Những phân tích của nhà nghiên cứu về hình tượng người lữ khách, những giấc mơ yêu đương, hình tượng đồng tiền trong Thần Tiền đã là những minh chứng cho phạm vi ảnh hưởng của
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
-***** -NGÔ THỊ MAI ANH
CÁI TÔI CÁ NHÂN LÃNG MẠN TRONG VĂN XUÔI TẢN ĐÀ
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN
NGHỆ AN, 2014
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
-***** -NGÔ THỊ MAI ANH
CÁI TÔI CÁ NHÂN LÃNG MẠN TRONG VĂN XUÔI TẢN ĐÀ
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 60 22 01 21
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN
Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS Biện Minh Điền
NGHỆ AN, 2014
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Tản Đà – nhà thơ, nhà văn lớn, một hiện tượng độc đáo và phức
tạp vào bậc nhất trong văn học Việt Nam Hoàn toàn có cơ sở để xác định TảnĐà là người có công lớn đối với nền thơ Việt Nam hiện đại, đem đến cho vănhọc một bản ngã Ông đã góp phần tham gia vào quá trình đưa văn học ViệtNam bước sang phạm trù hiện đại, góp phần lót gạch tạo nên tòa nhà văn họcmới thay thế cho lâu đài văn học cổ điển tồn tại hàng ngàn năm lịch sử khi màdường như nó không thể đứng vững được trước những đổi thay biến động củalịch sử khi bước sang thế kỷ XX
Tản Đà là một tác gia tiêu biểu của văn học Việt Nam giai đoạn giaothời Nói đến Tản Đà, ai cũng thấy rằng, đây là một nhà thơ có tài, “một nhàthơ dân tộc chân chính”, “một nhà thơ có vị trí đặc biệt trong lịch sử văn học
Trang 4những năm đầu thế kỉ XX”… Điều này là đúng nhưng chưa đủ Ngoài thơ,Tản Đà còn có văn xuôi với hàng chục tác phẩm, thuộc nhiều thể loại khác
nhau: Thề non nước (tiểu thuyết), Giấc mộng lớn (hồi ký), Giấc mộng con (du ký), Trần ai tri kỷ (truyện ngắn), Còn chơi (luận thuyết) Xuân Diệu
từng lưu ý rằng: “muốn đi tìm Tản Đà một cách có lương tâm, tận tâm phảiđọc kỹ lại văn xuôi của ông mới hiểu hết bản lĩnh của ông” Đấy là ý kiến rất
có cơ sở
1.2 Văn xuôi Tản Đà tuy không có sức “chinh phục” độc giả bằng thơ
của ông, nhưng lại rất có ý nghĩa đối với lịch sử văn xuôi Việt Nam, nhất làtrong bối cảnh giao thời của văn học dân tộc (những thập niên cuối thế kỷXIX – đầu thế kỷ XX) Văn xuôi Tản Đà cũng tạo được những ấn tượng độcđáo, khó quên, khó hiểu, thậm chí gây ra nhiều tranh cãi cho giới nghiên cứuvà bạn đọc đã ngót gần một thế kỷ Tản Đà từng tự ví mình là kẻ tay cầm chairượu văn xuôi đến với người tình; xem văn chương như một cuộc chơi mộtcuộc chơi không dễ theo; từng nhận mình là một “Trích Tiên”, một “bộNgông”; là chủ nhân của bao nhiêu giấc mộng - giấc mộng con, giấc mộnglớn…; là kẻ thích khám phá, thám hiểm đến mọi giới hạn tận cùng của khônggian Tất cả đó đều cho thấy sự hiễn hiện độc đáo của cái tôi cá nhân lãngmạn trong văn xuôi Tản Đà Văn xuôi Tản Đà đang như là một khoảng đấttrống chờ đợi các nhà nghiên cứu
1.3 Tản Đà có thoát ly hay không? Là hiện thực hay lãng mạn? Nghi
vấn ấy đã từng được đặt ra, và dường như cho đến tận hôm nay, người ta vẫnthấy lúng túng trong tìm câu trả lời ! Sáng tác của Tản Đà, đặc biệt là mảngvăn xuôi tự sự (truyện, tiểu thuyết, ký) cho thấy ở đây có một thế giới nghệthuật hết sức độc đáo mà hình tượng trung tâm là cái tôi cá nhân lãng mạn củatác giả Cái tôi cá nhân lãng mạn trong văn xuôi Tản Đà là một vấn đề có ýnghĩa xã hội – thẩm mỹ sâu sắc, nhưng còn là vấn đề mới mẻ chưa đượcnghiên cứu thoả đáng Nghiên cứu vấn đề này không chỉ nhằm giải toả cho
Trang 5nghi vấn trên mà còn để thấy rõ hơn những đóng góp của văn xuôi Tản Đàcho lịch sử văn học dân tộc
2 Đối tượng nghiên cứu và giới hạn của đề tài
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là: Cái tôi cá nhân lãng mạn trong
văn xuôi Tản Đà
2.2 Giới hạn của đề tài
Đề tài bao quát các sáng tác văn xuôi nghệ thuật của Tản Đà, bao gồm
các tác phẩm: Giấc mộng con I (tiểu thuyết, 1917), Thần tiền (tiểu thuyết, 1921), Thề non nước (truyện, 1922), Giấc mộng con II (truyện, 1932), Giấc
mộng lớn (tự truyện, 1932)
Văn bản dùng để khảo sát, luận văn dựa vào bộ Tản Đà toàn tập (5
tập), Nxb Văn học, Hà Nội, 2002
nghiên cứu văn học” (đã đăng trong sách Tản Đà về tác gia và tác phẩm, Nxb
Giáo dục, Hà Nội, 2000 [16, 10-17]
Ngay từ khi mới xuất hiện trên văn đàn, Tản Đà được người ta biết đếnnhư một tác gia đặc biệt Đã có rất nhiều bài viết về Tản Đà và có không ít ý
kiến trái ngược nhau Khi Khối tình con của Tản Đà vừa xuất hiện, Phạm
Quỳnh đã ca ngợi Tản Đà: “Tôi phục ông Hiếu là người làm văn có tài, gảycái đàn độc huyền tiếng Nôm ta mà tạo nên được lắm giọng”, “Tôi khen ôngHiếu là người có con mắt sành, biết nhận những điều éo le trong nhân tình thế
Trang 6sự mà khéo lấy mấy câu văn hình dung được một cảnh người” Nhưng đến
năm 1918, trong Nam phong tạp chí không ai khác chính Phạm Quỳnh lại đã
có lời phê phán một cách nặng nề về văn chương của Tản Đà rằng, nó có hạivà than những lời buồn bã Từ những nội dung khen chê đó Phạm Quỳnh đã
“bộc lộ rõ quan điểm văn chương tư tưởng ít yếu tố văn nghệ của một ngườimuốn xây dựng một nền quốc học” [16, 11] Khi đọc những bài phê bình củaPhạm Quỳnh về Tản Đà, Vũ Ngọc Phan cho rằng không nên phê bình ngườiqua sách, chỉ nên so sánh những văn phẩm trước với những văn phẩm sau củamột tác giả để xét sự tiến hoá về đường tư tưởng của tác giả trên đường vănnghệ
Khi Thơ mới xuất hiện (1932), Tản Đà trở thành đối tượng bị phê phán.
Hình bóng của Tản Đà dần đi vào quên lãng Lưu Trọng Lư đã có nhữngđánh giá thiếu tôn trọng về Tản Đà với vẻ coi thường, khinh mạn: “Nàng thơấm Hiếu mũi thò lò” Sự thắng lợi của Thơ mới trên văn đàn trở thành nơi thuhút nhiều độc giả Ngôi sao Tản Đà đã bị lu mờ, chỉ sống trong kỷ niệm Đến
1939, Tản Đà mất, người ta mới bình tĩnh trở lại để nhìn nhận Tản Đà Trong
Công của thi sĩ Tản Đà, Xuân Diệu viết: “Tản Đà là một thi sĩ đầu tiên mở
đầu cho thơ Việt Nam hiện đại” [16, 180] Với Xuân Diệu, Tản Đà đã mangđến một hồn thơ “lần đầu tiên người ta nghe một giọng nói dịu dàng trongtrẻo, nhẹ nhõm, có duyên, người ta thấy một tấm lòng thực thà hé phơi vàngười ta được cảm động” [16, 180] Từ một con người đã đi vào quên lãng,vào quá khứ xưa cũ, thì giờ đây hầu hết các văn thi sĩ của thời đại mới lạikhẳng định đóng góp của Tản Đà với thơ văn hiện đại
Trong văn dịch, Tản Đà cũng đã tạo nên một phong vị riêng Nguyễn
Xuân Huy trong Tản Đà dịch văn viết: “Văn dịch Tản Đà đã thoát hẳn nguyên
văn, mà nhiều khi lại còn bóng bẩy, có âm điệu hơn nguyên văn nữa” [16,191] Trần Thanh Đạm sau khi đọc những bài thơ Đường do Tản Đà dịch
“lòng bỗng bâng khuâng biết bao niềm cảm khoái”, và cho rằng: “Trong việckhơi dòng để đưa hồn Đường tái sinh vào thơ Việt, thi sĩ Tản Đà là một trong
Trang 7những người có công phu và công lao bậc nhất” [75, 438] Lưu Trọng Lư,Nguyễn Tuân, Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan, Khái Hưng viết chân dungTản Đà ở những nét cá tính ngang tàng, phóng túng, tài hoa, dị thường TrúcKhê Ngô Văn Triện viết Tản Đà triết học Như vậy, Tản Đà đã được quantâm, được khẳng định trên nhiều mặt.
Năm 1942, Hoài Thanh và Hoài Chân trong Thi nhân Việt Nam đã
Cung chiêu anh hồn Tản Đà, bằng một tấm lòng thành kính xin rước Tản Đà
về để chứng giám công việc của người kế tiếp bởi không còn ai xứng đánghơn tiên sinh, tiên sinh đã dạo những bản đàn mở đầu cho một cuộc hoà nhạctân kỳ đang sắp sửa” [59, 16] Theo Hoài Thanh - Hoài Chân, Tản Đà nối sợidây liên lạc giữa cái cũ và cái mới, là chiếc cầu nối giữa quá khứ và hiện tại
“có tiên sinh người ta sẽ thấy rõ chúng tôi không phải là những quái thai củathời đại, những đứa thất cước không có liên lạc gì với quá khứ của giống nòi”
[59, 16] Vũ Ngọc Phan trong Nhà văn hiện đại xếp Tản Đà là một thi gia
Việt Nam hiện đại và thuộc lớp người tiên phong, “Tản Đà là một nhà thơdiễn tả đúng nhất tâm hồn Việt Nam” [45, 371] Hơn nữa, văn xuôi của TảnĐà qua truyện ngắn là “tang chứng của thời văn quốc ngữ còn phôi thai”
Trong cuốn Việt Nam văn học sử yếu, Dương Quảng Hàm đã đưa Tản Đà vào
chương trình dạy văn ở nhà trường, đó chính là bằng chứng cho việc đánh giácao Tản Đà Dương Quảng Hàm nhấn mạnh đến các yếu tố như “giọng điệunhẹ nhàng, Việt Nam thuần túy, tính ngông ở Tản Đà”
Từ cuối 1950 đến 1970 trên sách báo, Tản Đà là một sự tập trung chú ýcủa giới nghiên cứu Trong kháng chiến, văn học được xem là vũ khí sắc béntrên đấu trường chính trị nên các nhà nghiên cứu cũng đã nhìn nhận Tản Đà ởgóc độ giai cấp, yêu nước, chính trị Tản Đà tư sản hay phong kiến? Yêu nước
hay không? Tác phẩm Thề non nước đã tạo nên nhiều câu hỏi lớn và những
cuộc tranh luận diễn ra trên giấy bút Vấn đề yêu nước của Tản Đà được
nhóm Lê Quý Đôn khẳng định trong Lược thảo lịch sử văn học Việt Nam,
nhưng việc xếp ngôi thứ thì từ trước đến nay cũng có những ý kiến khác nhau
Trang 8Cuộc tranh luận về tư tưởng yêu nước của Tản Đà không kết thúc, việc xácđịnh mức độ cũng như ý nghĩa của nó đối với việc đánh giá Tản Đà như thếnào thì vẫn chưa được đặt ra.
