1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Cải cách thủ thục hành chính theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông tại Ủy ban nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa

97 937 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 97
Dung lượng 544,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Quản lý nhân sự cải cách thủ tục Hànhchính theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông… Các tài liệu nghiên cứu vềcải cách thủ tục hành chính được các Học viện hành chính Quốc gia, Họcviện c

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

HOÀNG ÁNH SÁNG

CẢI CÁCH THỦ TỤC HÀNH CHÍNH THEO CƠ CHẾ MỘT CỬA, MỘT CỬA LIÊN THÔNG TẠI UỶ BAN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA, TỈNH THANH HÓA

Chuyên ngành: Chính trị học

Mã số: 60.31.02.01

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC CHÍNH TRỊ

Người hướng dẫn khoa học: TS BÙI VĂN DŨNG

Nghệ An, 2014

Trang 2

Tôi xin trân trọng cảm ơn: Ban Giám hiệu, Phòng đào tạo Sau đạihọc, Khoa Giáo dục Chính trị trường Đại học Vinh, quý thầy, cô giáo thamgia giảng dạy lớp cao học chuyên ngành Chính trị học khoá XX, tại trườngĐại học Vinh đã dành cho cho chúng tôi nhiều chỉ dẫn khoa học quý báu.

Tôi cũng xin chân thành cảm ơn: Ban Thường vụ Thành ủy- UBND Thành phố Thanh Hóa, các phòng ban chuyên môn trực thuộcUBND Thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa; bạn bè, đồng nghiệp đãnhiệt tình hỗ trợ, tạo điều kiện thuận lợi và động viên khích lệ trong suốtquá trình thực hiện luận văn

Nghệ An, tháng 10 năm 2014

Tác giả

Hoàng Ánh Sáng

Trang 3

MỤC LỤC

Trang

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CẢI CÁCH THỦ TỤC

HÀNH CHÍNH THEO CƠ CHẾ MỘT CỬA, MỘT CỬA

LIÊN THÔNG

14

1.1 Một số khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài cải cách thủ tục

hành chính theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông……… 141.2 Sự cần thiết phải cải cách thủ tục hành chính theo cơ chế một

cửa, một cửa liên thông hiện nay……….……… 211.3 Kinh nghiệm cải cách thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa,

một cửa liên thông của một số tỉnh……… ……… 30Kết luận chương 1……… … 36

Chương 2 THỰC TRẠNG CẢI CÁCH THỦ TỤC HÀNH

CHÍNH THEO CƠ CHẾ MỘT CỬA, MỘT CỬA LIÊN

THÔNG TẠI UỶ BAN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ

THANH HÓA, TỈNH THANH HÓA………

38

2.1 Khái quát một số đặc điểm tự nhiên, kinh tế xã hội thành phố

thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa………….………….… ……… … 382.2 Tình hình cải cách thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa,

một cửa liên thông tại ủy ban nhân dân thành phố Thanh Hóa,

tỉnh Thanh Hóa……… ……….………. 45Kết luận chương 2………… ……… 62

Trang 4

Chương 3 QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ CẢI CÁCH THỦ TỤC HÀNH CHÍNH THEO CƠ CHẾ MỘT CỬA, MỘT CỬA LIÊN THÔNG TẠI UBND THÀNH PHỐ THANH HÓA, TỈNH THANH HÓA……….……… 643.1 Quan điểm nhằm nâng cao hiệu quả cải cách thủ tục hànhchính theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông tại ủy ban nhândân thành phố Thanh Hóa hiện nay 643.2 Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả cải cách thủ tụchành chính theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông tại ủy bannhân dân thành phố Thanh hóa, trong giai đoạn hiện nay….….…. 68Kết luận chương 3………. 87

C KẾT LUẬN ………. 87

D DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO……… 92

DANH MỤC CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN

Trang 5

Tên viết tắt Nghĩa từ, cụm từ

1 Tính cấp thiết của đề tài:

Cải cách thủ tục hành chính có ý nghĩa rất quan trọng, là động lực để

mở rộng dân chủ, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, phát huy các tiềm

Trang 6

năng lợi thế cho phát triển kinh tế - xã hội Cải cách thủ tục hành chínhđược xác định là khâu đột phá trong chiến lược cải cách thể chế của Chínhphủ nhằm thúc đẩy quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.

Nhận thức được điều đó, Đảng, Chính phủ đã có nhiều Chỉ thị, Nghịquyết, Quyết định chỉ đạo thực hiện cải cách thủ tục hành chính như: Quyếtđịnh số 136/2001/QĐ-TTg ngày 17/9/2001 của Thủ tướng Chính phủ vềphê duyệt Chương trình tổng thể CC HCNN giai đoạn 2001-2010; Nghịquyết 30c/NQ-CP ban hành chương trình tổng thể CCHCNN giai đoạn2010-2020; Quyết định số 181/2003/QĐ-TTg ngày 4/9/2003 về việc banhành quy chế thực hiện cơ chế một cửa tại cơ quan HCNN ở địa phương;Quyết định số 93/2007/QĐ-TTg ngày 22/6/2007, V/v thực hiện cơ chế mộtcửa, một cửa liên thông tại cơ quan HCNN ở địa phương

Trong những năm qua, công tác cải cách thủ tục hành chính của các

cơ quan nhà nước đã đạt được những kết quả nhất định, góp phần tạo hànhlang pháp lý thuận lợi để công dân, các chủ thể kinh tế tăng cường quyền tựchủ Tuy nhiên, trong thực tế quản lý của các cơ quan hành chính nhà nướcvẫn còn nhiều khó khăn, bất cập Thủ tục hành chính còn phiền hà, sáchnhiễu, chồng chéo Cán bộ quản lý hành chính chưa nhận thức đúng vai trò

vị trí, còn tỏ ra lúng túng trong chỉ đạo, điều hành

Công tác cải cách thủ tục hành chính ở Ủy ban nhân dân thành phốThanh Hóa trong những năm gần đây đã có những bước tiến mới Các hoạtđộng quản lý, điều hành của Ủy ban nhân dân cũng như các phòng banchuyên môn trực thuộc thực sự có hiệu quả Các tầng lớp nhân dân, các đơn

vị có liên quan hài lòng về cơ chế quản lý Tuy nhiên, trong chỉ đạo, điềuhành thực hiện vẫn bọc lộ những khó khăn, bất cập Thực tế đó đặt ra phải

có nhiều giải pháp hữu hiệu để thực hiện cải cách thủ tục hành chính Xuất

Trang 7

phát từ lý do đó, tôi chọn vấn đề “Cải cách thủ tục hành chính theo cơ

chế một cửa, một cửa liên thông tại Ủy ban nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa” làm đề tài Luận văn Thạc sĩ Chính trị học.

1 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Liên quan tới đề tài này, có nhiều công trình khoa học đã nghiên cứu,giải quyết những vấn đề chủ yếu như:

Các công trình nghiên cứu và biên soạn về các giải pháp thúc đẩy cảicách hành chính ở Việt Nam Các văn bản quy phạm pháp luật về quản lýhành chính Cải cách thủ tục hành chính trong các cơ quan nhà nước Thủtục hành chính, thuật ngữ hành chính, cải cách hành chính nhà nước thựctrạng, nguyên nhân và giải pháp Quản lý nhân sự cải cách thủ tục Hànhchính theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông… Các tài liệu nghiên cứu vềcải cách thủ tục hành chính được các Học viện hành chính Quốc gia, Họcviện chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, các nhà nghiên cứu, các chuyên viên

cao cấp của một số Bộ, ngành chủ biên, biên soạn, các tài liệu biên soạn

nhằm để triển khai cho các cơ quan, tổ chức hành chính nhà nước thực hiện

Vì vậy, tác giả đã tập trung nghiên cứu để áp dụng vào đề tài cải cách thủtục hành chính tại Ủy ban nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa

Bộ Tư pháp, Bộ Xây dựng, Bộ Tài nguyên và Môi trường, Ngân

hàng Nhà nước (2007), Thông tư liên tịch số

05/2007/TTLT-BTP-BXD-BTNMT- NHNN, ngày 21/5/2007; Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ

nghĩa Việt Nam (2001), Quyết định số 136/2001/QĐ-TTg ngày 17/9/2001

về việc ban hành phê duyệt chương trình tổng thể cải cách hành chính Nhà nước giai đoạn 2001-2010; Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa

Việt Nam (2006), Nghị định số 88/2006/NĐ – CP, ngày 29/8/2006 về đăng

ký kinh doanh; Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Trang 8

(2006), Nghị định số 79/2006/NĐ – CP, ngày 20/9/2006 về cấp bản sao từ

sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký; Chính phủ

nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2007), Nghị định số 157/2007/

NĐ – CP ngày 27/10/2007 quy định chế độ trách nhiệm đối với người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị của nhà nước trong thi hành nhiệm vụ, công vụ; Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2009), Nghị định số 118/2009/NĐ – CP ngày 30/9/2009 về việc sữa đổi bổ sung một số điều của quyết định số 144/2006/QĐ-TTg ngày 20/6/2006 quy định áp dụng

hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn TCVN ISO 9001:2000 vào hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước; Chính phủ nước Cộng

hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2010), Nghị định số 63/2010/NĐ – CP

ngày 8/6/2010 của Chính phủ về kiểm soát thủ tục hành chính; Chính phủ

nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2007), Quyết định số 93/2007/

QĐ – TTg, ngày 22/6/2007 về ban hành quy chế thực hiện cơ chế “một cửa”, “một cửa liên thông” tại cơ quan hành chính nhà nước tại địa phương; Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2007),

Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2003), Quyết định

số 181/2003/QĐ-TTg ngày 4-9-2003 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Quy chế thực hiện cơ chế “một cửa” tại cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương; Quyết định số 30/QĐ – TTg, ngày 10/01/2007 về phê duyệt đề án đơn giản hóa thủ tục hành chính trên các lĩnh vực quản lý nhà nước giai đoạn 2007 – 2010; Lê Anh Cường, Nguyễn Thị Lệ Huyền,

Nguyễn Thị Mai (2004), Giáo trình Phương pháp và kỹ năng Quản lý nhân

sự, Nhà xuất bản Lao động xã hội, Hà Nội; Đảng Cộng sản Việt Nam

(1986), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nxb Sự thật, Hà Nội; Đảng Cộng sản Việt Nam (2005), Báo cáo tổng kết một số vấn đề lý

Trang 9

luận- thực tiễn qua 20 năm đổi mới (1986-2006), Nxb Chính trị Quốc gia;

Đảng bộ Thành phố Thanh Hóa, NQ/ 06/2004 của BTV Thành ủy Thành

phố Thanh Hóa về luân chuyển công tác cán bộ; Nguyễn Vân Điềm,

Nguyễn Ngọc Quân (2004), Giáo trình Quản trị nhân lực, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội; Nguyễn Duy Gia (2001), Giáo trình quản lý

hành chính Nhà nước, Nxb Giáo dục; PGS.TS Nguyễn Hữu Hào, PGS.TS.

