văn học lãng mạn của mình phải tốt hơn nữa, xứng đáng với giá trị của mỗi tác phẩm Niềm mong mỏi tưởng chừng như đơn giản nhưng thực sự

là bài toán khó đối với tôi

Vì vậy, chúng tôi quyết định chọn đề tài Dạy học phần văn học lãng mạn Việt Nam 1930-1945 ở trường THPT làm đề tài cho luận văn thạc sĩ của

mình Chúng tôi hy vọng công trình nghiên cứu này sẽ phần nào giúp giáo viên dạy ngữ văn trong trường THPT nâng cao chất lượng dạy học môn Ngữ văn nói chung và phần văn học lãng mạn nói riêng

Trang 13

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

2.1 Các công trình nghiên cứu về đổi mới phương pháp dạy học văn

Có nhiều bài viết nghiên cứu bản chất các phạm trù lý luận tiếp nhận văn học, lý luận dạy học, đổi mới phương pháp dạy học Các công trình nghiên cứu này đã đưa ra nhiều vấn đề có ý nghĩa quan trọng giúp giáo viên dạy Ngữ văn trang bị đầy đủ, vững vàng nhiều vấn đề về lý luận và đổi mới phương

pháp dạy học để có thể bắt kịp với xu thế dạy học hiện đại Trong cuốn Văn học giáo dục thế kỷ XXI, Phan Trọng Luận đã thể hiện cái nhìn bao quát về

yêu cầu bức thiết của việc đổi mới phương pháp giảng dạy của giáo dục Việt Nam: “Bước vào thế kỷ XXI, bài toán về phương pháp đào tạo và phương pháp dạy học cần được tiến hành như một cuộc cách mạng trong giáo dục”

Cũng trên tinh thần ấy, trong bài viết Đổi mới phương pháp dạy học Ngữ văn,

Trần Đình Sử đã có cái nhìn khách quan, sâu sắc về thực trạng của dạy học văn hiện nay; đồng thời đưa ra những giải pháp khoa học nhằm khắc phục những hạn chế trong phương pháp dạy học văn Các tác phẩm về phương pháp dạy học văn do Phan Trọng Luận chủ biên, các công trình nghiên cứu

của các nhà khoa học như Đổi mới phương pháp dạy học Văn – Tiếng Việt ở trường phổ thông của Nguyễn Trí - Nguyễn Trọng Hoàn, phương pháp dạy

học tác phẩm văn chương trong nhà trường của Nguyễn Viết Chữ…đã cung cấp cho giáo viên những kiến thức lý luận và phương pháp giảng dạy văn học

cơ bản Bên cạnh đó, những năm gần đây cùng với việc đổi mới quan niệm, cấu trúc chương trình, nội dung chương trình và sách giáo khoa, phương pháp dạy học Ngữ văn trong nhà trường, khái niệm đọc hiểu được đưa vào giảng dạy và nghiên cứu Có nhiều công trình nghiên cứu về dạy học đọc hiểu văn học trong nhà trường có ý nghĩa quan trọng đối với đổi mới phương pháp dạy học văn Điển hình là Trần Đình Sử, ông coi dạy đọc hiểu là một khâu đột phá

trong đổi mới phương pháp dạy học văn Các cuốn sách Kĩ năng đọc hiểu văn của Nguyễn Thanh Hùng, Đọc hiểu và chiến thuật đọc hiểu văn bản trong nhà trường phổ thông của Phạm Thị Thu Hương, các bài viết của Đỗ Ngọc

Thống, Phan Huy Dũng, Phạm Thị Thu Hiền… ngày càng bàn sâu, bàn kỹ về

Trang 14

dạy đọc hiểu văn bản; giúp giáo viên không chỉ tiếp cận với khái niệm mà hiểu rõ bản chất của đọc hiểu, từ đó có thể ứng dụng vào thực tiễn dạy học văn.

2.2 Các công trình nghiên cứu về văn học lãng mạn

Trào lưu văn học lãng mạn nói chung và các tác phẩm văn học lãng mạn trong nhà trường nói riêng là một khách thể nghiên cứu của nhiều nhà khoa học, nhà giáo Ngay từ khi mới ra đời văn học lãng mạn đã có nhiều công

trình nghiên cứu có giá trị như Thi nhân Việt Nam của Hoài Thanh - Hoài Chân, Nhà văn hiện đại của Vũ Ngọc Phan…Hơn 80 năm qua, công trình

nghiên cứu về trào lưu văn học này ngày càng nhiều Nhắc đến tác giả những công trình nghiên cứu ấy không thể không nói tới những tên tuổi như Phan

Cự Đệ, Nguyễn Đăng Mạnh, Văn Tâm, Hà Văn Đức…Trong đó phải kể đến

Văn học lãng mạn Việt Nam của Phan Cự Đệ, tác giả đã có cái nhìn bao quát

về văn học lãng mạn Việt Nam 1930-1945 Kể từ khi ra đời đến nay(1981) đã hơn 30 năm nhưng nó vẫn còn nguyên vẹn ý nghĩa lý luận và thực tiễn đối với giáo viên Ngữ văn

Ngoài ra còn có các công trình nghiên cứu và tài liệu viết về việc dạy văn học lãng mạn Việt Nam 1930-1945 ở trường phổ thông Điển hình là

công trình Giảng văn văn học lãng mạn 1930-1945 của tác giả Văn Tâm

Công trình khá đầy đặn, sâu sắc và toàn diện về văn học lãng mạn Việt Nam 1930-1945, góp phần to lớn cho giáo viên và học sinh dạy và học VHLM một cách hiệu quả Dạy học VHLM Việt Nam cũng được các nhà khoa học, nhà giáo quan tâm sâu sắc thể hiện qua số lượng không nhỏ các bài viết trong

Sách giáo viên lớp 11, sách Thiết kế bài dạy lớp 11 hoặc các tài liệu Bồi dưỡng giáo viên Trong đó phải kể đến cuốn Giảng văn văn học Việt Nam của nhóm tác giả Nguyễn Đăng Mạnh – Trần Đăng Suyền…Trên các Tạp chí văn học , tạp chí Văn học & tuổi trẻ cũng xuất hiện không ít những bài viết về các

tác phẩm văn học lãng mạn trong nhà trường Ngoài ra còn có các bài viết xuất hiện gần đây của các tác giả Đinh Trí Dũng, Phan Huy Dũng, Chu Văn Sơn, Lê Quang Hưng…

Trang 15

Từ những vấn đề đã nghiên cứu, công trình của chúng tôi mong muốn tiếp tục mang tới đến một góc nhìn mới tiếp nối những công trình nghiên cứu trước đây, góp phần vào việc nâng cao chất lượng giảng dạy môn văn nói chung, phần văn học lãng mạn nói riêng trong trường phổ thông.

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Thực hiện đề tài này, luận văn hướng đối tượng chủ yếu là thực trạng, nội dung và phương pháp nâng cao chất lượng việc dạy học văn học lãng mạn Việt Nam 1930-1945 ở trường THPT

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Đề tài Dạy học phần văn học lãng mạn Việt Nam 1930-1945 ở trường

THPT sẽ được triển khai và nghiên cứu trong phạm vi sau đây:

- Chương trình, sách giáo khoa THPT, thực trạng, chất lượng và cách thức nâng cao chất lượng dạy học phần VHLM ở trường THPT

- Địa bàn khảo sát chủ yếu là một số lớp 11 của các trường THPT trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh

4 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

4.1 Mục đích

Thực hiện đề tài này luận văn hướng đến mục đích sau: Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực nghiệm sư phạm, Luận văn đề xuất một số nội dung, phương pháp nhằm nâng cao chất lượng dạy học phần văn học lãng mạn Việt Nam 1930-1945 ở trường THPT

4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn của việc nâng cao chất lượng việc dạy học phần văn học lãng mạn 1930-1945 trong trường THPT

Nghiên cứu, đề xuất những nội dung và phương pháp dạy học phần văn học lãng mạn 1930-1945 trong trường THPT

Thực nghiệm sư phạm

5 Phương pháp nghiên cứu

Trang 16

Trong quá trình thực hiện luận văn, chúng tôi sử dụng chủ yếu các phương pháp sau:

5.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết

- Nghiên cứu lý thuyết dạy học văn, dạy đọc hiểu văn bản, tổ chức các hoạt động dạy học… làm cơ sở lý luận cho đề tài nghiên cứu

- Nghiên cứu tài liệu về dạy, học phần văn học lãng mạn

5.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

- Phương pháp quan sát, thu thập thông tin về thực tế dạy học phần văn học lãng mạn hiện nay ở một số trường THPT tại thành phố Hồ Chí Minh

- Phương pháp điều tra: Điều tra qua phiếu, phân tích, xử lý tư liệu, phỏng vấn trực tiếp…

6 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Phụ lục và Tài liệu tham khảo, nội dung chính của Luận văn được triển khai trong 3 chương:

Chương 1 Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài

Chương 2 Định hướng, nội dung và phương pháp dạy học phần văn học lãng mạn Việt Nam 1930-1945 ở trường THPT

Chương 3 Thực nghiệm sư phạm

Trang 18

thoát khỏi thực tại bằng mộng tưởng và bằng sự đắm mình vào đời sống nội tâm tràn đầy tình cảm, cảm xúc” [23] Theo PGS.TS Đinh Trí Dũng: “ Có

một thời kỳ, người ta thường đối lập giả tạo giữa chủ nghĩa hiện thực và chủ nghĩa lãng mạn Chủ nghĩa hiện thực thường được hiểu là sự bám sát thực tế

