1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Dạy học lý thuyết ngôn ngữ và tiếng việt trong chương trình ngữ văn trung học phổ thông

129 1,6K 10

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 129
Dung lượng 767 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi mạnh dạn chọn đề tài: “Dạy học lý thuyết ngôn ngữ và tiếng việt trong chương trình ngữ văn trung học phổ thông” để triển khai nghiên cứu,

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

PHẠM THỊ TƯỜNG

DẠY HỌC LÝ THUYẾT NGÔN NGỮ

VÀ TIẾNG VIỆT TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN

Trang 2

NGHỆ AN - 2014

Trang 3

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

PHẠM THỊ TƯỜNG

DẠY HỌC LÝ THUYẾT NGÔN NGỮ

VÀ TIẾNG VIỆT TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

Chuyên ngành: Lý luận và PPDH bộ môn Văn và Tiếng Việt

Mã số: 60.14.01.11

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN

Người hướng dẫn khoa học:

TS ĐẶNG LƯU

NGHỆ AN - 2014

Trang 4

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 1

3 Đối tượng nghiên cứu 4

4 Nhiệm vụ nghiên cứu 4

5 Mục đích nghiên cứu 4

6 Phương pháp nghiên cứu 4

7 Cấu trúc luận văn 5

Chương 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 6

1.1 Cơ sở lý thuyết của đề tài 6

1.1.1 Vai trò của tri thức lý thuyết đối với việc học tiếng Việt và học ngoại ngữ của học sinh THPT 6

1.1.2 Vai trò của tri thức lý thuyết đối với việc rèn luyện tư duy trừu tượng, khái quát cho học sinh THPT 9

1.1.3 Đặc điểm tâm sinh lý của học sinh THPT và khả năng tiếp nhận tri thức lý thuyết ngôn ngữ và tiếng Việt 11

1.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài 12

1.2.1 Hợp phần lý thuyết ngôn ngữ và tiếng Việt trong chương trình Ngữ văn THPT 12

1.2.2 Áp lực của việc đổi mới phương pháp dạy học lý thuyết ngôn ngữ và tiếng Việt từ chương trình và sách giáo khoa 15

1.2.3 Thực trạng việc dạy học hợp phần lý thuyết ngôn ngữ và tiếng Việt ở trường THPT hiện nay 21

Tiểu kết chương 1 31

Trang 5

TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 33

2.1 Các nguyên tắc dạy học lý thuyết ngôn ngữ và tiếng Việt 33

2.1.1 Nguyên tắc đảm bảo mối quan hệ giữa phần lý thuyết và các hợp phần khác trong chương trình 33

2.1.2 Nguyên tắc gắn lý thuyết với thực hành 34

2.1.3 Nguyên tắc kế thừa và phát triển 36

2.2 Một số phương pháp dạy học lý thuyết ngôn ngữ và tiếng Việt 38

2.2.1 Đọc sách giáo khoa và nêu vấn đề 40

2.2.2 Phối hợp diễn giảng và đàm thoại 49

2.2.3 Thảo luận nhóm 59

2.2.4 Phân tích ngôn ngữ 65

Tiểu kết chương 2 71

Chương 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 73

3.1 Mục đích, yêu cầu, nội dung và cách thức thực nghiệm 73

3.1.1 Mục đích thực nghiệm 73

3.1.2 Yêu cầu thực nghiệm 73

3.1.3 Nội dung thực nghiệm 73

3.1.4 Cách thức thực nghiệm 74

3.2 Tổ chức thực nghiệm 74

3.2.1 Chọn lớp thực nghiệm và lớp đối chứng 74

3.2.2 Thiết kế giáo án thực nghiệm 75

3.2.3 Dạy thực nghiệm và dạy đối chứng 108

Trang 6

3.3.1 Nhận xét quá trình và kết quả học tập của lớp thực nghiệm

109

3.3.2 Xử lí số liệu thực nghiệm 109

3.4 Kết luận chung về thực nghiệm 112

KẾT LUẬN 115

TÀI LIỆU THAM KHẢO 118

Trang 7

TrangBảng 1.1 Thống kê các bài thuộc hợp phần lý thuyết ngôn ngữ và

tiếng Việt trong chương trình THPT 13Bảng 1.2 Kết quả điều tra nhận thức của giáo viên về phần Tiếng Việt

trong chương trình Ngữ văn THPT 24Bảng 1.3 Kết quả điều tra nhận thức của giáo viên về những khó khăn

trong dạy học tiếng Việt 25Bảng 1.4 Kết quả điều tra nhận thức của giáo viên về mục tiêu rèn

luyện kĩ năng cho HS qua dạy học phần Tiếng Việt trong

chương trình Ngữ văn THPT 26Bảng 1.5 Kết quả điều tra nhận xét của giáo viên về thực trạng học của

HS đối với phần Tiếng Việt trong chương trình Ngữ văn THPT

27Bảng 1.6 Kết quả điều tra về thái độ của giáo viên đối với hợp phần

lý thuyết ngôn ngữ và tiếng Việt trong chương trình Ngữ

văn THPT 29Bảng 1.7 Kết quả điều tra thực trạng áp dụng các phương pháp dạy

học đối với hợp phần lý thuyết ngôn ngữ và tiếng Việt trong

chương trình Ngữ văn THPT 30Bảng 3.1 Thống kê kết quả kiểm tra nhóm lớp thực nghiệm 110Bảng 3.2 Thống kê kết quả kiểm tra ở các lớp đối chứng 110Bảng 3.3 Tổng hợp kết quả kiểm tra nhóm lớp thực nghiệm và đối chứng

111Bảng 3.4 So sánh kết quả kiểm tra giữa đối chứng và thực nghiệm 111

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

1.1 Trong chương trình Ngữ văn THPT hiện nay, lý thuyết ngôn ngữ

và tiếng Việt là một hợp phần có mặt từ lớp 10 đến lớp 12 Đây là nhữngvấn đề hết sức cơ bản, không chỉ trang bị cho HS những tri thức khái quát

về ngôn ngữ và Việt ngữ, mà còn có tác dụng soi sáng những vấn đề thuộccác hợp phần khác như Từ ngữ, Ngữ pháp, Phong cách học Mặt khác, cótri thức lý thuyết ngôn ngữ và tiếng Việt, HS sẽ học ngoại ngữ thuận lợihơn Bên cạnh trang bị tri thức, hình thành kỹ năng, việc rèn luyện tư duy

là yêu cầu hàng đầu của giáo dục hiện đại Ở lứa tuổi học THPT, HS cầnđược hình thành và nâng cao năng lực tư duy khái quát Phần lý thuyếtngôn ngữ và tiếng Việt có thể góp phần đảm trách nhiệm vụ này

1.2 Tầm quan trọng của việc dạy học các bài lý thuyết ngôn ngữ vàtiếng Việt đòi hỏi phải được nhận thức một cách đúng đắn để tìm ra nhữngphương pháp, thủ pháp dạy học phù hợp Tuy nhiên, phải nói rằng, hợp phầnnày chưa nhận được sự quan tâm đúng mức của giới nghiên cứu và các nhà sưphạm Các bài viết, các công trình đề cập đến phương pháp dạy các bài lýthuyết ngôn ngữ và tiếng Việt ít hơn hẳn so với phần Từ ngữ, Ngữ pháp,Phong cách học Ngay những tài liệu hiện có, nội dung dạy học được bàn đếncũng đã xa lạ với chương trình và SGK Ngữ văn trung học phổ thông hiệnhành

Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi mạnh dạn chọn đề tài: “Dạy

học lý thuyết ngôn ngữ và tiếng việt trong chương trình ngữ văn trung học phổ thông” để triển khai nghiên cứu, với mong muốn đề xuất một số cách

thức nhằm nâng cao hiệu quả dạy học đối với hợp phần này

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Trang 10

Tiếng Việt là một phân môn quan trọng, cùng với Đọc - hiểu và Làmvăn tích hợp thành một môn học lấy tên gọi là Ngữ văn Cùng với sự pháttriển giáo dục, phân môn Tiếng Việt ngày càng khẳng định vai trò quan trọngkhông thể thiếu trong nhà trường Vì thế, phương pháp dạy học tiếng Việt trởthành bộ môn khoa học trong các trường sư phạm.

Không riêng gì việc dạy học tiếng Việt, trên thế giới “lí luận dạy tiếng”

là thuật ngữ quen thuộc của giới nghiên cứu và cũng là thuật ngữ có nhiềucách hiểu khác nhau Trong dạy học ngôn ngữ cũng luôn có sự phân biệt giữatiếng mẹ đẻ và ngoại ngữ - ngôn ngữ thứ hai Nhiều lý thuyết về dạy học ngônngữ đã ra đời, luôn phát triển theo hướng ngày càng gần với chức năng chínhcủa ngôn ngữ - chức năng giao tiếp, đó là kết quả của sự nỗ lực không ngừngcủa các nhà nghiên cứu ngôn ngữ học Dưới ánh sáng của các lý thuyết này,việc dạy học tiếng Việt nói riêng và dạy học ngôn ngữ nói chung, đã được mởrộng, phát triển từ việc dạy cách nói cách viết theo đúng “chuẩn mực” sangviệc dạy ngôn ngữ theo quy tắc ngữ pháp đến dạy ngôn ngữ là dạy khả nănggiao tiếp trong cuộc sống Điều này được TS Nguyễn Thị Thanh Bình giớithiệu trong bài viết “Một số xu hướng lí thuyết của việc dạy tiếng mẹ đẻtrong nhà trường” [9], ở đó, tác giả đã nêu lên ba xu hướng của việc dạy tiếngtrong nhà trường, đó là: xu hướng hành vi luận, xu hướng bẩn sinh luận và xuhướng ngôn ngữ học xã hội

Có rất nhiều công trình nghiên cứu về tiếng Việt cũng như môn TiếngViệt trong nhà trường Nhưng xét trên bình diện chung, có thể thấy, số lượngcác bài viết, các công trình nghiên cứu về hợp phần lý thuyết ngôn ngữ vàtiếng Việt còn ít hơn các hợp phần khác

Cuốn Phương pháp dạy học tiếng Việt do Lê A chủ biên đã dành hẳn một chương để bàn về phương pháp dạy học phần lý thuyết ngôn ngữ và tiếng

