1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Dạy học làm văn thuyết minh trong chương trình ngữ văn trung học cơ sở

118 408 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 118
Dung lượng 907 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mặt khác, các công trình nghiên cứu về phương phápdạy học làm văn thuyết minh trong trường phổ thông còn tương đối ít, do đó,gây khó khăn không nhỏ cho việc dạy - học của giáo viên và h

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

Trang 2

NGHỆ AN - 2014

Trang 3

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Người hướng dẫn khoa học:

TS LÊ THỊ HỒ QUANG

NGHỆ AN - 2014

Trang 4

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 2

3 Đối tượng và nhiệm vụ nghiên cứu 4

4 Phạm vi văn bản khảo sát và địa bàn điều tra, thực nghiệm 5

5 Phương pháp nghiên cứu 5

6 Những đóng góp (cái mới) của luận văn 5

7 Cấu trúc của luận văn 5

Chương 1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 6

1.1 Khái niệm, đặc trưng và ý nghĩa của văn bản thuyết minh trong thực tế đời sống hiện nay 6

1.1.1 Khái niệm văn bản thuyết minh 6

1.1.2 Đặc trưng của văn bản thuyết minh 7

1.2 Tổng quan về phần Làm văn thuyết minh trong chương trình Làm văn THCS hiện nay 20

1.2.1 Đặc điểm của chương trình Làm văn ở THCS 20

1.2.2 Đặc điểm phần làm văn thuyết minh ở THCS 23

1.3 Thực trạng dạy học làm văn thuyết minh ở THCS hiện nay (khảo sát trên địa bàn dạy học tại một số trường THCS huyện Diễn Châu) 27

1.3.1 Về phía giáo viên 27

1.3.2 Về phía học sinh 28

1.3.3 Về tài liệu tham khảo 29

Chương 2 TỔ CHỨC RÈN LUYỆN KỸ NĂNG LÀM VĂN THUYẾT MINH CHO HỌC SINH Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ 31

2.1 Những tri thức và kỹ năng làm văn thuyết minh cần hình thành và rèn luyện cho học sinh THCS 31

Trang 5

luyện cho học sinh THCS 31

2.1.2 Những kỹ năng làm văn thuyết minh cần rèn luyện cho học sinh THCS 33

2.2 Định hướng cách dạy một số bài Làm văn thuyết minh trong chương trình Làm văn THCS 36

2.2.1 Định hướng cách dạy bài thuyết minh về một phương pháp (cách làm) 37

2.2.2 Định hướng cách dạy bài thuyết minh về một danh lam thắng cảnh/ di tích lịch sử 40

2.2.3 Định hướng về cách dạy bài Luyện nói: Thuyết minh một thứ đồ dùng 43

2.3 Hướng dẫn học sinh thực hành viết một bài văn thuyết minh trong chương trình Làm văn THCS 47

2.3.1 Hướng dẫn học sinh tìm hiểu đề văn thuyết minh 47

2.3.2 Hướng dẫn học sinh cách tìm ý, lập dàn ý của bài văn thuyết minh 49

2.3.3 Hướng dẫn học sinh viết bài văn thuyết minh 51

Chương 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 64

3.1 Mục đích thực nghiệm 64

3.2 Đối tượng, địa bàn thực nghiệm 64

3.2.1 Đối tượng thực nghiệm 64

3.2.2 Địa bàn tổ chức thực nghiệm 64

3.3 Kế hoạch thực nghiệm 64

3.3.1 Thời gian tổ chức thực nghiệm 64

3.3.2 Nội dung thực nghiệm 65

3.4 Tổ chức thực nghiệm 65

Trang 6

3.4.2 Thực nghiệm thăm dò 65

3.4.3 Một số giáo án thực nghiệm 66

3.5 Đánh giá kết quả thực nghiệm 88

3.5.1 Thực nghiệm thăm dò 88

3.5.2 Thực nghiệm dạy học 88

KẾT LUẬN 92

TÀI LIỆU THAM KHẢO 93 PHỤ LỤC

Trang 7

HS: Học sinhGV: Giáo viênTN: Thực nghiệm ĐC: Đối chứng

Cách chú thích tài liệu trích dẫn: số thứ tự tài liệu đứng trước, số

trang đứng sau Ví dụ: [25, 14] nghĩa là số thứ tự của tài liệu trong mục Tài

liệu tham khảo là 25, nhận định trích dẫn nằm ở trang 14 của tài liệu này.

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Giáo dục Việt Nam, trong đó có giáo dục phổ thông, trong nhữngnăm qua đã đạt những thành tựu to lớn Cùng với nhiều lĩnh vực khác của đờisống xã hội, giáo dục góp phần quan trọng vào thắng lợi của công cuộc xâydựng và bảo vệ Tổ quốc Tuy nhiên, giáo dục phổ thông cũng bộc lộ những bấtcập, yếu kém cần được nhìn nhận một cách khách quan, công bằng: chất lượnghiệu quả giáo dục còn thấp so với yêu cầu; phương pháp giáo dục, việc thi cử,kiểm tra và đánh giá kết quả còn lạc hậu, thiếu thực chất; quản lý giáo dục vàđào tạo còn nhiều yếu kém; đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục bất cập về chấtlượng, số lượng và cơ cấu, một bộ phận chưa theo kịp yêu cầu đổi mới và pháttriển giáo dục, thiếu tâm huyết Trên cơ sở nhìn nhận rõ những yếu kém đótrong giáo dục, đứng trước những yêu cầu, thách thức mới của xu thế hội nhậpquốc tế, hơn bao giờ hết đòi hỏi giáo dục phải tập trung đổi mới, phải tạo ramột bước chuyển biến mới về chất lượng giáo dục

1.2 Từ lâu, môn Ngữ văn trong các nhà trường phổ thông có tầm quantrọng đặc biệt Ở cấp học THCS và THPT, môn Ngữ văn ảnh hưởng, chi phốiđến các môn học khác một cách rõ nét Bởi vậy, học tốt môn Ngữ văn, họcsinh sẽ có điều kiện để học các môn học khác Tuy nhiên, thực tế dạy họcmôn Ngữ văn trong nhà trường hiện nay có nhiều dấu hiệu đáng báo động.Trong môn Ngữ văn, một điều dễ nhận thấy là, phân môn Làm văn càng ítđược học sinh quan tâm, dù nó là phân môn mang tính chất thực hành tổnghợp, sản sinh văn bản Nguyên nhân dẫn đến tình trạng đó có nhiều: phươngpháp dạy làm văn của giáo viên chưa biết khơi gợi, nêu vấn đề cho học sinhtìm tòi, sáng tạo mà chủ yếu thông qua giảng giải, thuyết trình, qua các bàivăn mẫu trong các tài liệu tham khảo cho nên không tạo sự đam mê học văn,hướng các em vào viết văn hay được

Trang 9

1.3 Với sự ra đời của bộ sách giáo khoa mới, văn bản nhật dụng đượcđưa vào chương trình Ngữ văn và được rải đều từ lớp 6 đến lớp 9 mà cơ bảndưới hình thức văn bản thuyết minh Thể loại văn bản thuyết minh được đưavào các cấp học, trong đó có cấp THCS Việc đưa kiểu bài văn thuyết minhvào giảng dạy trong chương trình Tập làm văn THCS là một trong nhữngcách thức đổi mới nội dung và phương pháp dạy học Tuy nhiên, việc dạykiểu bài văn thuyết minh này ở các cấp học, trong đó có THCS, đang còn làmột thách thức với GV và HS Một mặt, đây là kiểu văn bản mới và khó trongchương trình THCS Mặt khác, các công trình nghiên cứu về phương phápdạy học làm văn thuyết minh trong trường phổ thông còn tương đối ít, do đó,gây khó khăn không nhỏ cho việc dạy - học của giáo viên và học sinh.

Trên đây là những lý do cơ bản khiến chúng tôi quyết định chọn vấn đề

“Dạy học làm văn thuyết minh trong chương trình Ngữ văn trung học cơ sở”

làm đề tài nghiên cứu của luận văn

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu

Như phần Mở đầu luận văn chúng tôi đã đề cập, văn bản thuyết minh làvăn bản mới trong chương trình THCS Bởi vậy, các công trình nghiên cứu vềphương pháp dạy - học văn bản này còn chưa nhiều

Đầu tiên phải kể đến SGV Ngữ văn 8 (2004) Đây là cuốn sách mang

tính chất công cụ của người giáo viên Như phần trên đã trình bày, văn bảnthuyết minh được chọn học ở vòng 2 lớp 8, lớp 9 Như vậy, văn bản thuyếtminh được đưa vào chương trình phổ thông bắt đầu từ lớp 8 và cũng là tài liệuđầu tiên của sách giáo viên tiếp cận, hướng dẫn học kiểu văn bản này

Các nhà biên soạn đã dành phần lớn thời lượng cho kiểu bài này đểđịnh hướng cách dạy học những bài Tập làm văn thuyết minh cụ thể trongchương trình là chủ yếu, phương pháp dạy văn thuyết minh xem ra vẫn mờnhạt, sơ lược Việc phân biệt văn bản thuyết minh với một số dạng văn bản có

Trang 10

trong chương trình như văn bản tự sự, miêu tả, nghị luận nằm ở mức độ sơlược, người biên soạn chưa đưa ra được những tiêu chí cụ thể để so sánh.Ngay cả phương pháp tạo lập văn bản thuyết minh sách giáo viên 8 cũng chỉdừng lại ở mức điểm qua những nét cơ bản nhất chứ không đi vào cụ thể Tuynhiên, công bằng mà xét, dù còn ở mức độ sơ giản, nhưng các nội dung vềvăn bản thuyết minh được đề cập trong sách giáo viên 8 là những tư liệu hếtsức quan trọng cho người dạy, người học và là một cơ sở cho chúng tôi thựchiện đề tài này.

