dung, biện pháp cơ bản về giáo dục kỹ năng sống ở trường phổ thông; tác giảPhan Thanh Vân có bài viết Tích hợp mục tiêu giáo dục kỹ năng sống trong hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp [
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
TRẦN THỊ DUNG
HÌNH THÀNH VÀ CỦNG CỐ KỸ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG QUA DẠY HỌC
VĂN HỌC VIỆT NAM TRUNG ĐẠI
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
CHUYÊN NGÀNH : lý luËn vµ ph¬ng ph¸p d¹y häc Bé m«n v¨n vµ tiÕng viÖt
MÃ SỐ: 60.14.01.11
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS PHẠM TUẤN VŨ
NGHỆ AN- 2014
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Nhiệm vụ nghiên cứu 2
3 Lịch sử vấn đề 3
4 Giới hạn nghiên cứu 7
5 Phương pháp nghiên cứu 7
6 Đóng góp mới của đề tài 7
7 Cấu trúc luận văn 7
Chương 1.CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 8
1.1 Cơ sở lý luận 8
1.1.1 Khái niệm kỹ năng sống và và tầm quan trong của việc giáo dục kỹ năng sống cho học sinh THPT 8
1.1.2 Khả năng,quan điểm và mục tiêu giáo dục kỹ năng sống trong môn Ngữ văn ở trường THPT 14
1.2 Cở sở thực tiễn 17
1.2.1 Thực trạng giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trung học phổ thông qua giờ dạy văn 17
1.2.2 Những thuận lợi, khó khăn của việc dạy học văn học Việt Nam trung đại ở trung học phổ thông hiện nay 18
1.2.3 Vị trí và cấu trúc chương trình của việc dạy học văn học Việt Nam trung đại ở trường trung học phổ thông 21
Chương 2.NỘI DUNG CÁC KĨ NĂNG SỐNG VÀ PHƯƠNG PHÁP HÌNH THÀNH, CỦNG CỐ KĨ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG QUA DẠY HỌC VĂN HỌC VIỆT NAM TRUNG ĐẠI 28
2.1 Xác định các kỹ năng sống có thể giáo dục cho học sinh THPT qua dạy học văn học Việt Nam trung đại 28
2.1.1 Nguyên tắc xác định nội dung hình thành và củng cố kỹ năng sống 28
2.1.2 Xác định các kĩ năng sống cần hình thành và củng cố cho học sinh THPT qua dạy học văn học Việt Nam trung đại 28
Trang 32.2 Nội dung hình thành kĩ năng sống cho học sinh THPT trong các tác phẩm
văn học trung đại 40
2.2.1 Rèn luyện kĩ năng sống qua mối quan hệ giữa cá nhân và xã hội 40
2.2.2 Những kỹ năng thể hiện mối liên hệ giữa con người và thiên nhiên qua văn học trung đại Việt Nam được dạy học ở THPT 48
2.2.3 Rèn luyện kỹ năng sống thể hiện mối liên hệ giữa bản thân với chính mình 52
2.3 Phương pháp hình thành và củng cố kĩ năng sống cho học sinh THPT qua dạy học văn học trung đại Việt Nam 58
2.3.1 Khái niệm phương pháp dạy học 58
2.3.2 Một số phương pháp hình thành và củng cố kỹ năng sống cho học sinh THPT qua dạy học văn học Việt Nam trung đại 59
Chương 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 82
3.1 Mục đích thực nghiệm 82
3.2 Thiết kế một số giáo án thể nghiệm văn học Việt Nam trung đại 82
3.2.1 Giáo án thứ nhất: CẢNH NGÀY HÈ 82
3.2.2 Giáo án thứ hai: VÀO PHỦ CHÚA TRỊNH 91
3.2.3.Giáo án thứ ba: BÀI CA NGẤT NGƯỞNG 100
3.3 Khảo sát đánh giá thể nghiệm 108
3.3.1 Mục tiêu, phương pháp và đối tượng: 108
3.3.2 Thời gian thực nghiệm 109
3.3.3 Quy trình thực nghiệm 109
3.4 Đánh giá kết quả khảo sát 110
3.4.1 Kết quả định tính 110
3.4.2 Kết quả định lượng (thu được qua các bài kiểm tra) 111
3.4.3 Đánh giá chung 116
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 118
TÀI LIỆU THAM KHẢO 120
Trang 5Trước đây, trong bối cảnh xã hội truyền thống, những người trẻ tuổi họccách đối nhân xử thế thông qua đại gia đình, làng xã, văn hóa dân gian, cácchương trình giáo dục chính quy và không chính quy,… Nhưng dưới nhữngchuyển biến kinh tế xã hội diễn ra nhanh chóng đã hạn chế phần nào chức năngcủa giáo dục gia đình và các thiết chế truyền thống Hơn thế nữa những biếnđộng kinh tế xã hội ngày càng to lớn do quá trình hiện đại hóa đem lại cho lứatuổi thiếu niên nhiều thử thách Để giải quyết những thử thách mà thiếu niênphải đối mặt thì thiếu niên không những chỉ chuẩn bị các kỹ năng để lĩnh hộikiến thức (nghe, nói, đọc, viết, …) mà đó còn là khả năng ứng phó một cách cóhiệu quả trước những thách thức của cuộc sống Đó cũng là khả năng của một
cá nhân để duy trì một trạng thái khỏe mạnh về mặt tinh thần, biểu hiện cụ thểbởi các hành vi phù hợp và tích cực với người khác, với nền văn hóa và vớimôi trường xung quanh Chính vì thế,hiện nay việc giáo dục kỹ năng sống chohọc sinh đang được không chỉ nhà trường mà còn cả xã hội quan tâm
Trang 61.2 Giáo dục kỹ năng sống cho học sinh từ việc dạy học Ngữ văn cónhiều thuận lợi “Văn học là nhân học” (M.Gorki) Bằng những hình tượngnghệ thuật sinh động,văn học đưa lại cho người đọc những hiểu biết về tựnhiên,về xã hội,về những người khác và về bản thân,từ đó hình thành củng cố,phát triển hoặc điều chỉnh kỹ năng sống Tất nhiên các nền văn học,các thểloại và tác phẩm có những đặc điểm riêng trong việc giáo dục kỹ năng sốngcho học sinh Nghiên cứu đề tài này hướng về mục tiêu đó.