Nguyễn Đình Kháng, PGS.TS Lê Danh Tốn ( đồng chủ biên), (2006), Giáo

trình Kinh tế học Chính trị Mác-Lênin, Nxb Giáo dục; Đinh Duy Hòa

(2008), Đẩy mạnh CCHC, nâng cao hiệu quả quản lý bộ máy Nhà nước,

Cẩm nang tổ chức CCHC; Học viện hành chính Quốc gia (2001), Các giải pháp thúc đẩy CCHC ở Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội; Học

viện hành chính Quốc gia (2001), Một số văn bản quy phạm pháp luật về

quản lý, hành chính, CC thủ tục HC trong cơ quan nhà nước & tổ chức chính trị xã hội, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội; Học viện hành chính

Quốc gia (2002), Thuật ngữ hành chính Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội; Học viện hành chính Quốc gia (2004), Hành chính công Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội; Học viện hành chính (2004), Giáo trình Thủ tục hành chính.

Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội; Học viện hành chính Quốc gia (2007),

Giáo trình hành chính công Nxb Khoa học và kỹ thuật, Hà nội; Học viện

hành chính Quốc gia (2007), Những vấn đề cơ bản về Nhà nước, hành

chính và pháp luật, Nxb Khoa học và kỹ thuật; Vũ Trọng Hùng (2002), Quản trị nguồn nhân lực, Nhà xuất bản thống kê; Mai Hữu Khuê, Bùi Văn

nhơn (1995), Một số vấn đề về CCTTHC, Nxb, Chính trị Quốc gia, Hà nội; Đinh Văn Mậu, Luật hành chính Việt Nam, Nxb tổng hợp TPHCM; PGS.TS Lê Chi Mai (2003), Cung cấp dịch vụ công ở Việt Nam, Nxb chính trị Quốc gia, Hà Nội; Thang Văn Phúc (2001), CCHCNN thực trạng,

Trang 10

nguyên nhân và giải pháp, Nxb, Chính trị Quốc gia, Hà Nội; Quốc hội

Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Luật đất đai 2003; Quốc hội Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Luật tổ chức HĐND và UBND năm 2003; Quốc hội Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Luật Doanh nghiệp 2005; Đinh Ngọc Quyên (2003), Giáo trình Quản trị nhân sự, bộ môn Quản trị

nhân sự - Trường Đại học Kinh Tế quốc dân, Hà Nội; Sở Nội vụ tỉnh Thanh

Hóa (2012), V/v hướng dẫn triển khai thực hiện chương trình tổng thể

CCHC Nhà nước giai đoạn 2011-2020; Sở Nội vụ tình Thanh Hóa (2007),

Một số văn bản về cải cách hành chính Nhà nước; UBND Thành phố

Thanh Hóa (năm 2007), Đề án thực hiện cơ chế “một cửa”; Lê Hồng Sơn

(2004), “Một số ý kiến về quy chế thức hiện cơ chế một cửa tại cơ quan

hành chính Nhà nước ở địa phương”, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, (số), 10/2004; Diệp Văn Sơn (2006), cải cách hành chính- Những vấn đề cần

biết, Nxb Lao động; Nguyễn Văn Thâm, Võ Kim Sơn (2002), Thủ tục hành chính: Lý luận và thực tiễn, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội; Nguyễn Văn

Thâm (2011), Một số vấn đề văn bản quản lý nhà nước lưu trữ - lịch sử và

quản lý hành chính, Nxb Chính trị - Hành chính, Hà nội; Trần Văn Tuấn

(2010), “Cải cách thủ tục hành chính và cơ chế một cửa, “một cửa liên

thông”, Tạp chí cộng sản số 11; Đoàn Trọng Tuyến (1996), Một số vấn đề

xây dựng & cải cách nền hành chính Nhà nước Việt Nam, Nxb Giáo dục;

Đoàn Trọng Tuyến (1996), Một số vấn đề xây dựng & cải cách nền hành

chính Nhà nước Việt Nam, Nxb Giáo dục; Vũ Huy Từ (1998), Hành chính học và cải cách hành chính, Nxb Lao động, Hà Nội; Vũ Huy Từ (1998), Hành chính học và cải cách hành chính, Nxb Lao động, Hà Nội; UBND

tỉnh Thanh Hóa (2010), Báo cáo số 47 về việc tổng kết chương trình cải các

tổng thể hành chính Nhà nước giai đoạn 2001 – 2010 và chương trình

Trang 11

CCHC Nhà nước giai đoạn 2011-2020; UBND thành phố Thanh Hóa

(2004), Quyết định số 341/2004/QĐ - UB về việc “Ban hành quyết định CC

TTHC và trình tự giải quyết các thủ tục hành chính”.

Trên cơ sở tiếp thu, kế thừa có chọn lọc thành quả của các thế hệtrước, kết hợp với sự nghiên cứu, tìm tòi, khảo sát của bản thân trong quátrình học tập và công tác, tôi quyết định tiếp tục nghiên cứu, tìm hiểu về Cải

cách thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa tại Ủy ban nhân dân thành phố

Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa hiện nay

Những nghiên cứu này đã góp phần quan trọng vào việc phân tích lýluận và thực tiễn về cải cách hành chính, thủ tục hành chính nói chung vàcải cách thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông Tuynhiên, vấn đề nghiên cứu về cải cách thủ hành chính theo cơ chế một cửa tại

Ủy ban nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh thanh Hóa mới chỉ dừng lại ởnhững báo cáo, tổng kết của địa phương mà chưa có nghiên cứu chuyên sâu

về thực tiễn hoạt động Do đó, việc tìm hiểu và nghiên cứu những khó khăn

và hạn chế trên cơ sở lý luận chung về cải cách thủ tục hành chính nhà nướctheo cơ chế một cửa, một cửa liên thông tại Ủy ban nhân dân thành phốThanh Hóa là cần thiết và thiết thực

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Đề tài nhằm nâng cao hiệu quả cải cách thủ tục hành chính, theo cơchế một cửa, một cửa liên thông tại Uỷ ban nhân dân thành phố thanh hóa,tỉnh Thanh hóa hiện nay

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Làm rõ cơ sở lý luận về cải cách thủ tục hành chính theo cơ chếmột cửa, một cửa liên thông

Trang 12

- Đánh giá thực trạng cải cách thủ tục hành chính theo cơ chế mộtcửa, một cửa liên thông tại Ủy ban nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnhThanh Hóa hiện nay.

- Xây dựng quan điểm và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả cải cáchthủ tục hành chính theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông tại Ủy ban nhândân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa hiện nay

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu cải cách thủ tục hành chính tại ủy ban nhân dân thành phố Thanh Hóa

Tập trung nghiên cứu cải cách thủ tục hành chính theo cơ chế mộtcửa, một cửa liên thông tại Ủy ban nhân dân thành phố Thanh hóa, ở 05lĩnh vực như:

Trang 13

5.2 Phương pháp nghiên cứu thực hiện của đề tài là

Phân tích và tổng hợp, lịch sử và logic, quy nạp và diễn dịch, điều tra

và thống kê, phương pháp nghiên cứu thực tiễn, phương pháp quan sát khoahọc, phương pháp điều tra, so sánh

6 Những đóng góp mới của luận văn

- Luận văn đã hệ thống hóa lý luận về cải cách thủ tục hành chínhtheo cơ chế một cửa, một cửa liên thông hiện nay

- Đề xuất các giải pháp để nâng cao hiệu quả về cải cách thủ tục hànhchính theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông hiện nay

- Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể làm tài liệu cho các nhàhoạch định chính sách về cải cách thủ tục hành chính ở các địa phương cóđiều kiện phát triển kinh tế, xã hội như ở thành phố Thanh Hóa, tỉnh ThanhHóa

7 Kết cấu của đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo đề tàiđược kết cấu gồm 3 chương, 7 tiết

Trang 14

B NỘI DUNG CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CẢI CÁCH THỦ TỤC HÀNH CHÍNH THEO CƠ CHẾ MỘT CỬA, MỘT CỬA LIÊN THÔNG

1.1 Một số khái niệm cơ bản

1.1.1 Thủ tục hành chính

“Thủ tục hành chính là trình tự về thời gian, không gian và là cáchthức giải quyết công việc của cơ quan hành chính Nhà nước trong mối quan

hệ với các cơ quan, tổ chức và cá nhân công dân”, [25; 262].