Việt Trước chương này, nhóm tác giả cũng đã chỉ ra vị trí, nhiệm vụ, chương

Trang 11

trình của môn Tiếng Việt ở trường THPT Trong phương pháp dạy học TiếngViệt, các vấn đề như: đối tượng, nhiệm vụ, cơ sở lý thuyết và thực tiễn, cácphương pháp, nguyên tắc, thủ pháp dạy học cụ thể của môn Tiếng Việt cũngđược chỉ ra Đặc biệt trong cuốn sách này, GS Bùi Minh Toán đã đề cập đếnvấn đề phương pháp dạy những vấn đề lí thuyết chung về tiếng Việt và ngônngữ với các nội dung cơ bản như: vị trí, mục đích, nội dung chương trình,phương pháp dạy học Có thể nói, đây là một trong rất ít tài liệu nói về hợpphần lý thuyết ngôn ngữ và tiếng Việt Tuy nhiên, một số nội dung cụ thể củabài viết đã không còn phù hợp với chương trình và SGK Ngữ văn biên soạntheo nguyên tắc tích hợp

Ngoài ra, còn có rất nhiều bài viết, công trình nghiên cứu về các hợpphần khác, các khía cạnh chung trong việc dạy học Tiếng Việt như: dạy họctiếng Việt theo nguyên tắc tích hợp, dạy học tiếng Việt hướng vào hoạt độnggiao tiếp, hay dạy học tiếng Việt nhằm phát huy tính tích cực, chủ động củaHS đã được công bố Dù không tập trung vào vấn đề trọng tâm là phươngpháp dạy học lý thuyết ngôn ngữ và tiếng Việt, nhưng GV có thể tham khảo,để dạy học tốt hơn hợp phần này vì tất cả các vấn đề trong phân môn TiếngViệt đều có quan hệ qua lại tác động lẫn nhau, hướng tới mục đích cuối cùng

là rèn luyện kỹ năng nghe, nói, đọc, viết cho HS

Dạy cái gì? Dạy như thế nào? là hai vấn đề được Lê A bàn đến trong

bài viết Dạy tiếng Việt là dạy một hoạt động và bằng hoạt động [2] Tác giả

quan tâm đến vấn đề sử dụng ngôn ngữ trong giao tiếp, trình tự dạy họctiếng Việt cùng với một số thao tác cơ bản khi dạy học (thao tác phân tích -phát hiện, phân tích - chứng minh, phân tích - phán đoán) Bài viết cũng giớithiệu về phương tiện dạy học Grap - sơ đồ mạng để trình bày những vấn đềcần truyền đạt Có thể nói, bài viết này là một gợi ý tốt cho việc tổ chức các

Trang 12

hoạt động dạy học, lựa chọn sử dụng các phương pháp, phương tiện dạy họclý thuyết ngôn ngữ và tiếng Việt theo phương pháp giao tiếp.

Như vậy, vấn đề dạy học lý thuyết ngôn ngữ và tiếng Việt, cũng đã cócông trình nghiên cứu và các bài viết ở những quy mô khác nhau Tuy nhiên,cho đến nay vẫn còn thiếu những công trình đi sâu vào nghiên cứu toàn diệnphương pháp dạy học hợp phần này, đặc biệt là từ khi hai bộ sách Ngữ vănTHPT cơ bản và nâng cao được áp dụng đại trà Do đó, việc triển khai đề tài

Dạy học lý thuyết ngôn ngữ và tiếng Việt trong chương trình Ngữ Văn trung học phổ thông theo chúng tôi vẫn là vấn đề cấp thiết.

3 Đối tượng nghiên cứu

- Nội dung các bài lý thuyết ngôn ngữ và tiếng Việt trong chương trình

Ngữ văn THPT (cơ bản và nâng cao)

- Hoạt động dạy học các bài lý thuyết ngôn ngữ và tiếng Việt trong

chương trình Ngữ văn THPT (cơ bản và nâng cao)

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Tổng hợp một số vấn đề lý thuyết có liên quan đến đề tài

- Điều tra, khảo sát thực tế dạy học các bài lý thuyết ngôn ngữ và tiếngViệt ở một số trường trung học phổ thông

- Đề xuất một số biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học các bài lý thuyếtngôn ngữ và tiếng Việt

- Soạn giáo án và dạy một số bài để kiểm nghiệm các giải pháp đưa ra

5 Mục đích nghiên cứu

Đề tài hướng tới nâng cao chất lượng và hiệu quả dạy học các bài lýthuyết ngôn ngữ và tiếng Việt nói riêng, phần tiếng Việt nói chung trongchương trình Ngữ văn trung học phổ thông

6 Phương pháp nghiên cứu

Trang 13

Luận văn sử dụng phối hợp các phương pháp thuộc cả hai nhóm phương

pháp nghiên cứu lý thuyết và phương pháp nghiên cứu thực tiễn Cụ thể là: phương pháp phân tích và tổng hợp lý thuyết, phương pháp mô hình hoá, phương pháp quan sát, phương pháp điều tra, phương pháp thực nghiệm… Cả

hai nhóm phương pháp này, có tác dụng thiết thực giúp chúng tôi hoàn thành đềtài nghiên cứu Cụ thể: Phương pháp nghiên cứu lý thuyết giúp chúng tôi nắmbắt, sâu chuỗi, tổng hợp những vấn đề lý thuyết liên quan đến đề tài; Phươngpháp nghiên cứu thực tiễn giúp chúng tôi nắm vững thực tiễn, bởi đề tài chúngtôi lựa chọn là đề tài thuộc khoa học ứng dụng, do đó, thông qua việc quan sát,điều tra, phỏng vấn sẽ cung cấp cho chúng tôi những căn cứ xác thực để triểnkhai đề tài

7 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, luận văn sẽ được

triển khai trong ba chương:

Chương 1: Cơ sở lý thuyết và thực tiễn của đề tài.

Chương 2: Nguyên tắc, phương pháp dạy học lý thuyết ngôn ngữ và

tiếng Việt trong chương trình Ngữ văn THPT

Chương 3: Thực nghiệm sư phạm

Trang 14

Chương 1

CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

1.1 Cơ sở lý thuyết của đề tài

1.1.1 Vai trò của tri thức lý thuyết đối với việc học tiếng Việt và học ngoại ngữ của học sinh THPT

1.1.1.1 Vấn đề lý thuyết trong nghiên cứu ngôn ngữ học và Việt ngữ học

Ngôn ngữ là một hệ thống tín hiệu đặc biệt, có chức năng - xã hội,được sử dụng trong xã hội và chịu sự chi phối của quy luật xã hội Ngôn ngữ

là một hệ thống gồm những đơn vị ngôn ngữ (thứ tiếng) xác định Trong mỗingôn ngữ lại có các tiểu hệ thống như: Ngữ âm, Từ vựng, Ngữ pháp Mỗi tiểu

hệ thống lại chia thành các đơn vị nhỏ hơn, và tất cả các đơn vị này đều có vaitrò và ý nghĩa nhất định, giữa chúng có mối quan hệ khăng khít hỗ trợ chonhau, làm nên một hệ thống ngôn ngữ, mang trong mình chức năng quantrọng nhất đó là chức năng giao tiếp và là phương tiện để tư duy

Vậy tri thức lý thuyết ngôn ngữ đứng ở đâu trong hệ thống ngôn ngữ? Mỗi ngôn ngữ đều gắn liền với một đất nước, dân tộc, nó được sinh ra

và phát triển nhờ việc sử dụng - giao tiếp và tư duy của con người nơi đây.Chính điều này tạo nên màu sắc ngôn ngữ riêng của từng dân tộc trong hệthống ngôn ngữ thế giới và trong mỗi hệ thống ngôn ngữ - một thứ tiếng xácđịnh ấy, sẽ có nguồn gốc hình thành, phát triển, có yêu cầu sử dụng khácnhau trong giao tiếp ở mọi lĩnh vực, mỗi ngôn ngữ sẽ thuộc về một loại hìnhriêng, quy định đặc điểm phát âm và chữ viết khác nhau tất cả những vấn

đề này ở trong một hệ thống ngôn ngữ nào đó được gọi là tri thức lý thuyếtngôn ngữ

Trang 15

Tri thức lý thuyết ngôn ngữ không phải là những đơn vị cụ thể, riêng lẻnhư ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp mà hiện thân của nó là sự tổng hợp tất cả cáctri thức cụ thể trên tạo ra một diện mạo chung nhất, khái quát nhất về ngônngữ đó Tri thức lý thuyết giúp con người hiểu sâu sắc hơn, toàn diện hơn vềtiếng mẹ đẻ của mình, làm nảy sinh tình cảm, từ đó hình thành ý thức giữ gìn,bảo vệ và phát triển nó.

1.1.1.2 Vai trò của tri thức lý thuyết đối với việc học tiếng Việt của học sinh THPT

Trong chương trình giáo dục phổ thông ở nhiều quốc gia tiên tiến trênthế giới, môn học về tiếng mẹ đẻ được quan tâm và đầu tư thích đáng bởi tầmquan trọng của nó Dạy học tiếng mẹ đẻ trong nhà trường đã có cơ sở từ tiềmnăng ngôn ngữ của HS Do đó, chương trình dạy tiếng mẹ đẻ không lấy việccung cấp kiến thức ngôn ngữ học làm mục đích chính, mà quan trọng hơn làhướng đến việc cung cấp một công cụ hữu hiệu, một phương tiện đắc lực cho

HS hoàn thiện khả năng giao tiếp bằng tiếng mẹ đẻ Các nhà xã hội học chorằng con người muốn tồn tại, thích ứng và phát triển trong thế giới cần tốithiểu năm kĩ năng cơ bản: nghe, nói, đọc, viết và tính toán trong đó, bốn kĩnăng đầu tiên thuộc về năng lực giao tiếp Ở trường học, việc hình thành vàphát triển năng lực ấy cho người học là nhiệm vụ của tất cả các bộ môn, đặcbiệt là bộ môn dạy học tiếng, trước hết là tiếng mẹ đẻ

Cũng giống như xu hướng dạy tiếng trên thế giới, việc dạy học tiếngmẹ đẻ - tiếng Việt - ở Việt Nam hướng vào việc hoàn thiện khả năng giao tiếpcho HS Vì vậy, việc lựa chọn các đơn vị tri thức cho phân môn Tiếng Việtcần đảm bảo tính khoa học, tính hệ thống và phát triển, tính vừa sức

Trong phần tri thức, chương trình không ôm đồm tất cả các vấn đề vềtiếng Việt, mà chỉ lựa chọn những nội dung cơ bản nhằm phục vụ cho nguyêntắc chính là hướng HS vào hoạt động giao tiếp Bởi vậy, phần cung cấp tri