(kể cả kiểu sao chép) do đó có giá trị, còn chủ nghĩa lãng mạn là sự chạy trốn thực tại do đó bi quan, yếm thế, tiêu cực Hiểu như thế là máy móc Thực ra chủ nghĩa lãng mạn là một trào lưu văn học lớn và hết sức phức tạp, phát triển mạnh mẽ ở phương Tây vào thế kỷ XVIII, XIX Nó vừa là một trào lưu, một phương pháp sáng tác, vừa là một khuynh hướng thẩm mỹ không thể thiếu

của con người Đó là khuynh hướng thẩm mỹ lấy việc khẳng định cái tôi cá

nhân cá thể làm nguồn cảm hứng chủ đạo Một cái tôi không thỏa mãn với thực tại, tìm cách tự giải thoát khỏi thực tại bằng mộng tưởng và bằng sự đắm mình vào đời sông nội tâm tràn đầy tình cảm, cảm xúc Chủ nghĩa lãng mạn

vì thế đề cao trái tim và tình cảm con người, giải phóng tình cảm khỏi sự ràng buộc lí trí Mỹ học của chủ nghĩa lãng mạn là mỹ học của cái độc đáo, phi thường, của những tính cách đứng cao hơn hoàn cảnh” [7 ]

Chủ nghĩa lãng mạn dễ có cảm hứng trước ba đề tài: thiên nhiên, tình yêu và tôn giáo Ba đề tài ấy giúp nó khơi những nguồn tình cảm đắm say và kích thích mạnh trí tưởng tượng Đối với chủ nghĩa lãng mạn, đau buồn, sầu não được coi là những tình cảm đẹp Vì thế nó thích những cảnh dông dài, trời rộng và hoang vắng, dễ gợi nỗi cô đơn, thích những đêm trăng lạnh, những buổi chiều tà, những trái tim tan vỡ vì tình yêu tuyệt vọng Chủ nghĩa lãng mạn với nội dung ấy tất dẫn đến việc sử dụng rộng rãi các thể văn trữ tình dù là tiểu thuyết, truyện ngắn hay bút ký, tùy bút, đặc biệt nó phát triển mạnh mẽ ở thơ trữ tình Cũng do nội dung ấy nên chủ nghĩa lãng mạn thiên hướng sáng tạo những hình tượng khác thường, có tính biệt lệ, sử dụng rộng rãi bút pháp đối lập để kích thích mạnh vào tình cảm, cảm xúc và trí tưởng tượng của người đọc: đối lập giữa ánh sáng và bóng tối, cái đẹp và cái thô kệch, cái cao cả và cái thấp hèn

Trang 19

Trên thế giới, chủ nghĩa lãng mạn ra đời sớm nhất và phát triển rực

rỡ nhất là ở Pháp với hàng loạt những tên tuổi lớn như: Victor Hugo, Musset, Vigny, Gautier, Rimbaud, Mallarmé Thành tựu rực rỡ của văn học lãng mạn

đã mang đến một diện mạo mới, một giá trị mới cho văn học nhân loại

1.1.1.2 Chủ nghĩa lãng mạn trong văn học Việt Nam giai đoạn 1930-1945

Ở Việt Nam, chủ nghĩa lãng mạn đã có mầm mống từ cuối thế kỷ XIX với thơ, văn, từ khúc của Chu Mạnh Trinh, Dương Khuê, Đào Tấn…Đến đầu thế kỷ XX, chủ nghĩa lãng mạn thể hiện đầy đủ đặc trưng của nó trong thơ Tản Đà và văn Hoàng Ngọc Phách Trước đó, tuy có một số sáng tác nhỏ mang tính lãng mạn nhưng còn tản mác, rời rạc, chưa tạo thành phong trào Từ năm 1931 đã có sự xuất hiện vài bài thơ lãng mạn của Lan Sơn, Lưu

Trọng Lư, Thế Lữ Tác phẩm lãng mạn xuất bản trước 1932 có tập thơ Khối tình con của Tản Đà , Linh Phượng ký của Đông Hồ và hai quyển gây được ảnh hưởng một thời gian là Tố Tâm của Song An Hoàng Ngọc Phách và Giọt

lệ thu của Tương Phố Nhưng phải chờ tới khi Nhất Linh xuất hiện cùng với

sự ra đời của nhóm Tự lực văn đoàn hô hào thay cũ đổi mới và dấy lên phong trào thơ mới thì trào lưu văn chương lãng mạn mới thực sự có mặt trong dòng

văn học Việt Nam Hai tờ báo Phong hóa và Phụ nữ tân văn đã góp công

không nhỏ vào việc giúp cho phong trào thơ mới nở rộ bằng những bài thơ lãng mạn của các nhà thơ không cộng tác với nhóm Tự lực văn đoàn

Trên thế giới cũng như ở Việt Nam, có lẽ văn học lãng mạn là hiện tượng phức tạp nhất trong các trào lưu văn học Văn học lãng mạn Việt Nam 1930-1945 ra đời mà không hề biết đến một cuộc cách mạng tư sản hay chủ

nghĩa xã hội không tưởng VHLM Việt Nam ra đời sau chủ nghĩa lãng mạn

thế giới một thế kỷ đã thu nạp tất cả những vấn đề tích cực và tiêu cực của các

trào lưu, cơ sở xã hội khác nhau: Sau ngày17 tháng 6 năm 1930, Nguyễn Thái

Học và 12 yếu nhân của Việt Nam Quốc dân đảng lên đoạn đầu đài ở Yên Bái, Pháp đẩy mạnh việc đàn áp, khủng bố, bắt bớ, tù đày các nhà ái quốc nhằm dập tắt các cuộc khởi nghĩa từ trong trứng nước để củng cố nền đô hộ

Trang 20

Các phong trào tạm thời lắng xuống, các tổ chức ái quốc bị dao động mạnh buộc phải tạm ngưng các hoạt động rút vào bóng tối nhằm bảo toàn tổ chức

và nhân sự Cuộc khủng bố qui mô toàn quốc những năm 30 đã gây một không khí hoang mang, lo sợ trong tầng lớp thanh niên và trí thức Đây là thời

kỳ thoái trào của các hoạt động cách mạng chống Pháp dành độc lập Cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới 1929-1933 từ Pháp tràn về Đông Dương thuộc địa như một thiên tai khiến cuộc sống xã hội trở nên khó khăn Hàng hoá rẻ mạt nhưng lại không kiếm ra tiền, các xí nghiệp kinh doanh thi nhau phá sản,

sa thải nhân công Ngân quĩ nhà nước bảo hộ thất thu không đủ khả năng tuyển dụng thêm công chức, nạn trí thức thất nghiệp là mối lo âu chung của những người được Pháp đào tạo.Trộm cướp, thuốc phiện, bài bạc, đĩ điếm trở thành những vấn đề nan giải Cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới càng tăng thêm bi quan cho không khí u ám, buồn thảm vốn đang căng thẳng, ngột ngạt Trong khung cảnh đó những người trí thức ấp ủ tinh thần dân tộc mang tâm trạng tiêu cực muốn thoát ly khỏi những vấn đề bức xúc của cuộc tranh đấu dành độc lập Họ có thái độ chán nản, xa lánh chính trị Thái độ này được củng cố trên cơ sở mối bất hòa tuyệt vọng giữa họ và hoàn cảnh xã hội đương thời Sự ra đời của trào lưu văn chương lãng mạn giải quyết được bế tắc, đáp ứng được nhu cầu cho giới trí thức trong bối cảnh xã hội bi quan đó Chủ nghĩa lãng mạn đề cao tự do cá nhân đã đáp ứng được khát vọng giải phóng bản ngã, khát vọng tự do yêu đương cho hạnh phúc và quyền sống cá nhân Điều này giải thích được quan điểm mỹ học nghệ thuật vị nghệ thuật của những người trong trào lưu văn chương lãng mạn thuộc giai đoạn 1932-1945 của văn học Việt Nam

Trong văn học 1930-1945, so với trào lưu hiện thực, trào lưu lãng mạn chịu đựng sóng gió dư luận nhiều hơn và nhiều lúc bị đánh giá khá bất công

Tuy vậy, VHLM Việt Nam 1930-1945 đã phát triển rất mạnh mẽ, đạt nhiều thành tựu Từ năm 1932 đến năm 1935 đã nổ ra hàng loạt các cuộc

tranh luận văn học sôi nổi được tham gia của nhiều tờ báo và các nhà văn, nhà thơ như: tranh luận về thơ mới thơ cũ, bỏ cũ theo mới, hôn nhân và gia đình,

Trang 21

tranh luận về nghệ thuật phục vụ cái gì…Các cuộc tranh luận này phản ảnh cuộc đấu tranh giữa lễ giáo phong kiến với tự do cá nhân, giữa khuôn sáo và

tư tưởng gò bó với cảm xúc cá nhân được tự do bày tỏ Hai tờ Phong hóa và Ngày nay do Nhất Linh và nhóm Tự lực văn đoàn chủ trương là cơ quan ngôn

luận cổ vũ mạnh mẽ cho sự thay cũ đổi mới Đây cũng là nơi qui tụ văn chương của các nhà văn, nhà thơ trong trào lưu VHLM như Nhất Linh, Khái Hưng, Thế Lữ, Huy Cận, Thạch Lam…Sự thành công của trào lưu văn

chương lãng mạn cũng phải kể đến các tờ Hà Nội báo, Tiểu thuyết thứ bảy, Phổ thông Bán nguyệt san, Tao đàn, Thanh Nghị với sự tham gia của các tác

giả như Lưu Trọng Lư, Chế Lan Viên, Hàn Mặc Tử, Phạm Huy Thông, Bích Khê, Nguyễn Tuân, Vũ Hoàng Chương, Nguyễn Xuân Sanh… Sự toàn thắng của phong trào thơ mới cũng là tiếng trống khải hoàn cho trào lưu văn học

lãng mạn, chấm dứt hoàn toàn lối thơ văn cũ từ thời Đông Dương tạp chí và Nam Phong trở về trước.

