mê học tập, khả năng làm việc cá nhân và làm việc theo nhóm đây là vấn đề cấpthiết trong thời đại hiện nay.Định hướng đổi mới PP dạy và học đã được xác định trong nghị quyết trungương 4
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
NGUYỄN THỊ ÁNH TUYẾT
MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO
CHẤT LƯỢNG GIỜ ÔN TẬP VÀ LUYỆN TẬP
PHẦN HÓA HỮU CƠ LỚP 11 THPT
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
VINH - 2014
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
NGUYỄN THỊ ÁNH TUYẾT
MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO
CHẤT LƯỢNG GIỜ ÔN TẬP VÀ LUYỆN TẬP
PHẦN HÓA HỮU CƠ LỚP 11 THPT
Chuyên ngành: Lí luận và Phương pháp dạy học bộ môn Hóa học
Mã số: 60.14.01.11
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
Người hướng dẫn khoa học:
PGS TS LÊ VĂN NĂM
VINH - 2014
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến:
- Thầy giáo PGS TS Lê Văn Năm - Bộ môn Lí luận và phương pháp dạy học
hóa học, khoa Hóa trường Đại học Vinh, đã giao đề tài, tận tình hướng dẫn và tạomọi điều kiện thuận lợi nhất cho tôi nghiên cứu và hoàn thành luận văn này
- Thầy giáo PGS TS Cao Cự Giác và cô giáo TS Nguyễn Thị Bích Hiền
đã dành nhiều thời gian đọc và viết nhận xét cho luận văn
- Phòng Đào tạo Sau đại học, Ban chủ nhiệm khoa Hóa học cùng các thầy giáo,
cô giáo thuộc Bộ môn Lí luận và phương pháp dạy học hóa học khoa Hóa họctrường Đại học Vinh đã giúp đỡ, tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất cho tôi hoàn thànhluận văn này
Tôi cũng xin cảm ơn tất cả những người thân trong gia đình, Ban giám hiệuTrường THPT Cửa Lò, bạn bè, đồng nghiệp đã động viên, giúp đỡ tôi trong suốtquá trình học tập và thực hiện luận văn này
Tp Vinh, tháng 10 năm 2014
Nguyễn Thị Ánh Tuyết
Trang 4MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU 9
1 Lý do chọn đề tài 9
2 Mục đích nghiên cứu 10
3 Nhiệm vụ nghiên cứu 10
4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 10
5 Phạm vi nghiên cứu 10
6 Giả thuyết Khoa học 11
7 Phương pháp nghiên cứu 11
8 Những đóng góp mới của đề tài 11
NỘI DUNG 12
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 12
1.1 Bài giảng và các bước lên lớp[6], [20], [31] 12
1.1.1 Bài giảng (bài lên lớp)
1.1.2 Các bước lên lớp
1.1.3 Giáo án bài lên lớp
1.2 Bài ôn tập, luyện tập[6], [20], [31], [35] 14
1.2.1 Bài ôn tập
1.2.2 Bài luyện tập
1.2.3 Tầm quan trọng của bài ôn tập, luyện tập
1.2.4 Bài ôn tập, luyện tập trong chương trình hóa học THPT [1], [39], [45], [46]
1.3 Một số phương pháp dạy học các bài luyện tập - ôn tập theo hướng tích cực hoá nhận thức học sinh [6], [21], [35], [49] 17
1.3.1 Phương pháp thuyết trình nêu vấn đề
1.3.2 Phương pháp đàm thoại tìm tòi
1.3.3 Phương pháp graph trong dạy học hóa học
1.3.4 Phương pháp trực quan
1.3.5 Sử dụng BT hóa học
1.3.6 PP DH theo nhóm
1.3.7 Phương pháp algorit dạy học
1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng giờ ôn, luyện tập [26], [29], [35] 26
1.4.1 Tâm lí HS khi lĩnh hội kiến thức
1.4.2 Sự chuẩn bị của GV và HS trước giờ ôn, luyện tập
1.4.3 Cách thức quản lí giờ ôn, luyện tập của GV
1.4.4 Trí nhớ và vấn đề ôn, luyện tập
1.4.5 Nội dung kiến thức và kĩ năng cần ôn, luyện
1.4.6 Sự phối hợp các phương pháp dạy học và kỹ thuật dạy học
1.4.7 Sự hỗ trợ của các phương tiện dạy học
1.5 Thực trạng các giờ ôn tập, luyện tập ở một số trường THPT tỉnh Nghệ An 36
1.5.1 Mục đích khảo sát
1.5.2 Nội dung và phương pháp khảo sát
Trang 51.5.3 Kết quả khảo sát
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 42
Chương 2 MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIỜ ÔN TẬP VÀ LUYỆN TẬP PHẦN HÓA HỮU CƠ LỚP 11 THPT 43
2.1 Nội dung, cấu trúc phần hóa hữu cơ THPT [1], [39], [45], [46] 43
2.1.1 Nội dung và cấu trúc chương trình phần HHHC lớp 11 THPT
2.1.2 Phân phối chương trình các bài dạy luyện tập - ôn tập HH HC11 cơ bản
2.2 Cơ sở của việc đề xuất một số biện pháp nâng cao chất lượng giờ ôn tập và luyện tập [6], [16], [26] 43
2.2.1 Đặc điểm của việc hoàn thiện kiến thức kĩ năng, kĩ xảo
2.2.2 Đặc trưng của phương pháp dạy học hóa học
2.2.3 Đặc điểm của kiểu bài ôn tập, luyện tập
2.2.4 Các nguyên tắc của việc dạy học
2.2.5 Các lí thuyết tâm lí học về học tập và mô hình dạy học
2.2.6 Quan hệ giữa mục tiêu, nội dung, phương pháp dạy học
2.3 Một số biện pháp nâng cao chất lượng giờ ôn tập, luyện tập 49
2.3.1 Biện pháp 1: Sử dụng hệ thống câu hỏi định hướng và bài tập bổ trợ để hướng dẫn học sinh chuẩn bị bài trước giờ ôn, luyện tậptrên lớp
2.3.2 Biện pháp 2: Sử dụng hệ thống bài tập đúng mục tiêu, đúng chủ đề
2.3.3 Biện pháp 3: Sử dụng phương pháp dạy học nêu vấn đề
2.3.4 Biện pháp 4: Sử dụng phương pháp grap dạy học
2.3.5 Biện pháp 5: Sử dụng phương pháp algorit dạy học thích ứng với nội dung và đối tượng HS
2.3.6 Biện pháp 6: Tổ chức học tập theo nhóm để tăng cường khả năng hoạt động tích cực của HS
2.3.7 Biện pháp 7: Phân bố thời gian hợp lý
2.3.8 Biện pháp 8: Phối hợp hài hòa các phương pháp dạy học
2.4 Thiết kế bộ câu hỏi định hướng và bài tập bổ trợ giúp HS tự ôn, luyện tập 58
2.4.1 Bộ câu hỏi định hướng và bài tập bổ trợ bài luyện tập “Hợp chất hữu cơ, công thức phân tử và công thức cấu tạo”
2.4.2 Bộ câu hỏi định hướng và bài tập bổ trợ bài luyện tập “Ankan”
2.4.3 Bộ câu hỏi định hướng và bài tập bổ trợ bài luyện tập “An kin”
2.4.4 Bộ câu hỏi định hướng và bài tập bổ trợ bài luyện tập “Ancol, phenol”
2.4.5 Bộ câu hỏi định hướng và bài tập bổ trợ bài luyện tập “Andehit, xeton và axit cacboxylic”
2.5 Thiết kế và sử dụng giáo án bài ôn, luyện tập 65
2.5.1 Nguyên tắc thiết kế
2.5.2 Mục tiêu và các yêu cầu cần đạt được khi thiết kế
2.5.3 Quy trình thiết kế giáo án
2.5.4 Sử dụng giáo án
Trang 62.5.5 Một số giáo án bài ôn, luyện tập phần hóa học hữu cơ lớp 11 chương trình
cơ bản theo các biện pháp đề xuất
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 101
CHƯƠNG 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 102
3.1 Mục đích TN sư phạm 102
3.2 Nhiệm vụ của TN sư phạm 102
3.3 Kế hoạch TN sư phạm 102
3.4 Tiến hành TN 103
3.4.1 Tiến hành các giờ dạy
3.4.2 Phương tiện trực quan
3.4.3 Tiến hành kiểm tra
3.5 Kết quả các bài dạy TNSP 103
3.6 Xử lý kết quả TN sư phạm 104
3.7 Phân tích kết quả TN sư phạm 113
3.7.1 Phân tích kết quả về mặt định tính
3.7.2 Phân tích định lượng kết quả TN sư phạm
TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 116
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 117
1 Kết luận 117
2 Kiến nghị 118
TÀI LIỆU THAM KHẢO 120
PHỤ LỤC 123
Trang 7DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Bộ GD&ĐT : Bộ Giáo dục và Đào tạoBTHH : Bài tập hóa học
CTCT : Công thức cấu tạo
CTĐG : Công thức đơn giản
SGKHH 11 : Sách giáo khoa hóa học 11
Sở GD&ĐT : Sở Giáo dục và Đào tạoTHPT : Trung học phổ thông
TN : Thực nghiệm
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 1.1 Phân phối các tiết học hóa học của Bộ GD & ĐT 16
Bảng 1.2 Phân phối các tiết học hóa học theo Sở Gd & ĐT Nghệ An 17
Bảng 1.3 Kết quả khảo sát nội dung 1 37
Bảng 1.4 Kết quả khảo sát nội dung 2 37
Bảng 1.5 Kết quả khảo sát nội dung 3 38
Bảng 1.6 Kết quả khảo sát nội dung 4 38
Bảng 1.7 Kết quả khảo sát nội dung 5 39
Bảng 1.8 Kết quả khảo sát nội dung 6 39
Bảng 1.9 Kết quả khảo sát nội dung 7 39
Bảng 1.10 Kết quả khảo sát nội dung 8 40
Bảng 1.11 Kết quả khảo sát nội dung 9 40
Bảng 1.12 Kết quả khảo sát nội dung 10 41
Bảng 1.13 Kết quả khảo sát nội dung 11 41
Bảng 2.1 Chương trình làm việc trong tiết học bài 21 theo cấu trúc Jigsaw 69
Hình 2.1 Grap định hướng nội dung dạy học bài luyện tập “Ankan” 75
Hình 2.2 Grap nội dung dạy học bài luyện tập “Ankan” 76
Bảng 2.2 So sánh ancol và phenol 87
Bảng 2.3 Cấu tạo, danh pháp 92
Bảng 2.4 Tính chất 92
Bảng 3.1 Tổng hợp kết quả TN sư phạm 105
Bảng 3.2 Bảng tổng hợp số HS đạt điểm Xi và điểm TB 105
Bảng 3.3 Phần trăm số HS đạt điểm Xi của bài kiểm tra 15 phút - bài 1 106
Hình 3.1 Đồ thị đường lũy tích kết quả TN - bài 1 106
Bảng 3.4 Phần trăm số HS đạt điểm Xi của bài kiểm tra 15 phút - bài 2 107
Hình 3.2 Đồ thị đường lũy tích kết quả TN - bài 2 107
Bảng 3.5 Phần trăm số HS đạt điểm Xi của bài kiểm tra 45 phút - bài 3 108
Hình 3.3 Đồ thị đường lũy tích kết quả TN - bài 3 108
Bảng 3.6 Phần trăm số HS đạt điểm Xi của bài kiểm tra 45 phút - bài 4 109
Hình 3.4 Đồ thị đường lũy tích kết quả TN - bài 4 109
Bảng 3.7 Kết quả TN tổng hợp 110
Hình 3.5 Đồ thị đường lũy tích kết quả tổng hợp 110
Bảng 3.8 Phân loại kết quả TN 111
Hình 3.6 Biểu đồ biểu diễn phân loại kết quả TN - bài 1 111
Hình 3.7 Biểu đồ biểu diễn phân loại kết quả TN - bài 2 111
Hình 3.8 Biểu đồ biểu diễn phân loại kết quả TN - bài 3 112
Hình 3.9 Biểu đồ biểu diễn phân loại kết quả TN - bài 4 112
Hình 3.10 Biểu đồ biểu diễn phân loại kết quả TN - tổng hợp 112
Bảng 3.9 Bảng thống kê các giá trị trung bình cộng, phương sai, độ lệch chuẩn và hệ số biến thiên của các lớp TN và ĐC theo các bài kiểm tra 113
Trang 9mê học tập, khả năng làm việc cá nhân và làm việc theo nhóm đây là vấn đề cấpthiết trong thời đại hiện nay.
