Bên cạnh đó giới nghiên cứu còn đánh giá về sự nghiệp, phong cách của một tác giả, như: Đề tài chiến tranh trong tiểu thuyết của Chu Lai 2004 của Phạm Thúy Hằng; Nhân vật người lính t
Trang 1
TRẦN THỊ TRÀ MY
CHIẾN TRANH TRONG TIỂU THUYẾT XUÂN ĐỨC
(Qua hai tác phẩm: Cửa gió và Bến đò xưa lặng lẽ)
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN
NGHỆ AN - 2014
Trang 2TRẦN THỊ TRÀ MY
CHIẾN TRANH TRONG TIỂU THUYẾT XUÂN ĐỨC
(Qua hai tác phẩm: Cửa gió và Bến đò xưa lặng lẽ)
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 60.22.01.21
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN
Người hướng dẫn khoa học:
PGS TS BIỆN MINH ĐIỀN
NGHỆ AN - 2014
Trang 3MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 2
3 Đối tượng nghiên cứu và giới hạn của đề tài 6
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 6
5 Phương pháp nghiên cứu 7
6 Đóng góp và cấu trúc của luận văn 7
Chương 1 CỬA GIÓ VÀ BẾN ĐÒ XƯA LẶNG LẼ CỦA XUÂN ĐỨC TRONG DÒNG TIỂU THUYẾT SAU 1975 VIẾT VỀ CHIẾN TRANH 8
1.1 Tổng quan tiểu thuyết Việt Nam sau 1975 viết về chiến tranh 8
1.1.1 Tiểu thuyết - khái niệm và vai trò của nó trong chuyển tải nội dung chiến tranh 8
1.1.2 Viết về chiến tranh - một khuynh hướng cơ bản của tiểu thuyết Việt Nam sau 1975 8
1.1.3 Các hướng khám phá, tìm tòi của tiểu thuyết Việt Nam sau 1975 viết về chiến tranh 10
1.1.4 Những thành công và hạn chế của tiểu thuyết Việt Nam sau 1975 viết về chiến tranh 13
1.2 Vị trí hai tác phẩm Cửa gió và Bến đò xưa lặng lẽ của Xuân Đức trong dòng mạch tiểu thuyết sau 1975 viết về chiến tranh 17
1.2.1 Hai tiểu thuyết “Cửa gió” và “Bến đò xưa lặng lẽ” trên hành trình sáng tạo của Xuân Đức 17
Trang 41.2.2 “Cửa gió” và “Bến đò xưa lặng lẽ” - những tác phẩm xuất
sắc của tiểu thuyết Việt Nam sau 1975 viết về chiến tranh 26
Trang 5XUÂN ĐỨC QUA CỬA GIÓ VÀ BẾN ĐÒ XƯA LẶNG LẼ 292.1 Vùng đất đôi bờ một dòng sông trong chiến tranh qua tiểu
thuyết Xuân Đức 292.1.1 Chiến tranh đến từ làng biển Vĩnh Linh với những khốc
liệt, bất thường, và những trận đánh quyết liệt (tiểu thuyết
“Cửa gió”) 292.1.2 Chiến tranh đi qua và những hệ luỵ, bi kịch để lại trên
mảnh đất Vĩnh Linh - Quảng Trị (tiểu thuyết “Bến đò xưalặng lẽ”) 432.1.3 Sự thống nhất trong cái nhìn về hiện thực chiến tranh của
Xuân Đức (qua hai tiểu thuyết “Cửa gió” và “Bến đò xưalặng lẽ”) 482.2 Số phận con người trong chiến tranh qua tiểu thuyết Xuân Đức
522.2.1 Chiến tranh với những đối địch, phân hoá các dạng thái và
số phận con người trong tiểu thuyết Xuân Đức 522.2.2 Chiến tranh với tình người, niềm tin và hy vọng… trong
tiểu thuyết Xuân Đức 652.2.3 Sự thống nhất trong cái nhìn về con người trong chiến
tranh của Xuân Đức (qua hai tiểu thuyết “Cửa gió” và
“Bến đò xưa lặng lẽ”) 71
Chương 3 CHIẾN TRANH QUA NGHỆ THUẬT THỂ HIỆN CỦA
TIỂU THUYẾT XUÂN ĐỨC 753.1 Nghệ thuật dựng truyện và kiến tạo xung đột 753.1.1 Nghệ thuật dựng truyện 75
Trang 63.1.2 Nghệ thuật tạo dựng tình huống và xung đột 77
Trang 73.2.2 Nghệ thuật xây dựng nhân vật 89
3.3 Nghệ thuật tạo dựng bối cảnh - không gian và thời gian 94
3.3.1 Một số vấn đề về không gian, thời gian trong sáng tác văn học 94
3.3.2 Nghệ thuật tạo dựng không gian của tiểu thuyết Xuân Đức 95
3.3.3 Nghệ thuật tạo dựng thời gian của tiểu thuyết Xuân Đức 101
3.4 Nghệ thuật trần thuật 104
3.4.1 Khái niệm trần thuật 104
3.4.2 Nghệ thuật trần thuật của Xuân Đức trong tiểu thuyết 105
3.5 Nghệ thuật kết cấu và tổ chức ngôn ngữ 109
3.5.1 Nghệ thuật kết cấu 109
3.5.2 Nghệ thuật tổ chức ngôn ngữ 112
KẾT LUẬN 115
TÀI LIỆU THAM KHẢO 118
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Chiến tranh đã đi qua, nhưng những dư chấn mà nó để lại tronglòng mỗi người dân Việt Nam vẫn còn sâu đậm Vẫn còn đó biết bao conngười, bao số phận phải gánh chịu hậu quả mà chiến tranh để lại, và có biếtbao vấn đề về chiến tranh vẫn còn khuất lấp, còn phải tìm hiểu lâu dài Đâycũng là một đề tài lớn trong văn học Việt Nam hiện đại
Sau khi đất nước thống nhất, văn học nói chung và thể loại tiểu thuyếtnói riêng có nhiều bước chuyển mình đáng kể Dường như không quá bỡ ngỡtrước những thay đổi lớn lao, tiểu thuyết Việt Nam sau 1975 tiếp tục pháttriển trên cái nền vững chắc của tiểu thuyết giai đoạn trước, đồng thời cónhững chuyển biến, thay đổi để phù hợp với tình hình mới Các nhà văn với
độ lùi thời gian cho phép, đã có điều kiện tích lũy mọi mặt để tạo được sự độtphá của riêng mình, do vậy từ sau 1975 đến nay tiểu thuyết Việt Nam đươngđại có điều kiện để phát triển với tất cả ưu thế và nội lực tiềm tàng của nó:phong phú về số lượng tác phẩm, đa dạng về đề tài, táo bạo trong cách tânnghệ thuật Tiểu thuyết Việt Nam sau 1975 do đó phát triển theo nhiềukhuynh hướng khác nhau: khuynh hướng viết về chiến tranh và số phận conngười sau chiến tranh, khuynh hướng phê phán chống tiêu cực trong xây dựngkinh tế, khuynh hướng đời thường với cái nhìn thế sự, đời tư về số phận conngười,… trong đó đáng chú ý là khuynh hướng viết về chiến tranh và số phậncon người trong và sau chiến tranh
1.2 Xuân Đức một gương mặt tiêu biểu của tiểu thuyết Việt Nam hiệnđại Ông đã một thời khoác áo lính, chiến đấu trên tuyến lửa Vĩnh Linh -Quảng Trị, nhà văn rất thành công khi khai thác đề tài chiến tranh, và nhất làviết về chiến trường Quảng Trị trong hai cuộc kháng chiến vệ quốc vĩ đại
Trang 9vừa qua Với hai cuốn tiểu thuyết Cửa gió, và Bến đò xưa lặng lẽ, Xuân Đức
đã ghi tên mình vào danh sách những nhà văn tiêu biểu sau 1975 viết về đềtài chiến tranh Đây là những tác phẩm đạt giải thưởng cao của Hội Nhà văn
Việt Nam Cửa gió (1982, 1985) đạt giải nhất của Hội nhà văn Việt Nam năm 1982; Bến đò xưa lặng lẽ (2005) giải A cuộc thi sáng tác tiểu thuyết lần
II của Hội Nhà văn Việt Nam năm 2005 Với hai tác phẩm này, Xuân Đứckhông những tạo ấn tượng trong lòng độc giả, khẳng định tài năng và phongcách của mình trên văn đàn Việt Nam thập niên 80 của thế kỉ XX mà còngây chú ý cho giới nghiên cứu văn chương Nhà văn đã đặt ra nhiều vấn đề
mà chúng ta cần phải nghiên cứu tìm hiểu Đó là vấn đề về hiện thực chiếntranh, vấn đề về giá trị đạo đức, nhân cách, phẩm chất con người trong chiếntranh và hậu chiến…
đa chiều hơn về chiến tranh, và như vậy tiểu thuyết về chiến tranh vẫn tiếp tụcphát triển, góp phần không nhỏ vào sự đổi mới thể loại tiểu thuyết ở Việt Nam
Đại hội lần thứ VI của Đảng năm 1986 đã mở ra thời kì đổi mới toàndiện ở nước ta Nhờ tư duy đổi mới do Đại hội Đảng mang lại mà các nhà vănđã có sự thay đổi quan niệm về đề tài chiến tranh và tạo được những tác phẩm
gây ấn tượng sâu sắc với bạn đọc Trong bài viết Chiến tranh qua những tác
phẩm được giải, Tôn Phương Lan nhận xét: “Con người trở thành đối tượng
khám phá của cả người viết lẫn người đọc, và hiện thực chiến tranh với đầy
Trang 10đủ tính chất ác liệt của nó đã được hiện lên qua số phận và thế giới nội tâmcủa con người được xây dựng trong nhiều mối quan hệ đời thường: có tốt -xấu, có yêu thương - căm giận, có cả cái thấp hèn, nhân vật trong tác phẩmvăn học nên gần gũi với con người hiện tại” [59; 42].