Tầm Dương trong công trình Tản Đà khối mâu thuẫn lớn đã nghiên cứu
và khảo sát tư tưởng, lý giải cơ sở xã hội và mâu thuẫn trong thơ văn Tản Đà.Theo Tầm Dương: “Tư tưởng Tản Đà căn bản là từ tư sản, bên cạnh đó bộphận khá lớn là nằm trong tư tưởng phong kiến, còn tư tưởng tiểu tư sản giữcương vị thứ yếu” [16, 15] Trước đó Minh Tranh và Nguyễn Kim Giang xếpTản Đà vào giai cấp tư sản Sau này Nguyễn Khắc Xương, Nguyễn Đình Chúlại xếp Tản Đà vào tầng lớp Nho sĩ
Năm 1974, Trần Đình Hượu viết giáo trình Văn học Việt Nam giai
đoạn giao thời 1900 – 1930, xếp Tản Đà là một nhà nho tư sản: “Tản Đà là
một nhà nho nhưng không phải là một nhà nho chính thống hành đạo - ẩn dật.Ông là nhà nho tài tử, nhà nho tài tử sống trong môi trường khác trước: xã hội
tư sản” [16, 175] Giáo trình đã xếp Tản Đà vào mẫu loại nhà Nho tài tử, tìmchỗ văn học nhà Nho tài tử thích hợp với văn học tư sản và giải thích tiếngnói tân kỳ của nha Nho tài tử không đi được vào quỹ đạo văn học mới TảnĐà “cách tân văn học cũ đi đến sân khấu và tiểu thuyết, nhưng dừng lại trướckịch và tiểu thuyết hiện đại, cuối cùng quay lại thơ thất ngôn, trải qua quátrình lại giống và trở về với lối sống và văn chương nhà Nho” [16, 15]
Năm 1988, Tầm Dương, Nguyễn Khắc Xương, Trần Đình Hượu, LêChí Dũng, v.v xác định Tản Đà có vị trí quan trọng trong giai đoạn văn họccận đại Năm 1989, Hội thảo khoa học về Tản Đà do Viện Văn học tổ chức tạiHà Nội đã mở rộng sự quan tâm nhiều mặt về Tản Đà Nhiều vấn đề được đặt
ra, được xem xét lại và giải quyết sâu hơn
Năm 1997, trong cuốn Văn học Việt Nam dòng riêng giữa nguồn
chung, Trần Ngọc Vương viết bài Sự thống nhất của các mâu thuẫn trong tư tưởng và sáng tác của Tản Đà Tác giả cho rằng: “Sự thống nhất đó vừa là
thống nhất giữa các mâu thuẫn lại vừa giữ lại sự nhất quán truyền thống, tạo
Trang 9nên một sợi chỉ đỏ xuyên suốt tư tưởng Tản Đà” [71, 400] Trần Ngọc Vươngtiếp tục lý giải và làm sáng rõ căn nguyên, đặc điểm, nội dung, tính chất của
sự thống nhất giữa các mâu thuẫn trong tư tưởng và sáng tác của nhà Nho tài
tử Tản Đà Việc nghiên cứu về con người và văn nghiệp Tản Đà hãy cònđược tiếp tục
Tản Đà nổi tiếng nhất là thơ Nhưng văn xuôi của ông, thực sự cũng cónhững giá trị riêng, không thể phủ nhận Cũng đã có khá nhiều ý kiến bàn đến
văn xuôi Tản Đà Phạm Quỳnh khi viết “Các bài tựa tập văn xuôi Khối tình
của Tản Đà”, dù có khen, chê nhưng cũng không thể không công nhận cônglao của Tản Đà với quốc văn Ông cho rằng: “Nay cứ hiện tượng văn quốcngữ mà xét, thời ông Nguyễn Khắc Hiếu cũng là một tay sành làm văn trongbuổi bây giờ, ví như một tay thợ khéo trong bọn xây cái nhà quốc văn ngàynay” [16, 135] Nguyễn Tiến Lãng cho biết ông thường nghĩ tới những lýthuyết của Bergson khi đọc văn xuôi Tản Đà Theo ông, Tản Đà làm vănxuôi rất dụng công mà văn xuôi của Tản Đà rất dồi dào tư tưởng” Ngô
Bằng Giực trong Góp phần tìm hiểu Tản Đà nhận thấy văn xuôi của Tản Đà
không chỉ là cái tài mà còn là tấm lòng ưu thời mẫn thế, có ích cho đời và đặcbiệt cũng có lắm bài có thể sánh với những hạt ngọc phiến ngà, như những bàivăn vần vì cũng dụng công đẽo chuốt chạm trổ kỹ càng lắm [16, 251]
Người đầu tiên phê bình về tiểu thuyết của Tản Đà là Phạm Quỳnh với
bài điểm sách nhan đề “Mộng hay mị” đăng trên Nam Phong tạp chí (số 7 năm 1918) Trong bài báo này, Phạm Quỳnh tập trung phê bình tiểu thuyết
Giấc mộng con Theo Phạm Quỳnh, những gì mà Tản Đà nói đến trong Giấc mộng con chỉ đáng xem là “mị” bởi đó chỉ là những chuyện “đầu Ngô mình
Sở, khi đứt khi nối không đầu không đuôi” Những năm đầu thế kỷ, PhạmQuỳnh là một nhà phê bình văn học có chính kiến và không phải là không sắcsảo Tuy nhiên quan niệm văn học của Phạm Quỳnh năm 1918 còn khá bảothủ Phạm Quỳnh đã không tiếp cận tác phẩm từ những đặc trưng của thể loạivà cũng khá lạc hậu trong quan niệm về văn chương nói chung Chính vì thế,
Trang 10Phạm Quỳnh đã không nhìn thấy những nét mới mẻ trong cuốn tiểu thuyếtnày Những gì mà Phạm Quỳnh chê bai, như ta thấy, sau này lại chính lànhững điểm cho thấy cống hiến của Tản Đà cho thể loại tiểu thuyết.
Mãi cho đến năm 1939, khi viết Thi sĩ Tản Đà Lê Thanh mới quan tâm
đến vấn đề thể loại khi phê bình các tác phẩm tiểu thuyết của Tản Đà Từ gócđộ thể loại, Lê Thanh đã chỉ ra sự bất công trong bài phê bình “cay nghiệt”
của Phạm Quỳnh Cũng từ quan điểm thể loại, Lê Thanh nhận định cuốn Giấc
mộng lớn là “tập ký ức viết bằng quốc văn thứ nhất của ta”, “không khác gì
những tập ký ức, những pho tự thuật của các văn sĩ âu tây” [58/25] Tuy vậy,
Lê Thanh đánh giá không cao những sáng tác văn xuôi nói chung và tiểuthuyết nói riêng của Tản Đà Ông tỏ ra thích thú hơn hẳn với những sáng tác
thơ của Tản Đà Đây cũng là quan điểm của Vũ Ngọc Phan trong Nhà văn
hiện đại Theo Vũ Ngọc Phan, Tản Đà chỉ là một nhà thơ Có lẽ từ quan điểm
này mà Vũ Ngọc Phan mặc dù thừa nhận Tản Đà là “ người viết đủ các lốivăn” nhưng khi phân loại ông đã xếp Tản Đà vào nhóm các thi gia cùng vớicác tác giả như Đoàn Như Khuê, Trần Tuấn Khải Dường như Vũ Ngọc Phan
có phần lạnh nhạt với tiểu thuyết của Tản Đà trong khi ông lại quan tâm đếntruyện ngắn của Nguyễn Khắc Hiếu Tuy vậy nhận xét của nhà phê bình chủyếu là nêu ra những hạn chế, non kém: “Những truyện ngắn của Nguyễn KhắcHiếu chỉ đáng kể làm tang chứng của thời văn quốc ngữ còn phôi thai, khôngkhác gì với những truyện của Nguyễn Bá Học; nếu đem so với những truyệncủa Phạm Duy Tốn cũng còn kém”
Nguyễn Tiến Lãng và Nguyễn Mạnh Bổng muốn có một đánh giá côngbằng hơn đối với các tác phẩm tiểu thuyết của Tản Đà Trong lời tựa cho hai
tập Giấc mộng con viết năm 1941, các ông quả quyết “giá trị văn xuôi của Tản
Đà cũng không kém gì giá trị văn vần của Tản Đà" [16, 202-205] Nguyễn
Mạnh Bổng trong lời tựa cho tiểu thuyết Thần Tiền tái bản tháng 6 năm 1945
cũng đánh giá rất cao cuốn tiểu thuyết này: “Thật là một thiên tiểu thuyết kiệt
Trang 11tác ở trong tủ sách tiểu thuyết quốc văn ta” Mặc dù có thiện ý nhưng nhữngkhám phá về tiểu thuyết của Tản Đà qua hai lời tựa này còn khá chung chung.
Nhìn chung, từ 1945 trở về trước, những nghiên cứu về văn xuôi củaTản Đà chưa có nhiều thành tựu Hướng nghiên cứu chủ yếu là phẩm bình vềphong cách và đi tìm cái hay cái đẹp của từng tác phẩm cụ thể Theo hướngtiếp cận này các tác phẩm văn xuôi của Tản Đà nếu có được đề cập đến thìchủ yếu cũng chỉ để so sánh để làm nổi bật lên những tài hoa của Tản Đàtrong thơ Dễ hiểu là vì sao những tác phẩm văn xuôi trong đó có tiểu thuyếtcủa Tản Đà thường nhận được những lời chê bai Những ý kiến muốn bênhvực chủ yếu là từ những người có quan hệ gần gũi, thực lòng yêu quý Tản Đànhưng lại chưa đủ sức thuyết phục và có phần thiên vị Cách tiếp cận thể loạivà đặc biệt là quan điểm lịch sử chưa được ý thức một cách rõ nét trong giớinghiên cứu Chính vì thế dù khen hay chê, thì về cơ bản những đặc trưngtrong tiểu thuyết của Tản Đà vẫn chưa được nhận diện, chứng minh một cáchthoả đáng
Giai đoạn từ 1945 đến 1954 vì hoàn cảnh lịch sử nên việc nghiên cứuTản Đà có sự gián đoạn Từ sau 1954 mạch nghiên cứu về Tản Đà mới được
khôi phục trở lại Ở miền Bắc, năm 1962, trong giáo trình Lịch sử văn học
Việt Nam, tập IV.B, Nguyễn Đình Chú nghiên cứu về Tản Đà với tư cách một
tác giả văn học Nguyễn Đình Chú đã chỉ ra “Chất phong tình” ở Tản Đà vàchứng minh một cách thuyết phục dấu ấn của phong cách này qua hai cuốn
tiểu thuyết Giấc mộng con [69, 160] Tính chất hiện thực trong tiểu thuyết
Thần Tiền cũng đã được ông nêu ra như một định hướng cho quá trình nghiên
cứu sau này [69, 157]
Góp phần tạo nên bước tiến mới trong nghiên cứu về các tác phẩm văn
xuôi của Tản Đà phải kể đến Tầm Dương với chuyên luận Tản Đà khối mâu
thuẫn lớn (1964) Với khả năng bao quát, khảo sát một khối lượng lớn các tư
liệu, Tầm Dương đã làm sáng tỏ những mối quan hệ giữa văn xuôi Tản Đà
với các sáng tác của các nhà văn sau này mà trường hợp của Nguyễn Công
Trang 12Hoan là một ví dụ tiêu biểu Nỗ lực nghiên cứu này được thể hiện rõ nhất qua
hai chương Tinh thần lãng mạn và Chủ trương và tính chất hiện thực Những
phân tích của nhà nghiên cứu về hình tượng người lữ khách, những giấc mơ
yêu đương, hình tượng đồng tiền trong Thần Tiền đã là những minh chứng
cho phạm vi ảnh hưởng của văn xuôi Tản Đà đối với văn học đương thời vàsau này Đặc biệt khi tranh luận với các ý kiến cho rằng “văn xuôi Tản Đàkhông còn giá trị gì cả”, Tầm Dương với quan điểm lịch sử trong nghiên cứuvăn học yêu cầu cần phải đặt các tác phẩm này vào thời điểm nó ra đời
“chúng ta mới nhận ra được mầu sắc cách tân của chúng trong phạm vi vănxuôi” [6, 267]
Ở Miền Nam, trong Việt Nam văn học sử giản ước tân biên, Phạm Thế
Ngũ nhận thấy các tiểu thuyết của Tản Đà thực chất là những thiên ký sự một hình thức tập dượt của văn xuôi quốc ngữ buổi đầu Tuy nhiên đối tượng
-khảo sát, phân tích của Phạm Thế Ngũ ở đây chỉ chủ yếu là hai cuốn Giấc
mộng con Ở thời kỳ này, ngoài Phạm Thế Ngũ còn có nhiều tác giả khác
cũng tập trung nghiên cứu về Tản Đà như Nguyễn Thiện Thụ với Tản Đà
thực và mộng, Nguyễn Duy Diễn, Bằng Phong với Luận đề về Tản Đà
Từ sau 1975 đến nay, việc nghiên cứu về Tản Đà nói chung, văn xuôicủa ông nói riêng có được những thành tựu đặc biệt quan trọng Xuân Diệu đãđánh giá rất cao văn xuôi của Tản Đà Ông khẳng định: “phần văn xuôi rấtquan trọng để hiểu được toàn bộ Tản Đà” [5] Văn xuôi của Tản Đà đượcnghiên cứu một cách hệ thống và sâu sắc hơn cả là ở những công trình của
Trần Đình Hượu Trong giáo trình Văn học Việt nam- giai đoạn giao thời
1900 -1930, Trần Đình Hượu đã phân tích một loạt những tiểu thuyết của Tản
Đà như Giấc mộng con, Thề non nước để làm sáng tỏ quan niệm tình yêu
của Tản Đà qua những giấc mơ yêu đương Đặc biệt, nhận xét khái quát vềvăn xuôi Tản Đà, nhà nghiên cứu khẳng định: “Không phải chỉ trong thơ ca,Tản Đà mới là dấu nối với văn học 1930 -1945 Tuy là về văn xuôi thànhcông của Tản Đà không lớn như trong thơ, nhưng bằng cách nói cái nếm trải
Trang 13của riêng mình, Tản Đà đã chuyển sang nhìn cuộc sống cụ thể, bình thườngcủa con người trong xã hội Điều đó làm ông gặp các nhà văn lớp sau Vì vậynhững người tiêu biểu nhất như Nguyễn Công Hoan, Nguyễn Tuân đều thấymình chịu ảnh hưởng Tản Đà” [25, 306-307].