Định hướng đổi mới PP dạy và học đã được xác định trong nghị quyết trungương 4 khoá VII; nghị quyết trung ương 2 khoá VIII, được thể chế hoá trong luậtGD(2005), được cụ thể hoá trong chỉ thị bộ GD và đào tạo đã nêu: “Phải phát huytính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của HS; phù hợp với đặc trưng của mônhọc, đặc điểm đối tượng HS, điều kiện của từng lớp học; bồi dưỡng cho HS PP tựhọc, khả năng hợp tác; rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác độngđến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú và trách nhiệm học tập cho HS’’
Chính vì thế việc đổi mới PP DH (PPDH) phải phù hợp với đặc điểm từnglớp học, từng HS, đòi hỏi người dạy phải hiểu rõ ưu khuyết điểm của từng PP (PP)
để từ đó có thể kết hợp nhuần nhuyễn giữa các PP sao cho không khí lớp học sôiđộng, tất cả các HS đều làm việc một cách sôi nổi, mang tính tư duy logic cao Các
em không những có thể độc lập suy nghĩ cách làm của mình mà còn có khả nănghợp tác với các bạn qua các hoạt động theo nhóm đồng thời có thể trao đổi với thầy,trong các tình huống này người thầy đóng vai trò dẫn dắt HS lĩnh hội kiến thức,giúp HS tự khám phá ra nội dung kiến thức và có thể tự đánh giá mình
Phần hóa học hữu cơ trong chương trình THPT hiện nay là một phần cónhiều điểm mới và khó về nội dung cũng như phương pháp Đặc biệt, phần hóa hữu
cơ lớp 11 có liên quan nhiều đến phần hóa hữu cơ lớp 12 và thường là nội dungquan trọng trong các đề thi Đại học & Cao đẳng hằng năm Việc nắm vững kiếnthức hóa học hữu cơ lớp 11 sẽ giúp HS học tốt phần hóa học hữu cơ lớp 12 và đápứng được nhu cầu ôn thi Đại học & Cao đẳng
Để đạt được giờ dạy bài ôn, luyện tập phần hóa học hữu cơ lớp 11 hay và có chất lượng, đa số giáo viên còn lúng túng Vì dung lượng kiến thức thì quá lớn,những kĩ năng đòi hỏi phải rèn luyện cho HS thì nhiều mà thời gian lại có hạn Một
bộ phận GV còn xem nhẹ việc ôn, luyện tập do đó chưa đầu tư đúng mức
Trang 10Mặt khác, phần nhiều HS cho rằng kiến thức ôn tập là đã biết rồi nên các emthường không muốn nghe lại Thực ra, cái biết của các em có được mới chỉ là cáibiết sự kiện, chưa thành hệ thống kiến thức có tính khoa học Nếu không có nhữngbiện pháp thích ứng cho giờ ôn tập, luyện tập sẽ không tạo được bầu không khí mới
và sẽ không tạo được niềm hứng thú học tập cho HS
Những năm gần đây, công luận đã phản ánh tình trạng đa số HS vừa mới họcxong chương trình một lớp hoặc một bậc học là không còn nhớ kiến thức đã học Vảlại, có nhớ chăng cũng không có tính hệ thống, mạch lạc và thiếu khả năng vậndụng kiến thức đó để giải quyết các nhiệm vụ học tập cũng như thực tiễn cuộc sống
Trước thực trạng như vừa trình bày trên đây, tác giả chọn đề tài "Một số biện
pháp nâng cao chất lượng giờ ôn tập và luyện tập phần hóa hữu cơ lớp 11 THPT
" như một cố gắng góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động dạy học bộ môn hóa học
ở trường THPT
2 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu và đề xuất một số biện pháp nâng cao chất lượng giờ ôn, luyệntập phần HHHC lớp 11 THPT Nhằm thiết kế các giáo án bài lên lớp ôn, luyện tậpbám sát chương trình SGK hiệu quả dạy học các giờ dạy này
Hình thành cho HS một số phương pháp tự ôn tập để nắm bắt được nhữngkiến thức cơ bản, trọng tâm, vận dụng và giải quyết tốt các bài tập hóa học
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn liên quan đến việc dạy và học giờ ôn,luyện tập của GV và HS THPT
- Trên cơ sở đó, đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng giờ ôn,luyện tập giúp học sinh học tốt phần HHHC lớp 11 THPT
- Thiết kế một số bộ câu hỏi định hướng, bài tập bổ trợ giúp HS tự ôn, luyện tập
- Vận dụng các biện pháp đã đề xuất thiết kế một số bài lên lớp ôn, luyện tập
- Thực nghiệm sư phạm để đánh giá hiệu quả của việc sử dụng các biện pháp
đề xuất
4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
4.1 Khách thể nghiên cứu: Quá trình dạy học hóa học ở trường THPT 4.2 Đối tượng nghiên cứu
Một số biện pháp nâng cao chất lượng giờ ôn, luyện tập phần HHHC lớp
11 THPT
5 Phạm vi nghiên cứu
Nội dung: Các bài ôn tập, luyện tập phần hóa hữu cơ lớp 11 THPT
Địa bàn: Một số trường THPT trong tỉnh Nghệ An
Trang 116 Giả thuyết Khoa học
Nếu các biện pháp đề xuất phù hợp và giáo viên vận dụng tốt thì chất lượngcác giờ ôn tập, luyện tập sẽ được nâng cao
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Các phương pháp nghiên cứu lý luận
- Đọc và nghiên cứu các tài liệu có liên quan đến đề tài
- Phân tích,tổng hợp
- Phân loại, hệ thống hóa
7.2 Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp quan sát(dự giờ)
- Phương pháp phỏng vấn
- Phương pháp điều tra bằng phiếu thăm dò
- Phương pháp chuyên gia
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm
7.3 Phương pháp sử dụng toán thống kê trong KHGD để xử lí kết quả thực nghiệm sư phạm
8 Những đóng góp mới của đề tài
- Đề xuất một số biện pháp nâng cao chất lượng giờ ôn tập, luyện tập
- Thiết kế một số bộ câu hỏi định hướng và bài tập bổ trợ cho các tiết luyệntập phần hóa học hữu cơ lớp 11 THPT nhằm giúp HS tự ôn, luyện tập ở nhà pháthuy được tính tích cực chủ động của HS trong quá trình họctập
- Định hướng mục tiêu, qui trình thiết kế bài lên lớp ôn tập, luyện tập
- Thiết kế các bài lên lớp ôn tập, luyện tập phần hóa hữu cơ lớp 11 THPT có
vận dụng các biện pháp đã đề xuất.
Trang 12NỘI DUNG Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.1 Bài giảng và các bước lên lớp[6], [20], [31]
1.1.1 Bài giảng (bài lên lớp)
Sự toàn vẹn trong bài giảng là sự phối hợp nhịp nhàng, chặt chẽ giữa nămthành tố cơ bản của quá trình dạy học là mục tiêu, nội dung, phương pháp, GV và
HS dưới tác động của môi trường dạy học Thông qua bài giảng HS có thể tự giáclĩnh hội tri thức dưới sự điều khiển của GV Trong bài giảng GV không những phảibiết phối hợp tốt các yếu tố mục tiêu, nội dung, phương pháp dạy học mà còn phảibiết kích thích, khơi dậy niềm đam mê, hứng thú học tập cho HS, tạo điều kiện tốtnhất giúp HS lĩnh hội và khắc sâu tri thức
1.1.1.2 Phân loại
Có nhiều cách phân loại bài giảng tùy theo mục tiêu, nội dung, phương pháp
mà nó thể hiện
Các nhà nghiên cứu về PPDH đã phân bài giảng thành ba kiểu khác nhau
Kiểu 1: Bài giảng khi nghiên cứu tài liệu mới
Nhằm giúp HS tri giác tài liệu mới, bước đầu hiểu rõ tài liệu này, phát hiện
và nắm được ý nghĩa của các mối liên hệ và quan hệ trong đối tượng nghiên cứu
Kiểu 2: Bài giảng hoàn thiện kiến thức và kĩ năng
Nhằm giúp HS hiểu sâu kiến thức đã học, đưa kiến thức đã lĩnh hội vào một
hệ thống thống nhất đồng thời rèn luyện kĩ năng ứng dụng kiến thức vào những tìnhhuống mới
Kiểu 3: Bài giảng kiểm tra và đánh giá kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo
Nhằm xác định trình độ lĩnh hội kiến thức, trình độ hình thành kĩ năng, kĩxảo Củng cố và hệ thống hóa kiến thức Sửa chữa, uốn nắn kiến thức, hình thành kĩnăng, kĩ xảo
1.1.1.3 Cấu trúc
Cấu trúc của bài lên lớp là tổ hợp của năm thành tố cơ bản của quá trình dạyhọc luôn tương tác với nhau dưới tác động của môi trường dạy học và tạo nên một
Trang 13thể thống nhất, toàn vẹn Trong bài giảng có sự thống nhất chặt chẽ giữa những mặtcấu trúc sau:
- Cấu trúc của mục tiêu dạy học gồm bộ ba: trí dục, phát triển, giáo dục
- Cấu trúc logic nội dung bài giảng
- Cấu trúc qui trình các bước của bài giảng
- Cấu trúc phương pháp dạy học, sự tác động qua lại giữa GV và HS
Cấu trúc bài giảng luôn đa dạng, linh hoạt nhưng phải tuân theo qui luậtchung về mối liên hệ mục tiêu - nội dung - phương pháp - GV - HS và tuân theonhững qui luật riêng của môn học, đối tượng HS
Như vậy, không thể có một cấu trúc cứng nhắc, rập khuôn cho mọi kiểubài giảng
1.1.2 Các bước lên lớp
Tiến trình bài lên lớp mô tả cấu trúc của quá trình dạy học theo một trình tựxác định của các bước dạy học, quy định tiến trình thời gian, tiến trình logic hànhđộng Bài lên lớp thực hiện theo tiến trình chung: Nhập đề, nghiên cứu tài liệu mới,vận dụng kiến thức, củng cố, kiểm tra, đánh giá
Bước của bài giảng là một đoạn tương đối trọn vẹn, nó bao gồm một nội dung bộ phận, một tổ hợp phương pháp tương ứng, nhằm thực hiện một mục tiêu bộ phận của bài giảng
Để phân chia các bước lên lớp, thông thường người ta dựa vào chức năngchủ yếu của nó như: Tri giác, thông hiểu, ghi nhớ, vận dụng, khái quát hóa, hệthống hóa Không phải cứ mỗi chức năng của quá trình dạy học lại tương ứng vớimột bước dạy học, mà mỗi bước dạy học thực hiện đồng thời nhiều chức năng trong
đó có một chức năng nổi trội, tùy theo mục đích dạy học và nội dung kiến thức củabài học
Với mỗi kiểu bài giảng khác nhau có một kiểu cấu trúc với các bước tương ứng
Ví dụ: Ứng với kiểu bài 2 Bài giảng hoàn thiện kiến thức và kĩ năng Kiểu này
thường được sử dụng trong các giờ ôn, luyện tập tổng kết chương có thể có các bước:
Bước 1: Tổ chức lớp và kiểm tra bài làm ở nhà của HS
Bước 2: Tái hiện kiến thức điểm tựa Nhắc lại các nội dung lí thuyết cơ bản
bằng phương pháp đàm thoại hoặc bằng grap ôn tập hệ thống hóa kiến thức do GVhướng dẫn, đồng thời GV phát hiện và uốn nắn những sai lệch của HS
Bước 3: HS làm việc độc lập: Hoàn thành các bài tập ở dạng vận dụng kiến
thức ở nhiều mức độ: luyện tập tương tự, luyện tập vào tình huống mới vừa để hoànthiện vừa để phát triển các nội dung lí thuyết, kĩ năng hóa học
Bước 4: GV kiểm tra kết quả hoạt động độc lập của HS qua đàm thoại
Trang 14Bước 5: GV khái quát hóa nội dung bài học, phân tích nội dung bài học với
những kiến thức cần bổ sung, xác định giới hạn ứng dụng của những kiến thức đó
Bước 6: GV tổ chức đánh giá hoạt động của HS bằng nhiều cách: HS tự đánh