Trang 16

thức cơ bản gồm: những tri thức về hệ thống tiếng Việt và hoạt động của hệthống đó; tri thức về các loại hình văn bản; và đặc biệt, chương trình cũng đềcập đến một số vấn đề lý thuyết ngôn ngữ và tiếng Việt, chẳng hạn, nguồngốc và lịch sử tiếng Việt, loại hình tiếng Việt, chức năng của ngôn ngữ, tính

hệ thống của ngôn ngữ, các yêu cầu sử dụng tiếng Việt, giữ gìn sự trong sángcủa tiếng Việt

Với đặc điểm thiên về hình thành kiến thức và kĩ năng mới cho HS,hợp phần lý thuyết có vai trò quan trọng trong việc học tiếng Việt của HSTHPT

Tri thức lý thuyết nhằm nâng cao và hoàn thiện kiến thức các đơn vị cơbản mà HS đã học Tiếng Việt - môn học về tiếng mẹ đẻ được đưa vào giảngdạy từ bậc Tiểu học, THCS, với các đơn vị kiến thức cụ thể về ngữ âm, Từvựng, Ngữ pháp và Phong cách học, lồng ghép cả lý thuyết và thực hành.Nhưng, các bài học chỉ dừng lại ở mức độ cơ bản nhất Có nhiều lí do để giảithích cho vấn đề này, nhưng lí do quan trọng nhất đó là do HS ở lứa tuổi nàykhả năng tiếp nhận tri thức khái quát, tổng hợp còn hạn chế, do vậy cung cấpkiến thức cụ thể riêng lẻ sẽ phù hợp với mức độ tiếp thu của các em

Thêm vào đó, quy luật lĩnh hội tri thức của con người phải đi từ nhữngvấn đề riêng lẻ, cụ thể đến khái quát, trừu tượng Đến bậc THPT, HS hội đủcác điều kiện để lĩnh hội các tri thức khái quát, tổng hợp thể hiện ở các bài lýthuyết

Tri thức lý thuyết ngôn ngữ và tiếng Việt cung cấp cho HS sự đa dạngcủa hệ thống các ngôn ngữ trên thế giới, biết được vị trí của tiếng Việt trong

hệ thống ngôn ngữ chung đó, và mối quan hệ của tiếng Việt với các ngôn ngữ

họ hàng, lân cận

Tri thức lý thuyết ngôn ngữ và tiếng Việt góp phần rèn luyện phẩmchất, trí tuệ cho HS Hiểu được những bước thăng trầm của lịch sử ngôn ngữ

Trang 17

dân tộc, HS sẽ càng yêu hơn tiếng mẹ đẻ Ý thức giữ gìn và phát triển ngônngữ dân tộc trong thời kỳ hội nhập quốc tế phải được nâng cao nâng hơn đểtiếng Việt không bị lai căng, pha tạp, điều đó một phần được tạo nên nhờ trithức lý thuyết

1.1.1.3 Vai trò của tri thức lý thuyết đối với việc học ngoại ngữ của học sinh THPT

Với tốc độ hội nhập như hiện nay, việc một người có thể thành thạomột số ngoại ngữ không phải là điều lạ Ngoại ngữ trở thành “công cụ” cầnthiết để con người giao lưu, học hỏi Biết nhiều ngoại ngữ sẽ mở ra nhiều cơhội học tập và làm việc giữa người với người ở những quốc gia khác nhau

“Alan Doff cho rằng việc ảnh hưởng qua lại giữa tiếng mẹ đẻ vàngoại ngữ là có thật, và không nên né tránh hay cố tình không muốn nhìnnhận Larsen - Freeman nêu một số phương pháp giảng dạy tiếng Anh cósử dụng kiến thức sẵn có về cấu trúc ngôn ngữ và những phổ niệm(universals) của người học Rõ ràng, kiến thức có được thông qua học tập

và rèn luyện một ngôn ngữ này có thể giúp con người học một ngôn ngữkhác tốt hơn” [22]

Tri thức lý thuyết ngôn ngữ và tiếng Việt cung cấp cho HS một cái nhìn

sơ lược, toàn cảnh về sự đa dạng của ngôn ngữ trên thế giới ngoài tiếng Việt

và môn ngoại ngữ (có thể là tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Nga hay tiếng TrungQuốc ) mà HS đã và đang học Đồng thời, HS cũng biết được trong sự đadạng đó, các ngôn ngữ được xếp vào một số loại hình nhất định dựa vàonhững đặc điểm giống nhau cơ bản giữa chúng

1.1.2 Vai trò của tri thức lý thuyết đối với việc rèn luyện tư duy trừu tượng, khái quát cho học sinh THPT

Để khám phá và lĩnh hội tri thức thì năng lực tư duy là yêu cầu đầutiên và quan trọng nhất cần phải có Trong xu thế hội nhập ngày càng cao

Trang 18

và toàn diện của thế giới, tri thức tác động mạnh mẽ đến sự phát triển củakinh tế và văn hóa thì yêu cầu rèn luyện tư duy cho con người nói chung và

HS nói riêng là vấn đề được đặt lên hàng đầu của mọi nền giáo dục và toàn

xã hội

Trong thực tế, phát triển tư duy cho HS đã được xem là mục tiêu quantrọng của dạy học trong nhà trường Để đạt được mục tiêu đó, chương trìnhdạy học phải xây dựng theo hướng đồng tâm và phát triển; phát huy tính tíchcực, chủ động, sáng tạo của HS Đây là những điều kiện tốt để tư duy HShình thành và phát triển

Ngôn ngữ và tư duy không mâu thuẫn, không tách biệt nhau mà có mốiquan hệ biện chứng “Thực tiễn giảng dạy đã cho thấy rằng học sinh nào yếu

về tư duy đồng thời cũng yếu về ngôn ngữ và ngược lại, em nào yếu về ngônngữ cũng yếu về năng lực tư duy” [3, tr 56]

Nhận thức mối quan hệ giữa ngôn ngữ và tư duy, các nhà nghiên cứu

về phương pháp dạy học tiếng đã kết luận rằng: kiến thức, kĩ năng ngôn ngữphải được coi như là những yếu tố để phát triển tư duy; đảm bảo mối quan hệgiữa lời nói và tư duy trong dạy học Tiếng Việt; luyện tập cho HS diễn đạt tưtưởng của mình bằng các hình thức ngôn ngữ khác nhau

Tùy theo từng hợp phần của phân môn Tiếng Việt, với những nộidung, mục tiêu khác nhau, vai trò rèn luyện tư duy các hợp phần cũng khônggiống nhau

Chương trình phân môn Tiếng Việt hiện nay được xây dựng theo

hướng đồng tâm (với các đơn vị như: Ngữ âm, Từ vựng, Ngữ pháp, Phong cách học) và phát triển Hợp phần lý thuyết ngôn ngữ và tiếng Việt trong phân môn Tiếng Việt THPT chính là phần phát triển mà chương trình phân

môn đã xây dựng

Trang 19

Kiến thức trong hợp phần lý thuyết ngôn ngữ và tiếng Việt, chủ yếumang tính khái quát, tổng hợp nên hợp phần này có vai trò to lớn trong việcrèn luyện tư duy trừu tượng, khái cho HS.

Chẳng hạn, khi dạy học bài Những yêu cầu sử dụng tiếng Việt (Ngữ

văn 10), có yêu cầu “Về từ ngữ”, tuy nhiên, đó không phải là một loại từ

nào cụ thể (từ đơn, từ ghép: ghép đẳng lập, ghép chính phụ ) mà tổng hợp

về từ tiếng Việt được nhìn nhận, soi chiếu trong mối quan hệ với các tiểu hệthống nhỏ hơn (ngữ âm), lớn hơn (ngữ pháp, phong cách học) Thông quaviệc phân tích những hiện tượng ngôn ngữ riêng lẻ này, HS tiến hành thaotác tư duy trừu tượng để khái quát thành những tri thức ngôn ngữ và tiếngViệt

1.1.3 Đặc điểm tâm sinh lý của học sinh THPT và khả năng tiếp nhận các tri thức lý thuyết ngôn ngữ và tiếng Việt

Tâm sinh lí là quá trình phát triển tâm lí và thể chất của con người, vớicác giai đoạn khác nhau Hiểu đặc điểm tâm sinh lí là chìa khóa để mở mọicánh cửa của thế giới con người

Trong giáo dục, việc tìm hiểu tâm sinh lí lứa tuổi là điều kiện cần thiếtđể xây dựng những chương trình dạy học phù hợp nhằm phát triển và hoànthiện nhân cách con người trong mỗi HS

Hiểu được tầm quan trọng của vấn đề này, Điều 5 của Luật giáo dục khẳng định: “Coi trọng giáo dục tư tưởng và ý thức công dân; kế thừa và phát

huy truyền thống tốt đẹp, bản sắc văn hóa dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóanhân loại Phù hợp với sự phát triển về tâm sinh lí lứa tuổi” [26]

Về thể chất, khác với lứa tuổi học sinh THCS, học sinh THPT đạt đượcsự trưởng thành của cơ thể Các cơ quan trong cơ thể phát triển đạt đến độ ônhòa - bình thường, ít dao động về sức khỏe (đối với một cơ thể phát triển bìnhthường) Vì vậy, ở lứa tuổi này HS có sức khỏe, khả năng chịu đựng tốt để

Trang 20

học tập và hoạt động Sự phát triển của thể chất giai đoạn này có ảnh hưởngnhất định đến tâm lí và nhân cách.

