1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Chữa lỗi từ ngữ cho học sinh trung học phổ thông trên địa bàn Trảng Bàng - Tây Ninh

110 388 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 110
Dung lượng 806 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Không một người đọc nào được xem là hiểu đúng và hiểu sâu một văn bản trong khi chưa thấu triệt ý nghĩa của hệ thống từ ngữ được nhà văn sử dụng.. Một bài tự luận chỉ được đánh giá là th

Trang 1

BÙI THỊ THIỆT

CHỮA LỖI TỪ NGỮ CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TRÊN ĐỊA BÀN TRẢNG BÀNG - TÂY NINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Trang 2

NGHỆ AN - 2014

Trang 3

BÙI THỊ THIỆT

CHỮA LỖI TỪ NGỮ CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TRÊN ĐỊA BÀN TRẢNG BÀNG - TÂY NINH

Chuyên ngành: Lý luận và PPDH bộ môn Văn và Tiếng Việt

Mã số: 60.14.01.11

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Người hướng dẫn khoa học:

TS ĐẶNG LƯU

Trang 4

NGHỆ AN - 2014

Trang 5

MỞ ĐẦU 8

1 Lý do chọn đề tài 8

2 Lịch sử vấn đề 9

3 Đối tượng và nhiệm vụ nghiên cứu 13

3.1 Đối tượng nghiên cứu 13

Các kiểu lỗi về từ ngữ của học sinh trung học phổ thông trên địa bàn Trảng Bàng - Tây Ninh, nguyên nhân và đề xuất các phương pháp dạy học đối với việc chữa lỗi 13

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 13

4 Mục đích nghiên cứu 13

5 Phương pháp nghiên cứu 13

6 Cấu trúc luận văn 13

Chương 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 14

1.1 Cơ sở lý thuyết của đề tài 14

1.1.1 Vai trò của từ ngữ trong hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ dạng nói 14

1.1.2 Vai trò của từ ngữ trong việc tạo lập các loại văn bản dạng viết 15

1.1.3 Những yêu cầu khi sử dụng từ ngữ 16

1.1.4 Vấn đề lỗi trong sử dụng từ ngữ 20

1.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài 23

1.2.1 Thực trạng sử dụng từ ngữ của học sinh trung học phổ thông (qua khảo sát ở Trảng Bàng - Tây Ninh) 23

1.2.2 Thực trạng chữa lỗi từ ngữ cho học sinh ở các trường trung học phổ thông trên địa bàn Trảng Bàng - Tây Ninh 35

Tiểu kết chương 1 39

Chương 2 CÁC NGUYÊN TẮC VÀ BIỆN PHÁP CHỮA LỖI TỪ NGỮ CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 41

2.1 Nguyên tắc chữa lỗi từ ngữ cho học sinh trung học phổ thông 41

2.1.1 Nguyên tắc đảm bảo tính chuẩn mực của ngôn ngữ văn hóa 41

2.1.2 Nguyên tắc đảm bảo yêu cầu về từ pháp 42

2.1.3 Nguyên tắc phù hợp với ngữ cảnh 44

2.1.4 Nguyên tắc phù hợp đặc điểm phong cách của văn bản 45

2.1.5 Nguyên tắc hướng vào giao tiếp 47

2.2 Các kiểu lỗi và biện pháp chữa lỗi từ ngữ cho học sinh THPT 48

2.2.1 Các kiểu lỗi về từ ngữ của học sinh THPT và cách chữa 48

2.2.2 Một số biện pháp chữa lỗi về từ ngữ cho học sinh trung học phổ thông 55

Tiểu kết chương 2 65

Chương 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 67

3.1 Mục đích, yêu cầu, nội và cách thức thực nghiệm 67

3.1.1 Mục đích thực nghiệm 67

3.1.2 Yêu cầu thực nghiệm 67

Trang 6

3.1.3 Nội dung thực nghiệm .67

3.1.4 Cách thức thực nghiệm 67

3.2 Tổ chức thực nghiệm 68

3.2.1 Chọn lớp thực nghiệm và lớp đối chứng 68

3.2.2 Giáo án thực nghiệm 69

3.2.3 Dạy thực nghiệm và dạy đối chứng 97

3.3 Đánh giá thực nghiệm 97

3.3.1 Nhận xét quá trình và kết quả học tập của lớp thực nghiệm 97

3.3.2 Xử lí số liệu thực nghiệm 98

3.4 Kết luận chung về thực nghiệm 100

Tiểu kết chương 3 102

KẾT LUẬN 104

TÀI LIỆU THAM KHẢO 106

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Từ ngữ là một bình diện quan trọng trong hệ thống ngôn ngữ Nhờ

có từ ngữ, con người mới có thể định danh sự vật, hành động, tính chất và tổ chức thành các phát ngôn để truyền đạt thông tin trong quá trình giao tiếp Việc giao tiếp sẽ không đạt hiệu quả mong muốn nếu con người thiếu vốn từ cần thiết hoặc thiếu những kỹ năng sử dụng từ ngữ Đối với môn Ngữ văn hiện nay, vai trò từ ngữ còn được thể hiện rõ trong Đọc hiểu và Làm văn Để tiếp nhận một văn bản, đặc biệt là văn bản nghệ thuật, việc nắm vững ý nghĩa của từ là điều kiện tiên quyết Không một người đọc nào được xem là hiểu đúng và hiểu sâu một văn bản trong khi chưa thấu triệt ý nghĩa của hệ thống từ ngữ được nhà văn sử dụng Ở phân môn Làm văn, từ ngữ cũng là yếu tố đóng vai trò quyết định đối với chất lượng sản phẩm ngôn ngữ do học sinh tạo lập Một bài tự luận chỉ được đánh giá là thành công khi ở đó học sinh biết sử dụng từ ngữ thuần thục để tạo nên các đơn vị cao hơn (câu, đoạn văn, văn bản) phù hợp với yêu cầu của phong cách chức năng Chính vì những lẽ trên, từ trước đến nay, trong nhà trường phổ thông, phần từ ngữ chưa bao giờ bị xem nhẹ

1.2 Mặc dù từ ngữ có vai trò quan trọng như vậy, nhưng thực tế hiện nay, việc sử dụng từ ngữ của học sinh trong giao tiếp, trong tạo lập các loại văn bản có nhiều sai sót Lỗi dùng từ của học sinh biểu hiện rất đa dạng: dùng sai về cấu tạo, sai về nghĩa hoặc về phong cách Việc chữa lỗi dùng từ là một nội dung trong dạy học tiếng Việt ở THPT Tuy nhiên, chắc chắn với khuôn khổ của một vài bài học, vấn đề sẽ chưa thể giải quyết đến nơi đến chốn Tình hình ấy buộc giáo viên phải năng động, trên cơ sở quan điểm tích hợp trong dạy học Ngữ văn, tận dụng mọi điều kiện có thể để chữa lỗi dùng từ cho học sinh, giúp các em nâng cao kỹ năng sử dụng tiếng Việt

Trang 9

Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi chọn vấn đề chữa lỗi từ ngữ cho học sinh Trung học phổ thông trên địa bàn Trảng Bàng - Tây Ninh để triển khai đề tài nghiên cứu của một luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục.

2 Lịch sử vấn đề

Trong một bài nói chuyện với các giáo viên dạy Văn trước đây, ông Phạm Văn Đồng đã từng phát biểu: “Bất cứ người làm văn nào cuối cùng cũng thấy việc hiểu từ và dùng từ đúng chỗ là điều quan trọng và cũng là điều khó khăn nhất” Không chỉ trong dạy học mà cả trong hoạt động giao tiếp, ta

có thể dễ dàng hiểu được vai trò của việc sử dụng từ ngữ Thế nên, từ trước đến nay, vấn đề sử dụng từ ngữ được các nhà ngôn ngữ học rất quan tâm Tiêu biểu có: “Dạy từ Hán Việt cho học sinh Trung học phổ thông” của Hoàng Trọng Canh [9], “Về việc dạy từ ở trường phổ thông” của Hồ Lê [23],

“Để dạy học tốt phần Tiếng Việt trong sách Ngữ văn 10 Trung học phổ thông (bộ mới)” của Đặng Lưu [24]; “Giảng dạy từ ngữ trong nhà trường” của Phan Thiều [40], “Dạy và học từ Hán Việt theo quan điểm tích hợp ở Trung học cơ sở” của Dương Đình Thọ [43], “Rèn luyện kĩ năng ngôn ngữ cho học sinh” của Lê Hữu Tỉnh - Hồng Hạnh [50],…

Bên cạnh đó, có một số bài viết, công trình bàn sâu về kĩ năng dùng từ

ngữ, trong đó có phần chữa lỗi từ ngữ cho học sinh Chương 2 cuốn Tiếng

Việt thực hành, tác giả Nguyễn Thị Ảnh đã đề cập nhiều đến rèn luyện kỹ

năng sử dụng từ ngữ Thứ nhất, dùng từ ngữ đúng: dùng từ ngữ đúng vỏ ngữ

âm, dùng từ ngữ đúng nghĩa, dùng từ ngữ đúng sắc thái phong cách và phạm

vi sử dụng, sử dụng từ ngữ Hán Việt Thứ hai, chữa lỗi thông thường về dùng

từ ngữ: dùng từ ngữ sai vỏ ngữ âm, dùng từ ngữ sai do không hiểu nghĩa, và các loại lỗi khác như dùng từ ngữ sáo rỗng, dùng từ ngữ quá đáng, dùng từ ngữ sai phong cách, dùng từ ngữ lặp, từ ngữ thừa Trong mỗi mục đều có nhiều ví dụ minh họa rất cụ thể: nêu ví dụ, xác định từ sai, phân tích và đưa ra