giá, đánh giá lẫn nhau, GV đánh giá chung và hướng dẫn cho HS công việc và bàitập về nhà
1.1.3 Giáo án bài lên lớp
Giáo án là bài soạn của giáo viên để lên lớp giảng dạy
Một số điểm cần lưu ý khi soạn giáo án:
- Giáo án soạn theo hướng đổi mới không nhất thiết phải có 5 bước lên lớp cốđịnh như trước Các bước lên lớp có thể thực hiện liên hoàn trong mỗi phần bàigiảng
- Không nhất thiết phải có kiểm tra bài cũ đầu giờ học, củng cố cuối giờ học
mà cần phải linh hoạt đối với từng bài
- Trong giáo án phải ghi rõ các hoạt động cụ thể của GV, cách thức hướngdẫn HS nghiên cứu, tiếp cận, lĩnh hội, vận dụng kiến thức kèm theo các hoạt độngtích cực của HS
+ Giáo án hai cột: phần cho GV, phần cho HS
+ Giáo án theo trang: Trang dành cho GV, trangdành cho HS
+ Giáo án một côt: Soạn theo kịch bản
Giáo án của một giờ ôn luyện tập nhìn chung cũng giống như giáo án củamột giờ lên lớp thông thường Tuy nhiên do đặc điểm tiết cuối của một phần haymột chương, giờ này có nhiệm vụ chính là ôn tập, củng cố, hệ thống hóa kiến thức
1.2 Bài ôn tập, luyện tập[6], [20], [31], [35]
Bài ôn tập, luyện tập ứng với kiểu bài giảng hoàn thiện kiến thức và kĩ năng
và được thực hiện sau một số bài dạy nghiên cứu kiến thức mới hoặc kết thúc mộtchương, một phần của chương trình của các môn học
1.2.1 Bài ôn tập
Ôn là học lại hoặc nhắc lại để nhớ điều đã học hoặc đã trải qua Ôn tập là học
và luyện lại những điều đã học để nhớ, để nắm chắc
Bài ôn tập là dạng bài lên lớp nhằm nhắc lại, hệ thống lại kiến thức mà HS
Trang 15đã học trước đó qua một số bài học, một chương hoặc một phần của chương trìnhmột cách rời rạc thành một hệ thống kiến thức có quan hệ chặt chẽ với nhau theomột logic nhất định để củng cố khắc sâu kiến thức cho HS
Hiện nay, cấu trúc các bài luyện tập trong SGK hóa học đều có hai phần:phần kiến thức cần nắm vững và bài tập Phần kiến thức cần nắm vững mang tínhchất giúp HS ôn tập các mảng kiến thức ở những bài học trước bao gồm các kiếnthức cần hệ thống củng cố và xác định mối liên hệ tương quan giữa chúng Phần bàitập bao gồm các dạng bài tập hóa học vận dụng các kiến thức, tạo điều kiện cho HSrèn luyện kĩ năng hóa học như: giải thích các hiện tượng hóa học, sử dụng ngôn ngữhóa học, giải các dạng bài tập hóa học
Như vậy, cùng là kiểu bài hoàn thiện kiến thức kĩ năng nhưng ở bài ôn tậpchủ yếu giúp HS hoàn thiện kiến thức Đối với bài luyện tập, cái chính là giúp HShoàn thiện kĩ năng
1.2.3 Tầm quan trọng của bài ôn tập, luyện tập
Bài ôn tập, luyện tập có giá trị nhận thức sâu sắc và có ý nghĩa quan trọngtrong việc hình thành phương pháp nhận thức và phát triển tư duy cho HS
- Bài ôn tập giúp HS nhớ lại, củng cố lại kiến thức đã học một cách hệ thống
- Thông qua bài ôn tập, GV phát hiện được những kiến thức mà HS chưahiểu đúng hoặc có những khái quát chưa đúng bản chất của sự việc hiện tượng Từ
đó, GV điều chỉnh, bổ sung, làm cho khái niệm chính xác để HS hiểu đúng đắn, đầy
đủ hơn Đồng thời có thể phát triển và mở rộng kiến thức cho HS
- Trong bài luyện tập, HS tham gia các hoạt động học tập nhằm hệ thống hóa
và vận dụng kiến thức không chỉ ở một chương, một số bài trước đó mà còn cả cáckiến thức đã học ở chương trước, lớp trước và các môn học khác
- Nhờ vào bài luyện tập, HS có điều kiện hình thành, rèn luyện kĩ năng vậndụng kiến thức, giải quyết vấn đề, xử lí các tình huống của bài toán nhận thức
- Trong bài ôn tập tổng kết cũng như bài luyện tập, HS có cơ hội rèn luyệncác thao tác tư duy: phân tích, tổng hợp, so sánh, khái quát hóa, hệ thống hóa kiếnthức và vận dụng kiến thức để giải quyết các vấn đề học tập mang tính khái quátcao Từ đó, HS có được phương pháp học tập, phương pháp nhận thức và phát triển
Trang 16được tư duy độc lập, sáng tạo
- Thông qua bài luyện tập, mối liên hệ của các kiến thức liên môn giữa các
bộ môn khoa học: Toán học, hóa học, vật lí học, sinh vật, địa lí được thiết lập.Nhờ đó, HS thấy được tầm quan trọng của việc nắm vững các kiến thức khoa học đểvận dụng chúng giải quyết các vấn đề đặt ra trong thực tiễn học tập và cuộc sốnghằng ngày
1.2.4 Bài ôn tập, luyện tập trong chương trình hóa học THPT [1], [39],
[45], [46]
1.2.4.1 Phân phối tiết học môn hóa học THPT của Bộ GD & ĐT
Trong chương trình hóa học ở THPT, các bài ôn tập, luyện tập được phânphối theo từng chương Sự phân phối số lượng các tiết học như sau:
Bảng 1.1 Phân phối các tiết học hóa học của Bộ GD & ĐT
Các bài luyện tập được bố trí theo các chương Mỗi chương tùy theo dunglượng kiến thức có thể có một hay hai bài luyện tập Trong chương trình còn có cácbài ôn tập được thực hiện vào đầu năm, cuối học kì I và cuối năm học với mục đích
hệ thống hóa kiến thức cơ bản trong một học kì, một năm học và chuẩn bị cho HStiếp thu kiến thức ở học kì sau hoặc năm học tiếp theo Với các bài ôn tập học kì,
GV cần hệ thống lại kiến thức cơ bản và luyện lại cho HS những kĩ năng quan trọngnhất đó là: những kiến thức là cơ sở lí thuyết được dùng để dự đoán, giải thích, xâydựng các mối liên hệ bản chất giữa các sự kiện, các biến đổi hóa học làm nền tảngcho việc tiếp thu kiến thức trong chương trình tiếp theo
Theo bảng trên, số tiết học dành cho luyện tập ở chương trình lớp 11 THPT
là 12 tiết Trong đó, có 9 tiết luyện tập dành cho phần hóa học hữu cơ từ chương:Đại cương về hóa học hữu cơ đến chương Anđehit - Xeton - Axit cacboxylic; có 4tiết ôn tập gồm đầu năm, học kì I và cuối năm Tỉ lệ số tiết ôn tập, luyện tập trêntổng số tiết là 24.2%
GV chuẩn bị cho giờ lên lớp ôn, luyện tập cũng cần phải cân nhắc kĩ nộidung kiến thức và kĩ năng cần ôn, luyện cho HS Đồng thời, GV còn phải hướng
Trang 17dẫn HS phương pháp tự học tốt để nâng cao dần khả năng học tập, rèn luyện tư duytích cực và sáng tạo
1.2.4.2 Phân phối tiết học môn hóa học THPT của Sở GD&ĐT Nghệ An
Từ năm học 2008 - 2009, theo chỉ đạo của Bộ GD&ĐT, Sở GD&ĐT Nghệ
An đã cho thực hiện chương trình năm học là 37 tuần Đối với bộ môn hóa họcđược phân phối như sau:
Bảng 1.2 Phân phối các tiết học hóa học theo Sở Gd & ĐT Nghệ An
Theo Thông tư số 28/2009/TT-BGDĐT ngày 21/10/2009 đã ban hành về chế
độ làm việc đối với giáo viên trung học phổ thông là 42 tuần Trong đó, 37 tuầndành cho việc giảng dạy và hoạt động giáo dục theo kế hoạch thời gian năm học.Phân bố chương trình như trên phù hợp với thông tư mới nhất về thời gian giảngdạy trong năm học Như vậy, tổng số tiết trong năm của chương trình hóa họckhông tăng so với chương trình trước đây của bộ
Từ đó, ta có thể thấy rằng muốn co dãn nội dung kiến thức để tăng thêm giờ
ôn, luyện tập cho HS là việc khó thực hiện Vì vậy, việc xác định kiến thức và kĩnăng trọng tâm cần ôn luyện cho HS, lựa chọn các phương pháp, đề ra những biệnpháp để đảm bảo đúng thời gian mà vẫn nâng cao được chất lượng giờ ôn, luyện tập
là việc hết sức cần thiết
1.3 Một số phương pháp dạy học các bài luyện tập - ôn tập theo hướng tích cực hoá nhận thức học sinh [6], [21], [35], [49]
1.3.1 Phương pháp thuyết trình nêu vấn đề
1.3.1.1 Ưu điểm và phạm vi áp dụng của PP thuyết trình nếu vấn đề
PP này được áp dụng phổ biến cho các bài ôn tập đầu năm, ôn tập cuối họckỳ,cuối năm học hoặc ôn tập kết thúc chương trình theo các chuyên đề Với yêu cầutrong một khoảng thời gian ngắn 1-2 tiết học (tương đương 45-90 phút) cần phải hệthống hóa kiến thức tròn một học kỳ, một năm học hoặc một chuyên đề xuyên suốt
cả chương trình học và đối tượng HS ở mức trung bình, khá cần được rèn luyện kĩnăng khái quát hóa, kĩ năng phát hiện và giải quyết vấn đề thì việc sử dụng PP
Trang 18thuyết trình nêu vấn đề trong giờ ôn tập là hợp lí và có hiệu quả cao Bài thuyếttrình nêu vấn đề của GV sẽ là hình mẫu của hoạt động nhận thức, tư duy và sự vậndụng linh hoạt kiến thức đối với HS
Phạm vi dử dụng: Sử dụng chủ yếu cho bài ôn tập cuối học kì, cuối năm học,
kết thúc chương trình theo chuyên đề
GV chuẩn bị bài thuyết trình thể hiện hình mẫu về PP trình bày, lập luận, giảiquyết vấn đề
- Các nội dung của bài ôn tập được nêu ra dưới dạng các câu hỏi nêu vấn đề,
có chứa đựng những mâu thuẫn nhận thức (tình huống có vấn đề) hoặc được cấu tạothành các bài toán nhận thức có tính chất tìm tòi đòi hỏi ở mức độ hoạt động tư duycao trong giải quyết chúng
- Xác định các lập luận, các dẫn chứng minh hoạ mang tính điền hình để giảiquyết các vấn đề đặt ra
- Lựa chọn các BT điển hình, có mức độ khái quát cao thể hiện được sự vậndụng tổng hợp và linh hoạt kiến thức trong việc giải quyết chúng
1.3.2 Phương pháp đàm thoại tìm tòi
1.3.2.1 Ưu điểm và phạm vi áp dụng của PP đàm thoại tìm tòi
Đây là PP DH được sử dụng phổ biến trong các giờ luyện tập - ôn tập Cáchoạt động củng cố, hệ thống hoá, vận dụng kiến thức và rèn luyện các kĩ năng của
HS được điều khiển bằng một hệ thống câu hỏi do GV chuẩn bị trước
Thông qua việc đối thoại, các câu trả lời của HS mà GV xác định được tìnhtrạng kiến thức, mức độ nhận thức, sự hiểu biết và khả năng vận dụng kiến thức của
HS qua đó mà điều chỉnh nội dung cần luyện tập, ôn tập và chỉnh lí những kiến thứcchưa chính xác, bổ sung những hiểu biết chưa đầy đủ ở HS
1.3.2.2 Các bước chuẩn bị
GV cần chuẩn bị hệ thống câu hỏi để điều khiển các hoạt động học tập như:
hệ thống hoá các kiến thức cần nắm vững, thiết lập mối liên hệ giữa các kiến thức,vận dụng các kiến thức, rèn luyện kĩ năng của HS
Hệ thống các câu hỏi đưa ra phải rõ ràng, ngắn gọn nhưng đòi hỏi mức độ kháiquát, tư duy nhất định hoặc có tác dụng nêu vấn đề để HS trình bày, suy luận, vàtránh dùng những câu hỏi vụn vặt, mang tính tái hiện kiến thức một cách đơn giản
Trang 19Các câu hỏi điều khiển một hoạt động học tập cụ thể cần được sắp xếp trong phiếuhọc tập yêu cầu HS làm việc cá nhân hoặc thảo luận theo nhóm để hoàn thành.