Để hiểu rõ về khái niệm này ta cần làm sáng tỏ thủ tục hành chính, thủtục hành chính là đảm bảo cho các quy phạm vật chất quy định trong cácquyết định hành chính được thực thi thuận lợi Thủ tục hành chính càng cótính cơ bản thì ý nghĩa càng lớn vì các thủ tục cơ bản thường tác động đếngiai đoạn cuối cùng của quyết định hành chính, đến hiệu quả của việc thựchiện chúng Khi thủ tục bị vi phạm thì có nghĩa hiện tượng vi phạm phápluật xuất hiện và gây hậu quả nhất định Ví dụ: Tuyển dụng cán bộ côngchức vào làm việc nhưng vi phạm thủ tục thi tuyển dẫn đến người có nănglực trình độ lại không được tuyển Điều đó làm ảnh hưởng đến chất lượngcủa đội ngũ cán bộ công chức, gây khó khăn trong giải quyết công việc, làmgiảm hiệu quả, hiệu lực quản lý Nhà nước

Thủ tục hành chính là cơ sở đảm bảo cho việc thi hành các quyết địnhđược thống nhất và có thể kiểm tra được tính hợp pháp, hợp lý cũng nhưcác hệ quả do việc thực hiện các quyết định hành chính tạo ra Trong giaiđoạn hiện nay, một số ngành chức năng quy định thủ tục theo mẫu in sẵn

Trang 15

trong phạm vi ngành và lưu hành trên toàn quốc, do đó một công vụ ở bất

cứ địa phương nào cũng đòi hỏi các cơ quan hành chính áp dụng các biệnpháp thích hợp và thống nhất

Thủ tục hành chính khi xây dựng và vận dụng một cách hợp lý sẽ tạo

ra khả năng sáng tạo trong việc thực hiện các quyết định quản lý đã đượcthông qua, đem lại hiệu quả thiết thực cho Nhà nước Nó liên quan đếnquyền lợi của công dân, do đó khi xây dựng và vận dụng tốt vào đời sống

nó sẽ có ý nghĩa thiết thực, làm giảm sự phiền hà, củng cố quan hệ giữa nhànước và công dân Công việc có thể được giải quyết nhanh chóng, chínhxác theo đúng yêu cầu của cơ quan nhà nước, góp phần chống tệ nạn thamnhũng, sách nhiễu nhân dân Ở những nơi thủ tục hành chính vận dụngkhông hợp lý do căn bệnh cửa quyền, quan liêu chưa được khắc phục.Ngược lại, ở nơi nào thực hiện giảm nhẹ các thủ tục hành chính, tập trungvào “một cửa” để giải quyết yêu cầu của dân thì ở đó hiệu lực, hiệu quảquản lý Nhà nước được nâng lên rõ rệt, công việc được giải quyết nhanhchóng, thuận lợi và ở đó lòng tin của nhân dân vào cơ quan nhà nước đượccủng cố và nâng cao

Thủ tục hành chính là một bộ phận của pháp luật hành chính nên việcxây dựng và thực hiện tốt các thủ tục hành chính sẽ có ý nghĩa rất lớn đốivới quá trình triển khai và thực thi luật pháp, xây dựng Nhà nước phápquyền Việt Nam Trên thực tế, Đảng và Nhà nước ta đã và đang đề ra nhiềuphương pháp, biện pháp nhằm cải cách thủ tục hành chính theo hướng đơngiản hóa, thông thoáng góp phần cho kinh tế phát triển Ví dụ: chúng ta banhành luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam để thu hút vốn đầu tư nhưng thủtục thành lập doanh nghiệp của chúng ta thì quá nặng nề, nhiều bước, yêu

Trang 16

cầu nhiều loại giấy tờ… Điều này gây tâm lý chán nản cho nhà đầu tư, do

đó môi trường đầu tư của Việt Nam mất đi tính cạnh tranh so với các nướctrong khu vực và trên thế giới Đứng trước vấn đề đó, chúng ta cần tích cựccải cách thủ tục hành chính trên tất cả các lĩnh vực và tập trung hơn vàonhững lĩnh vực then chốt

Thủ tục hành chính trên một phương diện nhất định là biểu hiện trình

độ văn hóa của tổ chức Đó là văn hóa giao tiếp trong bộ máy Nhà nước,văn hóa điều hành Nó cho thấy mức độ văn minh của một nền hành chínhphát triển Vì vậy, cải cách thủ tục hành chính sẽ không đơn thuần chỉ liênquan đến pháp luật, pháp chế xã hội chủ nghĩa, mà còn liên quan đến sựphát triển chung của đất nước về các mặt chính trị, văn hóa giáo dục và đến

sự mở rộng giữa nước ta với các nước trong thời kỳ hội nhập Cải cách thủtục hành chính thể hiện trách nhiệm của Nhà nước đối với nhân dân và là cơ

sở để tiếp tục hoàn thiện Nhà nước Việt Nam Hiện nay, trong chỉ đạo cảicách nền hành chính nhà nước ở nước ta, cải cách thủ tục hành chính đượccoi là khâu đột phá với mục tiêu đặt ra là nhanh chóng khắc phục nhữngkhâu yếu kém, những khuyết điểm của quá trình điều hành trong các cơquan liên quan trực tiếp đến đời sống và hoạt động của tổ chức, công dân,nhất là trong giai đoạn hội nhập và theo xu thế toàn cầu hóa như trong giaiđoạn hiện nay Để đảm bảo đạt được những mục tiêu trên đây thì cần phảikịp thời xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật, nhất là hệ thống thủ tụchành chính, cần phải được xây dựng sao cho phù hợp với thực tế và nhu cầuphát triển khách quan kinh tế - xã hội của đất nước, nhưng vẫn đảm bảođược yêu cầu quản lý Nhà nước, đồng thời tạo được môi trường pháp lýthông thoáng thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển Bên cạnh đó, cần tiếnhành công việc rà soạt các thủ tục hành chính song song, qua đó phát hiện

Trang 17

những khuyến khuyết và bổ sung kịp thời, đổi mới trong chính sách, phápluật, tổ chức bộ máy, quy chế làm việc và hoạt động của các cơ quan hànhchính nhà nước Việc xây dựng thủ tục hành chính phải được đặt trên nhữngnguyên tắc cơ bản do Hiến pháp quy định Những nguyên tắc này có thểtrực tiếp liên quan đến việc xây dựng các thủ tục hành chính, nhưng cũng

có thể chỉ được quy định trên những nguyên tắc chung và đòi hỏi phải được

cụ thể hóa bằng các văn bản pháp luật khác

1.1.2 Cải cách thủ tục hành chính

Trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước, Đảng ta đã chỉ rõ sựcần thiết phải cải cách thủ tục hành chính, coi đây là một giải pháp quantrọng góp phần đạt được các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội Yêu cầuchung của cải cách thủ tục hành chính là giảm bớt thủ tục hành chính rườm

rà và phức tạp, chồng chéo dễ bị lợi dụng để tham nhũng, gây khó khăn vàcản trở việc giải quyết công việc chung, làm ảnh hưởng đến quan hệ giữaNhà nước với các tổ chức, công dân Vậy: “Cải cách thủ tục hành chính làcải cách trình tự thực hiện thẩm quyền hành chính trong mối liên hệ tớiquyền và nghĩa vụ của công dân, tổ chức và trong nội bộ cơ quan hànhchính Nhà nước” [ 21; 6 ].

Như vậy, cải cách thủ tục hành chính cũng là một bộ phận của cảicách thể chế hành chính Nhà nước, nhằm xây dựng và thực thi thủ tục hànhchính theo những chuẩn mực nhất định đơn giản, gọn nhẹ, vận hành nhịpnhàng hoạt động theo đúng quy trình, quy phạm thích ứng với từng loại đốitượng, từng loại công việc, phù hợp với điều kiện thực tế và đáp ứng yêucầu của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

Trang 18

Cải cách thủ tục hành chính là phải đạt được sự chuyển biến căn bảntrong quan hệ và thủ tục giải quyết công việc của công dân, tổ chức cụ thể

là phải phát hiện và xóa bỏ những thủ tục hành chính thiếu tính đồng bộ,chồng chéo, gây trở ngại trong việc tiếp nhận và xử lý công việc giữa cơquan nhà nước với nhau và giữa cơ quan nhà nước với tổ chức, công dân,xây dựng và thực hiện các thủ tục hành chính giải quyết công việc đơn giản,

rõ ràng, thống nhất, đúng pháp luật và công khai, vừa tạo thuận tiện cho cánhân, tổ chức có yêu cầu giải quyết công việc, vừa có tác dụng ngăn chặn tệcửa quyền, sách nhiễu, tham nhũng của một bộ phận cán bộ công chức nhànước, đồng thời đảm bảo được trách nhiệm quản lý Nhà nước, giữ vữngđược kỷ cương, pháp luật Chúng ta đang trong thời kỳ hội nhập, muốnthành công phải xây dựng được một hệ thống thủ tục hành chính thực sựthông thoáng, dễ thực hiện, tạo môi trường pháp lý để thu hút sự đầu tư củanước ngoài Vì vậy Chính phủ đã ban hành Quyết định số 136/2001/QĐ-TTg ngày 17/9/2001 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Chương trìnhtổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2001-2010; Nghị Quyết30c/NQ-CP ban hành chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nướcgiai đoạn 2010-2020; Quyết định số 181/2003/QĐ-TTg, ngày 4/9/2003 V/vban hành quy chế thực hiện cơ chế một cửa tại cơ quan hành chính nhànước ở địa phương; Quyết định số 93/2007/QĐ-TTg ngày 22/6/2007, V/vthực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông tại cơ quan hành chính nhànước ở địa phương

1.1.3 Cơ chế một cửa, một cửa liên thông

Thực hiện chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giaiđoạn 2001–2010 của Chính phủ về giải quyết hồ sơ cho các cá nhân vàdoanh nghiệp được thuận lợi, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định

Trang 19

số 181/2003/QĐ-TTg ngày 4-9-2003 của Thủ tướng Chính phủ về việc banhành Quy chế thực hiện cơ chế “một cửa” tại cơ quan hành chính nhà nước

ở địa phương, vậy: “Cơ chế một cửa là cơ chế giải quyết công việc của tổchức, công dân thuộc thẩm quyền của cơ quan hành chính nhà nước từ tiếpnhận yêu cầu, hồ sơ đến trả kết quả thông qua một đầu mối là bộ phận tiếpnhận và trả kết quả, tại cơ quan hành chính nhà nước”, [9; 1]. Tuy nhiên sau

4 năm thực hiện giải quyết hồ sơ theo cơ chế một cửa đã thu được một sốkết quả khả quan, song vẫn còn tồn tại một số vấn đề trong giải quyết côngviệc, nhân dân vẫn than phiền vì việc đi lại nhiều lần cho việc giải quyết hồ

sơ qua nhiều cửa nắm bắt được vấn đề này Thủ tướng Chính phủ đã banhành Quyết định số 93/2007/QĐ-TTg, ngày 22-6-2007 của Thủ tướngChính phủ, ban hành Quy chế thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông

tại cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương Quyết định này đã quy định

nhiều nội dung mới, có tính hoàn thiện hơn nhằm thay đổi phương thức làmviệc của cơ quan hành chính nhà nước các cấp ở địa phương, giảm phiền

hà, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, đem lại lợi ích cho ngườidân và các doanh nghiệp “Một cửa liên thông” là một hình thức của cơ chế