Trang 10

cách chữa Đặc biệt, phần chữa lỗi thông thường về dùng từ, tác giả còn nêu lí thuyết về nguyên nhân và cách chữa cho từng loại lỗi một cách cụ thể Ở cuối chương 2 là phần bài tập với các dạng: phân tích các từ gạch chân (dùng sai)

và chữa lại, chọn từ thích hợp để điền vào chỗ trống, chọn cách giải nghĩa đúng cho các từ, gọi tên loại lỗi những từ ngữ có gạch chân trong các câu [4] Tất cả được trình bày rất rõ ràng, cụ thể, cung cấp cho người đọc, nhất là giáo viên nhiều kiến thức cần thiết về kỹ năng sử dụng từ ngữ và đặc biệt cách chữa lỗi cho các đối tượng học sinh khác nhau

Cũng trong giáo trình mang tên Tiếng Việt thực hành, nhóm tác giả Bùi

Minh Toán (chủ biên) - Lê A - Đỗ Việt Hùng đã dành chương 6 trình bày về dùng từ trong văn bản Theo các tác giả, dùng từ phải đúng âm thanh và hình thức cấu tạo, dùng từ phải đúng về nghĩa, dùng từ phải đúng về quan hệ kết hợp, dùng từ phải thích hợp với phong cách ngôn ngữ của văn bản, dùng từ phải đảm bảo tính hệ thống của văn bản, dùng từ cần tránh hiện tượng lặp từ, thừa từ không cần thiết và bệnh sáo rỗng, công thức Về cách dùng từ trong các loại văn bản khoa học, nghị luận và hành chính: gồm lựa chọn và thay thế

từ, các tác giả đã nhấn mạnh: “Sự lựa chọn có thể diễn ra giữa những từ tuy không gần nghĩa, đồng nghĩa, nhưng lại có thể thay thế cho nhau được trong câu văn, trong văn bản Ở đây cần chọn từ vừa phù hợp trong quan hệ kết hợp với những từ xung quanh, vừa diễn tả chính xác nội dung, vừa mang sắc thái tinh tế và đáp ứng các yêu cầu khác của việc dùng từ” [52, tr.205] Giáo trình cũng nêu cách chữa các lỗi về từ trong văn bản: Lỗi về âm thanh và hình thức cấu tạo của từ, lỗi về nghĩa của từ, lỗi về kết hợp từ, lỗi về phong cách và tương ứng với điều đó là các cách chữa lỗi Các tác giả nêu một số luận điểm:

a) Muốn phát hiện và sửa chính xác các lỗi về từ, trước hết cần nắm bắt

và lĩnh hội thật sát nội dung định diễn đạt của người viết Để đạt được điều đó cần căn cứ vào cả câu, cả đoạn văn, thậm chí cả văn bản mà trong đó từ được

Trang 11

sử dụng; đồng thời cần huy động những hiểu biết, những vốn kiến thức nhiều mặt đã tích lũy được Có nắm được nội dung định diễn đạt của người viết một cách chính xác thì mới phát hiện đúng và sửa đúng lỗi về từ

b) Khi sửa có thể thay từ, loại bỏ từ, thêm từ, thậm chí thay đổi thứ tự các từ và cả cách diễn đạt, nhưng cần đảm bảo tôn trọng, trung thành ở mức tối đa cả nội dung định diễn đạt và cả cách diễn đạt mà người viết sử dụng Được như thế, việc sửa chữa mới bổ ích, mới có tác dụng “uốn nắn lệch lạc”,

mà không phải việc viết thay, viết lại

c) Việc chữa từ cần chú ý đến nhiều phương diện Từ thay thế cho từ sai cần đảm bảo được sự đúng đắn về âm, về nghĩa, về quan hệ kết hợp với các từ khác trong câu và cả về đặc điểm phong cách của văn bản… Nếu chỉ chú ý chữa đúng về một mặt nào đó thì từ có thể vẫn sai ở một phương diện khác

d) Phát hiện và sửa chữa các lỗi về dùng từ không phải là việc làm chỉ

có quan hệ đến ngôn ngữ, đến lời nói, câu văn, mà chính là liên quan mật thiết đến lĩnh vực nhận thức, tư duy Do đó, muốn khắc phục được các lỗi về dùng

từ, hoặc muốn phát hiện và sửa chữa chính xác các lỗi đó, cần không ngừng nâng cao trình độ nhận thức, năng lực tư duy đồng thời với việc tích lũy, bồi dưỡng vốn từ và nâng cao trình độ sử dụng từ [52, tr 214-215]

Cuốn Tiếng Việt thực hành của Nguyễn Minh Thuyết (chủ biên)

-Nguyễn Văn Hiệp, cũng có phần chữa các lỗi thông thường về dùng từ trong văn bản, nhưng chỉ đề cập đến ba loại lỗi cụ thể: lặp từ, dùng từ không đúng nghĩa, dùng từ không hợp phong cách Tài liệu này vừa nêu lý thuyết vừa đưa

ra ví dụ cụ thể để phân tích và sửa chữa cho từng loại lỗi, bên cạnh đó cũng đưa ra nhiều bài tập nhằm rèn luyện kĩ năng dùng từ ngữ để người học thực hành [48]

Công trình Dạy và học từ Hán Việt ở trường phổ thông, Đặng Đức Siêu

nêu một số hiện tượng hiểu sai và dùng sai từ Hán Việt Bên cạnh việc chỉ ra

Trang 12

những nguyên nhân dùng sai, tác giả đi sâu phân tích một số trường hợp dùng

sai như: văn hoa, hội hôn, đa chồng, cứu cánh, thăm quan Cuối cùng, tác

giả lưu ý: “Đành rằng trong thực tế sử dụng, từ Hán Việt cũng có thể có những biến động nhất định, về các mặt mang tính chất tự nhiên, tự phát, nhưng về căn bản, việc hiểu và dùng từ Hán Việt cần phải dựa trên sự quy phạm hoá, chuẩn hoá, đúc kết từ những nhận thức khoa học và tập quán sử dụng của hàng ngàn thế hệ người bản ngữ, trong đó, nổi bật lên vai trò dẫn đường của những nhân tài song ngữ Việt Hán, của những tác giả tiêu biểu đã sáng tạo ra biết bao nhiêu tác phẩm mẫu mực thuộc đủ mọi thể loại Đó là nguồn cung cấp những tri thức, kỹ năng chủ yếu tạo nên khả năng hiểu đúng

và dùng đúng từ Hán Việt cho lớp người trẻ tuổi dưới mái trường phổ thông” [36, tr 88-98]

Nguyễn Hoài Nguyên trong giáo trình Thực hành văn bản tiếng Việt có

mục Các loại lỗi dùng từ, đề cập đến lỗi dùng từ không đúng hình thức âm thanh và cấu tạo; dùng từ không đúng nghĩa; dùng từ không đúng thuộc tính ngữ pháp và chức năng; dùng từ không đúng phong cách ngôn ngữ Các kiểu lỗi và cách chữa đã được tác giả trình bày thuyết phục qua những ví dụ cụ thể [29, tr 234-238]

Những bài viết và những công trình trên đây đã cung cấp cho ta một cái nhìn khá toàn diện và đầy đủ về vấn đề lỗi và cách chữa lỗi dùng từ cho học sinh Tuy nhiên, trong thực tế hành ngôn, các lỗi cụ thể hết sức đa dạng, phong phú, buộc người dạy phải trang bị những tri thức về từ ngữ, phải có cái nhìn phân tích, và nhất là trong khâu chữa lỗi, phải luôn luôn tuân thủ nguyên tắc hệ thống, nguyên tắc hướng vào hoạt động giao tiếp,

để tác động vào học sinh không chỉ về mặt sử dụng ngôn ngữ, mà quan trọng hơn là khả năng tư duy Đây cũng là những điều thúc đẩy chúng tôi thực hiện đề tài đã chọn

Trang 13

3 Đối tượng và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Các kiểu lỗi về từ ngữ của học sinh trung học phổ thông trên địa bàn Trảng Bàng - Tây Ninh, nguyên nhân và đề xuất các phương pháp dạy học đối với việc chữa lỗi

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Yêu cầu về cách dùng từ ngữ của học sinh Trung học phổ thông trong các loại văn bản

- Khái quát các loại lỗi về từ ngữ mà học sinh Trung học phổ thông thường mắc phải

- Một số biện pháp chữa lỗi về từ ngữ

4 Mục đích nghiên cứu

Đề xuất và thể nghiệm một số biện pháp chữa lỗi về từ ngữ cho học sinh Trung học phổ thông, nhằm khắc phục, hạn chế việc dùng sai từ ngữ trong khi viết và nói, để đạt hiệu quả cao trong giao tiếp, học tập

5 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng phối hợp các phương pháp thuộc cả hai nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết và phương pháp nghiên cứu thực tiễn Cụ

thể là phương pháp phân tích và tổng hợp lý thuyết, phương pháp quan sát,

phương pháp điều tra, phương pháp thực nghiệm.