1.3.3 Phương pháp graph trong dạy học hóa học
1.3.3.1 Ưu điểm và phạm vi áp dụng của PP graph trong DH hóa học
Đây là PP có tính khái quát cao giúp GV hệ thống kiến thức, tìm ra mối liên
hệ các kiến thức dưới dạng sơ đồ trực quan
- Hướng dẫn HS tự học, tự thiết lập graph bài luyện tập theo các mức độ:cung cấp graph câm mã hoá đỉnh, thiết lập cung, tự thiết kế graph bài học
- Thiết kế graph DH cần đảm bảo các nguyên tắc:
+ Tính khái quát: Graph thể hiện được tính tổng thể của các KT, logic pháttriển và các mối liên hệ của các KT
+ Tính trực quan:đường liên hệ rõ, đẹp, hình khối cân đối, kí hiệu, màu sắchài hoà
+ Tính hệ thống: thể hiện rõ trình tự KT, logic phát triển của kiến thức
+ Tính súc tích: Dùng kí hiệu, qui ước viết tắt ở các đỉnh thể hiện được cácdấu hiệu bản chất nhất của kiến thức
+ Về tâm lí của sự lĩnh hội: HS dễ dàng hiểu được các kiến thức chủ yếu,quan trọng ở các đỉnh của graph và cả logic phát triển của cả một hệ thống kiếnthức hình ảnh trực quan là những biểu tượng cho sự ghi nhớ và tái hiện kiến thứccủa HS
Trong giờ ôn tập, luyện tập GV có thể sử dụng phối hợp phương pháp Graphvới các PP DH khác cụ thể như:
Phối hợp Graph với thuyết trình nêu vấn đề: GV có thể nêu và giải quyếttừng vấn đề cơ bản ở các đỉnh của Graph, trình bày mối liên hệ giữa các kiến thứcbằng sự nối các đỉnh Graph và kết thúc bài thuyết trình và một sơ đồ đầy đủ cáckiến thức cơ bản của chương
Phối hợp Graph với đàm thoại nêu vấn đề: Giáo vên tổ chức, điều khiển hoạtđộng hệ thống các kiến thức chốt ở từng đỉnh của Graph bằng các câu hỏi có liênquan, HS làm việc độc lập trả lời câu hỏi, GV hệ thống chỉnh lí và điền vào các đỉnhcủa Graph, GV và HS cùng thiết lập mối liên hệ giữa các kiến thức cơ bản (thiết lậpcung) và cuối cùng sẽ có một Graph hoàn chỉnh của bài luyện tập, ôn tập
Phối hợp Graph với việc sử dụng phương tiện kĩ thuật: GV có thể sử dụngmáy vi tính với phần mềm trình diễn powerpoint để trình bày nội dung bài luyệntập, ôn tập Bằng sự xuất hiện dần từng đỉnh của Graph và kết hợp thêm các hìnhảnh, tư liệu để minh họa hoặc khái quát, vận dụng kiến thức sẽ làm cho bài học hấpdẫn và sinh động hơn
1.3.3.2 Các bước chuẩn bị
Trang 20Các bước lập graph nội dung DH
Bước 1 Tổ chức các đỉnh
- Xác định đỉnh graph: Chọn KT chốt tối thiểu (KT cơ bản, cần và đủ)
- Mã hoá KT chốt (dùng kí hiệu qui ước mô tả nội dung KT chốt)
- Xếp đỉnh: Đặt KT chốt vào các điểm trên mặt phẳng tờ giấy đảm bảo tính
1.3.4.1 Ưu điểm và phạm vi áp dụng của PP trực quan trong DH hóa học
Trong việc dạy học môn hóa học ở trường trung học, để nghiên cứu các hiệntượng hóa học và rèn luyện kĩ năng giải quyết các bài tập thực hành ta phải dùngđến các phương tiện trực quan Phương pháp này được gọi đầy đủ là PPDH sử dụngphương tiện trực quan hay thường gọi tắt là phương pháp trực quan
Phương tiện trực quan bao gồm mọi dụng cụ, đồ dùng, thiết bị kỹ thuật từđơn giản đến phức tạp dùng trong quá trình dạy học, với tư cách là mô hình đại diệncho hiện thực khách quan (sự vật và hiện tượng), nguồn phát ra thông tin về sự vật
và hiện tượng đó, làm cơ sở và tạo thuận lợi cho sự lĩnh hội kiến thức, kĩ năng, kĩxảo về hiện thực đó của HS
Mục tiêu của giờ ôn, luyện tập là giúp HS tái hiện kiến thức một cách có hệthống, làm nền tảng và rèn luyện kĩ năng, kĩ xảo, giải quyết các vấn đề học tập Vìvậy, phương tiện trực quan được dùng trong giờ ôn, luyện tập là những dụng cụ, đồdùng, thiết bị kĩ thuật phục vụ cho giờ học mà GV và HS sử dụng nhằm nâng caohiệu quả giờ học Đó là:
- Một số thí nghiệm có thể dùng trong giờ ôn, luyện tập
- Dùng phần mềm PowerPoint để soạn giảng hoặc trình chiếu bảng kế hoạchlàm việc trong giờ học, các bảng tổng hợp, so sánh, các grap nội dung ôn tập
- Các phần mềm hỗ trợ vẽ cấu trúc phân tử như ChemOffice…
- Các loại sơ đồ, bảng biểu, các grap là dụng cụ trực quan mà các giờ ôntập, luyện tập thường phải dùng đến để vừa không tốn thời gian diễn giải dài dòng,vừa giúp HS tái hiện kiến thức, hệ thống hóa kiến thức dễ dàng
Nhờ có phương tiện trực quan giáo viên kích thích được tính tò mò, sáng tạo,ham hiểu biết và lòng yêu khoa học của HS
Tuy nhiên, khi sử dụng các loại phương tiện trực quan, GV cần khéo léo tổchức sắp xếp sao cho các loại phương tiện có trật tự, ngăn nắp Các phương tiện
Trang 21trực quan khi sử dụng phải được phối hợp tốt với nội dung bài ôn tập, luyện tậpđúng thời điểm, tương thích để phát huy tác dụng tốt nhất của chúng nhằm nâng caochất lượng giờ học
1.3.4.2 Các bước chuẩn bị
Quá trình dạy học sử dụng phương tiện trực quan để minh họa thực hiện theocác bước sau:
- Bước 1: Chuẩn bị bài dạy
+ Xác định mục tiêu, nội dung bài học, phạm vi kiến thức cần tìm kiếm, cầnlàm sáng tỏ
+ Xây dựng logic tiến trình bài dạy và cách thức tiến hành giờ học
+ Lựa chọn phương tiện trực quan sử dụng trong bài dạy
+ Chuẩn bị các phương tiện trực quan và các điều kiện vật chất cần thiết chogiờ học
+ Soạn giáo án
- Bước 2: Tổ chức dạy học trên lớp
Giáo viên thông báo nội dung, vấn đề nghiên cứu, xác định phạm vi kiếnthức cần lĩnh hội
Tùy vào nội dung từng bài mà GV có thể sử dụng phương tiện trực quan đểminh họa theo các hướng khác nhau: hình thành khái niệm, giải quyết mâuthuẫn, để giúp HS lĩnh hội kiến thức của bài học
- Bước 3: HS nghe, ghi các nội dung tương ứng
HS nghe, ghi theo lời giới thiệu, giải thích của GV và có thể kết hợp trả lờicác câu hỏi ngắn do GV đưa ra
1.3.5 Sử dụng BT hóa học
1.3.5.1 Ưu điểm và phạm vi áp dụng của BT hóa học
BT HH được coi là một trong các PP DH có hiệu quả và được sử dụng nhiềutrong các giờ luyện tập, ôn tập với mục đích rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức,giải các dạng BT đặc thù của HH và phát triển năng lực nhận thức, năng lực tư duycho HS
Trong giờ luyện tập, ôn tập GV thường sử dụng các câu hỏi lí thuyết và BT
HH để thực hiện các nhiệm vụ học tập như:
- Dùng BT để tái hiện các kiến thức cơ bản, quan trọng
- Xây dựng các tình huống học tập để xác định khả năng vận dụng các kiếnthức cơ bản trong chương
- Luyện tập theo BT mẫu và những điều kiện quen thuộc nhằm rèn luyện kĩnăng, vận dụng kĩ năng giải một cách đúng đắn theo các bước xác định
Trang 22- Luyện tập khả năng ứng dụng kiến thức vào tình huống mới đòi hỏi có sựvận dụng tổng hợp và sang tạo kiến thức, kĩ năng đã có.
- Dùng BT để khái quát hóa,hệ thống hóa kiến thức và chỉ ra cách thức hoạtđộng nhận thức
- Kiểm tra và tự kiểm tra kiến thức, kĩ năng thu nhận được
1.3.5.2 Các bước chuẩn bị
Khi chuẩn bị bài luyện tập, ôn tập GV cần chú ý đến việc lựa chọn
BT và PP sử dụng chúng trong giờ học Việc lựa chọn BT HH cho bài luyệntập cần lưu ý chọn các BT điển hình, có tính tổng hợp và khái quát cao để thông quaviệc giải chúng mà củng cố được nhiều kiến thức, kĩ năng và rèn luyện được khảnăng phân tích, phát hiện vấn đề, vận dụng kiến thức giải quyết vấn đề
Khi sử dụng BT HH trong giờ luyện tập, ôn tập thì hoạt động của GVbao gồm:
Đưa ra các BT cho HS từ đơn giản đến phức tạp theo từng dạng bài xác định,
từng đơn vị kiến thức cần nhớ hoặc một BT tổng quát được tất cả các kiến thức cần
Hoạt động học tập của HS chủ yếu là:
Xác định các kiến thức lí thuyết cần áp dụng để giải BT được giao
Hoàn thành các baì tập của GV, có thể thực hiện theo nhiều cách và tìm racon đường ngắn nhất
Trình bày kết quả hoạt động học tập của mình
Nhận xét câu trả lời, bài làm của bạn và so sánh với kết quả của mình
Ghi nhận các bước giải cơ bản cho dạng bài đã luyện tập và kết luận lại cáckiến thức cơ bản cần nắm vững, tiếp tục tiếp nhận nhiệm vụ học tập mới
GV cũng có thể sử dụng các câu hỏi, BT HH để đàm thoại, kiểm tra tronggiờ học hoặc cấu trúc trong các phiếu học tập và tổ chức cho HS hoạt động độc lậptheo cá nhân hoặc thảo luận theo nhóm Với BT TN thì GV nên tổ chức cho HS làmviệc theo nhóm Các nhóm thảo luận, giải BT bằng lí thuyết sau đó tiến hành TN đểkiểm nghiệm phương án giải bằng lí thuyết GV tổ chức cho các nhóm báo cáo kếtquả hoạt động của nhóm mình, các nhóm khác nhận xét, bổ sung, GV đánh giá kháiquát và tổng kết về PP giải
Trang 23Với các BT tổng hợp thì GV nên đưa ra sau cùng, trên cơ sở HS đã được củng
cố những kiến thức, kĩ năng cơ bản và có thể vận dụng được chúng trong quá trìnhgiải BT đó GV cần giúp HS phân tích đề bài, tìm ra những con đường giải quyết vấn
đề rút ra được những kiến thức mới, kĩ năng mới, PP tư duy, lập luận mới thông quaviệc giải các BT tổng hợp và từ đó mà GV đánh giá được trình độ thực của HS
Như vậy trong giờ luyện tập, ôn tập thì các BT trở thành nguồn kiến thức để
HS tìm tòi, khám phá những con đường, những PP, cách thức vận dụng sáng tạo cáckiến thức để giải quyết các vấn đề học tập
1.3.6 PP DH theo nhóm
1.3.6.1 Ưu điểm và phạm vi áp dụng DH theo nhóm
PP này được đánh giá là một PPDH tích cực hướng HS và đạt hiệu quả caotrong giờ ôn tập Trong đó thảo luận nhóm đóng vai trò chủ yếu nhằm phát huy cao
độ tính tích cực, chủ động sáng tạo của người học, đồng thời phát huy cao độ khảnăng hợp tác, giúp đỡ học tập lẫn nhau
Mỗi cá nhân HS được liên kết với nhau trong một hoạt động chung nhằmthực hiện nhiệm vụ học tập HS học được PP hợp tác, trình bày và bảo vệ ý kiến củariêng mình
DH theo nhóm dưới sự tổ chức và điều khiển của GV, HS được chia thànhtừng nhóm nhỏ liên kết lại với nhau trong một hoạt động chung, với phương thứctác động qua lại của các thành viên bằng trí tuệ tập thể để hoàn thành các nhiệm vụhọc tập
Cấu trúc chung của quá trình DH theo nhóm:
Học tập hợp tác theo nhóm nhỏ trong DH HH được thể hiện khi:
- Nhóm HS tiến hành thí nghiệm rút ra kết luận về tính chất của chất
- Thảo luận nhóm để tìm ra lời giải, nhận xét, kết luận cho một vấn đề họctập hay một BTHH cụ thể
- Cùng thực hiện một nhiệm vụ do GV nêu ra
Trang 24PP này được sử dụng trong trường PT như một PP trung gian giữa hoạt độngđộc lập của từng HS với hoạt động chung của cả lớp PP này còn bị hạn chế bởikhông gian chật hẹp của lớp học, bởi thời gian hạn định cho một tiết học nên GVphải biết tổ chức hợp lý và HS đã quen với hoạt động này thì mới có kết quả tốt.Mỗi tiết học chỉ nên tổ chức từ một đến ba hoạt động nhóm, mỗi hoạt động cần 5 -
10 phút
Ta cần chú ý đến yêu cầu phát huy tính tích cực của HS và rèn luyện nănglực hợp tác giữa các thành viên trong hoạt động nhóm Cần tránh khuynh hướnghình thức và lạm dụng PP này khi cho rằng tổ chức hoạt động nhóm là dấu hiệu tiêubiểu nhất của đổi mới PPDH hoặc hoạt động nhóm càng nhiều thì càng chứng tỏPPDH càng đổi mới
Trong PP hoạt động nhóm nổi lên mối quan hệ giao tiếp HS-HS Thông quathảo luận, tranh luận trong tập thể, ý kiến của mỗi cá nhân được điều chỉnh, qua đóngười học nâng mình lên một trình độ mới
Hoạt động trong tập thể nhóm sẽ làm cho từng thành viên quen dần với sựphân công hợp tác trong lao động xã hội, phát triển tình bạn, ý thức tổ chức kỷluật, ý thức cộng đồng Mô hình này nhằm chuẩn bị cho HS thích ứng với đờisống xã hội trong đó mỗi người sống và làm việc theo phân công, hợp tác với tậpthể cộng đồng
