1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Kết hợp phương pháp tuyết trình với phương pháp nêu vấn đề trong dạy học phần công dân với đạo đức môn giáo dục công dân lớp 10 tại các trường trung học phổ thông trên địa bàn thị xã cửa lò, tỉnh nghệ an

107 564 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 107
Dung lượng 1,04 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC KẾT HỢP PHƯƠNG PHÁP THUYẾT TRÌNH VỚI PHƯƠNG PHÁP NÊU VẤN ĐỀ TRONG DẠY HỌC PHẦN “CÔNG DÂN VỚI ĐẠO ĐỨC” MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN LỚP 10...13 1.1.. Cơ sở lý

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Trang 2

NGHỆ AN - 2014

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

Chuyên ngành: Lý luận và Phương pháp dạy học bộ môn Chính trị

Mã số: 60.14.01.11

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Người hướng dẫn khoa học:

Trang 3

TS TRẦN VIẾT QUANG

NGHỆ AN - 2014

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình thực hiện đề tài, bản thân tôi đã nhận được sự quan tâm giúp đỡ của nhiều tổ chức, nhiều thầy cô giáo cũng như các đồng nghiệp Với tình cảm chân thành nhất, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến:

Ban Giám hiệu trường Đại học Vinh, Phòng sau đại học, Ban chủ nhiệm Khoa Giáo dục Chính trị, cùng tất cả các thầy cô giáo tham gia giảng dạy lớp Cao học khóa 20 chuyên ngành Lý luận và Phương pháp giảng dạy bộ môn Chính trị trường Đại học Vinh; Ban Giám hiệu các trường THPT Cửa Lò, thị xã Cửa Lò, cũng như tổ chuyên môn, đồng nghiệp trong nhà trường, gia đình và các bạn cùng lớp Cao học đã tạo điều kiện giúp đỡ, động viên tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài

Đặc biệt tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất, sâu sắc nhất đến

TS Trần Viết Quang - Thầy giáo đã tận tình giúp đỡ và hướng dẫn tôi trong thời gian học tập, nghiên cứu và thực hiện đề tài.

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Nghệ An, tháng 10 năm 2014

Tác giả Phạm Thị Hòa

Trang 5

MỤC LỤC

Trang

A MỞ ĐẦU 7

B NỘI DUNG 13

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC KẾT HỢP PHƯƠNG PHÁP THUYẾT TRÌNH VỚI PHƯƠNG PHÁP NÊU VẤN ĐỀ TRONG DẠY HỌC PHẦN “CÔNG DÂN VỚI ĐẠO ĐỨC” MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN LỚP 10 13

1.1 Cơ sở lý luận của việc kết hợp phương pháp thuyết trình và phương pháp nêu vấn đề trong dạy học phần “Công dân với đạo đức” môn Giáo dục công dân lớp 10 13

1.2 Cơ sở thực tiễn của việc kết hợp phương pháp thuyết trình với phương pháp nêu vấn đề trong dạy học phần “Công dân với đạo đức” môn Giáo dục công dân lớp 10 tại các trường Trung học Phổ thông trên địa bàn thị xã Cửa Lò, tỉnh Nghệ An 35

Kết luận chương 1 48

Chương 2 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM KẾT HỢP PHƯƠNG PHÁP THUYẾT TRÌNH VỚI PHƯƠNG PHÁP NÊU VẤN ĐỀ TRONG DẠY HỌC PHẦN “CÔNG DÂN VỚI ĐẠO ĐỨC” MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN LỚP 10 TẠI CÁC TRƯỜNG THPT TRÊN ĐỊA BÀN THỊ XÃ CỬA LÒ, TỈNH NGHỆ AN 49

2.1 Chuẩn bị thực nghiệm 49

2.2 Nội dung thực nghiệm 50

2.3 Kết quả thực nghiệm 70

Kết luận chương 2 73

Chương 3 QUY TRÌNH VÀ GIẢI PHÁP KẾT HỢP PHƯƠNG PHÁP THUYẾT TRÌNH VỚI PHƯƠNG PHÁP NÊU VẤN ĐỀ TRONG DẠY HỌC PHẦN “CÔNG DÂN VỚI ĐẠO ĐỨC” MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN LỚP 10 TẠI CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TRÊN ĐỊA BÀN THỊ XÃ CỬA LÒ, TỈNH NGHỆ AN 74

Trang 6

3.1 Quy trình thiết kế bài giảng theo phương thức kết hợp phương pháp thuyết trình với phương pháp nêu vấn đề trong dạy học phần “Công dân với đạo đức”

môn Giáo dục công dân lớp 10 74

3.2 Một số giải pháp kết hợp phương pháp thuyết trình với phương pháp nêu vấn đề trong dạy học phần “Công dân với đạo đức” môn Giáo dục công dân lớp 10 ở các trường Trung học Phổ thông trên địa bàn thị xã Cửa Lò, tỉnh Nghệ An 83

Kết luận chương 3 95

C KẾT LUẬN 96

D DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 98 PHỤ LỤC

Trang 7

BẢNG DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT VẮT

BGH : Ban Giám hiệu

CNTT : Công nghệ thông tin

CNH, HĐH : Công nghiệp hóa, hiện đại hóa

ĐH - CĐ : Đại học - cao đẳng

GDCD : Giáo dục công dân

GV : Giáo viên

HS : Học sinh

KH - CN : Khoa học - Công nghệ

PPDH : Phương pháp dạy học

PPNVĐ : Phương pháp nêu vấn đề

PPTT : Phương pháp thuyết trình

SGK : Sách giáo khoa

SGV : Sách giáo viên

THPT : Trung học phổ thông

UBND : Ủy ban Nhân dân

Trang 8

DANH MỤC BẢNG, ĐỒ THỊ

Trang

Bảng 1.1 Kết quả học tập năm học 2013 - 2014 39

Bảng 1.2 Kết quả học tập năm học 2013 - 2014 43

Bảng 1.3 Mức độ giáo viên sử dụng phương pháp thuyết trình, phương pháp nêu vấn đề, kết hợp phương pháp thuyết trình với phương pháp nêu vấn đề 46

Bảng 1.4 Kết quả bộ môn Giáo dục công dân năm học 2013 - 2014 47

Bảng 2.1 Kết quả bài kiểm tra số 1(Trường THPT Cửa Lò) 70

Bảng 2.2 Kết quả bài kiểm tra số 2 (Trường THPT Cửa Lò 2) 70

Bảng 2.3 Tổng hợp kết quả điểm kiểm tra 15 phút lần 1 và lần 2 tại lớp thực nghiệm và lớp đối chứng trường THPT Cửa Lò và THPT Cửa Lò 2, trên địa bàn thị xã Cửa Lò, tỉnh Nghệ An 70

Đồ thị 2.1 Biểu diễn tổng hợp kết quả điểm kiểm tra 15 phút lần 1 và lần 2 lớp đối chứng và lớp thực nghiệm 71

Trang 9

A MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Quá trình đẩy mạnh CNH, HĐH, phát triển kinh tế thị trường định hướngXHCN và hội nhập quốc tế đòi hỏi phải đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục vàđào tạo Mục đích của giáo dục là "Đào tạo con người Việt Nam phát triển toàndiện, có đạo đức, có tri thức, có sức khoẻ thẩm mỹ và nghề nghiệp Trung thànhvới lý tưởng độc lập dân tộc CNXH Hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩmchất năng lực công dân đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ tổ quốc" (Luậtgiáo dục)

Để nâng cao hiệu quả giáo dục, nhằm chuyển tải nội dung tri thức đếnngười học một cách hiệu quả nhất, ngoài trình độ chuyên môn, lòng yêu nghề,người dạy còn cần phải biết sử dụng linh hoạt các PPDH để phát huy được tínhtích cực, chủ động, sáng tạo của người học, bồi dưỡng phương pháp tự học Rènluyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn tác động đến tình cảm đem lạiniềm vui, hứng thú học tập cho HS Thực tế cho thấy, không có bất kỳ mộtPPDH nào được xem là tối ưu, hoàn hảo nhất Mỗi một phương pháp đều cónhững ưu điểm, hạn chế riêng của nó và có thể hạn chế của phương pháp này sẽđược khắc phục bởi phương pháp khác Bởi vậy, sự kết hợp giữa các phươngpháp trong dạy học nói chung, kết hợp PPTT với PPNVĐ nói riêng là đòi hỏitất yếu trong quá trình dạy học

Môn GDCD trong nhà trường PTTH nói chung và phần "Công dân với đạođức" môn GDCD lớp 10 nói riêng có vị trí, vai trò rất quan trọng trong việc hìnhthành và phát triển nhân cách HS, giáo dục cho HS ý thức và hành vi của ngườicông dân, góp phần hình thành và phát triển ở các em những phẩm chất năng lựccần thiết của công dân trong tương lai Do đó, việc kết hợp PPTT với PPNVĐkhi giảng dạy phần này nhằm làm cho HS phải tích cực, chủ động trong học tập

là hết sức cần thiết Tuy nhiên, qua thực tiễn cách dạy và học môn học này ở các

Trang 10

trường THPT trên địa bàn thị xã Cửa Lò chúng tôi nhận thấy rằng: PPNVĐ vẫnchưa được GV sử dụng phổ biến, hiệu quả, HS vẫn quen với cách dạy thuyếttrình truyền thống nên có tư tưởng trì trệ, ngại suy nghĩ và thụ động trong cáchtiếp cận tri thức Trước yêu cầu cấp thiết của cuộc sống, việc kết hợp PPDH tíchcực, đặc biệt là PPNVĐ với PPTT trong giảng dạy môn GDCD tại các trườngTHPT trên địa bàn thị xã Cửa Lò nói riêng và các trường THPT nói chung sẽgiữ vai trò quan trọng, nâng cao hiệu quả dạy và học, góp phần tạo bước nhảyvọt cho cuộc cải cách nền giáo dục Việt Nam

Từ những lý do trên tác giả chọn vấn đề “Kết hợp phương pháp thuyết

trình với phương pháp nêu vấn đề trong dạy học phần “Công dân với đạo đức” môn Giáo dục công dân lớp 10 tại các trường Trung học phổ thông trên địa bàn thị xã Cửa Lò, tỉnh Nghệ An” làm đề tài Luận văn Thạc sĩ

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Xuất phát tầm quan trọng của môn học GDCD cho học sinh THPT, đã cónhiều nhà khoa học, nhà giáo dục rất quan tâm nghiên cứu đến PPDH nói chung

và PPDH môn GDCD nói riêng Vấn đề PPTT và PPDH nêu vấn đề cũng được

đề cập trong nhiều sách, tạp chí, luận văn với các công trình tiêu biểu như:

Trần Thị Minh, Kết hợp phương pháp dạy học truyền thống và phương

pháp tích cực để nâng cao hiệu quả dạy học môn GDCD, 2006; Nguyễn Cảnh

Toàn - Lê Khánh Bằng, Thái Duy Tuyên, Phương pháp dạy học truyền thống và

đổi mới, Nxb Giáo dục, 2008; PGS Vương Tất Đạt, Phương pháp dạy học môn GDCD, Nxb Hà Nội, năm 1994; Nguyễn Cảnh Toàn, Học và cách dạy học, Nxb