1.3 Tác giả luận văn là một giáo viên Ngữ văn tại một trường THPT.Nghiên cứu đề tài này nhằm nâng cao chất lượng công tác của bản thân vàgóp phần nâng cao chất lượng dạy học Ngữ văn nói chung và dạy học văn họcViệt Nam trung đại nói riêng
Từ những vấn đề trên, có thể thấy việc cung cấp kĩ năng sống cho họcsinh qua giờ dạy học văn, đặc biệt là văn học trung đại Việt Nam là hết sứcquan trọng và cần thiết Tuy nhiên cho đến nay, chưa có một công trình nàonghiên cứu một cách hệ thống vấn đề này Từ thực tế đó,tôi thực hiện đề tàinày với mong muốn đưa ra một cái nhìn hệ thống các phương pháp rèn luyện
kĩ năng sống cho các em qua giờ dạy, học văn văn học Việt Nam trung đại
2 Nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Như tên đề tài đã xác định, mục đích của đề tài là hình thành vàcủng cố kỹ năng sống, đề xuất những phương pháp rèn luyện kỹ năng sốngcho học sinh THPT qua giờ dạy, học văn học Việt Nam trung đại
3.2 Với mục đích đó, đề tài đặt ra nhiệm vụ:
Thứ nhất, xác lập những cơ sở lí luận và thực tiễn cho việc hình thành
và củng cố kỹ năng sống qua giờ dạy học văn học Việt Nam trung đại
Thứ hai, xác lập những nguyên tắc và phương pháp rèn luyện kỹ năng
sống cho học sinh THPT qua giờ dạy học văn học Việt Nam trung đại
Thứ ba, thiết kế một số giáo án thể nghiệm Trình bày một số thực
nghiệm tập trung kiểm nghiệm những nghiên cứu về đề tài
Trang 73 Lịch sử vấn đề
Dựa vào nguồn tài liệu bao quát được và trong phạm vi quan tâm của
đề tài, tôi điểm lại một số vấn đề cơ bản sau:
3.1 Những ý kiến bàn về rèn luyện kỹ năng sống cho học sinh, sinh viên
Trong cuốn Phương pháp giảng dạy kỹ năng sống của Bùi Văn Trực
và Phạm Thế Hưng [71], các tác giả đã nêu lên những vấn đề chung của giáodục KNS, các phương pháp giảng dạy KNS và một số bài giảng mẫu Đây làtài liệu tham khảo để giáo viên có thể giảng dạy hiệu quả KNS Bên cạnh đó,
giáo viên có thể tham khảo thêm tài liệu Giáo dục kỹ năng sống trong các
môn học ở tiểu học [7] Tài liệu này gồm hai phần: Phần thứ nhất là một số
vấn đề chung về kỹ năng sống và giáo dục KNS cho học sinh trong nhàtrường phổ thông; Phần hai là giáo dục KNS trong các môn học ở lớp 5 Vớitài liệu này người biên soạn nhằm giúp cho giáo viên tiểu học có thêm hiểubiết chung về KNS và nội dung, cách thức giáo dục KNS cho học sinh quacác môn học Tiếng Việt, Đạo đức, Khoa học Cũng đi theo hướng đó là cuốn
Giáo dục kỹ năng sống trong hoạt động ngoài giờ lên lớp ở trường THCS
[52] Cuốn sách này biên soạn nhằm giúp giáo viên THCS có thêm hiểu biếtchung về kỹ năng sống và nội dung, cách thức giáo dục KNS cho học sinh
Các cuốn Bài tập thực hành kỹ năng sống 6 [62] , Bài tập thực hành kỹ năng
sống 7 [63], Bài tập thực hành kỹ năng sống 8 [64], Bài tập thực hành kỹ năng sống 9 [65] của Lưu Thu Thủy chủ biên định hướng cho học sinh rèn
luyện các kỹ năng sống cần thiết, phù hợp với lứa tuổi Đặc biệt, nhóm tác giảcòn thiết kế những dạng bài tập nhẹ nhàng, phong phú, đa dạng để giúp các
em rèn luyện KNS có hiệu quả qua các giờ học
Ngoài những cuốn sách kể trên, còn có nhiều bài báo liên quan đến
vấn đề giáo dục KNS cho lứa tuổi học sinh Cụ thể, bài viết Chương trình
giáo dục kỹ năng sống trong thực tiễn đổi mới giáo dục hiện nay của Tiến sĩ
Trần Anh Tuấn [73] đã nói đến việc triển khai chương trình giáo dục kỹ năngsống được đưa vào trường học vào năm 2010-2011 và đưa ra một số nội
Trang 8dung, biện pháp cơ bản về giáo dục kỹ năng sống ở trường phổ thông; tác giả
Phan Thanh Vân có bài viết Tích hợp mục tiêu giáo dục kỹ năng sống trong
hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp [76], đề cập đến vấn đề giáo dục kỹ
năng sống cho học sinh phổ thông theo quan điểm giáo dục tích hợp, đặc biệt
là hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp; trên Tạp chí Giáo dục có bài Một số
điểm hạn chế trong kỹ năng sống của sinh viên các trường đại học tại thành phố Hồ Chí Minh của Huỳnh Văn Sơn [56] cho rằng: “việc trang bị những kỹ
năng sống cho sinh viên trước khi họ bước vào đời là một việc làm hết sứccấn thiết”, đồng thời tác giả đã đưa ra những điểm hạn chế còn tồn tại trong
kỹ năng sống của sinh viên, từ đó đề xuất một số giải pháp để công tác giáodục kỹ năng sống có hiệu quả; cũng theo hướng đó, Trần Minh Hằng trong
bài Giáo dục kỹ năng sống cho sinh viên hiện nay [26] đã đề cập đến một số
vấn đề như: khái niệm kỹ năng sống, thực trạng KNS của sinh viên hiện nay
và một số biện pháp giáo dục KNS cho sinh viên; từ góc nhìn tâm lý lứa tuổi,
Nguyễn Khắc Hùng có bài viết Giáo dục kỹ năng sống, một yếu tố ngăn ngừa
tội phạm ở trung học phổ thông [32] nêu lên những đặc thù tâm lí lứa tuổi
trung học phổ thông, từ đó lựa chọn nội dung tổ chức thích hợp, phát huy tínhtích cực chủ động của các em trong hoạt động ngoài giờ lên lớp theo định
hướng của mục tiêu giáo dục kỹ năng sống; Bùi Văn Minh trong bài Giáo
dục kỹ năng sống cho thanh niên, sinh viên trường Cao đẳng Hải Dương một yêu cầu cấp thiết [42] đăng trên tạp chí Khoa học giáo dục cho rằng để
-giúp thanh niên, sinh viên trở thành những công dân tốt, làm việc hiệu quả,bên cạnh những kiến thức và kỹ năng chuyên môn nghiệp vụ, cần trang bị cho
họ những kỹ năng xã hội, kỹ năng mềm đa dạng, theo tác giả, phải đưa giáodục kỹ năng sống cho sinh viên vào chương trình đào tạo chính khóa; cũngcách nhìn ấy, Đặng Thị Vân và Nguyễn Huyền Thương của trường Đại học
Nông nghiệp Hà Nội có bài Nhận thức của cha mẹ về tầm quan trọng và biện
pháp giáo dục kỹ năng sống cho thiếu niên [75] đã khai thác nhận thức của cha
mẹ về tầm quan trọng cũng như các biện pháp, hình thức mà họ sử dụng nhằm
Trang 9giáo dục kỹ năng sống cho con; Ngô Công Hoàn với bài Cách tiếp cận nghiên
cứu nghiên cứu kỹ năng sống [29] đã chỉ ra cơ sở khoa học về con người và kỹ
năng sống, bên cạnh đó là cách tiếp cận kỹ năng sống; trong bài Giáo dục kỹ
năng sống cho học sinh trường phổ thông dân tộc bán trú tiểu học ở Lào Cai,
Nguyễn Thị Hài [25] đã nêu lên một số hạn chế về kỹ năng sống của học sinhphổ thông dân tộc bán trú tiểu học Lào Cai và một số hình thức giáo dục kỹ
năng sống cho học sinh nơi đây; Ngô Anh Tuấn và Bùi Thị Hải Lý có bài Xây