1.3.6.2 Chuẩn bị cho việc DH theo nhóm trong các bài luyện tập - ôn tập
Trong quá trình tổ chức thực hiện DH theo nhóm trong các giờ luyện tập - ôntập GV cần chuẩn bị các vấn đề sau:
- Lập kế hoạch về việc tổ chức nhóm và các bước hoạt động của nhóm.+ Phân công nhóm:
Để duy trì hoạt động nhóm có thể phân công thường xuyên theo từng bànhoặc 2 bàn gần nhau ghép lại và đặt tên nhóm 1,2,3, đồng thời cũng có thể thay đổinhóm theo công việc khi có những công việc cần thiết gọi là nhóm cơ động, không
cố định
+ Phân công trách nhiệm của nhóm:
Các thành viên trong nhóm được phân công các trách nhiệm khác nhau đểmỗi người thực hiện một nhiệm vụ nhất định Trong mỗi nhóm đều có phân côngnhóm trưởng, thư kí nhóm và các thành viên với những nhiệm vụ cụ thể trong hoạtđộng nhất định Sự phân công này cũng có sự tha đổi để mỗi HS có thể phát huy vaitrò cá nhân của từng trách nhiệm trong nhóm Nhóm trưởng có nhiệm vụ điều khiểnhoạt động của nhóm, phân công trách nhiệm từng thành viên và yêu cầu mỗi thànhviên thực hiện đúng trách nhiệm của mình thay mặt nhóm báo cáo kết quả hoạt
Trang 25động của nhóm nếu cần thư kí có trách nhiệm ghi kết quả hoạt động của nhóm GVgiao nhiệm vụ hoạt động cho từng nhóm và theo dõi để có thể giúp đỡ, định hướng,điều chỉnh kịp thời hoạt động của mỗi nhóm đi đúng hướng.
- Các nhóm chuẩn bị các dụng cụ trình bày của nhóm như bảng phụ, viết,
- Chuẩn bị câu hỏi cho các nhóm hoạt động
1.3.7 Phương pháp algorit dạy học
1.3.7.1 Ưu điểm và phạm vi áp dụng của phương pháp algorit dạy học
Nếu grap cho phép mô tả cấu trúc hoạt động thì algorit cung cấp phương tiệnđiều khiển hoạt động đó, và tự điều kiển bản thân trong quá trình hoạt động
Algorit thường được hiểu là bảng ghi chính xác tường minh tập hợp những thao tác sơ đẳng, đơn trị theo một trình tự nhất định để giải quyết bất kỳ vấn đề nào thuộc cùng một loại hay kiểu
Algorit có ý nghĩa rất lớn đối với việc hình thành phương pháp chung cơ bản
và phổ biến của tư duy khoa học và của hoạt động có mục đích có kế hoạch Nó vừa
là công cụ điều khiển hoạt động, lại vừa là công cụ điều khiển cho người dùngalgorit để triển khai hoạt động Algorit giúp HS tư duy khái quát hợp lí, có kếhoạch Từ đó, HS làm quen với các phương pháp có tính chất algorit như phươngpháp suy nghĩ, làm việc được qui định rõ các việc cần tiến hành theo một trình tựchặt chẽ để hoàn thành nhiệm vụ được giao
1.3.7.2 Các bước dạy học theo phương pháp algorit
Muốn dạy HS phương pháp algorit ta phải thực hiện ba bước:
Bước 1: Mô hình hóa cấu trúc logic của hoạt động bằng phương pháp grap
- Bước 2: Chốt lại qui trình các thao tác của hoạt động bằng cách lập bảng
ghi algorit dưới dạng hành văn hay sơ đồ
- Bước 3: Giúp HS triển khai quá trình hoạt động dựa theo algorit
Một khi HS đã có kĩ năng sử dụng algorit để giải quyết những bài toán cụthể, các em sẽ có thói quen tư duy và hành động theo kiểu algorit
Trong thực tế dạy học hóa học, phương pháp algorit thường được dùng trongcác giờ luyện tập giúp HS giải quyết các bài tập định tính, bài tập điều chế, tách cácchất hóa học và giải các bài toán hóa học Đặc biệt trong HHHC, phương phápalgorit phát huy được thế mạnh của nó trong việc hướng dẫn HS giải các bài tậpdạng: xác định công thức phân tử; viết công thức cấu tạo các đồng phân, tìm côngthức cấu tạo đúng của hợp chất hữu cơ
Ví dụ: Viết CTCT có thể có của các chất ứng với CTPT: C3H8O
GV cung cấp cho HS algorit giải dạng bài tập viết CTCT các đồng phân củaHCHC Để viết được CTCT các đồng phân của HCHC, trước hết ta dựa vào thuyết
Trang 26cấu tạo hóa học
+ Viết các dạng mạch C có thể có (ứng với mạch hở)
+ Xác định số liên kết Л hay số vòng: dựa vào công thức hay sự suy đoánbằng tương quan giữa số nguyên tử hiđro và số nguyên tử cacbon (ứng với dạngCnH2n+2 không có liên kết Л hay vòng)
+ Xác định số nhóm chức, loại nhóm chức (chỉ có 1 nguyên tử oxi nên chỉ làhợp chất đơn chức, nguyên tử oxi có hóa trị 2 tạo 2 loại liên kết đơn: một là - O - H,hai là - O -)
+ Đặt nhóm chức lên các vị trí khác nhau của mạch cacbon (đặt nhóm -OHvào vị trí cacbon số 1 hay số 2, hay xen - O - vào giữa mạch cacbon)
+ Bảo hòa hóa trị của nguyên tử cacbon bằng các nguyên tử hiđro Từ đó, ta
có các đồng phân của C3H8O:
CH3 - CH2 - CH2 - OH; CH3 - CH - CH3 ; CH3 - O - CH2 - CH3
OH
Dùng cách này, HS viết được các đồng phân cấu tạo ứng với các CTPT khác.Phương pháp algorit thường được kết hợp với phương pháp grap trong việcgiải các bài tập định tính và các bài toán hóa học Việc dạy HS giải bài toán hóa họctheo phương pháp algorit cũng được tiến hành theo bốn bước:
- Bước 1: Tìm hiểu điều kiện của bài toán
- Bước 2: Lập kế hoạch giải bài toán
- Bước 3: Thực hiện việc giải
- Bước 4: Kiểm tra sự đúng đắn của việc giải
Sơ đồ mối liên quan giữa các bước giải:
1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng giờ ôn, luyện tập [26], [29], [35]
Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng giờ ôn, luyện tập Ở đây, chúngtôi xin được nêu ra một số yếu tố quan trọng
1.4.1 Tâm lí HS khi lĩnh hội kiến thức
Sự sẵn sàng tâm lí là điều kiện quan trọng của việc học, vì sự hài lòng hay
Tìm hiểu Lập kế hoạch Thực hiện Kiểm tra
Trang 27hụt hẫng phụ thuộc vào trạng thái sẵn sàng của cá nhân
Tâm lí sẵn sàng học tập, hào hứng học tập ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả giờhọc Nếu HS học một cách chủ động, tích cực và độc lập, học bằng cả nhiệt tình, họcmột cách vui thú thì chất lượng giờ học sẽ được nâng cao như Khổng Tử đã từng
nói" Biết mà học, không bằng thích mà học; thích mà học không bằng vui mà học"
(Lạc học - Luận ngữ) Vì thế, việc tạo động cơ hứng thú học tập cho HS để HS cóđược tâm thế chủ động tìm kiếm kiến thức, tạo môi trường cho HS chủ động tham giahoạt động học tập là điều kiện tiên quyết nâng cao chất lượng giờ ôn, luyện tập
1.4.1.1 Động cơ học tập
Động cơ là điều kiện tiên quyết để thúc đẩy hoạt động học tập có hiệu quả vàthách thức lớn nhất mà GV phải đối mặt là làm cho HS muốn học
- HS chỉ muốn học những gì thật sự có lợi cho bản thân
- Sự thành công trong việc giải bài tập, trả lời câu hỏi sẽ giúp HS tự tin hơn
và có niềm vui trong học tập Điều này làm cho HS tiếp tục duy trì động cơ học tậplần kế tiếp
- Được thầy, cô khen ngợi, HS cũng tự tin vào bản thân hơn và ý thức họctập được nâng cao Từ đó, HS có tâm lý mong đợi đến giờ học và thích được làmbài nhiều hơn
- Cho dù trước đó HS không quan tâm đến chủ đề môn học, nhưng nếu đượcthầy, cô tạo ra những hoạt động học tập hấp dẫn sẽ lôi cuốn HS tham gia dần dầnnhập cuộc, tập trung học tập Thông thường HS khá, giỏi dễ nhàm chán đối với giờ
ôn, luyện tập vì lí do chính là: HS chỉ thích biết thêm cái mới, không thích luyện tậplại cái cũ HS chưa hiểu hết được cái biết của mình là cái biết còn sơ sài, chưa hìnhthành kĩ năng HS yếu, kém cũng có tâm lí chán giờ ôn, luyện tập vì bị thầy, cô gọilên bảng làm bài và bị điểm kém Để thay đổi được nếp nghĩ này hình thành đượcđộng cơ cho HS, GV phải chuẩn bị những hoạt động trong giờ ôn, luyện tập sao chotạo được sự mới mẻ, tránh sử dụng những hoạt động theo kiểu áp chế, lặp lại GVcần có những biện pháp tăng cường sự quan tâm của HS trong giờ ôn, luyện tậpnhư: Nhiệt tình thể hiện sự quan tâm của chính mình; không nhắc lại nội dung kiếnthức cũ một cách đơn thuần mà đưa ra những câu hỏi gây tò mò hơn là chỉ yêu cầunêu dữ liệu; gắn kiến thức giáo khoa với thực tiễn sinh động; tận dụng khả năngsáng tạo và biểu đạt của HS, tạo cơ hội cho HS được trả lời câu hỏi; thường xuyênthay đổi các hoạt động
của HS; tận dụng các điều ngạc nhiên gây cảm giác mới lạ; tổ chức thi đua
và thách thức giữa các tổ
1.4.1.2 Tâm thế chủ động tìm kiếm tri thức
Năng lực và trách nhiệm học tập là do chính người học quyết định Với ý
Trang 28thức trách nhiệm cao về bản thân: học tập là học cho chính mình HS sẽ có tâm thếchủ động học tập Nếu có tâm thế chủ động, HS sẽ tự tìm kiếm kiến thức chuẩn bịcho giờ học ôn thật tốt, tự mình rèn luyện kĩ năng giải bài tập, kiểm tra lại kiến thức
cũ, chấn chỉnh lại những vấn đề còn khiếm khuyết HS có tâm thế chủ động sẽ phải
cố gắng thay đổi chiến lược học tập, hoặc nhờ bạn bè giúp đỡ, ôn lại bài học cũv.v GV cần giúp HS có được tâm thế chủ động, bằng cách giao bài tập cho về nhà
để các em chuẩn bị trước Giành thời gian cho HS trao đổi, giảng giải cho nhau, cho
HS đặt ra những vấn đề còn vướng mắc, giúp HS giải quyết các vấn đề đó với sựvui vẻ, nhẹ nhàng
1.4.1.3 Môi trường học tập
Ngoài môi trường chung của nhà trường như không khí trong lành thôngthoáng, mát mẽ, yên tĩnh, phong trào thi đua của Đoàn thanh niên Môi trường học
tập mà chúng tôi muốn đề cập ở đây chính là không khí lớp học "Không khí lớp
học là trạng thái tâm lí - một dạng của của bầu không khí tâm lí HS tại lớp học Trạng thái tâm lí này nếu chuẩn bị tốt sẽ giúp HS có thể chiếm lĩnh kiến thức một cách thuận lợi nhất"
GV giữ vai trò quyết định tạo nên bầu không khí lớp học Chính thái độ, cách
cư xử của GV tạo nên môi trường học tập thân thiện Sự cởi mở, vui vẻ, thân thiện
và công bằng của GV tạo điều kiện cho HS phát huy được tính chủ động, sáng tạotrong học tập Nó kích thích khả năng suy nghĩ độc lập, giải quyết các vấn đề họctập một cách nhẹ nhàng Giờ học mà quá áp lực, căng thẳng sẽ làm cho HS sợ hãi,chán nản, làm tắt đi niềm vui thú học tập Vì thế, khả năng tư duy sẽ không đượcphát huy đến mức cao nhất
Trong giờ ôn, luyện tập, GV cần tạo điều kiện cho HS được gần gũi vớimình, gợi ý để các em mạnh dạn đặt câu hỏi, tìm cách giúp HS tháo gỡ những gútmắc, tận tình hướng dẫn lại cho HS những vấn đề đã được luyện tập mà HS chưanắm bắt được Những việc làm này giúp cho tâm lí lĩnh hội kiến thức của các emtăng trưởng theo chiều hướng tích cực
1.4.2 Sự chuẩn bị của GV và HS trước giờ ôn, luyện tập
Sự chuẩn bị càng kĩ thì cơ hội thành công càng cao Như vậy, một trongnhững yếu tố có ảnh hưởng nhiều đến chất lượng giờ ôn, luyện tập là sự chuẩn bịcủa GV và HS trước giờ học
Trang 29hỏi gợi ý ôn tập, ra những bài tập yêu cầu HS giải trước khi đến giờ học
- Chọn nội dung kiến thức cần ôn, luyện thật cô đọng, rõ ràng xoáy trọng tâm
- Chuẩn bị các hoạt động dành cho HS thực hiện trong giờ học
Sự chuẩn bị của HS có ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao chất lượnggiờ ôn, luyện tập Nó thể hiện tâm thế sẵn sàng của HS Nhờ chuẩn bị kĩ, HS không
bị động khi GV nêu vấn đề yêu cầu giải quyết HS sẽ tự tin hơn khi tham gia cáchoạt động trong giờ học Các hoạt động của HS sẽ diễn ra nhanh chóng, kịp với tiếntrình thời gian của tiết học Muốn HS chuẩn bị tốt cho giờ học, GV cần phải biếtcách tác động đến HS bằng cách đặt ra những yêu cầu, kiểm tra chặt chẽ, có khenthưởng và hình phạt thích hợp