Về tâm lí, học sinh THPT không còn bị kích động bởi cảm xúc như quávui, quá buồn, quá kích động và luôn biểu hiện ra ngoài như học sinhTHCS Tâm lí của các em tương đối ổn định, tuy vẫn còn dễ bị kích thích,nhưng không hoàn toàn bởi nguyên nhân tâm lí tuổi dậy thì mà còn bởi cáchsống của các em (sinh hoạt, học tập, lao động, vui chơi không điều độ )

Ở lứa tuổi này ngoài tình cảm gia đình bạn bè, còn nảy sinh một thứtình cảm mới - tình cảm khác giới Đây cũng là một yếu tố chi phối tâm lí họcsinh THPT

Ở lứa tuổi này, hoạt động tư duy của HS THPT phát triển mạnh, đặcbiệt là khả năng tư duy lô-gic, tư duy trừu tượng, khái quát Từ đó kéo theonhững năng lực phân tích, so sánh, tổng hợp cũng phát triển Đây là điều kiệnthuận lợi để các em tiếp thu những tri thức mới, mang tính khái quát cao củahợp phần lý thuyết ngôn ngữ và tiếng Việt

1.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài

1.2.1 Hợp phần lý thuyết ngôn ngữ và tiếng Việt trong chương trình Ngữ văn THPT

Trong quá trình dạy học, người GV luôn phải đối diện với câu hỏi:

làm thế nào để lựa chọn phương pháp dạy học phù hợp và có hiệu quả? Nhưng để trả lời câu hỏi này, trước hết chúng ta phải xác định được nội

dung dạy học Bởi nội dung và phương pháp là hai yếu tố có mối liên hệ

hữu cơ với nhau Một nội dung cụ thể đòi hỏi phải có phương pháp phùhợp Vì vậy, muốn tìm ra phương pháp dạy học những vấn đề lý thuyếtngôn ngữ và tiếng Việt phù hợp và có hiệu quả nhất, cần tìm hiểu nội dungphần lí thuyết ngôn ngữ và tiếng Việt trong chương trình và SGK Ngữ văn

Trang 21

Trong chương trình cũ, môn Tiếng Việt THPT được dạy ở lớp 10, 11

và được xem như là phân môn độc lập, không bị chi phối bởi Văn học và Làmvăn Hiện nay, phân môn Tiếng Việt được dạy học ở cả lớp 10, 11 và 12 Vớitinh thần tích hợp trong biên soạn chương trình và SGK, Tiếng Việt trở thànhmột phân môn có quan hệ qua lại, chặt chẽ với Đọc - hiểu, Làm văn và cả bahợp lại thành một cuốn sách lấy tên gọi Ngữ văn

Với nguyên tắc tích hợp, kiến thức về tiếng Việt không chỉ giúp HShiểu biết về các đơn vị ngôn ngữ của tiếng mẹ đẻ, mà còn hướng dẫn HS vậndụng kiến thức đó vào Đọc - hiểu văn bản và tạo lập văn bản Thông qua việcvận dụng này để củng cố, khắc sâu, nâng cao hiểu biết về tiếng Việt, và quantrọng hơn, hoàn thiện khả năng giao tiếp cho HS

So với chương trình và SGK CCGD năm 2000 thì chương trình vàSGK Ngữ văn THPT hiện nay có rất nhiều thay đổi Điểm mới dễ nhận ranhất, đó là hiện nay tồn tại hai chương trình và hai bộ SGK Ngữ văn Một bộđược xem là cơ bản, một bộ được gọi là nâng cao

Hợp phần lý thuyết ngôn ngữ và tiếng Việt trong chương trình cũ có

11 tiết trên tổng số 63 tiết (gồm cả 4 tiết ôn tập và kiểm tra) Trong chươngtrình phân môn Tiếng Việt THPT hiện nay, hợp phần lý thuyết ngôn ngữ vàtiếng Việt, ở sách cơ bản có 10 tiết trong tổng số 42 tiết (bao gồm cả 3 tiết ôntập) của chương trình Tiếng Việt; ở sách nâng cao có 12 tiết trên tổng số 53tiết của chương trình Tiếng Việt

Qua đó có thể thấy, hợp phần lý thuyết ngôn ngữ và tiếng Việt chiếmmột tỉ lệ tương đối trong toàn bộ số tiết học Tiếng Việt (kể cả chương trình cũ

và chương trình hiện hành) Điều này đã chứng minh cho vị trí và vai trò củahợp phần này trong chương trình Ngữ văn THPT cả cơ bản và nâng cao

Bảng 1.1 Thống kê các bài thuộc hợp phần lý thuyết ngôn ngữ

và tiếng Việt trong chương trình THPT

Trang 22

TIẾNG VIỆT THPT

HỢP NHẤT NĂM 2000

PHÂN MÔN TIẾNG VIÊT THPT (CƠ BẢN)

PHÂN MÔN TIẾNG VIỆT THPT NÂNG CAO)

10

Chương 1: Tiếng Việt

và sử dụng tiếng Việt

1 Khái quát về lịch sử

tiếng Việt (2 tiết)

2 Yêu cầu của việc sử

dụng tiếng Việt có

3 Khái quát lịch sử

tiếng Việt (1 tiết)

4 Những yêu cầu về sử dụng tiếng Việt (1 tiết)

1 Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ (2 tiết)

2, Đặc điểm văn bản nói và văn bản viết (1 tiết)

3 Khái quát lịch sử tiếng Việt (2 tiết)

4 Những yêu cầu sử dụng tiếng Việt (2 tiết)

11

Chương 1: Tiếng Việt

và giao tiếp bằng

ngôn ngữ

1 Đặc điểm loại hình

tiếng Việt (2 tiết)

2 Giữ gìn sự trong

sáng của tiếng Việt và

chuẩn hóa tiếng Việt

(1 tiết)

3 Sự giao tiếp bằng

ngôn ngữ (2 tiết)

1 Từ ngôn ngữ chung đến lời nói cá nhân (2 tiết).

2 Đặc điểm loại hình tiếng Việt (1 tiết)

1 Ngôn ngữ chung và lời nói cá nhân (2 tiết)

2 Đặc điểm loại hình tiếng Việt (2 tiết)

12

1 Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt (2 tiết)

1 Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt (2 tiết)

Nội dung hợp phần lý thuyết ngôn ngữ và tiếng Việt THPT là hợp phầnmang nội dung kiến thức hoàn toàn mới so với chương trình Tiếng ViệtTHCS Nó kế thừa từ chương trình Tiếng Việt hợp nhất năm 2000, nhưng

Trang 23

được xây dựng theo một hướng mới: coi trọng tính ứng dụng, tạo ra sự liênthông với Đọc - hiểu và Làm văn, nhằm hướng tới mục tiêu rèn luyện đầy đủcác kỹ năng nghe, nói, đọc, viết cho HS.

Nội dung kiến thức hợp phần này mang tính khái quát, tổng hợp khôngchỉ giúp HS nâng cao, hoàn thiện các tri thức về ngôn ngữ tiếng Việt đã học ởcác lớp dưới, cấp dưới, giúp HS học tốt hơn ngoại ngữ trong cái nhìn so sánh,đối chiếu mà quan trọng hơn là góp phần rèn luyện tư duy trừu tượng, kháiquát cho HS

1.2.2 Áp lực của việc đổi mới phương pháp dạy học lý thuyết ngôn ngữ và tiếng Việt từ chương trình và sách giáo khoa

Ngữ văn là một trong những môn học có vị trí và tầm quan trọng sốmột ở nhà trường phổ thông Ngoài chức năng công cụ, nó còn góp phần hìnhthành và phát triển bồi dưỡng tư tưởng, tình cảm và các phẩm chất cao đẹpcủa HS Vì vậy, không quốc gia nào coi nhẹ môn học này Để môn Ngữ vănxứng đáng với vị trí và tầm quan trọng của nó, vai trò quyết định thuộc về cáccác cấp quản lý của ngành giáo dục, những người xây dựng chương trình,biên soạn SGK cũng như đội ngũ nhà giáo trực tiếp đứng lớp

Được áp dụng đại trà từ năm học 2006 - 2007 đến nay, chương trình vàSGK cũng tạo ra nhiều áp lực đối với việc đổi mới phương pháp dạy họctrong nhà trường Áp lực này cũng thể hiện rõ ở hợp phần lý thuyết ngôn ngữ

và tiếng Việt - một hợp phần nghiêng hẳn về việc hình thành các tri thức lýthuyết

Vấn đề “tích hợp”được nghiên cứu, bàn luận dưới nhiều góc độ và

khía cạnh khác nhau, nhưng thực tế, nhiều GV và HS vẫn còn rất lúng túng.Vì vậy, để có được một phương pháp dạy học mới, hiệu quả cần phải hiểuchính xác, đầy đủ nguyên tắc tích hợp trong môn Ngữ văn nói chung vàtrong hợp phần lý thuyết ngôn ngữ và tiếng Việt THPT nói riêng

Trang 24

Sự liên thông, tác động hay nói ngắn gọn là tích hợp giữa hợp phần lýthuyết ngôn ngữ và tiếng Việt với: Đọc - hiểu, Làm văn và nội bộ phân mônTiếng Việt được thể hiện rất rõ trong việc lựa chọn và sử dụng ngữ liệu

Chương trình Tiếng Việt cũ, ngữ liệu sử dụng cho Tiếng Việt nóichung và các bài thuộc hợp phần lý thuyết ngôn ngữ và tiếng Việt nói riêng,được các nhà biên soạn SGK lựa chọn tự do theo ý muốn, miễn là ngữ liệu đóminh họa tốt cho các tri thức đã hoặc sẽ nêu trong bài Trong khi đó, ở hợpphần lý thuyết của phân môn Tiếng Việt hiện nay, ngữ liệu phải ưu tiên trướchết cho tất cả các văn bản đã và đang học trong SGK Ví dụ, trong hệ thống

câu hỏi hướng dẫn học bài của bài Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ (Ngữ

văn 10, cơ bản, tập 1, tr 15) có câu hỏi:

Anh (chị) vừa học bài Tổng quan văn học Việt Nam Hãy cho biết:

a Thông qua văn bản đó, hoạt động giao tiếp diễn ra giữa các nhân vậtgiao tiếp nào? (Ai viết? Ai đọc? Đặc điểm của các nhân vật đó về lứa tuổi,vốn sống, trình độ hiểu biết, nghề nghiệp, ?)

b Hoạt động giao tiếp đó được tiến hành trong hoàn cảnh nào? (Hoàncảnh có tổ chức, có kế hoạch của giáo dục nhà trường, hay là hoàn cảnh giaotiếp ngẫu nhiên, tự phát hàng ngày ?)

c Nội dung giao tiếp (thông qua văn bản đó) thuộc lĩnh vực nào? Về đềtài gì? Bao gồm những vấn đề cơ bản nào?

d Hoạt động giao tiếp thông qua văn bản đó nhằm mục đích gì (xét từphía người viết và từ phía người đọc)?

e Phương tiện ngôn ngữ và cách tổ chức văn bản có đặc điểm gì nổibật? (Dùng nhiều từ ngữ thuộc nghành khoa học nào? Văn bản có kết cấu rõràng với các đề mục lớn nhỏ thể hiện tính mạch lạc, chặt chẽ ra sao?)

Trang 25

Trong chương trình nâng cao, các ngữ liệu cũng được khai thác theo

tinh thần này, chẳng hạn trong hệ thống câu hỏi luyện tập của bài Hoạt động

giao tiếp bằng ngôn ngữ (Ngữ văn 10, nâng cao, tập 1, tr 124) có câu hỏi:

1 Hãy chỉ ra những nhân tố giao tiếp có liên quan đến văn bản Tổng

quan nền văn học Việt Nam qua các thời kì lịch sử.