“Một cửa” ở một mức độ phát triển cao hơn, góp phần thực hiện có hiệuquả trong giải quyết công việc của công dân và tổ chức tại các cơ quan hànhchính nhà nước, vậy “Một cửa liên thông là cơ chế giải quyết công việc của

tổ chức, cá nhân thuộc trách nhiệm, thẩm quyền của nhiều cơ quan hànhchính nhà nước cùng cấp hoặc giữa các cấp hành chính từ hướng dẫn, tiếpnhận giấy tờ, hồ sơ giải quyết đến trả kết quả được thực hiện tại một đầumối là bộ phận tiếp nhận và trả kết quả của một cơ quan hành chính nhànước” [8; 2]

Trang 20

Việc cải cách theo hướng đơn giản hóa thủ tục hành chính gắn với việcthực hiện cơ chế “Một cửa”, được triển khai mạnh trong quá trình thực hiệnChương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2001–2010.Trên cơ sở Quyết định số 181/2003/QĐ-TTg ngày 4-9-2003 của Thủ tướngChính phủ về việc ban hành Quy chế thực hiện cơ chế “Một cửa” tại cơquan hành chính nhà nước ở địa phương Đã tạo ra một cách thức giải quyếtcông việc hiệu quả cho công dân, tổ chức, đã thể chế hóa mối quan hệ giữachính quyền và công dân thông qua việc thực hiện cơ chế “Một cửa” Môhình “Một cửa” ra đời nhanh chóng được triển khai và nhân rộng khắp cácđịa phương trong cả nước, được người dân hoan nghênh, hưởng ứng dohiệu quả tích cực của mô hình này mang lại Có thể nhận thấy, cơ chế “Mộtcửa” là giải pháp đổi mới hữu hiệu về phương thức làm việc của cơ quanhành chính nhà nước ở địa phương các cấp, nhằm tạo chuyển biến cơ bảntrong quan hệ giữa cơ quan hành chính nhà nước với các tổ chức và côngdân, đơn giản hóa các thủ tục hành chính, giảm phiền hà, chi phí, thời gian,công sức, đồng thời, điều chỉnh một bước về tổ chức bộ máy và đổi mới, cảitiến chế độ làm việc và quan hệ công tác trong cơ quan hành chính nhànước Tuy nhiên cơ chế một cửa cũng còn bất cập trong giải quyết hồ sơgiao dịch của công dân và các doanh nghiệp vì vậy ngày 22-6-2007, Thủtướng Chính phủ, ban hành Quyết định số 93/2007/QĐ-TTg về Quy chếthực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông tại cơ quan hành chính nhà

nước ở địa phương Quyết định này đã quy định nhiều nội dung mới, có

tính hoàn thiện hơn nhằm thay đổi phương thức làm việc của cơ quan hànhchính nhà nước các cấp ở địa phương, giảm phiền hà, nâng cao hiệu lực,hiệu quả quản lý nhà nước, đem lại lợi ích cho người dân và doanh nghiệp

“Một cửa liên thông” là một hình thức của cơ chế “Một cửa” ở một mức độ

Trang 21

phát triển cao hơn, góp phần thực hiện có hiệu quả trong giải quyết côngviệc của công dân và tổ chức tại các cơ quan hành chính nhà nước Cơ chếmột cửa, một cửa liên thông được áp dụng đối với các cơ quan, địa phươngquy định tại khoản 1, khoản 2, Điều 3 Quy chế ban hành kèm theo Quyếtđịnh số 93/2007/QĐ-TTg, ngày 22/6/2007 của Thủ tướng Chính phủ, Chủtịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố căn cứ các quy định của pháp luật

và tình hình thực tế của địa phương quyết định những loại công việc thựchiện theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông để giải quyết một số lĩnh vựccông cho phù hợp và đáp ứng yêu cầu của nhân dân

1.2 Sự cần thiết phải cải cách thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông hiện nay

1.2.1 Phân loại và quy trình giải quyết thủ tục hành chính

1.2.1.1 Phân loại một số thủ tục hành chính

* Phân loại đối tượng quản lý hành chính Nhà nước

Theo cách phân loại này các thủ tục hành chính Nhà nước được xácđịnh cho từng lĩnh vực quản lý Nhà nước và được phân chia theo cơ cấuchức năng ở 05 lĩnh vực sau:

Trang 22

thiết, thích hợp, nhằm quản lý tốt các nhiệm vụ đặt ra theo mục tiêu của nhànước quy định.

* Phân các loại hình công việc do các cơ quan Nhà nước được giao

Cách phân loại thủ tục này đơn giản, có khả năng áp dụng rộng rãinhư: Ban hành văn bản quy phạm pháp luật; Các quyết định hành chính;Báo cáo; Thủ tục tuyển dụng cán bộ Thực tế cho thấy cách phân loại này

có ý nghĩa thực tiễn quan trọng bởi lẽ nó có thể giúp người thừa hành công

vụ và những người thi hành các thủ tục hành chính trong thực tế định hướngtheo công việc dễ dàng và chính xác hơn

* Phân theo chức năng hoạt động của các cơ quan

Cách phân loại này có ý nghĩa thực tiễn quan trọng như cách phân loạithủ tục hành chính theo các loại hình công việc cụ thể, nó giúp các nhàquản lý khi giải quyết công việc chung có liên quan đến các tổ chức kháchoặc công dân, tìm được các hình thức giải quyết thích hợp theo đúng chứcnăng quản lý Nhà nước của cơ quan mình

* Phân loại dựa trên quan hệ công tác gồm 03 nhóm

- Nhóm thủ tục hành chính nội bộ

- Nhóm thủ tục thực hiện thẩm quyền

- Nhóm thủ tục văn thư

1.2.1.2 Qui trình giải quyết thủ tục hành chính

Tại bộ phận tiếp nhận và trả kết quả hồ sơ hành chính của ủy bannhân dân thành phố Thanh Hóa, bộ phận một cửa, một cửa lên thông đượcthực hiện theo cơ chế đại diện: Các cơ quan, đơn vị có trách nhiệm liênquan trong quá trình xây dựng quy chế phối hợp sẽ thống nhất với nhau vềviệc uỷ quyền cho cơ quan chủ trì tiếp nhận tất cả các loại hồ sơ liên quanđến phần việc của cơ quan chủ trì và phần việc của các cơ quan sẽ phối hợp

Trang 23

và thu phí, lệ phí của các phần việc này Trên cơ sở các quy định về thủ tụchành chính đã thống nhất, cơ quan chủ trì phân loại và chuyển hồ sơ đếncác cơ quan cần phối hợp để các cơ quan giải quyết theo thẩm quyền, các

cơ quan phối hợp sau khi giải quyết công việc xong chuyển kết quả lại cho

cơ quan chủ trì để trả cho đối tượng

Sơ đồ: Quy trình giải quyết hồ sơ theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông

tại UBND thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa

(1 (1) Nộp HS ( (2) Chuyển

(3) Thẩm quyền giải quyết công việc

(4) trả KQ

Bước1 Tiếp nhận hồ sơ của tổ chức cũng như của công dân, cán bộ,

công chức của Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả có trách nhiệm

- Xem xét, kiểm tra kỹ các loại giấy tờ cần thiết của từng loại hồ sơ

- Hướng dẫn việc kê khai, bổ sung (nếu thiếu)

- Tiếp nhận các hồ sơ đã được kiểm tra đúng yêu cầu, viết phiếu hẹntrả kết quả theo quy định

- Những hồ sơ thuộc các lĩnh vực được quy định giải quyết tại Bộphận tiếp nhận và trả kết quả theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông cho

Bộ phận một cửa của cơ quan chủ trì

Bộ phận chuyên môn của cơ quan chủ trì.

Trang 24

công dân và tổ chức thì các phòng, ban chuyên môn không trực tiếp nhận.

Hồ sơ không có kiểm tra xác nhận của Bộ phận một cửa được coi là không

đủ điều kiện để xem xét

Bước 2 Xem xét giải quyết hồ sơ của các phòng chuyên môn liên

quan

- Trưởng các phòng, ban chuyên môn chịu trách nhiệm giải quyết các

hồ sơ thuộc quyền hạn của phòng, ban do Bộ phận tiếp nhận và trả kết quảchuyển đến Hồ sơ liên quan đến nhiều phòng, ban chuyên môn thì cần xemxét nội dung chủ yếu liên quan đến phòng, ban chuyên môn nào để báo cáo

ủy ban nhân dân thành phố quy định trách nhiệm phối hợp giải quyết

Bước 3 Thẩm quyền ký giải quyết công việc

- Đối với những loại công việc ủy ban nhân dân thành phố Thanh hóaquy định thuộc thẩm quyền ký của Trưởng các phòng, ban thì Trưởng cácphòng, ban ký giải quyết sau đó chuyển lại Bộ phận tiếp nhận và trả kếtquả

- Đối với các loại việc ủy ban nhân dân thành phố quy định thuộcthẩm quyền ký của Chủ tịch hoặc Phó Chủ tịch ủy ban nhân dân thành phốthì các phòng, ban chuyên môn trình Chủ tịch hoặc Phó Chủ tịch ký thôngqua Văn phòng Hội đồng nhân dân và ủy ban nhân dân thành phố

Bước 4 Trả kết quả

Sau khi nhận hồ sơ đã giải quyết của các phòng ban chuyên môn, cáccán bộ thụ lý trực tiếp mang hồ sơ đến Bộ phận văn thư để đóng dấu; ghi sổtheo dõi; cập nhật thông tin vào máy tính; hướng dẫn cách nộp phí, lệ phítheo quy định và trả kết quả hồ sơ theo đúng ngày ghi trên giấy biên nhận

hồ sơ

Trang 25

Những hồ sơ không đủ điều kiện giải quyết hoặc cần có thêm thờigian để nghiên cứu thêm thì các phòng, ban chuyên môn cần thông báobằng văn bản về lý do cụ thể và chuyển đến Bộ phận tiếp nhận và trả kếtquả để thông báo cho tổ chức hoặc công dân được biết và viết phiếu hẹn lại.