1.4.3 Cách thức quản lí giờ ôn, luyện tập của GV.
1.4.3.1 Tổ chức hoạt động dạy học
Dạy học là quá trình lãnh đạo, tổ chức quản lí Trong dạy học hiện đại, người
GV có chức năng định hướng, ủy thác, kích thích, động viên, làm nảy sinh nhu cầu,tạo động cơ, phát triển hứng thú của người học Mặt khác, GV còn có vai trò thamvấn, trợ giúp và tổ chức hoạt động học của HS; kiểm soát, đánh giá và điều chỉnh
hành vi của họ Việc tổ chức các hoạt động dạy học trong giờ ôn, luyện tập của GV
là yếu tố quyết định sự thành công hay không thành công của giờ học Các hoạtđộng dạy học phải được tổ chức sao cho:
- Phát huy được vai trò chỉ đạo của thầy và vai trò chủ động của trò
- HS phải được hoạt động nhiều trong giờ học
- Phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của HS trong quá trình học tập
- Tạo điều kiện cho HS trao đổi, thảo luận tìm tòi, phát hiện, giải quyết vấn đề
Trang 30- Tạo điều kiện cho HS tự đánh giá và đánh giá lẫn nhau
Đối với giờ ôn, luyện tập việc sử dụng BTHH để tổ chức hoạt động học tập
là điều tất yếu Nếu GV lựa chọn, xây dựng hệ thống câu hỏi và bài tập hợp lí, khéoléo trong việc tổ chức giờ học sẽ làm cho HS hăng hái, tích cực tham gia vào hoạtđộng học tập
Việc ghi chép bài của HS cũng ảnh hưởng không ít đến chất lượng giờ ôn,luyện tập Nếu ở giờ học bài mới, HS đã quen kiểu ghi theo những gì thầy ghi lênbảng, chắc chắn cácem sẽ lúng túng khi ghi bài trong giờ ôn, luyện tập Vì nội dung
ở bài ôn, luyện tập có khi là một bảng so sánh, đôi khi là một grap ôn tập và các bài
tập được thiết kế theo các hoạt động lại là những Phiếu học tập Nếu chăm chú ghi
chép bài thì HS sẽ không theo dõi được đầy đủ các nội dung mà GV ôn, luyện Dovậy, trong mỗi giờ ôn, luyện tập GV cần hướng dẫn cho HS khi nào tham gia hoạtđộng trao đổi, thảo luận, khi nào theo dõi ghi bài, nội dung nào cần ghi chép cẩnthận, nội dung nào có trong tài liệu không cần phải ghi chép nữa
Các nhà lí luận dạy học đã nghiên cứu và cho biết: Thông thường sau 20 - 30phút sự tập trung chú ý của HS đã giảm, GV phải biết cách thay đổi kiểu hoạt động,kiểu hỏi, kiểu bài tập Nếu các hoạt động mang tính đơn điệu, tẻ nhạt lặp đi, lặp lại
sẽ gây cho HS cảm giác nhàm chán, không tập trung chú ý
1.4.3.2 Thời gian ôn tập, luyện tập
Muốn đạt được mục tiêu của giờ học trong điều kiện thời gian có hạn mà nộidung cần ôn, luyện tập lại quá nhiều thì GV phải biết quản lý, phân phối thời gianhợp lý Xác định mục tiêu rõ rệt cho bài học là điểm khởi đầu của việc quản lý thờigian hiệu quả Sau đó, sắp xếp các mục tiêu theo thứ tự ưu tiên rồi phân chia thờigian cho từng mục tiêu cụ thể
Điều tốt nhất chúng ta có thể làm được là tận dụng hết thời gian có được: bốnmươi lăm phút của giờ học Đồng thời, phân bố thời gian giữa hai phần ôn và luyện saocho phù hợp Thời gian dành cho mỗi hoạt động ôn hoặc luyện phải được tính toánchặt chẽ, không thừa, không thiếu Không nên dành nhiều thời gian vào những nộidung không cần thiết, hoặc cắt xén thời gian không đủ để rèn các kĩ năng quan trọng
Để đảm bảo được các hoạt động diễn ra đúng theo thời gian dự định, GVphải ấn định thời gian cho mỗi hoạt động, yêu cầu HS làm việc nhanh chóng kịpthời Mặt khác, GV luôn theo dõi, kiểm tra, nhắc nhở, gợi ý khi HS chưa kịp nghĩ rahướng trả lời câu hỏi Tránh để tình trạng HS thảo luận chệch hướng, không xoáyđược trọng tâm vấn đề cần giải quyết làm mất đi một khoảng thời gian vô ích
Cuối mỗi giờ ôn, luyện tập cũng cần phải dành ít nhất hai phút cho việc nhậnxét chung về tiết học, nhắc lại một số vấn đề cần lưu ý khắc sâu cho HS những điểm
Trang 31quan trọng trong bài học
Nếu trống báo hết giờ, GV vẫn còn tiếp tục điều khiển lớp học, chưa đúc kếtđược nội dung bài thì chắc chắn chất lượng giờ ôn tập, luyện tập sẽ giảm Vì khi đó
HS không còn tập trung chú ý vào hoạt động học tập mà chỉ lo nghĩ đến giờ ra chơihoặc giờ học kế tiếp mà thôi
Tóm lại, sử dụng thời gian hợp lí cho việc ôn tập, luyện tập là việc rất cần thiết
1.4.4 Trí nhớ và vấn đề ôn, luyện tập
Trí nhớ có vai trò đặc biệt quan trọng với con người Với nhận thức trí nhớ làcông cụ để lưu giữ lại các kết quả của cảm giác, tri giác Nó là điều kiện để diễn racác quá trình nhận thức tư duy và tưởng tượng Trí nhớ đóng vai trò quan trọngtrong việc ôn tập Nó giúp cho HS lưu trữ các kiến thức làm cơ sở giải quyết cácvấn đề học tập Trí nhớ có thể học tập và rèn luyện được Việc rèn luyện và pháttriển trí nhớ cho HS là một nhiệm vụ dạy học quan trọng Cách truyền đạt của GVcũng giúp HS ghi nhớ tốt, góp phần nâng cao chất lượng giờ ôn, luyện tập
1.4.4.1 Các quá trình cơ bản của trí nhớ
- Quá trình ghi nhớ: Đây là giai đoạn đầu tiên của hoạt động trí nhớ Nó rất
cần thiết để tiếp thu tri thức, tích lũy kinh nghiệm Có nhiều loại ghi nhớ: Ghi nhớkhông chủ định và ghi nhớ có chủ định; ghi nhớ máy móc và ghi nhớ có ý nghĩa.Trong đó ghi nhớ có chủ định và ghi nhớ có ý nghĩa là các loại ghi nhớ hỗ trợ chínhcho sự ôn, luyện tập Ghi nhớ có chủ định đòi hỏi phải có mục đích, có nổ lực, cóthủ thuật và phương pháp xác định Muốn rèn luyện cho HS loại ghi nhớ này, GVphải hướng dẫn cho HS cách ghi chép bài, tóm tắt nội dung bài học, lập thời gianbiểu học tập và tuân thủ nghiêm ngặt theo thời gian qui định đó Ghi nhớ có ý nghĩa
là ghi nhớ dựa trên sự thông hiểu nội dung cơ bản của tài liệu, mối liên hệ logicgiữa các bộ phận tài liệu đó Loại ghi nhớ này gắn với quá trình tư duy, đảm bảo sựlĩnh hội tri thức một cách sâu sắc, bền vững và nếu quên cũng dễ nhớ lại hơn Đểrèn luyện loại ghi nhớ này cho HS, GV nên hướng dẫn HS các phương pháp lập sơ
đồ biểu thị mối quan hệ giữa các kiến thức, tóm tắt kiến thức bằng những hình ảnh,
kí hiệu đặc biệt
- Quá trình gìn giữ: Có thể gìn giữ kiến thức đã ghi nhớ bằng sự đọc đi, đọc
lại nhiều lần tài liệu đã học Hoặc có thể gìn giữ bằng sự tái hiện, đó là nhớ lại trong
óc tài liệu đã ghi nhớ mà không phải đọc lại tài liệu đó Quá trình gìn giữ này chính
là sự tự ôn tập
Nếu trong giờ ôn, luyện tập HS đã quên hết những kiến thức đã học, nghĩa là
tự bản thân các em không giữ lại được kiến thức cũ để GV phải nhắc lại kiến thức
đó như dạy bài mới thì hiển nhiên giờ học sẽ kém chất lượng
- Quá trình tái hiện: Là quá trình làm sống lại những nội dung đã ghi Quá
Trang 32trình này có thể diễn ra dễ dàng nhưng cũng có khi cần phải nổ lực nhiều Quá trìnhlưu giữ càng tốt thì sự tái hiện sẽ diễn ra một cách dễ dàng Quá trình tái hiện khôngdiễn ra tự nó mà thường tuân theo qui luật liên tưởng, mang tính chất logic chặt chẽ,
có hệ thống
- Sự quên lãng: Trí nhớ bền vững là cơ sở cho sự lĩnh hội tri thức Nhưng
không dễ dàng để có thể nhớ lại tất cả những gì đã được ghi nhớ trước đó Sự quênlãng làm cho việc liên hệ giữa các phần kiến thức sẽ khó khăn, ảnh hưởng lớn đếnviệc giải quyết các vấn đề đặt ra Trong giờ luyện tập, HS cũng rất vất vả để hiểu vàgiải các bài tập do GV yêu cầu nếu như trước đó không có sự ôn tập giúp các em táihiện lại kiến thức liên quan
Để hướng dẫn HS ghi nhớ tốt bài học, GV cần nắm vững các quy luật của trí nhớ
1.4.4.2 Các quy luật của trí nhớ
1 Quy luật hướng đích: Muốn ghi nhớ tốt cần tập trung sự chú ý vào một
mục tiêu rõ ràng, cụ thể Chú ý là tập trung tinh thần vào một đối tượng rõ ràng nhấtđịnh Nếu không tập trung chú ý thì sự ghi nhớ sẽ không hiệu quả
2 Quy luật ưu tiên: Sự ghi nhớ có chọn lọc theo mức độ ưu tiên khác nhau
tùy đặc điểm của từng tài liệu
+ Hình ảnh cụ thể dễ nhớ hơn ngôn ngữ trừu tượng.