dựng quy trình đào tạo kỹ năng mềm tại khoa đào tạo chất lượng cao - Trường Đại học sư phạm kỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh [74] đã đề cao việc trang bị
kỹ năng mềm song song kỹ năng chuyên môn (kỹ năng cứng), đồng thời xâydựng quy trình đào tạo kỹ năng mềm cho sinh viên để bám sát nhu cầu củangười học, nhu cầu của xã hội…; từ góc nhìn của giảng viên đại học, Tạ Quang
Thảo có bài Phát triển kỹ năng mềm cho sinh viên các trường đại học, cao
đẳng, đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động trong giai đoạn hiện nay [60]
cho rằng, trong quá trình tuyển dụng lao động, ngoài kỹ năng nghề nghiệp, kỹnăng mềm cần được các nhà tuyển dụng coi trọng, nó trở thành đòi hỏi tất yếuđối với các trường đại học, cao đẳng trong quá trình đào tạo
3.2 Những ý kiến bàn về rèn luyện kỹ năng sống cho học sinh qua giờdạy, học văn học
Rèn luyện kỹ năng sống qua giờ dạy, học văn là lồng ghép hay tíchhợp giáo dục kỹ năng sống vào bài học Điều này đã ít nhiều được thể hiện
qua một số công trình, bài viết Trong cuốn Giáo dục kỹ năng sống trong môn
Ngữ văn ở trường THCS [49], các tác giả đã định hướng cho giáo viên những
hiểu biết chung về kỹ năng sống và nội dung, cách thức giáo dục KNS cho
học sinh trong môn Ngữ văn ở trường THCS Trong cuốn Giáo dục kỹ năng
sống trong môn Ngữ văn ở trường THPT [50], các tác giả đã chia thành hai
phần: Phần thứ nhất là một số vấn đề chung về KNS cho HS ở trong nhàtrường phổ thông Nội dung cơ bản của phần này gồm: Quan niệm về kỹ năngsống, phân loại kỹ năng sống, tầm quan trọng của việc giáo dục KNS cho HS
Trang 10và định hướng giáo những giáo dục KNS cho học sinh Phần hai là giáo dụcKNS trong môn Ngữ văn ở trường THPT Nội dung cơ bản của phần hai cáctác giả đi vào phân tích khả năng, mục tiêu giáo dục KNS cho HS trong mônNgữ văn ở trường THPT, giới thiệu một số nội dung và địa chỉ các tiếthọc/bài học tiêu biểu có thể thực hiện giáo dục KNS cho từng lớp, một số bàisoạn tham khảo về giáo dục KNS trong môn Ngữ văn ở trường THPT Bài
viết Tích hợp giáo dục những vấn đề khoa học xã hội – nhân văn trong dạy
học Ngữ văn của Vũ Thị Thịnh [61] cho rằng tích hợp giáo dục chủ yếu trong
môn Ngữ văn là tích hợp trong và tích hợp ngoài bộ môn hay là tích hợp theochiều ngang và tích hợp theo chiều dọc Theo bài viết, việc tích hợp giáo dụcngoài môn Ngữ văn chưa được chú ý đúng mức cả về nội dung và phương
pháp giáo dục thích hợp Nguyễn Quang Ninh trong bài Về vấn đề nội dung
và phương pháp giảng dạy một số bộ môn khoa học xã hội và nhân văn với việc góp phần giáo dục nhân cách cho học sinh phổ thông trung học [46] đã
đưa ra ý tưởng lồng ghép giáo dục KNS cho học sinh, đặc biệt là giáo dụcnhân cách thông qua các bộ môn khoa học xã hội, trong đó có môn Ngữ văn
Gần đây đã có một số Luận văn thạc sĩ bước đầu bàn về giáo dục kỹnăng sống cho học sinh qua giờ dạy, học văn Trong số đó, đáng chú ý là luận
văn Rèn luyện kỹ năng mềm cho học sinh THCS qua dạy học văn học nước ngoài [59] của Nguyễn Chính Thành Luận văn đã trình bày khá rõ cơ sở để
hình thành kỹ năng mềm cho học sinh THCS qua dạy văn học nước ngoài,một số nguyên tắc, phương pháp rèn luyện kỹ năng mềm và một số giáo ánthể nghiệm ở chương trình Ngữ văn trung học cơ sở
Điểm lại một số công trình nghiên cứu, bài viết có liên quan, chúng tôinhận thấy cho đến nay, vấn đề rèn luyện kỹ năng sống qua giờ dạy học tácphẩm văn học trung đại Việt Nam ở trường PT chưa có công trình nào nghiêncứu chuyên biệt Những bài viết, những tài liệu tham khảo mới chỉ là định
hướng bước đầu Từ thực tế đó, tôi thực hiện đề tài Hình thành và củng cố kĩ
năng sống cho học sinh THPT qua dạy, học văn học Việt Nam trung đại với
Trang 11mong muốn góp một tiếng nói vào một vấn đề đang được nhiều người quantâm hướng tới, nhất là đối với học sinh ở trường THPT.
4 Giới hạn nghiên cứu
Nghiên cứu nội dung các kỹ năng sống chủ yếu và phương pháp hìnhthành,củng cố các kỹ năng sống đó từ việc dạy học văn học Việt Nam trungđại ở THPT
5 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện nhiệm vụ của đề tài, tôi sử dụng phương pháp lý thuyết
và thực nghiệm khoa học
6 Đóng góp mới của đề tài
Đây là một trong những công trình nghiên cứu đầu tiên về lĩnh vực kỹnăng sống dành cho học sinh trung học phổ thông qua việc dạy học các tácphẩm văn học Việt Nam trung đại.Vì thế, kết quả nghiên cứu sẽ góp phần: 6.1 Về lý luận:
Làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về: kỹ năng sống, biện pháp rèn kỹnăng sống qua việc dạy và học các tác phẩm văn học Việt Nam trung đại 6.2 Về thực tiễn:
- Góp phần làm sáng tỏ thực trạng kỹ năng sống hiện nay của học sinhTHPT qua việc dạy học văn học Việt Nam trung đại
- Chứng minh rằng nếu thiết lập hình thành và củng cố được các kĩ năngrèn luyện phù hợp sẽ trang bị và nâng cao được kỹ năng sống cho học sinh
- Là căn cứ để tìm ra các phương pháp phù hợp trong việc giảng dạy vàhuấn luyện kỹ năng sống cho học sinh…
7 Cấu trúc luận văn
Ngoài Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, luận văn có ba chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của đề tài
Chương 2: Nội dung hình thành và củng cố các kỹ năng sống cho họcsinh trung học phổ thông qua dạy học văn học Việt Nam trung đại
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
Trang 121.1.1.1 Khái niệm kỹ năng sống
Có nhiều quan niệm về kỹ năng sống, mỗi quan niệm diễn đạt theo mộtcách khác nhau, thường gắn với một bối cảnh cụ thể, với một nền giáo dụcnhất định
Kĩ năng sống là khả năng tâm lí xã hội, nội dung bao gồm tri thức, tháiđộ, giá trị và kĩ năng giúp con người giải quyết có hiệu quả những tình huống,những vấn đề đáp ứng hoạt động của cuộc sống một cách tích cực
Kĩ năng sống là một phạm trù rộng bao hàm nhiều vấn đề của cuộc sống,
đó là những vấn đề phát sinh trong mối quan hệ giữa con người và con người,con người với thiên nhiên nhiên, con người với sự phát triển kinh tế - xã hội Những người có kĩ năng sống là những người có sự trải nghiệm hiệu quả nhất,giúp giải quyết hoặc đáp ứng những nhu cầu cụ thể, trong suốt quá trình tồntại và phát triển của con người
Cũng có thể hiểu kĩ năng sống là hành trang luôn đi theo con người,