2 Trong giao tiếp hằng ngày, bao giờ người Việt cũng phải lựa chọn từxưng hô cho phù hợp Từ những hiểu biết của anh (chị) về hoạt động giaotiếp, hãy giải thích lí do của sự lựa chọn đó Hãy phân tích cách xưng hô giữa

nhân vật Cải và thầy lí trong truyện cười Nhưng nó phải bằng hai mày.

Để trả lời được các câu hỏi dạng này, HS một mặt cần nắm vững tri

thức bài Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ mặt khác phải nhớ lại, đọc lại thật kĩ bài Tổng quan nền văn học Việt Nam (sách cơ bản), Tổng quan nền

văn học Việt Nam qua các thời kì lịch sử (sách nâng cao) Chính dạng bài tập

này, đã thể hiện được mối quan hệ qua lại giữa phân môn Tiếng Việt và Đọc hiểu văn bản Thông qua ngữ liệu của phần Đọc - hiểu giúp HS chiếm lĩnhđược tri thức Tiếng Việt, đồng thời thông qua tri thức Tiếng Việt củng cốkhắc sâu tri thức Đọc - hiểu Đây là dạng bài tập mới - thể hiện nguyên tắctích hợp mà chương trình Tiếng Việt cũ ít khi bắt gặp

-Nếu chỉ dùng ngữ liệu là các văn bản trong SGK sẽ nhàm chán, đơnđiệu khi tổ chức dạy học Hiểu được điều này, cộng với nguyên tắc tích hợpgiữa phân môn Tiếng Việt và Làm văn, trong câu hỏi luyện tập của các bài lýthuyết ngôn ngữ và tiếng Việt, những người biên soạn chương trình đã khéoléo lồng ghép những sản phẩm ngôn ngữ của HS (câu văn, đoạn văn, bàivăn ), để làm ngữ liệu giúp các em chiếm lĩnh tri thức Tiếng Việt và ngượclại để rèn luyện kĩ năng tạo lập văn bản cho HS

Chẳng hạn, khi dạy học bài Những yêu cầu về sử dụng tiếng Việt phần

luyện tập có câu hỏi sau: “Đọc lại bài làm văn số 4 của anh (chị), hãy phântích và sửa chữa các lỗi (nếu có) về chữ viết, về từ ngữ, về câu văn, về cấu tạo

Trang 26

đoạn bài” (Ngữ văn 10, cơ bản, tập 2, tr.68); cũng bài Những yêu cầu về sử

dụng tiếng Việt ở sách Ngữ văn 10, nâng cao có câu hỏi: “Lấy bài viết số 8

của anh (chị) và đánh giá văn bản ấy theo những yêu cầu về các mặt ngữ âm chữ viết, từ ngữ, ngữ pháp và phong cách chức năng ngôn ngữ trong việc sửdụng tiếng Việt” (tập 2, tr 204) Với việc lựa chọn ngữ liệu để tổ chức hoạtđộng dạy học từ sản phẩm ngôn ngữ của HS (các câu, các đoạn văn, bài văn),dưới sự dẫn dắt của GV, HS sẽ nhận ra những ưu điểm và cả những hạn chếtrong cách sử dụng ngôn ngữ của mình, từ đó các em sẽ tìm cách khắc phục,bổ sung những thiếu hụt trong vốn ngôn ngữ của mình

-Với cách lựa chọn ngữ liệu này, không những thể hiện được nguyêntắc tích hợp trong dạy học Ngữ văn, thể hiện được mối quan hệ hai chiều giữahợp phần lý thuyết ngôn ngữ và tiếng Việt với: Đọc - hiểu văn bản, Làm văn

và nội bộ phân môn Tiếng Việt, mà còn tạo ra nguồn ngữ liệu dạy học các bàilý thuyết ngôn ngữ và tiếng Việt thêm phong phú, giúp GV tâm huyết, thiếtkế tiết học lý thuyết ngôn ngữ và tiếng Việt hiệu quả, HS tích cực, chủ độngchiếm lĩnh tri thức

Trong dạy học tiếng, đòi hỏi tính hệ thống rất cao Tuy nhiên, chươngtrình phân môn Tiếng Việt THPT, trong đó có hợp phần lý thuyết ngôn ngữ

và tiếng Việt tính hệ thống bị vi phạm nghiêm trọng Chính điều này cũng tạo

ra áp lực không nhỏ, đối với việc đổi mới phương pháp dạy học hợp phần lýthuyết ngôn ngữ và tiếng Việt

Việc đổi mới phương pháp dạy học hợp phần lý thuyết ngôn ngữ vàtiếng Việt không chỉ gặp áp lực từ nhận thức về nguyên tắc tích hợp trong dạyhọc; từ sự “phi hệ thống” của chương trình và SGK, mà còn chịu áp lực từchính nội dung cụ thể trong các bài học thuộc hợp phần này

Vẫn biết, một phương pháp dạy học hiệu quả phải được xây dựng trênmột nội dung dạy học xác định SGK vẫn được coi là chuẩn kiến thức, GV

Trang 27

vẫn luôn phải tự trau dồi tri thức trong quá trình giảng dạy, nhằm tạo ra nhữngphương pháp dạy học có hiệu quả nhất Thế nhưng, chương trình phân mônTiếng Việt, đặc biệt là hợp phần lý thuyết ngôn ngữ và tiếng Việt, ở từng bàihọc cụ thể, chỗ này hay chỗ khác đang đặt GV vào những tình huống khókhăn khi đổi mới phương pháp dạy học.

Ví dụ, khi dạy bài Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ (Ngữ văn 10, nâng cao, tập 1), mục Các chức năng chính của ngôn ngữ trong giao tiếp, nêu

ba chức năng chính: chức năng thông báo sự việc; chức năng bộc lộ; chứcnăng tác động, trong SGK có đoạn viết “Thông thường thì những chức năngnày được thể hiện đan quyện vào nhau Tuy nhiên, cũng có những trườnghợp, tùy thuộc vào loại văn bản mà một chức năng nào đó có thể đóng vai tròchính yếu hay thứ yếu Chẳng hạn một bản tin thời tiết sẽ thiên về chức năngthông báo; một bài thơ trữ tình sẽ thiên về chức năng bộc lộ; một khẩu hiệu sẽthiên về chức năng tác động ” (tr.122) Trong cụm từ “một khẩu hiệu” thì

“khẩu hiệu” là danh từ trừu tượng, “một” là lượng từ Vì vậy, GS.TS Đỗ Thị

Kim Liên trong bài viết Một số kiến thức bổ trợ cho bài dạy Hoạt động giao

tiếp bằng ngôn ngữ [24], đã chỉ ra rằng: lượng từ không kết hợp trực tiếp với

danh từ trừu tượng, do đó theo tác giả “nên chỉnh lại cụm từ “một khẩu hiệu”thành “một câu khẩu hiệu” Trong tiếng Việt, khi sử dụng lượng từ “một” thìsau nó phải là danh từ chỉ loại chứ không phải danh từ chỉ sự vật, trừ trườnghợp tĩnh lược trong ngữ cảnh: một (chiếc) bánh

Một điểm bất cập nữa cũng được tác giả Đỗ Thị Kim Liên chỉ ra: khi

dạy bài Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ ở sách lớp 10 nâng cao, “cần

phân biệt chức năng thông tin cũng như các chức năng khác được thể hiệntrong lời nói (hay giao tiếp) qua hai cấp độ: cấp độ câu hay văn bản Vì nếukhông phân biệt tính cấp độ này, thì các ngữ liệu đưa ra sẽ khập khiễng Ở vídụ: “một bản tin thời tiết sẽ thiên về chức năng thông báo; một bài thơ trữ tình

Trang 28

sẽ thiên về chức năng bộc lộ; một khẩu hiệu sẽ thiên về chức năng tác động, thì “một bản tin và một bài thơ là thuộc cấp độ văn bản còn một khẩu hiệu lạithuộc cấp độ câu (không nói văn bản khẩu hiệu)”.

Cũng trong bài Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ (Ngữ văn 10 cơ

bản, tập 1, tr.14 - 15), SGK chỉ đưa ra một mục: “Thế nào là hoạt động giaotiếp bằng ngôn ngữ?”, tuy nhiên đến phần “Ghi nhớ” SGK lại chia ra ba phầnrõ ràng, cụ thể, đó là: khái niệm hoạt động giao tiếp; quá trình giao tiếp; nhân

tố giao tiếp Điều này cũng tạo nên khó khăn cho GV khi giảng dạy Theo ýkiến của TS Trịnh Thị Mai, “SGK gộp chung trong một mục và quá trìnhphân tích cũng không rõ ràng ba vấn đề cho nên cả giáo viên và học sinh sẽlúng túng khi tổng hợp ở phần ghi nhớ Nếu theo SGK thì có những vấn đề

chưa được phân tích ở ngữ liệu (chẳng hạn như quá trình của hoạt động giao

tiếp) cũng phải tổng hợp ở ghi nhớ Đó là điều tỏ ra khập khiễng trong khi

dạy” [29]

Những khía cạnh này tưởng nhỏ và không đáng bàn nhưng khi đi vàonhững tiết học cụ thể nó lại là một trở ngại lớn cho việc lựa chọn, triển khaimột phương pháp thích hợp

Việc thiết kế những câu hỏi gợi mở, đang được xem là một hướng lựachọn thích hợp để thu hút sự chú ý của HS trong giờ học, giúp HS tư duy đểlĩnh hội tri thức Hợp phần lý thuyết chung về ngôn ngữ và tiếng Việt nghiêng

về cung cấp tri thức lý thuyết, nếu không khéo léo GV sẽ không kích thíchđược HS tham gia hoạt động để lĩnh hội tri thức, mà ngược lại sẽ khiến HSbuồn ngủ

Vì vậy, hệ thống câu hỏi trong mỗi bài học có vị trí vô cùng quan trọng,thế nhưng khi nhìn vào hệ thống câu hỏi của hợp phần lý thuyết ngôn ngữ vàtiếng Việt, thì một số “câu hỏi quá dài”, “dùng từ rối rắm” và các “câu hỏi lặp

đi lặp lại một kiểu”, gây cho HS cảm giác nhàm chán, đó là nhận xét của tác

Trang 29

giả Trịnh Thị Mai trong bài viết “Về bài Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ, tiết 1 (Ngữ văn 10, tập 1 - Đôi điều cần trao đổi và hướng thực hiện) [29].