Đại học Sư phạm, Hà Nội, 2004; Vũ Văn Tạo, Dạy - học giải quyết vấn đề, một

hướng đổi mới phương pháp giáo dục, đào tạo, huấn luyện, Trường Quản lý

giáo dục và đào tạo, Hà Nội, 1996; Đinh Văn Đức - Dương Thị Thuý Nga

(Đồng chủ biên), Phương pháp dạy học môn GDCD ở trường THPT, Nxb Đại

học sư phạm Hà nội 2009 Các công trình trên đã đề cập đến những khía cạnh

khác nhau của vấn đề PPDH Cụ thể, trong cuốn “Lý luận dạy học môn Giáo dục

Trang 11

công dân ở trường THPT” của Phùng Văn Bộ, tác giả viết: “Trong hệ thống này thì

phương pháp thuyết trình gần như giữ vị trí then chốt Bởi vì một bài giảng lý luậntriết học, kinh tế chính trị, chủ nghĩa xã hội, đạo đức, pháp luật, đều phải sử dụng lờigiảng, thuyết minh, diễn giảng của giáo viên, cái đó là chủ đạo” [9; 36] Còn đối với

tác giả Vương Tấn Đạt trong cuốn “Phương pháp giảng dạy Giáo dục công dân”

viết: “Trong giảng dạy bộ môn GDCD nếu giáo viên sử dụng tốt phương phápthuyết trình để truyền thụ các khái niệm, phạm trù quy luật mang tính trừu và kháiquát cao sẽ giúp cho học sinh nắm vững chúng Do đó tránh được sự đơn điệu, gâyhứng thú học tập, phát huy tư duy độc lập, sáng tạo của họ” [17;108]

Xung quanh vấn đề vận dụng PPNVĐ trong dạy học môn GDCD cũng có rất nhiều công trình nghiên cứu như: Vũ Văn Tạp và Trần Văn Hà, Dạy học giải

quyết vấn đề: Một hướng đổi mới trong công tác giáo dục và đào tạo, đã nghiên

cứu, lý giải việc dạy học giải quyết vấn đề là một hướng trong đổi mới mục tiêu,phương pháp đào tạo cũng như đề xuất phương pháp xử lý tình huống, hànhđộng và việc vận dụng phương pháp đó vào công tác giáo dục, đào tạo Trong

cuốn: phương pháp dạy học môn Giáo dục công dân ở trường trung học phổ

thông, do Đinh Văn Đức và Dương Thị Thúy Nga chủ biên đã đề cập đến

nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn trong dạy học môn GDCD và việc vận dụng

PPDH nêu vấn đề trong giảng dạy môn GDCD Trong cuốn giáo trình: Phương

pháp dạy - học Chủ nghĩa xã hội khoa học, do PGS TS Nguyễn Văn Cư (chủ

biên) đã nêu rõ: “Để bài thuyết trình có hiệu quả, cần có sự đổi mới lấy ngườihọc làm trung tâm; hạn chế bớt phương pháp thuyết trình thông báo, tái hiện,tăng cường phương pháp thuyết trình theo hứng giải quyết vấn đề, thuyết trìnhxen kẽ vấn đáp, thảo luận hợp lý; thuyết trình có minh họa đặc biệt thuyết trìnhgắn với công nghệ thông tin hiện đại để bài giảng sinh động hơn” [12; 65]

Từ các công trình nghiên cứu đã giúp GV định hướng PPDH phù hợp đối vớinội dung từng bài nhằm giúp người dạy vận dụng linh hoạt các phương pháp trongquá trình dạy học Những phương pháp cụ thể góp phần làm cho người GV chủ động

Trang 12

hơn về kiến thức, say mê chuyên môn, tổ chức những bài học, tiết học lôi cuốn,hấp dẫn, sinh động HS chủ động lĩnh hội được nhiều kiến thức và biết vận dụngkiến thức đó vào cuộc sống của mình.

Tuy nhiên, để khai thác được tối đa tính sáng tạo, năng động tích cực củamỗi HS với vấn đề kết hợp PPTT với PPNVĐ trong dạy học phần “Công dânvới đạo đức” môn GDCD lớp 10 tại các trường THPT trên địa bàn thị xã Cửa

Lò, tỉnh Nghệ An, thì chưa công trình nào nghiên cứu một các có hệ thống.Thành quả các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học là cơ sở lý luận đểtác giả tiếp tục tìm hiểu, nghiên cứu, thực hiện đề tài của mình

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích

Trên cơ sở lý luận và thực tiễn của việc kết hợp PPTT với PPNVĐ trongdạy học phần “Công dân với đạo đức” môn GDCD lớp 10 tại các trường THPTtrên địa bàn thị xã Cửa Lò, luận văn đề xuất quy trình và giải pháp nhằm nângcao hiệu quả kết hợp hai phương pháp trong dạy học môn GDCD

3.2 Nhiệm vụ

Để đạt được mục đích trên, luận văn cần thực hiện các nhiệm vụ sau:

- Làm rõ lý luận sự kết hợp PPTT với PPNVĐ trong dạy học phần “Công

dân với đạo đức” môn GDCD lớp 10

- Khảo sát, đánh giá thực trạng dạy học phần “Công dân với đạo đức”môn GDCD lớp 10 theo phương thức kết hợp PPTT với PPNVĐ tại các trườngTHPT, trên địa bàn thị xã Cửa Lò, tỉnh Nghệ An

- Thực nghiệm sư phạm kết hợp PPTT với PPNVĐ trong dạy học phần

“Công dân với đạo đức” môn GDCD lớp 10 tại các trường THPT trên địa bànthị xã Cửa Lò, tỉnh Nghệ An

- Đề xuất quy trình và giải pháp kết hợp PPTT với PPNVĐ trong dạy họcphần “Công dân với đạo đức” môn GDCD lớp 10 tại các trường THPT trên địabàn thị xã Cửa Lò, tỉnh Nghệ An

Trang 13

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đề tài nghiên cứu kết hợp PPTT với PPNVĐ trong dạy học phần “Côngdân với đạo đức” môn GDCD lớp 10

- Đề tài tập trung khảo sát, thực nghiệm sư phạm tại một số trường THPT

trên địa bàn thị xã Cửa Lò, tỉnh Nghệ An

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Cơ sở lý luận

Đề tài thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biệnchứng, duy vật lịch sử; các quan điểm của Đảng Cộng Sản Việt Nam về giáodục và đổi mới giáo dục; nội dung, chương trình môn học GDCD; lý luận dạyhọc và phương pháp giảng dạy môn GDCD

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài sử dụng các phương pháp chủ yếu như: phương pháp phân tích vàtổng hợp; phương pháp quy nạp - diễn dịch, phương pháp lịch sử và lôgíc, phươngpháp thống kê và điều tra xã hội học; phương pháp thực nghiệm sư phạm, v.v…

6 Giả thuyết khoa học

Việc kết hợp các phương pháp nói chung và kết hợp PPTT với PPNVĐnói riêng trong dạy học môn GDCD lớp 10 ở các trường THPT hiện nay cónhững hạn chế nhất định Nếu kết hợp hai phương pháp này một cách khoa học,thì sẽ góp phần nâng cao chất lượng dạy và học môn học này trong điều kiệnhiện nay

7 Ý nghĩa của luận văn

- Luận văn góp phần làm sáng tỏ cơ sở lý luận và thực tiễn của việc kết hợpPPTT với PPNVĐ trong dạy học môn GDCD nói chung và dạy học chương trìnhGDCD lớp 10 phần “Công dân với đạo đức” nói riêng

- Luận văn góp phần nâng cao chất lượng dạy học môn GDCD ở trườngTHPT; sử dụng làm tài liệu tham khảo cho cán bộ quản lý giáo dục, giáo viênGDCD ở trường THPT

Trang 14

8 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, đềtài gồm có 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc kết hợp phương pháp

thuyết trình với phương pháp nêu vấn đề trong dạy học phần “Công dân với đạođức” môn Giáo dục công dân lớp 10 tại các trường Trung học phổ thông, trênđịa bàn thị xã Cửa Lò, tỉnh Nghệ An

Chương 2: Thực nghiệm sư phạm kết hợp phương pháp thuyết trình với

phương pháp nêu vấn đề trong dạy học phần “Công dân với đạo đức” môn Giáodục công dân lớp 10 tại các trường Trung học phổ thông, trên địa bàn thị xã Cửa

Lò, tỉnh Nghệ An

Chương 3: Quy trình và giải pháp kết hợp phương pháp thuyết trình với

phương pháp nêu vấn đề trong dạy học phần “Công dân với đạo đức” môn Giáodục công dân lớp 10 tại các trường Trung học phổ thông, trên địa bàn thị xã Cửa

Lò, tỉnh Nghệ An

Trang 15

B NỘI DUNG

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC KẾT HỢP

PHƯƠNG PHÁP THUYẾT TRÌNH VỚI PHƯƠNG PHÁP NÊU VẤN ĐỀ

TRONG DẠY HỌC PHẦN “CÔNG DÂN VỚI ĐẠO ĐỨC”

MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN LỚP 10

1.1 Cơ sở lý luận của việc kết hợp phương pháp thuyết trình và phương pháp nêu vấn đề trong dạy học phần “Công dân với đạo đức” môn Giáo dục công dân lớp 10

1.1.1 Phương pháp thuyết trình và phương pháp nêu vấn đề

1.1.1.1 Phương pháp thuyết trình

* Khái niệm phương pháp thuyết trình:

Thuyết trình là một trong những PPDH lâu đời nhất là một trong nhữngphương pháp được sử dụng khá phổ biến hiện nay Phương pháp này được sử dụnghầu như trong tất cả các bộ môn khoa học ở trường THPT, nhất là các bộ môn khoahọc xã hội Có lẽ, dù các phương tiện dạy học ngày càng hiện đại đến đâu, dùngười học có thể thu nhận thông tin từ nhiều nguồn khác nhau với sự giúp đỡ củacác phương tiện truyền thông, thì cũng không thể nào thay thế hoàn toàn PPTT.Ngược lại, nó càng đặt ra những yêu cầu cao hơn đối với phương pháp này

Trong cuốn “Dạy học và phương pháp dạy học trong nhà trường” tác giảPhan Trọng Ngọ đã cho rằng: “Phương pháp thuyết trình là phương pháp giáoviên sử dụng ngôn ngữ và phi ngôn ngữ để cung cấp cho người học hệ thốngthông tin về nội dung học tập Người học tiếp nhận hệ thống thông tin đó từngười dạy và xử lý chúng tùy theo tính chủ thể của người học và yêu cầu củangười dạy học” [29; 187]

Đối với tác giả Phạm Viết Vượng lại cho rằng: “Phương pháp thuyết trình

là phương pháp giáo viên dùng lời nói để mô tả, phân tích, giải thích nội dung

Trang 16

bài học một cách chi tiết và đầy đủ; qua đó thu hút sự chú ý của học sinh vào bàigiảng, giúp cho học sinh nghe, hiểu và ghi chép được đủ nội dung của bài học”.

Trong cuốn: “Phương pháp dạy học Chủ nghĩa xã hội khoa học” do PGS

TS Nguyễn Văn Cư chủ biên có viết “Thuyết trình là phương pháp giáo viêndùng lời nói trình bày, giải thích nội dung bài học một cách có ý thức” [12; 58]

Qua nghiên cứu, chúng tôi thấy có nhiều cách định nghĩa khác nhau vềPPTT nhưng đều có chung cách hiểu: PPTT là PPDH trong đó GV sử dụng ngônngữ và hành động để truyền đạt, thuyết minh, trình bày và làm sáng tỏ một nộidung khoa học cụ thể nhằm hoàn được nhiệm vụ dạy học

* Các hình thức thuyết trình

Phương pháp thuyết trình trong dạy học thường được thể hiện ở nhiềuhình thức khác nhau như kể chuyện, giảng giải, diễn giải, v.v

- Kể chuyện là một hình thức của PPTT, trong đó GV dùng lời nói biểu

cảm và các thao tác dẫn dắt HS tiếp cận và làm nổi bật nội dung của tri thức cầntruyền thụ Thông qua câu chuyện, GV nêu lên những sự kiện, hiện tượng haynguồn gốc phát sinh, phát triển của những tri thức mà HS cần tiếp thu Nội dungcâu chuyện phù hợp với nội dung của bài giảng kết hợp với lối kể chuyện sinhđộng của GV sẽ giúp cho HS tiếp thu một cách nhẹ nhàng, thấm sâu, thu hútđược sự chú ý của HS trên lớp

* Thuyết trình giảng giải:

Giảng giải là một hình thức của PPTT, trong đó GV dùng lời nói để giảithích HS hiểu các khái niệm, phạm trù quy luật và sự vận dụng của chúng.Giảng giải thường được sử dụng khi giảng các tri thức mới Bởi vì, tri thức mớibao giờ cũng được xây dựng trên cơ sở của các khái niệm, phạm trù, quy luật

* Thuyết trình diễn giảng:

Diễn giảng là một hình thức của PPTT, trong đó tri thức được truyền thụtheo một hệ thống lôgic chặt chẽ, bao gồm khối lượng tri thức lớn và thực hiệntrong thời gian tương đối dài thông qua lời giảng của GV Diễn giảng thường

Trang 17

được áp dụng với những bài có nội dung tri thức phức tạp, khó, trừu tượng vàkhái quát cao.