giúp con người có cuộc sống tốt đẹp hơn hướng con người đến cái chân,thiện, mỹ của cuộc sống Kĩ năng sống có thể hình thành một cách tự nhiên,thông qua giáo dục hoặc do tự rèn luyện của con người Hiện nay, khái niệm
về kĩ năng sống vì thuộc về lĩnh vực hành vi của con người nên có nhiều quanniệm khác nhau:
Những quan niệm nêu trên đều cùng chứa những nội hàm sau:
- Là khả năng thực hiện hoạt động hay hành động phù hợp
- Là năng lực ứng xử tích cực trước những thách thức của đời sống
Trang 13- Chỉ có được một khi được rèn luyện, tích luỹ kinh nghiệm, thông quagiáo dục và tự rèn luyện của con người
Với những nội dung như vậy có thể đưa ra một khái niệm như sau: Kĩnăng sống là khả năng làm cho hành vi và sự thay đổi của mình và người khácphù hợp với cách ứng xử tích cực, giúp con người có thể kiểm soát, quản lí cóhiệu quả các nhu cầu và thách thức trong cuộc sống, đồng thời giúp con ngườigiải quyết có hiệu quả những khó khăn, thách thức trong cuộc sống
1.1.1.2 Tầm quan trọng của việc giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trung học phổ thông
Giáo dục kĩ năng sống thúc đẩy sự phát triển cá nhân và xã hội:
Học sinh cắp sách đến trường với một mục tiêu quan trọng nhất là họcchữ, “học lấy cái chữ” nhà trường cũng có mục đích quan trọng nhất là dạy chữcho các em, truyền đạt những tri thức khoa học để các em chuẩn bị đầy đủ hànhtrang tri thức bước vào đời Chính vì điều đó các mục tiêu đề ra cũng chỉ xoayquanh việc đào tạo tri thức, trong khi sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh kế xãhội, các em học sinh khi đến trường ngoài tiếp xúc với môi trường giáo dụctrong nhà trường các em còn tiếp cận với xã hội mà ở đó nhiều vấn đề của cuộcsống đòi hỏi các em phải có kiễn thức về nó, phải có kĩ năng giải quyết hợp límới đem lại hiệu quả tích cực Lí thuyết đã chỉ ra rằng con người là tổng hòacủa các quan hệ xã hội Mỗi một con người đều bị chi phối bởi các quan hệ đaphương, đa chiều Cuộc sống là một bức tranh đa dạng, sinh động đầy tháchthức, phức tạp Để tồn tại và phát triển trong thế giới ngày nay và đương đầumột cách có hiệu quả với hàng loạt những vấn đề gặp phải, mỗi người cần cóbản lĩnh, có những kĩ năng riêng để xử trí với những đòi hỏi và thử thách hàngngày Nếu như chúng ta chỉ quan tâm đến việc dạy chữ sẽ rất khó tạo ra thế hệhọc sinh có đầy đủ phẩm chất trong công cuộc đổi mới hiện nay
Giáo dục kĩ năng sống là yêu cầu cấp thiết đối với thế hệ trẻ:
Thực tế cho thấy hiện nay học sinh rất thiếu các kĩ năng cơ bản cầntrong cuộc sống hiện đại: như kĩ năng giao tiếp, kĩ năng sinh hoạt tập thể, kĩ
Trang 14năng hoá giải căng thẳng Trong khi để cùng học tập sinh sống và làm việctrong xã hội hiện đại những kĩ năng này không thể thiếu, nhiều ý kiến của cácchuyên gia giáo dục và xã hội học cho rằng việc nhiều bộ phận học sinh ởnước ta hiện nay thiếu các kĩ năng để có thể đương đầu và giải quyết các vấn
đề trong cuộc sống Có một nguyên nhân quan trọng là những bất cập trongchương trình giáo dục ở nhà trường trong suốt thời gian dài chúng ta chỉ quantâm đến giáo dục trí dục, nhiều trường nhiều địa phương lấy tỉ lệ học sinh đỗtốt nghiệp, học sinh đạt điểm cao là thước đo chất lượng giáo dục mà ít quantâm đến sự chăm ngoan, chuyên cần, phát triển nhân cách cho học sinh Điềunày sẽ dẫn đến sự khập khiễng trong đào tạo, một tiền lệ xấu cho đầu ra củagiáo dục
Giáo dục kĩ năng sống góp phần giảm tình trạng bạo lực học đườngđang có xu hướng gia tăng, như hiện tượng đánh, chửi nhau, dùng những lời
lẽ không đạo đức của học sinh đối với giáo viên
Giáo dục kĩ năng sống sẽ giúp các em thích nghi với cuộc sống hiện đạingày nay, đòi hỏi mỗi con người cần có nhiều hơn các kĩ năng sống “nghệthuật sống”, những người vừa có kiến thức vừa có cách sống sẽ nhanh và sẽthành công hơn, thậm chí trong nhiều công việc nghệ thuật sống còn quantrọng hơn cả tri thức, với mục tiêu đào tạo con người mới với đầy đủ đức, tàiphục vụ cho đất nước; ngành giáo dục nước ta ngoài việc đào tạo tri thức cầnchú ý nhiều hơn đến giáo dục kĩ năng sống cho học sinh
Giáo dục kĩ năng sống cho học sinh cũng là một cách bồi dưỡng chohọc sinh kĩ năng làm việc mà các em rất cần trong tương lai, đây cũng là cáchhình thành nhân cách, rèn luyện đạo đức cho học sinh
Giáo dục kĩ năng sống nhằm thực hiện yêu cầu đổi mới giáo dục phổthông, và phù hợp với xu thế giáo dục của thế giới
Có thể đưa ra các lợi ích của việc giáo dục kĩ năng sống cho học sinhnhư sau:
Trang 15Về mặt sức khỏe: Xây dựng hành vi lành mạnh tạo khả năng bảo vệ sứckhỏe cho mình và cho mọi người trong cộng đồng.
Về mặt giáo dục: Mối quan hệ thân thiện, cởi mở giữa thầy trò, sự hứngthú tự tin, chủ động sáng tạo học tập cuả học sinh, tăng cường sự tham gia củahọc sinh, nâng cao hiệu quả giáo dục
Về mặt văn hóa - xã hội: Thúc đẩy hành vi mang tính xã hội, giảm bớt
tỉ lệ phạm pháp trong thanh thiếu niên, giảm tỉ lệ nghiện ma túy và bị lạmdụng tình dục ở tuổi vị thành niên
Về mặt chính trị: Giải quyết một cách tích cực nhu cầu về quyền của trẻ
em Các em xác định được bổn phận và nghĩa vụ của mình đối với bản thân,gia đình và xã hội
Qua các nội dung trên có thể khẳng định rằng giáo dục kĩ năng sốngcho học sinh THPT hiện là vấn đề quan trọng đòi hỏi cần tiến hành ngaytrong nhà trường
1.1.1.3 Đặc điểm tâm sinh lí lứa tuổi học sinh THPT
Lứa tuổi THPT là khoảng từ 15 đến 18, đây là lứa tuổi thanh niên Vềtuổi đời và thể chất, “tuổi thanh niên thường được xác định từ 15 đến 25 tuổivới đặc trưng là sự trưởng thành và hoàn thiện cơ thể cả về giải phẫu và sinh
lí, sau khi kết thúc giai đoạn dậy thì” [11, 199] Trong đó chia làm 2 giaiđoạn: từ 14, 15 tuổi đến 17, 18 tuổi, đó là giai đoạn đầu của tuổi thanh niên(thanh niên học sinh); từ 17, 18 tuổi đến 25 tuổi là giai đoạn tuổi thanh niên
Với cách nhìn ấy, học sinh THPT đa số ở giai đoạn đầu thanh niên,giai đoạn đạt được sự trưởng thành về mặt cơ thể Sự khác biệt về cơ thể giữathanh niên mới lớn với người lớn không đáng kể, nhưng sự phát triển thể lựccủa các em còn kém so với người lớn Tuổi đầu thanh niên bắt đầu thời kìphát triển tương đối êm ả về mặt sinh lí Ở giai đoạn này, sự phát triển của hệxương được hoàn thiện, cơ bắp được tiếp tục phát triển, chiều cao và trọnglượng đã phát triển chậm lại Các em nữ đạt được sự tăng trưởng đầy đủ vàokhoảng 16-17 tuổi, các em trai vào khoảng 17-18 tuổi Sức mạnh cơ bắp của