1.1.2 Những định hướng cơ bản của việc dạy học Ngữ văn hiện nay

1.1.2.1 Dạy học Ngữ văn là một khoa học

đề ra, hệ thống những hành động, phương tiện cần thiết, quá trình làm biến đổi đối tượng, mục đích đạt được Khi sử dụng đúng phương pháp sẽ dẫn đến kết quả theo dự định Nếu mục đích không đạt được thì nghĩa là phương pháp không phù hợp với mục đích hoặc nó đã không được sử dụng đúng Bất kì phương pháp nào, dù là phương pháp nhận thức hay thực hành sản xuất để thực hiện có kết quả vào đối tượng nào đó thì cũng phải biết được tính chất của đối tượng, tiến trình biến đổi của nó dưới tác động của phương pháp đó

Trang 22

Phương pháp dạy học là cách thức hành động có trình tự, phối hợp tương tác với nhau của giáo viên và của học sinh nhằm đạt được mục đích dạy học Nói cách khác, phương pháp dạy học là hệ thống những hành động có chủ đích theo một trình tự nhất định của giáo viên nhằm tổ chức hoạt động nhận thức và thực hành của học sinh, đảm bảo cho họ lĩnh hội nội dung dạy học và chính vì vậy mà đạt được mục đích dạy học Phương pháp dạy học bao gồm

cả phương pháp dạy và phương pháp học, trong đó phương pháp dạy đóng vai trò chủ đạo, còn phương pháp học có tính chất độc lập tương đối, chịu sự chi phối của phương pháp dạy song nó cũng ảnh hưởng trở lại phương pháp dạy Trong phương pháp dạy học, chủ thể tác động - người thầy và đối tượng tác động của học chính là học sinh; còn học sinh lại là chủ thể tác động vào nội dung dạy học Vì vậy, người thầy phải nắm vững những quy luật khách quan chi phối tác động của mình vào học sinh và nội dung dạy học thì mới đề ra những phương pháp tác động phù hợp.Từ đó có thể thấy đặc trưng của phương pháp dạy học: người học là đối tượng tác động của giáo viên, đồng thời là chủ thể, là nhân cách mà hoạt động của họ phụ thuộc vào hứng thú, nhu cầu của họ Cấu trúc của phương pháp dạy học trước tiên là mục đích của người giáo viên đề ra và tiến hành một hệ thống hành động với những phương tiện mà họ có Dưới tác động đó của người giáo viên, người học đề ra mục đích của mình và thực hiện hệ thống hành động với phương tiện mà họ có nhằm lĩnh hội nội dung dạy học

b Phương pháp dạy học Văn

Với tư cách là một khoa học ở Việt Nam, phương pháp dạy học Văn mới chỉ xuất hiện và phát triển khoảng năm mươi năm trở lại đây Phương pháp dạy học Văn là một khoa học nghiên cứu những đặc điểm và quy luật của quá trình dạy học văn trong nhà trường Quá trình này bao gồm quá trình dạy của giáo viên và học của học sinh Đây cũng là quá trình phức tạp bao gồm quá trình ngôn ngữ, văn học, tâm lí sư phạm Ba yếu tố tạo thành hoạt động dạy học văn là giáo viên, học sinh và bài văn Có thể nói một cách đơn giản phương pháp dạy học văn phải giải đáp ba câu hỏi cơ bản: Môn văn là gì?

Trang 23

Dạy học văn để làm gì?( nhiệm vụ môn văn)Dạy học văn như thế nào?(nguyên tắc, phương pháp dạy học văn) Như vậy, phương pháp dạy học văn không chỉ quan tâm nghiên cứu các tác phẩm văn chương mà quan trọng hơn phải tìm hiểu dạy học văn để làm gì? Khoa học về phương pháp dạy học văn vừa phải đi sâu tìm hiểu bản chất của văn học, vừa phải khám phá sức mạnh tác động xã hội thẩm mỹ đến nhân cách học sinh Phương pháp dạy học văn phải dựa trên những nguyên tắc chung của lý luận dạy học:

Trước hết phải dạy học theo đặc trưng bộ môn Nói đến môn văn điều đầu tiên người ta quan tâm đến là tính chất văn, nghệ thuật ngôn từ, hình tượng nghệ thuật, cảm xúc thẩm mĩ…mà các môn khoa học khác không có được Bởi thế người thầy phải là những kỹ sư tâm hồn, là nghệ sĩ, là nhà khoa học Dạy học văn không thể theo công thức máy móc mà phải bám sát với đặc trưng của bộ môn Chỉ khi ấy mục đích của việc dạy học văn mới đạt mức cao nhất

Bên cạnh đó phải phát huy chủ thể trong quá trình dạy học văn Không

có sự vận động của chủ thể thì mọi hoạt động của giáo viên sẽ trở thành áp đặt Những năng lực chủ quan của học sinh có được phát huy thực sự thì việc chiếm lĩnh tri thức, việc thưởng thức tác phẩm, hứng thú học tập thực sự mới

có được và hiệu quả giảng dạy mới bền vững Nguyên tắc này đòi hỏi sự đổi mới hàng loạt vấn đề cơ bản từ cơ chế đến phương pháp, là đầu mối quyết định phương hướng giảng dạy của giáo viên và là con đường có triển vọng để nâng cao hiệu quả trong giảng dạy

Ngoài ra, dạy học văn phải gắn với đời sống bởi đối tượng phản ánh của văn chương là cuộc sống con người Văn chương dù có viết về vấn đề gì thì cũng là để phản ánh hiện thực đời sống, ước mơ, hoài bão, niềm vui, nỗi buồn của con người Trong mấy năm trở lại đây, nguyên tắc này ngày càng được quan tâm hơn Trong các đề kiểm tra đánh giá môn văn, người ra đề chú trọng nhiều hơn vào những kiểu đề , kiểu câu hỏi có tính chất gắn văn học với đời sống Để HS hoàn thành tốt các kiểu đề và câu hỏi trên đòi hỏi phải tuân thủ nguyên tắc dạy văn gắn với đời sống

Trang 24

Một nguyên tắc nữa mà giáo viên phải tuân thủ khi dạy học văn là phải liên kết bộ môn Ngày nay người ta thường gọi bằng khái niệm: dạy học tích hợp, dạy học liên môn Mỗi môn học có một ưu thế riêng, song không có một môn học nào có thể đảm đương được mọi nhiệm vụ và thỏa mãn đầy đủ các yêu cầu, nhiệm vụ đào tạo con người mới Do đó phải liên kết môn văn với các bộ môn khoa học xã hội khác để đạt được mục đích giáo dục và đào tạo

Đề án Đổi mới chương trình và Sách giáo khoa năm 2015 đặc biệt quan tâm

đến nguyên tắc liên kết bộ môn

Việc phát hiện các nguyên tắc, các quy luật của quá trình dạy học văn đã làm cho phương pháp dạy học văn thực sự trở thành một khoa học Vì vậy người giáo viên dạy văn không phải chỉ là người thực sự hiểu rõ mà còn phải

là người thực hiện một cách có hiệu quả những nguyên tắc ấy Có như thế thì mới đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao của quá trình đổi mới phương pháp dạy học nói chung và phương pháp dạy học văn nói riêng

1.1.2.2 Vấn đề đổi mới phương pháp dạy học văn

Ở Việt Nam, phương pháp dạy học môn văn trong nhà trường luôn được

xã hội quan tâm Nhiều ý kiến bàn bạc về về dạy học văn đã được đăng tải trên báo chí, trong các công trình nghiên cứu của cả những người trong và ngoài nghề từ những năm 70 thế kỷ trước Nhưng có thể khẳng định rằng, cho đến nay vẫn chưa có sự đồng thuận cao của những người đứng đầu về phương pháp dạy học văn

Từ năm 1973, Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã đặt ra vấn đề đổi mới dạy học văn trong trường phổ thông: “Hiện nay trong nhà trường phổ thông chúng

ta có hiện tượng dạy văn theo điệu “sáo”…nghĩa là cho học sinh học nhiều, yêu cầu học sinh nhớ nhiều để bắt chước và như vậy gọi là “làm văn” Học sinh học nhiều, nhớ nhiều là điều đáng khuyến khích nhưng không phải là điều chủ yếu Điều chủ yếu là dạy suy nghĩ, dạy sáng tạo…Dứt khoát chúng

ta đã có cách dạy khác, phải dạy cho học sinh biết suy nghĩ, suy nghĩ bằng trí

óc của mình và diễn tả suy nghĩ ấy của mình như thế nào cho tốt nhất…”( Tạp

chí Nghiên cứu giáo dục số 28, 1973) Kể từ đó, trong trường phổ thông bắt

Trang 25

đầu có dấu hiệu thay đổi phương pháp dạy học văn theo hướng nói trên Nhưng quá trình đổi mới diễn ra chậm chạp, không có những bước đột phá