6 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, nội dung luận văn

gồm 3 chương

Chương 1 Cơ sở lý thuyết và thực tiễn của đề tài

Chương 2 Các nguyên tắc và biện pháp chữa lỗi về từ ngữ cho học sinh Trung học phổ thông ở Trảng Bàng - Tây Ninh

Chương 3 Thực nghiệm sư phạm

Trang 14

Chương 1

CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

1.1 Cơ sở lý thuyết của đề tài

1.1.1 Vai trò của từ ngữ trong hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ dạng nói

Nói và viết là hai phương tiện giao tiếp của ngôn ngữ Hàng ngày, với

tư cách là người sử dụng ngôn ngữ, chúng ta thường nói nhiều hơn viết Trong những năm đầu đời, ngay từ khi đến trường trẻ em tiếp thu ngôn ngữ trước hết ở hình thức nghe - nói, rồi mới dần dần học cách nhận biết những sự việc khác nhau về thế giới xung quanh thông qua ngôn ngữ, bằng các kỹ năng nghe, nói, đọc, viết

Hoạt động giao tiếp là hoạt động trao đổi thông tin của con người trong

xã hội, được tiến hành chủ yếu bằng phương tiện ngôn ngữ (dạng nói hoặc dạng viết), nhằm thực hiện những mục đích về nhận thức, về tình cảm, về hành động,… Đây là nhu cầu tất yếu của con người Nhìn chung, trong đời sống hằng ngày, giao tiếp dạng nói diễn ra nhiều hơn giao tiếp dạng viết Khi nói, con người phải dùng từ ngữ kết hợp lại với nhau thành câu, mỗi câu nói đều mang một nội dung, một ý nghĩa nhất định nào đó

Nhờ có từ ngữ mà con người giao tiếp với nhau một cách rất dễ dàng Ngôn ngữ dạng nói là ngôn ngữ âm thanh, là lời nói trong giao tiếp hàng ngày Trong ngôn ngữ nói, từ ngữ được sử dụng khá đa dạng: có những lớp

từ ngữ mang tính khẩu ngữ, có cả những từ ngữ địa phương, các biệt ngữ, các trợ từ, thán từ, các từ ngữ đưa đẩy, chêm xen,…

Do giao tiếp bằng ngôn ngữ nói diễn ra tức thời, mau lẹ, nên người nói thường không có điều kiện lựa chọn, gọt giũa từ ngữ Từ ngữ là tài sản chung của xã hội và mỗi người có cách dùng từ ngữ khác nhau Có người sử dụng từ

Trang 15

ngữ hoa mĩ, có người dùng từ ngữ rất bình thường, giản dị Sở dĩ có sự khác nhau đó là do tính cách, trình độ, nghề nghiệp của người sử dụng ngôn ngữ khác nhau

Như vậy, nhờ có từ ngữ nên con người mới có thể giao tiếp được với nhau bằng ngôn ngữ nói Giao tiếp bao giờ cũng nhằm một mục đích nhất định, mục đích ấy có đạt được hay không, đạt được đến mức nào điều đó phụ thuộc khá nhiều vào việc lựa chọn và sử dụng từ ngữ Có thể nói, từ ngữ là công cụ quan trọng để diễn đạt ý tưởng Vốn từ của một ngôn ngữ bao giờ cũng mang tính xã hội, nhưng việc sử dụng từ ngữ lại mang đậm dấu ấn cá nhân Nó phản ánh năng lực nhận thức, phản ánh trình độ tư duy, thậm chí còn phản ánh thói quen, cá tính và thẩm mĩ của mỗi con người cụ thể

1.1.2 Vai trò của từ ngữ trong việc tạo lập các loại văn bản dạng viết

Thuở ban đầu, loài người trao đổi ý nghĩ, tình cảm với nhau bằng ngôn ngữ nói Sau này khi sáng tạo ra chữ viết, người ta dùng chữ viết cùng với tiếng nói để thông tin với nhau Chữ viết ra đời đánh dấu một bước phát triển mới trong lịch sử văn minh nhân loại, từ đó, bên cạnh ngôn ngữ nói còn có ngôn ngữ viết, và cao hơn nữa là văn bản viết

Văn bản là sản phẩm của hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ, gồm một hay nhiều câu, nhiều đoạn Văn bản viết được thể hiện bằng chữ viết, được tiếp nhận bằng thị giác Cho nên muốn viết và đọc văn bản, đòi hỏi cả người viết lẫn người đọc phải biết các kí hiệu chữ viết, các quy tắc chính tả, các quy cách tổ chức văn bản

Văn bản viết được tạo nên bởi rất nhiều từ ngữ kết hợp với nhau, từ ngữ được lựa chọn, thay thế nên có điều kiện đạt được tính chính xác Đồng thời, tùy thuộc vào phong cách ngôn ngữ của văn bản mà người viết sử dụng với tầng số cao các từ ngữ phù hợp với từng loại văn bản Nhìn chung, trong văn bản viết, người ta tránh dùng các từ mang tính khẩu ngữ, từ địa phương,

Trang 16

tiếng lóng, tiếng tục, Về câu, thường có câu dài, nhiều thành phần nhưng được tổ chức mạch lạc, chặt chẽ nhờ các quan hệ từ và sự sắp xếp các thành phần phù hợp.

Văn bản viết bao giờ cũng thuộc về một phong cách chức năng nhất định Các phong cách chức năng có những yêu cầu khác nhau về sử dụng từ ngữ (ví dụ: phong cách nghệ thuật khác với phong cách khoa học, phong cách chính luận khác với phong cách hành chính ) Điều này đòi hỏi người viết phải nắm vững những yêu cầu sử dụng từ ngữ ở những loại văn bản cụ thể để lựa chọn cho phù hợp

Trước yêu cầu soạn thảo một văn bản, người viết dĩ nhiên phải huy động vốn liếng ngôn ngữ của mình, trong đó có vốn từ ngữ Một khi vốn từ ngữ đầy đặn, phong phú, người viết sẽ dễ dàng hơn trong diễn đạt Ngược lại,

sẽ là tình trạng “bí từ”, không diễn đạt được những điều muốn nói Nhiều nhà văn đã có những “kinh nghiệm xương máu” về vấn đề này Đọc bài viết của học sinh, ta dễ dàng nhận thấy tình trạng đã khiến các em khổ sở như thế nào trong làm bài hoặc soạn thảo một văn bản thông dụng nào đó

1.1.3 Những yêu cầu khi sử dụng từ ngữ

Khi nói hay viết đều phải dùng từ Từ là đơn vị ngôn ngữ đã có sẵn, thuộc kho từ vựng của ngôn ngữ, và tồn tại trong tiềm năng ngôn ngữ của mỗi người Nó là tài sản chung của xã hội Khi giao tiếp, mỗi người huy động vốn tài sản đó để tạo ra lời nói hoặc văn bản Mỗi người có thể có phong cách ngôn ngữ cá nhân, có thể có đóng góp và sáng tạo trong việc dùng từ Tuy nhiên, giao tiếp là một hoạt động xã hội, muốn biểu đạt được chính xác ý tưởng đó, mỗi người lại phải dùng từ theo những yêu cầu chung Có thể nhận thấy những yêu cầu cơ bản sau:

Thứ nhất, dùng từ phải đúng âm thanh và hình thức cấu tạo.

Từ là một đơn vị có nhiều bình diện trong đó không thể thiếu mặt âm thanh và hình thức cấu tạo Âm thanh và hình thức cấu tạo là mặt vật chất, là

Trang 17

cái biểu đạt của từ Chữ viết của ta (chữ quốc ngữ) là một thứ chữ theo nguyên tắc ghi âm Cho nên khi nói hay viết, phải ghi đúng âm thanh và hình thức cấu tạo của từ Nếu không sẽ không biểu hiện được chính xác và không làm cho người đọc, người nghe lĩnh hội được đúng nội dung, ý nghĩa của câu nói.

Tuy nhiên, cần phân biệt việc dùng từ không đúng âm thanh và hình thức cấu tạo với hai hiện tượng sau đây:

Thứ nhất, dùng các từ đồng âm Trong tiếng Việt có những từ đồng âm

- các từ có âm thanh giống nhau nhưng nghĩa khác nhau Những từ này không thừa, cũng không gây cản trở cho quá trình giao tiếp, vì chúng còn có chỗ dựa

là hoàn cảnh giao tiếp, là ngữ cảnh Chẳng những thế, người ta còn dùng các

từ đồng âm làm một biện pháp nghệ thuật - nghệ thuật chơi chữ - dẫn tới những bất ngờ, thú vị Hiện tượng này thường xuyên gặp trong sinh hoạt, trong văn học dân gian và cả văn học bác học Ví dụ:

Bà già đi chợ cầu Đông

Bói xem một quẻ lấy chồng lợi chăng

Thầy bói xem quẻ đoán rằng

Lợi thì có lợi nhưng răng chẳng còn.

(Ca dao)

Nhà cửa lầm than, con thơ dại biết lấy ai rèn cặp;

Cơ đồ bỏ bễ, vợ trẻ trung e lắm kẻ đe loi.

(Câu đối Viếng người thợ rèn của Nguyễn Khuyến)

Không thể cho rằng trong những trường hợp này, các từ được dùng không đúng âm thanh Cùng một âm thanh nhưng ở đây gợi được hai ý nghĩa khác nhau, không lẫn lộn với nhau, nhưng cũng không triệt tiêu nhau Cái tài của người chơi chữ bằng các từ đồng âm là ở chỗ đó

Thứ hai, hiện tượng sáng tạo các từ mới Khi nói hay viết, người ta vẫn

thường có thể tạo ra các từ mới, với một hình thức âm thanh và một nội dung

Trang 18

ý nghĩa có phần khác và mới so với những từ vốn có Đây không phải là việc dùng sai một từ vốn có, mà là việc tạo ra một từ mới Thế nhưng từ mới này được tạo ra không phải một cách tùy tiện, ngẫu hứng mà trên cơ sở của những

từ vốn có, dựa vào những từ vốn có cả ở mặt âm thanh và ý nghĩa, do đó có mối quan hệ theo hệ thống với những từ vốn có Chính mối quan hệ này làm cho người nghe, người đọc, khi tiếp nhận từ mới đó lần đầu tiên, vẫn có thể lĩnh hội được, hiểu được Nghĩa là, tuy mới xuất hiện lần đầu tiên, nhưng từ

đó vẫn thực hiện được nhiệm vụ giao tiếp

Hơn nữa, ngay cả những từ vốn có, trong khi sử dụng, người ta vẫn có thể dùng một cách linh hoạt, uyển chuyển, có thể biến đổi ít nhiều âm thanh

và hình thức cấu tạo theo những quan hệ và quy luật chung diễn ra ở nhiều từ:

biến âm (nào -> nao: Nhớ ai tát nước bên đường hôm nao - Ca dao), tách và chen các thành tố cấu tạo (Biết bao bướm lả ong lơi - Truyện Kiều), rút ngắn

hay đổi vị trí cấu tạo,…

Như thế, một mặt cần phải tuân thủ nghiêm ngặt yêu cầu dùng từ đúng

âm thanh và hình thức cấu tạo, mặt khác không nên hiểu nó một cách máy móc, cứng nhắc Cần phân biệt nó với việc dùng từ một cách sáng tạo, uyển chuyển, dựa trên những mối quan hệ và quy luật của ngôn ngữ

Thứ hai, dùng từ phải đúng nghĩa.