Cho đến nay đã có nhiều bài báo và công trình khoa học nghiên cứu vềtiểu thuyết chiến tranh sau 1975 Nhiều nhà nghiên cứu đánh giá rằng một sốtiểu thuyết đã “phản ánh chân thực hiện thực chiến tranh cách mạng” [92;110], đã “đánh giá sự kiện và con người một cách sâu sắc hơn, nhìn cuộcchiến tranh một cách toàn diện và bao quát hơn” [20; 111] Bên cạnh đó giới
nghiên cứu còn đánh giá về sự nghiệp, phong cách của một tác giả, như: Đề
tài chiến tranh trong tiểu thuyết của Chu Lai (2004) của Phạm Thúy Hằng; Nhân vật người lính trong tiểu thuyết Khuất Quang Thụy (2008) của Đinh
Thanh Hương… Ngoài ra, một số tiểu thuyết tiêu biểu về chiến tranh là đối
tượng khảo sát của các luận án tiến sĩ như: Những đổi mới của văn xuôi nghệ
thuật Việt Nam sau 1975 - Khảo sát trên những nét lớn (1996) của Nguyễn
Thị Bình; Những cách tân nghệ thuật trong tiểu thuyết Việt Nam giai đoạn
1996 - 2006 (2008) của Mai Hải Oanh… Và gần đây nhất là công trình luận
án tiến sĩ: Tiểu thuyết về chiến tranh trong văn học Việt Nam sau 1975
-Những khuynh hướng và sự đổi mới nghệ thuật (2012) của Nguyễn Thị Thanh
đã nghiên cứu một cách có hệ thống các khuynh hướng và sự đổi mới nghệthuật của tiểu thuyết viết về chiến tranh trong văn học Việt Nam sau 1975
Như vậy chiến tranh trong tiểu thuyết Việt Nam sau 1975 không những
là một khuynh hướng lớn của văn học mà còn là đối tượng nghiên cứu của giớikhoa học, nghiên cứu về vấn đề chiến tranh trong văn học Việt Nam sau 1975
Với Xuân Đức, mặc dù đạt nhiều thành tựu đáng kể trong sáng tác vănchương nhưng cho đến nay vì những lí do khách quan vẫn chưa có công trìnhnào nghiên cứu đầy đủ và toàn diện về đề tài chiến tranh trong các tác phẩm
của ông, đặc biệt ở hai cuốn tiểu thuyết đạt giải Cửa gió và Bến đò xưa lặng lẽ.
Trang 112.2 Lịch sử tìm hiểu nghiên cứu về Xuân Đức và chiến tranh trong tiểu thuyết của nhà văn
Như đã nói ở trên, dù các tác phẩm tiểu thuyết của nhà văn ra đời đạtnhiều thành tựu nhưng chưa được giới phê bình nghiên cứu quan tâm đúngmức Hầu hết chỉ là những bài báo mang tính chất giới thiệu, cảm nhận hoặcđánh giá khá chủ quan về nhà văn Xuân Đức và các tác phẩm của ông
Tiểu thuyết Cửa gió đã được nhà nghiên cứu văn học Tôn Phương Lan chú ý và nhận xét: “Cửa gió đem đến người đọc một bức tranh khái quát sâu
rộng qua đặc trưng của thể loại, để cùng với những sáng tác trước đó làmsống lại hiện thực độc đáo của chiến tranh cách mạng ở nơi đối đầu với lịchsử” [58; 162] Tác giả bài viết đánh giá cao cách xây dựng hệ thống nhân vật,tình tiết và ngôn ngữ tác phẩm
Cuốn tiểu thuyết Bến đò xưa lặng lẽ, tác giả Đỗ Thu Thủy trong cuốn sách Một bước trên đường, khi bàn về điểm nhìn nghệ thuật viết về đề tài chiến tranh của Xuân Đức, đã nhận xét: “Ở Bến đò xưa lặng lẽ, Xuân Đức
nhìn sâu nhìn kĩ vào từng số phận để đi vào cái thế giới tận cùng thẳm sâu củacon người tưởng như hoàn toàn bị tiêu diệt bởi cái dữ dội khốc liệt đầy nghiệtngã của bối cảnh chiến tranh” [104] Đỗ Thu Thủy nêu lên một bình diện thipháp của Xuân Đức là đã xây dựng hình tượng người trần thuật xưng “tôi”độc đáo, giúp khắc họa nội tâm nhân vật sâu sắc và ý nghĩa
Cùng viết về tác phẩm Bến đò xưa lặng lẽ, Lê Thanh Nghị trong bài
Trở lại bến đò xưa lặng lẽ đã có những nhận định mang tính chất chiêm
nghiệm sâu sắc Ông khẳng định đây là “cuốn sách thành công nhất trong sốnhiều tác phẩm viết về chiến tranh của Xuân Đức, cũng là tác phẩm xuất sắcviết một cách xúc động, đậm tính nhân văn của văn học thời hậu chiến” [77].Không những thế, trong tác phẩm này Xuân Đức đang cố gắng vượt qua lốixây dựng nhân vật một chiều thường thấy trong các tác phẩm viết về chiến
Trang 12tranh trước đây Điều đáng ghi nhận là, với một hiện thực phức tạp, nhà tiểuthuyết không những không làm cho cuộc sống mất đi niềm tin biện chứng của
nó mà ngược lại, càng cho thấy “cái gân guốc khỏe khoắn và không đơn giảncủa cõi nhân gian mà mỗi con người đang dấn thân” [77] Qua đây cũng chothấy, văn học đang tìm cách xích lại gần bản chất của hiện thực như một trongnhững nguyên lí gốc của thẩm mỹ
Tác giả Đinh Như Hoan trong bài Xuân Đức - nhà văn của miền Cửa
gió (Báo Nhân dân, ngày 05/10/2005), ca ngợi “tiểu thuyết Cửa gió mang vóc
dáng cả thời đại anh hùng” [47] Tân Linh khẳng định phong cách vănchương Xuân Đức là “thứ văn chương đầy ma lực, hấp dẫn và nhiều ám ảnh”[67] Tác giả Việt Hà nhìn nhận động lực sáng tạo của Xuân Đức “dường nhưnhững trăn trở, day dứt về cuộc chiến tranh giữ nước vĩ đại của dân tộc chưabao giờ ngừng thôi thúc ông” [42] Xuân Đức gắn chặt với quê hương và conngười Quảng Trị là có lý do của ông…
Gần đây nhất có luận văn Thạc sĩ: Quan niệm nghệ thuật về con người
trong tiểu thuyết của Xuân Đức (2012) của Đặng Thị Hương Hà, đi vào
nghiên cứu đặc trưng thi pháp tiểu thuyết, khám phá thế giới nghệ thuật vềcon người trong tiểu thuyết của Xuân Đức Theo tác giả luận văn, “Với quanniệm nghệ thuật mới mẻ, nhân bản, nhân văn, nhân đạo về con người, XuânĐức đã viết về con người trong ánh nhìn chân thực, bắt đầu từ con người anhhùng sử thi với nội tâm không đơn giản đến con người đời thường với những
số phận bất hạnh, những thân phận bi kịch” [43]
Nhìn chung, giới nghiên cứu phê bình và bạn đọc (qua một số bài viết,tiểu luận và luận văn) đã chú ý đến Xuân Đức, phần nào đã chỉ ra những đónggóp của Xuân Đức cho tiểu thuyết Việt Nam viết về chiến tranh Tuy nhiên,trên thực tế cho đến nay vẫn chưa có một bài viết hay công trình nào đặt vấn
đề nghiên cứu một cách toàn diện, sâu sắc và có hệ thống về chiến tranh trong
Trang 13tiểu thuyết Xuân Đức, đặc biệt nghiên cứu về chiến tranh qua hai tác phẩm
Cửa gió, và Bến đò xưa lặng lẽ để làm rõ hiện thực chiến tranh, con người
trong và sau chiến tranh cũng như nghệ thuật khắc họa chiến tranh của tác giả.Đây chính là hướng để chúng tôi thực hiện đề tài này
3 Đối tượng nghiên cứu và giới hạn của đề tài
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là Chiến tranh trong tiểu thuyết
Xuân Đức (qua hai tác phẩm Cửa gió và Bến đò xưa lặng lẽ).
3.2 Giới hạn của đề tài
Đề tài bao quát tiểu thuyết Xuân Đức (đặt trong bối cảnh chung của
tiểu thuyết Việt Nam đương đại) viết về chiến tranh
Văn bản tác phẩm dùng để khảo sát, luận văn dựa vào các cuốn:
- Xuân Đức, Cửa gió (tiểu thuyết, 2 tập), Nxb Hội Nhà văn, 1982,
1985
- Xuân Đức, Bến đò xưa lặng lẽ (tiểu thuyết), Nxb Văn hóa Sài Gòn,
TP Hồ Chí Minh, 2006
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Mục đích nghiên cứu
Qua khảo sát chiến tranh trong tiểu thuyết Xuân Đức, luận văn nhằmkhẳng định những thành công (và cả hạn chế) của Xuân Đức trong nhận thức,phản ánh và thể hiện chiến tranh - một đề tài lớn, có ý nghĩa đặc biệt trongvăn học Việt Nam hiện đại, từ đây đề xuất một số vấn đề về tìm hiểu chiếntranh và tiểu thuyết Việt Nam hiện đại viết về chiến tranh
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
4.2.1 Đưa ra một cái nhìn chung về tiểu thuyết của Xuân Đức trong bốicảnh tiểu thuyết Việt Nam đương đại (từ 1975 đến nay) viết về chiến tranh
Trang 144.2.2 Khảo sát, phân tích, xác định hiện thực chiến tranh và số phậncon người được nhận thức, phản ánh trong tiểu thuyết Xuân Đức (ở hai cuốn
Cửa gió và Bến đò xưa lặng lẽ)
4.2.3 Khảo sát, phân tích, xác định những đặc điểm của nghệ thuật tiểuthuyết viết về chiến tranh của Xuân Đức
Cuối cùng rút ra một số kết luận về tiểu thuyết của Xuân Đức viết vềchiến tranh trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại
5 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn vận dụng nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau, trong đó
có các phương pháp chủ yếu: phương pháp thống kê - phân loại, phương phápphân tích - tổng hợp, phương pháp so sánh - loại hình, phương pháp cấu trúc -
Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho việc
tìm hiểu, nghiên cứu tiểu thuyết Xuân Đức nói riêng, tiểu thuyết Việt Nam
đương đại nói chung trên hành trình phát triển của nó
6.2 Cấu trúc của luận văn
Ngoài Mở đầu và Kết luận, nội dung chính của luận văn được triển khai
trong ba chương:
Chương 1 Cửa gió và Bến đò xưa lặng lẽ của Xuân Đức trong dòng
tiểu thuyết sau 1975 viết về chiến tranh
Chương 2 Chiến tranh với vùng đất đôi bờ một dòng sông và số phận
con người trong tiểu thuyết Xuân Đức qua Cửa gió và Bến
đò xưa lặng lẽ.
Trang 15Chương 3 Chiến tranh qua nghệ thuật thể hiện của tiểu thuyết
Xuân Đức
Cuối cùng là Tài liệu tham khảo.