Thực tế trong dạy học Tiếng Việt, bao gồm cả hợp phần lý thuyết ngônngữ và tiếng Việt, phần lớn GV Ngữ văn đều dùng lại hoàn toàn câu hỏi trongSGK vì họ sợ sự sáng tạo của mình không đúng với chuẩn kiến thức - SGK,trong khi đó, nhiều câu hỏi thuộc hợp phần này vẫn chưa hợp lí Đây cũng lànhững khó khăn cho việc đổi mới phương pháp dạy học hợp phần lý thuyếtngôn ngữ và tiếng Việt do chương trình và SGK đưa lại

Mỗi lần thay SGK là một lần các thành tựu mới trong nghiên cứungôn ngữ học và Việt ngữ học được đưa vào chương trình Nhưng khôngphải tất cả GV dạy Tiếng Việt đều cập nhật được đầy đủ những tri thức này.Đây cũng là trở ngại lớn để GV có thể đề ra một phương pháp dạy họcTiếng Việt tối ưu, trong đó có hợp phần lý thuyết ngôn ngữ và tiếng Việt

Tóm lại, để có được phương pháp dạy học hợp phần lý thuyết ngônngữ và tiếng Việt hợp lí, có hiệu quả, GV cần nhận thức đúng những áplực đến từ chương trình và SGK Đây là sự thách thức không nhỏ, bởi thựctế, không ít GV chưa có được những phương pháp và thủ pháp dạy học phùhợp, đáp ứng những yêu cầu ngày càng cao của nhà trường và xã hội

1.2.3 Thực trạng việc dạy học hợp phần lý thuyết ngôn ngữ và tiếng Việt ở trường THPT hiện nay

Khi thực hiện đề tài Dạy học lý thuyết ngôn ngữ và tiếng Việt trong chương trình Ngữ văn THPT chúng tôi đã dạy thực nghiệm, dự giờ và đi

sâu khảo sát, điều tra tình hình dạy học của GV và HS ở trường THPT HàmNghi, huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh

Có một thực tế, HS rất ngại học tiếng Việt nói chung, các bài lý thuyếtngôn ngữ và tiếng Việt nói riêng, vì theo các em, nó vừa khó, vừa thiếu sứchấp dẫn Mặt khác, mảng tri thức này không có mặt trong đề thi tốt nghiệp và

Trang 30

tuyển sinh đại học hằng năm Kết quả là HS rất yếu trong sử dụng tiếng mẹđẻ

Không chỉ yếu về khả năng giao tiếp, HS còn thực sự non kém trongtạo lập văn bản dạng viết

Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng HS ngại học hợp phần lýthuyết ngôn ngữ và tiếng Việt, trong đó nguyên nhân đầu tiên phải kể đến làchương trình phân môn Tiếng Việt

Trả lời phỏng vấn trên báo Hà Nội mới Online, PGS.TS Vũ Thị Thanh

Hương cho rằng, “các nội dung chương trình tiếng Việt phổ thông hiệnnghiêng về cung cấp kiến thức hơn là các hoạt động phát triển kĩ năng, chưađủ tạo cho người học năng lực giao tiếp như mục tiêu đề ra” [21]

Ý kiến của nhiều nhà nghiên cứu giáo dục và các nhà sư phạm đangtrực tiếp giảng dạy phân môn này cũng cho rằng chương trình vẫn nặng vềcung cấp tri thức lý thuyết hơn là hình thành kĩ năng cho HS

Cũng phải thấy nguyên nhân từ phía người học HS có thể chăm chútheo dõi liên tục cả chục tập phim, vào mạng hàng giờ để tìm kiếm thông tinmình yêu thích, nhưng các em rất khó tập trung vào một tác phẩm trong SGK,tiếng Việt

Dạy học là quá trình tương tác giữa GV, HS và kiến thức bài học trongđó, GV có vai trò quan trọng trong việc tổ chức cho HS lĩnh hội tri thức Thựctrạng HS yếu kém về môn Tiếng Việt trong đó có hợp phần lý thuyết ngônngữ và tiếng Việt một phần thuộc về trách nhiệm của thầy, cô giáo

Qua việc dự giờ bài học thuộc hợp phần này ở một số lớp, chúng tôithấy GV chỉ cố gắng trình bày lại tất cả những gì SGK đã có Phần hệ thốngcâu hỏi hướng dẫn học bài vốn là địa hạt để HS tham gia thể hiện bản thân,lĩnh hội tri thức, và cao hơn là rèn luyện khả năng giao tiếp trước tập thể, thìphần lớn GV chỉ dùng lại nguyên xi các câu hỏi gợi ý của SGK, cả về số

Trang 31

lượng lẫn cách hỏi Qua trao đổi về vấn đề này, phần lớn các GV đều chorằng, họ không thể hỏi khác ngoài câu hỏi của SGK vì sợ sai và cũng vìkhông biết phải hỏi như thế nào.

Tình trạng thi cử vẫn là gánh nặng đè bẹp mọi phương pháp được cho

là tích cực trong dạy học Tiếng Việt Trong đề tài nghiên cứu “ Thái độ của

giáo viên đối với việc dạy - học môn Tiếng Việt theo chương trình và sách giáo khoa hiện hành”, PGS.TS Vũ Thị Thanh Hương khẳng định: “Gần 60%

giáo viên THPT thông báo rằng họ dành trên 50% thời lượng của môn ngữvăn trong một tuần cho học sinh làm bài kiểm tra chuẩn bị cho các kỳ thi cử.Điều này có thể thấy thi cử cuối cấp là một áp lực tác động rất lớn đến hoạtđộng giảng dạy của giáo viên Rất ít giáo viên sử dụng thời gian cho các hoạtđộng ngôn ngữ như thuyết trình, trò chơi ngôn ngữ, những hoạt động có vaitrò quan trọng trong việc tăng cường tính chủ động, sáng tạo của học sinh vàđược học sinh đón nhận tích cực” [20]

Từ thực tế nêu trên, chúng ta cần có những giải pháp để khắc phục,giảm dần tình trạng học đối phó ở HS, tạo hứng thú cho các em khi học hợpphần này, hướng các em đến việc biết cách học và tự học Đồng thời tạo điềukiện để GV giảng dạy tốt, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục

Để đề xuất một số giải pháp dạy học hợp phần lý thuyết ngôn ngữ vàtiếng Việt có hiệu quả, chúng tôi đã đi sâu khảo sát, điều tra tình hình dạy họccủa GV và HS ở trường THPT Hàm Nghi thuộc huyện Hương Khê, tỉnh HàTĩnh Chúng tôi đã đưa ra 6 phiếu điều tra, mỗi phiếu là một câu hỏi có tínhchất trắc nghiệm, với những phương án trả lời khác nhau Kết quả cụ thể nhưsau:

Phiếu 1:

Trang 32

Sau gần 10 năm trực tiếp thực hiện chương trình và sách giáo khoa Ngữ văn trung học phổ thông hiện hành, theo thầy/cô, phần Tiếng Việt trong chương trình Ngữ văn THPT hiện nay là:

a) Phù hợp về dung lượng kiến thức và đảm bảo tính hệ thống, đảm bảo yêu cầu tích hợp đối với môn học.

b) Chưa phù hợp về dung lượng kiến thức và chưa đảm bảo tính hệ thống, chưa đảm bảo yêu cầu tích hợp đối với môn học.

c) Ý kiến khác

Bảng 1.2 Kết quả điều tra nhận thức của giáo viên về phần Tiếng Việt

trong chương trình Ngữ văn THPT

SỐ NGƯỜI

ĐƯỢC HỎI

TRẢ LỜI PHƯƠNG ÁN A

TRẢ LỜI PHƯƠNG ÁN B

TRẢ LỜI PHƯƠNG ÁN C47

100%

3268,1%

1531,9%

00%

Với phiếu thứ nhất, chúng tôi hướng tới mục đích là điều tra thái độ của

GV về chương trình Tiếng Việt THPT Qua các số liệu có được ở bảng 1.2,chúng ta thấy rằng, trong 47 GV được hỏi, có tới 32 người nêu quan điểm:chương trình đã có sự phù hợp về dung lượng kiến thức và đảm bảo tính hệthống, đảm bảo yêu cầu tích hợp đối với môn học (chiếm 68,1%) Ngược lại,

số người cho rằng chương trình không đảm bảo các yêu cầu trên là 15 người,chiếm 31,9% Không có người nào có ý kiến khác Như vậy, chương trìnhchưa phải đã nhận được sự tán đồng hoàn toàn của GV đứng lớp Điều này có

cơ sở Do biên soạn chương trình theo nguyên tắc tích hợp, các bài tiếng Việtphải phụ thuộc vào phần Đọc - hiểu, vì thế, tính hệ thống không được đảmbảo Các số liệu trên giúp ta khẳng định một điều: chương trình và SGK chưanhận được sự tán đồng cao của đội ngũ GV trực tiếp đứng lớp Số người chưa

Trang 33

bằng lòng với chương trình còn chiếm tỉ lệ khá cao Đây cũng là một vấn đềcần lưu ý cho những nhà biên soạn chương trình và SGK sắp tới.

Phiếu 2:

Dạy học các bài tiếng Việt trong chương trình Ngữ văn THPT hiện nay, theo thầy/cô, vấn đề khó khăn thường gặp phải là:

a) Tri thức trong các bài tiếng Việt.

b) Vấn đề phương pháp dạy học

c) Yêu cầu tích hợp tri thức giữa các phân môn.

d) Ý kiến khác.

Bảng 1.3 Kết quả điều tra nhận thức của giáo viên về những khó khăn

trong dạy học tiếng Việt

SỐ NGƯỜI

ĐƯỢC HỎI

TRẢ LỜI HƯƠNG ÁN A

TRẢ LỜI PHƯƠNG ÁN B

TRẢ LỜI PHƯƠNG ÁN C

TRẢ LỜI PHƯƠNG ÁN D51

100%

1529,4%

2345,1%

1019,6%

35,9%

Hiện nay, không chỉ GV đứng lớp mà một phần từ những người làmgiáo dục quan niệm, trong môn Ngữ văn thì phần văn mới là trọng tâm.Điều này dễ dàng nhận thấy qua các đề thi tốt nghiệp THPT hay thi đại họcvẫn rất ít những câu hỏi về nội dung tiếng Việt, đặc biệt là những nămtrước đây Vì vậy, GV thường ngại dạy học tiếng Việt, đây là một thực tếvẫn được xem là vấn đề chưa có hướng khắc phục mang tính lâu dài Kếtquả điều tra cho thấy, trong tổng số 51 người được hỏi, có 15 người khẳngđịnh tri thức chính là khâu khó khăn trong việc dạy học tiếng Việt (chiếm29,4%) Đây là một tỉ lệ khá cao, 23 người cho rằng khó khăn là ở khâuphương pháp dạy học, chiếm 45,1% Tích hợp tri thức trong dạy học TiếngViệt không còn là một vấn đề mới, thế nhưng vẫn có 10 người nêu vấn đề

Trang 34

này, chiếm 19,6% Có 3 người chọn phương án khác (thấy khó ở tất cả cáckhâu) tỉ lệ 5,9% Từ kết quả điều tra trên, bước đầu có thể khẳng định: nộidung và phương pháp dạy học vẫn là những vấn đề thu hút sự quan tâm củaphần lớn GV Đây là căn cứ cho những người biên soạn chương trình vàSGK Tiếng Việt THPT tiếp tục chỉnh lý, sửa đổi, thậm chí cần được viếtlại Trên thế giới, vòng đời của một cuốn SGK thường là 10 năm Ngônngữ luôn thay đổi, nhận thức của chúng ta cũng thay đổi và chính xã hộicũng không ngừng đổi thay Vì vậy, việc rà soát, chỉnh sửa và làm mớichương trình SGK là tất yếu.

