Kết quả thử nghiệm khả năng trị bệnh của dịch chiết củ tỏi đối với vi khuẩn Streptococcus spp gây ra trên cá trê lai...45 KẾT LUẬN...53 CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN NỘI DUNG C
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
TRẦN THỊ LAM GIANG
ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC LOẠI DUNG MÔI KHÁC NHAU
LÊN TÍNH KHÁNG KHUẨN Streptococcus spp.
CỦA DỊCH CHIẾT THẢO DƯỢC VÀ THỬ NGHIỆM
KHẢ NĂNG TRỊ BỆNH LỞ LOÉT DO Streptococcus spp.
TRÊN CÁ TRÊ LAI
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC SINH HỌC
Trang 2NGHỆ AN - 2014
Trang 3TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
TRẦN THỊ LAM GIANG
ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC LOẠI DUNG MÔI KHÁC NHAU
LÊN TÍNH KHÁNG KHUẨN Streptococcus spp.
CỦA DỊCH CHIẾT THẢO DƯỢC VÀ THỬ NGHIỆM
KHẢ NĂNG TRỊ BỆNH LỞ LOÉT DO Streptococcus spp.
TRÊN CÁ TRÊ LAI
Chuyên ngành: Sinh học thực nghiệm
Mã số: 60.42.01.14
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC SINH HỌC
Người hướng dẫn khoa học:
TS TRẦN NGỌC HÙNG
Trang 4NGHỆ AN - 2014
Trang 5Đồng thời tôi xin chân thành cảm ơn ThS Trương Thị Thành Vinh, côgiáo Nguyễn Thị Kim Chung và các giáo viên phòng thí nghiệm khoa NôngLâm Ngư đã tạo mọi điều kiện để tôi hoàn thành đề tài này.
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban chủ nhiệm khoa cùng toàn thể các thầy côgiáo Khoa Sinh học, Phòng sau đại học, trường Đại học Vinh đã dạy dỗ, trang
bị cho tôi nền tảng kiến thức và giúp đỡ tôi trong suốt những năm học qua.Tôi xin gửi lời cảm ơn tới tất cả bạn bè, tập thể lớp K20 - Sinh học thựcnghiệm những người đã luôn bên cạnh, động viên và giúp đỡ tôi trong suốtquá trình học tập
Cuối cùng với tất cả lòng biết ơn và kính trọng tôi xin gửi tới bố mẹ, các
em và toàn thể đại gia đình đã chăm sóc, nuôi dạy và giành cho tôi những tìnhcảm tốt đẹp nhất!
Vinh, tháng 10 năm 2014
Học viên
Trần Thị Lam Giang
Trang 6MỤC LỤC
Trang
LỜI CẢM ƠN i
DANH MỤC HÌNH VẼ iv
DANH MỤC BẢNG vi
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 3
3 Nội dung nghiên cứu 3
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Vài nét về đối tượng nghiên cứu 4
1.1.1 Cá trê lai 4
1.1.2 Vi khuẩn Streptococcus spp 6
1.1.3 Cây chó đẻ răng cưa Phyllanthus urinaria L 10
1.1.4 Tỏi Allium sativum L 13
1.2 Những hạn chế của việc sử dụng kháng sinh trong phòng, trị bệnh cho ĐVTS 15
1.3 Tình hình nghiên cứu và sử dụng thảo dược trong phòng, trị bệnh nhiễm khuẩn trên động vật thủy sản 17
1.3.1 Tình hình nghiên cứu sử dụng thảo dược trên thế giới 17
1.3.2 Tình hình nghiên cứu và sử dụng thảo dược trong nước 21
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, VẬT LIỆU, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU .26
2.1 Đối tượng nghiên cứu 26
2.2 Vật liệu nghiên cứu 26
2.3 Phương pháp nghiên cứu 27
2.3.1 Phương pháp thu dịch chiết thảo dược 27
Trang 72.3.2 Phương pháp định lượng mật độ vi khuẩn 28
2.3.3 Phương pháp thử kháng sinh đồ 29
2.3.4 Phương pháp bố trí thí nghiệm 30
2.4 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 34
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN 35
3.1 Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của các loại dung môi đến khả năng kháng khuẩn của dịch chiết củ tỏi, lá cây chó đẻ răng cưa 35
3.2 Kết quả thử nghiệm khả năng trị bệnh của dịch chiết củ tỏi đối với vi khuẩn Streptococcus spp gây ra trên cá trê lai 45
KẾT LUẬN 53
CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN NỘI DUNG CỦA ĐỀ TÀI 54
TÀI LIỆU THAM KHẢO 55 PHỤ LỤC
Trang 8DANH MỤC HÌNH VẼ
Trang
Hình 1.1 Cá trê lai 4
Hình 1.2 Vi khuẩn Streptococcus spp 7
Hình 1.3 Cây Chó đẻ răng cưa 10
Hình 1.4 Củ tỏi 13
Hình 2.1 Sơ đồ khối nghiên cứu 27
Hình 2.2 Các bước pha loãng nồng độ vi khuẩn 28
Hình 2.3 Sơ đồ bố trí thí nghiệm 1 30
Hình 2.4 Sơ đồ bố trí thí nghiệm 2 31
Hình 2.5 Đường cấy vi khuẩn trên đĩa lồng 33
Hình 3.1 Ảnh hưởng của các loại dung môi đến khả năng kháng khuẩn của dịch chiết củ tỏi 38
Hình 3.2 Ảnh hưởng của các loại dung môi đến khả năng kháng khuẩn của dịch chiết lá chó đẻ răng cưa 41
Hình 3.3 Nồng độ ức chế tối thiểu MIC của dịch chiết củ tỏi 43
Hình 3.4 Nồng độ ức chế tối thiểu MIC của dịch chiết lá chó đẻ răng cưa 44
Hình 3.5 Tỷ lệ sống của cá của ở các công thức trong thí nghiệm trị bệnh 47
Hình 3.6 Cá bị gan phù nề 48
Hình 3.7 Phân lập vi khuẩn ở gan, thận 49
Trang 10DANH MỤC BẢNG
TrangBảng 3.1 Ảnh hưởng của các loại dung môi đến khả năng kháng
khuẩn của dịch chiết thảo dược 35Bảng 3.2 Ảnh hưởng của các loại dung môi đến khả năng kháng
khuẩn của dịch chiết củ tỏi 38Bảng 3.3 Ảnh hưởng của các loại dung môi đến khả năng kháng
khuẩn của dịch chiết lá cây chó đẻ răng cưa 40Bảng 3.4 Nồng độ ức chế tối thiểu MIC của dịch chiết củ tỏi 43Bảng 3.5 Nồng độ ức chế tối thiểu MIC của dịch chiết lá chó đẻ
răng cưa 44Bảng 3.6 Diễn biến bệnh lý của cá sau khi tiêm cảm nhiễm
Streptococcus spp 46
Bảng 3.7 Kết quả phân lập vi khuẩn gây bệnh lở loét trên cá trê lai
49
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Cá trê lai (Clarias macrocephalus female x Clarias gariepinus male) là
loài cá có giá trị kinh tế cao có tốc độ sinh trưởng nhanh, chất lượng thịt thơmngon và được thị trường trong và ngoài nước chấp nhận Do có những ưuđiểm vượt trội, các trê lai dần trở thành đối tượng nuôi chủ yếu ở nước ta vớisản lượng 80 - 100 tấn/ ha/ năm Nhiều mô hình nuôi cá trê lai ở các tỉnh nhưVĩnh Long, Kiên Giang, Ninh Thuận, Quảng Ngãi, Thừa Thiên Huế, QuảngBình… đã đem lại lợi nhuận rất cao cho người nuôi, thu nhập hàng trăm triệuđồng mỗi năm Có thể nói nghề nuôi cá trê lai thực sự đã đem lại cuộc sống