3.2 Lịch sử tìm hiểu, nghiên cứu cái tôi cá nhân lãng mạn trong văn xuôi của Tản Đà
Tản Đà bước vào văn nghiệp bằng những bước đi không giống bất cứ ai
ở giai đoạn bấy giờ: dùng văn chương để kiếm sống Và cũng không ai khácchính Tản Đà là người đã rong ruổi khắp phố phường rao bán văn chương Đếnđây ta mới thấy rõ cuộc đời của một nhà nho tài tử trong xã hội tư sản Cũng từđây, một phần nào chúng ta hiểu được tại sao Tản Đà luôn mơ mộng: “Tản Đàbước vào đời bằng giấc mộng con, muốn tổng kết để kết thúc nó bằng giấcmộng lớn” [75, 485] Cũng chính vì thế, cái tôi cá nhân lãng mạn trong thơ thì
đã đành, trong văn xuôi Tản Đà càng trở nên độc đáo
Năm 1918, trên Nam phong tạp chí, Phạm Quỳnh đã có bài bàn về cõi mộng của Tản Đà với nhan đề Mộng hay mị Tác giả lý giải Tản Đà mộng mị
để phô diễn cái ngông, quảng cáo cho cái văn chương của ông về sau này.Nhưng bên cạnh cái nhìn có phần thiên lệch ấy Phạm Quỳnh vẫn phải thừanhận “thực có lắm nỗi đáng thương và đáng yêu Lấy cái bụng liên tài ái thimà tự hỏi vì cớ sao ông khơi ra cái mộng như thế thì biết rằng cảnh ngộ nó đãkhiến cho thân chẳng bằng mộng nên mộng cho cam thân” [75, 167] Phạm
Quỳnh cho rằng Giấc mộng con của Tản Đà “mang một tấm lòng đau đớn”.
Năm 1939 trên Tao Đàn, Lê Thanh viết bài Mộng và mộng đã đề cập
đến sự “thoát ly cuộc đời vô vị” khi Tản Đà tìm đến mộng Tác giả cho rằngkhi Tản Đà mộng “ông được sống những cuộc đời mới mẻ đẹp đẽ, tự ông vẽ
ra theo trí tưởng tượng của ông Chính trong những cuộc đời ấy, ông mới tìmđược cái tự do trong sạch, cái độc lập thanh nhàn mà từ trước đến nay, cái óclãng mạn của ông vẫn ao ước”
Trang 14Trong Tựa Giấc mộng con, Nguyễn Tiến Lãng đã khẳng định sức hấp
dẫn, tài năng của Tản Đà: “ở tập văn này, ý tưởng ly kỳ, lập luận ly kỳ, tưởngtượng ly kỳ, nhưng nhời văn thì khúc triết minh bạch, nhiều đoạn thì hùnghồn, nhiều đoạn thì lâm ly réo rắt như nhạc như đàn” [16, 205]
Sự say mê lộ liễu của Tản Đà trước cái Tôi của mình khiến một ngườinhư Phạm Quỳnh không thể chấp nhận được Dẫn lại những lời Tản Đà tự nói
về mình trong Giấc mộng con, Phạm Quỳnh phê bình cái thái độ “tự tin quá
dễ sinh ra tự đắc”, và nhất là cái thái độ “ tự phô mình ra một cách sổ sàng”
trên những trang sách của Tản Đà Cũng bàn về mộng trong Vài cảm nghĩ về
sự nghiệp văn chương của thi sĩ Tản Đà, Nguyễn Khắc Xương cho rằng chủ
nghĩa lãng mạn thoát ly của Tản Đà là thoát ly thực tiễn, không bận tâm đếnhiện thực xã hội đen tối, để hướng về cõi mộng, chìm đắm trong mơ mộng.Nhưng là nhà nho với tư tưởng nhập thế nên dù sống vào cõi mộng để trốn cõi
“đời đáng chán”, ông vẫn không quên trách nhiệm nặng nề với đời
Hà Như Chi khi tìm hiểu thân thế và sự nghiệp củaTản Đà cũng chorằng Tản Đà là người có nhiều mộng tưởng và hay mơ mộng tưởng tượngnhiều hay đưa đến mộng mị, vì mộng là hình ảnh có nhiều lớp lang, có sắp đặt
để thoả mãn một phần nào đó cái tiềm thức của con người [16, 265]
Năm 1983, trong lời giới thiệu cuốn Thơ Tản Đà, Xuân Diệu đã đánh
giá rất cao văn xuôi của Tản Đà Mục đích chính của bài nghiên cứu là chứngminh tính chất mở đầu cho chủ nghĩa lãng mạn với cái Tôi cá thể trong thơTản Đà Đặc biệt khi viết về cái Ngông - một biểu hiện cho cái Tôi cá nhâncủa Tản Đà - Xuân Diệu đã dừng lại phân tích và tỏ ra có thích thú đặc biệt
với tiểu thuyết Giấc mộng con Ông gọi đây là “một cuốn tiểu thuyết viễn
tưởng” và đánh giá: “Ưu điểm lớn nhất của tác phẩm, là tác giả hoàn toàn bịađặt mà viết cứ như thật, bây giờ xem, văn vẫn còn sống động; tác giả đã biếtdùng tân văn, những tài liệu báo chí của thời ấy, mà tả lại những kỳ quan củatrái đất như là mình đã tới đó thăm chơi” (Chuyễn dẫn từ [65/148])
Trang 15Nhìn chung vấn đề cái tôi cá nhân lãng mạn trong văn xuôi Tản Đà –một vấn đề có ý nghĩa sâu sắc trên cả hai phương khoa học và thực tiễn, chođến nay vẫn còn là vấn đề chưa được tìm hiểu, nghiên cứu đầy đủ, chu đáo.Trên cơ sở tiếp thu thành tựu nghiên cứu của những người đi trước, luận vănnày đi sâu hơn, toàn diện hơn và hệ thống hơn vấn đề cái tôi cá nhân lãngmạn trong văn xuôi Tản Đà.
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Mục đích nghiên cứu
Qua khảo sát sự hiện diện của cái tôi cá nhân lãng mạn trong văn xuôiTản Đà, luận văn nhằm xác định đặc điểm của cái tôi ấy, phân tích, lý giải vàkhẳng định đây là một đóng góp có ý nghĩa của Tản Đà không chỉ đối với thơ
ca mà còn đối với văn xuôi lãng mạn về sau trong văn học Việt Nam hiện đại
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
4.2.1 Đưa ra một cái nhìn chung về văn xuôi trong sự nghiệp văn họccủa Tản Đà, xác lập những cơ sở nhận diện cái tôi cá nhân lãng mạn trong vănxuôi của ông
4.2.2 Đi sâu khảo sát, phân tích, xác định đặc điểm của cái tôi cá nhânlãng mạn trong văn xuôi Tản Đà
4.2.3 Đi sâu khảo sát, phân tích nghệ thuật thể hiện cái tôi cá nhân lãngmạn trong văn xuôi của Tản Đà
Cuối cùng rút ra một số kết luận về cái tôi cá nhân lãng mạn trong vănxuôi Tản Đà, đề xuất một số vấn đề về tiếp nhận, nghiên cứu và giảng dạyTản Đà – tác gia và tác phẩm…
5 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn vận dụng nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau, trong đó
có các phương pháp chính: phương pháp thống kê - phân loại, phương phápphân tích - tổng hợp, phương pháp so sánh - loại hình, phương pháp cấu trúc -hệ thống
6 Đóng góp và cấu trúc của luận văn
Trang 166.2 Cấu trúc của luận văn
Ngoài Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận
văn gồm 3 chương
Chương 1: Văn xuôi Tản Đà và vấn đề cái tôi trong văn xuôi tác giả Chương 2: Đặc điểm cái tôi cá nhân lãng mạn trong văn xuôi Tản Đà Chương 3: Phương thức thể hiện cái tôi cá nhân lãng mạn trong trong
văn xuôi của Tản Đà
Chương 1 SÁNG TÁC CỦA TẢN ĐÀ
VÀ VẤN ĐỀ CÁI TÔI TRONG VĂN XUÔI TẢN ĐÀ
Trang 171 1 Tản Đà – hiện tượng lớn, độc đáo và phức tạp trong văn học Việt Nam
1.1.1 Thời đại, con người và cá tính của Tản Đà
Tản Đà - tên thật là Nguyễn Khắc Hiếu (1889 - 1939) Bút danh TảnĐà là tên ghép giữa núi Tản Viên và sông Đà, quê hương ông Nhìn vào nămsinh (1889), năm mất (1939), ta cũng có thể thấy được phần nào bối cảnh thờiđại (lịch sử, văn hóa, xã hội) mà Tản Đà sống và hoạt động văn chương Xéttrên nhiều phương diện, có thể nói như Hoài Thanh rằng, Tản Đà “là ngườicủa hai thế kỷ” Đấy là “hai thế kỷ” xét về mặt thời gian (thế kỷ XIX và XX)và “hai thế kỷ” xét về phạm trù văn học (văn học cổ truyền và văn học hiệnđại)
Trước khi bị thực dân Pháp xâm lược (1858), Việt Nam là một quốc giaphong kiến độc lập với nền nông nghiệp lạc hậu, trì trệ, Nho giáo được coi làQuốc giáo Năm 1858 thực dân Pháp xâm lược nước ta Sau một thời giankháng cự yếu ớt, đến năm 1884 triều đình nhà Nguyễn đã kí với Pháp điềuước Patơnốt thừa nhận quyền thống trị của thực dân Pháp trên toàn cõi ViệtNam Dưới ách thống trị của thực dân Pháp nền kinh tế - xã hội Việt Nam từnền kinh tế thuần phong kiến chuyển sang nền kinh tế tư bản thực dân mangmột phần tính chất phong kiến; từ một quốc gia phong kiến độc lập trở thànhmột nước thuộc địa Về lịch sử và chính trị, có thể thấy, với truyền thống yêunước nồng nàn, ngay từ khi thực dân Pháp nổ súng xâm lược, nhân dân ta đãliên tục đứng lên chống lại bọn cướp nước và bè lũ bán nước; các phong tràoyêu nước cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX chủ yếu diễn ra theo hệ tư tưởngphong kiến (phong trào Cần Vương, phong trào nông dân Yên Thế, ), và hệ
tư tưởng tư sản (phong trào Đông Du, phong trào Duy Tân ,v.v ) Các phongtrào này đều thể hiện sự tiếp nối truyền thống yêu nước nồng nàn của nhândân ta, nhưng đều đi đến kết cục thất bại Sống trong một thời đại như vậy,Tản Đà thấm lắm nối đau, nỗi nhục của đồng bào mình, dân tộc mình Ông
Trang 18chỉ biết than thở, phê phán, bộ lộ nỗi niềm và giải bày khát vọng bằng vănchương
Về văn hóa, xã hội, hết thế kỉ XIX, sang đầu thế kỷ XX, xã hội ViệtNam càng có nhiều chuyển biến lớn Đây là thời kì "mưa Âu gió Mỹ", "cũmới tranh nhau", "Á Âu xáo trộn" Nhiều đô thị lớn xuất hiện (ở Hà Nội, HảiPhòng, Nam Định, Huế, Đà Nẵng, Sài Gòn ) dẫn đến sự hình thành tầng lớpthị dân, tư sản, tiểu tư sản, trí thức "Tây học" và cả dân nghèo thành thị Vănhoá phương Tây chi phối phức tạp đến đời sống tinh thần người Việt Mộttầng lớp công chúng với thị hiếu thẩm mỹ mới xuất hiện, kích thích và thúcđẩy văn học phát triển Văn học bắt đầu trở thành hàng hoá Chữ Quốc ngữngày càng được truyền bá rộng rãi Báo chí bằng chữ Quốc ngữ xuất hiện,góp phần quan trọng mở mang dân trí, đưa văn học đến với công chúng Báochí còn là nơi "thử bút", giới thiệu văn nghệ sĩ, bình phẩm văn chương Viếtvăn làm báo trở thành nghề mưu sinh Có thể nói đây là những gì rất mới đốivới người cầm bút đương thời và góp phần làm nên diện mạo riêng của vănhọc Việt Nam nửa đầu thế kỉ XX Các hoạt động văn hóa nghệ thuật phươngTây mới lạ so với truyền thống lần lượt ra mắt công chúng như sân khấu kịchnói, điện ảnh, nghệ thuật xiếc, hội họa, âm nhạc "