Trang 16các em trai tăng nhanh Đồng thời, sự phát triển của hệ thần kinh có nhữngthay đổi quan trọng do cấu trúc bên trong của não phức tạp và các chức năngcủa não phát triển Số lượng dây thần kinh liên hợp, liên kết các phần khácnhau của vỏ não tăng lên Hệ tuần hoàn đi vào hoạt động bình thường, sự mấtcân đối giữa tim và mạch đã chấm dứt Đa số các em đã qua thời kì phát dục,hoạt động của các tuyến nội tiết trở nên bình thường
Với những đặc điểm tâm sinh lý đó, có thể thấy đây là lứa tuổi các em
có cơ thể phát triển cân đối, hài hòa và đẹp nhất, nhạy cảm với cái mới, cókhả năng tiếp nhận cái mới
Sự phát triển tự ý thức là một đặc điểm nổi bật trong sự phát triểnnhân cách của thanh niên mới lớn, nó có ý nghĩa quan trọng đối với sự pháttriển tâm lí ở lứa tuổi thanh niên
Sự phát triển tự ý thức của học sinh THPT có một số đặc điểm sau:Đầu tiên là ý thức về hình ảnh cơ thể Ngay từ tuổi thiếu niên các em đã chú ýđến hình dáng bên ngoài của mình và đến tuổi thanh niên các em vẫn còn chú
ý Thái độ này được duy trì trong suốt thời kì thanh niên Thứ hai là khả năng
tự đánh giá bản thân Cũng như thiếu niên, thanh niên khao khát muốn biết họ
là người như thế nào? có năng lực gì ? Vì vậy tự đánh giá là một nét tâm líđiển hình của lứa tuổi này Cuối cùng là tính tự trọng Đây là một trong nhữngtính cách nổi bật của tuổi thanh niên so với các lứa tuổi khác Mức độ tự trọng
ở thanh niên có từ mức độ cao và mức độ thấp Tự trọng cao là sự đánh giáđúng mức về bản thân, biết bảo vệ danh dự của mình một cách phù hợp tronghoàn cảnh cụ thể Tính tự trọng thấp là sự coi thường, thiếu tin tưởng vào bảnthân, tự hạ thấp mình Những thanh niên có tính tự trọng thấp thường gặpnhiều khó khăn trong giao tiếp và cản trở sự phát triển nhân cách của lứa tuổinày Cách tốt nhất để giúp những thanh niên này không phải là phê phán họ
mà cần tổ chức cho họ hoạt động và giao tiếp, để thông qua đó chúng có thểtrãi nghiệm thực tế Bằng con đường tự trải nghiệm họ sẽ có thái độ đúng đắn
về bản thân mình
Trang 17Sự phát triển trí tuệ ở học sinh THPT có tính chủ định được phát triển
mạnh ở tất cả các quá trình nhận thức Về tri giác, thanh niên có độ nhạy cảm
cao, tri giác có mục đích đạt tới mức độ rất cao Quan sát trở nên có hệ thống
và toàn diện hơn Thanh niên có thể điều khiển được hoạt động của mình theo
kế hoạch chung và chú ý đến mọi khâu Tuy nhiên tri giác của học sinh THPTcần có sự hướng dẫn của giáo viên Giáo viên cần hướng dẫn các em quan sátvào một nhiệm vụ nhất định và yêu cầu các em không nên kết luận vội vàng
khi chưa tích lũy đầy đủ các sự kiện cần quan sát Về trí nhớ, ở tuổi thanh
niên, ghi nhớ có chủ định giữ vai trò chủ đạo trong hoạt động trí tuệ, mặt khácvai trò của ghi nhớ lôgíc trừu tượng, ghi nhớ ý nghĩa ngày một tăng rõ rệt.Đặc biệt các em đã tạo được tâm thế phân hóa trong ghi nhớ Các em đã biết
tài liệu nào cần nhớ chính xác, tài liệu nào chỉ cần hiểu mà không cần nhớ Về
chú ý, học sinh THPT có nhiều thay đổi Năng lực di chuyển và phân phối chú
ý cũng được phát triển và hoàn thiện một cách rõ rệt Các em có khả năng vừanghe giảng, vừa chép bài, vừa theo dõi câu trả lời của bạn Tuy nhiên, các emkhông phải bao giờ cũng đánh giá đúng đắn ý nghĩa quan trọng của tài liệunên các em hay chú ý không chủ định khi giáo viên đề cập tới ý nghĩa thực
tiễn và sự ứng dụng tri thức nhất định vào cuộc sống Về tư duy, do cấu trúc
não phức tạp và chức năng của não phát triển nên hoạt động tư duy của các
em tích cực, độc lập hơn Các em có khả năng tư duy lí luận, tư duy trừutượng một cách độc lập, sáng tạo Các em thích khái quát hóa, thích tìm hiểunhững quy luật và những nguyên tắc chung của các hiện tượng hàng ngày,của những tri thức phải tiếp thu Tư duy của các em chặt chẽ hơn, có căn cứ
và nhất quán hơn, tính phê phán của tư duy cũng phát triển
Những đặc điểm này tạo điều kiện cho học sinh THPT thực hiện cácthao tác tư duy lôgíc, phân tích nội dung cơ bản của khái niệm trừu tượng vànắm được mối quan hệ nhân quả trong tự nhiên và xã hội Tuy nhiên, hiệnnay số học sinh THPT đạt mức độ tư duy như trên chưa nhiều Thiếu sót cơ
Trang 18bản trong tư duy của các em là thiếu tính độc lập Giúp các em phát triển khảnăng độc lập là một nhiệm vụ quan trọng của giáo viên.
1.1.2 Khả năng,quan điểm và mục tiêu giáo dục kỹ năng sống trong môn Ngữ văn ở trường THPT
1.1.2.1 Khả năng giáo dục kĩ năng sống trong môn học Ngữ văn ở trường THPT
Chúng ta biết rằng các em HS không phải là những chiếc bình cần đổđầy kiến thức mà các em là những ngọn đuốc cần thắp sáng, vậy hơn ai hết
GV dạy văn cần phải cố gắng giữ và thổi bùng ngọn lửa ấy trong tâm hồn các
em Thông qua các giờ dạy, GV sẽ giúp cho HS có những khả năng tâm lí xãhội, những bài học thiết thực gắn với đời sống để các em biết cách ứng xử,ứng phó, thể hiện mình và trau dồi nhân cách, biết sống hữu ích, tránh những
va vấp trong cuộc đời
Với đặc trưng của một môn học về khoa học xã hội và nhân văn, bêncạnh nhiệm vụ hình thành và phát triển ở HS năng lực sử dụng tiếng Việt,năng lực tiếp nhận văn bản văn học và các loại văn bản khác, môn Ngữ văncòn giúp HS có được những hiểu biết về xã hội, văn hoá, văn học, lịch sử, đời
sống nội tâm của con người
Chúng ta đều biết, trong các môn học trong nhà trường, môn Ngữ văn làmôn giúp học sinh phát triển khả năng ngôn ngữ nhiều nhất học sinh , pháttriển tư duy, năng lực liên tưởng và sáng tạo Chính ngôn ngữ mới là công cụvàng, vạn năng giúp thành công trong các hoạt động kinh doanh và giao tiếpđời sống
Với tính chất là một môn học công cụ, môn Ngữ văn giúp HS có năng lựcngôn ngữ để học tập, khả năng giao tiếp, nhận thức về xã hội và con người
Với tính chất là môn học giáo dục thẩm mĩ, môn Ngữ văn giúp HS bồidưỡng năng lực tư duy, làm giàu xúc cảm thẩm mĩ và định hướng thị hiếulành mạnh để hoàn thiện nhân cách
Trang 19Vì thế, Ngữ văn là môn học có những khả năng đặc biệt trong việc giáodục các kĩ năng sống cho HS.