Có thể nói cải cách thủ tục hành chính nói riêng và cải cách hànhchính nói chung là một nhu cầu tất yếu khách quan của mọi quốc gia, ở ViệtNam, do yêu cầu đổi mới của Đảng từ Đại hội Đảng toàn Quốc lần thứ VIđến nay đã đặt ra nhiệm vụ phải đổi mới một cách căn bản tổ chức vàphương thức hoạt động của hệ thống chính trị, thực hiện một cuộc cải cáchlớn các cơ quan nhà nước với trọng tâm là xây dựng hệ thống hành pháp vàquản lý hành chính nhà nước từ Trung ương đến cơ sở, có đủ quyền lực,năng lực, hiệu lực và hiệu quả Đến nay, chúng ta đang từng bước xây dựngmột nền hành chính phát triển thay thế cho nền hành chính truyền thống đểphù hợp với xu hướng phát triển của thời đại, thay đổi vai trò của quản lýhiện nay, thủ tục hành chính là một bộ phận của thể chế hành chính Thủtục hành chính là công cụ để cơ quan hành chính nhà nước thực hiện chứcnăng, thẩm quyền, trách nhiệm Điều này có ý nghĩa đối với lý luận cải cáchthủ tục hành chính trong thời kỳ hội nhập Nhưng trên thực tế công tác cảicách thủ tục hành chính trong những năm qua đã đạt được những kết quảđáng kể song vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển, thể hiện ở một sốđiểm sau:

Cải cách thủ tục hành chính trong thời gian qua vẫn mang nặng giảipháp tình thế, thiếu tính tổng thể Thủ tục hành chính là biểu hiện tập trungnhất của hoạt động Nhà nước can thiệp vào nền kinh tế xã hội Tuy nhiênhiện nay bài toán về mức độ và phương pháp can thiệp phù hợp của Nhànước trong từng lĩnh vực quản lý cụ thể hầu như chưa được giải đáp một

Trang 26

cách thỏa đáng như lĩnh vực: Đầu tư trực tiếp nước ngoài, đất đai Tầm tưduy, tổng kết thực tiễn xây dựng chính sách vĩ mô vẫn nằm trong tình trạngbất cập, nặng nề về đề phòng, trói buộc, thiếu sự chủ động, thông thoáng.

Vì vậy, thủ tục hành chính nhìn chung chưa ổn định, chưa đủ sức hấp dẫnvới các nhà đầu tư Các biện pháp cải cách thủ tục hành chính thì vẫn mangnặng tính thử nghiệm, phương châm cải cách là vừa làm vừa rút kinhnghiệm, vừa học hỏi Chính phủ chưa hoạch định được chiến lược tổng thể

về cải cách hành chính nói chung và cải cách thủ tục hành chính nói riêng.Điều này làm cho quá trình cải cách gặp nhiều lúng túng, bị động trướcnhững thay đổi của tình hình trong nước và quốc tế

Chất lượng dịch vụ hành chính công mà Nhà nước cải cách cho nhândân còn thấp, chưa đáp ứng được sự mong mỏi của nhân dân Hiện tượngtham nhũng, hối lộ, lãng phí trở thành quốc nạn Người dân đến cơ quannhà nước thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình nhưng bị đối xử như người

đi xin, đi nhờ vả Những yếu kém trong phẩm chất đạo đức, trình độ chuyênmôn của cán bộ công chức trở thành lực cản làm cho thủ tục hành chínhkhó đi vào đời sống

Xuất phát từ những lý do trên, Đảng và Nhà nước ta luôn coi cải cáchhành chính là một trong những nhiệm vụ và mục tiêu quan trong hàng đầucần đẩy mạnh thực hiện và tiếp tục cần đẩy mạnh hơn nữa công tác cải cáchthủ tục hành chính trong thời kỳ hội nhập để tạo ra môi trường pháp lýthông thoáng, nâng cao tính cạnh tranh về môi trường đầu tư của Việt Nam

so với các nước trong khu vực và trên thế giới Giúp Việt Nam có thể hộinhập bền vững và nắm bắt những cơ hội tốt để phát triển Do đó, tiếp tục cải

Trang 27

cách thủ tục hành chính trên tất cả các lĩnh vực là nhiệm vụ quan trọng củaĐảng và Nhà nước cũng như tất cả các ngành, các cấp

1.2.2 Mục đích, ý nghĩa của việc cải cách thủ tục hành chính theo

cơ chế một cửa, một cửa liên thông

1.2.2.1 Mục đích cải cách thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa,

một cửa liên thông

Trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước, Đảng ta đã chỉ rõ sựcần thiết phải cải cách thủ tục hành chính, coi đây là một giải pháp quantrọng góp phần đạt được các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội Yêu cầuchung của cải cách thủ tục hành chính là giảm bớt thủ tục hành chính rườm

rà và phức tạp, chồng chéo dễ bị lợi dụng để tham nhũng, gây khó khăn vàcản trở việc giải quyết công việc chung, làm ảnh hưởng đến quan hệ giữaNhà nước với các tổ chức, công dân Cơ chế một cửa, một cửa liên thông làmột giải pháp đổi mới về phương thức làm việc của cơ quan hành chính nhànước ở địa phương các cấp, nhằm tạo chuyển biến cơ bản trong quan hệgiữa cơ quan hành chính nhà nước với các tổ chức, công dân

Thực chất cơ chế một cửa liên thông là cơ chế giải quyết công việccủa tổ chức, cá nhân thuộc trách nhiệm, thẩm quyền của nhiều cơ quanhành chính nhà nước cùng cấp hoặc giữa các cấp hành chính từ hướng dẫn,tiếp nhận giấy tờ, hồ sơ giải quyết đến trả kết quả được thực hiện tại mộtđầu mối là bộ phận tiếp nhận và trả kết quả của một cơ quan hành chính nhànước Trên thực tế, có nhiều loại hồ sơ hành chính có liên quan đến thẩmquyền giải quyết của nhiều cấp, nhiều cơ quan, phải qua nhiều đầu mối mới

có kết quả cuối cùng Cơ chế một cửa liên thông đặt ra yêu cầu các cơ quannhà nước có trách nhiệm phối hợp nhịp nhàng đồng bộ trong quy trình xử lý

Trang 28

hồ sơ, không để tổ chức, công dân cầm hồ sơ đi từ cơ quan này tới cơ quankhác

Với mục đích nhằm nâng cao hiệu quả cải cách thủ tục hành chính,theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông tại Uỷ ban nhân dân thành phốthanh hóa, tỉnh Thanh hóa, vì vậy chúng ta càng phải xác định trong đội ngũcán bộ, công chức làm tại bộ phận một cửa hơn bao giờ hết đó là thái độphục vụ phục vụ, giao tiếp, ứng xử và trình độ chuyên môn khi tiếp nhận hồ

sơ đúng ngay từ ban đầu, giảm sự đi lại nhiều lần cho nhân dân, doanhnghiệp và qua đó phát hiện và loại bỏ những thủ tục hành chính thiếu tínhđồng bộ, chồng chéo đã và đang gây trở ngại trong việc tiếp nhận và xử lýcông việc giữa cơ quan nhà nước với nhau và giữa cơ quan nhà nước với tổchức, công dân, xây dựng và thực hiện các thủ tục hành chính giải quyếtcông việc đơn giản, rõ ràng, thống nhất, đúng pháp luật và công khai, vừatạo thuận tiện cho cá nhân, tổ chức có yêu cầu giải quyết công việc, vừa cótác dụng ngăn chặn tệ cửa quyền, sách nhiễu, tham những của một bộ phậncán bộ công chức nhà nước, đảm bảo được trách nhiệm quản lý Nhà nước,giữ vững được kỷ cương, pháp luật phải xây dựng được một hệ thống thủtục hành chính thực sự thông thoáng, dễ thực hiện, tạo môi trường pháp lý

để thu hút nước ngoài Đó cũng chính là một trong những nội dung quantrọng, là nấc thang trong cải cách hành chính để hoàn thành chương trìnhcải cải tổng thể nền hành chính Nhà nước giai đoạn 2001-2010 và các nămtiếp theo

1.2.2.2 Ý nghĩa của việc cải cách thủ tục hành chính

Cải cách thủ tục hành chính nhằm bảo đảm tính pháp lý, hiệu quả,minh bạch, công bằng Thủ tục hành chính có vai trò quan trọng trong đờisống xã hội, ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động kinh doanh của các doanh

Trang 29

nghiệp và đời sống nhân dân Thủ tục hành chính liên quan không chỉ đếncông việc nội bộ của một cơ quan, một cấp chính quyền, mà còn đến các tổchức và công dân trong mối quan hệ với Nhà nước Các quyền, nghĩa vụcủa công dân được quy định trong Hiến pháp hay ở các văn bản pháp luật

có được thực hiện hay không, thực hiện như thế nào Về cơ bản, đều phảithông qua thủ tục hành chính do các cơ quan, các cấp chính quyền nhà nướcquy định và trực tiếp giải quyết Thông qua việc cải cách thủ tục hành chính

sẽ gỡ bỏ những rào cản về thủ tục hành chính đối với môi trường kinhdoanh và đời sống của người dân, giúp cắt giảm chi phí và rủi ro của ngườidân và doanh nghiệp trong việc thực hiện thủ tục hành chính

Việc công khai, minh bạch các thủ tục hành chính tạo cơ sở cho quátrình thực hiện và tăng cường khả năng giám sát thực thi công vụ của nhândân, các tổ chức, cá nhân, thực hiện được quyền lợi, nghĩa vụ của mình vàđồng thời các cơ quan hành chính nhà nước cũng thực hiện chức năng quản

lý nhà nước Việc thực hiện mô hình một cửa, một cửa liên thông để tậptrung các đầu mối giải quyết thủ tục hành chính từ các phòng, ban chuyênmôn về một đầu mối tại ủy ban nhân dân các cấp thông qua “Bộ phận tiếpnhận và trả kết quả” nhằm tạo ra sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan liênquan, đảm bảo tính thông suốt và giải quyết nhanh thủ tục hành chính chonhân dân

Ý nghĩa, vai trò của việc thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liênthông, đặc biệt đó là sự triển khai xây dựng, đưa vào hoạt động của bộ phậnmột cửa các cấp là: Hiệu quả của việc giải quyết các thủ tục hành chínhtheo cơ chế này đã làm cho nền hành chính trở nên dân chủ, minh bạch, cótính chuyên nghiệp hơn, mang lại sự thuận tiện cho người dân Trên thực tế

Trang 30

có nhiều loại hồ sơ hành chính có liên quan đến thẩm quyền giải quyết củanhiều cấp, nhiều cơ quan, phải qua nhiều đầu mối mới có kết quả cuối cùng.