Nằm trong những đợt triều dâng duy tân rồi tân duy tân văn hoá vănnghệ ấy, mảnh đất văn chương không thể không chuyển biến" Thơ ca ViệtNam đầu thế kỉ XX đã vận động theo xu hướng hiện đại hoá tất yếu của vănhọc dân tộc Một cuộc cách mạng về văn học đã có đủ điều kiện để nảy sinh.Ngọn cờ văn hoá mới được chuyển đến tay tầng lớp trí thức Âu hoá vớinhững tinh thần dân chủ và tự do cá nhân Chữ Hán chỉ còn là vẻ đẹp "vangbóng một thời" Nho học ngày càng thất thế, tàn lụi Năm 1918, chế độ khoa
cử chữ Hán bị bãi bỏ hoàn toàn Kể từ khi xuất hiện, chữ Quốc ngữ đã cócuộc hành trình từ địa hạt truyền giáo (Đạo Thiên Chúa) sang lĩnh vực báo chívà văn học nghệ thuật Đổi thay chữ viết là cuộc cách mạng quan trọng vềchất liệu văn học, tạo cơ sở cho quá trình hiện đại hóa văn học Việt Nam theo
Trang 19những xu thế của nhân loại Trong hoàn cảnh đất nước lầm than nô lệ, ý thức
tự chủ về văn học của dân tộc ta đã trỗi dậy mạnh mẽ Nhu cầu đổi mới, hiệnđại hoá văn học Việt Nam đặt ra cấp thiết, gay gắt hơn bao giờ hết
Nhiều tác tác phẩm văn hoá, văn học Pháp và phương Tây được dịch
sang chữ quốc ngữ và được đăng tải trên Nam Phong tạp chí, Đông Dương
tạp chí, Phạm Quỳnh đã lần lượt giới thiệu văn học và triết học Pháp qua
một số tên tuổi nổi tiếng như Corneille, Molière, Montesquieu, Rousseau,Voltaire, Baudelaire, Pierre Loti, Anatole France, Courteline, Maupassant
Auguste Comte, Bergson Nguyễn Văn Vĩnh đã dịch và đăng trên Đông
Dương tạp chí những sáng tác ngụ ngôn của La Fontaine, tiểu thuyết của
Victor Hugo, A Dumas và Balzac, kịch của Molière Văn học Pháp và tưtưởng của các nhà Khai Sáng đã đến với công chúng Việt Nam, gợi ý và thúcđẩy quá trình đổi mới văn học, làm nảy sinh nhiều khuynh hướng văn họcmới Từ sau 1930, ảnh hưởng của văn học phương Tây, văn học Pháp đối vớivăn học Việt Nam đã đạt đến độ "chín" nhất định, tạo điều kiện cho các nhàvăn bước vào giai đoạn sáng tác thật sự ở các thể loại Trong các nhà trườngPháp Việt, thơ văn ưu tú của nhân loại, đặc biệt là những tinh hoa thơ Phápbằng nhiều con đường khác nhau đã đi vào tâm hồn những trí thức Việt Nam.Chính từ môi trường văn hoá này, người ta đã say sưa đọc triết học và nhữngtác phẩm văn học lãng mạn, tượng trưng, siêu thực Pháp Cũng từ đây, nhiềutài năng văn học đã xuất hiện
Giao lưu văn hoá, văn học Đông - Tây đã tạo ra biến động đa dạng vàphức tạp trong đời sống văn hoá xã hội Những mầm mống về một nền vănhọc hiện đại có điều kiện đâm chồi nảy lộc Trước hết, chuyển động hiện đại
hoá văn học bắt đầu từ văn xuôi Tác phẩm đầu tiên phải kể đến là Truyện
Thầy Lazaro Phiền của Nguyễn Trọng Quản viết theo lối tiểu thuyết phương
Tây, xuất bản năm 1887 ở Sài Gòn Tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh (Ngọn cỏ
gió đùa, Chúa Tàu Kim Quy - được phóng tác từ Những người khốn khổ (V.
Hugo) và Bá tước Monte-Cristo (Alecxandre Dumas cha) Đặc biệt, năm
Trang 201925, tiểu thuyết Tố Tâm của Hoàng Ngọc Phách xuất hiện mở đầu cho xu
hướng lãng mạn trong văn xuôi Việt Nam
Xu hướng lãng mạn trong thơ rõ ràng là được báo hiệu từ Tản Đà, để
rồi sau đó, từ 1932, xuất hiện phong trào Thơ mới với hàng loạt tác giả tài hoa
mà chắc chắn họ đều hiểu được “công của thi sĩ Tản Đà” Nhưng với vănxuôi, vai trò của Tản Đà ra sao? Vấn đề này rõ ràng phải chờ đợi thêm cáccông trình nghiên cứu tiếp theo, trong đó, có thể nói đến luận văn này
Con người Tản Đà, với tài năng và cá tính “ngông”, độc đáo vào loại cómột không hai , có thể nói như Lưu Trọng Lư rằng, đây cũng là một tácphẩm tuyệt hảo trong sự nghiệp của Tản Đà
Tản Đà sinh ra trong một gia đình, một dòng tộc có bề dày truyền thốngvăn học Xuất thân là một nhà nho, nhưng Tản Đà thuộc kiểu nhà Nho tài tử,lại sống trong xã hội tư sản Tuy hô hào duy tân, phát triển theo con đường tưsản hóa nhưng Tản Đà lại không cộng tác và cũng không đi được với giai cấp
tư sản Ngược lại ông nghiêm khắc kết tội nó với tội danh làm hỗn loạn xã hộivà tha hóa con người: “Sự chính trị tiến hóa bao nhiêu, sự tham nhũng tiếnhóa cũng bấy nhiêu, sự pháp luật tiến hóa bao nhiêu, sự xỏ xiên tiến hóa cũngbấy nhiêu, sự vệ sinh tiến hóa bao nhiêu, sự giết người cũng tiến hóa bấynhiêu” [78, 111] Tản Đà nhận thấy xã hội tư sản là một xã hội “gian dối lừađảo, nịnh hót, xiên xỏ, du đãng, dâm dật, hiểm ác, quỷ quái không thể kểxiết được” Cái xã hội ấy bắt ông “phải nếm trải đắng cay của một kiếp nhàthơ nghèo khổ, và một kiếp nhà nho phong cảnh vận cùng” [16, 357-446]
Tản Đà luôn mơ ước một cõi đời mới, một cảnh chợ trời “lấy chất đạođức tiêm vào lòng người đời, lấy thuyết thiên lương làm phèn vạn năng màđánh cho lắng xã hội vẩn đục” Tư sản và phong kiến trở thành mâu thuẫngiằng xé trong con người và sự nghiệp của Tản Đà Sống trong xã hội tư sản,ông luôn luôn cảm thấy cô đơn Phải chăng “ý thức tư tưởng phong kiến,phẩm chất đạo đức phong kiến và nhân sinh quan phong kiến là những yếu tốngăn cách Tản Đà với giai cấp tư sản dân tộc Việt Nam” [16, 355]
Trang 21Sự thay đổi của bối cảnh lịch sử, các điều kiện chính trị, kinh tế, xã hội
ở Việt Nam đầu thế kỷ XX đã một lần nữa “dội thêm một gáo nước lạnh” vàongọn lửa nhiệt tình, vào những khát vọng, những niềm say mê vừa mới bén”[70, 99] của Tản Đà… Tản Đà từng mơ ước là “người học trò của Khổng phu
tử ở Á Đông” đến già vẫn day dứt về nỗi chưa làm tròn sứ mệnh trời giao
“đem thiên lương của nhân loại” “xuống thuật cho đời hay” nhưng là nhà Nhotài tử, Tản Đà tự coi mình là người có tài và đa tình Thứ văn chương của ônghạ giới không phải nhiều người hiểu mà ở thiên đình thì cho rằng “văn thậttuyệt” Ông đã tự phụ về tài năng của mình:
Xuống ngọn bút mưa sa, gió táp
Vạch câu thơ quỷ thảm, thần kinh
Ông xem mình là nòi tình chủng, “giống đa tình” Là nhà thơ thiếu tìnhcảm nhưng bản chất lại thiên về tình cảm nên cái “tình” trong thơ văn ông lailáng khắp nơi Ông yêu rất nhiều người nhưng tình yêu ấy chỉ có một chiềudẫn đến ông hay chán nản và tương tư Qua những lần đổ vỡ, những xót xacay đắng trong tình yêu, với Tản Đà người đẹp trong cuộc đời xem như khôngcòn gặp lại, bởi họ đã có một cuộc đời riêng của họ Tìm đâu? Chỉ còn cáchtrở về thiên cổ Ở đó có: Ngu Cơ, Tây Thi, Dương Quý Phi, Hằng Nga thậmchí có cả những người quen biết và không quen biết Thỏa mãn giấc mơ yêuđương làm cho Tản Đà thấy mình gần hơn với cuộc đời
Xã hội mà Tản Đà sống - xã hội tư sản, tất cả đều được đánh giá bằngmột thước đo chung là đồng tiền, sắc đẹp cũng trở thành một thứ hàng hóamua bán được, thậm chí tự do yêu đương cũng như mọi thứ tự do trong xã hội
tư sản là các cửa bỏ ngỏ cho đồng tiền chui vào Tự cho mình là người có tài,
ôm mộng lập nghiệp vì dân vì nước, có đủ màu sắc yêu nước và duy tânnhưng Tản Đà chỉ toàn gặp bi kịch Là một thân phận tư sản nhưng Tản Đàkhông chống lại phong kiến Ông chỉ “mơ màng” nhưng dẫu sao trong xã hộiấy nó sẽ không là gì cả chỉ làm được những điều mới mẻ cho thơ văn màthôi… Trần Đình Hượu, Trần Ngọc Vương xếp Tản Đà vào loại hình nhà
Trang 22Nho tài tử sống trong môi trường phi cổ truyền, trong lòng xã hội đang bị tưsản hóa ở cấp độ thực dân chủ nghĩa Tản Đà dùng văn chương của người tài
tử thể hiện tất cả những gì trang nghiêm sâu lắng và đầy thiêng liêng về một
“tình yêu nước”…
Trong vai là người của hai thế kỷ, là nhà Nho tài tử trong xã hội tư sản,Tản Đà đã làm được “cơn gió lạ”, “nối dài truyền thống sáng tạo”, mang đếncho văn học những sáng tạo mẫu mực Tản Đà sẽ mãi là một nhân vật đặc biệt
để lại nhiều dấu ấn trên văn đàn qua nhiều thời kỳ, nhiều thế hệ
Tản Đà bước vào văn đàn bằng những bước đi đầy hăm hở, tự tin Điềunày xuất phát từ lý tưởng sống, từ quan niệm của một người nghệ sĩ Trên tấtcả các lĩnh vực thơ, văn xuôi, dịch thuật Tản Đà đã làm cho văn học nướcnhà có những bước chuyển mình đáng trân trọng Mặc dù “khối mâu thuẫn” làcái “phức tạp” của cả một thời đại, song đọng lại hơn hết mọi sáng tác củaTản Đà vừa mang đậm chất trữ tình vừa mang ý vị hiện thực lại bàng bạc mộtmàu sắc lãng mạn Kế thừa tất cả mọi thể loại và sử dụng những thể loại dântộc ấy một cách tài hoa Tản Đà khiến chúng trở nên biến hóa sinh động, đóngmột dấu ấn cá nhân đậm nét
Là nhà thơ của thời tàn cuộc Nho học có đóng góp lớn cho nền văn họcdân tộc, Tản Đà đã báo hiệu sự xuất hiện những điều mới lạ trong tâm hồn thếhệ trẻ, đổ bóng vào thơ mới sau này Nhiều người sau ông đã có những ảnhhưởng nhất định Khi xã hội thay đổi, thơ mới xuất hiện và đương nhiên thơ
cũ không còn phù hợp bởi nó không thể làm thỏa mãn nhu cầu của bạn đọc.Lúc này Tản Đà đã làm mới mẻ hình thức cổ truyền mang trong đó một nộidung đầy cảm xúc và một tư tưởng phóng túng, tự do hơn Chính Tản Đà đãlàm một cuộc “bàn giao tốt đẹp” là “người của hai thế kỷ” được nhiều nhà thơmến mộ, tôn trọng
Văn học Việt Nam giai đoạn 1900 - 1930 mang diện mạo và đặc điểmcủa một giai đoạn văn học giao thời Và không ai khác, Tản Đà là một tác giảtiêu biểu, trở thành một hiện tượng đặc sắc của văn học giữa cổ điển và hiện
Trang 23đại Tản Đà có một phần giống với các nhà nho lớp trước (thông thạo thơĐường luật, thơ cổ phong, từ khúc, ca trù, thơ lục bát, song thất lục bát, Nhưng, Tản Đà lại hơn các nhà nho ấy ở chỗ ông thông thạo cả tuồng chèo và
ca lý Điều này xuất phát từ cuộc sống, từ hoàn cảnh riêng, từ vốn hiểu biếtthâm sâu của ông Không ít làn điệu nông thôn địa phương mà ông biết, cũng