+ Sự việc, hiện tượng càng hấp dẫn, sinh động, gây hứng thú để lại ấn tượngsâu sắc càng dễ nhớ
+ Tài liệu cũng sẽ dễ nhớ khi: có ý nghĩa quan trọng, cần thiết, bổ ích; gây sựtranh cãi; có vấn đề giải quyết chưa trọn vẹn
3 Quy luật liên tưởng: Xét về bản chất, liên tưởng dựa trên khả năng quan
sát tinh vi, kết hợp các suy diễn để ghi nhận thông tin
Vận dụng quy luật này trong dạy học bài ôn, luyện tập hóa học:
- Muốn nhớ điều gì phải liên kết nó với cái khác Muốn nhớ nhanh, nhớ lâu
phải thấu hiểu vấn đề tìm ra các mối liên hệ: Liên hệ giữa kiến thức cũ và kiến thứcmới; Giữa các ý tưởng, các phần của kiến thức từng bài trong chương; Giữa kiếnthức đã có và các vấn đề cần giải quyết trong thực tế cuộc sống và bài toán hóa học
- Muốn nhớ điều gì phải tìm ra mối liên hệ logic, theo trật tự giữa: Cấu tạo
và tính chất của chất; Các chất có tính chất tương tự hay khác biệt nhau; Sự biến đổi
từ chất này sang chất khác mang tính quy luật
- Muốn nhớ điều gì trong một hệ thống phải phân loại chúng: Sự phân loại,
sắp xếp các vấn đề theo một trật tự nào đó hợp lí sẽ giúp cho sự ghi nhớ tốt hơn
4 Quy luật lặp lại: Ôn tập là cách để lưu giữ được kiến thức lâu bền trong trí
nhớ Muốn ghi nhớ được tốt nhất là lặp đi, lặp lại nhiều lần có chủ định nội dung
Trang 33cần nhớ
5 Quy luật kìm hãm: Sự ghi nhớ sau bao giờ cũng kìm hãm sự ghi nhớ
trước Vì thế muốn ghi nhớ tốt những nội dung quan trọng:
+ Cần quên đi những gì không cần thiết bằng cách không nhắc lại, gợi lại + Cần xác định rõ mức độ cần ghi nhớ đối với mỗi tài liệu
+ Lựa chọn kỹ nội dung kiến thức cần học thuộc lòng
Ngoài ra, trên trang http://www.ebook4u.vn/home.htm, tác giả Nguyễn MinhĐức sưu tầm các bí quyết thành công trong học tập, trong đó có nêu ra tám quy luậtcủa trí nhớ gồm:
1 Quy luật nhận biết: Trí nhớ càng sâu sắc khi con người nắm chắc những gì
đã biết
2 Quy luật hứng thú: Sự hứng thú giúp trí thức bột phát tái hiện mà không
cần đến một nỗ lực đặc biệt nào
3 Quy luật tích luỹ: Càng hiểu biết về một vấn đề cụ thể thì con người càng
dễ dàng nhớ lại tất cả những thông tin mới phù hợp với vấn đề ấy Đọc sách lần đầu
là công việc tích luỹ Đọc lần sau là mới có sự điều chỉnh mới Đây là mối quan hệgiữa vốn cũ với hiểu biết mới là công việc để trí nhớ hoá kiến thức
4 Quy luật nhớ có ý thức: Đây là cách làm cho bộ nhớ vững bền
5 Quy luật liên kết: Quy luật này được Aristot phát hiện từ thế kỷ thứ 4
trước công nguyên Những khái niệm khoa học thường phát sinh do sự liên kết cái
nọ với cái kia Chẳng hạn, cảnh quan của một cǎn phòng gợi nhớ các sự kiện đã xảy
ra trong đó thậm chí nhớ lại những điều gì ta đã đọc đó
6 Quy luật nối tiếp liên tục: Đọc xuôi bảng chữ cái thì dễ nhưng thật khó
khǎn khi đọc ngược Những tri thức khoa học, những khái niệm có được là do từng
sự nối tiếp cụ thể Do vậy, muốn nhớ lại phải đặt chúng trong từng hoàn cảnh nốitiếp cụ thể đã tích luỹ được
7 Quy luật ấn tượng mạnh mẽ: Thông thường sức mạnh của ấn tượng đầu
tiên về một cái gì dễ tồn tại ở trong trí nhớ Ấn tượng càng mạnh thì hình ảnh càngsáng Càng có nhiều kênh thông tin thì càng tạo ra sức mạnh duy trì những thông tin
ấy Vì thế cần lưu giữ tất cả những ấn tượng ban đầu mà mạnh nhất có quan hệ đếnvấn đề nghiên cứu học tập
8 Quy luật kiểm tra: Hệ quả của trí nhớ hoá là công việc kiểm tra sự hiểu biết
trước đây khi tìm hiểu các thông tin mới Tỷ trọng khối lượng của các thông tin cũphải được xử lý ổn định trước khi tiếp nhận các thông tin mới Cách tốt nhất để nhớ
là ghi nhớ có hệ thống những hiện tượng, sự kiện của cái cũ đang ở thế phát triển
Như vậy, trí nhớ là một trong những yếu tố ảnh hưởng nhiều đến chất lượng
Trang 34giờ ôn tập, luyện tập Để giúp HS rèn luyện trí nhớ nâng cao chất lượng giờ ôn,luyện tập, GV phải làm cho bài học có ấn tượng mạnh mẽ đối với HS; làm cho HShứng thú trong giờ học; tạo được nhiều mối liên hệ giữa các phần kiến thức vớinhau; hệ thống hóa kiến thức thật chặt chẽ Trong sơ đồ hệ thống cần phải có phôngchữ đậm nhạt thích hợp, màu sắc hình ảnh sinh động thì mới giúp HS ghi nhớ tốtnội dung ôn tập và lưu giữ được kiến thức lâu bền trong bộ não Không chỉ vậy, GVcòn phải giảng giải cặn kẽ những điều HS chưa nắm chắc để củng cố, khắc sâunhững vấn đề cần luyện tập cho HS
1.4.5 Nội dung kiến thức và kĩ năng cần ôn, luyện
Nội dung dạy học (NDDH) là môi trường bên trong, là bản thể của quá trình dạy học Toàn bộ hoạt động dạy và học diễn ra trên nền tảng của NDDH NDDH được xuất phát từ mục đích hạy học và là sự khách quan hóa mục đích dạy học
NDDH là yếu tố trực tiếp quy định PPDH hay nói cách khác, hoạt động dạyhọc chỉ diễn ra trên nền tảng của NDDH Mọi phương pháp dạy và học đều phụthuộc vào nó
Vì vậy, nội dung kiến thức và bài tập rèn luyện kĩ năng cho HS trong giờ ôn,luyện tập là vấn đề quan trọng, nó có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng của giờ
ôn, luyện tập
Thông thường HS khá, giỏi không hứng thú mấy khi đến giờ ôn tập vì phảihọc lại những nội dung đã biết rồi Thật ra, kiến thức trong bài học đã qua có tínhchất rời rạc tản mạn GV phải biết tạo ra nội dung mới trên nền của cái cũ để gâyhứng thú cho HS Đó chính là kiến thức trong bài ôn tập được hệ thống, xâu chuỗi,xuyên suốt, mạch lạc Từ đó, GV giúp HS nâng lên tầm nhận thức mới
Nội dung trong bài ôn tập chính là những grap nội dung của một chương,một phần được hệ thống lại, liền mạch Hay là một bảng tổng kết so sánh các phầncủa bài học, của chương Nội dung ôn tập cũng có thể là những vấn đề đặt ra trong
Phiếu học tập với những yêu cầu cần giải quyết trong thực tế, các dạng bài tập tổng
hợp mà buộc HS phải dùng các kiến thức của nhiều bài học, nhiều chương mới xử
lý được
Khi thiết kế bài lên lớp ôn, luyện tập, GV phải cân nhắc kỹ nội dung cần ôn,luyện cho HS sao cho vừa xoáy trọng tâm lại vừa có tính chất mới mẽ Cái mới ởđây không phải là kiến thức mới mà là cách đặt câu hỏi, yêu cầu về bài tập, nhiệm
vụ mới giúp HS có điều kiện vận động trí não kết hợp các kiến thức để giải quyết.Nếu được rèn luyện như vậy, tư duy sáng tạo của HS sẽ phát triển và HS càng cócảm giác thú vị với giờ ôn, luyện tập
1.4.6 Sự phối hợp các phương pháp dạy học và kỹ thuật dạy học
Như trên chúng tôi đã đề cập đến các phương pháp có thể sử dụng trong giờ
Trang 35ôn, luyện tập Nhưng không phải ở giờ học nào chúng ta cũng có thể sử dụng tất cảcác PPDH Tùy theo nội dung, ta có thể lựa chọn và phối hợp các PPDH sao
cho thích ứng PPDH phải phù hợp với NDDH Việc khéo léo phối hợp các
phương pháp có tác dụng lớn đến chất lượng giờ dạy nói chung và giờ ôn,luyện tập nói riêng
Ví dụ: Bài luyện tập Ankan ta dùng phương pháp grap kết hợp với đàm thoại
nêu vấn đề và sử dụng BTHH theo chủ đề là phù hợp Phương pháp đàm thoại nêuvấn đề giúp HS xây dựng grap Phương pháp grap giúp HS ôn lại nội dung bài họcnhanh chóng, gợi được nội dung trọng tâm BTHH theo chủ đề làm cho HS nắmvững được các dạng bài tập về loại chất hiđrocacbon no, cách giải từng dạng bàitập, tạo nền tảng để giúp HS tiếp tục phát triển cách giải cho các dạng bài tậpHHHC về sau
Kỹ thuật dạy học là những biện pháp, cách thức hành động của GV và HS
trong các tình huống hành động nhỏ nhằm thực hiện và điều khiển quá trình dạyhọc Chất lượng của giờ ôn tập, luyện tập sẽ được nâng cao nếu GV biết kết hợp hàihòa, hợp lý các kỹ thuật dạy học, ví dụ như:
- Kỹ thuật soạn thảo và sử dụng câu hỏi
Không có một quy trình chuẩn tắc và nghiêm ngặt cho việc soạn thảo cũng
như sử dụng hệ thống câu hỏi cho mọi GV và trong mọi tình huống dạy học Tuy
nhiên, việc chuẩn bị câu hỏi và sử dụng chúng cũng cần phải:
+ Xác định rõ mục đích dạy học và tính chất của nội dung tài liệu ôn tập,luyện tập
+ Mức độ sử dụng câu hỏi và loại câu hỏi phải tương ứng với từng đơn vị trithức
+ Chú ý đến trình độ của HS, độ khó của câu hỏi
+ Xác định mục tiêu của các câu hỏi và loại câu hỏi sẽ được sử dụng: Câuhỏi định hướng giúp HS tự ôn tập, câu hỏi gợi mở dùng ngay trong giờ ôn tập,luyện tập, câu hỏi dẫn dắt HS giải quyết vấn đề, câu hỏi kiểm tra kiến thức HS thunhận được
- Kỹ thuật sử dụng bài tập hóa học theo chủ đề là một công cụ rất cần trongviệc rèn luyện kĩ năng giải bài tập hóa học cho HS Tùy vào nội dung của giờ luyệntập mà GV có thể sử dụng các chủ đề bài tập khác nhau Phần bài tập theo từng chủ
đề trong giờ luyện tập giúp HS dễ nhớ được phương pháp giải của từng loại bài tập.Mức độ đơn giản hay phức tạp của bài tập phải được phân hóa theo trình độ HStương ứng với các chủ đề
1.4.7 Sự hỗ trợ của các phương tiện dạy học
Trang 36Phương tiện dạy học là toàn bộ sự vật hay hiện tượng tham gia vào hoạt độngdạy học và đóng vai trò là công cụ hay điều kiện để GV và HS sử dụng làm khâutrung gian tác động vào đối tượng dạy học Bất kì sự vật hay hiện tượng nào được
GV và HS sử dụng vào trong hoạt động của mình đều được coi là phương tiện dạyhọc Các phương tiện hỗ trợ rất đa dạng Để sử dụng các phương tiện dạy học đemlại hiệu quả GV cần quan tâm đến kỹ thuật sử dụng chúng
- Kỹ thuật dùng các loại phiếu học tập, phiếu ghi nhớ, bảng tóm tắt
Các loại phiếu học tập, phiếu ghi nhớ, bảng tóm tắt là những phương tiện mà
GV phải chuẩn bị trước giờ ôn, luyện tập, bảng phụ để các nhóm HS trình bày ýtưởng theo yêu cầu trong giờ học Nó giúp GV và HS tiết kiệm thời gian và côngsức khi thực hiện các hoạt động dạy học trên lớp Tuy nhiên, việc sử dụng chúngcũng cần phải cân nhắc thận trọng Nếu sử dụng quá nhiều sẽ gây rối, làm cho HSmất tập trung trong giờ học
- Kỹ thuật sử dụngbảng
Khác với kiểu bài lên lớp truyền thụ kiến thức mới, bài ôn, luyện tập có cáchtrình bày bảng theo một kiểu riêng GV nên bố trí bảng cho các phần nội dung thíchhợp, không nên dành quá nhiều thì giờ cho việc viết bảng Trong giờ luyện tập,bảng được dùng để HS trình bày các ý tưởng, giải bài tập hay để GV giải thích một
số vấn đề mà HS chưa kịp hiểu rõ
- Kỹ thuật sử dụng máy tính, phần mềm dạy học.