ấm no cho người dân, đưa họ từng bước thoát nghèo và có cuộc sống ổn định[4] Nhu cầu về cá trê lai tiếp tục tăng trên toàn thế giới với sản lượng ước đạt
3 triệu tấn trên toàn cầu trong năm 2010 so với 2,6 triệu trong năm 2007 Vớidoanh thu ước tính lên tới 5 tỉ USD vào năm 2010, ngành nuôi cá trê lai tăngtrưởng liên tục với sự đa dạng hóa về sản phẩm [21]
Tuy nhiên, loài cá này rất mẫn cảm với nhiều tác nhân gây bệnh khácnhau trong ao nuôi như virus, vi khuẩn, nấm, kí sinh trùng Trong đó, bệnh do
vi khuẩn Streptococcus spp là tác nhân gây thiệt hại lớn trên các đối tượng cá
nước ngọt đặc biệt là trên cá trê lai, ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế của ngành
nuôi trồng thuỷ sản thế giới Ước tính tổng thiệt hại bệnh do vi khuẩn gây ra
hàng năm là khoảng 150 triệu USD [30]
Một trong những giải pháp để phòng trị các bệnh do vi khuẩn hiện nay
là sử dụng các loại kháng sinh tổng hợp Tuy nhiên hiện nay có nhiều nguyênnhân dẫn đến việc điều trị không hiệu quả đối với các bệnh nhiễm khuẩn trênđộng vật thủy sản như: các loại kháng sinh trước đây được sử dụng đặc trịbệnh nhiễm khuẩn trên các nước ngọt không còn hiệu quả do các dòng vi
Trang 12khuẩn kháng thuốc ngày càng tăng, danh mục kháng sinh bị cấm sử dụngtrong nuôi trồng thủy hải sản ngày càng nhiều…Mặt khác nếu sử dụng khángsinh không đúng cách thì không những không chữa được bệnh cho đối tượngnuôi mà còn có thể ảnh hưởng xấu đến sức khỏe, môi trường sinh thái và tạo
ra các dòng vi khuẩn kháng thuốc Ngoài ra việc sử dụng kháng sinh trongđiều trị bệnh động vật có thể để lại dư lượng trong sản phẩm sẽ gây hại chongười tiêu dùng và khả năng tiêu thụ sản phẩm
Trước tình hình đó việc nghiên cứu sử dụng các loại kháng sinh cónguồn gốc thảo dược trong phòng và trị bệnh nhiễm khuẩn cho các đối tượngđộng vật thủy sản được coi là một hướng đi mới, vừa đảm bảo vệ sinh an toànthực phẩm vừa thân thiện với môi trường Hướng đi này đặc biệt phù hợp vớinước ta vì Việt Nam là một trong những quốc gia có tiềm năng đa dạng sinhhọc cao, có nhiều loại thảo dược quí đã được ghi nhận là có tính kháng khuẩn
và đã được ứng dụng vào việc chữa trị các bệnh nhiễm khuẩn trên người vàmột số loài động vật khác
Trong số các loại thảo dược nghiên cứu thì tỏi (Allium sativum L)và cây chó đẻ răng cưa (Phyllanthus amarus Schum.et Thonn) là hai loài thảo
dược có nhiều ưu điểm, đã được minh chứng có các hoạt chất kháng khuẩn vàđược sử dụng làm những bài thuốc chữa bệnh cho người Một số đề tài đãnghiên cứu về khả năng kháng khuẩn của củ tỏi ở dạng dịch ép và dạng bộtcòn cây chó đẻ răng cưa thì chưa được nghiên cứu nhiều Tuy nhiên, hầu nhưcác nghiên cứu này chỉ mới dừng ở thử nghiệm tính kháng khuẩn của các loạithảo dược đó
Trên cơ sở đó, chúng tôi nghiên cứu đề tài “Ảnh hưởng của các loại
dung môi khác nhau lên tính kháng khuẩn streptococcus spp của dịch chiết thảo dược và thử nghiệm khả năng trị bệnh lở loét do streptococcus
spp trên cá trê lai”.
Trang 132 Mục tiêu nghiên cứu
- Đánh giá được ảnh hưởng của các loại dung môi khác nhau lên tính
kháng khuẩn streptococcus spp
- Đánh giá được khả năng trị bệnh lở loét do streptococcus spp trên cá
trê lai của dịch chiết thảo dược với loại dung môi tối ưu đã được lựa chọn.
3 Nội dung nghiên cứu
Để đạt được các mục tiêu nghiên cứu trên, đề tài triển khai các nộidụng sau:
- Nghiên cứu ảnh hưởng của các loại dung môi khác nhau đến khả năng
kháng khuẩn của dịch chiết củ tỏi, lá cây chó đẻ răng cưa với vi khuẩn
Streptococcus spp.
- Thử nghiệm khả năng phòng trị bệnh lở loét do vi khuẩn Streptococcus spp
gây ra trên cá trê lai (Clarias macrocephalus female x Clarias gariepinus
male) của dịch chiết thảo dược
Trang 14Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Vài nét về đối tượng nghiên cứu
Cá trê lai được lai giữa cá trê phi và cá trê vàng, có ngoại hình tương tự
cá trê vàng, da trơn nhẵn, đầu dẹp, thân hình trụ, dẹp ở đuôi Thân có màuxám có những chấm nhỏ mờ, u lồi xương chẩm có hình gần giống chữ M với
Trang 15các góc tròn, trong khi ở cá trê vàng là chữ U còn có trê phi là chữ M có cácgóc nhọn và rõ nét [2].
- Đặc điểm thích ứng môi trường:
Cá trê lai thích ứng rộng với môi trường nước, cá có thể sống trong giớihạn nhiệt độ từ 11-39,5oC; pH: 3,5-10,5; độ mặn dưới 15‰ Do có cơ quan hôhấp phụ nên cá trê có thể thở bằng oxy không khí, sống được ở môi trườngnước có hàm lượng oxy thấp thậm chí sống được ở trên cạn 1 giờ nếu giữđược độ ẩm cho cá [2]
- Đặc điểm dinh dưỡng:
Từ khi cá mới nở đến 48 giờ cá sử dụng noãn hoàng Sau đó bắt đầu ănđộng vật phù du cỡ nhỏ như trứng nước, ấu trùng muỗi… Sau vài ngày có thể
ăn bọ gậy… Khi cá đạt cỡ 4-6cm bắt đầu ăn tạp thiên về động vật thối rữa,tôm cá nhỏ, ruốc, tép, côn trùng, các loại phế phẩm chế biến và thức ăn tinhkhác như cám gạo, bã rượu, phân gia súc… [2]
- Đặc điểm sinh trưởng:
Cá trê lai lớn rất nhanh, trong điều kiện môi trường nuôi tốt, mật độthích hợp và chăm sóc tốt có thể tăng trọng 100-150g/con/tháng Sau 6 thángnuôi đạt trọng lượng bình quân 0,4-0,6kg/con [2]
- Tập tính sống:
Cá trê lai nuôi ít bị bệnh, chúng thường chui rúc đào hang dễ làm hỏng
bờ ao Khi mặt nước ao nuôi cao xấp xỉ bờ ao, cá thường phóng lên bờ Cá trêlai hoạt động bơi lội và ăn mạnh vào chiều tối và mờ sáng
- Cá trê lai có những đặc điểm nổi trội hơn so với cá trê vàng và cá trê phi
+ Cá trê phi: Có nguồn gốc từ Châu Phi Tên khoa học là Clarias
gariepinus Thân có màu xám có những mảng vân đen to, cá lớn nhanh.
Cá trê phi trong vòng 6 tháng đạt bình quân 1kg/con Trọng lượng cáđạt tối đa là 12,8kg nhưng thịt mềm ít thơm
Trang 16Vì vậy ít được sử dụng nuôi thương phẩm vì giá trị tiêu thụ của loài nàythấp.