1.1.2.2 Quan điểm giáo dục kỹ năng sống trong môn Ngữ văn
- Bám sát những mục tiêu giáo dục KNS, đồng thời đảm bảo mạch
KT-KN của giờ dạy Ngữ văn
- Tiếp cận GDKNS theo hai cách: nội dung và phương pháp dạy học,trong đó nhấn mạnh đến cách tiếp cận PP Nghĩa là thông qua nội dung vàPPDH để giáo dục KNS cho học sinh chứ không phải tích hợp vào nội dungbài dạy Rèn luyện KNS cho HS thông qua các giờ học bộ môn
- Đưa những nội dung GD tiêu biểu cho các dạng bài học, bên cạnh đó
có “độ mở” tạo điều kiện cho GV có thể phát huy tính linh hoạt trong việcvận dụng các tình huống GD
- Giáo dục KNS trong môn học Ngữ văn, theo đặc trưng của môn học, làgiáo dục theo con đường “ mưa dầm thấm lâu” nhẹ nhàng, tự nhiên, khônggượng ép
1.1.2.3 Mục tiêu giáo dục KNS trong môn Ngữ văn
Mục tiêu giáo dục của môn Ngữ văn ở trường trung học phổ thông
- Trang bị cho HS những kiến thức phổ thông, cơ bản, hiện đại, hệ thống
về văn học và tiếng Việt, bao gồm: Kiến thức về những tác phẩm tiêu biểucho các thể loại tiêu biểu của văn học Việt Nam và một số tác phẩm, đoạntrích của văn học nước ngoài; những hiểu biết về lịch sử văn học, kiến thức về
lí luận văn học cần thiết; những kiến thức khái quát về lịch sử tiếng Việt, cácphong cách ngôn ngữ, những kiến thức về kiểu văn bản, đặc biệt là văn bảnnghị luận
- Hình thành và phát triển các năng lực Ngữ văn: Năng lực sử dụng tiếngViệt thể hiện ở 4 kĩ năng cơ bản: nghe, nói, đọc, viết; năng lực tiếp nhận văn học,năng lực cảm thụ thẩm mĩ, năng lực tự học và năng lực thực hành ứng dụng
- Bồi dưỡng cho HS tình yêu tiếng Việt, văn học, văn hoá; tình yêu giađình, thiên nhiên, đất nước; lòng tự hào dân tộc; ý chí tự lập, tự cường; lí
Trang 20tưởng xã hội chủ nghĩa, tinh thần dân chủ, nhân văn; nâng cao ý thức tráchnhiệm công dân, tinh thần hữu nghị và hợp tác quốc tế; ý thức tôn trọng, pháthuy các giá trị văn hoá của dân tộc và nhân loại.
Mục tiêu giáo dục KNS ở trường THPT thông qua các giờ học Ngữ văn theo phương pháp tích cực
- Về kiến thức:
+ Nâng cao hiểu biết về các giá trị truyền thống của dân tộc cũng như cácgiá trị tốt đẹp của nhân loại; góp phần củng cố, mở rộng và bổ sung, khắc sâukiến thức đã học về quyền và trách nhiệm đối với bản thân, gia đình, nhàtrường và xã hội, về định hướng nghề nghiệp
+ Nhận thức được sự cần thiết của các KNS giúp cho bản thân sống tựtin, lành mạnh, phòng tránh được các nguy cơ gây ảnh hưởng xấu đến sự pháttriển thể chất, tinh thần của bản thân và người khác
+ Nhận thức được những giá trị cốt lõi làm nền tảng cho các KNS
- Về thái độ:
+ Hứng thú và có nhu cầu được thể hiện các KNS mà bản thân đãrèn luyện được đồng thời biết động viên người khác cùng thực hiện cácKNS đó
+ Hình thành và thay đổi hành vi, nhất là những hành vi liên quan đến lốisống lành mạnh, có trách nhiệm với bản thân, bạn bè, gia đình, cộng đồng
Trang 21+ Có ý thức về quyền và trách nhiệm đối với bản thân, gia đình, nhàtrường và xã hội; có ý thức định hướng nghề nghiệp
1.2 Cở sở thực tiễn
1.2.1 Thực trạng giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trung học phổ thông qua giờ dạy văn
1.2.1.1 Các biểu hiện về kỹ năng sống của học sinh hiện nay
Kĩ năng sống của học sinh THPT hiện nay còn:
- Đa phần các em chưa có kĩ năng xác định mục tiêu một cách rõ ràng
- Kĩ năng hoạt động nhóm chỉ ở mức trung bình thậm chí yếu
- Các em hầu như chưa tìm ra hướng giải quyết khi gặp khó khăn tronghọc tập, cuộc sống và các vấn đề tâm lí
- Hiện tượng bạo lực học đường ngày càng tăng
- Khả năng giao tiếp chủ động còn hạn chế
- Việc xác định vấn đề quan trọng của cuộc sống nhiều khi còn chưa rõ,chưa đúng với chuẩn mực
- Hầu như các em chưa có kĩ năng ra quyết định, mà chỉ quyết định cácvấn đề một cách cảm tính
1.2.1.2 Nhận xét về thực trạng giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trong nhà trường phổ thông hiện nay
- Ưu điểm: Học sinh cũng có những nhận thức nhất định về kĩ năng
sống, các em cũng có những kĩ năng sống cần thiết để có thể ứng phó vớithực tế cuộc sống, trong quá trình giảng dạy nhiều giáo viên đã đưa các nộidung kĩ năng sống vào giáo dục học sinh đặc biệt trong các tiết sinh hoạt,tiết hoạt động ngoài giờ, hay hoạt động ngoại khóa bên cạnh đó trong nhàtrường nhiều hoạt động liên quan đến kĩ năng sống đã được tổ chức thu hútđược đông đảo học sinh tham gia
- Nhược điểm: Giáo dục kĩ năng sống cho học sinh vẫn chưa được chú
trọng nhiều, thậm chí chưa được chú ý một cách đúng mức, việc tích hợp cácnội dung giáo dục kĩ năng sống chưa đạt hiệu quả
Trang 221.2.1.3 Nguyên nhân của thực trạng
- Với xu hướng đổi mới giáo dục hiện nay,đặc biệt là đổi mới phươngpháp… tạo điều kiện thuận lợi cho việc đưa nội dung giáo dục kĩ năng sốngvào trường học, việc sử dụng các phương pháp dạy học mới cũng tạo điềukiện thuận lợi cho học sinh dễ dàng bộc lộ những quan điểm, suy nghĩ cũngnhư thể hiện mình đó là yếu tố thuận lợi để tìm hiểu và rèn luyện kĩ năng sốngcho học sinh
- Sự phát triển mạnh của xã hội cho phép các em học sinh có thể rènluyện các kĩ năng sống từ thực tế một cách thuận lợi
- Giáo dục kĩ năng sống cho học sinh vẫn chưa được chú trọng đúngmức, thậm chí coi nhẹ, việc tích hợp các nội dung kĩ năng sống vào các tiếthọc, môn học còn hạn chế
- Chưa có bộ tài liệu chính về giáo dục kĩ năng sống cho học sinh
- Những hiểu biết về kĩ năng sống của nhiều giáo viên còn chưa đầy đủdẫn đến hiệu quả giáo dục thấp
1.2.2 Những thuận lợi, khó khăn của việc dạy học văn học Việt Nam trung đại ở trung học phổ thông hiện nay
Văn học Việt Nam trung đại vừa có những tính chất phổ biến của vănhọc nói chung, vừa có những tính chất đặc thù như là những sản phẩmtinh thần ra đời trong hoàn cảnh xã hội có những quan hệ đặc thù, có đặcđiểm riêng trong quan niệm về tự nhiên, về xã hội và về con người Vì thếtrong quá trình dạy và học, giáo viên và học sinh sẽ bắt gặp một số thuậnlợi và khó khăn khi truyền đạt và khi tiếp nhận văn bản
1.2.2.1 Những thuận lợi
Văn học Việt Nam trung đại là một bộ phận văn học sử dụng chữ viết
từ thế kỷ X đến hết thế kỷ XIX Xét trong nội bộ lịch sử văn học ViệtNam, đây là nền văn học lâu đời nhất Đối với văn học Việt Nam trung
Trang 23đại là nền văn học viết ra đời sớm nhất, có thời gian tồn tại dài nhất nên
có vai trò to lớn đối với việc hình thành và nuôi dưỡng những truyềnthống của văn học Việt Nam, có sứ mệnh quan trọng trong việc phản ánhđời sống của đất nước, dân tộc và con người Việt Nam Bởi vậy, trong
chương trình sách giáo khoa, sách giáo viên Ngữ văn 10 và Ngữ văn 11