Cơ chế một cửa liên thông đặt ra yêu cầu các cơ quan nhà nước có tráchnhiệm phối hợp trong quy trình xử lý hồ sơ, không để tổ chức, công dânmang hồ sơ đi từ cơ quan này tới cơ quan khác Người dân có nhu cầu chỉphải nộp hồ sơ và nhận lại kết quả tại một đầu mối

Thủ tục hành chính trên một phương diện nhất định là sự biểu hiệntrình độ văn hóa của tổ chức hoạt động hành chính Nhà nước Đây là vănhóa giao tiếp trong bộ máy Nhà nước, văn hóa điều hành Nó cho thấy mức

độ văn minh của một nền hành chính phát triển Chính vì lẽ đó, cải cách thủtục hành chính sẽ không chỉ đơn thuần liên quan đến pháp luật, pháp chế xãhội chủ nghĩa của chúng ta mà còn liên quan đến sự phát triển chung củađất nước về các mặt chính trị, văn hóa, giáo dục và sự mở rộng giao lưugiữa nước ta với các nước khác trong khu vực và trên thế giới

1.3 Kinh nghiệm cải cách thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông của một số tỉnh, thành phố

1.3.1 Cải cách thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa, một cửa

liên thông tại UBND thành phố Ninh Bình

Thành phố Ninh Bình là một trong những đơn vị đi đầu và sớm nhất

về triển khai cơ chế một cửa, một cửa liên thông Ngay từ đầu năm 2003,UBND thành phố Ninh Bình đã chính thức cho hoạt động mô hình “mộtcửa” và đến 2007 nâng lên một bước trong cải cách thủ tục hành chính bằng

cơ chế một cửa liên thông Hiệu quả của việc áp dụng giải quyết hồ sơ hànhchính theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông tại ủy ban nhân dân thànhphố Ninh Bình là không thể phủ nhận

Trang 31

Qua hơn 10 năm (2003-2014) triển khai cải cách thủ tục hành chínhtheo cơ chế một cửa, một cửa liên thông hoạt động của Trung tâm một cửaliên thông đã đi vào nề nếp, bước đầu đã giải quyết nhanh, gọn, thuận tiệnvới thủ tục hành chính ở một số lĩnh vực đã đảm bảo đơn giản, rõ ràng,đúng pháp luật cơ bản đáp ứng được yêu cầy đề ra Từ khi hoạt động đếnnay, trung bình mỗi ngày, lượng công dân, tổ chức và doanh nghiệp đếnlàm việc là 120-150 lượt/người/ngày Thời gian giải quyết các thủ tục hànhchính đối với yêu cầu của một lượt khách hàng được rút ngắn, đặc biệt làtrong lĩnh vực đất đai, trước đây công dân phải đi lại 10 lượt thì đến nay chỉcòn đi lại 2-3 lượt, cấp phép xây dựng rút ngắn từ 15 ngày xuống còn 05ngày, đăng ký kinh doanh từ 7 ngày nay giảm còn 3 ngày; các kiến nghị,yêu cầu hướng dẫn trình tự thủ tục được giải quyết kịp thời, tại chỗ theotinh thần công khai, bình đẳng góp phần giảm thiểu được thời gian và côngsức đi lại của người dân

Thực hiện Chỉ thị số 34/2008/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ,ngày 22/9/2008 UBND thành phố Ninh Bình đã thực hiện việc chuyển côngvăn, giấy tờ qua mạng Internet giữa các cơ quan cấp trên và cấp dưới tạođiều kiện thuận lợi và giảm bớt khó khăn cho cán bộ văn thư Việc làm nàygóp phần tiết kiệm thời gian cũng như kinh phí in ấn văn bản, bởi chỉ cầntrang văn bản gốc được đưa lên mạng thì các cơ quan, tổ chức liên quan đều

có thể tải về máy tính để xem hoặc thực hiện Cuối năm 2009, UBND thànhphố Ninh Bình đã triển khai áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêuchuẩn TCVN ISO 9001:2000 vào hoạt động của UBND Thành phố Đồngthời triển khai xây dựng trang Web của Thành phố để công khai các thủ tụchành chính, người dân chỉ cần ngồi nhà nhấn chuột, lướt web là có thể tracứu, tìm hiểu về quy trình, thủ tục và thời gian thực hiện hành chính theo

Trang 32

từng lĩnh vực mà thành phố đã và đang thực hiện Bên cạnh đó, hệ thốngmạng ADSL luôn ổn định, máy tính vận hành tốt, không có sự cố phức tạpkéo dài làm ảnh hưởng chung tới hệ thống.

Tại Trung tâm đã thực hiện việc niêm yết công khai thủ tục, cáckhoản phí, lệ phí, mẫu hoá các giấy tờ, quyền, nghĩa vụ của tổ chức, côngdân, quy tắc ứng xử, trách nhiệm của cán bộ, công chức trong thực thinhiệm vụ, qua đó tạo điều kiện thuận lợi cho tổ chức, cá nhân trong giảiquyết công việc, đồng thời tạo cơ chế giám sát của tổ chức, công dân đốivới hoạt động của cơ quan nhà nước Bên cạnh đó, quy chế phối hợp hoạtđộng với các phòng ban chuyên môn được chặt chẽ, phù hợp với điều kiệnthực tế của ủy ban nhân dân thành phố

Cán bộ, công chức của Trung tâm một cửa đã chuyển từ hình thứchoạt động kiêm nhiệm sang chuyên trách, dưới sự quản lý của trưởng bộphận là phó chánh Văn phòng Hội đồng nhân dân, ủy ban nhân dân thànhphố Ninh Bình Trung tâm một cửa tuy vẫn thuộc sự quản lý của Văn phòngnhưng hoạt động mang tính chất độc lập, có cơ cấu chặt chẽ, rõ ràng Trình

độ, năng lực nhận thức của cán bộ, công chức phụ trách các lĩnh vực đượcnâng cao và chuyên nghiệp hơn, có khả năng giao tiếp ứng xử khéo léo,đúng mực Hàng năm, các cán bộ công chức Trung tâm đều được tập huấn

và bồi dưỡng để nâng cao chuyên môn nghiệp vụ Ngoài ra, cán bộ côngchức làm việc tại Trung tâm được trang bị đồng phục, đeo thẻ, được trang

bị các phương tiện làm việc hiện đại Chính vì vậy, đã động viên được tinhthần làm việc của họ, thái độ, tác phong, trách nhiệm với công việc đượcnâng cao Cùng với cải cách thủ tục hành chính ban lãnh đạo ủy ban nhândân thành phố Ninh Bình cũng tăng cường công tác kỷ luật, kỷ cương hànhchính đối với cán bộ, công chức, viên chức và người lao động

Trang 33

1.3.2 Cơ chế một cửa, một cửa liên thông theo hướng hiện đại tại Quận Ngô Quyền thành phố Hải Phòng

Cơ chế một cửa, một cửa liên thông là một trong số những sản phẩm,thành quả rõ nét nhất của công cuộc cải cách thủ tục hành chính tại ViệtNam Với những biểu hiện: Thủ tục hành chính rõ ràng, công khai các thủtục và quy trình giải quyết, nhận và trả hồ sơ tại “một cửa”, giải quyết đúnghạn với thái độ chu đáo, hòa nhã Kể từ khi Thủ tướng Chính phủ ban hànhquyết định số 181/2003/QĐ-TTg ngày 04 tháng 9 năm 2003 về việc banhành quy chế “một cửa” tại cơ quan hành chính Nhà nước ở địa phương, vàQuyết định số 93/2007/QĐ-TTg ngày 22/6/2007 về việc ban hành quy chếthực hiện cơ chế một cửa liên thông tại cơ quan hành chính Nhà nước ở địaphương

Ủy ban nhân dân Quận Ngô Quyền thành phố Hải Phòng là một trongnhững địa phương đi đầu trong công tác cải cách thủ tục hành với mô hình

“một cửa” theo hướng hiện đại Ngày 25/9/2006 bộ phận “một cửa” chínhthức được thành lập Điều đó mang lại hiệu quả không nhỏ trong cải cáchthủ tục hành chính cũng như đáp ứng nhu cầu của công dân Gọi là “mộtcửa” hiện đại vì: Cơ sở vật chất được trang bị đồng bộ hiện đại với hệ thốngmáy tính hiện đại cấu hình cao, hệ thống xếp hàng tự động, hệ thốngcamera giám sát hoạt động… Đặc biệt đã ứng dụng quy trình ISO9001:2000 trong quản lý hành chính, ứng dụng Công nghệ thông tin vàotrong điều hành tác nghiệp Đây là công cụ quan trọng tạo ra sự đột phátrong cải cách thủ tục Có thể nói, đó là mô hình hiện đại, rất có hiệu quảtrong giải quyết công việc và được các ngành, các cấp và nhân dân ghinhận Bộ phận “một cửa” hoạt động theo nguyên tắc độc lập chuyên trách.Cán bộ, công chức làm việc tại bộ phận “một cửa” được tuyển chọn là các

Trang 34

cán bộ, công chức, viên chức và người lao động công tâm thạo việc Việcứng dụng các quy trình ISO 9001:2000 vào giải quyết hồ sơ đã tạo ra sựliên thông giữa các phòng ban Công việc của người dân được giải quyết tại

“một cửa” không phải đi lại nhiều nơi như trước Thời gian giải quyết đượcrút ngắn, đảm bảo thuận lợi, nhanh chóng, đúng hẹn Mọi thủ tục, phí, lệphí, thời gian giải quyết đều được công khai minh bạch, đem lại được sự hàilòng cho người dân