+ Cá trê vàng: Tên khoa học Clarius macrocephalus có màu vàng nâu
điểm đốm nhỏ màu vàng thành hàng trên thân, thịt rất thơm ngon nhưng cókích thước nhỏ, nuôi chậm lớn, nuôi 1 năm chỉ đạt 300g/con
+ Cá trê lai: Cá trê lai dễ nuôi, mau lớn, nuôi tốt có thể tăng trọng
bình quân 100g/con/tháng Do được lai giữa 2 loài cá trê phi và cá trê vàngnên nó có nhiều đặc điểm nổi trội của cả 2 loài trên Tuy nhiên cá Trê lai sinhsản kém, không có hiệu quả trong sản xuất Chủ yếu chỉ sử dụng con lai F1 đểlàm cá thịt
Gần đây đã có một số nghiên cứu bệnh lở loét trên cá bống bớp, cá rôphi, cá trắm cỏ Trên đối tượng cá trê lai cũng có một vài nghiên cứu sửdụng dịch ép củ tỏi, củ gừng, lá húng để trị bệnh lở loét do vi khuẩn
Streptococcus spp gây ra [26] Thử nghiệm dịch ép lá ổi và củ tỏi trong
phòng trị bệnh do vi khuẩn Streptococcus spp trên cá Trê lai kết quả cho
thấy Dịch ép lá ổi và dịch ép củ tỏi có khả năng phòng bệnh tốt đối với cá trê
lai bị bệnh do vi khuẩn Streptococcus spp Sử dụng dịch ép lá ổi với liều
lượng 300ml và 400 ml/kg thức ăn cho tỷ lệ sống đạt lần lượt là 83,33% và86,67% Còn dịch ép củ tỏi với liều lượng 400ml/kg tỷ lệ sống đạt 73,3 % Sửdụng dịch ép lá ổi liều lượng 300ml/kg thức ăn có thể trị khỏi bệnh sau 7 ngàynuôi, tỷ lệ sống đạt 50%, Dịch ép từ củ tỏi liều lượng 300 ml/kg thức ăn cóthể trị khỏi bệnh sau 6 ngày nuôi, tỷ lệ sống đạt 43,3% [27]
Trang 17Họ: Streptococcaceae
Giống: Streptococcus spp
Hình 1.2 Vi khuẩn Streptococcus spp
Theo Bergey (1984), Streptocuccus spp có hình dạng cầu hoặc hình
ovan, có thể đứng riêng lẻ, thành cặp hay tạo thành chuỗi dài nên gọi là cầukhuẩn Vi khuẩn bắt màu tím của Gram dương không di động, hầu hết yếmkhí tùy tiện, lên men trong môi trường Glucoze, nhu cầu phát triển phức tạp
Vi khuẩn có kích thước 0,5 x 1- 1,5 μm
Streptococcus spp là vi khuẩn thường gây bệnh lở loét trên cá hay còn
gọi là bệnh đốm đỏ [5] Nó thường tìm thấy trong các khu vực có khí hậu ấm,ngoài ra chúng ta còn tìm thấy trong muối tươi, biển và nơi cửa sông, đượcphân lập từ người và động vật Vi khuẩn này có khả năng gây bệnh trên cá,
người và động vật lưỡng cư như ếch, thằn lằn, cá sấu… [11] Streptocuccus
spp phát triển tốt trên các môi trường thạch Tryptic Soy, Brain Heart Infusion,Muller-Hinton, Nutrien agar và thạch máu cừu Nhiệt độ nuôi cấy thích hợp
25 - 28oC Sau 48 giờ nuôi cấy, vi khuẩn tạo khuẩn lạc nhỏ (0,5 - 0,7mm) màutrắng đục, hình tròn, hơi lồi Một số chủng vi khuẩn tạo khuẩn lạc trong suốt
Trang 18có tính nhầy sau 24 giờ nuôi cấy Vi khuẩn không phát triển ở điều kiện pH9,6, NaCl 6.5%, nhiệt độ 10oC và 45oC.
Streptococcus spp là tác nhân chính của các bệnh nguy hiểm gây nên
thiệt hại lớn ở cá Rô phi nói riêng và cá nước ngọt nói chung, làm ảnh hưởngđến hiệu quả kinh tế của ngành nuôi trồng thủy sản thế giới [30]
Những loài cá khác nhau khi bị nhiễm vi khuẩn Streptococcus spp cho
một số dấu hiệu chung điển hình như:
* Các dấu hiệu bên ngoài
- Hành vi bất thường: Do vi khuẩn gây bệnh có hướng tấn công vào hệthống thần kinh trung ương của cá nên cá bị bệnh sẽ có biểu hiện bị hôn mê
và mất phương hướng Những tổn thương mắt có thể gặp như viêm mắt hoặclồi mắt, chảy máu mắt Tuy nhiên không phải con cá nào bị bệnh cũng bịnhững tổn thương về mắt
- Các vết áp-xe: Những con cá bị nhiễm bệnh do vi khuẩn Streptococcus
thường thấy những vết áp-xe có đường kính từ 2-3mm và những vết loét nàynhanh chóng vỡ ra tạo thành những vết lở loét xuất huyết không lành Nhữngvết áp-xe lớn hơn có thể gặp thấy ở vây ngực và phần đuôi của cá và nhữngvết áp-xe đó có chứa vật chất như mủ ở bên trong
- Xuất huyết ở da: Bệnh do vi khuẩn Streptococcus là nguyên nhân gây
xuất huyết bên ngoài da Nhìn chung các điểm xuất huyết thường được nhìnthấy ở quanh miệng cá hoặc ở các gốc vây Đôi khi cũng có thể quan sát thấynhững vùng da hơi đỏ xung quanh hậu môn hoặc lỗ sinh dục của cá
- Dịch cổ trướng: Sự có mặt của dịch chất lỏng trong bụng của cá làdấu hiệu của dịch bệnh ở thời kỳ cấp tính Dịch này có thể được nhìn thấychảy ra từ hậu môn của cá
* Các dấu hiệu bên trong: Các dấu hiệu bên trong bệnh này có nhiều
điểm tương đồng với bệnh nhiễm trùng máu của cá
Trang 19- Cá bỏ ăn: Nhìn chung không có sự hiện diện của thức ăn khô trong dạdày hoặc ruột của những con cá bị bệnh Tuy nhiên trong các ao nuôi cáthương phẩm khi cá bị bệnh ở giai đoạn đầu bệnh mới bùng phát cá vẫn có thể
ăn bằng cách lọc thức ăn Khi ruột và dạ dày của cá trống rỗng thức ăn thì sẽquan sát thấy túi mật rất to, đó là đặc trưng của sự vắng mặt hoạt động tiêuhoá trong cơ thể
- Nhiễm trùng máu: Trong giai đoạn cấp tính của bệnh vi khuẩn nhanhchóng đi đến hệ thống máu và lan toả đến tất cả các cơ quan nội tạng Nhữngdấu hiệu lâm sàng chính liên quan đến sự nhiễm trùng máu là sự xuất huyết,viêm gan, thận, lá lách, tim, mắt và ống ruột Lá lách thường mở rộng ra(trương và sưng nhẹ)
- Viêm màng bụng: Khi cá bị nhiễm bệnh nặng có sự dính nhau của các
cơ quan nội tạng với màng trong khoang bụng của cá Hơn nữa lúc này sựhiện diện của các tơ huyết (fibrinous) có thể được quan sát thấy trong màng ởkhoang bụng của cá
Ngoài ra khi cá bị nhiễm bệnh nặng, bệnh còn kết hợp với những vikhuẩn cơ hội khác gây bệnh cho cá có sẵn trong môi trường như vi khuẩn
Aeromonas spp ở nước ngọt hay vi khuẩnVibrio spp ở trong nước lợ.
Gần đây đã có một vài nghiên cứu về bệnh do vi khuẩn Steptococcus spp gây ra như: thử nghiệm cho thấy dịch ép nguyên chất của củ tỏi (Allium
sativum L) có tính kháng khuẩn đối với vi khuẩn Streptococcus spp và giảm
dần ở các mức pha loãng Sử dụng dịch ép củ tỏi với liều lượng 400 ml/kg
thức ăn có khả năng phòng bệnh tốt đối với cá trắm cỏ (Ctenopharyngodon
idellus) bị bệnh do vi khuẩn Streptococcus spp, tỷ lệ sống đạt 70% Dùng liều
lượng 800ml/kg thức ăn có thể trị khỏi bệnh sau 6 ngày nuôi, tỷ lệ sống đạt43,3% [14] Nghiên cứu khả năng kháng khuẩn của dịch ép củ tỏi đối với vi
khuẩn Streptococcus spp gây bệnh xuất huyết trên cá rô phi vằn cho thấy ở
Trang 20nồng độ 100% dịch ép củ tỏi có tính kháng khuẩn cao với đường kính vòngkháng khuẩn đạt 20,75mm [7].