nói chung và phần văn học Việt Nam trung đại nói riêng được biên soạnsau nhiều lần chỉnh lý và hợp nhất đã tiếp thụ được nhiều ưu việt và sửachữa được nhiều hạn chế của phần này trong các bộ sách trước Các bàikhái quát về văn học Việt Nam trung đại vừa tinh giản vừa tập trung làm
rõ được những nội dung chính yếu Trong thời lượng được quy định, cáctác giả biên soạn sách giáo khoa đã đưa vào những thể loại, những tác giả,những văn bản đặc sắc của văn học Việt Nam trung đại Những văn bảnđược đưa vào dạy học là những văn bản đã được sàng lọc kỹ qua thờigian Đó là những tác phẩm tiêu biểu về chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩanhân đạo trong văn học Việt Nam trung đại vì thế rất gần gũi với ngườiViệt hôm nay Đây là một thuận lợi cho giáo viên và học sinh khi đượcdạy và học những tác phẩm hay, đặc sắc của nền văn học nước nhà
Các bộ phận kiến thức được tổ chức chặt chẽ theo hướng tích hợp,việc dạy học phần nào đó không chỉ là sự tiếp cận những kiến thức cô lập
mà thực sự gợi nhớ, củng cố cả những phần khác, giúp giáo viên và họcsinh tiếp nhận rộng và sâu hơn
Việc biên soạn sách giáo khoa theo thể loại là một trong những thuậnlợi cho người giáo viên khi dạy các tác phẩm văn học Việt Nam trung đại.Quan niệm văn chương, lí tưởng thẩm mỹ của xã hội đương thời ít đổithay dẫn đến ít đổi thay đã khiến cho chức năng, thi pháp, hình thức củacác thể loại được bảo lưu nhiều hơn so với hiện nay Điều này phần nàogiúp giáo viên và học sinh hiểu rõ và phân biệt sự khác nhau giữa các thểloại, tránh những nhầm lẫn không đáng có xảy ra
Trang 24Chương trình Ngữ văn nói chung và phần văn học Việt Nam trungđại nói riêng đã chú trọng sự cân đối giữa lý thuyết và thực hành, chú ýphát triển cả bốn kỹ năng: nghe, nói, đọc, viết của học sinh, từ đó tạo sựchủ động, sáng tạo cho học sinh.
Thứ hai, tài liệu giảng dạy và học tập các tác phẩm văn học ViệtNam trung đại không nhiều, thậm chí có những tài liệu viết rất qua quýt,mỗi sách đưa ra một cách hiểu, cách cảm khác nhau khiến cho giáo viên
và học sinh bị phân tâm, khó biết đúng
Thứ ba, tuy cách viết sách giáo khoa đã có những ưu việt về việcphân chia thể loại, nhưng do đưa ta những khái niệm, kiến thức về thể loạivẫn rất sơ sài, ít tác dụng đối với việc đọc - hiểu, hoặc đọc thêm văn bảnvăn học Việt Nam trung đại Điều này ảnh hưởng đến việc cung cấp kiếnthức thể loại cho học sinh
Ngoài ra, một điều dễ nhận thấy là hiện nay rất ít học sinh yêu thíchcác tác phẩm văn học Việt Nam trung đại Qua khảo nghiệm của chúng tôi
ở ba trường trung học phổ thông Nguyễn Đức Mậu, Quỳnh Lưu 1 trongđịa bàn huyện Quỳnh Lưu, hầu hết các học sinh đều cho rằng các văn bảnvăn học Việt Nam trung đại ra đời cách đây rất lâu trong điều kiện vậtchất, tinh thần có nhiều điểm khác biệt lớn với hôm nay nên các em cảmthấy xa lạ và khó cảm thụ hết được cái hay cái đẹp, nhất là những tác
Trang 25phẩm được viết bằng chữ Hán, các em phải học qua các bản dịch vớinhững từ cổ, với những điển tích, điển cố mà không phải từ nào cũngđược giải thích một cách dễ hiểu Đây cũng là một khó khăn hết sức thực
tế mà mỗi giáo viên đều có thể gặp phải khi truyền thụ tác phẩm văn học
cổ cho học sinh
Văn học Việt Nam trung đại là một trong những bông hoa rực rỡtrong vườn văn học nước nhà, nó góp phần làm cho nền văn học Việt Namphong phú Thế nhưng để thưởng thức hương thơm và vẻ đẹp của nó thậtkhông dễ chút nào bởi nó đòi hỏi người dạy và người học phải có đầy đủvốn hiểu biết về lịch sử thời đại, vốn chữ nghĩa, khả năng cảm thụ sâusắc Vì thế, trước những khó khăn trên, thiết nghĩ người giáo viên cầnphải cố gắng hơn trong việc giảng dạy, truyền đạt kiến thức cũng như thổiniềm đam mê cho học sinh, để các em có niềm tự hào về nền văn học ViệtNam trung đại và yêu thích hơn các tác phẩm văn học ra đời trong thời kì
xã hội phong kiến cách xa các em bao thế kỉ
Như vậy, văn học thời trung đại Việt Nam đóng mọi vai trò hết sức quantrọng là nền tảng vững chắc cho sự phát triển và sáng tạo thời kỳ sau Trải qua
sự phát triển gần mười thế kỷ đã có những cống hiến và đóng góp rất thiếtthực cho công cuộc xây dựng và phát triển đất nước Làm giàu và đẹp hơntinh thần, con người Việt Định hướng giáo dục và rèn luyện tư tưởng, tâmhồn cho các thế hệ mai sau
1.2.3 Vị trí và cấu trúc chương trình của việc dạy học văn học Việt Nam trung đại ở trường trung học phổ thông
1.2.3.1 Vị trí của việc dạy văn học Việt Nam trung đại ở trường trung học phổ thông
Xét trong toàn bộ tiến trình văn học dân tộc, văn học Việt Namtrung đại có một vị trí quan trọng, bởi suốt hàng nghìn năm phát triển, vănhọc trung đại Việt Nam đã phản ảnh được con người Việt Nam, đất nước
Trang 26Việt Nam, đồng thời là ý thức người Việt về Tổ quốc, dân tộc Nền vănhọc ấy đã nảy sinh từ chính quá trình đấu tranh dựng nước, giữ nước vĩđại của dân tộc, đồng thời lại là sức mạnh tham gia vào quá trình đấutranh này Chính từ văn học trung đại, những truyền thống lớn của vănhọc dân tộc đã hình thành, phát triển và ảnh hưởng rất rõ đến sự vận độngcủa văn học hiện đại chính vì vậy văn học việt nam trung đại có vị trí vôcùng quan trọng đối với tiến trình phát triển của văn học nước nhà cũngnhư trong trường trung học phổ thông
Nếu đã từng thực sự biết khám phá, hiểu sâu và lĩnh hội hết những giá trị
tư tưởng cũng như nghệ thuật của những tác phẩm văn học, chắc hẳn ai cũng
có thể nhận thấy những chức năng đặc thù của văn học trong việc bồi đắp tâmhồn, hình thành nhân cách học sinh.Văn học trang bị những cảm xúc nhânvăn, giúp con người hướng tới Chân - Thiện - Mỹ Nhờ có Văn học mà đờisống tinh thần của con người ngày càng giàu có, phong phú, tinh tế hơn Tâmhồn trở nên bớt chai sạn, thờ ơ, bàng quan trước những số phận, cảnh đời diễn
ra xung quanh mình hàng ngày, trước thiên nhiên và tạo vật Điều này càngquan trọng khi chúng ta đang sống trong guồng quay hối hả của cuộc sốnghiện đại Văn học bồi đắp cho học sinh lòng yêu nước, thái độ trân trọngtruyền thống, và ngôn ngữ mẹ đẻ Thời nào cũng vậy, tác phẩm Văn họcchân chính có khả năng kì diệu là thanh lọc tâm hồn con người, làm người
“gần người hơn” Đọc Truyện Kiều, ta xót xa thương cảm cho số phận cayđắng, nghiệt ngã của người con gái tài sắc Đó là dấu hiệu của một tâm hồnnhân ái, giàu lòng trắc ẩn Môn Ngữ văn còn có vai trò quan trọng trong việcrèn luyện khả năng sử dụng ngôn ngữ, diễn đạt, cách thức tạo lập các loại vănbản phục vụ cho quá trình giao tiếp trên mọi lĩnh vực của mỗi người trong
Trang 27cuộc sống Vì vậy việc dạy học văn học trung đại có vị trí rất quan trọng trongnhà trường phổ thông.