Trang 16Chương 1
CỬA GIÓ VÀ BẾN ĐÒ XƯA LẶNG LẼ CỦA XUÂN ĐỨC
TRONG DÒNG TIỂU THUYẾT SAU 1975 VIẾT VỀ CHIẾN TRANH
1.1 Tổng quan tiểu thuyết Việt Nam sau 1975 viết về chiến tranh
1.1.1 Tiểu thuyết - khái niệm và vai trò của nó trong chuyển tải nội dung chiến tranh
Tiểu thuyết, theo Từ điển thuật ngữ văn học, “là tác phẩm tự sự cỡ lớn
có khả năng phản ánh hiện thực đời sống ở mọi giới hạn không gian và thờigian Tiểu thuyết có thể phản ánh số phận của nhiều cuộc đời, những bức tranhphong tục, đạo đức xã hội, miêu tả các điều kiện sinh hoạt giai cấp, tái hiệnnhiều tính cách đa dạng” [45; 328] Trong tiến trình phát triển của văn học, tiểuthuyết là một thể loại ra đời muộn nhưng có một vị trí quan trọng, thu hút sựquan tâm đặc biệt của các nhà nghiên cứu, phê bình văn học Do đây là một thểloại văn học đang trong quá trình vận động biến đổi không ngừng nên khá làkhó khăn khi đưa ra một định nghĩa hoàn toàn chính xác, có thể bao quát đượctoàn bộ thực tiễn sáng tác đa dạng của thể loại này M Bakhtin cho rằng, “Tiểuthuyết là thể loại văn học duy nhất đang biến chuyển và còn chưa định hình”.Ông thừa nhận: “nghiên cứu tiểu thuyết giống như nghiên cứu những sinh ngữ,
là loại sinh ngữ trẻ Chính vì thế mà xây dựng lý thuyết tiểu thuyết là việc cựckì khó khăn” [5; 24] Đặc điểm này làm cho tiểu thuyết trở thành một phạm trùrất rộng, khó mà đưa ra khái niệm một cách trọn vẹn Trong khuôn khổ đề tàinày, để tiện cho việc nghiên cứu luận văn chúng tôi dùng khái niệm tiểu thuyết
của các tác giả Việt Nam viết cuốn Từ điển thuật ngữ văn học.
1.1.2 Viết về chiến tranh - một khuynh hướng cơ bản của tiểu thuyết Việt Nam sau 1975
Chiến tranh trong văn học nhân loại nói chung và văn học Việt Namnói riêng là một đề tài lớn, cho đến nay vẫn chưa hề cạn Lịch sử dân tộc Việt
Trang 17Nam là lịch sử chiến tranh chống giặc ngoại xâm, văn học Việt Nam có mốiquan hệ gắn bó chặt chẽ với lịch sử nước nhà nên viết về chiến tranh trở thànhmột khuynh hướng cơ bản của văn học nói chung và của tiểu thuyết Việt Namsau 1975 nói riêng Đinh Xuân Dũng nhận định: “đề tài chiến tranh giảiphóng và bảo vệ Tổ quốc, đề tài phản ánh những người anh hùng cầm vũ khíchống quân xâm lược đã xuyên suốt và chiếm phần quan trọng nhất về dunglượng và chiều sâu trong tiến trình lịch sử của văn học Việt Nam” [17; 45].
Dù cuộc chiến đã lùi xa nhưng văn xuôi nói chung và tiểu thuyết viết về chiếntranh nói riêng vẫn có vị trí đáng kể trong nền văn học đương đại, góp phầnchủ yếu xác định diện mạo và thành tựu, tác dụng xã hội và tính đặc thù của
cả giai đoạn văn học nửa sau thế kỉ XX
Với các nhà văn sau 1975, có thể nói, chiến tranh vẫn là “siêu đề tài,người lính vẫn là siêu nhân vật, càng khám phá càng thấy những độ rung
không mòn nhẵn” Đó là Nguyễn Minh Châu với Miền cháy, Lửa từ những
ngôi nhà, Những người đi từ rừng ra khẳng định sức viết cũng như tình cảm
đối với cuộc sống và con người sau chiến tranh của nhà văn Đó là Chu Lai,một nhà văn quân đội có sức viết vô cùng khỏe khoắn, với những tác phẩm
được đánh giá cao như Nắng đồng bằng, Vòng tròn bội bạc, Ăn mày dĩ vãng,
Ba lần và một lần, Bãi bờ hoang lạnh, Khúc bi tráng cuối cùng Chu Lai đã
khắc họa thành công hình tượng người lính sau chiến tranh vượt lên trên thửthách và bi kịch, mang vẻ đẹp bi tráng, có sức lay động và ám ảnh mạnh mẽngười đọc Đó là Lê Lựu, một tác giả thành công với nhiều tiểu thuyết viết về
chiến tranh như Mở rừng, Đại tá không biết đùa, Thời xa vắng, Ranh giới Nhà văn Nguyễn Trọng Oánh đã khẳng định mình với tiểu thuyết hai tập Đất
trắng Bảo Ninh thật sự trở thành một hiện tượng văn học với tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh Bên cạnh đó Thái Bá Lợi, Nguyễn Trí Huân, Khuất Quang
Thụy cũng có những tác phẩm được bạn đọc đón nhận như: Họ cùng thời với
Trang 18những ai, Còn lại với thời gian của Thái Bá Lợi; Năm 1975 họ đã sống như thế nào, Chim én bay của Nguyễn Trí Huân; Trong cơn gió lốc, Trước ngưỡng cửa bình minh, Những bức tường lửa của Khuất Quang Thụy.
Trong giai đoạn này phải kể đến những tác giả trước đây vốn chưa sángtác hoặc sáng tác ở thể loại khác, cũng tìm đến và thử sức mình ở thể loại tiểuthuyết viết về chiến tranh và họ đã thành công Đó là Xuân Đức với hai tác
phẩm tiêu biểu Cửa gió và Bến đò xưa lặng lẽ; Trung Trung Đỉnh với Lạc
rừng; Nguyễn Quốc Trung với Đất không đổi màu; Đình Kính với Sóng chìm;
Nguyễn Chí Trung với Tiếng khóc của nàng Út; Văn Lê với Mùa hè buốt
giá
Nhìn chung sau 1975 đội ngũ nhà văn sáng tác tiểu thuyết về chiếntranh khá đông đảo, bao gồm những người đã thành danh trong giai đoạntrước, những người mà tài năng thật sự vào độ chín ở giai đoạn sau 1975,những người đã từng một thời khoác áo lính và cả những nhà văn trẻ mới xuấthiện giai đoạn sau 1975 Chính sự góp mặt của lực lượng tác giả đông đảonhư vậy đã làm cho tiểu thuyết viết về chiến tranh phát triển phong phú và đadạng, trở thành một khuynh hướng cơ bản của tiểu thuyết Việt Nam sau 1975
1.1.3 Các hướng khám phá, tìm tòi của tiểu thuyết Việt Nam sau 1975 viết về chiến tranh
Từ những năm 1975 đến cuối thập niên 80 các nhà nghiên cứu tiểuthuyết Việt Nam viết về chiến tranh đã chỉ ra rằng một số tiểu thuyết đi sâu
“phản ánh chân thực hiện thực chiến tranh cách mạng” [91], đã “đánh giá sựkiện và con người một cách sâu sắc hơn, nhìn cuộc chiến tranh một cách toàndiện và bao quát hơn” [21] Theo Bùi Việt Thắng: “khuynh hướng phân tíchhiện thực chiến tranh, mối quan hệ của nó với con người là dễ nhận thấy trong
các tiểu thuyết Đất trắng, Cửa gió, Năm 1975 họ đã sống như thế Chính
việc phân tích sự kiện lịch sử và tâm lí con người trong chiến tranh, mối quan
Trang 19hệ giữa con người và chiến tranh làm cho tiểu thuyết sau 1975 có một diệnmạo mới” [95] Quả đúng như vậy, tiểu thuyết viết về chiến tranh sau 1975đặc biệt giai đoạn 1975 - 1986 đang ở góc độ nối tiếp giai đoạn trước 1975,tái hiện những biến cố, sự kiện nóng hổi của một thời đã qua, bao quát mộtphạm vi hiện thực rộng lớn, qua đó tiếp tục khẳng định cái vĩ đại, cái anhhùng của dân tộc ta, của nhân dân ta trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp
và chống Mỹ Miền cháy được triển khai trong bối cảnh những ngày cuối
cùng của cuộc kháng chiến chống Mỹ và cuộc sống dân tộc những ngày đầuhòa bình với cuộc chạy loạn của những tên cuồng phản, công việc xây dựngcuộc sống mới bằng việc khắc phục hậu quả của cuộc chiến với bao bộn bề,
ngổn ngang Sao đổi ngôi của Chu Văn cũng viết về những năm cuối chiến
tranh giải phóng, đầu hòa bình với không khí khẩn trương, sự ngỡ ngàngtrước cuộc sống hòa bình, náo nức của chiến dịch lớn của chiến tranh biêngiới Tây Nam do bọn Pôn Pốt gây ra
Từ đầu thập kỉ 90 (thế kỷ XX) trở đi tiểu thuyết Việt Nam viết về chiếntranh đã đi sâu vào phân tích, bình giá và mổ xẻ hiện thực đa chiều của chiếntranh Đinh Xuân Dũng đã nhấn mạnh: “đó là sự phân tích mối quan hệ cực kìphức tạp giữa số phận từng con người với biến cố chiến tranh, đó là năng lựckhám phá và đặt ra những vấn đề nóng bỏng nhất trong chiến tranh và sauchiến tranh do tác động dai dẳng của chiến tranh trong đời sống từng cá nhân
và của toàn xã hội” [16] Tôn Phương Lan thông qua việc khảo sát một số tiểu
thuyết chiến tranh ra đời vào đầu thế kỉ XXI (Bến đò xưa lặng lẽ, Rừng thiêng
nước trong, Ngày rất dài, Những bức tường lửa, khúc bi tráng cuối cùng), đã
kết luận: “Với điểm nhìn mới, những sáng tác viết về chiến tranh trong nhữngnăm gần đây cho chúng ta thấy được sự đổi mới của nó: cái ác liệt của chiếntranh đã được nhìn sâu vào bản chất” [61]
Trang 20Sau chiến tranh với nhu cầu nhận thức lại cuộc chiến và khát vọngđược đào sâu trực tiếp vào thực tế cuộc chiến đấu để phát hiện mọi mặt của
nó, cho nên tiểu thuyết viết về chiến tranh giai đoạn này đã khai thác chiếntranh và người lính ở khía cạnh mới Nếu như trước kia, trong bối cảnh trựctiếp của không khí chiến trận, với nhiệm vụ trọng tâm của văn học là tuyêntruyền chính trị và cổ vũ chiến đấu, các tác phẩm tập trung miêu tả người línhtrong chiến tranh như một biểu tượng đẹp cho phẩm chất trung dũng kiêncường, biểu tượng của chủ nghĩa anh hùng ca của dân tộc Giờ đây, bước sangthời hậu chiến, với độ lùi thời gian cho phép nhìn nhận lại một cách kháchquan cuộc chiến, hiện thực chiến tranh được tái hiện trong sự cảm nhận, suyngẫm của người lính: đi tìm dấu ấn lịch sử dân tộc qua lịch sử tâm hồn ngườilính Có thể nói: “Sự thật về chiến tranh hôm nay được nhìn nhận lại là một sựthật đã được trải qua những năm tháng day dứt, trăn trở trong tâm hồn nhà văn,hơn thế nó thực sự là những nếm trải của người “chịu trận”, người trong cuộc”[38; 114] Trong cảm nhận của những người đã từng trực tiếp chiến đấu, chiếntranh không chỉ dừng lại ở mâu thuẫn địch - ta, mà còn là mâu thuẫn ngaytrong chính nội bộ hàng ngũ quân ta, chiến tranh không chỉ là những trận đánhvới chiến công vang dội, mà bên cạnh đó còn có những mất mát hi sinh, có nụcười chiến thắng nhưng cũng có cả máu và nước mắt Các nhà văn đã đi sâukhông chỉ vấn đề chiến thắng mà còn đi sâu vào vấn đề tổn thất, hi sinh, vàonhững nỗi đau khổ do quân thù gây nên cho dân tộc Có thể nói, sáng tác tiểuthuyết chiến tranh sau 1975, các nhà văn đã dũng cảm bóc hết “lớp men trữtình” để hiện thực chiến tranh hiện lên vừa chân thực sống động, vừa đa chiều
và trên mọi phương diện như chính bản thân nó vốn đã từng tồn tại như thế
Tóm lại, phản ánh hiện thực, phân tích bình giá mổ xẻ hiện thực chiếntranh, giải quyết mối quan hệ giữa con người với các sự kiện lịch sử, mốiquan hệ giữa con người với con người, và chiều sâu phức tạp trong tâm hồn
Trang 21mỗi con người là những hướng khám phá, tìm tòi của tiểu thuyết Việt Namsau 1975 viết về chiến tranh.