1.1.3 Cây chó đẻ răng cưa Phyllanthus urinaria L.
Hình 1.3 Cây Chó đẻ răng cưa
Thuộc họ Thầu dầu - Euphorbiaceae
- Đặc điểm:
Cây thảo sống hàng năm hoặc sống dai Thân cứng màu hồng, lá thuônhay hình bầu dục ngược, cuống rất ngắn Lá kèm hình tam giác nhọn Cụmhoa đực mọc ở nách gần phía ngọn, hoa có cuống rất ngắn hoặc không có, đài
6 hình bầu dục ngược, đĩa mật có 6 tuyến, nhị 3 chỉ nhị rất ngắn, dính nhau ởgốc Hoa cái mọc đơn độc ở phía dưới các cành, dài 6 hình bầu dục mũi mác,đĩa mật hình vòng phân thùy, các vòi nhụy rất ngắn xẻ đôi thành 2 nhánh uốncong, bầu hình trứng Quả nang không có cuống, hạt hình 3 cạnh Cây mọchoang ở khắp nơi, trong nước cũng như ở các nơi trong các vùng nhiệt đới
- Bộ phận dùng: Phần trên mặt đất (Herba Phylanthi)
- Phân bố: Cây mọc hoang khắp nơi ở nước ta
- Thu hái: vào mùa hè, rửa sạch phơi nắng gần khô, đem phơi trong râmrồi cất dùng
- Tác dụng dược lý:
Trang 21Kenneth Jones và các nhà nghiên cứu Brazil đã khám phá tác dụng
giảm đau mạnh và bền vững của một vài loại Phyllanthus, trong đó có cây Chó đẻ răng cưa - Phyllanthus niruri Tác dụng giảm đau của Chó đẻ răng
cưa mạnh hơn indomethacin gấp 4 lần và mạnh hơn 3 lần so với morphin Tácdụng này được chứng minh là do sự hiện diện của acid gallic, ester ethyl vàhỗn hợp steroid (beta sitosterol và stigmasterol) có trong Chó đẻ răng cưa.Những nghiên cứu [38] vào năm 1999 cũng xác định những hoạt chất củaChó đẻ răng cưa có tác dụng gia tăng lượng nước tiểu, ngăn cản sự tạo thànhnhững tinh thể calcium oxalate cũng như làm giảm kích thước những viên sỏi
đã hình thành Kết quả này cũng phù hợp với những nghiên cứu sau đó chobiết Chó đẻ răng cưa có tác dụng lợi tiểu, tăng tiết mật và giãn cơ, đặc biệt làcác cơ ở vùng sinh dục tiết niệu và ống mật Những tác dụng này dẫn đếnhiệu quả trục xuất sỏi Nghiên cứu cũng cho biết tác dụng làm bể nhưng tinhthể calcium oxalate và cả tác dụng giảm đau kéo dài của Chó đẻ răng cưacũng hổ trợ tốt cho việc chữa sỏi thận [45] Một nghiên cứu của trường Đạihọc Dược Santa Catarina (Brazil-1984) đã phát hiện một alkaloid của Chó đẻrăng cưa (phyllan thoside) có tác dụng chống co thắt cơ vân và cơ trơn, cácnhà khoa học đã nhờ vào điều này để giải thích rõ hơn hiệu quả điều trị sỏithận, sỏi mật của cây thuốc Những nghiên cứu này giải thích cho việc từ lâuChó đẻ răng cưa đã được nhiều nước sử dụng trong việc phòng trị bệnh
Tác dụng giải độc: Người Việt Nam, Ấn Độ, Trung Quốc dùng Diệp hạ
châu để trị các chứng mụn nhọt, lở loét, đinh râu, rắn cắn, giun Nhân dânJava, Ấn Độ dùng để chữa bệnh lậu Theo kinh nghiệm dân gian Malaysia,Chó đẻ răng cưa có thể dùng để trị các chứng viêm da, viêm đường tiết niệu,giang mai, viêm âm đạo, Công trình nghiên cứu tại Viện Dược liệu - ViệtNam (1987 - 2000) cho thấy khi dùng liều 10 - 50g/kg, Chó đẻ răng cưa cótác dụng chống viêm cấp trên chuột thí nghiệm
Trang 22Điều trị các bệnh đường tiêu hóa: Cây thuốc có khả năng kích thích ăn
ngon, kích thích trung tiện Người Ấn Độ dùng để chữa các bệnh viêm gan,vàng da, kiết lỵ, táo bón, thương hàn, viêm đại tràng Nhân dân vùng Haiti,Java dùng cây thuốc này trị chứng đau dạ dày, rối loạn tiêu hóa,
Bệnh đường hô hấp: Người Ấn Độ sử dụng Chó đẻ răng cưa để trị ho,
viêm phế quản, hen phế quản, lao,
Tác dụng lợi tiểu: Y học cổ truyền một số nước đã sử dụng Chó đẻ răng
cưa làm thuốc lợi tiểu, trị phù thũng
Điều trị tiểu đường: Tác dụng giảm đường huyết của Chó đẻ răng cưa
(Phyllanthus niruri) đã được kết luận vào năm 1995, đường huyết đã giảmmột cách đáng kể trên những bệnh nhân tiểu đường khi cho uống thuốc nàytrong 10 ngày Thành phần hoá học: flavonoid, alcaloid phyllanthin và cáchợp chất hypophyllanthin, niranthin, phylteralin
Gần đây có một số thông tin cho rằng uống Chó đẻ răng cưa có thể gây
vô sinh Điều này có lẽ bắt nguồn từ 1 nghiên cứu về tác dụng ngừa thai củaDiệp hạ châu trên trên loài chuột của các nhà khoa học trường Đại họcGujaret ở Ấn độ Kết quả nghiên cứu cho thấy khi cho chuột uống cao toànthân cây Chó đẻ răng cưa liều 100mg/kg thể trọng đối với chuột cái[39] hoặc 500mg/kg thể trọng đối với chuột đực [40] có thể tạm thời ức chếkhả năng sinh sản trong thời gian thí nghiệm 30 ngày (chuột cái) hoặc 45ngày (chuột đực) Sau khi ngưng uống Chó đẻ răng cưa, khả năng này phụchồi bình thường Điều này khác với vô sinh Hơn nữa chỉ mới là thử nghiệmban đầu trên loài vật Do việc sử dụng cây chó đẻ răng cưa được quan tâmnhiều nên đã có nhiều tác giả nghiên cứu về mặt thực vật học của hai loài câynày trong thời gian qua[15] [28] Đặc biệt trong Đông y Diệp hạ châu sử dụngnhư 1 loại thuốc thanh Can lương huyết, giải độc sát trùng từ lâu đời Tuynhiên, tác dụng giải độc gan và chữa viêm gan siêu vi B chỉ mới được các nhà
Trang 23khoa học lưu ý từ những năm 1980 về sau Nghiên cứu của các nhà khoa họcNhật bản và Ấn độ đã cho biết họ đã phân lập được những hợp chất trong Chó
đẻ răng cưa có khả năng chữa bệnh viêm gan như phyllantin, hypophyllantin
và triacontanal Tác động chống virus siêu vi B được báo cáo lần đầu tiên tại
Ấn độ vào năm 1982 Sau đó, một báo cáo trên tạp chí Lancet vào năm 1988cũng xác định tác dụng này Theo báo cáo này 2 nhà khoa học Blumberg vàThiogarajan đã điều trị 37 trường hợp viêm gan siêu vi B với kết quả 22 trong
số 37 người đã đạt được kết quả âm tính sau 30 ngày dùng Chó đẻ răng cưa.Ðối với viêm gan siêu vi, Chó đẻ răng cưa có khả năng làm hạ men gan, tăngcường chức năng gan và ức chế sự phát triển của virus Theo các nhà khoahọc, những tác nhân gây viêm gan hoặc hoại tử tế bào gan thường bắt đầu từ
sự gia tăng quá trình peroxide hoá lipid ở màng tế bào Do đó, bảo vệ ganphải bắt đầu từ những chất chống oxy hoá có tính năng ức chế qúa trình này Chó đẻ răng cưa có hàm lượng những chất chống oxy hoá hướng gan[41] cókhả năng ức chế rất mạnh quá trình peroxide hoá ở gan Ngoài ra, những chấtnày còn làm gia tăng hàm lượng Glutathione ở gan làm giảm hoạt động cácenzym SGOT và SGPT trong những trường hợp viêm gan siêu vi đang tiếntriển Điều này mở ra hướng sử dụng cây Chó đẻ răng cưađiều trị bệnh ảnhhưởng tới gan của các loài thủy sản Song trong lĩnh vực thủy sản chưa cónhiều nghiên cứu
1.1.4 Tỏi Allium sativum L.
Thuộc họ Hành - Alliaceae.