* Trình tự của một bài thuyết trình

Thông thường trong bài giảng môn GDCD, PPTT được tiến hành theo cáctrình tự sau:

Mở đầu: GV nêu tri thức của bài cũ có liên quan để dẫn dắt HS chuyển

sang bài mới, nêu lên tầm quan trọng và các khía cạnh của đời sống thực tiễn để

tạo tâm thế tốt cho HS nhập cuộc với bài học mới

Trình bày nội dung chính: đây là phần trọng tâm của PPTT, GV cần nắm

chắc nội dung tri thức, tổ chức chúng theo một lôgic chặt chẽ, tìm ra hình thức,cách thức trình bày để truyền đạt cho HS

Kết thúc: GV khái quát, nhấn mạnh nội dung cơ bản mà HS cần hiểu và

nắm vững

* Những kỹ năng thuyết trình mà giáo viên cần có.

Ngôn ngữ của người thuyết trình cần đơn giản, dễ hiểu, không được sửdụng những từ ngữ mập mờ, không rõ nghĩa

Kỹ thuật nói: phát âm phải rõ ràng, chính xác, không nói ngọng, nói lắp.Tốc độ và cường độ của lời giảng phải phù hợp với trình độ nhận thức của đốitượng Biết sử dụng ngữ điệu linh hoạt để tăng hiệu quả truyền đạt tri thức Cáchlôi cuốn người nghe, ngôn ngữ có sức thuyết phục cao, được thực hiện bằng sựgiải thích mô tả, so sánh chứng minh bằng các ví dụ, các luận cứ khoa học, pháthuy được tính chủ động của người học

* Những ưu điểm và hạn chế của phương pháp thuyết trình:

+ Ưu đểm của PPDH thuyết trình trong dạy học ở bậc THPT: Thuyết trình

là một trong những PPDH cơ bản, phổ biến và trong tương lai nó vẫn tồn tại vàtiếp tục phát huy vai trò của mình trong quá trình dạy học Thế mạnh của PPTTđược thể hiện ở một số nội dung sau:

Đây là phương pháp dễ thực hiện, không đòi hỏi nhiều các phương tiệndạy học, thiết bị hiện đại nào đối với GV mà vẫn cung cấp được lượng kiến thức

Trang 18

lớn tới HS Từ đó, HS nắm một cách cơ bản nội dung mà GV truyền đạt trênlớp Với cách diễn đạt lưu loát, rõ ràng, dễ hiểu phù hợp với lôgic nhận thức vàtrình độ của HS Sử dụng phương pháp này cho phép GV truyền đạt những nộidung lý thuyết tương đối khó, phức tạp, chứa đựng nhiều thông tin mà HS tựmình không dễ dàng tìm hiểu được một cách sâu sắc Trong một khoảng thờigian ngắn (1tiết học) GV có thể chuyển tải đến HS một khối lượng thông tin cầnthiết, cô đọng theo một cấu trúc lôgic chặt chẽ, phản ánh nội dung môn học mà

GV đã chắt lọc được từ kho tàng tri thức của nhân loại Đây là điểm mạnh củaPPTT mà những phương pháp khác không dễ gì có được Do đó, nếu sử dụngPPTT tốt GV sẽ cung cấp cho HS những thông tin cập nhật, chưa kịp trình bàytrong SGK từ những nguồn tài liệu khác nhau mà HS phải mất nhiều thời gian,công sức mới tìm hiểu và tổng hợp được

Phương pháp này giúp cho HS nắm được hình mẫu về tư duy lôgic, cáchđặt vấn đề và giải quyết vấn đề khoa học, cách sử dụng ngôn ngữ để diễn đạtnhững vấn đề khoa học một cách chính xác, rõ ràng, súc tích thông qua cáchtrình bày của GV Ngoài ra, các bài thuyết trình còn cung cấp cho người họckhuôn mẫu về phương pháp nhận thức, phương pháp tổng hợp, phân tích, cấutrúc tài liệu học tập, giúp HS có được phương pháp tự học Bên cạnh đó, thuyếttrình là hình thức giao tiếp trực tiếp giữa GV và HS Vì vậy, khi thuyết trình GV

có thể thường xuyên thay đổi các biện pháp, thủ thuật thuyết trình và điều chỉnhnội dung tri thức cho phù hợp với nội dung bài học và đặc biệt là phù hợp vớiđối tượng HS

Thông qua các giờ học bằng PPTT, GV sẽ tác động mạnh mẽ đến tư duy,tình cảm của HS bằng giọng nói, cử chỉ, điệu bộ thích hợp và diễn cảm Trongthực tế môn GDCD HS rất khó định hướng khi tìm hiểu và nghiên cứu SGK, tàiliệu Vì vậy, bài thuyết trình của GV giúp cho HS định hướng và nhận thức khiđọc tài liệu Với PPTT giáo viên sử dụng ngôn ngữ, hành động, cử chỉ cùng cácthao tác sư phạm có tác dụng lôi cuốn, kích thích người học tập trung chú ý,

Trang 19

phát triển tư duy, lĩnh hội tri thức một cách có hệ thống và có ý thức PPTT giúpngười dạy không chỉ sử dụng ngôn ngữ nói của mình tác động trực tiếp đến HS

mà với tư cách mẫu mực cùng với những cử chỉ thể hiện thái độ, niềm tin, phẩmchất, nhân cách của người dạy Từ đó, sẽ có tác động mạnh mẽ đến tâm tư, tìnhcảm, suy nghĩ và giúp người học hành động đúng đắn hơn

Khi GV sử dụng PPTT sẽ tạo điều kiện phát triển năng lực chú ý và kíchthích được tính tích cực, tư duy của HS Vì có như vậy, HS mới hiểu được lờigiảng của GV và mới ghi nhớ được bài học Với việc sử dụng PPTT, GV có thểtruyền đạt một khối lượng kiến thức khá lớn cho nhiều HS trong cùng một thờigian, vì vậy, đảm bảo tính kinh tế cao, phù hợp với điều kiện có số đông ngườihọc nhưng cơ sở vật chất còn thiếu, GV dễ dàng bao quát toàn bộ lớp học

Tuy nhiên, trong quá trình giảng dạy, không có PPDH nào là tối ưu vàduy nhất cả, PPTT cũng không thể tránh mắc phải những hạn chế nhất định Bởivậy, GV cần phải nhận thấy rõ những hạn chế của phương pháp này để dần khắcphục trong quá trình giảng dạy của mình

+ Hạn chế của phương pháp thuyết trình trong dạy học ở bậc THPT Khi dùng phương pháp này quá nhiều, GV thu được ít thông tin phản hồi

từ phía người học; ít chú ý đến việc kiểm tra đánh giá kết quả lĩnh hội tri thứccủa từng HS Nếu GV sử dụng PPTT một cách thường xuyên sẽ làm cho HS tiếpthu kiến thức một cách thụ động Thuyết trình là phương pháp thông tin mộtchiều, HS chỉ thực hiện nhiệm vụ lắng nghe, ghi chép, chủ yếu sử dụng thínhgiác cùng với tư duy tái hiện Do đó, làm cho HS nhanh mệt mỏi, nhàm chán Vìvậy, sử dụng phương pháp này sẽ hạn chế khả năng tư duy độc lập, sáng tạo của

HS, dẫn đến HS lười suy nghĩ, ỷ lại, không đưa ra các quan điểm về nội dungbài học của bản thân Khi sử dụng phương pháp này, GV sẽ thu được ít thông tinphản hồi từ phía HS, khó có thể nắm bắt được HS hiểu bài hay không Sử dụngPPTT thường xuyên sẽ làm cho HS thiếu tính tích cực trong việc phát triển ngônngữ nói Vì độc thoại thầy giảng trò nghe nên HS dễ bị rơi vào trạng thái thụ

Trang 20

động Phải cố gắng tập trung lắng nghe để hiểu, ghi chép bài nên thần kinh dễ bị

ức chế, dễ gây mệt mỏi

PPPTT ít phù hợp với mục đích đào tạo kỹ năng sáng tạo của người học.Khi sử dụng PPTT người học không có cơ hội thể hiện năng lực và kỹ năngthuyết trình của mình Bởi vậy, quá trình rèn luyện kĩ năng, kĩ xảo, gặp nhiều khókhăn, hạn chế Chính vì những nhược điểm trên, hiện nay có nhiều quan điểm phủnhận PPDH thuyết trình, thậm chí còn muốn loại trừ nó ra khỏi hệ thống PPDHtrong nhà trường Đây là quan điểm tiêu cực, bởi vì dạy học vẫn rất cần sử dụngPPTT Với những tri thức mang tính lý luận, khái quát cao đòi hỏi có sự phântích, so sánh, sử dụng PPTT sẽ đem lại hiệu quả cao Sử dụng PPTT trong dạyhọc là cần thiết Tuy nhiên, người GV cần phát huy những mặt tích cực và khắcphục được hạn chế của phương pháp này Việc kết hợp PPTT với một số PPDHtích cực, đặc biệt với PPNVĐ sẽ góp phần làm cho giờ dạy đạt kết quả cao hơn

1.1.1.2 Phương pháp nêu vấn đề

Thuật ngữ “Vấn đề” thường được tiếp cận ở nhiều góc độ khác nhau Một

sự thỉnh cầu nghiên cứu tìm tòi, một cái gì đó chứa đựng sự thách thức conngười phải tìm kiếm, phải chinh phục, phải vượt qua để đạt tới một kết quảchuyên biệt dưới những điều kiện xác định “Vấn đề” vừa là phạm trù của triếthọc vừa là phạm trù của tâm lý học “Vấn đề” là hình thức chủ quan của sự biểuthị tất yếu của sự phát triển nhận thức khoa học; là sự phản ánh mâu thuẫn trongquá trình nhận thức khách thể của chủ thể, nghĩa là mâu thuẫn tư duy của chínhchủ thể trong quá trình nhận thức

Trong mỗi “Vấn đề” phải chứa đựng điều mà mình tìm hiểu chưa biết,nhưng đồng thời phải chứa đựng điều đã biết, nếu không sẽ gây ức chế chongười giải đáp và thậm chí là không giải đáp được vấn đề Vì vậy, vấn đềthường có những dấu hiệu là vấn đề có tình huống; chủ thể đã được chuẩn bị ởchừng mực nào đó về nhận thức để tìm lời giải Để tìm lời giải cho vấn đề cónhiều cách khác nhau nhưng để giải quyết vấn đề cần chọn một phương án hoặccũng có thể chọn phương án khác để rồi đi đến đáp số cuối cùng

Trang 21

* Quan điểm về tình huống có vấn đề

Tình huống có vấn đề là một trong những khái niệm cơ bản, trọng tâmcủa PPNVĐ, nó có vai trò quan trọng trong quá trình lĩnh hội tri thức và điềukhiển quá trình tư duy của HS Bàn về tình huống có vấn đề đã có nhiều ý kiếnkhác nhau:

Theo tác giả A.M.Machiuskin: “Một tình huống có vấn đề khi xuất hiện

sự không tương xứng, sự xung khắc giữa cái đã biết và cái đòi hỏi, cách thức vànhững yếu tố thực hiện hành động đang đòi hỏi, hoặc khi con người gặp phảimột vấn đề mới mà không thể thực hiện được” [43; 33]