Tiếp đó, năm 2005, Nxb Giáo dục tiếp tục xuất bản cuốn SGV Ngữ văn

9 do Nguyễn Khắc Phi tổng chủ biên Cuốn sách đề cập đến cách dạy đối với

những bài học về văn thuyết minh trong chương trình Ngữ văn 9, chẳng hạn

như: Sử dụng các biện pháp nghệ thuật trong văn bản thuyết minh, Sử dụng

yếu tố miêu tả trong văn bản thuyết minh

Điểm lại có tính chất sơ lược những nội dung về văn bản thuyết minhđược đề cập trong sách giáo viên lớp 8, lớp 9 như vậy để thấy một thực tếrằng, do đặc thù của loại sách có tính chất công cụ, hai bộ sách giáo viên trênđây cũng chỉ nêu lên những định hướng dạy học Làm văn thuyết minh chonhững bài cụ thể giúp giáo viên và học sinh tiếp cận, có sự hiểu biết cơ bản vềphương pháp thuyết minh, về văn bản thuyết minh, còn để có được một cáinhìn có tính chất tổng quát về phương pháp dạy học Làm văn thuyết minh, donhiều nguyên nhân, tài liệu này vẫn chưa có điều kiện đi sâu tìm hiểu

Bên cạnh Sách giáo viên, hỗ trợ cho việc dạy học Làm văn thuyết minhtrong chương trình phổ thông còn có những cuốn sách tham khảo, một mảngtài liệu cũng hết sức quan trọng phục vụ cho dạy và học kiểu loại văn bản này

Dù phần tài liệu tham khảo văn bản thuyết minh không nhiều nhưng có thể kể

đến cuốn Bồi dưỡng Ngữ văn 8 của Nguyễn Kim Dung, Đỗ Kim Hảo; cuốn

Kiến thức, kỹ năng cơ bản Tập làm văn THCS của Huỳnh Thị Thu Ba; Rèn kỹ

Trang 11

năng làm văn thuyết minh của Trần Thị Thành, Nxb Giáo dục năm 2010;

cuốn Dạy học Tập làm văn Trung học cơ sở của tác giả Nguyễn Trí (Nxb Giáo dục, 2006); Sáng kiến kinh nghiệm với đề tài Một số phương hướng

giảng dạy văn thuyết minh trong chương trình Ngữ Văn lớp 8 của tác giả

Hoàng Thị Lan Thanh; Sáng kiến kinh nghiệm với đề tài Kinh nghiệm nâng

cao hiệu quả giờ dạy kiểu bài văn thuyết minh của tác giả Lê Hoài Phương…

Các cuốn sách tham khảo này dù có cách tiếp cận khác nhau, nhưngđều đề cập đến các nội dung của văn bản thuyết minh như: Khái niệm văn bảnthuyết minh, Đặc điểm chung của văn thuyết minh như: tính khoa học, tính trithức Đặc biệt, các tài liệu cũng chú ý đến vấn đề phương pháp thuyết minhthường dùng trong nhà trường, cuộc sống Tuy nhiên, phần lớn các công trìnhchưa thật đi sâu và cụ thể, thiết thực vào vấn đề dạy học làm văn thuyết minh

ở trường THCS

Tóm lại, lịch sử vấn đề văn bản thuyết minh và phương pháp giảng dạyLàm văn thuyết minh trong nhà trường THCS còn khá mới mẻ Cho đến thờiđiểm mà chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài này, vẫn chưa có một tài liệunào nghiên cứu một cách chuyên sâu về vấn đề văn bản thuyết minh và phươngpháp dạy học Làm văn thuyết minh trong chương trình THCS

3 Đối tượng và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là phương pháp dạy làm văn thuyếtminh trong chương trình THCS

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Tìm hiểu cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài nghiên cứu bao gồmviệc thuyết minh về các khái niệm cơ bản, việc tìm hiểu đánh giá thực trạngdạy làm văn thuyết minh ở trường THCS hiện nay

- Xác định những nguyên tắc, phương pháp, quy trình tiến hành cơ bảncủa việc dạy làm văn thuyết minh ở trường THCS hiện nay

Trang 12

- Thực nghiệm sư phạm với nội dung cơ bản là dạy đối chứng về làmvăn thuyết minh theo phương pháp cũ và theo phương pháp mới đã đề xuấttrong luận văn.

4 Phạm vi văn bản khảo sát và địa bàn điều tra, thực nghiệm

4.1 Phạm vi văn bản khảo sát

Bộ sách giáo khoa Ngữ văn lớp 8 và lớp 9

4.2 Địa bàn điều tra, thực nghiệm

Các trường THCS trên địa bàn huyện Diễn Châu, Nghệ An Cụ thể làtrường THCS Diễn Đoài, trường THCS Phùng Chí Kiên

5 Phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết

- Phương pháp phân tích tổng hợp

- Phương pháp thống kê - phân loại

- Phương pháp so sánh - đối chiếu

5.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

- Phương pháp điều tra - phỏng vấn

- Phương pháp dùng số liệu, thống kê

6 Những đóng góp (cái mới) của luận văn

Với mục đích đi sâu tìm hiểu, đề xuất một số phương pháp dạy làm vănthuyết minh ở trường THCS theo các nhóm bài, luận văn sẽ cung cấp nhữnggợi ý thiết thực cho giáo viên trong quá trình dạy làm văn thuyết minh đểnâng cao hiệu quả dạy - học Ngữ Văn nói chung, Làm văn nói riêng

7 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Phụ lục, Tài liệu tham khảo, Mục lục,Nội dung của luận văn được triển khai trong 3 chương:

Chương 1: Cơ sở khoa học của đề tài.

Chương 2: Tổ chức, rèn luyện kĩ năng làm văn thuyết minh ở trường THCS Chương 3: Thực nghiệm sư phạm.

Trang 13

Chương 1

CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI

1.1 Khái niệm, đặc trưng và ý nghĩa của văn bản thuyết minh trong thực tế đời sống hiện nay

1.1.1 Khái niệm văn bản thuyết minh

1.1.1.1 Khái niệm văn bản

Văn bản là một khái niệm phức tạp, có nhiều cách hiểu, cách địnhnghĩa khác nhau Theo hướng nhấn mạnh hình thức chữ viết, N.NuNan(1993) cho rằng: “Văn bản là thuật ngữ để chỉ bất kì cái nào ghi bằng chữ viếtcủa một sự kiện giao tiếp” [41, 13]

Theo hướng nhấn mạnh cả dạng viết, nội dung và cấu trúc, (NguyễnQuang Ninh) cho rằng văn bản là “Một thể hoàn chỉnh về hình thức, trọn vẹn

về nội dung, thống nhất về cấu trúc và độc lập về giao tiếp Dạng tồn tại điểnhình của văn bản là dạng viết” Còn theo hướng nhấn mạnh hình thức nói, cáctác giả định nghĩa văn bản theo hướng này gọi văn bản là “diễn ngôn” Tiêubiểu như định nghĩa của Barth (1970), Cook (1989), Crystl (1992), Hồ Lê(1996)… Có thể dẫn ra một cách định nghĩa văn bản theo hướng này: “Diễnngôn là những chuỗi ngôn ngữ được nhận biết trọn nghĩa, được hợp nhất lại

và có mục đích” (Cook,1989) (dẫn theo [8,15-16]).

Từ những định nghĩa về văn bản của các tác giả đã đề cập ở trên, kết hợptham khảo sách giáo khoa và sách giáo viên Ngữ văn THCS, đặc biệt là địnhnghĩa trong sách giáo khoa Ngữ văn 6 tập 1, chúng tôi hiểu khái niệm văn bảnnhư sau: Văn bản là chuỗi lời nói miệng hay bài viết có chủ đề thống nhất, cóliên kết mạch lạc, vận dụng phương thức phù hợp để thực hiện mục đích giaotiếp Có 6 kiểu văn bản thường gặp với các phương thức biểu đạt tương ứng: tự

sự, miêu tả, biểu cảm, nghị luận, thuyết minh, hành chính công vụ

Trang 14

1.1.1.2 Khái niệm thuyết minh

Thuyết minh là thuật ngữ được sử dụng khá rộng rãi trong đời sống và

nhiều ngành khoa học Ở đây, thuyết có nghĩa là “nói lí lẽ nhằm làm cho người ta nghe theo”, còn minh nghĩa là “sáng tỏ” (minh xét, chứng minh…) Vậy có thể hiểu thuyết minh là: “nói hoặc chú thích cho người ta hiểu rõ hơn

về những sự vật, sự việc hoặc hình ảnh đã được đưa ra” [23,935]

1.1.1.3 Khái niệm văn bản thuyết minh

Về khái niệm văn bản thuyết minh, chúng tôi đã tham khảo một số tài

liệu như Làm văn (do Đỗ Ngọc Thống chủ biên), Kiến thức, kỹ năng cơ bản

Tập làm văn THCS của Huỳnh Thị Thu Ba; Rèn kỹ năng làm văn thuyết minh

của Trần Thị Thành; Dạy học Tập làm văn Trung học cơ sở của tác giả

Nguyễn Trí;… Và SGK, SGV Ngữ văn 8, 9, 10

Tổng hợp từ những nguồn tài liệu trên, chúng tôi đi đến cách hiểu vềvăn bản thuyết minh như sau:

Văn bản thuyết minh là một kiểu văn bản được sử dụng rất thông dụngtrong cuộc sống Đó là loại văn bản được soạn thảo với mục đích trình bày,giới thiệu tính chất, cấu tạo, công dụng, lí do phát sinh, quy luật phát triển,biến hóa của sự vật, nhằm cung cấp những thông tin chính xác, khách quan về

sự vật, hiện tượng, hướng dẫn cho con người tìm hiểu và sử dụng chúng mộtcách phù hợp và hiệu quả Nói cách khác, văn thuyết minh là loại văn trìnhbày, giới thiệu, phổ biến hoặc giải thích nhằm làm rõ đặc điểm cơ bản củamột đối tượng, cung cấp tri thức về các hiện tượng, sự vật trong tự nhiên và

xã hội

1.1.2 Đặc trưng của văn bản thuyết minh

1.1.2.1 Đặc trưng về nội dung

Mỗi kiểu văn bản có những đặc trưng riêng về mặt nội dung Văn bảnnghị luận bàn bạc về các vấn đề xã hội hay văn học Văn bản tự sự kể về