Ý nghĩa là một bình diện của từ Nó là cái được biểu đạt của mỗi từ Do

đó, muốn đạt được hiệu quả giao tiếp, khi nói cũng như khi viết, phải dùng từ cho đúng với ý nghĩa của từ Khi hướng tới yêu cầu này, cần chú ý đến những phương diện cụ thể như sau:

- Từ được dùng phải biểu hiện được chính xác nội dung cần thể hiện, nghĩa là ý nghĩa của từ phải phù hợp với nội dung định thể hiện

- Nghĩa của từ bao gồm cả thành phần nghĩa sự vật, cả thành phần nghĩa biểu thái (biểu hiện thái độ, tình cảm, cảm xúc của con người) Chẳng

Trang 19

hạn: các từ biếu, tặng, dâng, hiến, thí, bố thí, cho,… đều có nghĩa sự vật là

“chuyển các vật sở hữu của mình để người khác dùng mà không cần trả lại hoặc đổi bằng vật khác”, nhưng mỗi từ lại có sắc thái biểu cảm khác nhau:

+ Biếu: cho người trên với thái độ kính trọng.

+ Thí: cho kẻ dưới với thái độ khinh bỉ.

+ Hiến: cho một sự nghiệp thiêng liêng, cao cả.

Vì thế, khi dùng từ cần phải đạt được yêu cầu: vừa đúng về nghĩa sự vật, vừa đúng về nghĩa tình thái, biểu cảm

- Nghĩa của từ bao gồm cả nghĩa đen và nghĩa bóng (nghĩa gốc và nghĩa chuyển đổi, nghĩa phái sinh) Mỗi từ, ngoài nghĩa đen, nghĩa gốc, còn

có thể có nhiều nghĩa chuyển đổi, nghĩa phái sinh, tạo nên hiện tượng nhiều nghĩa Các nghĩa này phát triển từ nghĩa gốc và có quan hệ với nhau trên cơ

sở duy trì một nét nghĩa giống nhau nào đó

Tóm lại, yêu cầu dùng từ đúng nghĩa cần được hiểu với một phạm vi rộng và linh hoạt Cần đảm bảo tính chính xác giữa nghĩa vốn có của từ với nội dung định biểu hiện, đảm bảo đúng cả nghĩa sự vật lẫn nghĩa tình thái của

từ, song từ có thể được dùng không phải chỉ với nghĩa đen, nghĩa gốc, mà có thể dùng với nghĩa chuyển đổi Hơn nữa, có những nghĩa lần đầu tiên được chuyển đổi nhưng nhờ giữ được mối liên hệ với nghĩa gốc nên sự giao tiếp giữa người với người vẫn đạt được hiệu quả tốt

Thứ ba, dùng từ phải đúng về quan hệ kết hợp.

Các từ khi được dùng trong câu, trong văn bản, luôn luôn có mối quan

hệ với nhau về ngữ nghĩa và ngữ pháp Chúng nằm trong các mối quan hệ với những từ đi trước và những từ đi sau Các mối quan hệ này có thể có cơ sở ngay trong bản chất ngữ nghĩa - ngữ pháp của mỗi từ và nó được thể hiện ra bằng sự kết hợp của các từ

Thứ tư, dùng từ phải thích hợp với phong cách ngôn ngữ.

Trang 20

Mỗi phong cách ngôn ngữ của văn bản được sử dụng trong một phạm

vi nhất định của cuộc sống xã hội và nhằm thực hiện một chức năng nhất định, hướng tới một mục tiêu giao tiếp nhất định Do đó, mỗi phong cách văn bản đòi hỏi và cho phép dùng những lớp từ nhất định, nghĩa là từ trong mỗi phong cách văn bản mang những đặc điểm nhất định

Có những từ dùng được trong mọi phong cách văn bản, nhưng có những từ chỉ thích hợp hoặc chỉ được dùng trong một phong cách ngôn ngữ nào đó Lớp từ địa phương chẳng hạn, được dùng trong sinh hoạt hàng ngày

và có thể thích hợp với văn bản nghệ thuật để tạo nên một sắc thái quê hương gần gũi, một tình cảm thân thương của những người cùng nơi chôn nhau cắt rốn:

Rứa là hết! Chiều ni em đi mãi

Còn mong chi ngày trở lại Phước ơi !

(Tố Hữu)Nhưng trong một văn bản nghị luận chính trị, một văn bản hành chính hoặc văn bản khoa học thì không thể dùng từ địa phương như vậy

Thứ năm, cần tránh hiện tượng lặp từ, thừa từ

Văn bản trong giao tiếp cần cô đọng, vừa đủ về dung lượng Do đó, trong việc dùng từ cần tránh hiện tượng thừa từ hoặc lặp từ khi không cần thiết

Thừa từ, lặp từ khác với biện pháp điệp từ, điệp ngữ để tăng thêm hiệu quả biểu đạt Trong nhiều trường hợp, biện pháp điệp từ, điệp ngữ nhằm mục đích nhấn mạnh, hoặc bổ sung thêm ý nghĩa, hoặc tạo cho câu văn một nhịp điệu thích hợp với nội dung biểu đạt

1.1.4 Vấn đề lỗi trong sử dụng từ ngữ

Lỗi về từ ngữ là cách dùng những từ ngữ làm cho người tiếp nhận thông tin hiểu sai, không hiểu hoặc không chấp nhận, không phù hợp với tư duy của con người Tuy nhiên, khi nhìn nhận lỗi về từ ngữ, cần dựa vào

Trang 21

những kiến thức chung về từ ngữ được cộng đồng chấp nhận Có khi trong tư duy của người nói (người viết) thì đúng, nhưng do năng lực ngôn ngữ còn hạn chế nên không truyền đạt hết những điều cần thông báo, làm người nghe (người đọc) không hiểu được nội dung Hoặc muốn sáng tạo ra những cái mới, để hấp dẫn, lôi cuốn mọi người, nhưng đôi khi chính những cái mới đó lại làm cho người đọc (người nghe) hiểu sai nghĩa, không phù hợp với sự chấp nhận chung của cộng đồng Tuy nhiên, nếu các sáng tạo đó phù hợp với cộng đồng, được cộng đồng chấp nhận thì nó lại có sức hấp dẫn nhất định Những trường hợp đó, không thể xem là lỗi

Khi xác định lỗi về từ ngữ, phải dựa trên những đặc trưng về phong cách chức năng, tu từ học, tránh cứng nhắc, rập khuôn Mỗi phong cách chức năng khác nhau lại có cách viết, cách sử dụng từ ngữ khác nhau Lỗi về từ ngữ có liên quan đến nhiều mặt khác nhau của ngôn ngữ học như phong cách học, từ vựng học, ngữ pháp học, Mỗi mặt đều có hệ thống chuẩn mực riêng, dựa vào đó, cho người ta xác định được đâu là lỗi từ ngữ

Theo Nguyễn Minh Thuyết và Nguyễn Văn Hiệp, trong các văn bản thường mắc các loại lỗi sau:

- Lỗi lặp từ, thừa từ

- Lỗi thiếu từ

- Lỗi dùng từ sai nghĩa

- Lỗi sai về phong cách [49]

Tác giả Hoàng Anh lại chia lỗi thành bốn loại:

Trang 22

Dùng sai ngữ âm của từ ngữ sẽ làm cho người đọc, người nghe không

hiểu hoặc hiểu sai từ ngữ đó Chẳng hạn có câu: “Một tương lai sáng lạn

đang đợi chờ phía trước” Ở đây lẽ ra phải dùng xán lạn nghĩa là tươi sáng,

đẹp đẽ, nhưng người viết lại dùng sáng lạn là một tổ hợp vô nghĩa Hoặc:

“Nghe phong phanh năm sau sẽ chỉ còn một kỳ thi quốc gia, sau đó dùng kết quả ấy để xét vào các trường đại học” thì phải dùng phong thanh là thoáng

nghe được, thoáng biết được nhưng chưa lấy gì làm chắc chắn mới đúng, còn

phong phanh là mặc ít, mỏng manh, không đủ ấm.

Nguyên nhân của những kiểu lỗi trên là do người viết cẩu thả, nhớ mang máng về âm và nghĩa, không phân biệt được sự khác nhau rất lớn về nghĩa khi các từ chỉ chênh lệch nhau một chút về ngữ âm Cho nên, có tình trạng người nói, người viết muốn dùng từ để diễn đạt ý nghĩa này nhưng lại dùng chệch sang một từ quen dùng khác gần âm với từ định dùng Hậu quả là đặt người nghe, người đọc hoặc trước một từ ngữ mới có ý nghĩa khác hẳn với điều mình ngụ ý, hoặc trước một từ vô nghĩa

Thứ hai, dùng từ ngữ sai do không hiểu nghĩa.

Trường hợp phổ biến là lỗi thường xảy ra giữa các từ gần nghĩa, hoặc

có yếu tố cấu tạo chung Tuy có phần giống nhau về nghĩa, hoặc cả về yếu tố

Trang 23

cấu tạo, nhưng nghĩa của các từ đó vẫn có sự khác nhau và sử dụng không

giống nhau Chẳng hạn: “Trường hợp này, chúng ta cần sinh động” thì từ

sinh động (có sức sống, với nhiều dạng vẻ khác nhau) dùng ở đây là không

được, đúng ra phải linh động (ở trạng thái động và có sự biến đổi khéo léo tùy

theo tình thế)

Thứ ba, dùng từ ngữ sai phong cách.