Nhà giáo dục học Ba Lan V.Ôkôn cho rằng: “Dạy học nêu vấn đề là toàn

bộ các hoạt động như tính chất tình huống có vấn đề, biểu đạt các vấn đề, chú ýgiúp đỡ cho học sinh những điều cần thiết để giải quyết vấn đề, kiểm tra cáchgiải quyết đó và cuối cùng là quá trình hệ thống hóa và củng cố các kiến thứctiếp thu được” [47; 103]

“Dạy - học nêu vấn đề là một kiểu dạy học trong đó giáo viên đưa sinhviên vào các tình huống có vấn đề giúp học tự lực và sáng tạo giải quyết các vấn

đề đặt ra, qua đó mà nắm được tri thức mới; đồng thời phát huy được tính tíchcực sáng tạo Như vậy, trong dạy học nêu vấn đề giáo viên không cung cấp chosinh viên những tri thức có sẵn như trong dạy học thuyết trình mà nêu cho sinhviên một vấn đề cần phải giải quyết và tạo ra những điều kiện giúp cho sinh viên

tự lực giải quyết trên cơ sở những mối liện hệ giữa cái đã cho và cái cần biết,giữa điều đã biết và điều chưa biết” [30; 189]

Dạy học nêu vấn đề được các nhà giáo dục nước ta quan tâm nghiên cứuvào những năm 60,70 của thế kỷ trước Theo PGS, TS Nguyễn Ngọc Bảo, “Dạyhọc nêu vấn đề là hình thức dạy học dựa trên những quy luật của sự lĩnh hội trithức và cách thức hoạt động một cách sáng tạo, bao gồm sự kết hợp các phươngpháp dạy và học có những nét cơ bản của sự tìm tòi khoa học, phát triển tính tíchcực, tính tự giác và năng lực sáng tạo và hình thành cơ sở thế giới quan khoahọc cho họ” [6; 41]

Trang 22

Có nhiều quan niệm khác nhau song đều thống nhất ở quan điểm chorằng: Tình huống có vấn đề là trạng thái tâm lý độc đáo nảy sinh khi con ngườigặp phải chướng ngại nhận thức, xuất hiện mâu thuẫn trong bản thân, mâu thuẫngiữa điều đã biết và điều chưa biết, đòi hỏi phải giải quyết mâu thuẫn đó bằngtìm tòi sáng tạo chứ không phải bằng tái hiện hay bắt chước Tình huống có vấn

đề nảy sinh khi người học suy nghĩ về điều gì đó đã biết nhưng không đủ tri thức

để giải thích Khi đó là lúc xảy ra mâu thuẫn giữa điều đã biết với điều chưa biết

HS vào các tình huống có vấn đề Từ đó, hướng dẫn, giúp đỡ HS phát huy tínhsáng tạo, tích cực để giải quyết các vấn đề do GV đặt ra Nhằm đạt mục đíchcuối cùng là giúp HS nắm được các tri thức mới hoặc cách thức hành động khi

họ tích cực tham gia vào quá trình dạy học nêu vấn đề Thực tế cho thấy, trongcông cuộc đổi mới cách dạy và học, PPDH nêu vấn đề là một trong nhữngphương pháp tích cực, chủ đạo được sử dụng trong các nhà trường nói chung

* Những ưu điểm và hạn chế của phương pháp nêu vấn:

+ Ưu điểm của phương pháp dạy học nêu vấn đề:

Một là, PPDH nêu vấn đề là một trong những PPDH tích cực, khi được áp

dụng trong giảng giải giúp cho HS hứng thú học tập bởi nó luôn đặt người học vào vịtrí khám phá, nghiên cứu khoa học, phát huy được trí tuệ, tư duy thông minh của

Trang 23

mình, đòi hỏi cố gắng đến mức cao nhất suy nghĩ tìm tòi, sáng tạo để giải quyết vấn

đề đặt ra một cách tốt nhất

Sử dụng phương pháp này không hạn chế việc đặt ra các nhiệm vụ, ràngbuộc, gắn kết HS vào một cấu trúc với vấn đề bỏ ngỏ mà ở đó chưa có cách tiếp cậnhoặc giải pháp HS học một cách có chủ định, đóng vai trò như là người đặt ra cáccâu hỏi, kế hoạch, mục đích cho chính mình Tức là GV có vai trò hướng dẫn, gợi

mở còn HS là người chủ động tìm tòi, giải quyết vấn đề Qua đó lĩnh hội được kiếnthức do chính mình phát hiện ra Sử dụng phương pháp này sẽ đảm bảo giúp HSnắm được tri thức một cách vững vàng hơn, sáng tạo, linh hoạt trong cả phươngpháp tự học Tạo sự nhiệt tình, hứng thú cho HS trong quá trình học tập có tác dụngghi nhớ kiến thức lâu hơn

Hai là: PPDH nêu vấn đề tổ chức cho HS học trong một tình huống nhất định.

Tạo một môi trường giúp HS làm việc với các loại vấn đề có liên quan và sử dụngtrong tương lai Các kiến thức và kỹ năng giúp HS giải quyết các vấn đề đó dưới sựhướng dẫn của GV; HS được trực tiếp làm việc với các tri thức khoa học, tự mìnhnghiên cứu, tách các nội dung học tập thông qua các tình huống Khi GV sử dụngPPNVĐ khuyến khích HS làm việc cùng nhau trong giải quyết vấn đề và phát triểnsản phẩm của họ HS cộng tác với các thành viên trong nhóm, trao đổi kiến thức, họctập lẫn nhau, điều chỉnh hành vi của mình trên cơ sở đó để hình thành và phát triểncác kỹ năng của bản thân họ

Ba là: sử dụng PPNVĐ góp phần xây dựng và hình thành ở HS những tác

phong nghiên cứu khoa học Mặt khác, còn giúp tăng cường khả năng độc lập suynghĩ, phát triển tư duy sáng tạo, kĩ năng vận dụng kinh nghiệm của mình và củangười khác vào việc giải quyết các vấn đề học tập và trong nhiều lĩnh vực Phát triểncho HS kĩ năng thích ứng trong các tình huống khác nhau chính là mục tiêu của dạyhọc hiện đại HS tin tưởng vào khả năng của bản thân mình trong việc giải quyết cáctình huống học tập cũng như trong cuộc sống hàng ngày Ngoài ra, còn tăng cường

sự hiểu biết và hợp tác giữa các thành viên trong nhóm qua việc cùng nhau nghiên

Trang 24

cứu và giải quyết tình huống Khi sử dụng phương pháp này giúp cho HS thu đượcnhững kiến thức tốt nhất, cập nhật nhất Có thể, bao phủ toàn bộ các trường hợp vàbối cảnh thường gặp trong cuộc sống, giúp HS tự giác, chủ động cũng như có động

cơ học tập và tinh thần trách nhiệm cao trong học tập

Bốn là: sử dụng PPNVĐ trong dạy học làm cho GV như là một huấn luyện

viên Thông qua quá trình giải quyết vấn đề, GV mô tả, huấn luyện, cung cấp nhữngchỉ dẫn cần thiết, khuyến khích HS độc lập đặt ra mục tiêu và ra quyết định

Năm là: sử dụng PPDH nêu vấn đề còn giúp GV kiểm tra, đánh giá năng lực

nhận thức, năng lực giải quyết vấn đề, năng lực sáng tạo của người học thông quaviệc trình bày, lý giải bài toán nhận thức của HS Qua đó, GV có thể phân loại được

HS và có phương pháp giáo dục thích hợp đối với từng đối tượng Trong một xã hộiđang phát triển nhanh chóng theo cơ chế thị trường, cạnh tranh gay gắt thì việc pháthiện sớm và giải quyết hợp lý những vấn đề nảy sinh trong thực tiễn là một năng lựcbảo đảm sự thành đạt trong cuộc sống ở bất kể lĩnh vực nào

Như vậy, PPDH nêu vấn đề không chỉ phát huy được tính tích cực hoạt

động của người học mà còn làm cho hoạt động của người dạy trở nên tích cựchơn Trong dạy học nêu vấn đề, GV trở thành người tổ chức, điều khiển hoạtđộng nhận thức của HS

+ Hạn chế của phương pháp dạy học nêu vấn đề: Trong quá trình dạy học,

GV sử dụng PPDH nêu vấn đề đã mang lại nhiều ưu điểm, song cũng không tránhkhỏi những hạn chế nhất định:

Thứ nhất: PPNVĐ không thể áp dụng trong tất cả các nội dung dạy học đặc

biệt là những môn có tính trừu tượng và khái quát cao Phương pháp này chỉ phù hợpcho những HS có khả năng làm việc độc lập, sáng tạo Nếu trong quá trình giảngdạy, GV lạm dụng PPDH nêu vấn đề sẽ dẫn đến tình trạng không đảm bảo chấtlượng đồng đều trong HS, sự phân hóa trình độ ở HS không có sự cá biệt hóa, nhiều

HS yếu kém có tâm lý sợ học hoặc chán học

Thứ hai: để có thể tìm kiếm từng loại vấn đề phù hợp với nội dung từng

phần, từng bài đòi hỏi GV phải có thời gian, có kinh nghiệm giảng dạy, trình độ

Trang 25

chuyên môn cũng như am hiểu các vấn đề thực tế sâu rộng, những vấn đề liênquan đến bộ môn Ở những lớp có nhiều HS không thể áp dụng hiệu quả phươngpháp này vì PPDH nêu vấn đề cần nhiều thời gian, GV phải trang bị nhiều cơ sởvật chất cho phòng học GV khó chủ động về mặt chương trình, kế hoạch và thờigian Nếu GV không có sự chuẩn bị kỹ lưỡng trước và khả năng trong quản lýlớp không tốt thì dễ rơi vào trường hợp thiếu thời gian, không đúng chủ đề Từ

đó, đưa ra kết luận về vấn đề cần nghiên cứu không chính xác, không có tiêu chí

để phân nhóm giải quyết vấn đề

Thứ ba: mặc dù trong quá trình dạy học GV đã sử dụng các thủ pháp sư phạm

như nêu vấn đề, yêu cầu người học đọc tài liệu, nhắc lại kiến thức, phân tích, bìnhluận Tất cả các thủ pháp đó, với mục đích tăng khả năng hoạt động của HS tronggiờ học Tuy nhiên, PPDH nêu vấn đề đòi hỏi có nhiều thời gian, nhiều tài liệu thamkhảo, mới đạt kết quả tốt

Bốn là: khi sử dụng PPNVĐ đôi khi HS dễ bị lạc hướng trong quá trình giải

quyết tình huống, dễ nản chí khi gặp tình huống khó, không nhiệt tình khi gặp cáctình huống ít hấp dẫn Khi GV giảng giải một vấn đề sâu rộng trong thời gian dài sẽdẫn đến sự đơn điệu và học sinh dễ rơi vào trạng thái thụ động, mệt mỏi GV phảibiết đặt ra tình huống, có phương pháp kích thích say mê, hứng thú của người họcnếu không hiệu quả của bài học sẽ không cao

1.1.2 Sự cần thiết và phương thức kết hợp phương pháp thuyết trình với phương pháp nêu vấn đề trong dạy học phần “Công dân với đạo đức” môn Giáo dục công dân lớp 10

1.1.2.1 Sự cần thiết kết hợp phương pháp thuyết trình với phương pháp nêu vấn đề trong dạy học phần “Công dân với đạo đức” môn giáo dục công dân lớp 10

* Yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học trong nhà trường:

Với sự phát triển của cách mạng KH - CN, với những bước nhảy vọt đưathế giới chuyển từ kỷ nguyên công nghệ sang kỷ nguyên thông tin và tri thức thì

Trang 26

giáo dục và đào tạo đóng một vai trò hết sức quan trọng Đổi mới giáo dục đangdiễn ra trên quy mô toàn cầu Từ những nước đang phát triển, đến những nước