Trang 15

người, sự việc Văn bản biểu cảm bộc lộ cảm xúc, ấn tượng của người viết.Còn văn bản thuyết minh có những đặc trưng nội dung như sau:

a) Tính tri thức

Có thể nói, tính tri thức là tính chất nổi bật của kiểu văn bản thuyếtminh Bởi “nhiệm vụ chủ yếu của văn bản thuyết minh là trình bày các đặcđiểm cơ bản của đối tượng được thuyết minh, cung cấp cho chúng ta những trithức khách quan về sự vật, hiện tượng, giúp chung ta hiểu biết về chúng mộtcách đầy đủ, đúng đắn” [46, 224] Xuất phát từ mục đích, nhiệm vụ này, nộidung của văn bản thuyết minh chủ yếu là trình bày tính chất, đặc điểm cấutạo, cách dùng, quy luật của đối tượng Những tri thức này không thể hư cấutưởng tượng mà phải xác thực, và phù hợp với đặc điểm thực tế của sự vật,hiện tượng Như vậy, thông tin tri thức là yêu cầu đầu tiên, hết sức quan trọng

và là yếu tố tiên quyết tạo nên đặc thù của kiểu văn bản thuyết minh Theo

sách Làm văn (Đỗ Ngọc Thống chủ biên), một văn bản thuyết minh chỉ có thể

đạt tới hiệu quả thông tin cao nhất khi đảm bảo các yêu cầu sau: Thứ nhất,phản ánh được đặc trưng, bản chất của sự vật; Thứ hai, thể hiện được cấu tạo,trình tự, logic của sự vật [46, 224]

Tất nhiên, nói như vậy hoàn toàn không có nghĩa là các kiểu văn bảnkhác không cung cấp tri thức cho người đọc Tuy nhiên, với các kiểu văn bảnkhác như tự sự, miêu tả, biểu cảm, nghị luận, việc truyền thụ tri thức kháchquan không phải là nhiệm vụ chính Văn bản tự sự sử dụng khả năng quan sát,trí tưởng tượng phong phú để tạo dựng nhân vật, sự việc, diễn biến cốt truyện,văn bản biểu cảm bộ lộ cảm xúc sâu sắc về đối tượng, văn bản nghị luận trìnhbày ý kiến, quan điểm của mình về đối tượng để thuyết phục người đọc,người nghe Ngược lại, với văn bản thuyết minh, nhiệm vụ cơ bản của nóchính là cung cấp những tri thức chính xác, khách quan về sự vật, hiện tượng

Chẳng hạn, cùng viết về cây phượng nhưng mục đích và nội dung của

ba văn bản sau rất khác nhau:

Trang 16

Ví dụ 1: Cây phượng mọc ở sân trường chắc đã lâu lắm rồi, nó đã trở

thành cây cổ thụ Cây cao vút, cao hơn cả tầng bốn của khu nhà D - dãy lớp học ở cuối sân trường Gốc cây bò trên mặt đất, thân cây nâu sẫm, sần sùi.

Lũ trẻ lớp 5 chúng tôi rất thích ngồi dưới tán phượng xanh um, ngước nhìn lên vò lá tỏa rộng Lá phượng nhỏ li ti như lá me Mùa thu, lá vàng rơi rơi, bay bay và chúng tôi hò reo, giơ tay đón lá rơi vào lòng bàn tay rồi cười như nắc nẻ Hè về, phượng đột ngột nở những chùm hoa đỏ rực Cây phượng như mâm xôi gấc khổng lồ

Ví dụ 2: Hoa phượng không ngát như hoa nhài, kiêu sa như hoa ly

nhưng nó lại để trong lòng người một ấn tượng khó tả Những cánh hoa phượng nhỏ bé, đỏ thắm, xếp san sát nhau, mỏng manh như những ngọn lửa bập bùng cháy Gió nhẹ thổi, những chùm hoa đỏ lay động Hình ảnh ấy trở nên đầy xúc cảm trong tâm hồn cô cậu học trò và là nguồn cảm hứng vô tận cho thơ ca nhạc họa Hoa phượng không đỏ rực rỡ, không đẹp nao lòng nhưng lại nồng nàn, trong sáng như chính tâm hồn học trò hồn nhiên, thơ mộng Thật hạnh phúc biết bao khi mùa hè nắng nóng, ngồi dưới gốc phượng xanh um cùng bạn bè tâm sự, vui đùa, nghe tiếng gió rì rào trong lá và ngẩng lên là muôn ngàn cánh bướm hồng bay dập dờn - hoa phượng [44, 16).

Ví dụ 3: Phượng là loài cây thân gỗ, có thể cao hàng chục mét Vỏ

phượng màu nâu sẫm, lá phượng thuộc loại lá kép, trên phiến lá có nhiều lá nhỏ li ti như lá me Hoa phượng thuộc họ đậu, mọc thành chùm Cánh hoa mỏng, thuôn, cắm vào đài hoa xanh sẫm Mỗi hoa có nhiều cánh xòe mở như cánh bướm, đỏ rực Nhị hoa như những vòi nhỏ, vàng rực, xòe ra trên cánh Hoa mọc thành chùm, các chùm gắn với nhau ở đầu cành Quả phượng dài khoảng ba mươi phân Mùa đông, quả phượng khô lại, nâu thẫm, đung đưa theo gió [44, 16]

Trên đây là ba ví dụ thuộc ba kiểu văn bản khác nhau: Văn bản miêu tả

ở ví dụ 1, văn bản biểu cảm ở ví dụ 2, còn văn bản thuyết minh ở ví dụ 3 Ở ví

Trang 17

dụ 1, người viết tả cây phượng ở góc sân trường của mình theo một trình tự,bằng nhiều từ gợi cảm, phép tu từ Ví dụ 2 bày tỏ những cảm xúc, ấn tượng vềcây phượng Còn ví dụ 3, cây phượng được giới thiệu đầy đủ, chính xác vềchủng loại, cấu tạo của các bộ phận như thân, quả, hoa, lá

Từ ba ví dụ trên, ta càng khẳng định rằng tính chính xác, khoa học làđặc trưng tiêu biểu nhất về mặt nội dung của văn bản thuyết minh

Do mục đích là cung cấp tri thức chính xác về đối tượng nên văn bảnthuyết minh cần phải đảm bảo tính khoa học, nghĩa là các kiến thức trong vănbản thuyết minh phải chính xác, phù hợp với thực tế khách quan Mặc dùđược xen yếu tố miêu tả và các biện pháp nghệ thuật nhưng không vì thế màvăn bản thuyết minh được bịa đặt, thêm bớt thông tin

Ví dụ: “Chim gáy còn có tên cu cu, là loài chim có kích thước trung

bình, mang bộ lông màu nâu pha hồng cánh sen với bộ cườm diêm dúa đeo trên cổ ấy là sứ giả của của những cánh đồng lúa chín vàng bát ngát ngây ngất hương thơm Tiếng gáy của chim tuy không cầu kỳ, luyến láy với từng nhịp thưa nhặt nhưng nhưng đĩnh đạc nghe sao mà bâng khuâng Có người nói nghe tiếng chim gáy trong thành phố làm dịu đi cảm giác bức bối, ngột ngạt giữa trưa hè oi bức, trong một căn hộ chật hẹp, thiếu hương đồng gió nội, kể cũng không ngoa Đang đi trên đường phố ồn ào xe cộ, bất chợt nghe mấy tiếng “cúc cù cu” làm ta nhớ về một làng quê ẩn hiện sau lũy tre xanh,

là nơi đã sinh ra và lớn lên với bao kỷ niệm thời thơ ấu, một thứ ký ức càng đi

về nửa cuối cuộc đời càng thấy da diết” [44, 101]

Đây chính là đoạn văn thuyết minh nhưng người đã dùng miêu tả đểgiới thiệu hình dáng, tiếng gáy của chim gáy Tác giả còn dùng liên tưởngkhiến người đọc được sống dậy những cảm xúc với đối tượng thuyết minh Vìvậy, đoạn văn thuyết minh hấp dẫn hơn nhưng vẫn không mất đi tính chínhxác khoa học của tri thức

Trang 18

b) Tính khách quan

Tính khách quan của văn bản thuyết minh được hiểu trên hai phương diện:

- Tính khách quan được hiểu là thái độ bình thản, trung thực của ngườiviết trước đối tượng thuyết minh Người viết có thể vẫn xen vào cảm xúcnhưng không để cảm xúc lấn át đối tượng thuyết minh

- Tính khách quan được thể hiện ở tri thức bài viết văn thuyết minhphải phù hợp với quy luật vận động và phát triển của đối tượng

Để đảm bảo tính khách quan trong một văn bản thuyết minh, trước hếtngười viết phải xác định rõ mục đích, nhiệm vụ cũng như đặc trưng của mộtvăn bản thuyết minh Điều này sẽ sẽ hình thành nên ở người viết một thái độ

và phương pháp tiếp cận, mô tả, trình bày về đối tượng một cách trung thực,chính xác Đồng thời, điều này cũng yêu cầu người viết phải có được tri thứcthật sự chắc chắn về đối tượng thuyết minh Mà muốn vậy, đòi hỏi người viếtphải có sự tìm hiểu kĩ lưỡng, phải có sự quan sát thực tế, phải chịu khó tìm tòithông tin từ nhiều nguồn tài liệu v.v Cuối cùng, điều này cũng đòi hỏi ngườiviết phải biết sắp xếp các thông tin có được theo một trật tự hợp lý và mộtngôn ngữ, giọng điệu khách quan tương ứng

Ta có thể lấy Cây dừa Bình Định của tác giả Hoàng Văn Huyên làm ví

dụ Để đảm bảo tính chính xác, khách quan, tác giả Hoàng Văn Huyên trongbài thuyết minh về Cây dừa Bình Định đã tỏ ra rất tỉ mỉ, kĩ lưỡng trong việcgiới thiệu những đặc điểm của cây dừa Bình Định như cách trồng, các loại,công dụng…

Ví dụ: Cây dừa gắn bó với người dân Bình Định chặt chẽ như cây tre

đối với người dân miền Bắc Cây dừa cống hiến tất cả của cải của mình cho con người: Thân cây làm máng, lá làm tranh, cọng lá chẻ nhỏ làm vách, gốc dừa già làm chõ đồ xôi, nước dừa để uống, để kho cá, kho thịt, nấu canh, làm nước mắm, Cùi dừa ăn sống với bánh đa, làm mứt, làm bánh kẹo, ép

Trang 19

lấy dầu dùng để thắp, để ăn, để chải đầu, nấu xà phòng Sọ dừa làm khuy

áo, làm gáo, làm muôi Vỏ dừa bện dây rất tốt đối với người đánh cá vì nó mềm, dẻo, dai, chịu mưa, chịu nắng Cây dừa gắn bó với đời sống hàng ngày là như thế đấy.