Đầu thế kỷ XX, trong cuốn Chương trình giáo dục phổ thông – môn Ngữ văn

ban hành tháng 5/2006 có ghi rõ: “ …để thực hiện tư tưởng dạy học tập trung vào người học, phát huy tính tích cực chủ động của học sinh trong học tập, chương trình coi trọng phương pháp tổ chức học tập phù hợp với đặc trưng bộ môn với độ tuổi học sinh…Ở THPT…hoạt động học tập mang tính nghiên cứu bước đầu được vận dụng nhằm phát triển năng lực tự học và tư duy sáng tạo của học sinh…”[49] Như vậy đổi mới phương pháp dạy học văn thực sự

đã trở thành một yêu cầu tất yếu gắn với đổi mới về giáo dục

Tuy nhiên đổi mới phương pháp dạy dạy học văn như thế nào chưa bao giờ là một câu hỏi dễ dàng Thậm chí nó còn gây ra nhiều cuộc tranh cãi về quan điểm Nhà giáo Phạm Toàn – một nhà giáo có nhiều tâm huyết với việc đổi mới dạy học văn đã cho rằng: “Môn Ngữ văn đang bị dạy sai vì người chủ biên bộ sách Ngữ văn THPT nâng cao đã có sự nhầm lẫn, “đọc hiểu” là một khái niệm dùng cho học ngôn ngữ Còn học văn chính là một môn nghệ

thuật thì phải là “đọc cảm” mới đúng chứ ”(Báo Văn nghệ số 35 và 36, ngày

05/9/2009) Trái ngược với quan điểm trên, GS Trần Đình Sử lại cho rằng:

“Đọc hiểu văn bản - một khâu đột phá trong nội dung và phương pháp dạy học văn hiện nay” Quan điểm của ông đã mở ra một bước đột phá cho việc đổi mới phương pháp dạy học văn hiện nay Đọc hiểu trở thành bản chất của nội dung và phương pháp dạy học văn trong nhà trường phổ thông Dạy văn

là dạy cho học sinh năng lực đọc, kỹ năng đọc để học sinh có thể đọc hiểu bất

cứ văn bản nào cùng loại Từ đọc hiểu mà trực tiếp nhận các giá trị văn học, trực tiếp thể nghiệm các tư tưởng và cảm xúc được truyền đạt bằng nghệ thuật ngôn từ, hình thành cách đọc riêng có cá tính Đó là con đường duy nhất để bồi dưỡng cho học sinh năng lực của chủ thể tiếp nhận thẩm mỹ Do đó hiểu bản chất của môn văn là dạy đọc văn vừa thể hiện cách hiểu thực sự bản chất của văn học, vừa hiểu đúng thực chất việc dạy văn là dạy năng lực, phát triển năng lực là chủ thể của học sinh Gần đây đã diễn ra nhiều cuộc Hội thảo

Trang 26

khoa học bàn về đổi mới dạy học văn gắn với đọc hiểu Ngày 10/4/2014, tại

Hà Nội đã diễn ra Hội thảo về Đổi mới kiểm tra đánh giá chất lượng học tập môn Ngữ văn ở trường phổ thông Tại Hội thảo đã có nhiều ý kiến khác nhau

của các chuyên gia, các nhà giáo trong cả nước về việc đổi mới phương pháp dạy học văn, về kiểm tra đánh giá Đáng chú ý nhất là việc đổi mới ra đề thi tốt nghiệp THPT ở môn Ngữ văn Đọc hiểu trở thành một phần chính thức trong đề thi môn Ngữ văn Điều này có nghĩa là thừa nhận dạy học văn chính

là dạy đọc hiểu, xóa bỏ việc giáo viên dạy văn “đọc hộ”, “hiểu hộ”, “cảm thụ

hộ” cho HS bấy lâu nay

Tuy nhiên có nhiều ý kiến cho rằng, trong thực tế, phương pháp dạy học văn vẫn tồn tại nhiều hạn chế Người dạy văn thực sự chưa thoát khỏi hệ thống những phương pháp cũ, lạc hậu thống trị nhiều năm; đồng thời còn dè dặt đón nhận phương pháp mới Tư tưởng và phương pháp đọc hiểu mới dừng lại nhận thức là chính Trong thực tế, đọc hiểu chưa được hiện thực hóa một cách toàn diện, đồng bộ và hiệu quả Dạy học văn vẫn còn diễn ra hiện tượng dạy điệu “sáo”: Thầy giảng, trò nghe, ghi nhớ và lặp lại mỗi khi làm văn Theo quan điểm của Trần Đình Sử, đổi mới là phải giải quyết được các vấn đề quan trọng như quan điểm dạy học, tiến trình dạy học, phương pháp dạy học, định hướng đổi mới phương pháp dạy học, mục đích của đổi mới phương pháp dạy học, đặc trưng của các phương pháp dạy học, yêu cầu đổi mới một số phương pháp dạy học tích cực (dạy học vấn đáp, đàm thoại, đối thoại, dạy và học phát hiện và giải quyết vấn đề, dạy và học hợp tác trong nhóm nhỏ), hình thức tổ chức dạy học góp phần đổi mới phương pháp dạy học, một số kĩ thuật góp phần đổi mới phương pháp, phương tiện, thiết bị dạy học, công nghệ thông tin, thực hiện kế hoạch bài học theo phương pháp dạy

học tích cực, đổi mới kiểm tra đánh giá, đổi mới cách ra đề Đây là một phần

rất quan trọng mà GV không được bỏ qua Tuy nhiên đó mới là các vấn đề chung cho tất cả các môn học Vận dụng các tư tưởng dạy học hiện đại ấy vào môn ngữ văn là một vấn đề còn mới mẻ gặp không ít khó khăn từ cả những nguyên nhân chủ quan lẫn khách quan Đổi mới phương pháp dạy học văn

Trang 27

không phải là một vấn đề chắp vá, bổ sung, thay đổi vài câu chữ chiếu lệ, không phải là ứng dụng một vài tiến bộ kĩ thuật, không phải học đòi một vài chiêu trong tiết dạy mà là một vấn đề hết sức sâu sắc, đòi hỏi phải thay đổi tận gốc toàn bộ những hiểu biết cũ kĩ bấy lâu nay bằng một sự hiểu biết mới, toàn diện về dạy học văn Đổi mới dạy học văn không thể nôn nóng mà cần phải từng bước “căn bản” rồi mới tiến đến “toàn diện” thì mới mang lại hiệu quả

1.1.3 Đặc trưng của môn Ngữ văn trong nhà trường phổ thông

1.1.3.1 Tên gọi môn học

Từ năm 1980-1999, hệ thống giáo dục phổ thông theo Cải cách giáo dục gồm 12 năm Lúc đầu môn văn có hai tên gọi: Ở bậc Tiểu học gọi là tiếng Việt, ở bậc THCS và THPT được gọi là môn tiếng Việt và Văn học Đến năm

2000, Quốc hội khóa X ra nghị quyết số 40 về đổi mới về chương trình giáo dục phổ thông Từ đó, môn Văn ở bậc THCS và THPT được gọi là Ngữ văn Tên gọi Ngữ văn thể hiện được tính chất tích hợp và tính công cụ của môn học Tính chất tích hợp nằm ngay bản chất môn học, bởi vì điểm chung của ba

bộ phận trong môn Ngữ văn (Văn học, tiếng Việt, Làm văn) là văn bản và tiếng Việt Văn học là nghệ thuật ngôn từ, nó đòi hỏi phải thông qua đọc, cảm, hiểu của người đọc thì các giá trị văn học mới được phát huy; mà muốn

có năng lực đọc văn thì thì phải trau dồi tiếng Việt Năng lực sử dụng tiếng Việt thể hiện ở khả năng đọc văn và làm văn Tóm lại, kiến thức và kĩ năng của các bộ phận: Văn học, tiếng Việt và Làm văn có tác dụng hỗ trợ cho nhau

để hình thành năng lực Ngữ văn ở học sinh

Trang 28

1.1.3.2 Vị trí và chức năng của môn Ngữ văn

Chương trình giáo dục phổ thông môn Ngữ văn ban hành theo quyết định số 16/2006 của Bộ giáo dục và Đào tạo ra ngày 05 tháng 5 năm 2006 ghi rõ:

1 Môn Ngữ văn là môn học về khoa học xã hội và nhân văn có nhiệm vụ cung cấp cho học sinh những kiến thức về Tiếng việt, Văn học và Làm văn, hình thành và phát triển ở học sinh năng lực sử dụng tiếng Việt, năng lực tiếp nhận tác phẩm văn học Qua môn học này, học sinh còn có thêm những hiểu biết về văn hóa xã hội, lịch sử, đời sống nội tâm của con người và bản thân

2 Môn Ngữ văn là môn học công cụ Năng lực sử dụng tiếng Việt và tiếp nhận tác phẩm văn học mà môn học này trang bị cho học sinh là công cụ để học sinh học tập và sinh hoạt, nhận thức về xã hội và con người, bồi dưỡng tư tưởng, tình cảm và nhân cách