có các loại ca xướng có tính chất đô thị mà ông nắm vững, ông hiểu ca lý ViệtNam và cũng hiểu cả từ khúc Trung Quốc Những gì có được trong con ngườiông đều đã kết tụ và tạo ra một tài năng, hơn hết đã đưa thơ ông có vai tròquan trọng trong việc cách tân nền thơ Việt Nam Là nhà Nho nhưng lạikhông viết giống các nhà Nho lớp trước đồng thời cũng không sáng tác giốngcác văn nghệ sĩ lớp sau Các tác phẩm mà ông viết có nhiều dấu hiệu của hìnhthức trung gian, của những dấu nối giữa văn học Đông và Tây, Tản Đà đã ghitên mình vào danh sách những người có vị trí quan trọng khó có thể thay thếtrong lịch sử văn học việt Nam
Trong giai đoạn văn học giao thời ấy, Tản Đà mang một sứ mệnh caocả, là cây cầu nối liền giữa hai bờ của hai loại hình văn học khác biệt Đó là
sự khác biệt giữa hai nền văn học cũ và mới ở hai địa bàn thành thị và nôngthôn Hai lực lượng sáng tác: nhà Nho / người làm báo viết truyện ngắn, viếtkịch có những quan niệm văn học khác nhau có mục đích sáng tác, phươngpháp sáng tác và tiêu chuẩn thẩm mĩ khác nhau Rõ ràng ở giai đoạn giaothời, nền văn học cũ đã trên đà suy tàn nhưng vẫn giữ một vị trí đáng kể, vẫn
có vai trò lớn trong sự phát triển của nền văn học dân tộc
Trong bối cảnh ấy, Tản Đà với nhiều cố gắng của mình đã làm giàucho kho tàng văn học dân tộc, chuẩn bị cả nội dung và nghệ thuật cho Thơ
mới ra đời Hoài Thanh, Hoài Chân đã mở đầu cho Thi nhân Việt Nam bằng bài Cung chiêu anh hồn Tản Đà với những lời lẽ xác đáng: “Anh em ở đây,
tuy người sau kẻ trước, nhưng ai nấy đều là con đầu lòng của thế kỷ 20 Trênhội Tao đàn, chỉ tiên sinh là người của hai thế kỷ Tiên sinh sẽ là đại biểucho một lớp người để chứng giám cho công việc của lớp người kế tiếp ở địa
Trang 24vị ấy còn có ai xứng đáng hơn tiên sinh” [59, 15] Dù không mang lốt tưtưởng của một nhà thơ mới, song Tản Đà đã nói lên những khát vọng thoát
ly ra khỏi những khô khan khuôn sáo Hoài Thanh, Hoài Chân còn cho rằng:
“Đôi bài thơ của tiên sinh ra đời từ hơn hai mươi năm trước đã có một giọngphóng túng riêng Tiên sinh đã dạo những bản đàn mở đầu cho một cuộc hòanhạc tân kỳ đang sắp sửa” [59, 16] Không ai khác chính Tản Đà là nhà thơđàn anh chứng giám cuộc gặp mặt cho hội Tao đàn lớp sau Nếu không cóTản Đà văn học sẽ bị đứt đoạn, Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Nguyễn CôngTrứ “trở thành hiện tượng cá biệt” (Trần Đình Hượu) Xuân Diệu, Hàn Mặc
Tử “trở thành những đứa con thất cước không có liên lạc gì với giống nòi”(Hoài Thanh) Có Tản Đà, có luôn một dấu nối giữa họ và những nhà thơtrước đây Và cũng từ đây, có thể thấy rõ hơn sự tiếp nối một mạch thơ từcuối thế kỷ XVIII đến phong trào “Thơ mới”
Con người của hai thế kỷ ấy mang trên mình một sứ mệnh cao cả cùngvới một hành trang lớn đi trên con đường của nền văn học đang phát triển.Bước đi của Tản Đà đã kết lại thành “cây cầu” nối liền hai nền văn học cổđiển và hiện đại Xa hơn, ông thổi vào lòng thế hệ trẻ sau này một tư tưởng,một quan niệm sáng tác độc đáo
1.1.2 Tản Đà với nghiệp văn, nghiệp báo và “nghệ làm văn”
Tản Đà là người đầu tiên trong lịch sử văn học Việt Nam coi vănchương là một nghề - ông gọi là “nghệ làm văn”, dám mang văn chương rabán phố phường – nghĩa là ông cũng xem tác phẩm văn học là một thứ hànghóa Cái hiện đại trước hết của Tản Đà là ở quan niệm ấy
Bước vào “nghệ làm văn”, Tản Đà ôm ấp nhiều hoài bão, khát vọng,
không ngừng sáng tạo Nhưng ông cũng gặp nhiều đắng cay, thất bại Năm
1915, cuốn sách đầu tiên của Tản Đà - tập thơ Khối tình con I - được xuất bản, gây tiếng vang lớn Sau thành công đó, ông viết Giấc mộng con (in năm 1917) và một số vở tuồng: Người cá, Tây Thi, Dương Quý Phi, Thiên Thai Năm 1918, Phạm Quỳnh ca ngợi cuốn Khối tình con I và phê phán cuốn Giấc
Trang 25mộng con I, cả khen lẫn chê đều dùng những lời lẽ sâu cay, biến Tản Đà trở
thành một hiện tượng trên văn đàn Sau bài phê phán tư tưởng của Giấc mộng
con, Tản Đà thôi cộng tác với Nam Phong tạp chí và mở một số cuộc hội đàm
để chống lại những lời phê phán đó, sự kiện này cũng được nhiều giới quan
tâm Từ 1919 tới 1921, Tản Đà viết một loạt tác phẩm Về truyện, có Thần
tiền, Đàn bà Tàu (1919) Về sách giáo khoa - luân lý, có Đài gương, Lên sáu
(1919), Lên tám (1920) Về thơ, có tập Còn chơi (1921) Thời kỳ này, ông làm chủ bút Hữu thanh tạp chí một thời gian.
Năm 1922, Tản Đà thành lập nhà xuất bản riêng: "Tản Đà thư điếm"(sau đổi thành "Tản Đà thư cục") Tại đây đã xuất và tái bản hết những sách
quan trọng trong sự nghiệp của Tản Đà: Tản Đà tùng văn (tuyển cả thơ và văn xuôi, trong đó có truyện Thề non nước, 1922); Truyện thế gian tập I và II (1922), Trần ai tri kỷ (1924), Quốc sử huấn mông (1924), và tập Thơ Tản Đà
(1925) Ngoài ra thư cục này còn cho xuất bản sách của Ngô Tất Tố, Đoàn TưThuật
Năm 1926, Hữu Thanh tạp chí đình bản, Tản Đà cho ra đời An Nam
tạp chí Nhưng rồi, An Nam tạp chí tờ báo mà Tản Đà dành hết tâm huyết
-bắt đầu quãng đời lận đận Thời kỳ đầu làm chủ An Nam tạp chí, Tản Đà
chưa thiếu thốn nhiều, ông thường đi du lịch (lên núi Non Nước - Ninh Bình,vào trung kỳ thăm Phan Sào Nam, vào Sài Gòn gặp Diệp Văn Kỳ, ra BìnhĐịnh thăm mộ cũ nhà Tây Sơn, về Hải Phòng Ông vừa làm báo vừa đi chơi,
tạp chí An Nam ra rải rác, thất thường Dần dần, ông túng quẫn, những cuộc
đi là để trốn nợ hoặc giải sầu, hoặc là tìm người tài trợ cho báo Thời kỳ này
ông viết cũng khá nhiều Các tập Nhàn tưởng (bút ký triết học, 1929), Giấc
mộng lớn (tự truyện, 1929), Khối tình con III (in lại thơ cũ), Thề non nước
(truyện), Giấc mộng con II (truyện), lần lượt ra đời.
Năm 1931-1932, Tản Đà có cuộc bút chiến nổi tiếng với Phan Khôi về
luân lý và Tống Nho Năm 1933, khi phong trào Thơ mới đang nổi lên, thì An
Nam tạp chí của Tản Đà chính thức đình bản sau 3 lần đình bản và 3 lần tái
Trang 26bản Sự kiện này khi đó bị nhiều người thuộc phe "Thơ mới" đem ra cười cợt.Trong đó có Tú Mỡ Hồ Trọng Hiếu, đã viết một bài "văn tế An Nam tạp chí"với lời lẽ xỏ xiên Thời kỳ đầu của phong trào Thơ mới, Tản Đà im lặng Mãiđến năm 1934, ông mới có một vài lời khuyên nhẹ nhàng gửi các nhà Thơmới Tuy vậy, với vai trò là nhà thơ nổi tiếng nhất trong làng thơ cũ đươngthời, Tản Đà vẫn là một đối tượng chính để những người thuộc phe Thơ mới
tìm cách đánh đổ Tờ Phong hóa của Tự Lực văn đoàn kịch liệt chê ông, chê
mọi thứ, từ tính nghiện rượu, nói nhiều lúc say, hay say, cho đến cái mũi ửng
đỏ của Tản Đà cũng bị chê nốt Tản Đà, dần dần trở nên cô độc Tên tuổiông gần như bị đẩy lui vào dĩ vãng, nhường chỗ cho các nhà thơ mới: Xuân
Diệu, Thế Lữ, Lưu Trọng Lư An Nam tạp chí đình bản vĩnh viễn, cuộc sống
của Tản Đà vốn nghèo túng lại càng trở nên thiếu thốn hơn, phải chạy ngượcchạy xuôi để kiếm sống Có khi người ta thấy ông ở khu Bạch Mai dạy chữNho Có lúc ở Hà Đông, đăng quảng cáo lên mấy tờ báo: "Nhận làm thuê cácthứ văn vui, buồn, thường dùng trong xã hội - Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu".Năm 1938, ông còn mở cả một phòng đoán số Hà Lạc để xem bói
Trong lịch sử văn hoá Việt Nam, quãng thời gian từ cuối thời kỷ XIXcho đến ba thập niên đầu của thế kỷ XX là giai đoạn đánh dấu sự xuất hiệncủa một hình thái sinh hoạt văn hoá tinh thần mới đặc trưng của thờihiện đại: báo chí Đối với một nhà Nho lỡ vận như Tản Đà, báo chí là mộtngả đường lập thân hấp dẫn Có lẽ, tính chất “bác học” đặc thù của báo chígiai đoạn phôi thai đã lôi cuốn ông, hứa hẹn là chốn nhà Nho “nôm na phánghiệp kiếm ăn xoàng” có thể “đem quách cả sở tồn làm sở dụng” để đánhmột canh bạc lớn với cuộc đời Cùng với thi sĩ Tản Đà, nhà văn Tản Đà vàông chủ xuất bản Tản Đà, có một Tản Đà – người làm báo Bước vào nghiệpvăn chương, mảnh đất đầu tiên mà Tản Đà thử sức là văn xuôi Đây cũng làbộ phận sớm tạo nên uy tín xã hội cho ông Nếu như thơ đối với Tản Đà là nơichốn giãi bày tâm sự, giải toả những trầm uất và những khát vọng cá nhân thì
sự nghiệp báo chí là nơi ông thực hiện những khát vọng xã hội, thực hiện giấc
Trang 27mộng “thiên lương”, điều khoa cử không thể giúp ông thực hành trọn vẹn.Tiến hành khảo sát những sáng tác văn xuôi báo chí của Tản Đà trong suốtcuộc đời làm báo (không thống kê các tự sự nghệ thuật của Tản Đà), trongtổng số 163 đầu văn bản, có tới 97 đầu văn bản (chiếm 59% –- một con sốkhông nhỏ) thuộc loại văn luận thuyết bao gồm luận thuyết về các nhân vậtlịch sử, các vấn đề đạo đức, nhân sinh, xã hội Trong số những văn bản cònlại, ngoại trừ một số bài bút chiến (6 văn bản), những thư từ trao đổi với bạnđọc và người hâm mộ, các bài phê bình văn chương; một số liệt truyện về cácnhân vật lịch sử (10 văn bản); chiếm một tỷ lệ thấp (khoảng 15 đầu văn bản –
- 9%) là các du ký, một vài mảnh tự sự ngắn (cái mà Tản Đà tự gọi tên là “xãhội tiểu thuyết”) những ghi chép mang màu sắc phóng sự và một số tản văn
trữ tình Cũng trong thời gian này, Tản Đà xuất bản một số tập tản văn (Khối
tình – 1918, Tản Đà tùng văn – 1922, Tản Đà nhàn tưởng – 1929, chúng tôi
tạm gạt sang một bên các văn bản thuộc nhóm tự sự) Tương tự như tình trạngbộ phận tản văn công bố trên báo chí, có một sự mất cân đối sâu sắc giữa vănluận thuyết và những tản văn có tính trữ tình hoặc các hình thức ký Như vậy