Dân Bình Định có câu ca dao:

Dừa xanh sừng sững giữa trời Đem thân mình hiến cho đời thủy chung.

Ở Bình Định, dừa là chủ yếu, dừa là tất cả Dừa ở đây như rừng, dừa mọc ven sông, men bờ ruộng, leo sườn đồi, rải theo bờ biển Trên những chặng đường dài suốt năm mươi, sáu mươi km, chúng ta chỉ gặp cây dừa: Dừa xiêm thấp lè tè, quả tròn, nước ngọt, dừa nếp lơ lửng giữa trời, quả vàng xanh mơn mởn, dừa lửa lá đỏ, vỏ hồng,… [34, 114-115].

c) Tính thực dụng

Tính thực dụng là chú trọng đến mục đích thực tế, những lợi ích cụ thể,

thiết thực, những giá trị ứng dụng của đối tượng Kiểu văn bản nào cũngmang tính thực dụng nhưng mức độ đậm nhạt khác nhau Chẳng hạn, tínhthực dụng của văn bản biểu cảm là ở chỗ tác động đến tình cảm làm biến đổinhận thức, hành động của con người Tính thực dụng của văn bản nghị luận làtrực tiếp tác động đến trí tuệ con người, thuyết phục người đọc bằng hệ thốngluận điểm, luận cứ Còn tính thực dụng của văn bản thuyết minh là nó trựctiếp giới thiệu, cung cấp tri thức nhằm chỉ đạo thực tiễn trong mọi lĩnh vựccủa đời sống Ví dụ, sách hướng dẫn về kỹ thuật nấu ăn giúp ta nắm bắt được

lý thuyết về các phương pháp nấu các món ăn khác nhau, từ đó ta vận dụng đểnấu Mua một chiếc máy gia dụng mới, ta có thể dựa vào bản thuyết minhđính kèm để lắp ráp, vận hành và sử dụng

Trên đây là những đặc trưng của văn bản thuyết minh về phương diện

nội dung như: tính tri thức, tính khách quan và tính thực dụng Những đặc

Trang 20

trưng này góp phần tạo nên diện mạo riêng cho văn bản thuyết minh Thếnhưng một văn bản là một thể thống nhất giữa nội dung và hình thức Do đó

ta cần tìm hiểu đặc trưng của văn bản thuyết minh về phương diện hình thức

1.1.2.2 Đặc trưng về hình thức

a) Về bố cục

Bố cục của văn bản thuyết minh khá linh hoạt Thông thường một văn

bản thuyết minh có ba phần như các kiểu văn bản khác nhưng trên thực tếnhiều loại văn bản thuyết minh rất ngắn gọn, chẳng hạn văn bản hướng dẫncách sử dụng trên một số sản phẩm hoặc cách thuyết minh của từ điển

Ví dụ: Cáo là thể văn nghị luận cổ, thường được vua chúa hoặc thủ lĩnh

dùng để trình bày một chủ trương hay công bố kết quả một sự nghiệp để mọi người cùng biết Cáo phần nhiều được viết bằng văn biền ngẫu (không có vần hoặc có vần, thường có đối, câu dài ngắn không gò bó, mỗi cặp hai vế đối nhau) Cáo là thể văn có tính chất hùng biện do đó lời lẽ phải đanh thép, lập luận phải sắc bén, kết cấu phải chặt chẽ, mạch lạc [33, 67].

Nếu như kết cấu của văn bản tự sự thường theo trình tự thời gian sựkiện, kết cấu, văn bản nghị luận theo hệ thống luận điểm thì văn bản thuyếtminh sử dụng linh hoạt các kiểu kết cấu trên Kết cấu của văn bản thuyết minhthường theo trình tự thời gian, không gian hoặc trật tự logic của đối tượng

b) Về ngôn ngữ diễn đạt

Văn bản thuyết minh yêu cầu trình bày rõ ràng, ngôn từ chính xác, cô

đọng Sách Làm văn nhận định: “Do phải đảm bảo tính khách quan khoa học,

nhằm cung cấp cho người đọc những thông tin trung thực, khách quan vàchính xác về đối tượng nên nhìn chung văn thuyết minh phải trong sáng, rõràng và đơn nghĩa, trọng thông tin, ngắn gọn, không rườm rà” [47, 234] Vănbản thuyết minh thuộc lĩnh vực nào, liên quan đến ngành nghề nào thì sửdụng những thuật ngữ, khái niệm có tính chất chuyên ngành của lĩnh vực đó.Các thông tin trong bài thuyết minh phải ngắn gọn, các số liệu phải chính xác

Trang 21

Ví dụ: Lá cây có màu xanh lục vì các tế bào của lá chứa nhiều tạp lục.

Một milimet lá chứa bốn mươi vạn lạp lục Trong các lạp lục này có chứa một chất gọi là diệp lục, tức là chất xanh của lá” [32, 115].

Tất nhiên, điều này không có nghĩa là ngôn ngữ diễn đạt của văn thuyếtminh không cần hình ảnh, mềm mại, hấp dẫn, có tính nghệ thuật Tùy vào đốitượng và yêu cầu của mỗi bài văn thuyết minh, người viết có thể lựa chọnnhững hình thức ngôn ngữ diễn đạt đa dạng, linh hoạt

Những đặc trưng về nội dung và hình thức nói trên là cơ sở quan trọng

để giúp phân biệt kiểu văn bản thuyết minh với các loại văn bản khác

1.1.2.3 So sánh văn bản thuyết minh với các dạng văn bản khác

Mỗi dạng văn bản có những đặc trưng riêng về nội dung và hình thức.

Và dựa vào đó, ta có thể so sánh dạng văn bản này với kiểu dạng văn bảnkhác Ở đây, chúng tôi đi vào phân biệt văn bản thuyết minh với văn bản tự

sự, văn bản miêu tả, văn bản nghị luận Cụ thể:

a) Phân biệt văn bản thuyết minh với văn bản nghị luận

Văn bản nghị luận là kiểu văn bản trong đó người viết (người nói)

trình bày ý kiến của mình bằng cách dùng lí luận (bao gồm cả dẫn chứng và lílẽ) để làm sáng rõ một vấn đề nào đó, nhằm làm cho người đọc (người nghe)hiểu, tin, đồng tình với ý kiến của mình và hành động theo những điều màmình đề xuất Như vậy, mục đích của văn bản nghị luận là nhằm xác lập chongười đọc, người nghe một tư tưởng, quan điểm nào đó Đối tượng mà vănbản nghị luận hướng tới thể hiện là các vấn đề chính trị - xã hội và văn học

Về nội dung, văn bản nghị luận thiên về trình bày các ý kiến, các lý lẽ để giảithích, chứng minh, phân tích, bình luận một vấn đề nào đó Những ý kiến, lí

lẽ đó được tổ chức thành các luận điểm, luận cứ Như thế, điểm mấu chốt củamột văn bản nghị luận là ở các luận điểm, luận cứ Không có luận điểm, luận

cứ thì không thành văn bản nghị luận Về mặt ngôn ngữ, kiểu văn bản này

Trang 22

mang phong cách ngôn ngữ nghị luận Nó chú trọng sự chính xác, chặt chẽ, vìmục đích của diễn đạt trong văn nghị luận là nhằm phản ánh rõ ràng, chínhxác quá trình tư duy để đạt đến việc nhận thức chân lí Tuy nhiên ngôn ngữcủa văn nghị luận cũng cần có sự hấp dẫn, lôi cuốn bằng chính cảm xúc củangười viết thể hiện trong đó chứ không chấp nhận sự khô khan, đơn điệu, nhất

là khi đối tượng nghị luận là một vấn đề văn học

Từ cách hiểu về văn bản nghị luận như trên và đặt nó trong sự so sánhvới văn bản thuyết minh, chúng tôi nhận thấy giữa hai kiểu văn bản này cónhững điểm khác nhau cơ bản Cụ thể là:

Văn bản thuyết minh nhằm đối tượng thuyết minh, giúp họ biết cách sử dụng những đối tượng

đó vào mục đích hữu ích cho con người.

Nội dung

- Nội dung của văn bản nghị luận là ý kiến, quan điểm của người viết về một vấn đề được tổ chức thành các luận điểm, luận cứ

- Văn bản nghị luận mang tính chủ quan sâu sắc Đối với văn bản nghị luận, cảm xúc chủ quan của người viết được xem là một vấn

đề có tính nguyên tắc, bởi

vì nếu ngay cả người viết (người nói) cũng không có

- Nội dung của văn bản thuyết minh trình bày tri thức, bao gồm các đặc điểm, tính chất, nguyên lí, qui luật, quá trình phát sinh, hình thành và phát triển của đối tượng thuyết minh.

- Văn bản thuyết minh mang ý khách quan Người tạo lập văn bản thuyết minh cần phải có thái

độ điềm tĩnh, bình thản trước đối tượng mà mình đang trình bày, giới thiệu.