Phiếu 3:

Là người trực tiếp thực hiện chương trình và sách giáo khoa Ngữ văn trung học phổ thông, theo thầy/ cô, nội dung chương trình Tiếng Việt THPT hiện nay:

a) Phù hợp với mục tiêu rèn luyện kỹ năng, phát triển khả năng giao tiếp cho HS.

b) Chưa phù hợp với mục tiêu vì chương trình nghiêng về cung cấp kiến thức hơn là các hoạt động phát triển kĩ năng cho HS.

c) Ý kiến khác.

Bảng 1.4 Kết quả điều tra nhận thức của giáo viên về mục tiêu

rèn luyện kĩ năng cho HS qua dạy học phần Tiếng Việt

trong chương trình Ngữ văn THPT

SỐ NGƯỜI

ĐƯỢC HỎI

TRẢ LỜI PHƯƠNG ÁN A

TRẢ LỜI PHƯƠNG ÁN B

TRẢ LỜI PHƯƠNG ÁN C48

100%

1531,3%

3368,7%

00%

Trang 35

Sau gần 10 năm đưa vào giảng dạy đại trà trong cả nhà nước, chươngtrình phân môn Tiếng Việt hiện nay đã gần hoàn thành sứ mệnh của mình.Nhìn lại mục tiêu rèn luyện kĩ năng, hướng tới hoàn thiện khả năng giao tiếpbằng tiếng Việt cho HS, với câu hỏi này phần lớn GV đều cho rằng chươngtrình Tiếng Việt chưa phù hợp với mục tiêu rèn luyện kĩ năng, với 48 GVđược hỏi thì có tới 33 người (chiếm 68,7%) chọn đáp án này, họ cho rằngchương trình nghiêng về cung cấp kiến thức hơn là các hoạt động phát triển kĩnăng cho HS Nhưng cũng có 15 người cho rằng chương trình phù hợp vớimục tiêu rèn luyện kĩ năng, phát triển khả năng giao tiếp cho HS, chiếm31,3% số người được hỏi Không ai có ý kiến khác Kết quả này cũng tươngđối trùng hợp với các ý kiến nhận định của các chuyên gia giáo dục trong Hộithảo Khoa học Quốc gia về dạy học môn Ngữ văn, tổ chức ngày 05,06/01/2013 tại thành phố Huế và một số bài viết và công trình nghiên cứu củaViện ngôn ngữ học.

Phiếu 4:

Là người trực tiếp theo sát các em trong mỗi bài học thầy/ cô có nhận xét gì về kết quả học tập môn Tiếng Việt theo chương trình hiện nay của đa số

HS trong lớp mình đang giảng dạy?

a) Phần lớn HS đạt kết quả khá, giỏi.

b) Phần lớn HS đạt kết quả trung bình.

c) Phần lớn HS có kết quả kém.

d) Lẫn lộn giữa các mức khó chỉ ra xu hướng.

Bảng 1.5 Kết quả điều tra nhận xét của giáo viên về thực trạng học của

HS đối với phần Tiếng Việt trong chương trình Ngữ văn THPT

SỐ NGƯỜI

ĐƯỢC HỎI

TRẢ LỜI PHƯƠNG ÁN A

TRẢ LỜI PHƯƠNG ÁN B

TRẢ LỜI PHƯƠNG ÁN C

TRẢ LỜI PHƯƠNG ÁN D

Trang 36

100% 20% 56% 20% 4%

Khi đặt câu hỏi này với GV đứng lớp, chúng tôi muốn kiểm tra lại cácthông tin trên các phương tiện thông tin cũng như nhiều bài viết, các côngtrình nghiên cứu và chính từ các thầy, cô vẫn thường nói: năng lực đọc, nghe,nói, viết tiếng Việt của nhiều HS (thậm chí cả những em đã tốt nghiệp THPT)còn rất yếu Trong 50 người được hỏi thì có tới 28 người (chiếm 56%) chorằng kết quả học tập môn Tiếng Việt của HS lớp họ đang giảng dạy phần lớnchỉ đạt kết quả trung bình 10 người (chiếm 20%) cho rằng phần lớn các emđang học trong lớp họ đạt kết quả yếu kém về phân môn Tiếng Việt, và 2người (chiếm 4%) cho rằng có sự lẫn lộn giữa các mức, khó chỉ ra xu hướng.Nhưng vẫn may mắn có đến 10 người (chiếm 20%) cho rằng, phần lớn HStrong lớp họ đang giảng dạy đạt kết quả khá giỏi Kết quả này cũng cho thấy

HS ở những vùng kinh tế phát triển - thành thị học tốt phân môn này hơn HSở vùng kinh tế khó khăn - miền núi đặc biệt là những trường có nhiều HS dântộc thiểu số theo học Chính vì vậy, chúng ta cần xây dựng một chương trìnhphù hợp với nhiều đối tượng HS, vì theo nhận xét của một số GV, nhất là các

GV dạy ở vùng khó khăn họ cho rằng chương trình còn tương đối nặng với

HS của họ

Phiếu 5:

Theo thầy/ cô, hợp phần lý thuyết ngôn ngữ và tiếng Việt trong sách giáo khoa Ngữ văn THPT hiện này là:

a) Không hấp dẫn, khó dạy và khó học.

b) Hấp dẫn, tạo được hứng thú cho người dạy và người học.

c) Bình thường, nhiều điều cần chỉnh sửa trong lần thay sách sắp tới d) Ý kiến khác.

Trang 37

Bảng 1.6 Kết quả điều tra về thái độ của giáo viên đối với hợp phần lý thuyết ngôn ngữ và tiếng Việt

trong chương trình Ngữ văn THPT

SỐ NGƯỜI

ĐƯỢC HỎI

TRẢ LỜI PHƯƠNG ÁN A

TRẢ LỜI PHƯƠNG ÁN B

TRẢ LỜI PHƯƠNG ÁN C

TRẢ LỜI PHƯƠNG ÁN D50

100%

714%

1530%

2550%

36%

Phiếu số 5, điều tra về nhận thức của GV về nội dung hợp phần lýthuyết ngôn ngữ và tiếng Việt trong chương trình, SGK Ngữ văn THPThiện hành Có 7 người đánh giá thấp hợp phần lý thuyết ngôn ngữ và tiếngViệt (chiếm 14%) Số người cho rằng chương trình hấp dẫn, tạo được hứngthú cho người dạy và người học là 15 người (chiếm 37%) Có 25 người(chiếm 50%) đánh giá chương trình là bình thường, cần chỉnh sửa trongnhững lần thay SGK sắp tới Số GV có ý kiến khác là 3 người (chiếm 6%).Như vậy, tỉ lệ giữa những người đánh giá cao chương trình và những ngườithỏa mãn một mức độ nào đó với chương trình cũng có sự chênh lệchtương đối Điều này là tất yếu, phản ánh sự phân hóa của trình độ và nhậnthức của GV đối với một chương trình đã đi vào giảng dạy gần 10 năm, sắpcó sự điều chỉnh, đặc biệt là ngôn ngữ vì nó luôn thay đổi

Phiếu 6:

Trong dạy học hợp phần lý thuyết ngôn ngữ và tiếng Việt, thầy/ cô áp dụng nhiều nhất phương pháp nào trong các phương pháp sau đây:

a) Phương pháp đọc SGK và nêu vấn đề.

b) Phương pháp phối hợp diễn giảng và đàm thoại.

c) Phương pháp thảo luận nhóm.

Trang 38

d) Phương pháp phân tích ngôn ngữ

e) Phối hợp đồng thời các phương pháp trên đây.

Bảng 1.7 Kết quả điều tra thực trạng áp dụng các phương pháp dạy học đối với hợp phần lý thuyết ngôn ngữ và tiếng

Việt trong chương trình Ngữ văn THPT

SỐ NGƯỜI

ĐƯỢC HỎI

TRẢ LỜI PHƯƠNG

ÁN A

TRẢ LỜI PHƯƠNG

ÁN B

TRẢ LỜI PHƯƠNG

ÁN C

TRẢ LỜI PHƯƠNG

ÁN D

TRẢ LỜI PHƯƠNG

ÁN E48

100%

510,4%

1225%

816,7%

36,2%

2041,7%

Phương pháp dạy học luôn là vấn đề thu hút sự quan tâm của GV Điềunày phản ánh cuộc vận động đổi mới phương pháp trong dạy học của ngànhgiáo dục đang diễn ra rất tích cực, đồng thời phương pháp dạy học là khâu mà

GV gặp nhiều khó khăn, cần tháo gỡ nhất Bảng 1.8 trên đây cho ta những kếtquả cụ thể về vấn đề này trên cơ sở dạy học hợp phần lý thuyết ngôn ngữ vàtiếng Việt trong chương trình Ngữ văn THPT Trong số 48 GV được hỏi, chỉcó 5 người chọn phương án trả lời A (chiếm 10,4%), là phương pháp đọcSGK và nêu vấn đề vào dạy học hợp phần lý thuyết ngôn ngữ và tiếng Việt Có 12 người (chiếm 25%) chọn phương pháp phối hợp diễn giảng và đàmthoại Kết quả lựa chọn phương pháp này tương đối cao bởi đây là hợp phầnchủ yếu thiên về hình thành kiến thức, kỹ năng mới nên việc cung cấp trithức khoa học được đặt lên hàng đầu Phương pháp thảo luận nhóm, theo

GV đây là phương pháp dễ áp dụng nhưng kết quả mang lại thực tế khôngcao mà gây mất trật tự khó quản lí lớp học bởi vậy chỉ có 8 người lựa chọnchiếm 16,7% Chỉ có 3 người lựa chọn phương pháp phân tích ngôn ngữ,chiếm 6,2% Cuối cùng, đa số người được hỏi lựa chọn phương án phối hợp

Trang 39

đồng thời các phương pháp trong dạy học hợp phần lý thuyết ngôn ngữ vàtiếng Việt, với 20 người lựa chọn chiếm 41,7% Câu trả lời này, nếu đúngthực tế là họ đã phần lớn phối hợp đồng thời nhiều phương pháp, thì nhậnthức của GV về sự lựa chọn phương pháp dạy học đã có nhiều khởi sắc Bởi,trong dạy học, không có phương pháp nào là vạn năng Việc áp dụngphương pháp phải tùy thuộc vào nội dung bài học Đặc biệt, phối hợp đồngthời các phương pháp là cách làm hữu hiệu nhất.