có thể khẳng định trong tổng thể Tản Đà –- người viết tản văn (dù thuộcnhóm xuất bản dưới dạng sách hoặc đăng tải trên báo chí), nét chủ âm vẫn làTản Đà –- nhà luận thuyết Điều này phù hợp với dự phóng của cuộc đời ôngkhi lựa chọn nghề viết văn, làm báo
Như đã trình bày, Tản Đà bước vào sự nghiệp viết văn khi đời sống báochí và văn học hiện đại ở Việt Nam mới phôi thai Bản thân nhà Nho Tản Đà,dẫu đã bắt đầu được làm quen với tân thư, tân văn, tân báo, với “tiếng Tây”thì dường như những thể điều tra, ghi chép, phản ánh hiện thực, những thể
“phỏng sự”, “tả thật về xã hội” dường như vẫn là một cái gì xa lạ đối với kinhnghiệm văn chương của ông Trong giai đoạn văn chương báo chí mới phôithai, vẫn còn dung hợp cả tính học thuật, phổ biến kiến thức bên cạnh tínhthông tấn, với một công chúng vẫn còn quen với kinh nghiệm thưởng thứcvăn chương truyền thống thì hạn chế đó dễ dàng được chấp nhận, thậm chí
Trang 28được chấp nhận một cách nồng nhiệt Theo chúng tôi, cái mới của vănchương Tản Đà trong buổi đầu xuất hiện chủ yếu thể hiện trong sự dung hợpnhững lý tưởng Nho giáo với hệ giá trị mới được manh nha của xã hội tư sản.Đường hướng đó dễ được chấp nhận bởi khuynh hướng “điều hòa tân-cựu,thổ nạp Áá-Âu” của những nhà Nho làm văn hóa (và cũng là công chúng vănhọc chủ yếu ) trong giai đoạn giao thời Tuy nhiên, về hình thức thể loại,những tản văn luận thuyết của Tản Đà được sáng tác cơ bản trên nhữngnguyên tắc của văn luận thuyết từ thời Đường Tống bát đại gia : nguồn vănliệu, ngôn ngữ cũng như phương thức cấu trúc Ông là con người của nhữngkinh nghiệm truyền thống Tuy vậy, từ sau năm 1925, trong đời sống văn hóaViệt Nam bắt đầu xuất hiện những chuyển động mới Những tờ báo hiện đại
xuất hiện (Hà thành ngọ báo - 1927, Đông Tây, Phụ nữ tân văn - 1929),
những người đồng đạo với Tản Đà (Phan Khôi) bắt đầu làm quen với luận lýhọc, ngữ pháp phương Tây, với duy vật, duy tâm chủ nghĩa và đến 1933, một
“văn đoàn” kiểu mới chính thức ra đời Nhìn vào đời sống văn chương saunăm 1932, có thể thấy chủ thể (người sáng tác và công chúng) của nền vănhọc là thế hệ thanh niên sản phẩm của nhà trường Pháp Việt, với những tínđiều và quan niệm văn chương khác thế hệ Nhà Nho ba mươi đầu thế kỷ.Nhìn vào những tuyên ngôn của Tự lực văn đoàn khi thành lập có thể thấy đốivới những chủ thể mới của văn học dân tộc, cách hình dung của họ về văn họclà đồng dạng với cách hình dung của văn học phương Tây hiện đại Trong bốicảnh đó, Tản Đà bắt đầu trở thành một cung đàn lạc điệu Ông không thuộckiểu nhà báo có thể điều tra, tìm hiểu khám phá và phản ánh những vấn đề xãhội như Tam Lang, Hoàng Đạo, Vũ Trọng Phụng Ông không quyết liệt dấnthân vào những tản văn trữ tình như Nguyễn Tuân và ngay trong những tảnvăn trữ tình (hiếm hoi) của ông, ta thấy thiếu một khả năng miêu tả và tái hiệnnhững kinh nghiệm hiện sinh (điều bộc lộ trong cả sáng tác của Tản Đà-ngườiviết tự sự) ở một phía khác, khi dành nhiều tâm huyết cho các tản văn thuyết
lý, thể loại buộc (và cho phép) nhà văn cắt đứt khỏi những biểu hiện chân
Trang 29thực của cuộc sống (dường như thích hợp với kinh nghiệm sáng tác của TảnĐà), Tản Đà lại hoàn toàn không đủ sức làm một cuộc “lột xác” để làm quenvới tư duy duy lý, tư duy phân tích và hệ thống khái niệm triết học, tư tưởngphương Tây (những thứ có thể giúp ông có một cái nhìn khác với di sản tưtưởng phương Đông) Cố thủ trong những kinh nghiệm sáng tác và gần nhưkhông có những thay đổi để thích nghi với đời sống mới (đặc biệt trong việclàm chủ những công cụ sáng tạo mới – điều trái ngược với Phan Khôi), tảnvăn của Tản Đà trở nên lạc điệu với hệ thống thể loại thống trị đời sống vănhọc và đứng ngoài lề làn sóng Âu hóa những năm 30 Với một công chúngquen và ham thích thưởng thức phóng sự báo chí, truyện ngắn, tiểu thuyếthiện đại, quay lưng lại với Nho học truyền thống (dẫu có làm quen nỗi vớimột nền triết học mới hay không thì vẫn còn phải bàn) và hình dung vănchương như một công cụ khám phá và tái hiện những kinh nghiệm hiện sinh,tản văn của Tản Đà, đương nhiên sẽ trở thành xa lạ Có điều, dường nhưchính cái khoảng trống mà ông để lại, tiếp sau, không có người lấp đầy Chođến tận bây giờ, tản văn triết học vẫn là một vùng đất vắng vẻ của văn chươngViệt Nam.
Sau cuộc khủng hoảng tinh thần, bắt đầu từ năm 1915, Nguyễn KhắcHiếu bắt đầu viết báo trên tờ Đông Dương tạp chí của học giả Nguyễn VănVĩnh, lấy bút danh Tản Đà, in thành mục riêng “Một lối văn Nôm” (sau đổithành “Tản Đà văn tập”) Gia cảnh ngày càng sa sút sau cái chết của người anhNguyễn Tài Tích, Tản Đà quyết chuyển sang nghề cầm bút chứ không chịu làmquan dù được chính quyền thực dân ra sức lôi kéo, như lời tâm sự bằng thơ sau:
“Chữ nghĩa Tây Tàu trót dở dang/ Nôm na phá nghiệp kiếm ăn xoàng/ Nửangòi bút ngỗng ba sinh lụy/ Một mối tơ vò mấy đoạn vương/ Có kẹo, có câu làsách vở/ Chẳng lề, chẳng lối cũng văn chương/ Còn non, còn nước, còn trănggió/ Còn có thơ ca bán phố phường” (đề từ tập thơ “Khối tình con I”)
Có thể nói giai đoạn từ khi khởi nghiệp đến đầu những năm đầu thậpniên 1930, không ai trên văn đàn Việt Nam so bì được với Tản Đà về số
Trang 30lượng, cũng như chất lượng tác phẩm Ông viết nhiều thể loại khác nhau như:Thơ, kịch thơ, truyện, sách thiếu nhi, tản văn, sách giáo huấn
Song hành với quá trình sáng tác, ông còn tham gia lĩnh vực xuất bảnlập ra Tản Đà thư điếm, sau cộng tác với Nghiêm Thượng Văn và Đặng Đức
Tô lập Tản Đà tu thư cục Đặc biệt, Tản Đà tham gia sâu hơn vào đời sốngbáo chí Năm 1921, ông được mời làm chủ bút tờ Hữu thanh, nhưng làm được
6 tháng thì từ chức Ngày 1-7-1926, Tản Đà khai trương tờ An Nam tạp chí,với nhiều kỳ vọng và tâm huyết gây dựng Nhưng số phận tờ báo này lại rấtlận đận, hết đình bản rồi tục bản nhiều lần, cho đến khi đình bản hẳn vào năm
1933 Về cuối đời, Tản Đà sáng tác rất ít, chủ yếu dịch thơ Đường và soạn cácsách nghiên cứu
1.2 Văn xuôi trong sự nghiệp sáng tác của Tản Đà
1.2.1 Sự nghiệp sáng tác của Tản Đà
Thơ là lĩnh vực quan trọng nhất trong sự nghiệp Tản Đà Ông sáng tác
rất nhiều thơ, nhiều thể loại Năm 1916 ông xuất bản cuốn Khối tình con I.
Tiếp sau tác phẩm mở đầu này là một loạt các tác phẩm lần lượt ra đời như:
Giấc mộng con I (1917), Giấc mộng con II (1932), Khối tình con II (1918), Khối tình con III (1932), Lên sáu (1919), Lên tám (1920), Giấc mộng
lớn (1928), Thề non nước (1932), Tản Đà xuân sắc (1934),… Ông được coi
là một thi sĩ, hơn hết các nghề khác Thơ ông hay diễn tả cảm giác say sưa,chán ngán đời thực, đắm chìm trong cõi mộng, những mối tình với người tri
kỷ xa xôi, song cũng có những bài mang tính ẩn dụ, ngầm phê phán hiện thực
Thơ Tản Đà thường làm theo thể cổ phong, cũng có khi làmbằng Đường luật, đường luật phá thể, lục bát, song thất lục bát Ông còn có tàisáng tác thơ dựa trên từ khúc, một hình thức âm nhạc của Trung Hoa, nhữngbài “Tống biệt”, “Cảm thu tiễn thu” nhờ sự phá cách, phối hợp nhiều thể loạithơ, có thể coi là cách tân về hình thức khá táo bạo
Một kiểu văn vần đặc biệt nữa mà ở đó, Tản Đà được sánh ngangvới Nguyễn Công Trứ, Dương Khuê, Cao Bá Quát…, là hát nói hay ca
Trang 31trù (nay được xem như một thể loại thơ) Hát nói của Tản Đà thể hiện mộttriết lý sống phóng khoáng, một tâm hồn hay mơ mộng, hoài cổ nhưng manmác nỗi sầu nhân thế.
Ngoài thơ tự sáng tác, thơ dịch của Tản Đà cũng được đánh giá rất cao.Những bài thơ lục bát dịch từ thơ Đường của Tản Đà thường được cho là hayhơn các bản dịch khác, có bài hay hơn cả nguyên tác, vì sự tự nhiên, không bị
gò bó mà chuyển tải cả tâm hồn mình vào đó Ngoài thơ Đường, ông còn dịchnhững bài thơ dài như Trường Hận ca, dịch ra thể Song thất lục bát, đượcđánh giá rất cao, Bùi Giáng trong cuốn “Đi vào cõi thơ” tuy không đề cao thơTản Đà nhưng gọi bản dịch này là “vô tiền khoáng hậu”
Về văn xuôi của ông có các tác phẩm tiêu biểu của Tản Đà gồm:
Giấc mộng con I (tiểu thuyết, 1917), Thề non nước (truyện ngắn,
1920), Chuyện thế gian I và II (1922-1924), Giấc mộng lớn (nhật ký,
1932), Giấc mộng con tập II (du kí, 1932), Trần ai tri kỷ
(truyện ngắn, 1932), Liệt nữ truyện (1938), Kiếp phong trần (truyện ngắn)
và một số tác phẩm khác Văn xuôi Tản Đà đã đề cập đến nhiều vấn đề của
xã hội đương thời, bằng một lối văn giàu tính nghệ thuật, hấp dẫn, sángtạo, mới mẻ, có bản lĩnh, bản sắc riêng
Đối với thể loại tiểu thuyết và truyện ngắn, Tản Đà cũng có nhữngthử nghiệm bước đầu
Tản Đà còn được coi là môt nhà báo chuyên nghiệp Làm báo chí làmột phần trong sự nghiệp rất phong phú của Tản Đà Ông có phong cách làmbáo đặc biệt, thường xuất hiện trong những cuộc bút chiến với những giọngđiệu khó lẫn Từng là cộng tác viên cho “Nam Phong “, sau đó do bất đồngvới Phạm Quỳnh mà sang làm chủ bút cho “Hữu Thanh”
Về sau ông sáng lập ra “An Nam tạp chí” nhưng ba lần phải chịu cảnhđình bản vì lý do tài chính Ở giai đoạn cuối đời còn cộng tác với “Văn họctạp chí” và cả “Ngày nay”, tờ báo trước đó đã mạt sát ông nặng nề
Trang 32Ngoài ra ông còn là một nhà viết kịch Những vở kịch ông soạn rất giàu
chất văn học, có những vở tạo được tiếng vang như Người cá, Tây Thi, Lưu
Nguyễn nhập Thiên Thai, Dương Quý Phi.