Trang 23

tình cảm, cảm xúc, không tin vào những tư tưởng, quan điểm mà mình đưa ra trong văn bản thì làm sao

có thể khiến cho người đọc (người nghe) hiểu và tin theo Và như thế, mục đích của văn bản nghị luận không thể đạt được như mong muốn

* Lưu ý: Tuy nhiên, sự phân biệt ở đây cần được hiểu một cách tươngđối Trên thực tế, trong nhiều văn bản thuyết minh, đặc biệt là các văn bảnthuyết minh văn học, vẫn phần nào chứa đựng trong đó màu sắc biểu cảm vàcảm xúc chủ quan của người viết Do vậy, sự phân biệt của chúng tôi chủ yếudừng lại trên cấp độ khái quát, nhằm vạch ra một ranh giới rõ nét nhất giữahai kiểu văn bản này

b) Phân biệt văn bản thuyết minh với văn bản tự sự

Nhận xét chung: Văn bản tự sự là kiểu văn bản trong đó người viết sửdụng phương thức tự sự để trình bày một chuỗi các sự việc theo trình tự diễnbiến nhất định, tạo thành một câu chuyện Qua đó, người viết bày tỏ thái độcủa mình trước hiện thực khách quan được tái hiện qua nội dung văn bản Đặc trưng của văn bản tự sự là nội dung câu chuyện được kể, được viết

ra với mục đích kể lại câu chuyện đó, đồng thời bày tỏ thái độ của người viếtđối với hiện thực khách quan Mặt khác, vì là văn bản kể chuyện nên phươngthức biểu đạt chủ yếu ở đây là hư cấu, tưởng tượng Văn bản tự sự được viếtbằng ngôn ngữ thuộc phong cách ngôn ngữ nghệ thuật mang tính đa nghĩa,tính hình tượng và tính thẩm mĩ cao

Trang 24

Qua việc xác lập một cách hiểu về văn bản tự sự như trên, đồng thời từquá trình tìm hiểu đặc trưng của văn bản thuyết minh, chúng tôi nhận thấygiữa hai kiểu văn bản này có những điểm khác nhau:

Văn bản thuyết minh chủ yếu trình bày tri thức, làm cho người đọc người nghe hiểu về đối tượng một cách cụ thể

Đặc điểm

- Có nhân vật, cốt truyện, diễn biến các tình tiết

- Hư cấu, tưởng tượng là đặc điểm nổi bật Hư cấu không chỉ là phương tiện

mà còn là mục đích, thể hiện ý đồ nghệ thuật của nhà văn.

- Ngôn ngữ văn bản tự sự là ngôn ngữ nghệ thuật vốn hết sức linh hoạt, giàu hình tượng và thường đa nghĩa.

- Có tri thức khách quan

- Trong văn bản thuyết minh, hư cấu tưởng tượng là yếu tố chỉ được sử dụng một cách rất hạn chế, nếu có cũng chỉ là phương tiện để việc chuyển tải tri thức trở nên nhẹ nhàng, lôi cuốn.

- Ngôn ngữ văn bản thuyết minh

là ngôn ngữ khoa học với những yêu cầu về tính chặt chẽ, lôgic, đơn nghĩa

c) Phân biệt văn bản thuyết minh với văn bản miêu tả

Văn miêu tả là loại văn nhằm giúp người đọc, người nghe hình dungnhững đặc điểm, tính chất nổi bật của một sự vật, sự việc, con người, phongcảnh… làm cho những cái đó như hiện lên trước mắt của người đọc, người nghe Như vậy, nói cách khác, văn bản miêu tả được viết ra nhằm giúp ngườiđọc, người nghe cảm nhận được cái “hồn” của đối tượng Nó không giống vớivăn bản thuyết minh được viết ra với mục đích để con người hiểu đối tượng

Trang 25

Hai kiểu văn bản trên được viết ra với hai mục đích khác nhau Nhưng cũng không thể phủ nhận rằng văn bản miêu tả là kiểu văn bản có nhiều điểm giống và dễ bị nhầm lẫn với văn bản thuyết minh hơn cả Do đó, để tạo ra một sự khu biệt giữa hai kiểu văn bản nói trên, chúng tôi sẽ hệ thống hoá những điểm khác nhau giữa chúng theo bảng sau:

Văn bản miêu tả Văn bản thuyết minh

• Có hư cấu tưởng tượng, không nhất thiết

phải trung thành với sự vật.

• Dùng nhiều so sánh, liên tưởng.

• Mang hiều cảm xúc chủ quan của người

viết

• Ít dùng số liệu cụ thể, chi tiết

• Dùng nhiều trong sáng tác văn chương,

• Bảo đảm tính khách quan, khoa học.

• Dùng nhiều số liệu cụ thể, chi tiết.

• Ứng dụng trong nhiều tình huống cuộc sống, văn hoá, khoa học…

• Thường theo một số yêu cầu giống nhau (mẫu)

1.1.3 Vai trò, ý nghĩa của văn bản thuyết minh trong thực tế đời sống

Mỗi kiểu văn bản khác nhau trong chương trình Ngữ Văn THCS đều cóvai trò, ý nghĩa riêng Nếu văn bản tự sự cung cấp cho HS hiểu các kiến thứcnhư nhân vật, cốt truyện, ngôi kể, sự việc; văn bản nghị luận giúp HS hiểuvấn đề nghị luận, luận điểm, luận cứ, lập luận; văn bản miêu tả cung cấp kiếnthức về đối tượng miêu tả, quan sát, tưởng tượng, nhận xét, so sánh trong văn

Trang 26

miêu tả thì văn bản thuyết minh lại có vai trò, ý nghĩa khác Đây là kiểu vănbản mới trong chương trình Ngữ văn THCS Với sự ra đời của bộ sách giáokhoa mới, kiểu văn bản này được đưa vào học đầu tiên ở lớp 8 Đây là mộtkiểu văn bản thông dụng, có phạm vi sử dụng phổ biến trong đời sống Họctốt kiểu văn bản này, các em sẽ có khả năng thuyết trình khi muốn giới thiệumột đối tượng nào đó, không chỉ bằng lời văn rất Văn, mà còn bằng cả nhữngtri thức khách quan, giúp người nghe hiểu về đối tượng Không chỉ thế, trongcuộc sống hàng ngày, các em sẽ có kỹ năng thuyết minh về bất cứ một việc

gì, sẽ thuận lợi trong sinh hoạt Bởi vì văn bản thuyết minh len lỏi khắp trongđời sống của con người, từ cách quét nhà của một đứa trẻ, cách lau mặt, đánhrăng hay cách nấu một món ăn hoặc cách sử dụng một đồ dùng bất kỳ nào đó.Khi ta mua một thứ đồ dùng sinh hoạt như máy giặt, máy vi tính, máy điềuhòa, ta phải đọc hướng dẫn sử dụng, bảo quản, đó chính là văn bản thuyếtminh Khi mua một loại thực phẩm nào đó, người tiêu dùng bao giờ cũngđược dặn dò đọc kỹ hướng dẫn sử dụng trước khi dùng, đó cũng là văn bảnthuyết minh Ra ngoài phố, ta bắt gặp các biển quảng cáo giới thiệu sản phẩm.Cầm quyển sách, ở bìa sau có lời giới thiệu tác giả, tóm tắt nội dung Đến mộtdanh lam thắng cảnh có bảng ghi lời giới thiệu, lai lịch, sơ đồ, đặc điểm… Tất

cả đều là những văn bản thuyết minh

Dù ngắn hay dài, văn bản thuyết minh đều cung cấp thông tin để giúpngười đọc, người nghe hiểu được đặc điểm, tính chất của đối tượng Học vănbản thuyết minh trong nhà trường sẽ giúp học sinh rèn kỹ năng trình bày trithức, nâng cao năng lực tư duy, giúp các em làm quen với cách làm văn cótính khoa học, chính xác

Trang 27

1.2 Tổng quan về phần Làm văn thuyết minh trong chương trình Làm văn THCS hiện nay

1.2.1 Đặc điểm của chương trình Làm văn ở THCS

1.2.1.1 Chương trình Làm văn ở THCS được biên soạn theo tinh thần tích hợp, tích cực

Trong chương trình sách giáo khoa chỉnh lý trước đây, Làm văn đượctách thành một phân môn và được viết thành một quyển riêng Với sự ra đờicủa bộ sách giáo khoa Ngữ văn mới, Làm văn đã trở thành một phần, cùngvới Tiếng việt và Văn tạo nên một bộ môn thống nhất: môn Ngữ văn Cáchbiên soạn này thể hiện được quan điểm tích hợp rất rõ Tinh thần tích hợp củaLàm văn biểu hiện ở sự gắn bó với Tiếng Việt và Đọc - hiểu văn bản Ngữliệu để tìm hiểu trong Làm văn được lấy ở trong văn bản, còn kiến thức về từ,câu ở Tiếng việt được vận dụng và rèn luyện trong khi tạo lập văn bản

Ví dụ: Văn bản Thông tin về ngày trái đất năm 2000 và văn bản Ôn

dịch, thuốc lá (sách giáo khoa Ngữ văn 8 tập 1) học ở tuần 10 và tuần 12

trong phần Văn, đến tuần 12 hai văn bản này được dùng làm ngữ liệu để tìmhiểu về phương pháp thuyết minh

Tinh thần tích cực cũng được thể hiện rõ trong Làm văn THCS Đó làviệc rút ngắn, bỏ bớt những kiến thức lý thuyết hàn lâm, nặng nề mà thay vàonhiều bài tập thực hành Các nội dung lý thuyết chủ yếu được trình bày theohướng quy nạp Học sinh qua phân tích tìm hiểu ngữ liệu rút ra lý thuyết Qua

đó phát huy tích tích cực, chủ động của học sinh, tạo điều kiện cho các emkhông chỉ lĩnh hội được kiến thức mà còn tự mình tìm ra tri thức đó

Chẳng hạn, sau khi tìm hiểu văn bản Xe đạp, học sinh nắm được

phương pháp thuyết minh một đồ vật gồm:

- Thuyết minh về cấu tạo của đối tượng

- Thuyết minh về tính năng của đối tượng

Trang 28

- Thuyết minh về công dụng của đối tượng.