Trang 24Hình 1.4 Củ tỏi
- Đặc điểm: Thuộc dạng cây thảo sống nhiều năm Thân thực hình trụ,phía dưới mang nhiều rễ phụ, phía trên mang nhiều lá Lá cứng, hình dải,thẳng dài 15-50cm, rộng 1-2,5cm có rãnh khía, mép lá hơi ráp Ở mỗi nách láphía gốc có một chồi nhỏ sau này phát triển thành một tép Tỏi; các tép nàynằm chung trong một cái bao (do các bẹ lá trước tạo ra) thành một củ Tỏi tức
là thân hành (giò) của Tỏi Hoa xếp thành tán ở ngọn thân trên một cán hoadài 55cm hay hơn Bao hoa màu trắng hay hồng được bao bởi một cái mo dễrụng, tận cùng thành mũi nhọn dài Hoa tháng 5-7, quả tháng 9-10
- Bộ phận dùng: Thân hành (giò) - Bulbus Allii, thường có tên là Ðạitoán
- Nơi sống và thu hái: Cây của miền Trung châu Á, được gây trồng ởnhiều nước ôn đới Ở nước ta, cũng trồng nhiều, có những vùng trồng Tỏi cótiếng ở Quảng Ngãi, Hà Bắc, Hải Hưng Tỏi là gia vị rất quen thuộc trongđời sống của nhân dân ta Thường ta thu hoạch vào cuối đông, đầu xuân; cóthể dùng tươi hay phơi khô dùng dần
- Tác dụng dược lý:
Trong các nghiên cứu và thử nghiệm các loại thuốc chiết xuất từ dịch
ép củ Tỏi trên người bệnh đã cho thấy Tỏi có tác dụng chữa trị nhiều cănbệnh khác nhau Trong tỏi tươi có chất allicin, nhờ tác dụng của men allinazachuyển hóa aliin có sẵn trong tỏi thành allicin, là chất chủ yếu gây tác dụng
Trang 25đối với vi khuẩn Allicin là chất kháng sinh tự nhiên có tác dụng mạnh hơn cảpenicillin Nước tỏi pha loãng 125.000 lần vẫn có dấu hiệu ức chế nhiều loại
vi khuẩn gram âm và gram dương như: Staphylococcus, Streptococcus,
samonella, V cholerae, B dysenteriae, Mycobacterium tuberculosis Tỏi
cũng ức chế sự phát triển của nhiều loại siêu vi như bại liệt, cúm và một sốloại nấm gây bệnh ở da hoặc bộ phận sinh dục nữ như candida Trong Tỏi còn
có liallyl sulfide, chất này tuy không mạnh bằng allicin nhưng có thể tồn tạilâu hơn và giữ nguyên được dược tính khi nấu [13] đã chiết xuất từ Tỏi mộtchất gọi là allistalin, có tính chất giống như allicin; Machado (1948) cũngchiết xuất từ Tỏi chất garcin, nó là một chất kháng khuẩn màu vàng, không cómùi lưu huỳnh, không độc, có tác dụng đến cả vi khuẩn Gram (-) và Gram(+) Garcin có thể dễ dàng hấp thu qua thành ruột và có thể đi tới dịch não
tủy, đã ứng dụng có kết quả trong nhiễm khuẩn Shigella hoặc d o các bệnh ký
sinh trùng như giun kim, giun đũa và giun tóc Các nhà khoa học Mỹ đã tìmthấy chất prostagladin A trong nước Tỏi có khả năng hạn chế bệnh nhồi máu
cơ tim, hạ huyết áp, phòng bệnh xơ vữa động mạch Các bác sĩ Nhật Bản lạinhận xét rằng do Tỏi chứa chất allixotine nên Tỏi có tác dụng chữa đau lưng,viêm khớp Ngoài ra các nghiên cứu lâm sàng cũng cho thấy Tỏi có tác dụngchữa trị được nhiều căn bệnh như: các bệnh về tai, mũi, họng; bỏng nhiễmkhuẩn và vết thương có mủ; dùng Tỏi để trị các loại giun; dùng nước ép Tỏi
để trị viêm âm đạo trùng roi; chữa các bệnh về tim mạch [1] Theo kinhnghiệm của người dân, có thể dùng tỏi trộn vào thức ăn cho cá để trị bệnhviêm ruột ở cá Trắm cỏ
1.2 Những hạn chế của việc sử dụng kháng sinh trong phòng, trị bệnh cho ĐVTS
Kháng sinh tổng hợp là chất hữu cơ do sinh vật tiết ra hoặc do conngười tổng hợp nên, có khả năng ức chế, kìm hãm và tiêu diệt vi khuẩn ở mộtnồng độ nhất định Trong y học, thú y và nuôi trồng thủy sản, người ta dùng
Trang 26kháng sinh tổng hợp để trị các bệnh nhiễm khuẩn và đem lại hiệu quả rất cao,nếu dùng đúng thuốc, đúng liều và đúng thời gian Tuy vậy, kháng sinh tổnghợp cũng là con dao hai lưỡi, có thể ảnh hưởng xấu đến sức khỏe động vật sửdụng nó và cũng có tác động không nhỏ tới môi trường sinh thái, nếu dùngkháng sinh tổng hợp tùy tiện và thiếu hiểu biết có khả năng làm giảm sức đềkháng của vật nuôi với các loại mầm bệnh [11]
Việc sử dụng kháng sinh tổng hợp trong phòng trị bệnh vi khuẩn đãmang lại những thành công nhất định, nhưng nó cũng làm gia tăng nhữngdòng vi khuẩn kháng thuốc (Weston, 1996) Sự kháng thuốc này còn đượctruyền sang dòng vi khuẩn khác thông qua các thể plasmid trong đó có các vikhuẩn gây bệnh trên người và động vật nuôi khác, làm hạn chế việc sử dụngkháng sinh trong phòng trị bệnh cho người và trong thú y (Towner, 1995)
Dư lượng kháng sinh tổng hợp tồn tại trong cơ thể động vật thủy sảnnuôi làm giảm giá trị thương phẩm và tăng rủi ro cho người tiêu thụ Sựkháng thuốc cũng được tìm trên những vi khuẩn gây bệnh cho người(Towner, 1995) Ở Anh và Ai Len, ADN của những vi khuẩn kháng thuốc
kháng sinh đã chuyển sang các loại vi khuẩn E coli và Aeromonas phân
lập từ các bệnh viện (Rhodes và ctv, 2000) Ở Việt Nam Kim ngạch xuấtkhẩu trong lĩnh vực thủy sản năm 2013 đạt hơn 6,7 tỷ USD, hơn 32 lần sonăm 1990, trở thành một trong những nước xuất khẩu thủy sản lớn trên thếgiới Tuy nhiên, tình hình nhiễm dư lượng kháng sinh vẫn chưa được xử lýtriệt để Theo kết quả báo cáo của Tổ chức Phát triển Công nghiệp của LiênHợp Quốc (UNIDO) ở 4 thị trường lớn là EU, Hoa Kỳ, Nhật Bản, Úcthì Việt Nam là một trong ba nước đứng đầu về số vụ bị từ chối nhập khẩusản phẩm thủy sản giai đoạn 2006-2010 Tính trung bình trong giai đoạnnày, mỗi năm Việt Nam thiệt hại hơn 14 triệu USD do hàng xuất khẩu thủysản bị trả lại [21]
Trang 27Một trong những lý do quan trọng nhất để kiểm soát việc sử dụngkháng sinh tổng hợp trong NTTS là sự nguy hiểm của việc các vi khuẩnkháng thuốc phát triển Khi vi khuẩn đã mang gen kháng thuốc thì chúng ta sẽrất khó khăn trong việc loại trừ chúng bằng thuốc kháng sinh thông thường.Hơn nữa, nhiều loại thuốc kháng sinh tổng hợp được sử dụng có tính bền khácao trong môi trường và có thể lan ra các vùng xung quanh, làm thay đổi hệsinh thái bằng cách biến đổi cấu trúc thông thường của vi khuẩn và cũng cónhững ảnh hưởng rất lớn đối với động thực vật thủy sinh [16].