đã phát triển đều nhận thức được vai trò và vị trí hàng đầu của giáo dục Vì vậy,trong giai đoạn hiện nay việc đổi mới giáo dục trước hết là đổi mới PPDH Đây

là một trong những yêu cầu cấp thiết đối với ngành giáo dục, nhằm nâng caochất lượng giáo dục và đào tạo, là sự sống còn của mỗi cơ sở đào tạo Vấn đềđổi mới PPDH được nhiều người quan tâm và có nhiều hội thảo xoay quanh vấn

đề này Một trong những nhiệm vụ được đặt ra trong văn kiện Đại hội Đại biểutoàn quốc lần thứ XI về phát triển giáo dục và đào tạo, đó là “Đổi mới căn bản

và toàn diện giáo dục, đào tạo trên cơ sở thực hiện đồng bộ các giải pháp pháttriển và nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo Đổi mới chương trình, nội dung,phương pháp dạy và học, phương pháp thi, kiểm tra theo hướng hiện đại, nângcao chất lượng giáo dục toàn diện” Do đó, nâng cao chất lượng giáo dục và đàotạo nói chung, chất lượng dạy học nói riêng là vấn đề mang tính cấp thiết Làgiải pháp quan trọng nhất để nền giáo dục nước ta có thể tiến kịp với sự pháttriển của khoa học trên thế giới, đồng thời đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tếquốc tế trong giai đoạn hiện nay

Đổi mới PPDH là nhu cầu tất yếu của GV, Đổi mới phương pháp chính là

sự cải tiến, nâng cao chất lượng PPDH đang sử dụng để góp phần nâng cao hiệuquả của việc dạy học; là sự bổ sung, phối hợp nhiều PPDH để phát huy tối đanhững ưu điểm và khắc phục hạn chế của mỗi phương pháp đem lại kết quả caotrong dạy và học Thực chất của đổi mới PPDH là “Dạy học hướng vào ngườihọc” hay “lấy người học làm trung tâm” Đây là những cụm từ được dùng đểxác định sự đổi mới của PPDH hiện nay trong nhà trường Đó là tư tưởng, là sựđịnh hướng cho dạy và học Phương pháp mới này khuyến khích HS tự học, tựphát huy sáng kiến, GV đóng vai trò hướng dẫn, cung cấp thông tin, định hướngmục tiêu học tập, tổ chức, hướng dẫn HS chủ động nhận thức, tư duy, thực hành,sáng tạo trong quá trình tiếp nhận tri thức

Trang 27

Vì vậy, chỉ có đổi mới căn bản phương pháp giảng dạy thì mới có thể tạođược sự đổi mới thực sự trong ngành giáo dục, mới đảm bảo được mục tiêuchuyển từ dạy là trung tâm sang lấy học làm trung tâm Cho nên dạy học là mộtquá trình hoạt động diễn ra bao gồm hoạt động dạy và học Đó là hai nhân tố tácđộng biện chứng trong một mối quan hệ thống nhất Mục đích của quá trình dạyhọc này là nhằm hình thành cho người học hệ thống tri thức khoa học, các kĩnăng, kĩ xảo và khả năng vận dụng vào thực tiễn Kết quả là trang bị cho HS cáckiến thức cơ bản, nâng cao trình độ học vấn cho họ kể cả mặt kiến thức, phươngpháp hoạt động và năng lực tổ chức thực tiễn.

Trong quá trình dạy học, nhân tố dạy của GV giữ vai trò chủ đạo songnhân tố học của HS là chủ động hoạt động tích cực, sáng tạo, năng động để tiếpthu các kiến thức khoa học Quá trình dạy và học là hai hoạt động có sự tác độngbiện chứng lẫn nhau, nếu hai hoạt động này tách rời thì không còn là một quátrình nữa Hoạt động dạy học chỉ có hiệu quả khi nó biết tác động kích thích,khơi dậy ở người học những nhu cầu mới, khi nó biết phát huy tính tự giác, độclập, sáng tạo và tích cực để lĩnh hội kiến thức Để đạt được yêu cầu nêu trên thìchúng ta phải đổi mới phương pháp giảng dạy, nhưng vấn đề là đổi mới như thếnào? đổi mới bằng cách nào? Để làm được điều này GV không chỉ đơn giảntruyền đạt tri thức mà còn hướng dẫn các hoạt động Nội dung và PPDH phảigiúp cho đối tượng HS biết hoạt động và tích cực tham gia các chương trìnhhoạt động để đảm bảo được đổi mới chương trình giáo dục Tuy nhiên, đổi mớiPPDH không có nghĩa là loại bỏ hoàn toàn phương pháp cũ, thay bằng phươngpháp mới Mà phải biết kế thừa những mặt tích cực của phương pháp cũ, khắcphục hạn chế của nó, đồng thời biết tiếp thu phương pháp mới Để khéo léo kếthợp PPTT với PPHĐ sao cho phù hợp với nội dung từng bài để đạt được kết quảcao trong quá trình giảng dạy

Trên thực tế, có rất nhiều ý kiến khác nhau về PPDH truyền thống vàPPDH hiện đại Có ý kiến phê phán PPDH cũ song cũng có những ý kiến nghi

Trang 28

ngờ hiệu quả của PPDH hiện đại, khi sử dụng các phương pháp này vào giảngdạy các môn lý luận như môn GDCD Tuy nhiên, với những ưu điểm và hạn chếcủa PPTT cũng như PPNVĐ thì tác giả cho rằng trong giảng dạy môn GDCDcần kết hợp giữa PPDH truyền thống và PPDH hiện đại mà cụ thể là PPTT vớiPPNVĐ là cách tối ưu nhất và hiệu quả nhất.

Kết hợp PPTT với PPNVĐ một cách sáng tạo, linh hoạt sẽ phát huy tínhtích cực của HS Thông qua tác động của GV, HS không còn ở trạng thái bịđộng khi tiếp thu kiến thức mà tiếp nhận tri thức một cách dễ dàng Những HSyếu cũng được tham gia vào quá trình tiếp thu tri thức mới mà không còn cảmgiác “bị bỏ rơi”

Đổi mới PPDH là yêu cầu cấp thiết trong dạy học hiện nay Tuy nhiên,việc đổi mới cũng gặp một số khó khăn nhất định Một số HS quen với PPTT,trong khi học thụ động ghi chép mà không chịu suy nghĩ, nên không ủng hộ khi

GV đổi mới PPDH Bên cạnh đó, một số GV lớn tuổi việc ứng dụng CNTT cònnhiều hạn chế, GV tuổi nghề còn trẻ thì kinh nghiệm trong giảng dạy chưanhiều Đổi mới PPDH tức là phải đổi mới cả phương pháp dạy của thầy vàphương pháp học của trò Muốn vậy người thầy chỉ đạo cách học cho trò, bởithói quen học tập của trò cũng ảnh hưởng không nhỏ đến PPDH của thầy Trongquá trình giảng dạy GV phải khéo léo kết hợp PPTT với PPHĐ sao cho HS làmquen dần dần, vừa sức và phải có sự hợp tác giữa GV và HS, sự phối hợp nhịpnhàng giữa dạy và học thì giờ học sẽ đạt kết quả như mong muốn

Bên cạnh yêu cầu đổi mới PPDH trong nhà trường thì kết hợp PPTT vớiPPNVĐ cũng xuất phát từ vai trò của giáo viên GDCD

* Xuất phát từ vai trò của giáo viên môn Giáo dục công dân:

Thông qua kiến thức môn GDCD giáo viên giúp HS hình thành và hoànthiện nhân cách, kỹ năng sống Từ đó, các em sẽ phát triển những năng lực,phẩm chất cần thiết của một người công dân có ích cho xã hội Xuất phát từ đốitượng, phạm vi nghiên cứu, nội dung chương trình cũng như thực trạng dạy học

Trang 29

môn GDCD ở trường THPT hiện nay, yêu cầu GV phải chú trọng đến vấn đềđổi mới PPDH và điều đó đang được thực hiện một cách tích cực.

Để thực hiện được đổi mới PPDH đạt hiệu quả cao, GV môn GDCD phải

có nhận thức đúng đắn, tinh thần trách nhiệm và sự quyết tâm cao Kỹ năng sửdụng thiết bị dạy học và phương pháp tổ chức tốt là những phẩm chất cần thiếtcủa người thầy Mặt khác, GV phải có kiến thức sâu rộng, nắm vững lý luận sưphạm về lĩnh vực giảng dạy của bản thân đồng thời phải biết chuyển tải nhữngkiến thức đó vào nội dung môn học, vào phương pháp giảng dạy của từng bàihọc cụ thể Từ đó, GV mới có thể giúp HS tích cực, chủ động, phát huy khảnăng sáng tạo trong học tập GV có nhiều kiến thức, cách tổ chức và trình bàyngắn gọn, sáng tỏ vấn đề cùng với sự nhiệt tình trong giảng dạy sẽ tạo điều kiệncho HS thu nhận kiến thức một cách hiệu quả nhất Phải không ngừng phấn đấuvươn lên thông qua việc tự học, tự bồi dưỡng năng lực chuyên môn để khẳngđịnh mình trước HS Không những thế GV phải sử dụng các PPDH phù hợp đểtruyền tải đến HS ý thức bảo vệ Tổ quốc, cảnh giác trước âm mưu của các thếlực phản động trong tình hình hiện nay GV phải đổi mới dạy học nhằm khắcphục tình trạng trước đây là GV giảng, sau đó đọc cho HS chép, rồi học thuộclòng mà không biết cách suy nghĩ, vận dụng những vấn đề được học vào thực tế

Để đảm bảo được yêu cầu này thì GV phải phát huy, khai thác tối đa tính tíchcực của HS, tạo cơ hội cho HS bày tỏ quan điểm, ý kiến cá nhân về vấn đề đanghọc, khuyến khích các em nêu những thắc mắc trong khi nghe giảng, đặt ra câuhỏi cho thầy, cho bạn trao đổi, tranh luận, thảo luận Tạo nên mối quan hệ hợptác trong giao tiếp giữa thầy và trò, giữa trò với trò trong quá trình chiếm lĩnhnội dung học tập Hợp tác trong học tập sẽ làm tăng hiệu quả tiếp thu tri thức,trong hoạt động hợp tác, tính cách, năng lực của mỗi thành viên được bộc lộ,tình bạn, ý thức tổ chức, tinh thần tương trợ được phát triển

Việc kết hợp PPTT với PPNVĐ cũng xuất phát từ mục đích, yêu cầu, nộidung của môn hoc

Trang 30

* Xuất phát từ mục đích, yêu cầu, nội dung của môn học:

Chương trình đổi mới giáo dục trên phạm vi toàn quốc trong đó có mônGDCD thời gian qua đã và đang được cả xã hội quan tâm sâu sắc Một trongnhững nhiệm vụ cơ bản của đội ngũ nhà giáo là không ngừng cải tiến PPDHnhằm giúp HS lĩnh hội kiến thức một cách chủ động, sáng tạo Chính vì thế màngười GV trực tiếp giảng dạy phải biết thiết kế các hoạt động lên lớp một cáchhợp lý, cụ thể, phù hợp với từng đối tượng học sinh, khơi dậy niềm say mê sángtạo và khả năng khám phá thế giới xung quanh, hiểu biết về các vấn đề xã hộihiện nay Với vị trí và chức năng của môn học, môn GDCD cần phải có nhữngchuyển biến mạnh mẽ về đổi mới PPDH nhằm phát huy tính tích cực, tự giác,chủ động, sáng tạo của HS; làm thay đổi quan niệm đây là một môn học phụ ítđược xã hội quan tâm Từ đó, giúp HS và một bộ phận GV hiểu đúng đắn hơn

về môn GDCD Phải hiểu đây cũng là một khoa học và được đối xử “bình đẳng”như các môn học khác Không những thế nó còn là môn học có ý nghĩa rất lớnđối với việc hình thành phẩm chất, tư tưởng, đạo đức, phong cách, nhân cáchcủa con người mới