3 Môn Ngữ văn là môn học thuộc lĩnh vực giáo dục thẩm mỹ Thông qua việc tiếp cận với tiếng Việt, văn hóa và những hình tượng nghệ thuật trong tác phẩm văn học, học sinh được bồi dưỡng năng lực tưởng tượng sáng tạo, được làm giàu xúc cảm thẩm mỹ và định hướng thị hiếu lành mạnh nhằm hoàn thiện nhân cách của mình

Vị trí, chức năng của môn Ngữ văn trong nhà trường phổ thông cũng là vấn đề được các nhà sư phạm quan tâm từ lâu Từ thế kỷ trước, GS Lê Trí Viễn đã khẳng định: “…Sở dĩ ở nhà trường phổ thông, môn Văn được đặt ở vị trí hàng đầu, trước hết đó là công cụ cho tất cả các môn, công cụ tư duy, công

cụ diễn đạt, công cụ học tập Đứng về loại khoa học cơ bản mà nói thì nó là ngữ ngôn, ở nước ta nó là tiếng Việt Đứng về mặt phong cách thì có thể coi

đó là Văn - công cụ, có liên quan nhưng vẫn khác với Văn –thẩm mỹ của văn

học…”(Tạp chí Nghiên cứu giáo dục số 3/1977) Theo GS- TS Lê Ngọc Trà:

“… Môn Văn có vị trí đặc biệt quan trọng trong nhà trường Nó là môn học gắn bó nhiều nhất với nghệ thuật- một lĩnh vực của tình cảm, của trực giác, của tưởng tượng và của cái đẹp Học văn vừa là học, vừa là sống Trong cái sống đó, tri thức, điều học là cần nhưng chưa phải là quan trọng nhất…mà

Trang 29

quan trọng nhất khi rời ghế nhà trường phải viết được một lá đơn theo đúng văn phạm, phải thảo được một tờ báo cáo công việc cho rõ ràng, mạch lạc và cao hơn là có khả năng nhạy cảm với cái xấu, cái đẹp, có khả năng tiếp nhận

tác phẩm nghệ thuật một cách sáng tạo…”(Tạp chí Thế giới mới số 75) Do

có vị trí, chức năng quan trọng và đặc biệt như trên mà môn Ngữ văn được tổ chức theo hướng tích hợp Tích hợp đây hiểu theo nghĩa là liên kết tri thức để chúng thúc đẩy nhau tạo thành tri thức mới Tích hợp ngôn ngữ với văn tự (chữ viết), ngôn ngữ với bài văn (văn bản), ngôn ngữ với văn học, ngôn ngữ với văn hoá, ngôn ngữ nói với ngôn ngữ viết, ngôn ngữ với lời nói Tích hợp các phương diện ấy mới nâng cao năng lực ngôn ngữ và văn học cho HS Theo đặc trưng bộ môn Ngữ văn thì các hoạt động của nó chủ yếu chủ thể học sinh phải thực hiện để có được tri thức và năng lực tương ứng là nghe, nói, đọc, viết, mà chủ yếu là đọc (nghe) và viết (nói), cụ thể là đọc (nghe) văn và

làm văn (viết và nói) Hoạt động giảng của thầy là một phương tiện dạy học

nhưng không phải là phương pháp cơ bản của việc dạy học văn

1.1.4 Đặc trưng thẩm mỹ của các trào lưu, khuynh hướng văn học

Đối với giáo viên dạy Ngữ văn không chỉ cần phải nắm vững đặc trưng,

vị trí, chức năng của bộ môn mà còn phải có kiến thức vững chắc về đặc trưng thẩm mỹ của các trào lưu văn học Như chúng ta đã biết, văn học là một loại hình nghệ thuật, một hình thái ý thức xã hội đặc thù luôn vận động, biến chuyển Diễn tiến của văn học như một hệ thống chỉnh thể với sự hình thành, tồn tại, phát triển qua các thời kì lịch sử Bởi vậy có thể nói văn học là con đẻ của thời đại, mang nhịp đập, dáng dấp, hơi thở của thời đại Nó là một phần

da thịt của lịch sử Nếu ví văn học như một dòng sông uốn mình theo chiều dài của lịch sử dân tộc thì những biến động từ bối cảnh lịch sử đã làm cho dòng sông ấy cuộn sóng, trào dâng lên những dòng chảy khác nhau và những

dòng chảy ấy người ta gọi là trào lưu văn học Đó như là những dòng lũ bề

thế dâng lên với một tập hợp những tác giả, tác phẩm gần gũi về cảm hứng, tư tưởng, nguyên tắc miêu tả hiện thực diễn ra, nổi lên trong một thời điểm nhất định của lịch sử rồi lại “ rút” đi

Trang 30

Ở Việt Nam, các trào lưu văn học lần đầu tiên xuất hiện vào khoảng những năm 30 của thế kỉ XX Trong giai đoạn 1930 – 1945 đã xảy ra biết bao

sự kiện của lịch sử, xã hội thay đổi dẫn đến sự biến đổi sâu sắc trong ý thức

và tâm lí con người Giai đoạn này cuộc sống con người bị đẩy vào “bước đường cùng”, nén chịu bao nỗi quằn quại dưới sự chà đạp của xã hội thực dân phong kiến Xã hội đã dồn con người vào bế tắc, cùng quẫn Chính bối cảnh

ấy đã thúc đẩy văn học vươn mình, mang cho nó nhiều dạng vẻ, hương sắc

Và rồi nảy sinh nhiều trào lưu văn học khác nhau, nổi bật lên đó là các trào lưu văn học lãng mạn, văn học hiện thực, văn học cách mạng

1.1.4.1 Trào lưu văn học lãng mạn

Với trào lưu văn học lãng mạn người dạy cần chú ý: đặc điểm chính của trào lưu này là sự đào sâu vào cái tôi nội cảm, diễn tả ước mơ, khát vọng của cá nhân, đề cập đến những số phận cá nhân với thái độ bất hòa, bất lực trước hiện thực tầm thường, tù túng Đối với hiện thực xã hội, thái độ của nhà văn là thái độ chủ quan, họ nhìn đời qua lăng kính của mình, qua những khát vọng, những mộng tưởng của bản thân Họ muốn thoát li đời sống, vượt ra khỏi thực tại thỏa sức dùng trí tưởng tượng bay bổng để đối lập hiện thực với ước mơ, lí tưởng nhằm chối bỏ thực tại Xuân Diệu trốn chạy trong tình yêu với ngập tràn hương sắc, Huy Cận đắm chìm trong mối sầu vạn kỉ, Chế Lan Viên u uẩn rên rỉ tìm về một thời hoàng kim của vương quốc Chiêm thành nay đã mất, Lưu Trọng Lư ru mình trong thế giới mộng tưởng bằng cả tâm hồn sầu mộng, còn Nguyễn Tuân ngụp lặn trong quá vãng với những thú chơi thanh tao của cha ông như thư pháp, uống trà ; những tôn chỉ “tươi trẻ, yêu đời”, “có chí phấn đấu và tin vào sự tiến bộ”, “tôn trọng tự do cá nhân” trong các tiểu thuyết của Nhất Linh, Hoàng Đạo, Khái Hưng Họ đã tạo nên một trường sáng tạo mới, những đóng góp mới Chính họ dám phủ nhận cái hủ lậu

để khai phá những miền đất mà trước đây không dành cho hai từ “bản ngã”

Họ thay mặt một lớp người như Hồ Xuân Hương, Nguyễn Công Trứ để nói tiếng nói tự do, giải phóng cho hạnh phúc con người và khẳng định cái tôi cá

nhân Họ khước từ mọi thi pháp cũ để giải phóng cảm xúc Tầng lớp trí thức

Trang 31

Tây học đã chấp nhận những ảnh hưởng từ văn hóa phương Tây để tạo ra một con đường đi rất riêng của mình và tạo dựng một phong cách nghệ thuật cũng rất riêng của mình Đồng thời tạo nên một trào lưu mới với những nét đặc sắc hòa vào những cung bậc của nền văn học Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945.

1.1.4.2 Trào lưu văn học hiện thực

Khi dạy văn học lãng mạn, đôi khi cần so sánh với văn học hiện thực Văn học hiện thực tập trung phản ánh sự tha hóa của giới tư sản, thượng lưu, cảnh khốn cùng của các tầng lớp dân nghèo ở nông thôn và đô thị Trong quá trình phản ánh, nhà văn tập trung miêu tả những xung đột, đối kháng gay gắt của các tầng lớp người trong xã hội.Thái độ, cảm quan phê phán của các nhà văn đối với thực tại xã hội được tô đậm một cách sâu sắc, dưới mọi hình thức

Họ có cái nhìn đầy cảm thương và sự trân trọng đối với người nghèo

Phương pháp sáng tác của các nhà văn hiện thực Việt Nam có những nét tương đồng với phương pháp sáng tác hiện thực chủ nghĩa trên thế giới Không gian tác phẩm được mở rộng, trên cơ sở đó, các nhà văn xây dựng được nhiều hoàn cảnh có tính điển hình Thành tựu lớn là xây dựng những tính cách có tính điển hình, có sự vận động một cách lôgic

Khi dạy văn học hiện thực giáo viên cũng cần quan tâm đến những thành công đáng ghi nhận về ngôn ngữ văn học của trào lưu này Đó là đã đưa được tiếng nói của mọi tầng lớp vào sáng tác văn học, đặc biệt, đạt được những thành công trong việc cá tính hóa ngôn ngữ nhân vật, tạo được sự đa thanh trong ngôn ngữ trần thuật