1.2.2 Văn xuôi trong sự nghiệp sáng tác của Tản Đà
Nếu lấy điểm khởi đầu và kết thúc là tự sự hư cấu đầu tiên và cuối cùng
của Tản Đà Giấc mộng con (1916) và tập Trần ai tri kỉ (1932) dễ dàng có thể
hình dung ra một hành trình và những dao động của một Tản Đà -– người kểchuyện Tản Đà bắt đầu sự nghiệp văn chương khi mọi dự định và giấc mơlập nghiệp đều đã tan tành Sau những thiên tản văn và những sáng tác thơ ca
của buổi đầu trên văn đàn, Giấc mộng con I là tự sự dài hơi đầu tiên của ông.
Được xây dựng trên một cốt truyện phiêu lưu (công thức sự di động của nhânvật trong những không gian địa lý xa lạ), cuốn sách trở thành nơi chốn giảitoả những khát vọng, những giấc mơ mà ông không thể nào thực hiện đượctrong đời sống hiện thực: tìm kiếm người hồng nhan tri kỉ, khám phá và cảitạo thế giới Gạt sang một bên lớp vỏ mà trên một phương diện, có thể coi làmột nỗ lực dung hợp với thời đại mới (cuộc tình ngoài hôn nhân, không giannhững miền đất lạ, hình ảnh những người thanh niên tân học, cuộc phiêulưu…), chúng ta thấy hiện nguyên hình một nhà Nho viết tự sự Tác phẩm thểhiện một sự nghèo nàn trong giọng điệu trần thuật Chỉ có hai hình thức giọngtrần thuật chính hiện diện suốt thiên tự sự: giọng kể của người trần thuật vàgiọng đối thoại của nhân vật trong đó giọng đối thoại sẽ chiếm một tỉ lệ quantrọng (trên 48% Đặt trong mối quan hệ với chủ đề tác phẩm (khát vọng tìnhyêu và thế giới lý tưởng, khát vọng viễn du), có thể nói toàn bộ trọng tâm của
tự sự rơi vào những đối thoại Đối thoại là nơi người trần thuật phát ngônnhững tuyên ngôn có tính lý tưởng của mình Vai trò của đối thoại càng rõ nét
khi người trần thuật hầu như bất lực trong các miêu tả Trong Giấc mộng
con không có những miêu tả mà chỉ có các ghi chép có tính miêu tả (les
Trang 33notations descriptives) Thậm chí, không ít trường hợp, sự bất lực trong miêutả đã khiến người trần thuật phải vay mượn những công thức thơ ca cósẵn[11] Sự thiếu thốn của năng lực miêu tả sẽ khiến toàn bộ trọng tâm củamột tiểu thuyết phiêu lưu (roman d’aventure) thu rút vào hệ thống tình tiết củacốt truyện hư cấu Thiên tự sự hư cấu đầu tay của Tản Đà cũng thiếu vắngtoàn bộ những kỹ thuật miêu tả và phân tích tâm lý nhân vật với những kiểugiọng điệu đặc thù (lời độc thoại nội tâm, lời dẫn gián tiếp tự do -– discoursindirect libre –- dạng trung gian giữa lời trần thuật và lời nhân vật) Với sựthiếu vắng những kỹ thuật tự sự đó, có thể thấy, yếu tố chủ đạo trong tiểuthuyết đầu tay của Tản Đà là nhà luận thuyết và nhà thơ trữ tình hơn là mộtnhà văn viết tự sự Vai trò của nhà tự sự duy nhất chỉ được thể hiện trong việcsáng tạo nên một cốt truyện và liền theo đó, cốt truyện được biến thành cáikhung để móc vào đó những yếu tố luận thuyết và xúc cảm trữ tình.
Những mỏng mảnh trong tự sự nghệ thuật đầu tay của Tản Đà hoàntoàn có thể lý giải bằng những hạn chế của thời đại, một giai đoạn phôi thaicủa văn học quốc ngữ khi nhà văn chưa kịp tiếp nhận và chuyển sang một môhình sáng tác mới và khi những mối dây quan hệ với văn chương truyền thống
vẫn còn hết sức sâu sắc Giấc mộng con của Tản Đà là một sự pha trộn giữa
một tryện đối thoại truyền thống với một cốt truyện phiêu lưu (loại cốt truyệnhết sức hiếm hoi trong văn học Trung đại Việt Nam) mà chủ âm rơi vào yếu
tố đối thoại Mô hình tự sự này sẽ được Tản Đà tiếp tục sử dụng trong một
dãy các tự sự hư cấu tiếp theo cho đến tận năm 1932: Thần tiền, Giấc mộng
con II, Thề non nước Trong những tác phẩm này, có một sự vận động theo
chiều tỷ lệ nghịch giữa yếu tố đối thoại và yếu tố tự sự và trong nhiều tác
phẩm, yếu tố tự sự được đẩy lên đến mức tuyệt đối (Thần tiền) Mẫu số chung
của các tác phẩm này thể hiện ở việc tự sự được biến thành nơi giải toả những
ẩn ức về những giấc mộng văn chương, sự nghiệp, tình ái bất thành (Giấc
mộng con II, Thề non nước) hoặc bày tỏ thái độ, quan niệm của nhà văn đối
với xã hội hiện đại, một xã hội mà Tản Đà vừa háo hức nhập cuộc vừa cay
Trang 34đắng thất vọng Trong những tác phẩm đó, một mặt, ta vừa thấy một Tản Đà
–- người kế thừa những truyền thống tự sự Trung đại, vừa thấy không ít kinhnghiệm nghệ thuật đó bị con người nhà tư tưởng -– đạo đức thống trị và làmcằn cỗi Yếu tố thơ trong tự sự nghệ thuật của Tản Đà là một điển hình Ngoại
trừ cuốn Thề non nước, dường như Tản Đà đã có một nỗ lực trong việc đoạn
tuyệt với hình thức tự sự đan xen thơ, một hình thức tự sự phổ biến của vănhọc Trung đại Tuy nhiên sự đoạn tuyệt đó, theo chúng tôi, xuất phát từ yêucầu của chủ đề, đề tài hơn là một ý thức nghệ thuật rành mạch
Trong cuộc đời sáng tạo của mình, không phải không có những thờiđiểm Tản Đà đã nỗ lực vượt thoát khỏi con người cá nhân, vượt thoát khỏinhững ẩn ức sâu xa của cuộc đời mình Sự vận động của đời sống báo chí vàthị trường văn chương không hẳn là không tác động đến ông, đòi hỏi ông phảithoát khỏi con người “nhà luận thuyết” của mình Trong nhiều tác phẩm, TảnĐà bắt đầu nỗ lực vượt qua chính mình để trở thành một nhà văn “tả chân”,thử miêu tả những cảnh đời trong một xã hội “ba đào” Tuy nhiên, ở đây, lạimột lần nữa, Tản Đà thất bại Đối diện với tấn kịch nhân gian, Tản Đà tìm đếnvới những đề tài quen thuộc với chính ông và với truyền thống văn chươngmà ông là người kế thừa: cuộc đời bạc mệnh của những người hồng nhan, sốkiếp của ngưòi kỹ nữ [16] Không thể phủ nhận là trong những thiên tự sựnày, Tản Đà đã cố gắng cải cách hình thức tự sự để tăng thêm tính hấp dẫn
Truyện Trần ai tri kỷ của Tản Đà là một ví dụ Trong thiên tự sự, tác giả đã
nỗ lực thoát khỏi lối trần thuật đơn tuyến theo trục thời gian của tự sự truyềnthống, đảo ngược trật tự thời giạn, tỉnh lược nhiều yếu tố tiểu sử nhân vật vàtăng cường các kiểu giọng điệu trần thuật phục vụ việc tái hiện cốt truyện.Điều đó tạo nên sự tự nhiên và sinh động của văn bản tự sự Tuy nhiên, ởnhững tác phẩm này những giới hạn của nhà Nho Tản Đà sớm hiện diện.Thiếu vắng hoàn toàn năng lực miêu tả và tái hiện lại bằng ngôn ngữ hình ảnhcủa con người và thế giới chính vì vậy, Tản Đà lại quay trở về với kinhnghiệm viết tự sự đan xen thơ của văn học truyền thống, trong đó, thơ trở
Trang 35thành một “công cụ đa năng” vừa đảm nhiệm chức năng miêu tả không gian;phân tích tâm lý nhân vật, thậm chí, một biến thể của lời độc thoại của nhânvật; lời trữ tình ngoại đề của người trần thuật Với sự thiếu vắng đó của những
kỹ thuật tự sự, hiện thực đời sống phản ánh trong tác phẩm Tản Đà trở thànhmột thứ bóng mờ với hư ảo những số kiếp con người bị gạn lọc đi tất cả
những gì cụ thể của một Cái sống (le vif) Hình thức nghệ thuật đó tương
thích với một cảm quan hư vô về cuộc sống nhuốm đậm trong tác phẩm của
Tản Đà Trong thiên “ba đào ký” gần cuối cuộc đời sáng tác của Tản Đà Tối
thứ bảy ở xóm bình khang, cảm quan hư vô đó về cuộc sống lại được biểu
hiện dưới một hình thức khác Cả thiên tự sự là một bản ghi chân thực nhấtnhững lời đối thoại lượm lặt được trong một nhà hát cô đầu Đến đây, dườngnhư đối với Tản Đà, hiện thực đã trở thành một mớ âm thanh hỗn độn mà ôngnghe thấy và trong văn bản, vai trò của người trần thuật bị xoá đi hoàn toàn,
ngoại trừ chức năng của một máy ghi tất cả những gì mà anh ta nghe
thấy(chúng tôi nhấn mạnh, nghe thấy chứ không nhìn thấy).
Sáng tác tự sự nghệ thuật đòi hỏi một kiểu tư duy nghệ thuật khác vớithơ và văn chương luận thuyết Thể loại đòi hỏi người nghệ sĩ viết tự sự phải
có những năng lực khác với một nhà thơ hay một nhà luận thuyết: quan sát,tái tạo, miêu tả, một kiểu tư duy khách quan hơn thơ trữ tình và cụ thể hơnvăn chương luận thuyết Tản Đà thiếu tất cả những điều đó Như đã trình bày,
tự sự của ông là nơi hội tụ của những xúc cảm trữ tình và những triết lý trừutượng đầy tính chủ quan Ông không có đủ khả năng vượt khỏi con người,cảm xúc, tâm trạng, lý tưởng cá nhân để quan sát, khám phá, và tái tạo nênmột thế giới của riêng mình Theo chúng tôi, chính vì vậy, tự sự của ông thấtbại Có lẽ, chính cái đã làm nên một nhà thơ Tản Đà đã giết chết người kểchuyện Tản Đà Dường như mười thế kỷ văn học Trung đại đã làm cho tư duytrữ tình và tư duy thuyết lý hằn sâu trong tư duy nghệ thuật của người nghệ sĩ.Điểm dừng của Tản Đà, có lẽ, cũng chính là điểm dừng của một kiểu nghệ sĩtrước ngưỡng cửa của văn chương hiện đại
Trang 36Ở thời điểm chuyển giao của hai thời đại văn học, sáng tác của Tản Đàlà người kết thúc muộn của một tryền thống văn học Hiển nhiên, sau ông sẽ
có những người cố gắng nối lại khoảng đứt gãy giữa văn chương truyền thốngvà văn học hiện đại (Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan, Nguyễn Tuân và trênmột phương diện, cả Vũ Trọng Phụng –- người viết tiểu thuyết bợm nghịch).