1.1.4 Những thành công và hạn chế của tiểu thuyết Việt Nam sau
1975 viết về chiến tranh
Để thấy một cách rõ nét những thành công và hạn chế của tiểu thuyếtViệt Nam sau 1975 viết về chiến tranh, cần có cái nhìn khái quát về quá trìnhvận động của nó Theo khảo sát của chúng tôi, tiến trình vận động của tiểuthuyết chiến tranh sau 1975 trải qua hai chặng: Từ 1975 đến giữa thập niên 80(thế kỷ XX), và từ giữa thập niên 80 đến nay
Trước hết, là ở chặng đường từ 1975 đến giữa thập niên 80 Ở chặng
đường này về cơ bản, tiểu thuyết chiến tranh vẫn được viết theo cảm hứng sửthi, chưa có sự khác biệt so với tiểu thuyết trước năm 1975 Một số tiểu thuyết
bắt đầu viết từ cuối cuộc chiến tranh chống Mỹ như: Những tầm cao của Hồ Phương (tập 2 - 1976), Vùng trời của Hữu Mai (tập 3 - 1980), vẫn được hoàn
thành trên tinh thần nhất quán từ những phần đã viết xong thời gian trước
1975 trên tất cả mọi phương diện, từ quan niệm hiện thực, quan niệm con
người đến nghệ thuật tự sự Những tiểu thuyết viết sau 1975 như Mở rừng (1976) của Lê Lựu; Miền cháy (1977) và Lửa từ những ngôi nhà (1977) của Nguyễn Minh Châu; Nắng đồng bằng (1977) của Chu Lai; Năm 1975 họ đã
sống như thế (1978) của Nguyễn Trí Huân; Trong cơn gió lốc (1979) của
Khuất Quang Thụy; Họ cùng thời với những ai (1980) của Thái Bá Lợi; Đất
trắng (tập 1 1979, tập 2 1984) của Nguyễn Trọng Oánh; Cửa gió (tập 1
-1982, tập 2 - 1985) của Xuân Đức; Biển gọi (1982) của Hồ Phương; Đất miền
Đông (1984) của Nam Hà; Sao đổi ngôi (1985) của Chu Văn được công
chúng đương thời ghi nhận là có những sáng tạo tìm tòi nhất định trong việcmiêu tả hiện thực Đó là cách tái hiện sự khốc liệt của chiến tranh, không né
tránh những hi sinh, mất mát (Đất trắng, Năm 1975 họ đã sống như thế) Một
Trang 22số tác phẩm còn dự báo hệ lụy của chiến tranh và bi kịch của con người thờihậu chiến, mối quan hệ phức tạp giữa những người từng thuộc hai chiến tuyến
(Năm 1975 họ đã sống như thế, Miền cháy), sự khó khăn trong việc thích nghi với đời thường của những người vốn chỉ quen trận mạc (Lửa từ những ngôi
nhà) Đây là dấu hiệu báo trước sự đổi mới mãnh liệt của tiểu thuyết viết về
chiến tranh ở giai đoạn sau - chặng 2
Chặng thứ hai, từ giữa thập niên 80 đến nay Ở chặng đường này, tiểuthuyết viết về chiến tranh phát triển theo nhiều xu hướng Khoảng cuối thể kỉ
XX, tiểu thuyết sử thi dần vắng bóng trên văn đàn Sự cách tân mang tính độtphá của tiểu thuyết viết về chiến tranh được ghi nhận ở các cây bút đặt trọngtâm vào việc phân tích bi kịch của người phụ nữ và những vấn đề của đời
sống thời hậu chiến Chim én bay (1987) của Nguyễn Trí Huân, Nước mắt đỏ
(1988) của Trần Huy Quang là hai tác phẩm đánh dấu mốc cho sự đổi mớimạnh mẽ của tiểu thuyết viết về chiến tranh Hai tác phẩm này ám ảnh ngườiđọc bởi tâm trạng giằng xé vật vã, cảm giác cô đơn của người phụ nữ đã điqua chiến tranh như một người anh hùng Nguyễn Trí Huân và Xuân Thiềukhá táo bạo khi nêu ra các vấn đề về nhân tính, về những mất mát, hi sinhkhông gì bù đắp được với những người phụ nữ trong trận chiến khốc liệt
Năm 1990, Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh xuất hiện như một sự
kiện đặc biệt của tiểu thuyết chiến tranh Nội dung tư tưởng tác phẩm gây rahai luồng tư tưởng khen chê trái chiều nhưng không ai có thể phủ nhận thànhcông về phương diện nghệ thuật tiểu thuyết Với một loạt tiểu thuyết như:
Vòng tròn bội bạc (1990), Ăn mày dĩ vãng (1991), Sông xa (1996), Ba lần và một lần (1999), Chu Lai vừa tái hiện cảnh chiến trận vừa nêu lên những vấn
đề có liên quan mật thiết đến người lính hậu chiến: việc mưu sinh, chỗ đứngtrong xã hội, cách ứng xử với những người từng vào sinh ra tử cho cuộc sốnghòa bình hôm nay
Trang 23Nhìn chung khoảng giữa thập niên 80 đến hết thế kỉ XX, nhiều tiểuthuyết chiến tranh đã nỗ lực cách tân về các phương diện nghệ thuật như, xâydựng nhân vật, tổ chức kết cấu, phương thức trần thuật Điều đáng ghi nhận
là từ nguyên tắc đối thoại, các tác phẩm này đã đi sâu phân tích, tra vấn hiệnthực chứ không chỉ dừng lại ở việc mô tả, tái hiện hiện thực chiến tranh, đâyquả là một thành công lớn
Sang thế kỉ XXI tiểu thuyết viết về đề tài chiến tranh tiếp tục phát triển.Các nhà văn hưởng ứng cuộc vận động sáng tác tiểu thuyết sử thi viết về đềtài chiến tranh cách mạng (được khởi động từ năm 2004), đã cho ra đời mộtloạt tác phẩm hay, có giá trị đạt những giải cao của Hội Nhà Văn Việt Nam
như: Bến đò xưa lặng lẽ của Xuân Đức (giải A Hội Nhà văn - 2005), Những
bức tường lửa của Khuất Quang Thụy (Giải thưởng Hội Nhà văn - 2005, Giải
thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật - 2007), Thượng Đức của Nguyễn Bảo Trường Giang (Giải thưởng Hội Nhà văn - 2006), Mùa hè giá buốt của
Văn Lê (Giải thưởng Bộ Quốc Phòng 2009) Điều đáng nói ở những tiểuthuyết này là xu hướng “giải sử thi” khá đậm nét Có tác phẩm rất giàu chất
triết luận (Cõi đời hư thực - Bùi Thanh Minh), có tác phẩm miêu tả bi kịch cá nhân trên nền cảm hứng sử thi bi tráng (Những bức tường lửa của Khuất Quang Thụy, Sóng chìm của Đình Kính, Mùa hè giá buốt của Văn Lê), có tác phẩm đưa ra cái nhìn khách quan, tỉnh táo về nhân vật kẻ thù (Thượng Đức của Nguyễn Bảo Trường Giang, Khúc bi tráng cuối cùng của Chu Lai) cho
thấy nỗ lực làm mới của một khuynh hướng tiểu thuyết vốn rất quen thuộccủa các nhà văn Việt Nam
Tóm lại tiểu thuyết Việt Nam sau 1975 viết về chiến tranh so với tiểuthuyết trước 1975 đã có sự đa dạng hơn, phong phú hơn, chân thực hơn, táobạo hơn với nhiều suy ngẫm, nhiều khám phá, phản ánh hiện thực cuộc chiến
ở nhiều chiều Hình ảnh người lính trong chiến tranh hiện lên đa diện hơn,
Trang 24như lời nhà văn Hữu Mai: “Tác phẩm viết về chiến tranh đã mang những sắcthái mới Một số đi vào những đề tài rộng lớn của chiến tranh, một số lại có
xu hướng khai thác những bình diện chưa được đề cập nhiều trong những tácphẩm trước đây như: cái đau thương, cái mất mát, ác liệt, cái thấp hèn, nhữngvấn đề thuộc đạo đức trong chiến tranh Tiểu thuyết hiện nay bám sát hiệnthực, nhìn thẳng vào thực trạng, nói ra thẳng những gì mình và mọi ngườiquan tâm” [70; 93] Một trong những tìm tòi không mệt mỏi của tiểu thuyếtviết về chiến tranh sau 1975 là “những vấn đề về số phận con người đã đượcchú ý đào xới, khai thác một cách sâu sắc, chân thực hơn trước” [82]
Bên cạnh những thành công đáng kể chúng tôi đã nêu trên, tiểu thuyếtViệt Nam sau 1975 viết về chiến tranh vẫn còn có những hạn chế như TônPhương Lan đánh giá: “Chúng ta dễ nhận ra việc đổi mới tư duy nghệ thuật,đổi mới cách nhìn là cơ sở quan trọng để có được sự đa dạng về phong cách
và giọng điệu với nhiều phương thức biểu hiện mới mà trước đó chưa có như
sử dụng hiện thực tâm linh, yếu tố kì ảo, dòng ý thức Nhưng trong văn xuôiviết về chiến tranh, kĩ thuật đó chưa được áp dụng nhiều” [61]