Tất cả các môn học nói chung và môn GDCD nói riêng đều có mục đích,yêu cầu phù hợp với kiến thức của từng môn Việc xác định mục đích, yêu cầucủa môn học rất quan trọng, nếu người GV xác định mục đích, yêu cầu đúng và

sử dụng phương pháp, kỹ thuật dạy học, thiết bị dạy học phù hợp sẽ có tác dụngnâng cao hiệu quả giờ học, nâng cao chất lượng dạy học bộ môn Ngược lại, nếugiáo viên xác định sai mục đích, yêu cầu của môn học sẽ không tránh khỏinhững thất bại trong quá trình dạy học Mục đích của dạy học GDCD được hiểutheo nhiều cấp độ khác nhau từ rộng đến hẹp, tùy vào từng phần, từng bài, từngtiết cụ thể để giáo viên có thể xác định mục đích khác nhau Tuy nhiên, mụcđích cơ bản của môn học là xây dựng thế giới quan khoa học, phương pháp luậnbiện chứng và hình thành nhân cách con người mới, nâng cao ý thức thực hiệnchuẩn mực đạo đức, pháp luật cho HS, là cơ sở điều kiện để giáo dục ý thức và

Trang 31

hành vi của người công dân từ đó góp phần hình thành và phát triển ở các emnhững phẩm chất và năng lực, hoàn thiện nhân cách rất cần thiết của người côngdân mới đáp ứng được những yêu cầu ngày càng cao của xã hội trong xu thế hộinhập với toàn cầu trong giai đoạn hiện nay

Học xong phần “Công dân với đạo đức” môn GDCD lớp 10 học sinh cầnđạt được các yêu cầu như:

- Nắm vững một số phạm trù cơ bản của đạo đức học và các yêu cầu cơbản về đạo đức của người công dân trong giai đoạn hiện nay

- Có thái độ tôn trọng các giá trị đạo đức tiến bộ của xã hội Có tình cảm,niềm tin đối với các quan điểm đạo đức đúng đắn, dám phê phán các thái độ,hành vi đạo đức lệch lạc Quyết tâm học tập, rèn luyện, tự hoàn thiện bản thântheo các yêu cầu đạo đức xã hội

Việc kết PPTT với PPNVĐ trong dạy học môn GDCD vừa trang bị cho

HS những kiến thức cần thiết vừa giúp người học tự tìm hiểu, nghiên cứu vàtham gia giải quyết các vấn đề nảy sinh trong đời sống xã hội

* Xuất phát từ đối tượng người học:

Đối với các trường THPT học sinh có ý thức cao trong học tập tất cả cácmôn học Riêng đối với môn GDCD các em còn thể hiện sự say mê Thái độham học hỏi, thích tìm tòi và tinh thần tích cực, sáng tạo trong các tiết học, trongtừng bài góp phần làm cho các tiết học, bài học trở nên sinh động và hấp dẫnhơn Với việc liên hệ kiến thức với thực tiễn, vận dụng trong đời sống hằng ngàygiúp các em rất hồ hởi đón nhận tiết học tiếp theo Tuy nhiên, HS lớp 10 với độtuổi mới lớn, tâm lý hay dao động, có ít nhiều suy nghĩ hoài nghi về kiến thức côdạy đối với thực tiễn Vì vậy, để tạo sự lôi cuốn, sức hấp dẫn, xây dựng cho các

em tâm lý vững vàng, lập trường kiên định, có niềm tin vào cuộc sống Người

GV phải giúp HS biết thường xuyên vận dụng kiến thức đã học vào thực tiễn, đểthêm yêu cuộc sống, sống tốt, làm nhiều việc tốt hơn Để HS làm được điều đóđòi hỏi GV phải chú ý đến từng HS, nắm bắt được từng hoàn cảnh của các em

Trang 32

Từ đó, lựa chọn PPDH sao cho phù hợp nhất và kết hợp nhuần nhuyễn cácphương pháp, kỹ thuật cũng như phương tiện dạy học phù hợp để giảng dạynhững tri thức trừu tượng, khái quát Đối với các khái niệm phạm trù đạo đức thì

GV đưa ra phải rõ ràng, cụ thể, dễ hiểu, vừa sức gắn với thực tiễn càng nhiều thì

HS tiếp thu càng dễ dàng, nhớ ngay tại lớp, và áp dụng được trong hành động,lời nói của mình

Trong nhà trường THPT, việc giảng dạy môn GDCD không chỉ nhằmtrang bị cho HS những kiến thức cơ bản, mà còn giáo dục cho các em hoàn thiệnnhân cách Bên cạnh đó, còn phát huy ở HS tư duy sáng tạo, hình thành ở HS kĩnăng, kĩ xảo, giáo dục kỹ năng sống và liên hệ với thực tế thông qua các tiết học,bài học cụ thể Để HS phát triển năng lực trí tuệ và khả năng tự học trong mỗigiờ học của môn GDCD HS không chỉ được trang bị kiến thức trong SGK màcòn hình thành phẩm chất, tư duy của người lao động mới trong thời đại pháttriển của KH - CN Bởi vậy, GV phải có kiến thức chuyên môn vững vàng, sâusắc không chỉ về lý thuyết của môn học mà còn phải am hiểu về kiến thức thựctiễn để có thể áp dụng trong nội dung của từng bài giảng, từng tiết giảng sao chogiờ học đạt hiệu quả cao nhất

1.1.2.2 Phương thức kết hợp phương pháp thuyết trình với phương pháp nêu vấn đề trong dạy học phần “Công dân với đạo đức” môn Giáo dục công dân lớp 10

Chúng ta biết rằng muốn trở thành GV dạy tốt môn GDCD ở bậc THPTnói chung và môn GDCD lớp 10 nói riêng, mỗi GV phải không ngừng học hỏi

và biết kết hợp các PPDH tích cực Trong đó, kết hợp PPTT với PPNVĐ là yêucầu tất yếu trong quá trình dạy học của mỗi GV Trên thực tế trước đây, GVthường chỉ sử dụng PPTT và phương pháp đàm thoại nên HS tiếp cận bài họcthường rập khuôn, ít tư duy sáng tạo, sự hứng thú không cao dẫn đến hiệu quảtiếp thu kiến thức của HS chưa đạt kết quả cao nhất Bởi vậy, để giúp HS pháthuy được tính sáng tạo, chủ động dễ lôi cuốn HS vào giờ học, thì GV cần rèn

Trang 33

luyện cho HS kĩ năng tư duy, kĩ năng ứng xử, kĩ năng xử lý tình huống Người

GV cần biết kết hợp PPTT với PPNVĐ trong quá trình giảng dạy để phát huynhững ưu điểm đó

Tuy nhiên, để kết hợp hai phương pháp này đạt hiệu quả cao thì GV cũngcần thấy rõ một số hạn chế nhất định như: HS vốn quen với PPTT giáo viên sửdụng nhiều ở phần Triết học Khi GV đưa ra các tình huống có vấn đề để các emsuy nghĩ tìm ra hướng giải quyết có thể bước đầu các em còn bỡ ngỡ Vì vậy,trong quá trình thực hiện bài giảng GV cần sử dụng PPTT để thuyết minh, phântích, gợi mở một vấn đề, một quan điểm, một nguyên lý, quy luật nào đó rồi đưa

ra những câu hỏi hay đặt ra vấn đề có tính nghịch lý, mâu thuẫn giữa kiến thức,kinh nghiệm đã có của HS để HS suy nghĩ giải quyết vấn đề Hoặc GV đưa tìnhhuống tạo ấn tượng, lôi cuốn, thu hút HS, sau đó giảng giải, phân tích và đi đếnkết luận về nội dung tri thức Song dù thế nào cũng bao gồm những hình thức sau:

Thứ nhất, hình thức trình bày nêu vấn đề: Đây là mức độ thấp nhất trong

dạy học nêu vấn đề Trong thực hiện quá trình giảng dạy GV dùng lời nói, ngônngữ, truyền thụ nội dung kiến thức trừu tượng và khái quát cao GV dường nhưphải thực hiện toàn bộ các bước của PPNVĐ qua đó HS hiểu biết thu nhận trithức mới

Thứ hai, hình thức thuyết trình tìm tòi bộ phận: Là hình thức được dùng

để giải quyết từng phần của từng bài Sau khi dùng lời nói đưa HS vào tìnhhuống có vấn đề, GV hướng dẫn HS tìm ra phương pháp tốt nhất để HS tự giảiquyết vấn đề

Thứ ba, nêu vấn đề toàn bộ: Đây là hình thức có mức độ cao nhất trong

PPDH nêu vấn đề Dưới sự dẫn dắt khéo léo của GV, HS tự mình giải quyếttoàn bộ vấn đề được nêu trong bài giảng

Như vậy, PPTT có giá trị như một công cụ để chuyển tải thông tin từngười dạy đến người học, làm cho nhận thức của HS đi từ chổ chưa có nhu cầutìm hiểu tri thức đến có nhu cầu, rồi gặp phải những mâu thuẫn nội tại trong

Trang 34

nhận thức của bản thân sau đó thì nhận thức được vấn đề học tập Việc chuyểnbài toán nhận thức vào nhận thức của HS, giúp HS giải quyết mâu thuẫn trongnhận thức và tiếp thu tri thức trong bài học, đòi hỏi GV phải có những thủ pháp,những công cụ sư phạm hữu hiệu, tiện dụng, chủ yếu được thực hiện bằng PPTTthông qua ngôn ngữ nói.

Để đảm bảo sự kết hợp hai PPTT với PPNVĐ là đúng đắn và đem lại hiệuquả cao cho hoạt động dạy - học, GV cần phải nắm vững và đảm bảo thực hiệncác nguyên tắc sau:

Một là: kết hợp PPTT với PPNVĐ cần xác định rõ mục tiêu và trọng tâm của bài giảng; đây là yêu cầu bắt buộc chung đối với bất kỳ GV nào trong quá

trình chuẩn bị giáo án và cả trong khi tiến hành giảng dạy Từ đó xác địnhphương pháp, sử dụng phương tiện dạy học cho hiệu quả Trong trường THPTthông qua chức năng, nhiệm vụ, nội dung, mục tiêu dạy học của môn GDCDphải được xây dựng trên cơ sở mục tiêu giáo dục của cấp học bao gồm chuẩnkiến thức, kỹ năng thái độ Mục tiêu dạy học của bộ môn phải được xây dựngtrên cơ sở lý luận và thực tiễn, phải quán triệt mục tiêu chung của cấp THPT.Đảm bảo được nguyên tắc này giúp GV luôn thực hiện đúng và đầy đủ mục tiêucủa môn học

Hai là: kết hợp PPTT với PPNVĐ giáo viên phải đảm bảo tính lôgic chặt chẽ và tính hoa học của tri thức môn học

Hoạt động dạy và học là hai nhân tố cơ bản nằm trong cấu trúc hệ thốngcủa quá trình dạy học Mỗi hoạt động tồn tại với tư cách là một hệ thống baogồm các yếu tố cấu thành nên chúng Tính hệ thống được thể hiện ở các bước,các khâu phải được liên kết với nhau theo một trình tự lôgic xác định, đảm bảoyếu tố trước là tiền đề điều kiện, nền tảng cho việc giải quyết các yếu tố sau.Thước đo thành công của mỗi bài giảng chính là mức độ hứng thú, khả nănglĩnh hội tri thức và khả năng vận dụng tri thức vào thực tiễn cuộc sống của HS

Để làm được điều này, trước hết GV phải bảo đảm tính khoa học, hệ thống lôgic

Trang 35

của bài giảng Môn GDCD là một hệ thống tri thức mang tính khoa học sâu sắc,

có mối quan hệ biện chứng với nhau, vì vậy GV phải đảm bảo tính hệ thốnglôgic của bài giảng

Ba là: kết hợp PPTT với PPNVĐ giáo viên phải biết tạo ra tình huống có vấn đề để kích thích tính chủ động, tính sáng tạo của HS.