Máy tính và các phần mềm dạy học là những phương tiện cần thiết trongviệc dạy học cũng như ôn, luyện tập cho HS Để sử dụng chúng hữu hiệu, GV cầnphải nhuần nhuyễn các thao tác,đồng thời phải kết hợp khéo léo giữa màn ảnh trìnhchiếu với lời giảng mới làm cho HS nắm bắt được nội dung mà GV cần ôn, luyệntập GV không nên lạm dụng hay ỷ lại vào phương tiện kỹ thuật một cách thái quánhư: Trình chiếu tất cả nội dung cần ôn tập, luyện tập lên màn ảnh cho HS xem màkhông đặt ra những vấn đề cho HS suy nghĩ, không giảng giải tường tận cho HS khi
có những ý chưa sáng tỏ Kinh nghiệm cho thấy, những tiết thao giảng có sử dụngmáy tính, hỗ trợ rất nhiều cho GV trong việc truyền thụ đủ nội dung kiến thức HScũng có phần hứng thú khi được xem nhiều hình ảnh sinh động Nhưng để nắm bắttốt bài học, chép bài và hiểu bài sâu thì đa số HS còn rất lúng túng
1.5 Thực trạng các giờ ôn tập, luyện tập ở một số trường THPT tỉnh Nghệ An
1.5.1 Mục đích khảo sát
- Nắm bắt được các PPDH mà các GV thường sử dụng khi dạy học kiểu bài
ôn tập, luyện tập trong chương trình HHHC lớp 11THPT ở trường THPT
Trang 37- Nắm được mức độ vận dụng các biện pháp của GV vào việc dạy các bài ôntập, luyện tập trong chương trình HHHC lớp 11 THPT ở trường THPT
1.5.2 Nội dung và phương pháp khảo sát
- Gởi "Phiếu tham khảo" việc dạy và học đến GV bộ môn hóa học ở 03trường THPT của tỉnh Nghệ An (THPT Cửa Lò, THPT Lê Viết Thuật, THPT Diễn
Châu II) Số phiếu tham khảo được gởi đi là 24 Có 22 phiếu GV tham gia ý kiến
được phản hồi
Với các nội dung:
+ Những nội dung về việc dạy học bài luyện tập
+ Mức độ sử dụng các PPDH khi dạy học kiểu bài ôn, luyện tập
- Trao đổi với Hiệu trưởng các trường trên để nắm bắt tình hình chung về cơ
sở vật chất, phòng thí nghiệm, phương tiện dùng cho hoạt động giảng dạy
- Tiếp xúc và trò chuyện với GV dạy hóa học ở từng trường để nắm bắt đượcphương pháp giảng dạy của GV và tình hình học tập của HS
1 Đảm bảo đúng theo phân phối chương trình 10 45.5
2 Tăng cường thêm đề đáp ứng với yêu cầu về
mức độ tiếp thu bài còn chậm của HS 12 54,5
3 Giảm bớt tiết luyện tập, tăng cường tiết dạycác bài lý thuyết và thực hành cho HS 0 0
Kết quả trên cho thấy số GV thực hiện đúng theo phân phối chương trình
chiếm tỉ lệ không cao Đa số GV muốn tăng cường thêm tiết luyện tập để đáp ứng
với yêu cầu về mức độ tiếp thu bài còn chậm của HS hiện nay Việc giảm bớt tiếtluyện tập không được GV hưởng ứng, chứng tỏ tiết luyện tập là cần thiết Nhờ tiếtluyện tập GV giúp HS, nhất là HS yếu nắm vững bài học, biết cách vận dụng giảiquyết các bài tập
2 Theo thầy (cô) dung lượng kiến thức cả hai phần ôn tập kiến thức cần nắm vững và bài tập trong tiết luyện tập phần hữu cơ SGK 11 THPT là:
Bảng 1.4 Kết quả khảo sát nội dung 2
TT Các mức độ đánh giá Số lượng GV Tỷ lệ %
Trang 384 Nhiều, nhưng chưa đủ cần phải thay đổi mộtsố vấn đề cho hợp lí 3 13,6Kết quả khảo sát cho thấy: Có sự phân hóa trong cách nhìn nhận của GV ở
nội dung (2) Mặc dù số GV cho rằng dung lượng kiến thức cả hai phần ôn tập kiến
thức cần nắm vững và bài tập là vừa đủ chiếm tỉ lệ cao hơn nhưng chưa quá bán.
Như vậy, dung lượng kiến thức cả hai phần ôn tập kiến thức cần nắm vững và bàitập trong tiết luyện tập phần hữu cơ 11 THPT trong SGK hiện nay cần được xemxét lại
3 Nội dung phần kiến thức ôn tập trong mỗi tiết luyện tập phần hóa hữu cơ 11 THPT hiện nay đã được thiết kế như thế là:
Bảng 1.5 Kết quả khảo sát nội dung 3
4 Chưa đầy đủ, cần bổ sung thêm 2 9,1
5 Một số tiết đã đầy đủ trọng tâm, một số tiết
cần thiết kế lại cho phù hợp 11 50
Kết quả khảo sát cho thấy đa số GV đánh giá nội dung phần kiến thức ôn tập
trong một số tiết luyện tập phần hóa hữu cơ 11 THPT như SGK hiện nay đã đầy đủ
trọng tâm, một số tiết cần thiết kế lại cho phù hợp
4 Các dạng bài tập trong mỗi tiết luyện tập phần hóa hữu cơ 11 THPT hiện nay đã được xây dựng:
Bảng 1.6 Kết quả khảo sát nội dung 4
TT Các mức độ đánh giá Số lượng GV Tỷ lệ %
2 Chưa đầy đủ cần bổ sung thêm 8 36,4
3 Đầy đủ nhưng không theo trình tự các vấn đề,
4 Một dạng bài không cần thiết cần thay đổi để
Bảng kết quả khảo sát cho thấy nội dung này có sự phân hóa trong cách đánh
giá của GV Về cơ bản các dạng bài tập trong mỗi tiết luyện tập phần hóa hữu cơ 11
THPT hiện nay là chưa đầy đủ cần bổ sung và sắp xếp lại theo một trình tự hợp lý
5 Thời gian thực hiện một tiết luyện tập cho hai phần: kiến thức và bài
Trang 39tập tương ứng nên theo tỷ lệ:
Bảng 1.7 Kết quả khảo sát nội dung 5
6 Về phần kiến thức cần nắm vững
Bảng 1.8 Kết quả khảo sát nội dung 6
TT Các mức độ đánh giá Số lượng GV Tỷ lệ %
1 Do chỉ lặp lại những nội dung đã học kỹ
trước đó nên không cần phải ôn lại nữa 0 0
2
Rõ ràng, đầy đủ nên GV chỉ xây dựng hệ
thống câu hỏi rồi giao cho nhóm trưởng kiểm
tra các thành viên
12 54,55
3
Chưa rõ ràng, đầy đủ nên cần phải soạn lại,
bổ sung một số vấn đề còn thiếu trong SGK
rồi phát cho HS về nhà tự ôn
4 Dùng phiếu học tập, tổ chức thảo luận nhóm
để ôn tập theo nội dung SGK và phần bổ sung 9 40,9Phần này, nhiều GV cho rằng chỉ cần xây dựng hệ thống câu hỏi rồi giao chonhóm trưởng kiểm tra các thành viên Đồng thời nên dùng PHT, tổ chức cho HSphát huy hoạt động nhóm để ôn tập theo nội dung SGK và phần bổ sung
7 Về phần bài tập
Bảng 1.9 Kết quả khảo sát nội dung 7
TT Các mức độ đánh giá Số lượng GV Tỷ lệ %
1 Chỉ cho HS làm bài tập trong SGK 2 9,1
2 Cho HS làm một số bài tập trong SGK và
tăng cường một số bài tập khác ngoài SGK 17 77,25
3 Xây dựng bài tập mới tương tự bài tập SGK
để HS rèn luyện kỹ năng giải bài tập 2 9,1
4 Tạo ra bài tập mới, khó để kích thích học sinh
khá, giỏi và nâng tầm quan trọng của bộ môn 1 4,55Căn cứ bảng kết quả khảo sát, đa số GV đồng tình với phương án (2)
Trang 40Phương án (1) và (3), (4) chỉ một thiểu số GV ủng hộ Điều này chứng tỏ việc kếthợp hài hòa giữa khai thác bài tập SGK với tăng cường một số bài tập khác ngoàiSGK là hợp lý.
Bên cạnh đó, chúng tôi sử dụng bảng tính điểm cho 04 nội dung theo 3 mức độ:
Chưa khi nào thực hiện: 1; Đôi khi có thực hiện: 2; Thường xuyên thực hiện: 3
8 Việc chuẩn bị ở nhà của giáo viên đối với tiết ôn - luyện tập
Bảng 1.10 Kết quả khảo sát nội dung 8
TT Các nội dung Tỷ lệ % theo từng mức độ
1 Xây dựng hệ thống câu hỏi định hướng và bài
tập phát cho HS trước giờ ôn, luyện tập 13,6 77,3 9,1
2 Sắp xếp hệ thống bài tập theo trình tự từ thấp
đến cao phù hợp với các đối tượng HS 4,55 22,75 72,7
3 Chuẩn bị các loại bảng phụ để hướng dẫn HS
ôn và luyện tập trên lớp 27,3 59,1 13,6
4 Chuẩn bị các PHT gồm các nhiệm vụ yêu cầu
9 Việc chuẩn bị ở nhà của học sinh đối với tiết ôn - luyện tập
Bảng 1.11 Kết quả khảo sát nội dung 9
TT Các nội dung Tỷ lệ % theo từng mức độ
1 Ôn tập theo câu hỏi định hướng và bài tập do
giáo viên phát trước đó 13,6 59,1 27,3
2 Tự thiết lập grap ôn tập theo mẫu của GV
3 Giải đầy đủ các bài tập ở SGK và sách bài tập
4 Chỉ giải một số bài tập do giáo viên yêu cầu 0.0 46.7 53.3
Căn cứ vào bảng kết quả khảo sát, nhận thấy:
- Việc chuẩn bị ở nhà của HS theo phương án (1) thấp GV hướng dẫn HS ôn
tập theo phương pháp grap không nhiều
- Việc giải đầy đủ các bài tập ở SGK và sách bài tập lớp 11 THPT thường