Đối với các tác giả thuộc trào lưu lãng mạn,“nghệ thuật vị nghệ thuật” trở thành quan điểm mỹ học thì cương lĩnh “nghệ thuật vị nhân sinh” lại ăn sâu vào tư tưởng những nhà văn thuộc trào lưu văn học hiện thực Họ kiên quyết chối bỏ sự hấp dẫn của cái đẹp không tưởng để tìm đến với nỗi đau của con người Họ quan tâm đến việc diễn tả, lí giải một cách chân thật và chính xác quá trình phát triển của hiện thực khách quan thông qua việc khắc họa những hình tượng điển hình Bằng bút pháp điển hình hóa những nhà văn của dòng văn học hiện thực đã mang đến cho người đọc những số phận con người

Trang 32

chân thực nhất, để bất cứ ai ở thời điểm đó soi vào cũng thấy bóng dáng mình

1.1.4.3 Trào lưu văn học cách mạng

Bên cạnh hai trào lưu văn học được công khai lưu hành là lãng mạn và hiện thực, còn có một trào lưu ẩn dật, bí mật không được phép lưu hành – nằm ngoài vòng pháp luật nhưng lại hứa hẹn sự phát triển nhanh chóng khi có

cơ hội, đó là trào lưu văn học cách mạng Dòng văn học cách mạng phát triển

theo ý thức hệ của giai cấp vô sản Nó biến chuyển song song với những biến chuyển trong thời kỳ đấu tranh cách mạng do Đảng Cộng sản lãnh đạo.Văn học cách mạng tác động nhiều và mạnh mẽ nhất đến các tầng lớp nhân dân cách mạng Nếu văn học lãng mạn bế tắc trong mộng tưởng, không tìm được bến đỗ và câu trả lời, nếu văn học hiện thực dù phản ánh nỗi đau đớn cả về

thể xác lẫn tinh thần của con người, nhưng cái kết cục vẫn là Bước đường cùng (Nguyễn Công Hoan), vẫn là người phụ nữ nông dân với màn đêm tối đen như cái tiền đồ của chị Dậu (Tắt đèn -Ngô Tất Tố), vẫn là cái chết tức tưởi của một linh hồn người hồi sinh trong một con quỷ(Chí Phèo- Nam

Cao) thì VHCM đã không những chỉ ra bản chất hiện thực mà còn vạch ra

cả hướng đi cho con người, để cải tạo xã hội bằng những cái mới tốt đẹp hơn Trào lưu này gồm những tác phẩm thơ văn cách mạng bí mật, đặc biệt mảng thơ ca trong tù Đó chủ yếu là tiếng nói của các chiến sĩ và quần chúng nhân dân tham gia cách mạng Họ coi thơ văn trước hết là một thứ vũ khí sắc bén chiến đấu chống kẻ thù dân tộc, là phương tiện để truyền bá tư tưởng và cách mạng Quan niệm này thể hiện sâu sắc và nhất quán trong tất cả sáng tác của

các nhà văn thuộc trào lưu này “Ba tấc lưỡi mà gươm mà súng, nhà cầm quyền trong gió cũng gai ghê – một ngòi lông vừa trống vừa chiêng, của dân chủ khêu đèn thêm sáng chói”(Văn tế Phan Châu Trinh - Phan Bội

Châu),“Nay ở trong thơ nên có thép, nhà thơ cũng phải biết xung

phong”(Cảm tưởng đọc “Thiên gia thi ”- Hồ Chí Minh) Tuy điều kiện sáng

tác vô cùng khó khăn nhưng cùng với sự lớn mạnh của phong trào cách mạng

xu hướng văn học này ngày càng phát triển

Trang 33

Với trào lưu VHCM người dạy cần phải nắm vững một số đặc điểm cơ bản sau: Văn thơ cách mạng kế thừa truyền thống yêu nước tốt đẹp và quý báu trong văn học nước nhà và phát triển lên một mức cao hơn, sâu sắc hơn

và toàn diện hơn ở thời đại mới.Trong văn học cách mạng đã hình thành con người mới: có thế giới quan Mác- Lênin, có nhân sinh quan cộng sản chủ nghĩa Người chiến sĩ cách mạng sáng tác là để phục vụ cách mạng và khi sáng tác, họ không nghĩ đến theo phương pháp nào Họ mượn những hình thức của thời đại để diễn đạt tư tưởng, ý nghĩ của mình Nhưng vì họ là những chiến sĩ cộng sản khoa học, tư tưởng là biện chứng pháp nên họ nhìn vào hiện thực cùng con đường của nó khác với nhà văn tư sản và tiểu tư sản đương thời Các nhà văn trong trào lưu văn học cách mạng đã nhận ra nghệ thuật không hề mâu thuẫn với đời sống Con người làm thơ và con người hành động là một Sống là hành động, thơ cũng là hành động Thơ, với họ - những người chiến sĩ - nghệ sĩ là hình thức tươi đẹp của hoạt động cách mạng, của

sự sống Chính họ đã góp phần không nhỏ vào việc đánh dấu bước trưởng thành mới hoàn tất quá trình hiện đại hóa của nền văn học Việt Nam giai đọan

1930 – 1945

1.2 Cơ sở thực tiễn

1.2.1 Chương trình phần VHLM Việt Nam 1930-1945 ở trường THPT

1.2.1.1 Những điểm đổi mới của chương trình Ngữ văn THPT

Tiếp theo Chương trình và Sách giáo khoa THCS, từ năm 2002-2003,

Bộ Giáo dục và Đào tạo đã tiến hành triển khai thí điểm chương trình và SGK cấp THPT Sau 3 năm thí điểm, tháng 9 năm 2006 cả nước bắt đầu dạy theo chương trình và SGK lớp 10 Môn Ngữ văn là một trong những môn học có vị trí hết sức quan trọng trong nhà trường phổ thông và cũng là môn học có nhiều điểm mới trong lần thay đổi này Chương trình Ngữ văn THPT có những điểm mới sau: Trước nhất là tên môn học thay đổi, thay vì gọi là môn Văn học nay gọi là môn Ngữ văn Chương trình được xây dựng theo nguyên

Trang 34

tắc tích hợp, theo đó nhà trường THPT phải hình thành cho các em năng lực vận dụng một cách tổng hợp các tri thức và kĩ năng không chỉ của Văn mà còn phải huy động các kiến thức và kĩ năng của Tiếng Việt và Làm văn Mục tiêu của chương trình Ngữ văn THPT là hình thành và rèn luyện cho HS năng lực đọc hiểu cũng như tạo lập các loại văn bản Nói cách khác là nhằm trang

bị cho HS văn hóa đọc để các em có thể tự mìh đọc và học suốt đời Chương trình Ngữ văn mới lựa chọn tác phẩm theo thể loại và tổ chức dạy học theo thể loại Trình tự các bài học được sắp xếp theo thể loại chứ không theo trình

tự thời gian Đây là điều kiện quan trọng để dạy học văn theo đặc thể loại – bản chất của dạy đọc hiểu Trong chương trình Ngữ văn mới, cách hiểu về văn bản văn học và thể loại tác phẩm văn học cũng được mở rộng hơn, nhiều thể loại mới được đưa vào giảng dạy Đặc biệt là sự xuất hiện của văn học sau

1975 trong chương trình lớp 12 Các tác phẩm sau năm 1975, đại diện cho thành tựu văn học mới được đưa vào với một mức độ nhất định Môn Ngữ văn THPT có hai chương trình: Chương trình chuẩn và chương trình nâng cao

để phù hợp với chương trình phân ban Phần tiếng Việt không nặng lý thuyết

mà coi trọng tính ứng dụng, vai trò và tác dụng của tiếng Việt trong việc giúp

HS đọc – hiểu và tạo lập văn bản Chương trình bám sát các văn bản làm ngữ liệu, coi trọng việc hình thành và rèn luyện cho HS kĩ năng hình thành ý, sinh

ý, các thao tác lập luận, phản bác, các quy trình và cách thức làm một bài văn

Tư tưởng và cũng là mục đích của hoạt động phương pháp dạy học trong trường phổ thông hiện nay là tích cực hóa hoạt động của học sinh HS được coi là những đối tượng vốn có sẵn những tiềm năng mà người GV có nhiệm

vụ đánh thức và tạo điều kiện để những tiềm năng đó phát triển, đặc biệt là tiềm năng sáng tạo

Mặc dù có nhiều điểm ưu việt so với chương trình Ngữ văn trước năm

2000 nhưng xét một cách khách quan, chương trình Ngữ văn hiện nay còn nhiều tồn tại Thực hiện nghị quyết Hội nghị trung ương lần thứ 8 khóa XI của Đảng về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, hiện nay Bộ giáo

dục và Đào tạo đang thực hiện Đề án Đổi mới chương trình và sách giáo

Trang 35

khoa sau năm 2015 Trong đó bộ môn Ngữ văn đặc biệt được quan tâm Ngày

25 tháng 4 năm 2014, tại trường Đại học sư phạm thành phố Hồ Chí Minh đã

diễn ra cuộc Hội thảo Dạy học môn Ngữ văn trong bối cảnh đổi mới toàn diện Tại cuộc Hội thảo, đại diện của Bộ giáo dục và Đào tạo - PGS.TS Đỗ

Ngọc Thống - đã khẳng định: Chương trình môn Văn 3 cấp được biên soạn tách biệt nên có nhiều nội dung chồng chéo, vừa thừa lại vừa thiếu Chương trình cũng quá cứng nhắc, không phù hợp với các vùng miền và không phân loại được đối tượng học khác nhau Chương trình và sách giáo khoa năm