Đặc biệt chúng tôi rất đồng tình với đánh giá của Nguyễn Thiệu Vũ khiông đưa ra ba nhận xét khá sắc sảo về những thành công và hạn chế của tiểuthuyết chiến tranh sau 1975: “Thứ nhất là: Sau 1975, các nhà tiểu thuyết đã nỗlực mở rộng phạm vi hiện thực phản ánh nhưng chưa có đủ sự táo bạo cầnthiết cho việc phát huy trí tưởng tượng và giải phóng những mãnh lực của hưcấu nghệ thuật Thứ 2: Cố gắng tạo dựng những tính cách những số phận độcđáo, đặc biệt nhưng còn tự giam mình trong những quan niệm nghệ thuật vềcon người chưa thoát khỏi tính chất đơn giản, nhất phiến Thứ ba là: Đã ưutiên cho việc phân tích tâm lí nhưng chưa thực sự dám đối diện với những bíhiểm của tâm hồn con người” [107]
Trang 25Trên đây, chúng tôi đã cố gắng đưa ra một cái nhìn tương đối bao quát
về sự vận động của tiểu thuyết về chiến tranh trong tiến trình văn học ViệtNam sau 1975 Từ đó có thể thấy những thành công và hạn chế của tiểuthuyết viết về chiến tranh sau 1975 Tất nhiên phải thừa nhận rằng mặc dù cònnhiều khiếm khuyết nhưng tiểu thuyết viết về chiến tranh giai đoạn này cónhiều thành công đáng kể Có được thành công ấy, một mặt là sự nối tiếpmạch tiểu thuyết sử thi truyền thống, mặt khác là sự nỗ lực đổi mới ý thứcnghệ thuật, đổi mới quan niệm về tiểu thuyết và chất liệu tiểu thuyết Quanhững gì mà tiểu thuyết viết về chiến tranh đạt được, chúng ta có thể khẳngđịnh: với sự thay đổi về tư duy nghệ thuật, các nhà văn đã dần đưa nó về đúngbản chất của văn học
1.2 Vị trí hai tác phẩm Cửa gió và Bến đò xưa lặng lẽ của Xuân
Đức trong dòng mạch tiểu thuyết sau 1975 viết về chiến tranh
1.2.1 Hai tiểu thuyết “Cửa gió” và “Bến đò xưa lặng lẽ” trên hành trình sáng tạo của Xuân Đức
1.2.1.1 Xuân Đức - một gương mặt tiêu biểu của văn học Việt Namhiện đại Xuân Đức (tên khai sinh Nguyễn Xuân Đức), sinh ngày 04 tháng
1 năm 1947, tại xã Vĩnh Hòa, huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị Thuở nhỏông sống cùng gia đình ở quê mẹ tại bờ Bắc sông Hiền Lương Sau khi tốtnghiệp phổ thông tại Trường cấp ba Vĩnh Linh năm 1965 thoát ly gia đình,tham gia tiểu đoàn 47 quân địa phương Vĩnh Linh chiến đấu tại vùng núiQuảng Trị phía Nam bờ Hiền Lương Vốn có kiến thức văn hóa, ông tham giaviết bài cho báo Quân đội của Khu đội Vĩnh Linh rồi Quân khu 4 Năm 1976,ông được cử tham gia trại sáng tác của Tổng cục Chính trị Năm 1979, theohọc tại Trường Viết văn Nguyễn Du khóa 1 Sau khi tốt nghiệp, ông đượcphân công công tác tại Đoàn kịch nói Tổng cục Chính trị cho đến khi giải ngũvới quân hàm Trung tá vào năm 1990
Trang 26Sau khi giải ngũ, ông về sống ở thị xã Đông Hà - Quảng Trị và chuyểnngành công tác tại Sở Văn hóa Thông tin tỉnh Quảng Trị, giữ chức Phó giámđốc Sở Từ năm 1995 đến 2006, ông là Tỉnh ủy viên, Giám đốc Sở Văn hóa -Thông tin, Tổng thư ký Hội Văn học nghệ thuật Quảng Trị Tháng 7 năm
2006, ông nghỉ hưu
Ngày 02 tháng 02 năm 2007, ông được Chủ tịch nước Nguyễn Minh
Triết ký quyết định trao tặng Giải thưởng Nhà nước (cho ba tiểu thuyết: Cửa
gió, Người không mang họ và Tượng đồng đen một chân).
Xuân Đức là gương mặt tiêu biểu của văn học Việt Nam hiện đại cuốithế kỉ XX Ông sáng tác đa dạng và phong phú về thể loại bao gồm thơ, kịch,tiểu thuyết và tạp văn Ở thể loại nào ông cũng gặt hái nhiều thành công, tạo
ấn tượng sâu sắc trong lòng độc giả
Về tiểu thuyết, Xuân Đức được xem là nhà văn của miền đất lửa, miền
“cửa gió” Vĩnh Linh - Quảng Trị Đúng thế, Xuân Đức sinh ra và lớn lên trênmảnh đất Quảng Trị anh hùng giàu truyền thống văn hóa của dân tộc, đó làtruyền thống đánh giặc ngoại xâm, truyền thống lao động cần cù và lối sốnggiàu nghĩa nặng tình của nhân dân - làm nên biểu tượng văn hóa dân tộc Việt.Vĩnh Linh - Quảng Trị, không chỉ là nguồn sữa ngọt ngào nuôi dưỡng tâmhồn ông mà còn là nguồn cảm hứng vô tận trong sáng tác của ông Xuân Đứcđược hun đúc tâm hồn để trở thành nhà văn, và ông lấy chính quê hương mìnhlàm đối tượng sáng tác Có một điều đặc biệt là từ đời thường cho đến đờivăn, Xuân Đức đều gắn bó máu thịt với những con sông quê đó là: CánhHòm, Hiếu Giang, Thạch Hãn và nhất là Hiền Lương Những dòng sông quêhương một thời đầy đau thương nhưng anh dũng kiên cường, những dòngsông yêu thương chở nặng phù sa ấy đã chảy thấm vào hồn ông và khơinguồn sáng tạo cho nhà văn, khiến ông cầm lấy bút “cặm cụi” viết, cứ như thểngòi bút của ông phải chấm vào nước sông Hiền Lương mới viết ra được chữvậy Và quả thật, “đọc hàng trăm tác phẩm lớn nhỏ từ thơ ca đến kịch, đến
Trang 27tiểu thuyết… của nhà văn trong gần 50 năm nặng nợ với văn chương, chúng
ta đều thấy phảng phất bóng dáng của con sông này với ngai ngái phù sa nướcbạc, với nằng nặng mồ hôi cực nhọc của người dân Quảng Trị” [67]
Xuân Đức đã từng là anh lính tiểu đoàn 47 anh hùng, chiến đấu trênchiến trường Quảng Trị, với vốn sống một thời đánh giặc, sự từng trải có từchiến tranh sang hòa bình và độ lùi về thời gian, giúp ông có hướng nhìn sâusắc hơn về hiện thực, về người lính sau chiến tranh Món nợ mà Xuân Đứcluôn canh cánh nhất với quê hương là “máu xương đồng bào đồng chí từng đổxuống quá nhiều, làm sao để trả nghĩa họ” [67], khi ông may mắn sống sótqua cuộc chiến quá khốc liệt mấy mươi năm Xuân Đức đã viết và còn viết đểtrả nghĩa mảnh đất này - mảnh đất không chỉ nuôi dưỡng mà còn bảo bọc chechở ông trong chiến tranh Với nhà văn, dường như những day dứt trăn trở vềcuộc chiến tranh giữ nước vĩ đại của dân tộc vẫn chưa bao giờ ngừng thôithúc ông nên trong tác phẩm của mình, Xuân Đức thường viết về những conngười đã cùng ông sống và chiến đấu trên mảnh đất Quảng Trị huyền thoạinhững năm bom cày đạn xới Trong cảnh đổ nát điêu tàn ấy, những conngười, những số phận lần lượt hiện lên với những mảng màu đen trắng, những
bi kịch lớn nhỏ, những giằng xé nội tâm mà ông muốn hiện chúng lên và lígiải theo cách riêng của mình, bởi cuộc đối đầu lịch sử một mất một còn trongchiến tranh vừa đi qua ám ảnh ông với bao nhiêu điều cần lí giải, cần tôn vinh
và những sự thật cần phơi bày vì lịch sử và vì nhân nghĩa… Nhà văn viết vềcuộc đối thoại ấy từ ý thức hệ đến thân phận éo le của những mảnh đời và đến
cả góc khuất của những tâm hồn tật nguyền Tiểu thuyết của ông có lẽ vì thế
mà đượm chất kí sự và chất kịch
Có một người bạn văn đã hỏi Xuân Đức rằng: “Tại sao anh cứ bámmãi vào cái làng xưa của anh thế? Có gì chỗ đó mà viết mãi?” Nhà văn trảlời: “Tôi có thể trả lời bạn thật dài dòng, cũng có thể trả lời ngắn gọn Dài
Trang 28dòng là những chuyện trên dưới nghìn trang, ngắn gọn là: chỗ đó có tôi”[36] Đúng vậy, Xuân Đức vì nặng duyên nợ văn chương với đất và vớingười Vĩnh Linh, nên đã ở lại “cày” trên cánh đồng chữ nghĩa, cạnh sôngHiền Lương, con sông của tâm linh, của số phận dân tộc, con sông đỏ nặngnhững ân tình Dù cho dấu thời gian có in hằn lên mái tóc và dù cho côngviệc có bộn bề đến đâu đi nữa, nhà văn vẫn miệt mài viết với “bút sắt lòngson” và “nghiên mực” Hiền Lương, để “viết những gì chưa viết về conngười về miền đất Quảng Trị anh hùng”.