- Thuyết minh về cách sử dụng, bảo quản

Từ đó, học sinh vân dụng phương pháp để thuyết minh về một đồ vậtkhác như nón lá hoặc áo dài hoặc quyển sách giáo khoa

1.2.1.2 Chương trình Làm văn ở THCS là một hợp phần quan trọng của môn Ngữ văn

Tính chất quan trọng của phần Làm văn trong chương trình Ngữ vănđược thể hiện ở tương quan số tiết của nó so với tổng số tiết Ngữ văn Trongchương trình Ngữ văn 6, 7, 8, 9 gồm 595 tiết, Làm văn chiếm 185 tiết (chưa

kể 5 bài viết ở nhà), số tiết đọc Văn và Tiếng Việt là 410 tiết Như vậy phầnLàm Văn chiếm tỉ lệ 32%

1.2.1.3 Các nội dung chính trong chương trình Làm văn

- Những vấn đề chung về văn bản và tạo lập văn bản: Văn bản và đặcđiểm văn bản, tính thống nhất về chủ đề của văn bản, bố cục của văn bản,đoạn văn, liên kết câu trong đoạn, cách chuyển ý, chuyển đoạn, tóm tắt vănbản tự sự, phép phân tích và tổng hợp

- 6 kiểu văn bản: được phân chia đều ở 4 khối như sau:

Kiểu

văn bản Lớp 6 Lớp 7 Lớp 8 Lớp 9

Tự sự

- Sự việc, nhân vật, chủ đề, lời văn

- Lập dàn ý

- Đoạn văn

- Cách xen yếu

tố miêu tả và biểu cảm vào văn bản tự sự

- Thay ngôi kể

- Miêu tả nội tâm, đối thoại, độc thoại trong văn bản tự sự

- Yếu tố nghị luận trong VBTS

Xen yếu tố xen vào văn nghị luận, thuyết minh

Xen yếu tố xen vào văn nghị luận, thuyết minh

Trang 29

và cách làm bài biểu cảm

Xen yếu tố biểu cảm vào bài văn nghị luận, thuyết minh

Xen yếu tố biểu cảm vào bài văn nghị luận, thuyết minh

Nghị

luận

- Khái niệm về văn nghị luận như luận đề, luận điểm, luận cứ, lập luận

- Đặc điểm, đề

và tìm ý Phương pháp lập luận

- Phép lập luận chứng minh và lập luận giải thích

Các dạng nghị luận xã hội (nghị luận về sự việc, hiện tượng đời sống, nghị luận

về tư tưởng đạo lý),

Nghị luận văn học (nghị luận về tác phẩm truyện, nghị luận về tác phẩm thơ)

Thuyết

minh

- Phương pháp thuyết mịn, đề và cách làm bài, - Các dạng bài thuyết minh (về thể loại văn học, thuyết minh về một phương pháp, một danh lam thắng cảnh)

Đưa biện pháp nghệ thuật và yếu tố miêu tả vào trong văn thuyết minh.

Cách viết văn bản tường trình, văn bản thông báo

Cách viết biên bản, hợp đồng

1.2.2 Đặc điểm phần làm văn thuyết minh ở THCS

Trang 30

Phần làm văn thuyết minh trong chương trình Ngữ văn THCS được dạytrong Học kỳ 1 lớp 8, 9 Cụ thể như sau:

Lớp 8:

PPCT Tên bài Nội dung, cấu trúc bài học

bản thuyết minh

1, Vai trò và đặc điểm chung của VBTM

- SGK đưa ra 3 văn bản: Cây dừa Bình Định, Tại sao lá cây có màu xanh lục? Huế.

- Từ đó, HS tìm hiểu, rút ra ghi nhớ

2, Luyện tập:

- Bài 1, 2 yêu cầu HS nhận diện VBTM.

- Bài 3 cho HS thấy được vai trò của yếu tố thuyết minh trong các kiểu văn bản khác như tự sự, miêu

tả, nghị luận, biểu cảm.

minh

1, Tìm hiểu các phương pháp thuyết minh:

SGK nêu 6 phương pháp TM, mỗi phương pháp

có ví dụ để HS dễ hiểu

2, Luyện tập: Ba bài tập ở sgk đều yêu cầu HS nhận diện các PPTM.

Tiết 51

Đề văn thuyết minh và

cách làm bài văn thuyết

minh

1, Đề văn TM và cách làm bài văn TM

- Đề văn thuyết minh: gồm 12 đề theo nhiều dạng khác nhau để HS nhận diện

- Cách làm bài văn TM: SGK đưa ra văn bản mẫu

“Xe đạp” và nêu các câu hỏi để HS tìm hiểu về đối tượng TM, tìm mở bài, thân bài, kết bài, cách trình bày ý ở thân bài, phương pháp TM Qua đó

HS hiểu được cách làm một bài văn TM

Trang 31

minh một thứ đồ dùng 2, HS trình bày phần chuẩn bị ở nhà theo nhóm

Tiết

55,56

Viết bài văn số 3 về

văn thuyết minh

2, Luyện tập: Thuyết minh đặc điểm của truyện ngắn

3 về văn thuyết minh

GV nhận xét ưu điểm và tồn tại của HS ở bài viết văn TM đầu tiên trên các phương diện:

- Kiến thức về đối tượng

- Phương pháp thuyết minh

- Kỹ năng làm bài

Từ đó, HS sẽ khắc phục nhược điểm và phát huy

ưu điểm trong bài viết sau

văn bản thuyết minh

1, Đoạn văn trong văn bản thuyết minh

- Nhận dạng đoạn văn thuyết minh

- Sửa đoạn văn thuyết minh chưa chuẩn

2, Luyện tập Bài 1: yêu cầu viết mở bài và kết bài Bài 2: yêu cầu viết đoạn văn ở thân bài

phương pháp

1, Giới thiệu về một phương pháp:

SGK đưa ra 2 bài về phương pháp làm đồ chơi, phương pháp nấu một món ăn để HS tìm hiểu

Trang 32

liệu trong bài

1, Ôn tập lý thuyết:

- Vai trò của văn thuyết minh

- Phân biệt văn thuyết minh với các kiểu văn bản khác

- Các phương pháp thuyết minh

88 Viết bài văn số 5

GV lựa chọn một trong các dạng bài thuyết minh còn lại

GV nhận xét ưu điểm và tồn tại của HS ở bài viết văn TM thứ 2 trên các phương diện:

- Kiến thức về đối tượng

- Phương pháp thuyết minh

- Kỹ năng làm bài

Từ đó, HS sẽ khắc phục nhược điểm và phát huy

ưu điểm trong bài viết sau Lớp 9:

PPCT Tên bài Nội dung, cấu trúc bài học

pháp nghệ thuật trong

văn bản thuyết minh

1, Tìm hiểu việc sử dụng một số biện pháp nghệ thuật trong văn bản thuyết minh

SGK đưa ra văn bản “Hạ Long - Đá và nước” để

HS tìm hiểu, rút ra những biện pháp nghệ thuật thường sử dụng trong văn bản thuyết minh

2, Luyện tập: cả 2 bài tập đều yêu cầu HS nhận

Trang 33

diện và nêu vai trò của biện pháp nghệ thuật trong văn bản thuyết minh

Dặn HS chuẩn bị cho tiết luyện tập

trong văn bản thuyết

tố miêu tả trong văn bản thuyết minh

2, Luyện tập: Tìm yếu tố miêu tả trong một đoạn văn và bài văn thuyết minh

Dặn HS chuẩn bị bài cho tiết luyện tập sau

Tiết 10

Luyện tập sử dụng yếu

tố miêu tả trong văn

bản thuyết minh

1, HS trao đổi bài tập chuẩn bị ở nhà theo nhóm

2, HS trình bày bài chuẩn bị ở nhà trước lớp

Tiết 14, 15 Viết bài văn số 1

GV lựa chọn đề thuyết minh về loài cây hoặc danh lam thắng cảnh, yêu cầu có xen yếu tố miêu tả và biện pháp nghệ thuật vào bài văn thuyết minh

Qua việc thống kê số liệu trên, thấy được kiểu bài làm văn thuyết minhchiếm một vai trò quan trọng so với các kiểu bài khác trong lớp 8, lớp 9 PhầnVăn bản thuyết minh gắn bó chặt chẽ với phần Đọc - Hiểu văn bản: lấy vănbản làm ngữ liệu để tìm hiểu đặc điểm của văn bản thuyết minh

1.3 Thực trạng dạy học làm văn thuyết minh ở THCS hiện nay (khảo sát trên địa bàn dạy học tại một số trường THCS huyện Diễn Châu)

1.3.1 Về phía giáo viên

Bản thân tôi đang dạy tại trường THCS Diễn Đoài, một xã mà ngườidân chủ yếu sống bằng nghề nông, chỉ một số ít người dân có thêm nghề làmchổi đót Vì vậy kinh tế nhân dân còn rất nghèo nàn Hơn nữa, trường tôi dạy