2015 sẽ đổi mới theo hướng phát triển năng lực của học sinh là chính chứ không theo đuổi số lượng như hiện tại Chương trình sẽ đề cao mục tiêu hình thành và phát triển năng lực giao tiếp, cụ thể là nghe - nói - đọc - viết sau đó mới phát triển các kĩ năng khác

Đối với giáo viên dạy Văn, phải nắm rõ được nguyên tắc, mục tiêu xây dựng chương trình và sách giáo khoa thì mới có thể thực hiện tốt hoạt động dạy học

1.2.1.2 Vị trí, ý nghĩa của phần văn học lãng mạn 1930-1945 trong chương trình Ngữ văn THPT

a Văn chương lãng mạn trong chương trình và sách giáo khoa môn

Ngữ Văn cải cách ở trường trung học phổ thông

Suốt một khoảng thời gian dài, văn chương lãng mạn chỉ được “nhắc tới”

trong một tiết văn học sử ở lớp 12 như là một cứ liệu cần thiết để so sánh,

nhằm làm nổi bật tính chất tiến bộ của dòng văn chương hiện thực phê phán

và tính chất tích cực của dòng văn chương Cách mạng vô sản Từ năm 1989

nhiều tác phẩm văn chương lãng mạn đã chính thức được đưa vào dạy - học ở

chương trình môn văn lớp 12 Trong chương trình và sách giáo khoa môn Văn cải cách của trường phổ thông trung học, văn chương lãng mạn được dạy - học ở lớp 11 Nếu nhìn bao quát chương trình môn Văn cải cách từ cấp 2 thì

ngay ở lớp 8 học sinh đã bắt đầu học truyện ngắn Gió lạnh đầu mùa của Thạch Lam, bài thơ Nhớ rừng của Thế Lữ và đọc thêm Mùa xuân chín của

Trang 36

Hàn Mặc Tử Phần văn học lãng mạn trong chương trình môn Văn lớp 11 năm 2000 bao gồm:

Trang 37

Bảng 1.1 Thống kê phần VHLM trong chương trình lớp 11 năm 2000

tiết

b.Văn chương lãng mạn trong chương trình và môn Ngữ Văn lớp 11 hiện hành

Tiếp theo Chương trình và Sách giáo khoa THCS, từ năm 2002-2003, Bộ

Giáo dục và Đào tạo đã tiến hành triển khai thí điểm chương trình và SGK cấp THPT Sau 3 năm thí điểm, tháng 9 năm 2006 cả nước bắt đầu dạy theo chương trình và SGK lớp 10 Năm 2007 chương trình và SGK Ngữ văn 11 được đưa vào sử dụng Chương trình và SGK mới có thay đổi ít nhiều phần văn học lãng mạn so với chương trình cải cách trước đó Sự thay đổi vẫn thể hiện được vị trí quan trọng của văn học lãng mạn trong văn học Việt Nam giai đoạn 1930-1945 nói riêng và trong tiến trình văn học dân tộc nói chung

Trang 38

Bảng 1.2 Thống kê phần VHLM trong chương trình lớp 11hiện nay

Truyện ngắn:

1.Hai đứa trẻ - Thạch Lam

2.Chữ người tử tù - Nguyễn Tuân

7 Tương tư- Nguyễn Bính

8 Chiều xuân- Anh Thơ

8 Thơ duyên- Xuân Diệu

9 Đây mùa thu tới- Xuân Diệu

10 Chiều xuân- Anh Thơ

Như vậy, so với chương trình cải cách, chương trình chuẩn và Nâng cao của môn Ngữ văn hiện nay VHLM chiếm một tỉ lệ cao, thể hiện vị trí rất quan trọng trong chương trình Ngữ văn 11 Thể loại phong phú hơn, ngoài truyện ngắn và thơ trữ tình còn có thêm kịch Số lượng tác giả cũng nhiều hơn; HS được tiếp cận với Anh Thơ, Nguyễn Bính, Nguyễn Huy Tưởng

c Văn học lãng mạn trong công tác kiểm tra, đánh giá và thi cử

 Kiểm tra, đánh giá trong nhà trường:

Trong phân phối chương trình, phần văn xuôi lãng mạn được giảng dạy

và học tập trong Học kì I- lớp 11; phần thơ mới được giảng dạy và học tập ở Học kì II - lớp 11 Qua thăm dò ý kiến và khảo sát giáo viên giảng dạy môn Ngữ văn lớp 11 tại một số trường trên địa bàn T.p Hồ Chí Minh; các tác phẩm VHLM luôn chiếm đa số trong nội dung kiểm tra, đánh giá

Trong học kì I- lớp 11, HS được học văn học trung đại, văn học hiện thực và văn xuôi lãng mạn Tuy nhiên, hầu hết nội dung trọng tâm kiểm tra

Trang 39

bài viết 2 tiết tại lớp, bài kiểm tra tổng hợp cuối học kì đều tập trung ở văn xuôi lãng mạn Trong phần nghị luận văn học (câu 5 điểm) của các đề thi HKI- lớp 11 trong 2 năm gần đây tại trường THPT Trần Hưng Đạo - Quận

Gò Vấp - TP Hồ Chí Minh đều tập trung vào hai tác phẩm Hai đứa trẻ (Thạch Lam) và Chữ người tử tù (Nguyễn Tuân) Nội dung câu hỏi đều tập

trung vào những giá trị đặc sắc của tác phẩm hoặc phong cách tác giả

Ví dụ: 1 Cảm nhận của anh/chị về hình tượng nhân vật Huấn Cao trong

truyện ngắn Chữ người tử tù của Nguyễn Tuân

2 Phân tích cảnh chị em Liên khắc khoải chờ đợi đoàn tàu trong

truyện ngắn Hai đứa trẻ của Thạch Lam.

Trong học kì II- lớp 11, học sinh được học văn học cách mạng, thơ Mới Tuy nhiên, hầu hết nội dung trọng tâm kiểm tra bài viết 2 tiết tại lớp, bài kiểm tra tổng hợp cuối học kì đều có sự xuất hiện Thơ mới là chủ yếu

3 Cảm nhận của anh/chị về đoạn thơ sau:

Của ong bướm này đây tuần tháng mật;

……….

Tháng giêng ngon như một cặp môi gần…

( Trích Vội vàng - Xuân Diệu, SGK Ngữ văn 11,tập 2, trang 22)

4 Có ý kiến cho rằng:" Bài thơ“Tràng giang”của Huy Cận dung hòa nét đẹp cổ điển và hiện đại”.Anh/ chị hãy phân tích khổ thơ cuối của bài thơ

để làm sáng tỏ ý kiến trên

 Trong các kì thi tuyển sinh Đại học :

Nội dung thi Tuyển sinh Đại học môn Ngữ văn khối C và D nằm trong chương trình lớp 11 và 12 , bao gồm thời kì từ đầu thế kỷ XX đến Cách mạng tháng Tám năm 1945 và thời kỳ từ Cách mạng tháng Tám 1945 đến hết thế kỷ

XX Nhưng thực tế văn học lãng mạn luôn có mặt trong đề thi Đại học khối C

và D hằng năm Tìm hiểu và thống kê đề thi tuyển sinh Đại học, cao đẳng môn Văn 2 năm trở lại đây chúng tôi nhận thấy: Số lượng câu hỏi phần Kiểm tra kiến thức(2 điểm) và nghị luận văn học(5 điểm) phần văn học lãng mạn cũng luôn chiếm ưu thế

Trang 40

Ví dụ: 5 Phân tích tình huống truyện trong tác phẩm Chữ người tử tù của nhà

văn Nguyễn Tuân ( câu III.a Đề thi tuyển sinh Đại học năm 2011 – khối C)

6 “Hai đứa trẻ” của Thạch Lam là một truyện ngắn trữ tình đượm buồn Anh/chị hãy phân tích khung cảnh phố huyện và tâm trạng của nhân vật

Liên trong tác phẩm để làm sáng tỏ ý kiến trên.(câu III.a Đề thi tuyển sinh Đại học năm 2011 – khối D)

7 Cảm nhận của anh/chị về hình ảnh tạo vật thiên nhiên và tâm trạng

của nhân vật trữ tình trong đoạn thơ sau:

Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp

………

Sông dài trời rộng bến cô liêu…

(Tràng giang, Huy Cận, Ngữ văn 11 Nâng cao, Tập hai, NXB Giáo dục Việt

Nam, 2011, tr 49)(câu III.b Đề thi tuyển sinh Đại học năm 2012 – khối D)

8 Cảm nhận về hai đoạn thơ sau:

Sao anh không về chơi thôn Vĩ

………

Lá trúc che ngang mặt chữ điền

(Đây thôn Vĩ Dạ , Hàn Mặc Tử, Ngữ văn 11 Nâng cao, Tập hai, NXB Giáo

dục Việt Nam, 2011, tr 46)

Nhà em có một giàn giầu

………

Cau thôn Đoài nhớ giầu không thôn nào?