Trong dạy học việc kết hợp PPTT và PPNVĐ là giải pháp tốt nhất đểkhắc phục những yếu điểm của hai phương pháp này Phụ thuộc vào nội dungtừng bài, từng phần cụ thể Đối với PPTT, GV sử dụng để truyền thụ nội dungkiến thức khái niệm, các phạm trù đạo đức cho HS Còn đối với PPNVĐ, GV sửdụng để khai thác được tính tích cực, sáng tạo, chủ động của HS, khi đưa ra một

số tình huống có vấn đề Sau khi HS đã nắm được kiến thức cơ bản hoặc giảiquyết được các tình huống, thì GV đi đến kết luận vấn đề và đưa ra kiến thức cơbản HS cần nắm được

Ví dụ: Bài 14: “Công dân với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”.Sau khi sử dụng PPTT giới thiệu khái niệm lòng yêu nước, GV sử dụngPPNVĐ đưa ra các tình huống để HS tự giải quyết tình huống: Trong bài dự thi

“Tuổi trẻ tình yêu biển đảo quê hương” đã viết: Biển đảo là phần máu thịt của

Tổ quốc Vì vậy, có muôn vàn trái tim ngày đêm hướng về biển đảo, dành tìnhyêu cho những người lính biển cùng các chiến sĩ, các lực lượng ngày đêm bảo

vệ chủ quyền biển đảo nước nhà Những tưởng biển đảo bình yên với nhữngcon sóng nhẹ xô bờ, vì thế những ngày tháng này cả nước đang chống chịu vớicơn sóng ngầm, bão giông, sóng gió chưa bao giờ lặng im trên mảnh đất xanhcủa tổ quốc…” Hãy viết cảm xúc của mình khi đọc những dòng tâm sự ấy Saukhi HS viết lên cảm xúc của mình GV chọn lọc, rút ra kết luận lòng yêu nướcbắt nguồn từ đâu? GV đưa ra tình huống đối với biểu hiện đầu tiên của lòngyêu nước và từ tình huống đó GV yêu cầu HS tương tự xây dựng các tìnhhuống để lớp cùng giải quyết Sau đó, GV sử dụng PPTT đưa ra năm biểu hiện

cơ bản của lòng yêu nước

Trang 36

Bốn là: kết hợp PPTT với PPNVĐ để đảm bảo nguyên tắc tính vừa sức

Nguyên tắc này đòi hỏi dạy học phải phụ thuộc vào đối tượng HS từnglớp Đối với những lớp mà phần lớn HS có trình độ tiếp thu chỉ ở mức độ yếu vàtrung bình, GV nên sử dụng PPTT là chủ yếu Còn những lớp mà phần lớn HS

có khả năng tiếp thu ở mức độ khá, giỏi GV nên sử dụng PPNVĐ là chính đểphát huy tính tích cực, chủ động của HS Với nội dung kiến thức ở bài 14 khitìm hiểu các biểu hiện của lòng yêu nước Nếu lớp đa số các em tiếp thu ở mức

độ khá GV nên xây dựng các tình huống có vấn đề liên quan đến từng biểu hiệncủa lòng yêu nước để HS tự giải quyết tình huống và rút ra được kiến thức cơbản, từ đó thêm yêu cuộc sống và yêu đất nước Tuy nhiên, với những lớp đa sốcác em tiếp thu ở mức độ trung bình, GV cần sử dụng PPTT để giới thiệu biểuhiện của lòng yêu nước rồi đưa ra và phân tích các tình huống liên quan đến cácbiểu hiện lòng yêu nước trong cuộc sống hàng ngày

Trong quá trình dạy học, việc lựa chọn nội dung, phương pháp và hìnhthức tổ chức dạy học, việc nâng cao dần độ khó trong học tập tương ứng vớigiới hạn cao nhất của vùng phát triển trí tuệ gần nhất nhằm tạo nên sự căngthẳng về mặt trí lực, thể lực một cách phù hợp với đặc điểm lứa tuổi, đặc điểm

cá biệt chính là nguyên tắc tính vừa sức trong dạy học Nói cách khác, nguyêntắc vừa sức trong dạy học được quan niệm là quá trình dạy học phù hợp vớitrình độ tiếp thu tri thức mới của HS, kích thích, thúc đẩy và đi trước sự pháttriển trí tuệ của HS

Vừa sức trong dạy học không thể hiểu đơn giản là sức HS đến đâu thì dạyđến đó mà bao giờ dạy học cũng đề ra những nhiệm vụ khó khăn mà dưới chỉđạo của GV thì HS bằng sự nổ lực của mình có thể khắc phục được Cần lưu ýrằng mức độ khó trong học tập của HS khác với sự quá tải về mặt trí lực và thểlực Bởi vì, sự quá tải đó sẽ làm yếu đi sự nổ lực ý chí, làm HS sớm bị mệt mỏitrong học tập, khả năng học tập sẽ bị hạ thấp Vì vậy, trong quá trình kết hợp

GV phải xây dựng tình huống có vấn đề phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý, khả

Trang 37

năng nhận thức của HS Từ đó, tạo động lực thúc đẩy HS suy nghĩ, tìm tòi, giảiquyết vấn đề và vận dụng trong thực tiễn.

Như vậy, trên cơ sở phân tích ưu điểm, hạn chế của PPTT và PPNVĐ, đặcthù môn GDCD nói chung và phần “Công dân với đạo đức” nói riêng, chúng tôinhận thấy: việc kết hợp PPTT với PPNVĐ là vô cùng quan trọng và cần thiếttrong bối cảnh hiện nay Bởi mỗi phương pháp đều có ưu điểm, hạn chế riêng,việc kết hợp đúng đắn không chỉ hạn chế được nhược điểm của mỗi phươngpháp mà còn bổ sung cho nhau, tạo hiệu quả cao trong dạy và học

1.2 Cơ sở thực tiễn của việc kết hợp phương pháp thuyết trình với phương pháp nêu vấn đề trong dạy học phần “Công dân với đạo đức” môn Giáo dục công dân lớp 10 tại các trường Trung học Phổ thông trên địa bàn thị xã Cửa Lò, tỉnh Nghệ An

1.2.1 Khái quát về các trường Trung học Phổ thông trên địa bàn thị xã Cửa Lò, tỉnh Nghệ An

Thị xã Cửa Lò, tỉnh Nghệ An là một đô thị du lịch biển, được thành lậptheo nghị định 113/CP ngày 29/8/1994 của Chính phủ Cửa Lò nổi tiếng với bãibiển, khu nghĩ mát và cảng biển sầm uất Với diện tích: 27,81km và dân số70.390 người Với tiềm năng và lợi thế từ tự nhiên ban tặng, người dân ở đâycần cù, chăm chỉ lao động, học tập với mong muốn con em mình trưởng thànhgóp phần xây dựng quê hương, đất nước Đáp ứng nguyện vọng của nhân dânthị xã, đáp ứng yêu cầu của việc xây dựng và phát triển thị xã, trường THPTCửa Lò và trường THPT Cửa Lò 2 ra đời

* Quá trình xây dựng và phát triển trường THPT Cửa Lò

Tháng 07 năm 1995 UBND tỉnh Nghệ An ra quyết định thành lập trườngTHPT Cửa Lò Trong những năm đầu, với những khó khăn về cơ sở vật chất, đa

số GV nhà xa, con nhỏ Nhưng cán bộ GV, nhân viên nhà trường quyết tâm thựchiện lời dạy của Bác Hồ “Dù khó khăn đến đâu cũng phải thi đua dạy tốt học

Trang 38

tốt” động viên, khuyến khích cùng nhau xây dựng nhà trường và được đứng tốpđầu của các trường ngoài công lập ở những năm đầu của thế kỷ 21

Trải qua 19 năm phấn đấu và trưởng thành, trường THPT Cửa Lò đã cóbước phát triển đáng tự hào: từ lễ khai giảng đầu tiên chỉ với 18 cán bộ, GV và

352 học sinh khóa 1 Đến nay, trường đã có 30 lớp, với 1.371 học sinh và 77 cán

bộ, GV Có 01 phòng thư viện điện tử, 03 phòng thí nghiệm thực hành, 01 nhà

đa chức năng, có 05 bộ máy chiếu để phục vụ cho việc giảng dạy Được sự chỉđạo thực hiện công tác chuyên môn cũng như xây dựng kế hoạch, chỉ tiêu cụ thểtừng học kỳ, năm học của BGH nhà trường và sự nhiệt tình, tâm huyết của độingũ cán bộ GV, công nhân viên đã đem lại những thành tích nổi bật Có 02 giáoviên được phong tặng nhà giáo ưu tú, 01 giáo viên dạy giỏi quốc gia, 07 chiến sỹthi đua cấp tỉnh, 15 chiến sỹ thi đua cấp cơ sở, 01 giải thưởng sáng tạo KHCNcấp tỉnh Được UBND tỉnh tặng nhiều bằng khen; Bộ Giáo dục và Đào tạo,Chính phủ tặng cờ thi đua, và cộng nhận trường đạt chuẩn quốc gia giai đoạn2001- 2010, là trường chuẩn quốc gia đầu tiên của tỉnh Nghệ An ở bậc THPT.Càng vinh dự, phấn khởi và tự hào hơn khi trường được Chủ tịch nước tặngthưởng huân chương lao động hạng Nhì và hiệu trưởng nhà trường NGƯT PhạmThị Thành được nhận danh hiệu chiến sỹ thi đua toàn quốc đúng vào dịp kỷniệm 15 năm thành lập Với sự nỗ lực hết mình của HS, hàng năm chất lượngcuối năm được nâng lên rõ rệt so với đầu vào Số HS giỏi và HS tiên tiến cuốinăm đạt hơn 72% trong đó HS yếu kém chỉ là 1,3% Trường có nhiều HS đạtgiải HS giỏi cấp tỉnh cụ thể:

- Năm học 2010 - 2011: HS giỏi cấp tỉnh có 21 em đạt 75%, trong cuộcthi olympic có 02 em giải ba, 02 em giải khuyến khích Thi OIE qua mạng đạt

01 em giải nhất, 02 em giải nhì, 01 em khuyến khích

- Năm học 2011 - 2012: có 22 em đạt HS giỏi cấp tỉnh, trong đó có 01 emgiải nhất, 05 em giải nhì, 12 em giải ba và 04 em giải khuyến khích Thi olympic

Trang 39

Vật Lý khối 11 có 03 em đạt giải, thi Tiếng Anh qua mạng có 01 em giải nhì, 05

em giải ba Đội bóng đá nam đạt giải nhì trong Hội Khỏe Phù Đổng của tỉnh

- Năm học 2012 - 2013: HS giỏi tỉnh có 02 em giải nhất, 07 em giải nhì,

08 em giải ba, 02 em giải khuyến khích (xếp tốp đầu các trường có thành tích

cao nhất toàn tỉnh)

- Năm học 2013- 2014: HS giỏi quốc gia có 03 em giải toàn năng HộiThao QPTD, giải cá nhân 01 em giải nhất, 03 em giải nhì, 02 em giải ba, (Xếpthứ 9/36 tỉnh thành phố trong cả nước tham gia) HS giỏi tỉnh đạt 28 em trong đó

05 em giải nhì, 10 em giải ba, 13 em giải khuyến khích (Xếp thứ 7/64 trường dựthi bảng A) Trong cuộc thi Tiếng Anh IOE 01 em giải khuyến khích cấp quốcgia, 01 em giải nhì, 02 em giải ba thuộc cấp tỉnh

- Trong 3 năm học gần đây tỷ lệ tốt nghiệp của nhà trường luôn đạt 100%;

tỷ lệ thi đậu đại học, cao đẳng luôn đạt từ 70% trở lên

Với sự phấn đấu không ngừng của các cán bộ, GV của nhà trường Sẽ làđộng lực quyết tâm phấn đấu xây dựng trường THPT Cửa Lò thành đơn vị Anhhùng trong thời kỳ đổi mới

+ Tình hình đội ngũ giáo viên:

Năm học 2013 - 2014 trường có 71 cán bộ GV, công nhân viên, trong đó

54 Đảng viên 100% GV có trình độ đạt chuẩn, 24 GV có trình độ thạc sĩ và 12giáo viên đang theo học Cao học Môn GDCD có 02 giáo viên trong đó có 01giáo viên dạy giỏi cấp Tỉnh và có 01 giáo viên đang theo học Cao học Nhiều

GV đã từng đạt GV dạy giỏi cấp Tỉnh (có 27/65 giáo viên) Nhiều GV đủ nănglực để bồi dưỡng HS giỏi, bồi dưỡng học sinh thi ĐH - CĐ

Hầu hết GV nhiệt tình trong công tác giáo dục, thi đua dạy và học trởthành phong trào thường xuyên của nhà trường Việc rèn luyện đức dục, trí dụccho HS vừa là trách nhiệm, vừa là nghĩa vụ của mỗi thầy cô giáo Cuối năm họctrường THPT Cửa Lò có 69/71 cán bộ giáo viên được đề nghị danh hiệu LĐTT,

15 cán bộ, giáo viên được đề nghị CSTĐ cơ sở, 03 cán bộ, giáo viên được đề

Trang 40

nghị CSTĐ cấp tỉnh Trong quá trình công tác đội ngũ giáo viên trong nhàtrường luôn nêu cao tình thần tự học, tự bồi dưỡng để nâng cao trình độ chuyênmôn, nghiệp vụ Hàng năm 100% giáo viên tham gia các đợt tập huấn chuyênmôn, nghiệp vụ do Sở Giáo dục và Đào tạo tổ chức như tập huấn đổi mớiphương pháp giảng dạy, các chuyên đề sử dụng kỹ thuật dạy học tích cực; thaysách; phổ biến giáo dục pháp luật; tư vấn tâm lý học đường; giáo dục hòa nhậptrẻ khuyết tật; phòng chống tham nhũng; tích hợp môi trường trong môn GDCD.

Vì vậy, tạo nhiều thuận lợi cho GV trong việc nâng cao chuyên môn, ứng dụngCNTT và sử dụng PPDH trong giảng dạy bộ môn Trong giảng dạy GV chútrọng đổi mới phương pháp giảng dạy cũng như ứng dụng CNTT, kỹ thuật dạyhọc, sử dụng đồ dùng dạy học phù hợp với từng môn, từng bài, từng tiết học cụthể Trong năm học các tổ thường xuyên tổ chức lựa chọn các bài khó để thaogiảng dự giờ, qua các giờ thao giảng tổ chuyên môn đóng góp ý kiến, rút kinhnghiệm để giờ giảng sau có kết quả cao hơn BGH nhà trường thường xuyên dựgiờ đột xuất GV để kiểm tra, đánh giá, góp ý giờ giảng Tổ, nhóm chuyên mônhọp lên kế hoạch, thống nhất ra đề kiểm tra bám sát chương trình Hàng năm, đồdùng dạy học cũng như sáng kiến kinh nghiệm của GV đều được hội đồng khoahọc nhà trường ghi nhận, có nhiều đồ dùng và sáng kiến kinh nghiệm được đánhgiá cao và gửi lên hội đồng khoa học của Sở Giáo dục và Đào tạo

+ Tình hình học sinh:

Trường THPT Cửa Lò là trường chuẩn đầu tiên của tỉnh, nên có bề dàytruyền thống giảng dạy tốt, học tốt Cơ sở vật chất khang trang, là điều kiện thuhút được các em học sinh ưu tú của cả thị xã Cửa Lò và một số xã của huyệnNghi Lộc Chất lượng đầu vào khá cao, đa số các em là con của các gia đìnhcông chức, được gia đình quan tâm nên có ý thức học tập tốt, ngoan ngoãn, lễphép Tuy nhiên, cũng có một số HS nhà xa như Nghi Hợp, Nghi Tân…một số

em gia đình khó khăn thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo, bố thường đi biển, nên họctập cũng gặp rất nhiều khó khăn Để phát huy những thuận lợi và khắc phục

Ngày đăng: 19/07/2015, 18:48

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2008), SGK GDCD 10, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: SGK GDCD 10
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2008
2. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2008), SGV GDCD lớp 10, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: SGV GDCD lớp 10
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2008
3. Bộ Giáo dục và đào tạo (2005), Luật Giáo dục, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Giáo dục
Tác giả: Bộ Giáo dục và đào tạo
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2005
4. Bộ giáo dục và Đào tạo (2003), Tài liệu đổi mới phương pháp dạy học môn GDCD THPT, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu đổi mới phương pháp dạy học mônGDCD THPT
Tác giả: Bộ giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2003
5. Nguyễn Đăng Bằng (chủ biên) (2001), Góp phần dạy tốt, học tốt môn GDCD ở trường THPT, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Góp phần dạy tốt, học tốt mônGDCD ở trường THPT
Tác giả: Nguyễn Đăng Bằng (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2001
6. PGS.TS Nguyễn Ngọc Bảo (1995), Phát huy tính tích cực, tính tự lực của học sinh trong quá trình dạy học, Bộ Giáo dục và đào tạo, Vụ giáo viên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát huy tính tích cực, tính tự lực củahọc sinh trong quá trình dạy học
Tác giả: PGS.TS Nguyễn Ngọc Bảo
Năm: 1995
7. Vũ Đình Bảy (chủ biên), Trần Quốc Cảnh, Đặng Xuân Điều, Nguyễn Thành Minh (2010), Bài tập GDCD 10, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài tập GDCD 10
Tác giả: Vũ Đình Bảy (chủ biên), Trần Quốc Cảnh, Đặng Xuân Điều, Nguyễn Thành Minh
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2010
8. Vũ Đình Bảy (2010), Phương pháp dạy học môn GDCD ở trường THPT, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học môn GDCD ở trường THPT
Tác giả: Vũ Đình Bảy
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2010
9. Phùng Văn Bộ (Chủ biên) (1999), Lý luận dạy học môn GDCD, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận dạy học môn GDCD
Tác giả: Phùng Văn Bộ (Chủ biên)
Nhà XB: Nxb Đạihọc Quốc gia Hà Nội
Năm: 1999
10. Nguyễn Văn Cư (Tổng chủ biên), Vũ Đình Bảy (chủ biên), Đinh Văn Đức (chủ biên), Đặng Xuân Điều - Nguyễn Thành Minh (2009), Hướng dẫn giảng dạy môn GDCD lớp 10 theo chuẩn kiến thức kĩ năng thái độ, Nxb Đại học Sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫngiảng dạy môn GDCD lớp 10 theo chuẩn kiến thức kĩ năng thái độ
Tác giả: Nguyễn Văn Cư (Tổng chủ biên), Vũ Đình Bảy (chủ biên), Đinh Văn Đức (chủ biên), Đặng Xuân Điều - Nguyễn Thành Minh
Nhà XB: NxbĐại học Sư phạm Hà Nội
Năm: 2009
11. Nguyễn Văn Cư - Nguyễn Duy Nhiên (2008), Dạy và học môn GDCD trường THPT những vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb Đại học Sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy và học môn GDCDtrường THPT những vấn đề lý luận và thực tiễn
Tác giả: Nguyễn Văn Cư - Nguyễn Duy Nhiên
Nhà XB: Nxb Đại học Sư phạmHà Nội
Năm: 2008
13. Nguyễn Nghĩa Dân (1998), Đổi mới phương pháp dạy học môn đạo đức và GDCD, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới phương pháp dạy học môn đạo đức vàGDCD
Tác giả: Nguyễn Nghĩa Dân
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1998
14. Hồ Thanh Diện -Vũ Xuân Vinh, bài tập tình huống GDCD lớp 10, Nxb Giáo Dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: bài tập tình huống GDCD lớp 10
Nhà XB: NxbGiáo Dục
16. Nguyễn Đức Doãn (2009), "Những vấn đề còn bất cập trong dạy học môn GDCD ở trường THPT", Tạp chí Giáo dục, số 223 kỳ I(10/2009) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề còn bất cập trong dạy học mônGDCD ở trường THPT
Tác giả: Nguyễn Đức Doãn
Năm: 2009
17. Vương Tất Đạt (1994), Phương pháp dạy học môn GDCD, Nxb Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học môn GDCD
Tác giả: Vương Tất Đạt
Nhà XB: Nxb Hà Nội
Năm: 1994
18. Đinh Văn Đức - Dương Thị Thuý Nga (Đồng chủ biên) (2009), Phương pháp dạy học môn GDCD ở trường THPT, Nxb Đại học Sư phạm Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phươngpháp dạy học môn GDCD ở trường THPT
Tác giả: Đinh Văn Đức - Dương Thị Thuý Nga (Đồng chủ biên)
Nhà XB: Nxb Đại học Sư phạm Hà nội
Năm: 2009
19. Đặng Thành Hưng (2002), Dạy học hiện đại, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy học hiện đại
Tác giả: Đặng Thành Hưng
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia
Năm: 2002
20. Nguyễn Hữu Khải (chủ biên) (2008), Hướng dẫn thực hiện chương trình môn Giáo dục công dân 10, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn thực hiện chương trìnhmôn Giáo dục công dân 10
Tác giả: Nguyễn Hữu Khải (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2008
21. Nguyễn Kì (chủ biên) (1995), Phương pháp giáo dục tích cực lấy người học làm trung tâm, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp giáo dục tích cực lấy ngườihọc làm trung tâm
Tác giả: Nguyễn Kì (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1995
22. Lê Thị Lan (2011), Tích cực hóa phương pháp thuyết trình trong giảng dạy học phần Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác Lênin (Phần thứ nhất), Luận văn Cao học, Ttrường Đại học Sài Gòn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tích cực hóa phương pháp thuyết trình trong giảng dạyhọc phần Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác Lênin (Phần thứnhất)
Tác giả: Lê Thị Lan
Năm: 2011

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

BẢNG DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT VẮT - Kết hợp phương pháp tuyết trình với phương pháp nêu vấn đề trong dạy học phần công dân với đạo đức môn giáo dục công dân lớp 10 tại các trường trung học phổ thông trên địa bàn thị xã cửa lò, tỉnh nghệ an
BẢNG DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT VẮT (Trang 6)
Bảng 1.4. Kết quả bộ môn Giáo dục công dân năm học 2013 - 2014 - Kết hợp phương pháp tuyết trình với phương pháp nêu vấn đề trong dạy học phần công dân với đạo đức môn giáo dục công dân lớp 10 tại các trường trung học phổ thông trên địa bàn thị xã cửa lò, tỉnh nghệ an
Bảng 1.4. Kết quả bộ môn Giáo dục công dân năm học 2013 - 2014 (Trang 48)
Đồ thị 2.1. Biểu diễn tổng hợp kết quả điểm kiểm tra 15 phút lần 1 - Kết hợp phương pháp tuyết trình với phương pháp nêu vấn đề trong dạy học phần công dân với đạo đức môn giáo dục công dân lớp 10 tại các trường trung học phổ thông trên địa bàn thị xã cửa lò, tỉnh nghệ an
th ị 2.1. Biểu diễn tổng hợp kết quả điểm kiểm tra 15 phút lần 1 (Trang 71)
Bảng 2.3. Tổng hợp kết quả điểm kiểm tra 15 phút lần 1 và lần 2 tại lớp  thực nghiệm và lớp đối chứng trường THPT Cửa Lò và THPT Cửa Lò 2, - Kết hợp phương pháp tuyết trình với phương pháp nêu vấn đề trong dạy học phần công dân với đạo đức môn giáo dục công dân lớp 10 tại các trường trung học phổ thông trên địa bàn thị xã cửa lò, tỉnh nghệ an
Bảng 2.3. Tổng hợp kết quả điểm kiểm tra 15 phút lần 1 và lần 2 tại lớp thực nghiệm và lớp đối chứng trường THPT Cửa Lò và THPT Cửa Lò 2, (Trang 71)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w