1.3.3 Cơ chế một cửa, một dấu ở Quận 5 – Thành phố Hồ Chí Minh

Thành phố Hồ Chí Minh là đơn vị tiên phong trong lĩnh vực cải cáchthủ tục hành chính Qua hơn 17 năm tiến hành cải cách thủ tục hành chínhtheo cơ chế “một cửa”, các quận, huyện của Thành phố đã gặt hái đượcnhiều thành công và rút ra nhiều bài học kinh nghiệm quý báu trong lĩnhvực cải cách thủ tục hành chính để cải tiến và ngày càng hoàn thiện về mọimặt Trong đó, Quận 5 – Thành phố Hồ Chí Minh là một trong những điểmsáng trong thời kỳ đầu thực hiện cải cách thủ tục hành chính theo cơ chế

“một cửa” Ngay từ đầu năm 1995, thực hiện chủ trương của thành phố,Quận 5 đã tiến hành thực hiện thí điểm chương trình cải cách hành chínhtheo cơ chế “một cửa, một dấu” Quận đã xây dựng quy chế hoạt động củacác phòng, ban trong mối quan hệ giải quyết công việc theo cơ chế “mộtcửa, một dấu”; xây dựng quy trình giải quyết thủ tục hành chính từ khâuhướng dẫn, tiếp nhận, thụ lý giải quyết đến việc trả kết quả hồ sơ hànhchính cho khách hàng theo hướng cải tiến rút ngắn về thời gian Đồng thời,tiến hành rà soát các thủ tục hành chính, bỏ bớt nhiều loại giấy tờ không cầnthiết, không còn phù hợp và mẫu hóa các loại đơn từ và văn bản hànhchính,phí và lệ phí đều được công khai rộng rãi để khách hàng biết và cùng

Trang 35

giám sát Thực hiện cơ chế “một cửa, một dấu”, Quận đã tách chức năngdịch vụ hành chính công với chức năng quản lý nhà nước của các phòng,ban chuyên môn Qua đó, thành lập bộ phận tiếp nhận và trả kết quả hồ sơhành chính thuộc Văn phòng UBND Quận để làm nhiệm vụ cung ứng dịch

vụ hành chính công cho người dân Khi cần liên hệ về dịch vụ hành chínhcông, người dân đến đây sẽ được tiếp và giải quyết đầy đủ các nhu cầu,không phải đi lại nhiều lần như trước đây Tại bộ phận tiếp nhận hồ sơ hànhchính, cán bộ công chức sẽ hướng dân người dân lập hồ sơ, tiếp nhận, kiểmtra hồ sơ đảm bảo đầy đủ thủ tục theo quy định, chuyển đến các phòng banchuyên môn xử lý và tham mưu cho ủy ban nhân dân Quận giải quyết Sau

đó, mỗi hồ sơ sẽ được giao trả cho dân tại phòng tiếp nhận theo thời gian đãhẹn

Công tác đào tạo, bồi dưỡng, bố trí cán bộ công chức được UBNDQuận quan tâm chú trọng để nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, kiếnthức về quản lý nhà nước và kỹ năng thực thi công vụ Ngoài ra, các cán bộ,công chức trực tiếp tham gia công tác tiếp dân, phục vụ các yêu cầu về dịch

vụ hành chính công đều được cử đi học các lớp bồi dưỡng về công tác dânvận, rèn luyện kỹ năng giao tiếp, cung cách phục vụ Từ đó, từng bước củng

cố được lòng tin của người dân với chính quyền, đồng thời góp phần thúcđẩy quá trình phát triển kinh tế - xã hội của Quận Việc cung ứng dịch vụhành chính công ở Quận 5, trong thời gian qua đã có nhiều cải tiến tích cực,hiệu quả và chất lượng phục vụ được nâng lên Kết quả hồ sơ giải quyếtđúng thời gian quy định trung bình năm đạt 97% trở lên So với trước khicải cách hành chính đây là kết quả rất lớn, được đông đảo nhân dân đồngtình ủng hộ

Trang 36

Thêm vào đó, Quận đã tiến hành ứng dụng công nghệ thông tin vàotrong quản lý hành chính nhà nước Quận đã xây dựng hệ thống cáp nốimạng máy tính trực tuyến giữa ủy ban nhân dân Quận với các phòng ban và

ủy ban nhân dân các phường, đồng thời triển khai các phần mềm quản lýcung cấp dịch vụ hành chính công qua mạng Internet Việc tự động hóa cácquy trình nghiệp vụ đã tiết kiệm được thời gian, công sức đi lại của ngườidân, giảm thiểu chi phí, nâng cao chất lượng phục vụ dân với tiêu chí chínhxác, khách quan, chặt chẽ, giảm bớt thời gian, nâng cao hiệu lực, hiệu quảquản lý nhà nước ở địa phương

Trên đây là một số kinh nghiệm cải cách thủ tục hành chính theo cơchế một cửa, một cửa liên thông của một số tỉnh, thành trên cả nước đãđược đúc kết kinh nghiệm qua thực tiễn Đây cũng là những mẫu mô hìnhhiệu quả, là tấm gương để ủy ban nhân dân thành phố Thanh hóa tham quan

và học hỏi trong tiến trình cải cách hành chính nói chung và cải cách thủ tụchành chính nói riêng tại địa phương, nhằm mục tiêu đem lại lợi ích chocông cuộc xây dựng và phát triển toàn diện về mọi mặt, góp phần củng cốniềm tin của nhân dân vào Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa mà toàn

Đảng, toàn dân ta đang nỗ lực phấn đấu để đạt được

Kết luận chương 1

Như vậy, việc thực hiện chương trình tổng thể cải cách hành chính nhànước giai đoạn 2001-2010 và chương trình tổng thể cải cách hành chính nhànước giai đoạn 2011-2020 và các Quyết định số 181/2003/QĐ-TTg, ngày4/9/2003 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành quy chế thực hiện cơchế một cửa tại cơ quan hành chính Nhà nước ở địa phương Quyết định số93/2007/QĐ-TTg, ngày 22/6/2007 của Thủ tướng Chính phủ về việc banhành quy chế thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông tại cơ quan hành

Trang 37

chính Nhà nước ở địa phương làm cơ sở lý luận cho công tác cải cách thủ tụchành chính theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông có vai trò rất quan trọngtrong quản lý hành chính Nhà nước, đã phần nào làm sáng tỏ những hiểu biết cơbản về cải cách thủ tục hành chính và sự cần thiết của cải cách thủ tục hành chínhtheo cơ chế một cửa, một cửa liên thông hiện nay Đây là những căn cứ khoa họcgiúp cho việc đánh giá hiệu quả cải cách thủ tục hành chính ở các địa phươngtrong đó có hoạt động cải cách thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa, một cửaliên thông được triển khai từ tháng 6/2007 tại ủy ban nhân dân thành phố ThanhHóa Đồng thời qua việc cải cách này chúng ta rút ra những kinh nghiệm thực tế

để từ đó có kế hoạch xây dựng các bước tiếp theo trong cải cách thủ tục hànhchính được ngày một hoàn thiện hơn, đáp ứng yêu cầu của các cá nhân, tổ chứctrong việc phát triển kinh tế - xã hội tỉnh nhà

Cải cách thủ tục hành chính là điều kiện cần thiết để tăng cường củng cốmối quan hệ giữa Nhà nước và nhân dân giữa các doanh nghiệp nhà nước cũngnhư các doanh nghiệp nước ngoài đầu tư vào xây dựng nhà máy và các côngtrình phát triển kinh tế khác tại Việt nam, tăng cường sự tham gia quản lý Nhànước của nhân dân CCTTHC được coi là khâu đột phá trong cải cách nền hànhchính Nhà nước, nghĩa là để tạo sự chuyển động của toàn bộ hệ thống nền hànhchính quốc gia; Thủ tục hành chính là khâu được chọn đầu tiên, cải cách thủ tụchành chính sẽ gây ra sự chuyển động của toàn bộ hệ thống khi bị tác động

Để đáp ứng yêu cầu trên, cần phải xây dựng những cơ chế thích hợp choviệc thực hiện các thủ tục hành chính đã ban hành, ngoài việc đã ban hành hệthống các văn bản hợp lý, hợp pháp và đơn giản hóa các thủ tục hành chính, cầnthực hiện cải cách hành chính theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông và tiến tớimột cửa liên thông hiện đại Tuy nhiên, điều quan trọng là phải xây dựng đội ngũcán bộ, công chức có trình độ chuyên môn tốt, vững vàng, có tinh thần, thái độ và

Trang 38

ý thức trách nhiệm cao trong giải quyết các thủ tục hành chính đối với các tổchức, cá nhân và doanh nghiệp đồng thời là những cán bộ thực sự là công bộccủa nhân dân

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CẢI CÁCH THỦ TỤC HÀNH CHÍNH

THEO CƠ CHẾ MỘT CỬA, MỘT CỬA LIÊN THÔNG TẠI ỦY BAN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA, TỈNH THANH HÓA

2.1 Khái quát một số đặc điểm kinh tế - xã hội thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa

2.1.1 Đặc điểm tự nhiên của thành phố Thanh Hóa

Thành phố Thanh Hóa là trung tâm phát triển kinh tế - xã hội của tỉnhThanh Hóa có địa giới tự nhiên: Phía Tây và Tây Bắc giáp Huyện ĐôngSơn, phía Đông Bắc giáp Huyện Hoằng Hóa, phía Đông và phía Nam giápHuyện Quảng Xương, xét theo vĩ độ và kinh độ trên mặt địa cầu thì thànhphố Thanh Hóa nằm ở 19 độ 47 phút vĩ độ Bắc và 105 độ 45 phút độ KinhĐông, cách Thủ đô Hà Nội 160 km về phía Bắc, cách Thành phố Hồ ChíMinh 1.600km về phía nam, cách bờ biển Sầm Sơn 7km về phía Đông vàcách biên giới Việt Lào (thuộc địa phận huyện Quan Hóa) 135 km về phíaTây Thành phố Thanh Hóa là mạch nối giữa Hai miền, Miền Bắc và MiềnNam, với dãy núi Trường Sơn hùng vĩ Thành phố có diện tích tự nhiên là14,677,07km2, dân số là 393.294 người với 37 đơn vị hành chính cấp xã,phường Trong đó có 20 phường: Hàm Rồng, Nam Ngạn, Trường Thi,Đông Thọ, Điện Biên, Tân Sơn, Phú Sơn, Đông Cương, Tào Xuyên, AnHoạch, Lam Sơn, Đông Hương, Đông Hải, Quảng Hưng, Quảng Thành,

Trang 39

Đông Vệ, Ngọc Trạo, Quảng Thắng, Đông Sơn, Ba Đình; và 17 xã: HoằngAnh, Hoằng Đại, Hoằng Long, Hoằng Lý, Hoằng Quí, Thiệu Khánh, ThiệuDương, Thiệu Vận, Đông Lĩnh, Đông Tân, Đông Hưng, Đông Quang,Quảng Thịnh, Quảng Cát, Quảng Đông, Quảng Phú, Quảng Tâm, ĐôngVinh.