Trang 34

cách trung tâm huyện đến 15 km, số GV trong địa bàn xã chỉ chiếm 3/37 (tỉ lệ8%), còn lại là giáo viên ở xa trường nên đi lại khó khăn và càng khó khănhơn khi điều kiện cơ sở vật chất của nhà trường chưa hiện đại Riêng GV dạymôn Văn, tỉ lệ có trình độ tin học đạt chứng chỉ quy định đạt 76% Số GV biết

sử dụng thành thạo máy chiếu là 5/8 chỉ đạt 62%

Nhìn chung, đội ngũ GV có bằng cấp chuẩn và trên chuẩn, có tráchnhiệm trong công tác dạy học nhưng còn ở mức độ khiêm tốn GV chưa thực

sự tâm huyết với nghề, trong đó có GV Văn, chưa tìm tòi học hỏi Dù vẫnđược tham gia các chuyên đề về chuyên môn trong và ngoài nhà trườngnhưng một số GV vẫn còn ỷ lại kiến thức ở SGK, thậm chí vẫn còn hiệntượng copy giáo án mà không nghiền ngẫm bài soạn trước khi đến lớp Ởtrường THCS, thông thường GV được phân công giảng dạy theo từng phânmôn Giáo viên nào được phân công dạy môn nào thì chỉ chuyên tâm tìmhiểu, học hỏi và trau dồi kiến thức chuyên môn của môn học đó, ít có điềukiện quan tâm đến các môn khác, các lĩnh vực khác, mà văn bản thuyết minhlại có mối quan hệ khá chặt chẽ với các môn học khác trong nhà trường vàcác lĩnh vực trong đời sống Ví dụ, khi dạy HS thuyết minh một di tích lịch

sử, đòi hỏi GV phải có kiến thức về lịch sử của đối tượng cần thuyết minh,nghĩa là phải nắm chắc các đặc điểm, tính chất, cấu tạo, quá trình hình thành,

sự phát triển… mà không chỉ dừng lại ở kiến thức môn Ngữ văn Vì vậy, nếu

GV không có sự tìm tòi theo kiểu “Kiến thức liên môn” sẽ chỉ dạy qua loa, cơbản như những hướng dẫn ở SGV và tất nhiên là hiệu quả giờ dạy sẽ khôngcao, không hình thành cho HS được những kỹ năng tư duy cần thiết Mạnhdạn điều tra và so sánh việc dạy tiết Làm văn “Thuyết minh về một danh lamthắng cảnh” (tiết 83 lớp 8) tại hai lớp 8A và 8B do cô giáo Đinh Thị Hằngdạy Ở tiết thứ nhất tại lớp 8A, cô Hằng chỉ dựa vào gợi ý và hướng dẫn ởSGV thì kết quả HS nắm được bài là 85% và HS biết vận dụng kiến thức để

Trang 35

làm bài văn khác là 76% Thế nhưng cũng tiết dạy đó ở lớp 8B, cô Hằng đãkhai thác tài liệu từ môn Lịch Sử (về cuộc khởi nghĩa Lam Sơn), kết hợp vớinhững kỹ thuật tìm kiếm và xử lí thông tin trên mạng, cô Hằng đã cung cấpcho HS những đặc điểm, tư liệu và hình ảnh cụ thể, sau đó hướng dẫn HS tìm

ra phương pháp thuyết minh danh lam thắng cảnh hồ Hoàn Kiếm nói riêng vàmột danh lam thắng cảnh nói chung Kết quả cho thấy HS học tập hăng say,tích cực, các em thích thú và sôi nổi hơn rất nhiều Khảo sát kết quả HS nắmđược bài là 95% và HS biết vận dụng kiến thức để làm bài văn khác là 87%

1.3.2 Về phía học sinh

Học sinh trường THCS Diễn Đoài đa số là con nhà nông, nên ngoàithời gian học ở trường các em về nhà phải phụ giúp gia đình rất nhiều côngviệc Đa số học sinh vừa đi học vừa phải làm thêm cùng với bố mẹ hoặc cángđáng việc gia đình Thời gian dành cho việc học của các em không có nhiều,thậm chí chỉ là khi các em đến lớp học Vì vậy, các em không có đủ điều kiệnnghỉ ngơi để tập trung học,không có đủ thời gian để chuẩn bị bài trước khi lênlớp, cũng như không có thời gian để tìm tòi thêm trên đài, báo, các kiến thứctrong thực tế

Một bộ phận khác là con em gia đình khá giả nhưng cha mẹ các em lại

có quan niệm chưa đúng về vị thế của môn Ngữ văn trong việc hình thànhnhân cách, tâm hồn các em Họ ứng phó với nền kinh tế mở cửa hiện nay, con

em họ chỉ cần học những môn: Toán, Lý, Hóa, Sinh, Ngoại ngữ… là nhữngmôn thiết thực sẽ giúp con em họ sau này dễ xin việc, dễ kiếm tiền Nhiềuphụ huynh không quan tâm đến việc học văn của con em, đến việc con viếtsai lỗi chính tả, dùng sai từ, không viết đúng một lá đơn… Điều đó không chỉkhông tạo điều kiện cho các em trong việc tìm tài liệu mới cho bài văn màcòn khiến các em cũng có cái nhìn lệch lạc về việc học văn và không cònhứng thú với môn Ngữ văn nói chung và đặc biệt là phân môn Tập làm văn

Trang 36

Ngoài ra, còn một bộ phận không nhỏ các em có thái độ làm bài hời hợt, quachuyện.

Kiểu bài thuyết minh đòi hỏi kiến thức chính xác, khoa học trong khivốn tri thức của HS bậc THCS còn chưa chắc chắn

Một số dạng bài thuyết minh liên quan tới kiến thức về cuộc sống nhưdanh lam thắng cảnh, di tích lịch sử, loài cây, món ăn…Đây là một thách thứclớn bởi đa số HS chưa có vốn sống thực tế, chưa có sự trải nghiệm

1.3.3 Về tài liệu tham khảo

Về vấn đề tài liệu giảng dạy phần làm văn thuyết minh trongchương trình Ngữ văn THCS, chúng tôi cũng gặp những thuận lợi và khókhăn nhất định

Mặt thuận lợi Có một số tài liệu định hướng chung cho việc dạy học

Làm văn nói chung, văn bản thuyết minh nói riêng như: Tài liệu phân phối

chương trình THCS của Sở Giáo dục và đào tạo; Hướng dẫn chuẩn kiến thức, kỹ năng môn Ngữ văn THCS của tác giả Phan Thị Ngọc Trâm chủ biên; Kiến thức - kỹ năng cơ bản Tập làm văn THCS do Huỳnh Thị Thu Ba chủ

biên; Dạy học Tập làm văn THCS của tác giả Nguyễn Trí Cùng với tài liệu

mang tính định hướng chung, còn có các tài liệu đi sâu vào một nội dung cụ

thể của đề tài như: Rèn kỹ năng làm văn thuyết minh, (Trần Thị Thành chủ biên); Bồi dưỡng Ngữ văn 8, 9, (Nguyễn Thị Kim Dung chủ biên)

Mặt khó khăn Ngoài những thuận lợi trên, trong khi nghiên cứu đề tài,

người viết vẫn gặp nhiều khó khăn khi tham khảo tài liệu Bởi vì tài liệu phầndạy học phần Làm văn thuyết minh không phong phú đã đành, nội dung củachúng cũng mang tính khái lược và nghiêng nhiều về lý thuyết

Như vậy, trong Chương 1, chúng tôi đã tiến hành tìm hiểu cơ sở khoahọc của đề tài Đó là khái niệm, đặc trưng và ý nghĩa của văn thuyết minhtrong đời sống; đặc điểm làm văn thuyết minh trong chương trình THCS; thực

Trang 37

trạng dạy học làm văn thuyết minh ở THCS hiện nay Đây chính là cơ sởquan trọng để chúng tôi đi vào Chương 2: Tổ chức rèn luyện làm văn thuyếtminh ở trường THCS

Trang 38

Chương 2

TỔ CHỨC RÈN LUYỆN KỸ NĂNG LÀM VĂN THUYẾT MINH

CHO HỌC SINH Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ

2.1 Những tri thức và kỹ năng làm văn thuyết minh cần hình thành và rèn luyện cho học sinh THCS

2.1.1 Những tri thức làm văn thuyết minh cần hình thành và rèn luyện cho học sinh THCS

2.1.1.1 Tri thức về đặc trưng, cấu trúc, chức năng của văn thuyết minh

Trong chương trình Ngữ văn THCS, dạy làm văn thuyết minh, GV phảicung cấp và rèn luyện cho HS nắm được các tri thức cơ bản sau đây:

Thứ nhất, khái niệm văn bản thuyết minh

Thứ hai, đặc trưng cấu trúc, chức năng của văn bản thuyết minh

Theo đó, khi dạy phần làm văn thuyết mình trong chương trình Ngữ vănTHCS, GV phải giúp HS hiểu được khái niệm về văn thuyết minh, cụ thể

“Thuyết minh là kiểu văn bản thông dụng trong mọi lĩnh vực của đời sống nhằm cung cấp tri thức về đặc điểm, tính chất, nguyên nhân… của các hiện tượng và sự vật trong tự nhiên, xã hội bằng phương thức trình bày, giải thích”.

Trong định nghĩa này, GV hướng dẫn để giúp HS nắm vững ba ý sau:

- Văn bản thuyết minh là kiểu văn bản thông dụng trong mọi lĩnh vực

của đời sống Hàng ngày, ta bắt gặp loại văn bản này ở mọi lúc, mọi nơi.

Chẳng hạn, đi du lịch, ta được phát một bản giới thiệu về cảnh quan, lịch sửdanh thắng mà ta đến thăm Mua một vật dụng, ta có tờ giới thiệu và hướngdẫn sử dụng sản phẩm đó

- Văn bản thuyết minh cung cấp tri thức về đặc điểm, tính chất, nguyên

nhân của các hiện tượng và sự vật trong tự nhiên xã hội Như vậy, đối tượng

của văn thuyết minh hướng tới rất phong phú, đa dạng: Các hiện tượng tự

Trang 39

nhiên, các hiện tượng xã hội, các vật dụng trong đời sống, văn học nghệ thuật.Mục đích chính của văn bản thuyết minh là tri thức cung cấp phải khách quan,xác thực và hữu ích với con người Người viết không được vì tình cảm cácnhân mà hư cấu, bịa đặt, tưởng tượng ra những điều không có ở đối tượng