Với những hạn chế như trên, hiện nay trên thế giới cũng như ở ViệtNam đang có xu hướng nghiên cứu các loại thuốc điều trị bệnh cho ĐVTS cónguồn gốc từ thiên nhiên để thay thế dần các thuốc kháng sinh tổng hợp
1.3 Tình hình nghiên cứu và sử dụng thảo dược trong phòng, trị bệnh nhiễm khuẩn trên động vật thủy sản
Ưu thế của những loại thuốc có nguồn gốc thảo dược là không có hiệntượng kháng thuốc, không có tồn dư trong thực phẩm an toàn với vật nuôi,môi trường và con người [24, 25] Nó khắc phục được những hạn chế mà việcdùng hó chất và thuốc khangs sinh tổng hợp mắc phải như: dư lượng hóa chất,kháng sinh trong thịt tôm cá nuôi, độc hại đối với sức khỏe con người và tácđộng xấu tới môi trường Do đó, xu hướng nghiên cứu những loại thuốc cónguồn gốc thảo dược phòng và trị bệnh cho động vật thủy sản đang được thếgiới quan tâm
Tính kháng khuẩn, diệt khuẩn của chúng được nghiên cứu trên khá
nhiều loài vi khuẩn như Aeromonas hydrophyla, Streptococus sp, Vibrio sp
Các nghiên cứu đã đề xuất được một số phương thức sử dụng thảo dược bằngcách sử dụng các bộ phận khác nhau trong cây như lá, ngọn, thân và rễ; sửdụng dạng bột, dịch ép, dịch chiết hay hoạt chất của thảo dược với các nồng
độ khác nhau Qua các kết quả nghiên cứu cho thấy một số thảo dược bước
Trang 28đầu có tác dụng trong việc phòng trị bệnh cho vật nuôi hoặc giúp sinh rakháng thể Bên cạnh đó, có nghiên cứu còn chứng minh được tính vô hại củathảo dược đối với môi trường Mặc dù còn hạn chế nhiều so với nghiên cứutrên người và gia súc nhưng cũng có một số nghiên cứu điển hình như:
1.3.1 Tình hình nghiên cứu sử dụng thảo dược trên thế giới
thấy O.sanctum, E alba, C alata, P acidus có tác dụng kháng khuẩn đối
với vi khuẩn này và nồng độ ức chế tối thiểu là 1mg/ml, liều gây chết 50%đối với poslava 15 sau 24h là 1,987 - 3,548 ppm [42]
- Ở Trung Quốc, Khuê Lập Trung (1985) trong “Kỹ thuật phòng trị
bệnh tôm, cá và nhuyễn thể” đã đưa ra 22 loại thảo dược chủ yếu phòng trị
bệnh nhiễm khuẩn, ngoại ký sinh trùng và bệnh đường ruột Các loài thảodược có thể kể như: Xuyên Tâm liên, Địa Niên thảo, Lưu Xô thử, Tiền thảo,Quản trọng…[31]
Cũng ở Trung quốc Huonjun Yin và ctv đã nghiên cứu hiệu quả của 2
loại thảo dược (Astralagus radix và Scutellavia radiis) lên tính miễn dịch đặc hiệu của cá rô phi Kết quả cho thấy Astralagus radix cho ăn với nồng
độ 0,1 và 0,5% trong thời gian 3 tuần là có hiệu quả tối ưu nhất; với
Scutellavia radiis cần có thêm thí nghiệm để tìm ra nồng độ và thời gian cho
ăn thích hợp [35]
* Sử dụng thảo dược ở dạng bột.
Trang 29Thảo dược ở dạng bột, thức ăn trực tiếp có ưu điểm là dẽ bảo quản, vậnchuyển và sử dụng hơn dạng dịch ép và dịch chiết nên nó được sử dụng rộngrãi trên thế giới.
- Ở Trung Quốc sản phẩm được sử dụng phổ biến và nhiều người biết
đến có nguồn gốc từ tỏi (Allium sativum), đóng gói dạng bột mịn trắng với
trọng lượng 1kg/gói (trong gói 1kg có 10 gói nhỏ mỗi gói có trọng lượng100gram) đã được sử dụng rộng rãi và có hiệu quả cao trong việc phòng và trịbệnh nhiễm khuẩn trên cá trắm cỏ nói riêng và cá nuôi nước ngọt nói chung[12] Một nghiên cứu khác trên cá chép ở Trung Quốc là người ta trộn lẫn một
số thảo dược với nhau (Astragalus mempranaceus phần rễ và thân,
Poligonum multiflorum phần rễ, Isatis tinctoria phần rễ, Glycyrhida grabra
phần thân) cho cá ăn 0,5 và 1% trong thời gian 30 ngày, kết quả cho thấy tínhmiễn dịch của cá tăng lên đáng kể [34]
- Ở Ấn Độ, người ta đã tiến hành nghiên cứu trong phòng thí nghiệm
với 3 loài thảo dược: Ocimum sanctum (os), withania somniera (ws) và
myristik fragrans (mf) có ảnh hưởng kháng lại vi khuẩn Vibrio harveyi gây
bệnh trên cá song [43] Một nghiên cứu khác đề cập đến hiệu quả của thảodược đối với tính miễn dịch của cá chép Ấn Độ khi cho ăn thức ăn chứa 0,5%
rễ cây Achyranthes astera sau 4 tuần thấy cá có khả năng sinh kháng thể [46] Năm 2004, Hasnabana đã nghiên cứu sử dụng Azadirachta indik, Allium
sativum và Poligonum hidropiper là 3 loại thảo dược dùng để kháng khuẩn.
Kết quả cho thấy chúng có tác dụng phòng bệnh nhưng không gây ô nhiễmmôi trường [36]
* Sử dụng thảo dược dạng dịch chiết
Các nhà khoa học người Trung Quốc và Ấn Độ đã hợp tác nghiên cứu
về hiệu quả của 1 số thảo mộc đối với khả năng kháng lại virus đốm trắng
trên tôm Sú (Penaeus monodon) Thí nghiệm được tiến hành như sau: Năm
Trang 30loại thảo dược lần lượt có tên Cyanodon dactylon (cỏ gà), Aegle marmelos,
Tinospora cordifolia, Picrorhiza kurooa và Eclipta alba (cỏ mực) được tách
chiết bằng phương pháp methanol, tiến hành dùng thảo dược đã được táchchiết trộn vào thức ăn lần lượt với các nồng độ sau 100mg/kg thức ăn; 200mg/
kg thức ăn; 400mg/kg thức ăn; 800mg/kg thức ăn Sau 7 ngày thí nghiệm lôđối chứng (lô không có tác động của thảo dược), tôm đã chết Sau 25 ngày lô
thí nghiệm có ăn thảo dược ở nồng đô 800mg/kg thức ăn có tỷ lệ sống đạt trên
74% (P<0,0001) [44]
Các loại thảo mộc Ocimum sanctum (OS), Withania somnifera (WS)
và Myristica fragrans (MF) ở Ấn Độ, đã tiến hành nghiên cứu trong quy mô phòng thí nghiệm đều có ảnh hưởng kháng lại vi khuẩn Vibrio harveyi gây bệnh trên cá song (Epinephelus tauvina) bước đầu đã có kết quả tốt trong việc trị bệnh do vi khuẩn Vibrio harveyi Một nghiên cứu khác tại Ấn Độ cho thấy
chất chiết từ lá ổi và quả ổi có tác dụng chống lại các loài vi khuẩn
Staphylococcus, Shigella, Salmonella, Bacillus, E coli, Clostridium và Pseudomonas [43].