1.2.1.2 Hành trình sáng tạo nghệ thuật với nhiều thể loại khác nhau:tiểu thuyết, kịch, thơ, tạp văn của Xuân Đức
Như đã giới thiệu ở trên, Xuân Đức là gương mặt tiêu biểu của văn họcViệt Nam hiện đại Từ những năm 80 của thế kỉ XX, tác phẩm của ông đã gâyđược sự chú ý của dư luận tạo ấn tượng sâu sắc đối với người đọc Khảo sáthành trình sáng tạo nghệ thuật của Xuân Đức, chúng tôi thấy nhà văn đã gặthái thành công ở nhiều thể loại khác nhau từ kịch, tiểu thuyết, đến thơ và cảtạp văn
Về kịch, vở kịch đầu tay Tổ quốc (1985) viết chung với Đào Hồng Cẩm
được tặng giải thưởng Hồ Chí Minh đã đánh dấu tên tuổi của ông trong làng
kịch nước nhà Sau đó là những vở kịch đạt giải cao lần lượt ra đời: Người
mất tích - giải A Bộ Quốc Phòng 1990; Cái chết chẳng dễ dàng gì - giải A Bộ
Quốc phòng 1995, giải thưởng Hội nghệ sĩ sân khấu, huy chương vàng hội
diễn sân khấu chuyên nghiệp 1995; Chuyện dài thế kỉ - giải thưởng Hội nghệ sĩ sân khấu 1999, huy chương vàng Hội diễn sân khấu toàn quốc 1999; Ám
ảnh - huy chương vàng Hội diễn sân khấu toàn quốc 2000, giải thưởng kịch
bản Hội nghệ sĩ sân khấu Việt Nam; Đợi đến bao giờ - huy chương vàng Hội
diễn sân khấu toàn quốc, giải thưởng kịch bản Hội nghệ sĩ sân khấu Việt
Nam; Đứa con nối dõi (cộng tác với Cao Hạnh) - huy chương vàng Hội diễn
Trang 29sân khấu về đề tài gia đình; tuyển tập kịch bản Chứng chỉ thời gian - giải A Liên hiệp hội Văn học nghệ thuật Việt Nam; Chuyến tàu tốc hành trong đêm - giải B (không có giải A) Hội nghệ sĩ sân khấu Việt Nam năm 2010; Chim
tapar hót giữa rừng ngàn - giải A cuộc vận động sáng tác về tư tư tưởng Hồ
Chí Minh năm 2010
Tháng 8 vừa qua ông đã xây dựng thành công và trình làng vở kịch về
cố Đại tướng Võ Nguyên Giáp: Nhiệm vụ hoàn thành (2014)
Về tiểu thuyết, vừa tốt nghiệp Trường viết văn Nguyễn Du (khóa 1 1979
1982), Xuân Đức có ngay tác phẩm trình làng: tiểu thuyết Cửa gió (tập 1
-1982, tập 2 - 1985) và được nhận giải thưởng của Hội nhà văn Việt Nam 1982
Sau đó một loạt tiểu thuyết có giá trị ra đời: Hồ sơ một con người (1983);
Người không mang họ (1990) được giải thưởng “văn học viết về An ninh Tổ
quốc” của Hội nhà văn - Bộ nội vụ; Tượng đồng đen một chân (1987); Bến đò
xưa lặng lẽ (2005) - giải A của Hội nhà văn Việt Nam; Kẻ song sinh (2009)
Về thơ: Trường ca Trăng cồn cỏ (1980) là tác phẩm được viết khi ông
ở độ tuổi đôi mươi, gây nên “hiện tượng lạ” trong văn học lúc bấy giờ bởi âmđiệu khỏe khoắn, hồn thơ vạm vỡ, khí thế hừng hực tuổi trẻ xây dựng và bảo
vệ Tổ quốc
Sau khi nghỉ hưu, những ngày hưởng thú vui nhàn tản của người “ngoài
70 tuổi xưa nay hiếm”, hàng chục tập thơ của ông được xuất bản như: Một
nửa, Xuân cảm, Khúc ru tình già Sau bao nhiêu năm lăn lộn với cuộc đời,
ông làm thơ để tự buồn, tự vui Do vậy thơ Xuân Đức bây giờ là tiếng lòngcủa người đã đi qua quãng đời quá nhiều sóng gió chiến chinh
Ngoài ra, dấu ấn Xuân Đức còn được thể hiện trong các chương trình lễhội thấm đẫm cảm xúc trực tiếp từ Quảng Trị trên sóng truyền hình Việt Nam
như: Huyền thoại trường Sơn, Nhịp cầu xuyên Á, Liên hoan đường Chín xanh,
Lễ hội thống nhất non sông ở đôi bờ Hiền Lương… mà ông cùng các đồng
Trang 30chí, đồng nghiệp thai nghén và dàn dựng, trở thành “thương hiệu tâm linh”của văn hóa một vùng quê.
Về tạp văn, chủ yếu Xuân Đức viết sau khi nghỉ hưu, là những dòngxúc cảm về thiên nhiên, quê hương, đất nước, về những địa danh mà nhà vănđã đi qua để lại dấu ấn khó phai trong ông Đó là sự khám phá, cảm nhận
thiên nhiên rất riêng, rất Xuân Đức ở tản văn Vì sao có tên Trúc Sơn Trang (2008) và Thủ thỉ bên gốc liễu đầu xuân (2009) Niềm rưng rưng khôn tả khi
ông về thăm lại mảnh vườn xưa, nơi lưu giữ kí ức tuổi thơ đầy vất vả nhưng
ngọt ngào “hương vị mít mật” của chính nhà văn trong tản văn Mảnh làng
trong tôi (2008) và Thấy hiu hiu gió (2013) Đó còn là niềm tự hào về quê
hương, về núi sông và biển đảo của đất nước trong bút kí Cửa Việt - đối diện
với trùng khơi (2011) và Hùng vĩ Việt Nam (2011) Và đó còn là niềm xúc
động bồi hồi, thương tiếc người Anh cả Quân đội trong một lần nhà văn đếnviếng mộ Đại Tướng Võ Nguyên Giáp ở Vũng Chùa - Quảng Bình, cũng nhưtrong lần đến thăm căn nhà số 30 Hoàng Diệu ở Hà Nội sau khi Đại Tướng về
với Bác Hồ vào một ngày mùa đông lạnh giá trong bút kí: Nửa ngày trong
ngôi nhà 30 Hoàng Diệu (2013)…
Xuân Đức quả là có bút lực sung mãn, một sức sáng tạo dồi dào, một quátrình lao động “chữ” không mệt mỏi, nhà văn đã góp cho đời những tác phẩmvăn chương có giá trị trên tất cả các thể loại Để có những thành công kể trên,Xuân Đức đã nỗ lực lao động miệt mài và nghiêm túc với quan niệm vănchương rất khoa học và thấm đẫm chất nhân văn Từ nguồn:http://www.xuanduc.vn, chúng tôi khái quát quan niệm văn chương của XuânĐức với những nét chính như sau:
Thứ nhất, Xuân Đức ý thức văn học nghệ thuật là một quá trình gạn
lọc, tiếp thu và kế thừa những gì tinh túy nhất của nhân loại, của truyềnthống Nhà văn phải biết hấp thu tinh hoa của nghệ thuật truyền thống dân
Trang 31tộc và nghệ thuật hiện đại của nhân loại để làm phong phú nghệ thuật sángtạo của mình.
Thứ hai, theo tác giả văn học nghệ thuật phải có tính nhân loại trong tư
duy nghệ thuật Tính nhân loại ấy được thể hiện cụ thể ở các phương diện: Vềnội dung văn học nghệ thuật phải đề cập được những vấn đề cốt tử, nhữngmâu thuẫn, bức xúc nóng hổi đang đặt ra cho cả loài người, những khát vọnglớn lao nhất mà cả dân tộc đang theo đuổi Về hình thức văn học nghệ thuậtcần tiến tới có những ngôn ngữ biểu đạt chung khả dĩ mọi công dân đều cóthể tiếp thu được
Thứ ba, văn học nghệ thuật hướng đến công chúng và phải phục vụ cho
công chúng Cho nên một trong những nhiệm vụ quan trọng của tác phẩm vănchương là thanh lọc cái xấu, giúp người đọc nhận thức được đúng sai và bảolưu những giá trị tốt đẹp của dân tộc
Cuối cùng, ông nêu lên quan niệm về nhà văn chân chính: là nhà văn
trung thành với cuộc sống thực, viết văn phải xuất phát từ sự thôi thúc củabản thân, từ những điều mà mình trăn trở Nghề văn là nghề lao động chữ hếtsức nghiêm túc, quá trình viết văn là quá trình nỗ lực không ngừng của ngườinghệ sỹ để tạo nên những tác phẩm độc đáo Để có một tác phẩm hay nhà vănphải biết cóp nhặt tri thức từ cuộc sống xung quanh mình
Với quan niệm nghệ thuật đúng đắn khoa học cùng sự nỗ lực lao độngkhông ngừng nghỉ, Xuân Đức đã có những đóng góp lớn cho văn học ViệtNam hiện đại Những tác phẩm giá trị của ông góp phần làm cho diện mạovăn học nói chung và tiểu thuyết viết về chiến tranh nói riêng phong phú và
bề thế hơn
1.2.1.3 Hai tiểu thuyết Cửa gió và Bến đò xưa lặng lẽ - những cột mốc
quan trọng trong văn nghiệp Xuân Đức
Trang 32Cửa gió là tác phẩm đầu tay của Xuân Đức, viết về cuộc chiến đấu của
quân dân Vĩnh Linh và sự ra đời tiểu đoàn 47 anh hùng Đây là món quà
Xuân Đức viết bằng cả trái tim mình, với tất cả tình cảm của người con dànhtặng đất mẹ Vĩnh Linh, mảnh đất và con người đã từng một thời nuôi dưỡng,chở che nhà văn những năm tháng cầm súng trên chiến trường Ông chânthành bộc lộ: “Tôi vô cùng biết ơn mảnh đất và con người cùng tất cả nhữngnăm tháng ấy của quê hương Vĩnh Linh - Bến Hải, nơi nuôi tôi bằng dòng sữangọt ngào và cả những dòng máu mặn xót… Những gì tôi ghi lại được trongcâu chuyện này là những điều không bao giờ phai nhạt trong kí ức tôi” [34]
Dù mới bước vào lĩnh vực viết tiểu thuyết nhưng tác phẩm Cửa gió giúp
Xuân Đức khẳng định tên tuổi mình trên văn đàn văn học Việt Nam sau 1975.Tiếp theo sau đó Xuân Đức đã sáng tác một loạt tiểu thuyết và nhận
được nhiều giải thưởng lớn như đã nói ở trên: Hồ sơ một con người (1983),
Người không mang họ (1984), Tượng đồng đen một chân (1987), Bến đò xưa lặng lẽ (2005), Kẻ song sinh (2009).