- Phương thức mà văn bản thuyết minh sử dụng để đạt được mục đích

trên là trình bày, giải thích Đây chính là điểm khác nhau cơ bản giữa văn

thuyết minh với các loại văn bản khác Văn bản thuyết minh không xây dựngdiễn biến sự việc như kể chuyện mà trình bày nguyên lý, cách thức, quy luậtcủa đối tượng Thuyết minh dùng giải thích nhưng là giải thích bằng tri thứckhoa học Còn giải thích trong văn nghị luận là dùng dẫn chứng lý lẽ làm sáng

tỏ vấn đề

2.1.1.2 Tri thức về các phương pháp thuyết minh

Văn bản thuyết minh nhằm mục đích giúp người đọc hiểu về đặc trưng,tính chất của sự vật hiện tượng.Thuyết minh gắn liền với tư duy khoa học nênbài thuyết minh yêu cầu cao về tính chính xác, chặt chẽ Vì vậy, khi tạo lậpvăn bản thuyết minh, người viết thường sử dụng các phương pháp thuyếtminh Có sáu phương pháp thuyết minh học sinh được học ở làm văn THCSlà: phương pháp nêu định nghĩa, giải thích, phương pháp liệt kê, phương phápnêu ví dụ, phương pháp dùng số liệu, phương pháp so sánh, phương phápphân loại, phân tích

Phương pháp nêu định nghĩa là phương pháp chỉ ra bản chất của đốitượng thuyết minh bằng ngôn ngữ rõ ràng, chính xác, ngắn gọn Phương phápliệt kê là phương pháp thuyết minh bằng cách lần lượt chỉ ra các đặc điểm,tính chất của đối tượng theo một trình tự nào đó Phương pháp nêu ví dụ làphương pháp thuyết minh sự vật bằng cách nêu dẫn chứng thực tế tạo ấntượng cho người đọc Phương pháp so sánh là cách đối chiếu hai hoặc hơn haiđối tượng cùng loại để làm nổi bật bản chất của đối tượng cần được thuyết

Trang 40

minh, để người đọc hình dung rõ hơn đối tượng Phương pháp nêu số liệu làphương pháp đưa ra con số cụ thể để thuyết minh về đối tượng nhằm tăngthêm tính chính xác, khách quan Phương pháp phân loại, phân tích là phươngpháp chia đối tượng ra từng loại, từng mặt để thuyết minh.

Đây là những khái niệm lần đầu tiên học sinh làm quen nên giáo viênphải phân tích ví dụ để HS rút ra được đặc điểm của từng phương pháp, tránhnhầm lẫn Hơn nữa, học sinh phải hiểu được trong một bài văn thuyết minhphải dùng phối hợp nhiều phương pháp thuyết minh để bài văn thuyết minh

có sức thuyết phục

2.1.1.3 Tri thức về đề văn thuyết minh, bố cục của bài văn thuyết minh

Đề văn thuyết minh phong phú đa dạng Về hình thức, có đề dùngmệnh lệnh “giới thiệu”, có đề dùng mệnh lệnh “thuyết minh”, cũng có đề chỉnêu đối tượng thuyết minh nhưng tất cả đều phải có đối tượng thuyết minh

Về phạm vi, đề thuyết minh đề cập tới bất kỳ mọi lĩnh vực trong cuộc sống.Cách diễn đạt của đề văn thuyết minh ngắn gọn

Bố cục của bài văn thuyết minh cũng như bố cục 3 phần của các kiểubài khác nhưng trong mỗi phần lại có yêu cầu riêng Phần Mở bài phải giớithiệu được đối tượng thuyết minh, giới hạn phạm vi thuyết minh nếu cầnthiết Thân bài gồm nhiều đoạn văn nối tiếp nhau, mỗi đoạn trình bày một mặtcủa đối tượng như: cấu tạo, đặc điểm, lợi ích Phần kết bài bày tỏ thái độ vớiđối tượng, nhận xét về tương lai của đối tượng đó Tuy vậy, giáo viên phảilưu ý cho học sinh rằng đây là yêu cầu chung về bố cục của bài văn thuyếtminh, nhưng ở mỗi dạng khác nhau lại có thể theo một kết cấu khác nhau

2.1.2 Những kỹ năng làm văn thuyết minh cần rèn luyện cho học sinh THCS

2.1.2.1 Kỹ năng tìm ý cho bài văn thuyết minh

Để hình thành và rèn luyện kỹ năng này, giáo viên cần giúp học sinhthấy được vai trò của quan sát, sưu tầm tài liệu về đối tượng thuyết minh

Ngày đăng: 19/07/2015, 20:10

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lê A (chủ biên) (2007), Dạy học Ngữ văn 8 theo hướng tích hợp, Nxb Đại học Sư phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy học Ngữ văn 8 theo hướng tích hợp
Tác giả: Lê A (chủ biên)
Nhà XB: NxbĐại học Sư phạm
Năm: 2007
2. Huỳnh Thị Thu Ba (2006), Kiến thức - Kỹ năng cơ bản Tập làm văn THCS, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiến thức - Kỹ năng cơ bản Tập làm vănTHCS
Tác giả: Huỳnh Thị Thu Ba
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2006
3. Diệp Quang Ban (2005), Văn bản và liên kết trong Tiếng Việt, (Tái bản lần thứ 2 có sửa chửa bổ sung), Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn bản và liên kết trong Tiếng Việt
Tác giả: Diệp Quang Ban
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2005
4. Bộ Giáo dục và đào tạo (2002), Phân phối chương trình THCS Môn Ngữ văn, Nxb Giáo Dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân phối chương trình THCS MônNgữ văn
Tác giả: Bộ Giáo dục và đào tạo
Nhà XB: Nxb Giáo Dục
Năm: 2002
5. Bộ Giáo dục và đào tạo (2010), Hướng dẫn thực hiện chuẩn kiến thức, kỹ năng môn Ngữ văn THCS, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn thực hiện chuẩn kiến thức,kỹ năng môn Ngữ văn THCS
Tác giả: Bộ Giáo dục và đào tạo
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2010
6. Phan Mậu Cảnh (2002), Ngôn ngữ học văn bản, Tủ sách trường đại học Vinh, Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ học văn bản
Tác giả: Phan Mậu Cảnh
Năm: 2002
7. Nguyễn Viết Chữ (2005), Phương pháp giảng dạy tác phẩm văn chương (Theo thể loại), Nxb Đại học Sư phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp giảng dạy tác phẩm vănchương (Theo thể loại)
Tác giả: Nguyễn Viết Chữ
Nhà XB: Nxb Đại học Sư phạm
Năm: 2005
8. Nguyễn Gia Cầu (2007), “Dạy học phát huy tính năng động, sáng tạo của học sinh”, Giáo dục (156) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy học phát huy tính năng động, sáng tạocủa học sinh”," Giáo dục
Tác giả: Nguyễn Gia Cầu
Năm: 2007
9. Trần Đình Chung (2009), Dạy học văn bản Ngữ văn trung học sơ sở theo đặc trưng phương thức biểu đạt, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy học văn bản Ngữ văn trung học sơ sởtheo đặc trưng phương thức biểu đạt
Tác giả: Trần Đình Chung
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2009
10. Nguyễn Kim Dung - Đỗ Kim Hảo… (2006), Bồi dưỡng Ngữ văn 8, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bồi dưỡng Ngữ văn 8
Tác giả: Nguyễn Kim Dung - Đỗ Kim Hảo…
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2006
11. Nguyễn Thị Kim Dung, Đỗ Kim Hảo (2006), Bồi dưỡng Ngữ văn 9, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bồi dưỡng Ngữ văn 9
Tác giả: Nguyễn Thị Kim Dung, Đỗ Kim Hảo
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2006
12. Phan Huy Dũng (2009), Tác phẩm văn học trong nhà trường phổ thông, một góc nhìn, một cách đọc, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác phẩm văn học trong nhà trường phổthông, một góc nhìn, một cách đọc
Tác giả: Phan Huy Dũng
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2009
13. Trần Thanh Đạm (1980), Vấn đề giảng dạy tác phẩm văn học theo loại thể, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề giảng dạy tác phẩm văn học theo loạithể
Tác giả: Trần Thanh Đạm
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1980
14. Phạm Văn Đồng (1994), “Phương pháp dạy học phát huy tích cực một phương pháp vô cùng quý báu”, Nghiên cứu giáo dục (12) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học phát huy tích cực mộtphương pháp vô cùng quý báu”, "Nghiên cứu giáo dục
Tác giả: Phạm Văn Đồng
Năm: 1994
15. Hà Minh Đức (2001), Lý luận văn hoc, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận văn hoc
Tác giả: Hà Minh Đức
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2001
16. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (đồng chủ biên) (1999), Từ điển thuật ngữ văn học, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ văn học
Tác giả: Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (đồng chủ biên)
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1999
17. Đỗ Kim Hồi (1996), Nghĩ từ công việc dạy văn, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghĩ từ công việc dạy văn
Tác giả: Đỗ Kim Hồi
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1996
18. Nguyễn Thuý Hồng, Nguyễn Quang Ninh (chủ biên) (2008), Một số vấn đề đổi mới PPDH môn Ngữ văn THCS, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một sốvấn đề đổi mới PPDH môn Ngữ văn THCS
Tác giả: Nguyễn Thuý Hồng, Nguyễn Quang Ninh (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2008
19. Hoàng Ngọc Hiến (chủ biên) (1999), Văn học và học văn, Nxb văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học và học văn
Tác giả: Hoàng Ngọc Hiến (chủ biên)
Nhà XB: Nxb văn học
Năm: 1999
20. Nguyễn Thanh Hùng (chủ biên) (2006), “Tích hợp trong dạy học Ngữ văn”, Nghiên cứu Giáo dục (6) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tích hợp trong dạy học Ngữvăn”, "Nghiên cứu Giáo dục
Tác giả: Nguyễn Thanh Hùng (chủ biên)
Năm: 2006

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

1. Hình ảnh giờ dạy Tiết 54:  Luyện  nói: Thuyết minh về một thứ đồ dùng - Dạy học làm văn thuyết minh trong chương trình ngữ văn trung học cơ sở
1. Hình ảnh giờ dạy Tiết 54: Luyện nói: Thuyết minh về một thứ đồ dùng (Trang 109)
2. Hình ảnh giờ dạy Tiết 80:  Thuyết minh về một phương pháp (cách làm) - Dạy học làm văn thuyết minh trong chương trình ngữ văn trung học cơ sở
2. Hình ảnh giờ dạy Tiết 80: Thuyết minh về một phương pháp (cách làm) (Trang 110)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w