Harikrishnan et al., (2009) ngâm cá chép (Cyprinus carpio) đã gây cảm nhiễm với vi khuẩn A hydrophila (nồng độ 108 cfu/ml) với thảo dược Ấn Độ
(Azadirachta indica) (nồng độ 1g/lít trong 10 phút suốt 30 ngày cho thấy số
lượng bạch cầu, hồng cầu và hàm lượng protein huyết thanh tăng có ý nghĩa
thống kê so với cá đối chứng Kết quả của Ardó et al., (2008) cho thấy trộn chiết chất từ cây Hoàng kỳ (Astragalus radix) và Kim ngân (Lonicera
japonica) vào thức ăn có thể tăng cường hệ miễn dịch cá chép và cá rô phi
(Oreochromis niloticus) chống lại vi khuẩn Aeromonas hydrophila Theo Yin et al., (2006) khi bổ sung 0,1-0,5% Hoàng kỳ (Astragalus radix) vào thức
ăn làm tăng hàm lượng lysozyme của cá rô phi sau 1 tuần và hoạt động thực
bào của tế bào thực bào tăng sau 3 tuần Cũng trên cá Rô phi, Pachanawan et
Trang 31al., (2008) chứng minh có thể sử dụng lá ổi (Psidium guajava) để kiểm soát
bệnh do Aeromonas hydrophila gây ra Chiết chất từ cây Xuyên tâm liên (Andrographis paniculata) có thể kiểm soát được bệnh do vi khuẩn Aeromonas hydrophila gây bệnh trên cá Trê trắng (Clarias batrachus) (Balasundaram và Harikrishnan, 2009).Zheng et al., (2009) chứng minh khi thêm tinh dầu cây lá thơm (Origanum heracleoticum) vào khẩu phần thức ăn
cá nheo (Ictalurus punctatus) bị nhiễm vi khuẩn gây bệnh xuất huyết (Aeromonas hydrophila) thì cá vẫn tăng trưởng khác biệt có ý nghĩa
(P<0,005) so với đối chứng Chức năng gan và các cơ quan nội tạng được cảithiện và hoạt động chống oxy hóa của cá cũng tăng lên
Nhìn chung, trên thế giới đã quan tâm tới vấn đề hiệu quả sử dụng thảodược về khía cạnh kháng khuẩn trên các đối tượng thủy sản nhằm phòng vàtrị bệnh Tuy nhiên các kết quả nghiên cứu còn hạn chế ở quy mô phòng thínghiệm, các sản phẩm ra đời trên thị trường từ các kết quả nghiên cứu hiệnnay còn hạn chế
1.3.2 Tình hình nghiên cứu và sử dụng thảo dược trong nước
Cũng như nhiều nước trên thế giới có nghề NTTS, Việt Nam cũng đangđối mặt với những ảnh hưởng lớn của dư lượng hóa chất, kháng sinh sử dụngtồn đọng trong sản phẩm thủy sản gây độc cho sức khỏe con người, vật nuôiđồng thời tác động xấu đến môi trường sinh thái
Để khắc phục tình trạng lệ thuộc vào hóa chất, kháng sinh trong phòng trịbệnh cho động vật thủy sản nuôi, đảm bảo nguồn thực phẩm an toàn cho ngườitiêu dùng, thời gian qua đã có không ít những nghiên cứu sử dụng thảo dượctrong phòng trị bệnh thủy sản Một số loài thảo dược đã được đưa vào nghiêncứu: tỏi, lá xoan, lá ổi, lá hẹ,… Đối tượng nuôi được nghiên cứu bao gồm cả cácloài nước mặn và nước ngọt như cá chép, cá trắm cỏ, cá rô phi, cá song [32]
Trang 32Việc sử dụng các loài cây quen thuộc trong vườn để trị các bệnh thôngthường như đường ruột, bệnh đường hô hấp, mụn nhọt, vết thương… chongười đã có từ xa xưa Nó đã khẳng định các loại cây có thể sử dụng trongphòng và trị bệnh nuôi trồng thủy sản.
Theo y học cổ truyền, phần lớn những cây thuốc có tác dụng chữa bệnhnhiễm khuẩn đã được xếp trong nhóm thuốc thanh nhiệt giải độc, táo thấp,thuốc khử hàn, như alicin trong tỏi, odorin trong hẹ, Từ thế kỷ XIV, Đại ythiền sư Tuệ Tĩnh đã sử dụng nhiều thảo mộc như tỏi, hẹ, tô mộc, hạt cải, trầukhông để trị một số bệnh viêm nhiễm [24]
Từ giữa thế kỉ XX, theo kết quả nghiên cứu của Phạm Văn Ngữ (1956)trên 500 loài cây thuốc, đã khẳng định rằng nhiều cây có tác dụng khángkhuẩn rất lớn Theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Văn Hưởng và cộng sự(1959), trên 1000 cây thuốc, chỉ ra rằng kháng sinh thực vật sử dụng rất antoàn, có tác dụng mạnh, nhóm nghiên cứu đã đưa ra chế phẩm cây tô mộc trịbệnh tiêu chảy
* Sử dụng thảo dược dạng dịch ép
Ở miền Nam, các cây cỏ được dùng trong phòng trị bệnh cho vật nuôithủy sản chủ yếu từ kinh nghiệm dân gian: Khu vực nuôi cá bè ở Tân Châu -Châu Đốc - An Giang; Hồng Ngự - Đồng Tháp; Vĩnh Hưng, Tân Hưng -
Đồng Tháp Mười - Long An,… người dân đã biết dùng cây cỏ mực (Prostista
alba), dây trầu không (Piper better L.) để phòng trị bệnh ký sinh trùng cho cá;
lá ổi (Psidium guajava) chữa bệnh nhiễm khuẩn cho cá [18]
Nghiên cứu khác của Phan Xuân Thanh và ctv (2002) đã xác định đượcchất: 2-hydroxy-6-pentandecatrienilbenzoat có nguồn gốc từ thảo dược, có tácdụng phòng trừ các bệnh do vi khuẩn và nấm gây ra Nhằm mục đích sử dụngcác hoạt chất sinh học thay thế các hoá chất độc và kháng sinh trong lĩnh vựcnuôi trồng thuỷ sản [24]
Trang 33Trong báo cáo “Sử dụng kháng sinh thảo mộc phòng và chữa trị một
số bệnh nhiễm khuẩn trong nuôi động vật thuỷ sản”, Nguyễn Thị Vân Thái vàctv đã trình bày về khả năng sử dụng y dược y học cổ truyền trong phòng vàchữa trị một số bệnh nhiễm khuẩn cho tôm cá, động vật thân mềm… thay thếcác thuốc kháng sinh hiện đang phổ biến trên thị trường Các tác giả đã đưa raphương pháp phòng bệnh bằng thức ăn bổ trợ có tác dụng tăng cường sức đềkháng của động vật thuỷ sản
Năm 2008, Trương Thị Mỹ Hạnh và ctv đã nghiên cứu khả năng khángkhuẩn của dịch ép từ lá hẹ, trầu không và đinh lăng Kết quả cho thấy Hẹ có
tính kháng vi khuẩn Aeromonas hydrophila và Streptococcus sp gây bệnh
trướng bụng, xuất huyết trên cá rô phi nuôi với đường kính vòng vô khuẩn đạt
>25mm với lượng sử dụng 100µl/khoanh Hiệu quả tính kháng khuẩn của hẹgiảm mạnh khi có tác động của nhiệt độ ở 1500C, đường kính vòng vô khuẩn
chỉ đạt 5mm Kết quả phòng và trị bệnh cá rô phi nhiễm khuẩn Aeromonas
hydrophila và Streptococcus sp trong quy mô phòng thí nghiệm khi sử dụng
nước ép lá hẹ trộn vào thức ăn viên đạt được tỷ lệ sống 50% so với lô thínghiệm đối chứng Ngoài ra, hẹ còn có tính diệt nấm ở nồng độ 15.000ppmtrong 6h và ở 13.000ppm ở 24h Riêng đối với đinh lăng, chè xanh kết quả
cho thấy chúng không có tính kháng vi khuẩn Aeromonas hydrophila và
Streptococcus sp gây bệnh trướng bụng, xuất huyết trên cá rô phi nuôi với
lượng sử dụng 250µl/khoanh, trầu không có tính kháng vi khuẩn Aeromonas
hydrophila và Streptococcus sp nhưng ở mức độ kém với đường kính vòng vô
khuẩn đạt 10mm ở lượng sử dụng 250µl/khoanh [12]
Năm 2011 là nghiên cứu của Huỳnh Kim Diệu, Đại học Cần Thơ vềkhả năng kháng khuẩn của cỏ mực thu tại khu vực đồng bằng sông Cửu Longcho thấy chúng có khả năng kháng khuẩn tương đối tốt đối với một số chủng
vi khuẩn gây bệnh trên động vật thủy sản, trong đó điển hình nhất là
Trang 34Edwardsiella tarda, riêng đối với loài Streptococcus faecalis mức độ kháng
khuẩn chỉ ở mức trung bình [6]
* Sử dụng thảo dược dạng dịch chiết
Trong công trình nghiên cứu của Bùi Quang Tề và Vũ Thị Tám có đềcập đến ý kiến của Nguyễn Ngọc Hạnh và cộng sự về nghiên cứu thử nghiệmthành công các hợp chất chiết xuất từ thảo dược, như Hepato và Alixin có tácdụng hỗ trợ tiêu hoá tốt, giúp tôm khoẻ mạnh, sinh trưởng bình thường, có khảnăng chống nhiễm bệnh đặc biệt các bệnh về gan Trong đó Hepato có côngdụng hỗ trợ và bảo vệ gan phòng và trị bệnh về gan như MBV và teo gan [19]
Trong một nghiên cứu vào năm 2006, Nguyễn Viết Khuê và ctv chothấy trong số những người được phỏng vấn có 41,33% người nuôi sử dụngthảo dược, phổ biến là tỏi và lá xoan, 15% dùng không hiệu quả, 85% đạt hiệuquả từ ít đến nhiều Việc nghiên cứu thành phần các hợp chất có trong thảomộc là cơ sở nghiên cứu cho ra các sản phẩm thuốc ứng dụng phòng trị bệnhđộng vật thuỷ sản nói riêng
Nguyễn Ngọc Phước và ctv (2007) đã tiến hành nghiên cứu sử dụng látrầu không để trị bệnh do nấm gây ra trên đối tượng nuôi động vật thuỷ sản.Bước đầu đã có kết quả tốt ở quy mô phòng thí nghiệm Nồng độ ức chế tốithiểu của dịch chiết lá trầu với cả hai loại dung môi là nước cất và ethanol đối
với họ nấm Saproleginaceae và nấm Achlya sp là 2.500ppm; 1.250ppm đối với chủng Aphanomyces piscicida Ở nồng độ cao nhất 10.000ppm, dịch chiết
lá trầu có thể tiêu diệt được 5 chủng nấm thí nghiệm Saprolegnia dicilina;
Saprolegnia diclina; Saprolenia parasitica; Achlya sp; và Aphanomyces piscicida [20] Cũng tại đại học Huế mọt nhóm tác giả khác có nghiên cứu và
cho kết luận rằng tỏi và lá trầu không là hai loại thảo dược có khả năng diệt
khuẩn rất tốt đối với A.hydrophyla gây bệnh lở loét cho cá trắm cỏ [17].