Thường người sử dụng đưa từ ngữ thuộc ngôn ngữ nói vào văn bản viết

và ngược lại, hoặc dùng từ không thích hợp với thể loại văn bản Những kiểu lỗi này do người nói (người viết) chưa ý thức rõ về chuẩn mực phong cách

Thứ tư, dùng từ ngữ lặp.

Trong nhiều trường hợp (nhất là trong văn bản viết), lặp từ được coi là một phương tiện ngôn ngữ dùng để nhấn mạnh ý tưởng hoặc được coi là một biện pháp nghệ thuật để liên kết và tạo nên những giá trị có tính thẩm mỹ Thế nhưng, nếu sử dụng hiện tượng lặp từ một cách vô ý thức hoặc dùng với dụng

ý tu từ nhưng không thành công thì đó sẽ là một kiểu lỗi Điều này chứng tỏ

sự nghèo nàn về vốn từ và sự dễ dãi của người viết - điều tối kị trong văn viết

Thứ năm, dùng từ ngữ thừa.

Dùng từ ngữ thừa là loại lỗi rất gần với loại lỗi dùng từ khẩu ngữ Nói khác đi, nó là sản phẩm của sự tùy tiện trong việc sử dụng từ ngữ hay phản ánh một lối tư duy không mạch lạc, không sáng sủa Sự xuất hiện của những

từ ngữ thừa làm câu văn nặng nề, gây cảm giác khó chịu ở người đọc

1.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài

1.2.1 Thực trạng sử dụng từ ngữ của học sinh trung học phổ thông (qua khảo sát ở Trảng Bàng - Tây Ninh)

1.2.1.1 Giới thiệu sơ lược về các trường trung học phổ thông ở huyện Trảng Bàng - Tây Ninh

Trảng Bàng là một huyện đang trên đà phát triển, nằm ở phía Đông Nam tỉnh Tây Ninh, giáp với thành phố Hồ Chí Minh, Bình Dương, Long An

Trang 24

và còn giáp với Campuchia Huyện có 4 trường THPT: Nguyễn Trãi, Trảng Bàng, Lộc Hưng và Bình Thạnh Trong đó, Nguyễn Trãi không chỉ là trường điểm của huyện mà còn là một trong năm trường nổi tiếng của tỉnh, toàn trường có khoảng 1250 học sinh, đa số các em đạt học lực giỏi Các trường còn lại có quy mô nhỏ hơn, mỗi trường khoảng 800 học sinh, đa số học sinh học lực trung bình, khá Trường Nguyễn Trãi và trường Trảng Bàng được xây dựng ngay thị trấn - trung tâm huyện, trường Lộc Hưng nằm trên một xã vùng sâu phía Đông của huyện, còn trường Bình Thạnh ở xã vùng xa, vùng biên giới phía Tây huyện.

Đối với môn Ngữ văn, các trường đều tổ chức dạy - học ban cơ bản, ngoài việc thực hiện theo sách giáo khoa với số tiết quy định thì trường Trảng Bàng, Lộc Hưng và Bình Thạnh còn dạy - học chủ đề tự chọn (bám sát) ở mỗi lớp 1 tiết/ tuần Số lượng giáo viên có trình độ thạc sĩ rất ít: 2/28 (chiếm 7,1

%) Mặc dù không có điều kiện theo học Sau đại học, nhưng nhìn chung, các giáo viên đều tích cực tự học để vững chuyên môn, nghiệp vụ nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy Tuy nhiên, bên cạnh đó, vẫn còn có một vài giáo viên trẻ mới ra trường chưa có kinh nghiệm giảng dạy, chưa quản lí tốt học sinh trong giờ dạy học và cũng có vài giáo viên lớn tuổi với tư tưởng an phận, không chịu học tập, ngại ứng dụng công nghệ thông tin Về phía học sinh, đa

số các em chỉ tập trung học tập các môn: Toán, Vật lý, Hóa học, Anh văn; ít quan tâm, đầu tư cho môn Ngữ văn Vì thế, học sinh trường điểm của huyện đạt giải quốc gia các môn thuộc lĩnh vực tự nhiên là việc rất thường xuyên Còn đối với môn Ngữ văn, những năm gần đây, có giải học sinh giỏi cấp tỉnh cũng là điều rất hiếm hoi thì nói chi đến giải quốc gia

1.2.1.2 Kết quả điều tra, khảo sát

Chúng tôi khảo sát lỗi dùng từ trong 400 bài làm của học sinh 4 trường trên địa bàn huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh: THPT Nguyễn Trãi, THPT

Trang 25

Trảng Bàng, THPT Lộc Hưng và THPT Bình Thạnh Chúng tôi đã phân loại các kiểu lỗi, kết quả như sau:

a Lỗi dùng từ ngữ không dúng ngữ âm

Bảng 1.1 Thống kê lỗi dùng từ ngữ không đúng ngữ âm

TT CÂU CÓ LỖI DÙNG TỪ TỪ BỊ LỖI DÙNG

ĐÚNG

1 Hè này, lớp 10 C3 đi thăm quan Đà Lạt

một tuần

thăm quan tham quan

2 Mị Châu chết, Trọng Thủy đau đớn,

dằn vặt khôn ngôi.

khôn ngôi khôn nguôi

3 Mội người vui vẻ vì ngôi trường đã xây

6 Năm 2013 là năm an toàn giao thông, vì

vậy, các biển ngữ được trương lên nơi

công cộng rất nhiều

biển ngữ biểu ngữ

7 Ai cũng có những khoảnh trời riêng. khoảnh trời khoảng trời

8 Dưới ngòi bút hào hoa của Nguyễn

Đình Chiểu, người nông dân hiện lên

như một chiến binh không biết khuất

phục trước quân thù

hào hoa tài hoa

Trang 26

b Lỗi dùng từ ngữ không chính xác nghĩa

Bảng 1.2 Thống kê lỗi dùng từ ngữ không chính xác nghĩa

TT CÂU CÓ LỖI DÙNG TỪ TỪ BỊ LỖI DÙNG

ĐÚNG

1 Bánh tráng phơi sương đã trở thành

món ăn chủ lực của người dân Tây Ninh.

chủ lực chủ yếu

2 Trảng Bàng là vùng đất có cư dân sinh

sống lâu dài nhất tỉnh Tây Ninh.

lâu dài lâu đời

3

Mỗi tô bánh canh đều được trình bày

rất sắc sảo để mọi người nhìn vào là

muốn ăn

sắc sảo bắt mắt

4 Có được một cái bánh tráng phải trải

qua nhiều giai đoạn.

giai đoạn công đoạn

5 Tự học là một trong những phương án

học tập tốt

phương án phương pháp

6

Trong thời kì công nghiệp hóa, hiện đại

hóa đất nước, vấn đề nâng cao trí thức

rất quan trọng

trí thức tri thức

7 Nếu không có sự quyết tâm thì sẽ

không đoạt được mục đích.

8 Tự học giúp chúng ta nâng cao trí óc. trí óc kiến thức

9

Là một nhà văn tài ba, độc đáo,

Nguyễn Tuân thích miêu tả những cái

dữ dội, mãnh liệt

tài ba tài hoa

10 Chúng ta có nghĩa vụ giữ gìn những

tinh tú của dân tộc.

tinh tú tinh túy

11 Xuân Quỳnh là một nhà thơ nổi tiếng thời gian thời kì

Trang 27

trong thời gian kháng chiến chống Mĩ

12

Nhân đạo ở chỗ tác giả đã nhận thức

được phẩm chất tốt đẹp của người nông

dân khi họ bị dồn đến bước đường cùng

nhận thức phát hiện

13

Áo dài đã trở thành một trong những di

sản truyền thống của dân tộc, chiếc áo

dài đơn điệu, mềm mại cũng như người

con gái Việt Nam

đơn điệu giản dị

14

Trong cuộc sống ngày nay vẫn có nhiều

người sống với thái độ bàng quang vô

trách nhiệm, chỉ lo cho mình còn lợi ích

chung của tập thể thì không biết đến

Thơ của Xuân Quỳnh thổi vào văn học

Việt Nam làn gió mới mẻ và ấm áp, làm

điêu đứng bao tâm hồn.

điêu đứng rung động

17 Cả trường hối hả đón chào ngày 20/11. hối hả phấn khởi

18

Tôi nghe phong phanh rằng cuối năm

học này gia đình Lan sẽ chuyển về

thành phố

phong phanh

phong thanh

19 Mẹ tôi có đôi mắt tròn xoe. tròn xoe sâu

20

Vẻ đẹp của thiên nhiên tràn ngập sức

sống đã làm rung động con tim biết bao

người

tràn ngập tràn đầy

21 “Tôn sư trọng đạo” là một truyền thống

cao đẹp của dân tộc Vì vậy, chúng ta bảo vệ phát huy

Trang 28

phải giữ gìn và bảo vệ.