Trang 40

Chương 2 NGUYÊN TẮC, PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC LÝ THUYẾT

NGÔN NGỮ VÀ TIẾNG VIỆT TRONG CHƯƠNG TRÌNH

NGỮ VĂN TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

2.1 Các nguyên tắc dạy học lý thuyết ngôn ngữ và tiếng Việt

Nguyên tắc dạy học là hệ thống xác định những yêu cầu cơ bản, có tínhchất xuất phát để chỉ đạo việc xác định nội dung, phương pháp và hình thức tổchức dạy học phù hợp với mục đích giáo dục, với nhiệm vụ dạy học và vớinhững tính quy luật của quá trình dạy học

Từ cách hiểu trên, ta có thể xác định nguyên tắc dạy học tiếng Việt lànhững quan điểm cơ bản được coi là tiền đề để xác định nội dung, phươngpháp và cách thức tổ chức hoạt động dạy học tiếng Việt trong nhà trường

Hợp phần lý thuyết ngôn ngữ và tiếng Việt được đưa vào dạy học trongchương trình THPT, nhằm nâng cao và hoàn thiện kiến thức về ngôn ngữtiếng Việt cho HS Có nhiều nguyên tắc, kể cả nguyên tắc chung và nguyêntắc đặc thù của dạy học tiếng Việt được vận dụng khi dạy học hợp phần này,tuy nhiên để đạt hiệu quả cao khi dạy học lý thuyết ngôn ngữ và tiếng Việt,

cần đảm bảo vận dụng tốt ba nguyên tắc: đảm bảo mối quan hệ giữa phần lý

thuyết và các hợp phần khác trong chương trình; gắn lý thuyết với thực hành; kế thừa và phát triển.

2.1.1 Nguyên tắc đảm bảo mối quan hệ giữa phần lý thuyết và các hợp phần khác trong chương trình

Chương trình Tiếng Việt THPT gồm các hợp phần: lý thuyết ngôn ngữ

và tiếng Việt, Từ ngữ, Ngữ pháp và Phong cách học Các hợp phần này cómối quan hệ mật thiết với nhau Do vậy, khi dạy học hợp phần lý thuyết ngôn

Ngày đăng: 19/07/2015, 20:12

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1] Việt Lê A (1990), “Mấy vấn đề cơ bản của việc dạy - học tiếng”, Nghiên cứu giáo dục, (12), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mấy vấn đề cơ bản của việc dạy - học tiếng”, "Nghiên cứu giáo dục
Tác giả: Việt Lê A
Năm: 1990
[2] Lê A (2001), “Dạy tiếng Việt là dạy một hoạt động và bằng một hoạt động”, Ngôn ngữ, (4), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy tiếng Việt là dạy một hoạt động và bằng một hoạt động”, "Ngôn ngữ
Tác giả: Lê A
Năm: 2001
[3] Lê A, Nguyễn Quang Ninh, Bùi Minh Toán (2009), Phương pháp dạy học tiếng Việt, tái bản lần thứ 12, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học tiếng Việt
Tác giả: Lê A, Nguyễn Quang Ninh, Bùi Minh Toán
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2009
[4] Diệp Quang Ban chủ biên (2001), Tiếng Việt 10, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếng Việt 10
Tác giả: Diệp Quang Ban chủ biên
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2001
[5] Diệp Quang Ban (2010), Từ điển thuật ngữ ngôn ngữ học (sơ thảo), Nxb Giáo dục Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ ngôn ngữ học (sơ thảo)
Tác giả: Diệp Quang Ban
Nhà XB: Nxb Giáo dục Việt Nam
Năm: 2010
[6] Hoàng Hòa Bình (chủ nhiệm đề tài 2007), Nghiên cứu chương trình dạy ngôn ngữ quốc gia cho học sinh phổ thông một số nước, Báo cáo tổng kết Đề tài khoa học và công nghệ cấp Bộ, mã số B.2005-80-16, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu chương trình dạy ngôn ngữ quốc gia cho học sinh phổ thông một số nước
[7] Hoàng Hòa Bình - Nguyễn Minh Thuyết (2012), Phương pháp dạy học tiếng Việt nhìn từ tiểu học, Nxb Giáo dục Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học tiếng Việt nhìn từ tiểu học
Tác giả: Hoàng Hòa Bình - Nguyễn Minh Thuyết
Nhà XB: Nxb Giáo dục Việt Nam
Năm: 2012
[8] Nguyễn Lăng Bình (chủ biên, 2010), Dạy và học tích cực - một số phương pháp và kĩ thuật dạy học, Dự án Việt - Bỉ, Nxb Đại học Sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy và học tích cực - một số phương pháp và kĩ thuật dạy học
Nhà XB: Nxb Đại học Sư phạm Hà Nội
[9] Nguyễn Thị Thanh Bình, “Một số xu hướng lí thuyết của việc dạy học tiếng mẹ đẻ trong nhà trường”, Ngôn ngữ, (4), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số xu hướng lí thuyết của việc dạy học tiếng mẹ đẻ trong nhà trường”, "Ngôn ngữ
[10] Bộ Giáo dục và Đào tạo (2004), Tài liệu bồi dưỡng thường xuyên cho giáo viên THCS chu kỳ III (2004 - 2007) môn Ngữ văn, quyển 1, quyển 2, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu bồi dưỡng thường xuyên cho giáo viên THCS chu kỳ III (2004 - 2007) môn Ngữ văn
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2004
[11] Phan Mậu Cảnh (2007), “Dạy học ngữ văn theo hướng tích hợp và tích cực trong trường trung học phổ thông phân ban”, Kỷ yếu Hội thảo dạy học Ngữ văn theo chương trình và sách giáo khoa mới bậc THPT, Nxb Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy học ngữ văn theo hướng tích hợp và tích cực trong trường trung học phổ thông phân ban”, "Kỷ yếu Hội thảo dạy học Ngữ văn theo chương trình và sách giáo khoa mới bậc THPT
Tác giả: Phan Mậu Cảnh
Nhà XB: Nxb Nghệ An
Năm: 2007
[12] Đỗ Hữu Châu, Bùi Minh Toán (1996), Đại cương ngôn ngữ học, tập 2, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương ngôn ngữ học
Tác giả: Đỗ Hữu Châu, Bùi Minh Toán
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1996
[14] Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến (2003), Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở "ngôn ngữ học và tiếng Việt
Tác giả: Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2003
[15] Nguyễn Văn Cường (2010), Một số vấn đề chung về đổi mới phương pháp dạy học ở trường trung học phổ thông, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề chung về đổi mới phương pháp dạy học ở trường trung học phổ thông
Tác giả: Nguyễn Văn Cường
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2010
[16] Trương Dĩnh (1992), “Giao tiếp ngôn ngữ và vấn đề dạy bản ngữ”, Nghiên cứu giáo dục, (5), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giao tiếp ngôn ngữ và vấn đề dạy bản ngữ”, "Nghiên cứu giáo dục
Tác giả: Trương Dĩnh
Năm: 1992
[17] Nguyễn Thiện Giáp (2003), Dẫn luận ngôn ngữ học, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dẫn luận ngôn ngữ học
Tác giả: Nguyễn Thiện Giáp
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2003
[18] Cao Xuân Hạo (1999), Tiếng Việt, mấy vấn đề ngữ âm, ngữ pháp, ngữ nghĩa, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếng Việt, mấy vấn đề ngữ âm, ngữ pháp, ngữ "nghĩa
Tác giả: Cao Xuân Hạo
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1999
[19] Cao Xuân Hạo (2001), Tiếng Việt, văn Việt, người Việt, Nxb Trẻ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếng Việt, văn Việt, người Việt
Tác giả: Cao Xuân Hạo
Nhà XB: Nxb Trẻ
Năm: 2001
[21] Vũ Thị Thanh Hương (2012), “Cần coi việc viết lại sách giáo khoa là một tất yếu”, báo Hà Nội mới Online số ra ngày 17 tháng 06 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cần coi việc viết lại sách giáo khoa là một tất yếu”, báo "Hà Nội mới Online
Tác giả: Vũ Thị Thanh Hương
Năm: 2012
[22] Nguyễn Duy Bảo Khang (đăng ngày 20/11/2011), “Tiếng Việt và văn hóa Việt Nam trong giảng dạy và học tập tiếng Anh”, Viện ngôn ngữhọc - Trung tâm phổ biến và giảng dạy ngôn ngữ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếng Việt và văn hóa Việt Nam trong giảng dạy và học tập tiếng Anh”, "Viện ngôn ngữ "học - Trung tâm phổ biến và giảng dạy ngôn ngữ

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.4. Kết quả điều tra nhận thức của giáo viên về mục tiêu - Dạy học lý thuyết ngôn ngữ và tiếng việt trong chương trình ngữ văn trung học phổ thông
Bảng 1.4. Kết quả điều tra nhận thức của giáo viên về mục tiêu (Trang 34)
Bảng 1.5. Kết quả điều tra nhận xét của giáo viên về thực trạng học của - Dạy học lý thuyết ngôn ngữ và tiếng việt trong chương trình ngữ văn trung học phổ thông
Bảng 1.5. Kết quả điều tra nhận xét của giáo viên về thực trạng học của (Trang 35)
Bảng 1.6. Kết quả điều tra về thái độ của giáo viên đối với hợp phần lý thuyết ngôn ngữ và tiếng Việt - Dạy học lý thuyết ngôn ngữ và tiếng việt trong chương trình ngữ văn trung học phổ thông
Bảng 1.6. Kết quả điều tra về thái độ của giáo viên đối với hợp phần lý thuyết ngôn ngữ và tiếng Việt (Trang 37)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w