Điều đáng nói là năm 2005, Xuân Đức bỗng gây bất ngờ cho dư luận
khi giành giải A Hội nhà văn với tiểu thuyết Bến đò xưa lặng lẽ Lấy bối cảnh
của “cửa gió” và mảnh đất đôi bờ Hiền Lương, những con người và hoàncảnh lịch sử ấy nhưng là hai tấm gương phản chiếu khác nhau Chiến tranh đã
đi qua, những vết thương thể xác của đất và người Vĩnh Linh - Quảng Trị đãdần lành lặn lại, nhưng vết thương tâm hồn, nỗi đau bi kịch của con người sauchiến tranh thì vẫn còn đó Lấy cảm hứng từ câu chuyện có thật về thân phận,mảnh đời oan trái của một người lính trở về đời thường phải chịu bao nhiêu
“đắng đót” cuộc đời, nhà văn đã viết nên thiên tiểu thuyết này
Có lẽ sau 25 năm kể từ khi viết Cửa gió, với độ lùi thời gian cho phép
và những trải nghiệm cuộc sống của bản thân, suy nghĩ của Xuân Đức vềcuộc chiến và lẽ sống của con người đã có nhiều thay đổi, sâu sắc hơn, toàn
Trang 33diện hơn Vì thế mà nhà văn cảm thấy cần viết lại trang sử của giai đoạn
“Cửa gió” với một cách nhìn sâu hơn, đa diện nhiều chiều hơn Đến tác phẩm
này, Xuân Đức đã chứng tỏ “một ngòi bút tiểu thuyết đầy kinh nghiệm” [77],một “bút lực sung mãn với vốn sống và vốn hiểu biết phong phú, những trảinghiệm chiến tranh và cả mẫn cảm của nhà văn đã dày dạn kinh nghiệm trongtrường văn trận bút Điều đó giúp ông nhìn sâu, nhìn kĩ vào từng số phận để
đi vào thế giới tận cùng thẳm sâu của con người tưởng như hoàn toàn bị tiêudiệt bởi cái dữ dội, khốc liệt đầy nghiệt ngã của bối cảnh chiến tranh” [104]
Một điều đặc biệt đáng lưu tâm ấy là, thông thường một tác giả rất ngại
viết lại một đề tài, một mảnh đất, một thời điểm lịch sử mà trước đó đã có tácgiả khác thành công Càng không có hiện tượng một tác giả lặp lại chínhmình, nghĩa là viết lại chính địa chỉ, đơn vị cùng với các sự kiện chính củamột thời điểm mà trước đó mình đã viết và đã được đánh giá thành công rồi
Vậy mà Xuân Đức đã làm nên điều kì diệu đó, với Bến đò xưa lặng lẽ nhà văn
đã viết lại chính địa chỉ, đơn vị cùng với các sự kiện chính của một thời điểm
mà trước đó ông đã dày công sáng tạo trong Cửa gió và đã thành công Nhà
văn đã làm được một điều mà chưa một nhà văn hiện đại nào sau 1975 có thểlàm được: “sự trở lại mình mà vẫn mang đến thành công” [75]
Tiểu thuyết Bến đò xưa lặng lẽ đã đưa Xuân Đức lên vị trí cao trong
thành tựu văn học sau đổi mới Ngoài giải A đầu bảng của Hội Nhà văn ViệtNam trao tặng, tác phẩm còn được chuyển thể thành phim, góp được cái nhìnmới về bức tranh đất nước trong chiến tranh và hậu chiến
Có thể nói, “nhà văn là người có tâm huyết góp thêm cho đời một giátrị tinh thần mới Tác phẩm của họ vì thế, là một phần máu thịt cuộc đời họ”[95; 22] Xuân Đức là thế! Tác phẩm của ông, đặc biệt hai cuốn tiểu thuyết là
một phần máu thịt của cuộc đời ông, Cửa gió và Bến đò xưa lặng lẽ đánh dấu những cột mốc quan trọng trong văn nghiệp Xuân Đức Nếu tiểu thuyết Cửa
Trang 34gió vinh danh tên tuổi Xuân Đức trên văn đàn, thì Bến đò xưa lặng lẽ một lần
nữa khẳng định tài năng của một cây bút tài hoa có sức sáng tạo dồi dào.Xuân Đức trong văn học Việt Nam hiện đại, góp phần không nhỏ vào tiếntrình phát triển của văn học Việt Nam nói chung và tiểu thuyết hiện đại ViệtNam sau 1975 nói riêng
1.2.2 “Cửa gió” và “Bến đò xưa lặng lẽ” - những tác phẩm xuất sắc của tiểu thuyết Việt Nam sau 1975 viết về chiến tranh
Sau 1975 dòng tiểu thuyết viết về chiến tranh ngày càng phát triểnmạnh mẽ trong thành tựu chung của tiểu thuyết hiện thực cách mạng Đa sốnhà văn viết về chiến tranh đều là những người từng chịu trận, từng trải chiếntranh, họ là người cầm súng trước khi cầm bút Họ viết về những gì họ nghe,thấy, trải qua và cảm nhận chúng bằng cả tâm hồn Tác phẩm của họ có sựlắng động của kinh nghiệm sống và được chiếu sáng bằng lương tri nghệ sỹ -công dân
Xuân Đức - nhà văn mặc áo lính xem nhiệm vụ viết về người lính, viết
về chiến tranh như một “mệnh lệnh” Tiểu thuyết viết về chiến tranh của ôngchủ yếu vẫn là tác phẩm viết theo khuynh hướng sử thi Cảm hứng chủ đạovẫn mang cảm hứng ngợi ca những người anh hùng, ngợi ca sự nghiệp anhhùng có ý nghĩa trọng đại đối với dân tộc Tuy nhiên, đất nước hòa bình lậplại, với độ lùi của thời gian cho phép Xuân Đức có điều kiện để tìm tòi suyngẫm về chiến tranh như nó vốn có, vốn tồn tại Đó là suy ngẫm về sự thật,nguyên nhân, và những bình diện khác của chiến tranh mà trước kia người tachưa đề cập đến Cảm hứng sự thật đã trở thành một trong những nguồn cảmhứng chính trong các tiểu thuyết của nhà văn, sự mở rộng biên độ hiện thực từ
đề tài lịch sử dân tộc sang thể tài thế sự đời tư khiến cho tiểu thuyết viết vềchiến tranh của Xuân Đức vượt qua giới hạn thông thường để thâm nhập vào
Trang 35đời sống hiện thực Do đó tính chất “giải sử thi” trong tiểu thuyết của ông,sáng tác càng về sau càng thể hiện rõ nét.
Trong tiểu thuyết đầu tay, Cửa gió viết về cuộc chiến đấu anh hùng của
nhân dân Vĩnh Linh và một phần chiến trường Bắc Quảng Trị những năm
1965 - 1969, tác giả đã cho chúng ta thấy sự ác liệt của chiến tranh và khảnăng chịu đựng tuyệt vời khi con người có tình yêu bền chặt đối với quêhương đất nước Tuy nhiên, Xuân Đức không mô tả tỉ mỉ những tình tiết cótính chất phi nhân đạo của một cuộc chiến tranh hủy diệt Điều tác giả quantâm nhất là số phận con người, những hành động, những suy nghĩ của họtrước ảnh hưởng trực tiếp của một cuộc chiến tranh hủy diệt Như một “dungdịch thử màu”, mỗi nhân vật đi qua chiến tranh đều hiện nguyên “bản ngã”
Trong Cửa gió nhân vật khá đa dạng, có tốt và cả chưa tốt, các tuyến nhân vật
được phân ra một cách rõ ràng Ngòi bút Xuân Đức đã nâng niu khi viết vềnhững thế hệ người dân Vĩnh Linh yêu làng quê, yêu đất nước, yêu chủ nghĩaxã hội Tất cả như hòa lẫn vào nhau tạo thành tập thể nhân dân anh hùng
Bên cạnh miêu tả cái tốt đẹp lòng quả cảm và sự hy sinh, Xuân Đứckhông hề né tránh những nét tiêu cực vẫn có trong đời sống hoặc trong nếp
nghĩ bất chợt ở con người Ở tiểu thuyết Bến đò xưa lặng lẽ, có sự chuyển dần
từ cảm hứng sử thi sang cảm hứng thế sự Những góc khuất của chiến tranhđược tác giả thể hiện khá sinh động và sâu sắc từ lời sám hối của nhân vật
“Tôi” - một hồn ma liệt sĩ, để rồi đời sống tâm hồn, những ước mơ khát vọngtình yêu, những riêng tư bản năng nhất hiện lên đầy ám ảnh “Cái đặc biệt ởđây là Xuân Đức đã để cho các nhân vật của mình thường xuyên “đụng độ”với nó trong tương quan mang tính xung đột giữa cái ý thức và cái vô thức,giữa cá nhân con người đầy bản năng và con người lí trí luôn toan tính để tồntại” [104] Cái góc khuất ấy, do vậy vừa đáng buồn, vừa đầy cảm thông vừakhiến người ta phải suy nghĩ về cuộc chiến tranh đã đi qua của dân tộc thôngqua số phận của những người lính phần lớn là những anh hùng, những người
Trang 36nổi tiếng trên bình diện xã hội nhưng “bã bượi, bầm dập” về tâm hồn Tác giảđã cho ta thấy chiến tranh không chỉ có anh hùng, có hy sinh mà tự trong lòng
nó ẩn chứa biết bao vết thương tinh thần, những bi kịch, những hy sinh thầmlặng, những tình huống oái ăm mà không một trí tưởng tượng nào có thể hìnhdung được Đó là một mảng ngầm đầy ám ảnh chạm đến trái tim và lương tribạn đọc
Như vậy cùng với Đất trắng của Nguyễn Trọng Oánh; Ăn mày dĩ vãng của Chu Lai; Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh; Mùa hè giá buốt của Văn Lê; Những bức tường lửa của Khuất Quang Thụy Cửa gió và Bến đò xưa
lặng lẽ của Xuân Đức là những tác phẩm xuất sắc của tiểu thuyết Việt Nam
sau 1975 viết về chiến tranh
Trang 37Chương 2 CHIẾN TRANH VỚI VÙNG ĐẤT ĐÔI BỜ MỘT DÒNG SÔNG
VÀ SỐ PHẬN CON NGƯỜI TRONG TIỂU THUYẾT XUÂN ĐỨC
QUA CỬA GIÓ VÀ BẾN ĐÒ XƯA LẶNG LẼ
2.1 Vùng đất đôi bờ một dòng sông trong chiến tranh qua tiểu thuyết Xuân Đức
2.1.1 Chiến tranh đến từ làng biển Vĩnh Linh với những khốc liệt, bất thường, và những trận đánh quyết liệt (tiểu thuyết “Cửa gió”)
Văn học nghệ thuật là tấm gương phản chiếu thời đại, phản ánh hiệnthực đời sống con người và ngược lại hiện thực là mảnh đất màu mỡ để nuôidưỡng văn học Có thể nói tính hiện thực là một thuộc tính tất yếu của vănhọc nghệ thuật Hiện thực chiến tranh là đối tượng cần chiếm lĩnh của văn họcViệt Nam, đặc biệt với thể loại tiểu thuyết Sau 1975, hiện thực chiến tranhđược nhiều nhà văn quan tâm phản ánh, song sự nhìn nhận đánh giá về hiệnthực chiến tranh có sự thay đổi: bên cạnh mặt tốt có cả mặt xấu, bên cạnh cáicao cả có cái thấp hèn, bên cạnh cái anh hùng còn có cả cái bi thương Sựnhìn nhận về chiến tranh không còn một chiều như trước nữa mà được nhìnnhận một cách đa diện, nhiều chiều sâu sắc và toàn diện hơn Có thể dễ dàngthấy được sự chuyển biến này từ việc tìm hiểu hiện thực chiến tranh qua hai
cuốn tiểu thuyết của Xuân Đức tiêu biểu cho hai thời kì văn học: Cửa gió (văn học thời kì tiền đổi mới), và Bến đò xưa lặng lẽ (văn học thời kì sau đổi
mới) Nét đặc biệt trong hai cuốn tiểu thuyết này là ở chỗ, hiện thực chiếntranh được tập trung chủ yếu vùng đất đôi bờ một dòng sông: đôi bờ HiềnLương - Bến Hải, Quảng Trị
Tiểu thuyết là sự sống, là hình ảnh về đời sống và đồng thời nó cũng làsự biểu hiện về tâm hồn Xuân Đức bằng tài năng, vốn sống, tình yêu, và sự
Trang 38gắn bó với một miền đất, miền đời nhiều cơ cực, lắm khổ đau nhưng rất đỗikiên gan vững chí, anh hùng trong đấu tranh cũng như trong lao động, XuânĐức viết văn với “bút sắt lòng son” và “nghiên mực” Hiền Lương về conngười về miền đất Quảng Trị anh hùng.