Chỉ có điều sau Tản Đà, văn chương sẽ bị cuốn mình vào một con đườngphát triển với những tín điều kiểu khác Không thể phủ nhận cuộc tiếp xúcvới phương Tây và sự kiến tạo một mô hình văn chương theo kiểu phươngTây là một khuynh hướng chủ lưu của quá trình hiện đại hóa của văn học ViệtNam và cũng không thể phủ nhận đó là một động lực quan trọng làm nên sựphát triển bùng nổ của văn chương Việt Nam đầu thế kỷ XX Tuy nhiên, tronglòng cuộc tiếp xúc đó không phải không có những giới hạn Do những thóiquen văn chương, những truyền thống văn hóa, thẩm mỹ và văn học mà ngay
từ đầu, một định hướng văn học đã định hình: hướng đến một thứ văn chươngxây dựng trên mỹ học của cái “giống như thực” (le vraisemblable) Cùng mộtthời điểm tiếp xúc với nhiều trào lưu, trường phái của phương Tây và bảnthân cũng phân hóa thành nhiều nhóm, trào lưu, trường phái nhưng yêu cầucủa “cái giống như thật” hoặc cái có thể xảy ra trong hiện thực đã trở thànhmột nỗi ám ảnh chung của cả nền văn chương Không những thế, ngay từ đầu,việc tiếp xúc với những phương pháp sáng tác của phương Tây cũng bị gắnvới những tín điều Dường như chỉ một số kiểu phản ánh hiện thực nhất địnhmới được chấp nhận Đi sâu vào thế giới tâm lý, phản ánh cái lãng mạn, cái
mơ mộng trong tác phẩm bị xem là “văn nghệ phú hào”, phản ánh hiệnh thực
bị gắn với một số đề tài nhất định, ngoài nó là ngoài những ranh giới của hiệnthực Gắn liền văn chương với những thiên kiến phi văn chương, mầm mốngcủa một sự cạn kiệt của văn học hiện đại dường như đã được báo trước.Không phải vô lý khi vào những năm 40 của thế kỷ trước, có một khuynhhướng trở về với truyền thồng mà trong văn xuôi người đại diện là NguyễnTuân Sau một chuỗi những tùy bút thuộc loại “cực thực”, Nguyễn Tuân
Trang 37hướng ngòi bút sang loại truyện “yêu ngôn” và trong những “yêu ngôn” đó,
có hình bóng người tri kỷ vong niên của ông: Tản Đà Có lẽ đó là một nỗ lựctìm kiếm một nguồn mỹ học khác cho văn chương hiện đại
Chúng ta hầu như không biết gì về quãng thời gian bảy năm cuối đờicủa Tản Đà (1932-1939), ngoại trừ lời kể của những nhân chứng còn lại Ôngsuy nghĩ, băn khoăn, tìm kiếm gì, không một tài liệu, nhật ký, giấy tờ đủ sứckhẳng định Chỉ biết một trong những công trình lớn cuối đời của ông là
dịch Liêu trai chí dị Tản Đà là người kế thừa của một mỹ học tự sự mà những
bậc tiền bối xuất sắc phải kể đến Nguyễn Dữ, Lê Thánh Tông (nếu quả thực
ông là người viết Thánh Tông di thảo) Họ đại diện cho một con đuờng khác
đến với những tầng sâu và bản chất của hiện thực vượt qua lớp vỏ “giống nhưthật” bề ngoài Con người nhà thi sĩ và nhà luận thuyết đã làm cằn cỗi khảnăng phát triển đó của Tản Đà và đồng thời, ông không tìm được cách hiệnđại hóa những kinh nghiệm nghệ thuật đó Tuy nhiên dường như điểm dừng
đó để lại một lời cảnh báo có tính lịch sử Và không biết vô tình hay hữu ý,Nguyễn Tuân đã bắt đầu cuộc tìm kiếm nghệ thuật của mình chính tại điểmmà Tản Đà dừng bước
1.3 Vấn đề cái tôi trong văn xuôi Tản Đà
1.3.1 Vấn đề cái tôi trong sáng tác văn học
Cái tôi trong trong đời sống xã hội cũng như trong văn học đã từngđược bàn đến nhiều Theo Nguyễn Đình Chú, “Cá nhân là thực thể đầu tiênlàm nên mọi hình thức cộng đồng xã hội Có thể ví xã hội như là một cơ thểthì cá nhân là từng tế bào Muốn có một cơ thể khoẻ thì phải có từng tế bào
khoẻ Cái Tôi - cá nhân được nhận thức đúng đắn sâu sắc và được phát huy theo hướng đúng đắn, chân chính, sẽ là điều kiện tối ưu cho sự phất triển toàn
xã hội Nói đến cái Tôi - cá nhân không chỉ có khía cạnh quyền lợi, sự hưởng
thụ, mà trước hết là vai trò, động lực phát triển xã hội, sự cống hiến Cái Tôi
cá nhân được nhận thức như thế, về bản chất là hoàn toàn đối lập với cái Tôi cá nhân chủ nghĩa, tức là chủ nghĩa vị kỷ, phản tiến hoá Cái Tôi - cá nhân
Trang 38-hiểu theo nghĩa chân chính không hề đối lập với tính cộng đồng, tính tập thể,tính vị tha Văn học phấn đấu cho chủ nghĩa nhân đạo bằng sự bảo vệ, xâyđắp hạnh phúc cho con người, khám phá thế giới con người, nhưng khi nóiđến hạnh phúc con người cũng như khám phá thế giới con người mà khôngthông qua con người cá nhân thì ít nhiều đã rơi vào chủ nghĩa trừu tượng, phithực tế Cái Tôi - cá nhân có ý nghĩa thiêng liêng như vậy trong sự sống củanhân loại Tuy nhiên, không phải ở đâu và lúc nào, con người trong đó cácnhà văn với sứ mạng khám phá, phản ánh, đấu tranh cho hạnh phúc con ngườicũng đã nhận thức sáng tỏ vấn đề này Có thể nói ở nước ta, và trong phạm vivăn học, dễ thấy một sự thật có phần khác với nhiều nền văn học trên thế giớilà đã rất chậm chạp trong việc nhận thức về cái Tôi - cá nhân này thậm chí làcho đến hôm nay, cũng chưa hẳn đã được nhận thức rạch ròi Chủ nghĩanhân văn trong văn học Phục hưng đề cao con người, coi nó là trung tâm của
vũ trụ, là thực tế tồn tại đẹp đẽ nhất của muôn loài Đến thế kỷ XVII,Đêcáctơ (Descartes) có được luận điểm nổi tiếng: “Je pense, donç je suis”(Tôi tư duy, ấy là tôi tồn tại) chính là sự kế thừa và phát triển tư tưởng Phụchưng về cái Tôi - cá nhân (L'individu) đó Chủ nghĩa nhân văn của thời Phụchưng với nội dung cơ bản trên đây trước hết là một sự giải phóng con ngườikhỏi sự ràng buộc của tôn giáo, của thần quyền Từ sự giải phóng này, conngười vươn tới sáng tạo ra nền văn hoá Phục hưng và để lại những con người
khổng lồ trên phương diện văn hoá nghệ thuật như mọi người đã biết Ở
nước ta, mãi tới thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX, trong điều kiện chế độ phongkiến cùng với ý thức phong kiến bị suy sụp trước sự trỗi dậy của các phongtrào nhân dân trong đó đã bắt đầu có thành phần thị dân, cái Tôi - cá nhân mớibắt đầu có mặt ít nhiều qua sáng tác của Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, PhạmThái, Phạm Nguyễn Du, Ngô Thì Sĩ, Nguyễn Công Trứ Trong cái Tôi - cá
nhân ở giai đoạn văn học này đã có cái Tôi tự ý thức về mọi nỗi đau khổ của
mình, cái Tôi đòi quyền sống cho mình, trong đó có quyền được tự do bộc lộtình cảm riêng tư cá thể, tự do yêu đương, tự do hưởng hạnh phúc lứa đôi,
Trang 39hạnh phúc tuổi trẻ, kể cả hạnh phúc bản năng Ở đây cũng chớm hiện ra cái
Tôi sinh học tự nhiên… Sự kết hợp hài hoà giữa cái Tôi và cái Ta, cùng với
sự cân bằng, sự quân bình giữa càm xúc và lý trí (vốn có nguồn gốc sâu xa từhọc thuyết âm dương, học thuyết trung dung) trong cái Tôi, ở buổi đầu này, làkhá đẹp Với những điều đó, cái Tôi này có ý nghĩa nhân bản, chống phongkiến rõ rệt và ít nhiều có tính chất hiện đại bởi nó thuận theo quy luật pháttriển của giá trị nhân bản, của sự sống chính đáng Sự xuất hiện của cái Tôi -
cá nhân mang ý nghĩa nhân bản mới mẻ tiến bộ như thế đã có liên quan mật
thiết tới sự hình thành và phát triển một số thể loại từng được coi là đặc sảncủa văn học cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX: truyện thơ, khúc ngâm, hát
nói Cái Tôi - cá nhân đã có mặt, dù chậm nhưng khá xinh xắn và kháu khỉnh
như thế nhưng ngay sau đó, nó lại như lẩn mặt đi vì thời đại không khuyếnkhích vì trước hoạ Pháp xâm lược, số phận cái “Tôi” phải nhường chỗ cho sốphận cái “Ta” trước số phận dân tộc Mãi đến nửa đầu thế kỷ XX này, đặcbiệt là từ những năm 20 trở đi, dù đất nước còn bị chìm ngập trong vòng nô lệthực dân Pháp, nhưng một khi quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa (dù ốm yếu
do hoàn cảnh thuộc địa quy định) đã có mặt, lại thêm ảnh hưởng tư tưởng vàđiệu sống tư sản phương Tây tràn vào ào ạt, nhất là ở các đô thị và trongphạm vi tầng lớp tư sản và tiểu tư sản, thì dù muốn hay không, cái Tôi - cánhân cũng có mặt lại Và như thế là lần này nó đã có mặt, với một hậu thuẫn
về quan hệ sản xuất, về cơ sở kinh tế rõ rệt hẳn hoi so với thời Nguyễn Dutrước đó nhiều Cái Tôi - cá nhân chớm lên ở thơ văn Tản Đà, ở tiểu thuyết
Tố Tâm của Hoàng Ngọc Phách, ở bút ký Giọt lệ thu của Tương Phố, Linh Phượng ký của Đông Hồ trong thập kỷ 20, sau đó xuất hiện ngang nhiên
trong tiểu thuyết Tự Lực văn đoàn, trong Thơ Mới và ít nhiều cả trong dòng
văn học hiện thực phê phán” (“Vấn đề “ngã” hay “phi ngã” trong văn họctrung đại”, http://www.viet studies.info)
Có thể nói, trong sáng tạo nghệ thuật, cái Tôi là tiền đề và động lực của
sự cách tân, là thước đo sáng tạo của nhà văn Cái Tôi đích thực, xuất hiện
Trang 40như một giá trị văn hoá, đậm tính nhân văn Tiếng nói riêng tư đó, dẫu biểuhiện dưới dạng thức nào đi nữa vẫn “cộng hưởng dư âm của tất cả những gìthuộc về nhân loại”, thuộc về thời đại, dân tộc Trong văn học, cái Đẹp khôngthuộc về cái Tôi khép kín, lạc lõng như một ốc đảo, hay cái Tôi cá nhân cựcđoan cự tuyệt giá trị cao quí mà “cái Ta” thừa nhận Phạm trù “cái Tôi” thuyếtminh cho sự tiến bộ, đồng thời xác định cá tính sáng tạo trong văn học.
1.3.2 Nhìn chung về cái tôi trong văn xuôi Tản Đà
Tản Đà là một nhà Nho tài tử sống trong xã hội tư sản, có đầy đủ tưchất của một nhà Nho chính thống song Tản Đà cũng không quên làm mớimình bằng một sự sáng tạo độc đáo Nhắc đến Tản Đà không ai không nghĩngay đến ngông, hưởng lạc và tửu đồ Nó thể hiện một bản ngã, một cái tôiđộc đáo và đặc biệt nó còn là một cá tính sáng tạo nghệ thuật trong ông
Khi “Giấc mộng con” của Tản Đà được công bố trên văn đàn đã lập tức
nhận ngay lời dè bĩu, phê phán nặng nề của Phạm Quỳnh Tản Đà ngangnhiên sống với cái tôi, công khai bày tỏ nỗi lòng, đem những điều thầm kíngiãi bày cùng tất cả Dù rằng văn xuôi Tản Đà vẫn chưa có một thi pháp nàomới hơn nhưng Tản Đà ñã mạnh dạn ñặt chữ “tôi” vào hầu hết tác phẩmcủa mình, cứ phô bày trên giấy những ñiều nhà nho không bao giờ viết
Với Tản Đà, lần đầu tiên cái tôi cá nhân đã trở thành hình tượng vănhọc thay cho con người Nho giáo với cái tôi của bổn phận gắn chặt với cộngđồng Trong văn xuôi, Tản Đà không đề cập đến con người cá nhân chungchung mà ông đã lấy chính cá nhân mình, cái tôi của mình làm đề tài, thậm
chí làm trung tâm của tác phẩm (Giấc mộng con, Giấc mộng lớn, Thề non
nước, Tản văn ) với những mối tình lãng mạn ngoài hôn nhân, với những
câu chuyện của cá nhân mình đưa vào tác phẩm