(Tương tư, Nguyễn Bính, Ngữ văn 11 Nâng cao, Tập hai, NXB Giáo dục Việt

Nam, 2011, tr 56) )(câu III.b Đề thi tuyển sinh Đại học năm 2012 – khối C) Như vậy, VHLM là nội dung thường xuyên xuất hiện trong các đề thi

và kiểm tra tại các trường phổ thông cũng như trong các kì thi phạm vi quốc gia Do đó mà cả người dạy lẫn người học phải xác định đúng mục đích cũng như phương pháp dạy học bộ môn sao cho hiệu quả, đáp ứng được nhiệm vụ dạy học

Ngày đăng: 19/07/2015, 20:13

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2007), Những vấn đề chung về đổi mới giáo dục trung học phổ thông môn Ngữ văn, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề chung về đổi mới giáo dục trung học phổ thông môn Ngữ văn
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2007
2. Bộ giáo dục và Đào tạo (2007), Tài liệu bồi dưỡng giáo viên thực hiện chương trình, sách giáo khoa lớp 11 môn Ngữ văn, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu bồi dưỡng giáo viên thực hiện chương trình, sách giáo khoa lớp 11 môn Ngữ văn
Tác giả: Bộ giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2007
3. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2013), Tài liệu hỗ trợ giáo viên tập sự môn Ngữ văn, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nộ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu hỗ trợ giáo viên tập sự môn Ngữ văn
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nộ
Năm: 2013
5. Nguyễn Viết Chữ (2010), Phương pháp dạy học tác phẩm văn chương trong nhà trường, Nxb Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học tác phẩm văn chương trong nhà trường
Tác giả: Nguyễn Viết Chữ
Nhà XB: Nxb Giáo dục Việt Nam
Năm: 2010
6. Nguyễn Viết Chữ (1995), Sức mạnh câu hỏi trong giờ giảng văn, Kỉ yếu hội thảo khoa học “Đổi mới PPDH văn PTTH”, Nxb Đại học Sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sức mạnh câu hỏi trong giờ giảng văn", Kỉ yếu hội thảo khoa học" “Đổi mới PPDH văn PTTH”
Tác giả: Nguyễn Viết Chữ
Nhà XB: Nxb Đại học Sư phạm Hà Nội
Năm: 1995
7. Đinh Trí Dũng(2005), Một số vấn đề của lịch sử văn học Việt Nam từ 1900 đến 1945, Đề cương bài giảng chuyên đề thạc sĩ, Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề của lịch sử văn học Việt Nam từ 1900 đến 1945
Tác giả: Đinh Trí Dũng
Năm: 2005
8. Phan Huy Dũng (2009), Tác phẩm văn học trong nhà trường phổ thông - Một góc nhìn, một cách đọc, Nxb Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác phẩm văn học trong nhà trường phổ thông - Một góc nhìn, một cách đọc
Tác giả: Phan Huy Dũng
Nhà XB: Nxb Giáo dục Việt Nam
Năm: 2009
9. Trần Thanh Đạm (1971), Vấn đề giảng dạy tác phẩm theo loại thể, Nxb Giáo dục Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề giảng dạy tác phẩm theo loại thể
Tác giả: Trần Thanh Đạm
Nhà XB: Nxb Giáo dục Hà Nội
Năm: 1971
10.Phan Cự Đệ (1997),Văn học lãng mạn Việt Nam(1930-1945), Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học lãng mạn Việt Nam(1930-1945)
Tác giả: Phan Cự Đệ
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1997
11.Phan Cự Đệ - Trần Đình Hượu - Nguyễn Trác - Nguyễn Hoành Khung – Lê Chí Dũng – Hà Văn Đức (1998), Văn học Việt Nam (1900 – 1945), Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam (1900 – 1945)
Tác giả: Phan Cự Đệ - Trần Đình Hượu - Nguyễn Trác - Nguyễn Hoành Khung – Lê Chí Dũng – Hà Văn Đức
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1998
12. Hà Minh Đức ( ? ), Lí luận văn học, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận văn học
Nhà XB: Nxb Giáo dục
13. Lê Bá Hán –Trần Đình Sử – Nguyễn Khắc Phi (1992), Từ điển thuật ngữ văn học, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ văn học
Tác giả: Lê Bá Hán –Trần Đình Sử – Nguyễn Khắc Phi
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1992
14. Lê Bá Hán (chủ biên) - Lê Quang Hưng – Chu văn Sơn(1998), Tinh hoa Thơ mới – Thẩm bình và suy ngẫm, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tinh hoa Thơ mới – Thẩm bình và suy ngẫm
Tác giả: Lê Bá Hán (chủ biên) - Lê Quang Hưng – Chu văn Sơn
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1998
15. Hoàng Ngọc Hiến, Văn học và học văn, Nxb Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học và học văn
Nhà XB: Nxb Văn học
16. Nguyễn Thái Hòa, Những vấn đề về thi pháp của truyện, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề về thi pháp của truyện
Nhà XB: Nxb Giáo dục
17. Nguyễn Trọng Hoàn, Rèn luyện tư duy sáng tạo và dạy học tác phẩm văn chương, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rèn luyện tư duy sáng tạo và dạy học tác phẩm văn chương
Nhà XB: Nxb Giáo dục
18. Nguyễn Thanh Hùng, (2002), Đọc và tiếp nhận văn chương, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đọc và tiếp nhận văn chương
Tác giả: Nguyễn Thanh Hùng
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2002
19.Nguyễn Thanh Hùng(2011), Kỹ năng đọc hiểu Văn, Nxb Đại học Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ năng đọc hiểu Văn
Tác giả: Nguyễn Thanh Hùng
Nhà XB: Nxb Đại học Sư phạm
Năm: 2011
20.Phạm Thị Thu Hương(2012), Đọc hiểu và chiến thuật đọc hiểu văn bản trong nhà trường phổ thông, Nxb Đại học Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đọc hiểu và chiến thuật đọc hiểu văn bản trong nhà trường phổ thông
Tác giả: Phạm Thị Thu Hương
Nhà XB: Nxb Đại học Sư phạm
Năm: 2012
21.Đặng Thành Hưng(2002), Dạy học hiện đại – lý luận –biện pháp - kĩ thuật, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy học hiện đại – lý luận –biện pháp - kĩ thuật
Tác giả: Đặng Thành Hưng
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2002

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1. Thống kê phần VHLM trong chương trình lớp 11 năm 2000 - Dạy học phần văn học lãng mạn việt nam 1930 - 1945 ở trường trung học phổ thông
Bảng 1.1. Thống kê phần VHLM trong chương trình lớp 11 năm 2000 (Trang 37)
Bảng 1.2. Thống kê phần VHLM trong chương trình lớp 11hiện nay - Dạy học phần văn học lãng mạn việt nam 1930 - 1945 ở trường trung học phổ thông
Bảng 1.2. Thống kê phần VHLM trong chương trình lớp 11hiện nay (Trang 38)
Bảng 2.1. Thống kê các thể loại VHLM  được giảng dạy trong chương - Dạy học phần văn học lãng mạn việt nam 1930 - 1945 ở trường trung học phổ thông
Bảng 2.1. Thống kê các thể loại VHLM được giảng dạy trong chương (Trang 53)
Hình ảnh những con người nơi - Dạy học phần văn học lãng mạn việt nam 1930 - 1945 ở trường trung học phổ thông
nh ảnh những con người nơi (Trang 94)
3. Hình ảnh đoàn tàu: - Dạy học phần văn học lãng mạn việt nam 1930 - 1945 ở trường trung học phổ thông
3. Hình ảnh đoàn tàu: (Trang 96)
3. Hình tượng viên quản ngục: - Dạy học phần văn học lãng mạn việt nam 1930 - 1945 ở trường trung học phổ thông
3. Hình tượng viên quản ngục: (Trang 107)
Hình ảnh cụ thể nào? Phân tích vẻ - Dạy học phần văn học lãng mạn việt nam 1930 - 1945 ở trường trung học phổ thông
nh ảnh cụ thể nào? Phân tích vẻ (Trang 115)
Hình ảnh con người được xuất hiện - Dạy học phần văn học lãng mạn việt nam 1930 - 1945 ở trường trung học phổ thông
nh ảnh con người được xuất hiện (Trang 116)
Bảng 3.1. Kết quả trả lời trắc nghiệm – Hai đứa trẻ - Dạy học phần văn học lãng mạn việt nam 1930 - 1945 ở trường trung học phổ thông
Bảng 3.1. Kết quả trả lời trắc nghiệm – Hai đứa trẻ (Trang 123)
Bảng 3. 2. Kết quả trả lời trắc nghiệm – Chữ người tử tù - Dạy học phần văn học lãng mạn việt nam 1930 - 1945 ở trường trung học phổ thông
Bảng 3. 2. Kết quả trả lời trắc nghiệm – Chữ người tử tù (Trang 124)
Bảng 3.3. Kết quả trả lời trắc nghiệm – Đây thôn Vĩ Dạ - Dạy học phần văn học lãng mạn việt nam 1930 - 1945 ở trường trung học phổ thông
Bảng 3.3. Kết quả trả lời trắc nghiệm – Đây thôn Vĩ Dạ (Trang 125)
Bảng 3.4. Kết quả bài viết lớp thực nghiệm và lớp đối chứng - Dạy học phần văn học lãng mạn việt nam 1930 - 1945 ở trường trung học phổ thông
Bảng 3.4. Kết quả bài viết lớp thực nghiệm và lớp đối chứng (Trang 126)
Bảng 3.5: So sánh kết quả ba bài dạy thực nghiệm và  đối chứng - Dạy học phần văn học lãng mạn việt nam 1930 - 1945 ở trường trung học phổ thông
Bảng 3.5 So sánh kết quả ba bài dạy thực nghiệm và đối chứng (Trang 126)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w