Chiến tranh - một thử thách về bản lĩnh của cả dân tộc và con ngườiVĩnh Linh - Quảng Trị Nơi đây đã từng là mảnh đất đầu cầu tuyến lửa khuBốn đầy đau thương nhưng oai hùng Lấy cảm hứng từ vùng đất đôi bờ dòngsông Bến Hải ngày đó (cách đây tròn 60 năm, ngày 20/7/1954, đất nước tatạm thời chia cắt thành 2 miền Bắc - Nam, vĩ tuyến 17, cầu Hiền Lương -sông Bến Hải là giới tuyến quân sự tạm thời), nhà văn Xuân Đức viết nên hai
cuốn tiểu thuyết Cửa gió và Bến đò xưa lặng lẽ Mảnh đất “trầm tích” lịch sử
và tình người luôn là nơi mà mỗi độ tháng Bảy về nhân dân cả nước ta lạihướng về đó, dâng lên nén tâm nhang tưởng nhớ và tri ân các anh hùng liệt sỹđã hi sinh vì Tổ quốc Nhà báo Đăng Đức viết: “Đôi bờ Hiền Lương - BếnHải những năm tháng bị chia cắt, dù chỉ cách nhau một khoảng cách rất ngắn,một con sông chỉ rộng khoảng 100m, nhưng có biết bao gia đình phải sốngcảnh biệt ly mà không có cơ hội được đoàn tụ Đối với người dân Vĩnh Linh,Quảng Trị, đấy mới chỉ là sự chia cắt ở phạm vi gia đình, còn đối với đấtnước, dân tộc Việt Nam thì đấy là nỗi đau quá lớn, như khúc ruột bị chia làmhai Suốt những năm tháng chiến tranh khốc liệt, nhân dân hai bên chỉ biếtnhìn sang bên bờ, thấy lá cờ đỏ tung bay trên cột cờ mà ngậm khóc…” [25]
Trong tác phẩm Cửa gió, hiện thực chiến tranh trước hết là cuộc chiến
tranh đến từ làng biển Vĩnh Linh với những bất thường, những trận đánhquyết liệt được Xuân Đức tái hiện chân thực, sinh động
Hiện thực chiến tranh thường gắn với những sự kiện lịch sử trọng đại
Có thể nói như Lại Nguyên Ân rằng, “sự kiện lịch sử ở đây không chỉ làm cáinền, cái đường viền cho câu chuyện về các nhân vật trong cuốn sách Ở đây
Trang 39lịch sử trở thành đối tượng miêu tả trực tiếp Ở đây sự kiện cần có vị trí nganghàng so với số phận các nhân vật Ở đây lịch sử chính là một trong những yếu
tố quan trọng nhất của sự phát triển cốt truyện” [3; 120] Ta thấy rõ điều đótrong tiểu thuyết viết về chiến tranh sau 1975, qua những tác phẩm tiêu biểu:
Đất trắng của Nguyễn Trọng Oánh; Họ cùng thời với những ai của Thái Bá
Lợi; Cửa gió và Bến đò xưa lặng lẽ của Xuân Đức; Năm 1975 họ đã sống như
thế Nguyễn Trí Huân; Đất miền Đông của Nam Hà Đất trắng nói về cuộc
chiến đấu cam go, quyết liệt của những con người vùng đất thép Củ Chi, Gia
Định ở “khúc cuối” chiến dịch Mậu Thân Họ cùng thời với những ai miêu tả
những trận chiến đấu của bộ đội ở bờ nam sông Bến Hải vùng chiến trườngQuảng Trị khét tiếng về bom đạn và sự tổn thất xương máu trong chiến dịch
Tám mươi mốt ngày đêm không thể nào quên Năm 1975 họ đã sống như thế
viết về những cuộc chiến đấu từ tháng ba đến hết tháng tư năm 1975, trực tiếpgóp phần đánh tan hàng chục sư đoàn địch, giải phóng bốn thị xã lớn: Quy
Nhơn, Phan Rang, Bà Rịa và Vũng Tàu Đất miền Đông viết về quân và dân
miền Đông trong cuộc kháng chiến chống Mỹ giải phong miền Nam, thống
nhất đất nước; Khác với các tác phẩm trên, Cửa gió đi sâu vào miêu tả
những trận đánh của quân và dân Vĩnh Linh - Quảng Trị vào thời gian đầucuộc kháng chiến chống Mỹ
Cửa gió, nhan đề tiểu thuyết đã tạo ấn tượng với bạn đọc ngay từ
những phút ban đầu Nó mang hai nghĩa: Thứ nhất, Cửa gió dùng để chỉ mảnh
đất Vĩnh Linh, mảnh đất miền cửa gió của thiên nhiên, khí hậu khắc nghiệtnhất cả nước, nơi đây đón đầu cái gió tây Nam bỏng rát thổi vào: “ở trênTrường Sơn có một đoạn núi thấp xuống Gió bên phía tây thổi qua, gặp núitrút mưa xuống sườn bên đó, còn lại cái xác nóng thì tuôn hết qua cửa đó màsang đây” [29; 420] khiến cho mảnh đất gió lào cát trắng này thiên nhiên đãkhốc liệt lại trở nên nặng nề hơn Thứ hai, “cửa gió” còn là cửa sông nơi cuối
Trang 40tầm huyện Gio Linh, cái cửa sông của vùng quê vừa rất nhỏ vừa rất nghèo,nhưng lại mang hàm ý đại diện cho cửa ngõ một đất nước: Cửa Việt Nhan đềcủa cuốn tiểu thuyết gợi nhớ một thời: cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước,Đôi bờ Hiền Lương - Bến Hải những năm tháng bị chia cắt, biết bao gia đìnhphải sống cảnh biệt ly mà không có cơ hội được đoàn tụ Đối với người dânVĩnh Linh, Quảng Trị, đó là sự chia cắt, li tán gia đình Trên hết đó là sự chiacắt hai miền đất nước, như khúc ruột bị chia làm hai, nỗi đau lớn của đất
nước, dân tộc Việt Nam, nên Cửa gió còn để chỉ một miền đất giới tuyến.
Vĩnh Linh nằm phía bắc “dòng sông Tuyến” (như cách gọi của nhà vănNguyễn Tuân) “với địa bàn chưa đầy một huyện, số dân chưa tới tám vạnngười” [29; 70], trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước trở thành điểmnút chính trị - quân sự địa đầu giới tuyến, mảnh đất cửa ngõ này là nơi đọ sức,
đọ lực, đọ ý chí và trí tuệ của ta và địch Nó thực sự xứng đáng như thế trongmột thời điểm đặc biệt của lịch sử đất nước, trong những năm tháng đất nước
ta bị đội quân khổng lồ, hùng mạnh nhất thế giới đến xâm lược Với cuộc đốiđầu khốc liệt ấy, “Quảng Trị đã trở thành nơi hội tụ sức mạnh của cả dân tộc
Và Cửa Việt những năm tháng ấy cũng thật sự trở thành cửa lửa, cửa thép và
cả cửa máu của Việt Nam” [35] Do vậy Cửa gió còn là một miền đất “huyền
tích”, miền đất anh hùng của ý chí dân tộc Việt Nam trong cuộc kháng chiếnchống Mỹ thống nhất nước nhà
Mở đầu Cửa gió là cuộc đụng độ giữa đoàn quân tiếp tế đảo Cồn Cỏ và
kẻ địch Xuân Đức cho người đọc thấy được sự giáp mặt ban đầu của VĩnhLinh với cuộc chiến: “Đoàng, xiu uỳnh! Nghĩa là đánh nhau dữ tợn rồi…Không thấy tàu, cũng không thấy thuyền Chỉ có những vệt lửa đan chéo nhausát rạt mặt nước Súng cứ mỗi lúc nổ một căng thêm” [29; 11] Một cuộcđụng độ không cân sức giữa ta và địch, kẻ địch với sức mạnh của khí giớihiện đại (tàu chiến, lưới sắt, quân lính được huấn luyện đánh trận chuyên