Trang 35Nguyễn Thanh Hải, Bùi Thị Tho, 2013 Nghiên cứu tác dụng diệt
khuẩn in vitro của dịch chiết tỏi (Allium sativumL.) đối với E coli gây bệnh
và E coli kháng ampicillin, kanamycin kết quả thử nghiệm dung môi Ethanol, Methanol chiết xuất dịch tỏi và xác định khả năng kháng khuẩn với E.coli O44
kết quả cho thấy đường kính vòng vô khuẩn đạt lần lượt 19,1 mm và 19,7mm,sai khác không có ý nghĩa thống kê với P>0,05 [10]
* Sử dụng thảo dược đã được chế biến thành thuốc
Sản phẩm với tên VTS1 - C và VTS1 - T được Bùi Quang Tề và cộng
sự phối chế thành công vào năm 2005, từ các hoạt chất tách chiết từ tỏi
(Allium sativum), sài đất (Weledia calendulacea), nhọ nồi (Elista alba Hassk)
để phòng trị bệnh cho tôm Sú và cá tra nuôi ao và nuôi lồng để phòng trị một
số bệnh do vi khuẩn Aeromonas hydrophyla, Edwardsiella tarda, Hafnia
alvei, Vibrio harveyi, Vibrio alginolyticus Với VTS1 - C gồm 30% cao dầu
tỏi và 70% cao dầu sài đất dùng cho cá Tra và cá Basa[23]
Ở miền Bắc, thuốc KN 04 - 12 là sản phẩm phối chế của đề tài cấp nhànước mã số KN 04 -12 năm 1990 - 1995 do Hà Ký làm chủ nhiệm Thànhphần thuốc bao gồm các cây thuốc có kháng sinh thực vật, gồm: rau nghể
(Polygonum hydropiper L.); rau sam (Portulaca cleracae L.); cỏ sữa lá to (Euphorbia hirta L.); cỏ sữa lá nhỏ (Euphobia thymifolis); sài đất (Wedelia
calendulacae); nhọ nồi (Eclipta alba Hassk); bồ công anh (Lactuca indica
L.); cây vòi voi (Heliotrpium indicum L.); chó đẻ răng cưa (Phyllantus
urinaria L.) và vitamin cùng một số vi lượng khác Thuốc có tác dụng phòng
và trị bệnh nhiễm khuẩn như đốm đỏ, thối mang, viêm ruột của cá nuôi lồnghay nuôi ao [12]
Từ những nghiên cứu thử nghiệm thảo dược ở các dạng khác nhau, đã
có một số loại thảo dược ứng dụng vào sản xuất và tiêu thụ trên thị trường,phục vụ nhu cầu phòng trị bệnh cho các đối tượng thủy sản điển hình như:
Trang 36Thuốc 12 là sản phẩm phối chế của đề tài cấp nhà nước mã số
KN-04-12 năm 1990-1995[16]
Năm 2006, Thuốc BecaNor 1 và BecaNor 2 là 2 sản phẩm với thànhphần chính là tỏi và gừng bước đầu đã có hiệu quả rất tốt trong việc phòng vàtrị bệnh đốm đỏ ở qui mô phòng thí nghiệm và thử nghiệm ngoài thực địa tại
3 tỉnh Quảng Ninh, Nam Định, Hà Giang phòng bệnh cho cá trắm cỏ bướcđầu cho kết quả tốt
Trang 37Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, VẬT LIỆU, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Vi khuẩn Streptococcus spp gây bệnh lở loét trên cá trê lai được thu và
giữ tại phòng thí nghiệm vi sinh bệnh học thủy sản khoa Nông Lâm Ngư,Trường Đại học Vinh
2.2 Vật liệu nghiên cứu
- Củ tỏi (Allium sativum L)
- Cây chó đẻ răng cưa (Phyllanthus amarus Schum.et Thonn).
- Cá trê lai với kích thước trung bình của chiều dài thân 8 - 13 cm, nặng
9 - 12 g/cá thể
- Dụng cụ phân tích vi khuẩn: Ống nghiệm vô trùng các loại, đĩa peptri,que cấy vô trùng, đèn cồn, lamen, lam, pipet, kẹp gắp, dầu soi kính, tủ lạnh,kính hiển vi, nước muối sinh lý, nước cất, kim tiêm,…
- Hoá chất: Cồn, thuốc thử, thuốc nhuộm Gram
- Môi trường nuôi cấy cơ bản NA (Nutrient Agar)
- Dụng cụ lấy dịch chiết thảo dược: Máy xay, chai lọ, giấy lọc
- Đĩa giấy tẩm nước ép thảo dược đường kính 6mm
- Dao, kéo, panh, găng tay…
- Thùng xốp, máy sục khí, dây sục khí, đá bọt
Trang 382.3 Phương pháp nghiên cứu
Hình 2.1 Sơ đồ khối nghiên cứu
2.3.1 Phương pháp thu dịch chiết thảo dược
+ Đối với củ tỏi: Bóc vỏ lụa, lấy các ánh tỏi và nghiền trong các dungmôi hữu cơ theo tỷ lệ 1:1 (1g tỏi: 1ml dung môi), dịch này được bảo quản 2 giờ
ở nhiệt độ phòng, lọc qua gạc Dung dịch chiết được siêu âm trong 30 phút ởđiều kiện lạnh Tiếp tục li tâm với tốc độ 3500 vòng/phút trong 20 phút Hútlấy dịch trong, mang đi cô quay hút chân không để loại bỏ hoàn toàn dung môi.Dịch chiết đã được loại bỏ dung môi được bảo quản trong tủ mát 4oC
+ Đối với lá cây chó đẻ răng cưa cần rửa sạch, để khô tự nhiên sau đócũng nghiền nát riêng các loại lá này trong các dung môi hữu cơ theo tỷ lệ 1:1sau đó làm tương tự như đối với thu dịch chiết củ tỏi
Đánh giá ảnh hưởng của các loại dung môi đến khả năng kháng khuẩn của dịch chiết thảo dược với vi khuẩn Streptococus spp
Dịch chiết thảo dược với loại dung môi có khả năng kháng khuẩn cao nhất
Thử nghiệm khả năng trị bệnh lở loét do vi khuẩn Streptococus spp gây ra trên cá trê lai
Kết luận