22 Làn da mẹ hào phóng. hào phóng hồng hào

23

Nguyễn Dữ sáng tác “Chuyện chức

phán sự đền Tản Viên” trong khoảng

thời gian ông cáo quan về ở ẩn, tác

“Hạnh phúc là đấu tranh” - lời nói của

Mác thật vĩ đại Mỗi thanh niên chúng

ta phải chiêm ngưỡng và thực hiện.

chiêm ngưỡng

chiêm nghiệm

27 Thầy cô giáo đã truyền tụng cho học

sinh rất nhiều kiến thức

truyền tụng truyền thụ/

truyền đạt

28

Núi Bà Đen là một danh lam thắng

cảnh mà trời đã ban tặng cho quê hương

Tây Ninh Tương truyền, ngọn núi này

rất thiêng liêng nên dân chúng thập

phương thường kéo đến chiêm bái

thiêng liêng linh thiêng

29 Anh ta có yếu điểm là lúng túng trước

đám đông

yếu điểm điểm yếu

30 Viên đá lấp lánh như một vì tinh túy. tinh túy tinh tú

31 Bọn cướp hiên ngang uy hiếp người đi

đường

hiên ngang ngang nhiên

32 Nhân dịp 20/11, lần đầu tiên tham gia

Trang 29

cuộc thi “Nét bút tri ân” với các trường

Trung học phổ thông do huyện đoàn

Trảng Bàng tổ chức, đoàn trường đã

đoạt giải khuyến khích Phần thưởng

tuy còn khiêm tốn nhưng rất có ý nghĩa

đối với trường

khiêm tốn

Thay từ

“phần thưởng” bằng

từ “thành quả”

33 Xem tivi cũng có mặt hại: nó vô hiệu

hóa sức khỏe của chúng ta.

vô hiệu hóa ảnh hưởng

đến

34 Ba em rất cao ráo. cao ráo cao lớn

35 Bạn cho biết địa chỉ để nếu tiện chúng

tôi sẽ ghé thăm tệ xá.

tệ xá bỏ từ “tệ xá”

36

Mặc cho mưa bom bão đạn, các chị vẫn

ngang nhiên chèo đò đưa bộ đội qua

sông

Ngang nhiên

hiên ngang

37 Ngay từ khi bước vào năm học lớp 10,

tôi đã nhất trí đi vào con đường sư phạm.

nhất trí quyết tâm/

quyết chí

38

Chị đã khẳng định con đường đánh giặc

của mình là đúng và tất yếu với câu nói

bất hủ: “Còn cái lai quần cũng đánh”.

bất hủ nổi tiếng/

hùng hồn

39 Với “Chữ người tử tù”, Nguyễn Tuân

đã cho ta hưởng thụ cái đẹp.

hưởng thụ biết cảm thụ

40

Trước và sau Cách mạng tháng Tám,

Kim Lân vẫn là nhà văn thuần hậu và

nguyên thủy của nông thôn Việt Nam.

thuần hậu, nguyên thủy

nhân hậu, thủy chung

41 Trong khối óc nhỏ xíu của mỗi học sinh như

đang ngổn ngang chất chồng bao ý nghĩ

nhỏ xíu non nớt

Trang 30

c Lỗi dùng từ ngữ không hợp phong cách

Bảng 1.3 Thống kê lỗi dùng từ ngữ không hợp phong cách

TT CÂU CÓ LỖI DÙNG TỪ TỪ BỊ LỖI DÙNG

ĐÚNG

1 Sau khi về nhà, em bị mẹ mắng te tua vì

cái tội trốn học đi chơi

te tua rất nhiều

2 Thầy cô giáo đã truyền đạt cho chúng ta

những kiến thức thật là bổ ích.

thật là rất

3 Cho dù thông minh cỡ nào nhưng nếu

không học bài thì cũng sẽ không tiến bộ

được

cỡ nào đến đâu

4 Hối hận thì đã muộn quá xá rồi. quá xá rồi quá rồi

5 Không quan tâm đến cái chuyện học

hành sẽ dẫn đến học lực yếu

cái chuyện việc

6 “Tôn sư trọng đạo” là một truyền thống

hết sức là cao đẹp của dân tộc ta.

hết sức là rất

7 Mị Châu bị An Dương Vương chém

đầu, máu cô ấy chảy xuống biển.

cô ấy nàng

8 Trọng Thủy tự tử ở giếng Loa Thành,

hồn anh ta xuống thủy cung và gặp lại

Mị Châu

anh ta chàng

9 Suốt cuộc đời này, tui không thể nào

quên được công ơn cha mẹ

10 Hồn ma tên tướng giặc trú ngụ trong ngôi

đền, Ngô Tử Văn đốt đền là đáng đời.

là đáng đời Bỏ từ “là

đáng đời”

11

“Chuyện chức phán sự đền Tản Viên”

kể về một nhân vật tên Ngô Tử Văn,

anh ta là một người cương trực, dũng

anh ta chàng

Trang 31

1 Nhân bánh xèo được làm từ những

nguyên liệu từ thiên nhiên.

từ Bỏ từ “từ”

(thứ 2)

2 Một cơn mưa rất to và gió ầm ầm thổi

đến, bầu trời như rung chuyển, mưa rất

4 Truyện dân gian có nhiều chi tiết tưởng

tượng, kì ảo nên em rất thích đọc

truyện dân gian.

truyện dân gian

Bỏ từ “truyện dân gian” (thứ 2)

5 Bằng khứu giác tôi đã ngửi thấy mùi

hương của hoa sen thơm ngát mùi

hương.

mùi hương Bỏ từ “mùi

hương” (thứ 2)

6 Ngô Tất Tố - nhà văn tiêu biểu cho nền

văn học hiện thực phê phán Việt Nam

trước cách mạng tháng Tám, người đã

lột tả cái xấu xa, cái bản chất đê hèn

của một cái xã hội thối nát, cái xã hội

không còn sự công bằng

cái, cái xã hội

Bỏ từ “cái” (thứ 2) và từ

“cái xã hội” (thứ 2)

7 Hôm nay là ngày chủ nhật, là ngày tôi

được nghỉ học, là ngày để tôi phụ giúp

gia đình làm việc nhà

là ngày, tôi Bỏ từ “là

ngày” (thứ 2)

và bỏ từ “tôi”

Trang 32

9 Con sông Đà rất hung hung bạo, dữ dội

và con sông Đà cũng rất hiền lành, thơ

mộng

Con sông Đà

Thay từ “con sông Đà” (thứ 2) bằng từ “nó”

10 Ngô Tất Tố là nhà văn của dòng hiện

Bảng 1.5 Thống kê lỗi dùng từ ngữ thừa

TT CÂU CÓ LỖI DÙNG TỪ TỪ BỊ LỖI DÙNG

ĐÚNG

1 Mỗi người chúng ta phải tự học. mỗi người

chúng ta

mỗi người

2 Trong cuộc sống luôn phát triển Trong Bỏ từ “trong”

3 Cần nên khắc ghi câu nói ấy vào trong

Bỏ từ “cao độ” hoặc từ

“sâu sắc”

5 Trong cuộc đời của mỗi con người, mẹ

là người rất quan trọng trong cuộc đời

của mỗi chúng ta.

Trong cuộc đời của mỗi chúng ta

Trang 33

đạo” vẫn là truyền thống tốt đẹp, cần

được giữ gìn

9 Mà thầy cô không bao giờ than phiền

mà thầy cô còn khuyên chúng ta cố

gắng học tập để thực hiện được ước mơ

của mình

mà thầy cô Bỏ “mà” (thứ

nhất) và “thầy cô” (thứ 2)

10 Qua câu tục ngữ trên đã cho ta thấy lời

dạy vô cùng quý giá của người xưa

Qua Bỏ “qua”

11 Quá trình vượt gian khổ là quá trình

con người trưởng thành và lớn lên.

trưởng thành và lớn lên

trường thành hơn

12 Xuân Diệu, khi còn là một học sinh

trung học, ông đã làm nhiều bài thơ

hay

Ông Bỏ “ông”

13 Nghề giáo viên nó khác với các nghề

khác là không chỉ dạy kiến thức khoa

f Lỗi dùng từ ngữ sai cấu tạo

Bảng 1.6 Thống kê lỗi dùng từ ngữ sai cấu tạo

TT CÂU CÓ LỖI DÙNG TỪ TỪ BỊ LỖI DÙNG

ĐÚNG

1 Bọn buôn lậu ngày càng tinh vi, chúng

đã chuyển hàng qua cửa khẩu Mộc Bài

Trang 34

Bảng 1.7 Thống kê lỗi dùng từ ngữ sai kết hợp

TT CÂU CÓ LỖI DÙNG TỪ TỪ BỊ LỖI DÙNG

ĐÚNG

1 Do lượng mưa năm nay kéo dài nên đã

gây nhiều thiệt hại cho mùa màng

lượng mưa mùa mưa

2 Nếu bạn mà thái độ với nó thì nó sẽ

3 Bà từ thiện như thế, mọi người biết bà

là một người tốt

từ thiện làm từ thiện

4 Em bài tập cho tốt rồi anh sẽ đưa em đi

chơi công viên

em bài tập em làm bài

tập

5 Các nhà thơ cảm hứng sâu sắc nên sáng

tác được những bài thơ làm xúc động

lòng người

nhà thơ cảm hứng

nhà thơ có cảm hứng

h Lỗi dùng từ ngữ không đúng chức năng ngữ pháp

Bảng 1.7 Thống kê lỗi dùng từ ngữ không đúng chức năng ngữ pháp

TT CÂU CÓ LỖI DÙNG TỪ TỪ BỊ LỖI DÙNG

ĐÚNG

1 Ăn nói của mẹ rất lịch sự. ăn nói cách ăn nói

2 Vợ chồng nhà ấy chỉ giả tạo hạnh phúc

mà thôi

giả tạo hạnh phúc

hạnh phúc giả tạo

3 Màu sơn làm cho chiếc xe thêm hào

quang.

hào quang hào nhoáng

Trang 35

Bảng 1.8 Phân loại các kiểu lỗi dùng từ

DÙNG

TỪ LẠC PHONG CÁCH

LỖI LẶP TỪ

DÙNG THỪA

TỪ NGỮ

SAI

VỀ CẤU TẠO

SAI

VỀ KẾT HỢP

SAI CHỨC NĂNG NGỮ PHÁP

1.2.2 Thực trạng chữa lỗi từ ngữ cho học sinh ở các trường trung học phổ thông trên địa bàn Trảng Bàng - Tây Ninh

1.2.2.1 Kết quả điều tra, khảo sát

Để có cơ sở đánh giá thực trạng chữa lỗi từ ngữ cho học sinh ở trung học phổ thông, chúng tôi đã đi sâu khảo sát, điều tra tình hình giáo viên một

số trường trung học phổ thông trên địa bàn huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh Chúng tôi đã đưa ra 4 phiếu điều tra, mỗi phiếu là một câu hỏi có tình chất trắc nghiệm, với những phương án trả lời khác nhau Kết quả cụ thể như sau:

Trang 36

Bảng 1.9 Kết quả điều tra nhận thức của GV về tình trạng

lỗi sử dụng tiếng Việt của HS qua các bài viết

SỐ NGƯỜI

ĐƯỢC HỎI

TRẢ LỜIPHƯƠNG ÁN A

TRẢ LỜIPHƯƠNG ÁN B

TRẢ LỜIPHƯƠNG ÁN C24

100%

1041,7%

1458,3%

00%

Phiếu thứ nhất nhằm điều tra nhận thức của GV về tình trạng lỗi trong

sử dụng tiếng Việt của HS qua các bài viết, số liệu ở bảng 1.9 cho biết trong

24 giáo viên được hỏi, có 10 người cho rằng: tình trạng lỗi trong sử dụng tiếng Việt của học sinh hiện nay là rất trầm trọng (chiếm tỉ lệ 41,7%), còn số người cho rằng tình trạng lỗi trong sử dụng tiếng Việt của học sinh là không đến nỗi trầm trọng là 14 (chiếm tỉ lệ 58,3 %), không có ý kiến khác Như vậy, qua số liệu trên, chúng ta có quyền khẳng định rằng: HS có mắc lỗi trong sử dụng tiếng Việt, còn mức độ mắc lỗi như thế nào, có trầm trọng hay không đến nỗi trầm trọng là tùy thuộc vào HS từng trường, thậm chí từng lớp cũng

Trang 37

b) Lỗi dùng từ là phổ biến nhất

c) Lỗi ngữ pháp là phổ biến nhất.

d) Ý kiến khác.

Bảng 1.10 Kết quả điều tra GV về lỗi phổ biến nhất của HS

khi sử dụng tiếng Việt

SỐ NGƯỜI

ĐƯỢC HỎI

TRẢ LỜIPHƯƠNG

ÁN A

TRẢ LỜIPHƯƠNG

ÁN B

TRẢ LỜIPHƯƠNG

ÁN C

TRẢ LỜIPHƯƠNG

ÁN D24

100%

937,5%

833,3%

28,3%

520,8%

Kết quả điều tra ở bảng 1.10 cho thấy lỗi sử dụng tiếng Việt mà học sinh mắc phải phổ biến nhất là về chính tả: 9 giáo viên chọn phương án A (chiếm 37,5%), có 8 giáo viên chọn lỗi dùng từ phổ biến nhất (chiếm 33,3%), còn phương án C chỉ có 2 giáo viên chọn (chiếm 8,3%), có nghĩa là rất ít học sinh mắc lỗi ngữ pháp Đến 5 giáo viên chọn phương án D (chiếm 20,8%), các giáo viên này cho rằng theo họ thì lỗi diễn đạt phổ biến nhất, đây là quan điểm cần được trân trọng bởi họ cũng có những cơ sở nhất định

Phiếu thứ ba

Xin thầy, cô vui lòng cho biết, việc chữa lỗi về tiếng Việt nói chung, về

từ ngữ nói riêng hiện nay cho học sinh thường được tiến hành ở giờ học nào?

a) Giờ học Tiếng Việt.

b) Giờ học Tập làm văn.

c) Giờ học thêm hoặc ngoại khóa.

d) Ý kiến khác.

Trang 38

Bảng 1.11 Kết quả điều tra việc chữa lỗi về tiếng Việt nói chung,

về từ ngữ nói riêng cho HS được GV thực hiện vào một số giờ học

SỐ NGƯỜI

ĐƯỢC HỎI

TRẢ LỜIPHƯƠNG

ÁN A

TRẢ LỜIPHƯƠNG

ÁN B

TRẢ LỜIPHƯƠNG

ÁN C

TRẢ LỜIPHƯƠNG

ÁN D24

100%

625,0%

833,3%

625,0%

416,7%

Phiếu thứ ba dành để điều tra nắm bắt tình hình chữa lỗi tiếng Việt nói chung, về từ ngữ nói riêng được giáo viên tiến hành vào các giờ học cụ thể Qua bảng số liệu cho thấy thường tiến hành vào giờ học Tập làm văn có 8 giáo viên chọn (chiếm tỉ lệ 33,3%), tiếp đến là giờ học Tiếng Việt và giờ học thêm hoặc ngoại khóa số lượng giáo viên chọn bằng nhau là 6 (chiếm tỉ lệ 25,0%) Cuối cùng, có 4 người chọn ý kiến khác (chiếm tỉ lệ 16,7%), các giáo viên này cho rằng cũng có thể tiến hành vào giờ Đọc văn hoặc phải phối hợp trong các giờ học thuộc môn Ngữ văn

TRẢ LỜIPHƯƠNG ÁN B

TRẢ LỜIPHƯƠNG ÁN C24

100%

1666,7%

833,3%

00,0%

Trang 39

Phiếu thứ tư nhằm tìm hiểu cách thức chữa lỗi từ ngữ cho học sinh - đây là vấn đề trọng tâm Qua bảng 1.12 chúng ta nhận thấy rằng: các giáo viên chỉ chọn 2 phương án, trong đó số người đồng tình với phương án A là

16 (chiếm tỉ lệ 66,7%), cao gấp 2 lần số người chọn phương án B là 8 (chiếm

tỉ lệ 33,3%) Đây là dấu hiệu đáng mừng vì các giáo viên rất quan tâm, chú trọng phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh, phần lớn các giáo viên giờ đây chỉ với vai trò là người gợi ý, hướng dẫn học sinh thực hiện, họ không phải làm thay học sinh Nhưng xét đến cùng, phải tùy thuộc vào từng tình huống, tùy thuộc vào từng đối tượng học sinh cụ thể, giáo viên phải biết linh động vận dụng cách thức, phương pháp nào cho phù hợp để đạt được kết quả cao nhất

1.2.2.2 Nhận xét chung

Qua kết quả điều tra giáo viên, chúng tôi nhận thấy dù là học sinh Trung học phổ thông nhưng các em vẫn còn mắc lỗi từ ngữ, điều đáng quan tâm quan tâm hơn là có đến 41,7% rằng mắc lỗi ở mức rất trầm trọng Trong các lỗi về sử dụng tiếng Việt của học sinh, số giáo viên chọn lỗi dùng từ phổ biến nhất chiếm tỉ lệ khá cao 33,3% Và chúng tôi cũng nhận thấy việc chữa lỗi tiếng Việt nói chung, lỗi dùng từ ngữ nói riêng được giáo viên tiến hành trong các giờ dạy - học thuộc môn Ngữ văn Đa số giáo viên cho học sinh phát hiện và đưa ra phương án sửa chữa, giáo viên kiểm tra, đánh giá sản

phẩm đó

Tiểu kết chương 1

Ở chương 1, chúng tôi đã trình bày cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài

Về lý luận, chúng tôi đã trình bày một số vấn đề quan yếu đã được đề cập và

lí giải, hướng vào các nội dung mà luận văn sẽ triển khai như: vai trò của từ ngữ trong hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ dạng nói, vai trò của từ ngữ trong việc tạo lập các loại văn bản dạng viết, những yêu cầu về sử dụng từ

Trang 40

ngữ, vấn đề lỗi trong sử dụng từ ngữ Về thực tiễn, luận văn quan tâm tới hai nội dung chính Thứ nhất, thực trạng sử dụng từ ngữ của học sinh THPT (qua khảo sát ở huyện Trảng Bàng - Tây Ninh) Thứ hai, thực trạng chữa lỗi từ ngữ cho học sinh ở các trường THPT trên địa bàn này Hai vấn đề này có quan hệ hữu cơ với nhau Để nắm được tình hình, chúng tôi đã có những cuộc điều tra, khảo sát và kết quả được phản ánh trong những bảng thống kê cụ thể Những

số liệu thống kê sẽ giúp chúng tôi có cơ sở để đề xuất những giải pháp chữa lỗi từ ngữ cho học sinh, nhằm nâng cao kỹ năng sử dụng từ ngữ cho học trên địa bàn khảo sát