2.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội của thành phố Thanh Hóa

Thành phố Thanh Hóa đang sở hữu một vị trí giao thông thuận lợi, có

10 km đường Quốc lộ 1A, 8km đường tránh thành phố đi thành phố Vinh,

Hà Nội đi qua; Quốc lộ 47 đi qua thành phố dài 15 km và 10 km đường sắtBắc – Nam Hơn nữa, ngoài ra còn có các khu công nghiệp Tây bắc ga, khucông nghiệp Lễ Môn, khu du lịch Hàm Rồng, núi đá vôi xuất khẩu, nhiềunúi đá vôi trữ lượng tương đối lớn là nguồn nguyên liệu quan trọng để sảnxuất vật liệu xây dựng, là cửa ngõ của du lịch biển Sầm Sơn, khu du lịchHàm Rồng, Thành Nhà Hồ, suối cá Cẩm Lương, Huyện Cẩm Thủy Khucông nghiệp Lễ Môn, Khu công nghiệp Tây Bắc Ga, Khu kinh tế Nghi Sơn;Bỉm Sơn.vv Đây là những lợi thế rất quan trọng, giúp cho thành phố ThanhHóa phát triển kinh tế và du lịch mạnh mẽ Như vậy, thành phố Thanh Hóa

đã và đang sở hữu những tiềm lực quan trọng để phát triển kinh tế - xã hội,như vùng Đồng bằng, Núi, Sông, Khoáng sản, Động thực vật…

Bước vào thực hiện nhiệm vụ kinh tế - xã hội năm 2014, mặc dù gặpnhiều khó khăn do ảnh hưởng suy giảm kinh tế thế giới, nhưng với nhiềugiải pháp đồng bộ của Chính phủ về kích cầu đầu tư, chống suy giảm kinh

tế và đảm bảo an sinh xã hội; Đồng thời được sự lãnh đạo, chỉ đạo của Tỉnh

uỷ, HĐND, UBND tỉnh và trực tiếp là Thành ủy, HĐND thành phố ThanhHóa, sự quan tâm tạo điều kiện của các sở, ban, ngành của tỉnh, Uỷ bannhân dân thành phố Thanh Hóa trên cơ sở nhiệm vụ, mục tiêu kinh tế - xã

Trang 40

hội năm 2014 đã đề ra nhiều biện pháp, nhiều việc làm thiết thực, cụ thể để

tổ chức thực hiện đạt hiệu quả cao, khá toàn diện trên tất cả các lĩnh vựckinh tế - xã hội của thành phố: Kinh tế tiếp tục tăng trưởng khá, tốc độ tăngtrưởng kinh tế đạt 19,6% (kế hoạch:19%) Tổng thu ngân sách năm 2014đạt 2.100 tỷ đồng, gấp hơn 1,5 lần năm 2013 Thu nhập bình quân đầungười đạt 3.930 USD Kết cầu hạ tầng Đô thị được tăng cường đầu tư Lĩnhvực văn hóa xã hội có nhiều tiến bộ, đời sống nhân dân được nâng lên Lĩnhvực cải cách hành chính, kỷ luật kỷ cương hành chính được tăng cường, anninh quốc phòng, trật tự an toàn xã hội được giữ vững, hiệu lực quản lýđiều hành của chính quyền các cấp được nâng lên không có chính quyềnyếu kém, dân chủ ở cơ sở được phát huy, thành phố Thanh Hóa ngày càngphát triển đi lên và được Chính phủ công nhận là đô thị loại I vào năm2014

* Cơ cấu tổ chức bộ máy

Ủy ban nhân dân thành phố Thanh Hóa bao gồm 12 phòng và 15 đơn

vị sự nghiệp trực thuộc với sự quản lý trực tiếp của Chủ tịch, Phó Chủ tịch

ủy ban nhân dân

Ngày đăng: 19/07/2015, 19:08

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Tư pháp, Bộ Xây dựng, Bộ Tài nguyên và Môi trường, Ngân hàng Nhà nước (2007), Thông tư liên tịch số 05/2007/TTLT-BTP-BXD- BTNMT- NHNN, ngày 21/5/2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư liên tịch số 05/2007/TTLT-BTP-BXD-BTNMT- NHNN
Tác giả: Bộ Tư pháp, Bộ Xây dựng, Bộ Tài nguyên và Môi trường, Ngân hàng Nhà nước
Năm: 2007
8. Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2007), Quyết định số 93/2007/QĐ – TTg, ngày 22/6/2007 về ban hành quy chế thực hiện cơ chế “một cửa”, “một cửa liên thông” tại cơ quan hành chính nhà nước tại địa phương Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 93/2007/QĐ – TTg, ngày 22/6/2007 về ban hành quy chếthực hiện cơ chế “một cửa”, “một cửa liên thông
Tác giả: Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Năm: 2007
9. Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2003), Quyết định số 181/2003/QĐ-TTg ngày 4-9-2003 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Quy chế thực hiện cơ chế “một cửa” tại cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 181/2003/QĐ-TTg ngày 4-9-2003 của Thủ tướng Chính phủvề việc ban hành Quy chế thực hiện cơ chế “một cửa
Tác giả: Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Năm: 2003
11. Lê Anh Cường, Nguyễn Thị Lệ Huyền, Nguyễn Thị Mai (2004), Giáo trình Phương pháp và kỹ năng Quản lý nhân sự, Nhà xuất bản lao động xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Phương pháp và kỹ năng Quản lý nhân sự
Tác giả: Lê Anh Cường, Nguyễn Thị Lệ Huyền, Nguyễn Thị Mai
Nhà XB: Nhà xuất bản laođộng xã hội
Năm: 2004
12. Đảng Cộng sản Việt Nam (1987), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toànquốc lần thứ VI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1987
13. Đảng Cộng sản Việt Nam (2005), Báo cáo tổng kết một số vấn đề lý luận- thực tiễn qua 20 năm đổi mới (1986-2006), Nxb Chính trị Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết một số vấn đềlý luận- thực tiễn qua 20 năm đổi mới (1986-2006)
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốcgia
Năm: 2005
15. Nguyễn Vân Điềm, Nguyễn Ngọc Quân (2004), Giáo trình Quản trị nhân lực, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Quảntrị nhân lực
Tác giả: Nguyễn Vân Điềm, Nguyễn Ngọc Quân
Năm: 2004
16. Nguyễn Duy Gia (2001), Giáo trình quản lý hành chính Nhà nước, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình quản lý hành chính Nhànước
Tác giả: Nguyễn Duy Gia
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2001
17. PGS.TS. Nguyễn Hữu Hào, PGS.TS. Nguyễn Đình Kháng, PGS.TS. Lê Danh Tốn ( đồng chủ biên), (2006), Giáo trình kinh tế học Chính trị Mác-Lênin, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình kinh tế họcChính trị Mác-Lênin
Tác giả: PGS.TS. Nguyễn Hữu Hào, PGS.TS. Nguyễn Đình Kháng, PGS.TS. Lê Danh Tốn ( đồng chủ biên)
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2006
19. Học viện hành chính Quốc gia (2001), Các giải pháp thúc đẩy CCHC ở Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các giải pháp thúc đẩyCCHC ở Việt Nam
Tác giả: Học viện hành chính Quốc gia
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2001
20. Học viện hành chính Quốc gia (2001), Một số văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, hành chính, CC thủ tục HC trong cơ quan nhà nước& tổ chức chính trị xã hội, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số văn bản quy phạmpháp luật về quản lý, hành chính, CC thủ tục HC trong cơ quan nhà nước"& tổ chức chính trị xã hội
Tác giả: Học viện hành chính Quốc gia
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2001
21. Học viện hành chính Quốc gia (2002), Thuật ngữ hành chính, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thuật ngữ hành chính
Tác giả: Học viện hành chính Quốc gia
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia
Năm: 2002
22. Học viện hành chính Quốc gia (2004), Hành chính công, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hành chính công
Tác giả: Học viện hành chính Quốc gia
Nhà XB: Nxb Đạihọc Quốc gia
Năm: 2004
23. Học viện hành chính (2004), Giáo trình Thủ tục hành chính, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Thủ tục hành chính
Tác giả: Học viện hành chính
Nhà XB: NxbĐại học Quốc gia
Năm: 2004
24. Học viện hành chính Quốc gia (2007), Giáo trình hành chính công, Nxb Khoa học và kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình hành chínhcông
Tác giả: Học viện hành chính Quốc gia
Nhà XB: Nxb Khoa học và kỹ thuật
Năm: 2007
26. Vũ Trọng Hùng (2002), Quản trị nguồn nhân lực, Nhà xuất bản thống kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản trị nguồn nhân lực
Tác giả: Vũ Trọng Hùng
Nhà XB: Nhà xuất bảnthống kê
Năm: 2002
27. Mai Hữu Khuê, Bùi Văn Nhơn (1995), Một số vấn đề về CCTTHC, Nxb, Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề vềCCTTHC
Tác giả: Mai Hữu Khuê, Bùi Văn Nhơn
Năm: 1995
28. Đinh Văn Mậu, Luật hành chính Việt Nam, Nxb tổng hợp TPHCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật hành chính Việt Nam
Nhà XB: Nxb tổng hợpTPHCM
29. PGS.TS. Lê Chi Mai (2003), Cung cấp dịch vụ công ở Việt Nam, Nxb chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cung cấp dịch vụ công ở Việt Nam
Tác giả: PGS.TS. Lê Chi Mai
Nhà XB: Nxb chính trị Quốc gia
Năm: 2003
30. Thang Văn Phúc (2001), CCHCNN thực trạng, nguyên nhân và giải pháp, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: CCHCNN thực trạng, nguyên nhân vàgiải pháp
Tác giả: Thang Văn Phúc
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2001

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w