Ngày đăng: 19/07/2015, 20:06

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lê A (1990), “Mấy vấn đề cơ bản của việc dạy - học tiếng Việt”, Nghiên cứu giáo dục, số 12/1990, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mấy vấn đề cơ bản của việc dạy - học tiếng Việt”, "Nghiên cứu giáo dục
Tác giả: Lê A
Năm: 1990
2. Lê A (2001), “Dạy tiếng Việt là dạy một hoạt động và bằng một hoạt động”, Ngôn ngữ, số 4/2001, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy tiếng Việt là dạy một hoạt động và bằng một hoạt động”, "Ngôn ngữ
Tác giả: Lê A
Năm: 2001
3. Lê A, Nguyễn Quang Ninh, Bùi Minh Toán (2009), Phương pháp dạy học tiếng Việt, tái bản lần thứ 12, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học tiếng Việt
Tác giả: Lê A, Nguyễn Quang Ninh, Bùi Minh Toán
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2009
4. Nguyễn Thị Ảnh (1999), Tiếng Việt thực hành, Nxb Thanh niên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếng Việt thực hành
Tác giả: Nguyễn Thị Ảnh
Nhà XB: Nxb Thanh niên
Năm: 1999
5. Diệp Quang Ban (2010), Từ điển thuật ngữ ngôn ngữ học (sơ thảo), Nxb Giáo dục Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ ngôn ngữ học (sơ thảo)
Tác giả: Diệp Quang Ban
Nhà XB: Nxb Giáo dục Việt Nam
Năm: 2010
6. Hoàng Hòa Bình - Nguyễn Minh Thuyết (2012), Phương pháp dạy học tiếng Việt nhìn từ tiểu học, Nxb Giáo dục Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học tiếng Việt nhìn từ tiểu học
Tác giả: Hoàng Hòa Bình - Nguyễn Minh Thuyết
Nhà XB: Nxb Giáo dục Việt Nam
Năm: 2012
7. Nguyễn Thị Thanh Bình, “Một số xu hướng lý thuyết của việc dạy học tiếng mẹ đẻ trong nhà trường”, TC Ngôn ngữ, số 4/2006, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số xu hướng lý thuyết của việc dạy học tiếng mẹ đẻ trong nhà trường”, TC "Ngôn ngữ
8. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2004), Tài liệu bồi dưỡng thường xuyên cho giáo viên THCS chu kỳ III (2004 - 2007) môn Ngữ văn, quyển 1, quyển 2, Nxb giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Tài liệu bồi dưỡng thường xuyên cho giáo viên THCS chu kỳ III (2004 - 2007) môn Ngữ văn
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Nxb giáo dục
Năm: 2004
9. Hoàng Trọng Canh (2007), “Dạy từ Hán Việt cho học sinh trung học phổ thông”, Kỷ yếu Hội thảo dạy học Ngữ văn theo chương trình và sách giáo khoa mới bậc THPT, Nxb Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy từ Hán Việt cho học sinh trung học phổ thông”, "Kỷ yếu Hội thảo dạy học Ngữ văn theo chương trình và sách giáo khoa mới bậc THPT
Tác giả: Hoàng Trọng Canh
Nhà XB: Nxb Nghệ An
Năm: 2007
10. Phan Mậu Cảnh (2007), “Dạy học Ngữ văn theo hướng tích hợp và tích cực trong trường THPT phân ban”, Kỷ yếu Hội thảo dạy học Ngữ văn theo chương trình và sách giáo khoa mới bậc THPT, Nxb Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy học Ngữ văn theo hướng tích hợp và tích cực trong trường THPT phân ban”, "Kỷ yếu Hội thảo dạy học Ngữ văn theo chương trình và sách giáo khoa mới bậc THPT
Tác giả: Phan Mậu Cảnh
Nhà XB: Nxb Nghệ An
Năm: 2007
11. Đỗ Hữu Châu (1986), Các bình diện của từ và từ tiếng Việt, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các bình diện của từ và từ tiếng Việt
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1986
12. Đỗ Hữu Châu (1989), Từ vựng - ngữ nghĩa tiếng Việt, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ vựng - ngữ nghĩa tiếng Việt
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1989
13. Trương Chính (1989), “Dạy và học từ Hán Việt ở trường phổ thông”, Tiếng Việt, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy và học từ Hán Việt ở trường phổ thông”, "Tiếng Việt
Tác giả: Trương Chính
Năm: 1989
14. Trương Dĩnh (1992), Giao tiếp ngôn ngữ và vấn đề dạy bản ngữ”, Nghiên cứu giáo dục, số 5/1992, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu giáo dục
Tác giả: Trương Dĩnh
Năm: 1992
15. Nguyễn Thị Kim Dung, Lan Hương (2001), “Dạy từ trái nghĩa cho học sinh trung học cơ sở”, Ngôn ngữ, số 3/2001, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy từ trái nghĩa cho học sinh trung học cơ sở”, "Ngôn ngữ
Tác giả: Nguyễn Thị Kim Dung, Lan Hương
Năm: 2001
16. Anh Đào (2001), “Dạy yếu tố Hán Việt cho học sinh”, Ngôn ngữ, số 10/2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy yếu tố Hán Việt cho học sinh”, "Ngôn ngữ
Tác giả: Anh Đào
Năm: 2001
17. Nguyễn Văn Đường chủ biên (2005), Thiết kế bài giảng Ngữ văn 9, Nxb Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thiết kế bài giảng Ngữ văn 9
Tác giả: Nguyễn Văn Đường chủ biên
Nhà XB: Nxb Hà Nội
Năm: 2005
18. Nguyễn Thiện Giáp (1989), Từ vựng học tiếng Việt, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ vựng học tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Thiện Giáp
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1989
19. Nguyễn Thái Hòa (1982), “Phân loại từ ngữ theo quan điểm phong cách chức năng”, trong Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt về mặt từ ngữ, tập 1, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân loại từ ngữ theo quan điểm phong cách chức năng”, trong "Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt về mặt từ ngữ
Tác giả: Nguyễn Thái Hòa
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1982
20. Lê Anh Hiền (2000), “Dạy từ Hán - Việt ở lớp 7 trung học cơ sở”, Nghiên cứu giáo dục, số 9/2000, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy từ Hán - Việt ở lớp 7 trung học cơ sở”, "Nghiên cứu giáo dục
Tác giả: Lê Anh Hiền
Năm: 2000

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1. Thống kê lỗi dùng từ ngữ không đúng ngữ âm - Chữa lỗi từ ngữ cho học sinh trung học phổ thông trên địa bàn Trảng Bàng - Tây Ninh
Bảng 1.1. Thống kê lỗi dùng từ ngữ không đúng ngữ âm (Trang 25)
Bảng 1.2. Thống kê lỗi dùng từ ngữ không chính xác nghĩa - Chữa lỗi từ ngữ cho học sinh trung học phổ thông trên địa bàn Trảng Bàng - Tây Ninh
Bảng 1.2. Thống kê lỗi dùng từ ngữ không chính xác nghĩa (Trang 26)
Bảng 1.3. Thống kê lỗi dùng từ ngữ không hợp phong cách - Chữa lỗi từ ngữ cho học sinh trung học phổ thông trên địa bàn Trảng Bàng - Tây Ninh
Bảng 1.3. Thống kê lỗi dùng từ ngữ không hợp phong cách (Trang 30)
Bảng 1.4. Thống kê lỗi dùng từ ngữ lặp - Chữa lỗi từ ngữ cho học sinh trung học phổ thông trên địa bàn Trảng Bàng - Tây Ninh
Bảng 1.4. Thống kê lỗi dùng từ ngữ lặp (Trang 31)
Bảng 1.5. Thống kê lỗi dùng từ ngữ thừa - Chữa lỗi từ ngữ cho học sinh trung học phổ thông trên địa bàn Trảng Bàng - Tây Ninh
Bảng 1.5. Thống kê lỗi dùng từ ngữ thừa (Trang 32)
Bảng 1.6. Thống kê lỗi dùng từ ngữ sai cấu tạo - Chữa lỗi từ ngữ cho học sinh trung học phổ thông trên địa bàn Trảng Bàng - Tây Ninh
Bảng 1.6. Thống kê lỗi dùng từ ngữ sai cấu tạo (Trang 33)
Bảng 1.7. Thống kê lỗi dùng từ ngữ sai kết hợp - Chữa lỗi từ ngữ cho học sinh trung học phổ thông trên địa bàn Trảng Bàng - Tây Ninh
Bảng 1.7. Thống kê lỗi dùng từ ngữ sai kết hợp (Trang 34)
Bảng 1.8. Phân loại các kiểu lỗi dùng từ - Chữa lỗi từ ngữ cho học sinh trung học phổ thông trên địa bàn Trảng Bàng - Tây Ninh
Bảng 1.8. Phân loại các kiểu lỗi dùng từ (Trang 35)
Bảng 1.10. Kết quả điều tra GV về lỗi phổ biến nhất của HS - Chữa lỗi từ ngữ cho học sinh trung học phổ thông trên địa bàn Trảng Bàng - Tây Ninh
Bảng 1.10. Kết quả điều tra GV về lỗi phổ biến nhất của HS (Trang 37)
Bảng 1.11. Kết quả điều tra việc chữa lỗi về tiếng Việt nói chung, - Chữa lỗi từ ngữ cho học sinh trung học phổ thông trên địa bàn Trảng Bàng - Tây Ninh
Bảng 1.11. Kết quả điều tra việc chữa lỗi về tiếng Việt nói chung, (Trang 38)
Hình ảnh cho nên có thể nói đó là một  thứ tiếng rất linh động và phong phú. - Chữa lỗi từ ngữ cho học sinh trung học phổ thông trên địa bàn Trảng Bàng - Tây Ninh
nh ảnh cho nên có thể nói đó là một thứ tiếng rất linh động và phong phú (Trang 78)
Bảng 3.1. Thống kê kết quả kiểm tra lớp thực nghiệm - Chữa lỗi từ ngữ cho học sinh trung học phổ thông trên địa bàn Trảng Bàng - Tây Ninh
Bảng 3.1. Thống kê kết quả kiểm tra lớp thực nghiệm (Trang 98)
Bảng 3.2. Thống kê kết quả kiểm tra lớp đối chứng - Chữa lỗi từ ngữ cho học sinh trung học phổ thông trên địa bàn Trảng Bàng - Tây Ninh
Bảng 3.2. Thống kê kết quả kiểm tra lớp đối chứng (Trang 98)
Bảng 3.3. Tổng hợp kết quả kiểm tra lớp đối chứng và lớp thực nghiệm - Chữa lỗi từ ngữ cho học sinh trung học phổ thông trên địa bàn Trảng Bàng - Tây Ninh
Bảng 3.3. Tổng hợp kết quả kiểm tra lớp đối chứng và lớp thực nghiệm (Trang 99)
Bảng 3.4. So sánh kết quả kiểm tra giữa lớp đối chứng và thực nghiệm - Chữa lỗi từ ngữ cho học sinh trung học phổ thông trên địa bàn Trảng Bàng - Tây Ninh
Bảng 3.4. So sánh kết quả kiểm tra giữa lớp đối chứng và thực nghiệm (Trang 99)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w