Việc giảng dạy văn học Việt Nam trung đại trước hết nhằm cảm thụcác giá trị văn chương quá khứ, qua đó hình thành và củng cố những hiểubiết, những cảm xúc về đất nước, lịch sử và con người Việt Nam xưa kia.Mặt khác, việc dạy học các văn bản văn chương Việt Nam trung đại còntạo cơ sở cho sự đối sánh với các văn bản thuộc các nền văn học khác
được dạy học trong chương trình Ngữ văn THPT.
1.2.3.2 Cấu trúc chương trình văn học trung đại trong nhà trường trung học phổ thông
Khảo sát hai bộ SGK Ngữ Văn 10 và Ngữ văn 11 chương trình cơ bản
và chương trình nâng cao Chúng tôi có kết quả thống kê số lượng và thể loạicác văn bản văn học Việt Nam trung đại được dạy và học trong chương trìnhNgữ Văn ở trường THPT hiện nay như sau:
Bảng 1: Các tác phẩm văn học Việt Nam trung đại trong SGK Ngữ Văn
10 tập 1, tập 2 (Chương trình cơ bản)
loại
PPCT (Tiết)
1 Tỏ lòng Phạm Ngũ Lão Thơ 1
2 Cảnh ngày hè Nguyễn Trãi Thơ 1
3 Nhàn Nguyễn Bỉnh Khiêm Thơ 1
4 Độc Tiểu Thanh kí Nguyễn Du Thơ 1
5 Vận nước Đỗ Pháp Thuận Thơ 1
6 Cáo bệnh, bảo mọi người Mãn giác Kệ 1
7 Hứng trở về Đỗ Trung Ngạn Thơ 1
8 Phú sông Bạch Đằng Trương Hán Siêu Phú 1
Trang 289 Đại cáo bình Ngô Nguyễn Trãi Cáo 3
10 Tựa "trích diễm thi tập" Hoàng Đức Lương Cáo 1
11 Hiền tài là nguyên khí quốc gia Thân Nhân Trung 1
12 Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn Ngô Sỹ Liên Sử ký 1
13 Thái sư Trần Thủ Độ Ngô Sỹ Liên Sử ký 1
14 Chuyên chức phán sự đền Tản Viên Nguyễn Dữ Truyềnkỳ 2
15 Trình cảnh lẻ loi của người chinh phụ Đặng Trần Côn Ngâmkhúc 2
16
Truyện Kiều (các văn bản: Trao
duyên; Nỗi thương mình; Chí khí
anh hùng; Thề nguyền)
Nguyễn Du Truyệnthơ 5
Bảng 2: Các tác phẩm văn học Việt Nam trung đại trong SGK ngữ văn
11, tập 1 (chương trình cơ bản)
loại
PPCT (Tiết)
1 Vảo phủ chúa Trịnh Lê Hữu Trác Kí sự 1
2 Tự tình II Hồ Xuân Hương Thơ 1
3 Câu cá mua thu Nguyễn Khuyến Thơ 1
4 Thương vợ Trần Tế Xương Thơ 1
5 Khóc Dương Khuê Nguyễn Khuyến Thơ 1
6 Vịnh khoa thi Hương Trần Tế Xương Thơ 1
Trang 297 Bài ca ngất ngưởng Nguyễn Công Trứ Hát nói 1
8 Bai ca ngắn đi trên bãi cát Cao Bá Quát Hát nói 2
9 Chạy giặc Nguyễn Đình Chiểu Thơ 1
10 Bài ca phong cảnh Hương Sơn Chu Mạnh Trinh Hát nói 2
11 Văn Tế nghĩa sĩ Cần Guộc Nguyễn Đình Chiểu Văn tế 2
12 Chiếu cầu hiền Ngô Thì Nhậm Chiếu 2
13 Xin lập khoa lập luật Nguyễn Trường Tộ 1
Bảng 3 Các tác phẩm văn học Việt Nam trung đại trong SGK Ngữ Văn 10tập 1,2 (chương trình nâng cao)
1 Tỏ lòng Phạm Ngũ Lão Thơ 1
3 Cảnh ngày hè Nguyễn Trãi Thơ 1
4 Vận nước Đỗ Pháp Thuận Thơ 1
5 Cáo bệnh, bảo mọi người Mãn Giác Kệ 1
6 Hứng trở về Nguyễn Trung Ngạn Thơ 1
7 Nhàn Nguyễn Binh Khiêm Thơ 1
8 Độc tiểu Thanh kí Nguyễn Du Thơ 1
9 Phú sông Bạch Đằng Trương Hán Siêu Phú 2
10 Nhà nho vui cảnh nghèo Nguyễn Công Trứ Thơ 1
11 Thư dụ Vương Thông lần nữa Nguyễn Trãi Chính luận 2
12 Đại cáo bình Ngô Nguyễn Trãi Chính luận 2
Trang 3013 Hiền tài là nguyên khí quốc gia Thân Nhân Trung Chínhluận 1
14 Tựa "trích diễm thi tập" Hoàng Đức Lương Tựa 1
15 Phẩm bình nhân vật lịch sử Lê Văn Hưu 1
16 Thái phó Tô Hiến Thành Trích" Đại việt sử lược" 1
17 Thái sư Trần Thủ Độ Ngô Sỹ Liên Sử kí 1
18 Hưng Đạo đại vương Trần Quốc Tuấn Ngô Sỹ Liên Sử kí 1
19 Chuyên chức phán sự đền Tản Viên Nguyễn Dữ Truyền kì 2
20 Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ Đặng Trần Côn Ngâm khúc 1
21 Nỗi sầu oán của người cung nữ Nguyễn Gia Thiều Ngâm
khúc 2
22 Truyện Kiều: Trao duyên; Nỗi thương mình; Thề nguyền, Chí
khí anh hùng)
Nguyễn Du Truyệnthơ 6
23 Ngọc Hoa đối mặt với bạo chúa Truyện thơ 1
Bảng 4 Các tác phẩm văn học Việt Nam trung đại trong SGK Ngữ Văn
11 (tập 1) (Chương trình nâng cao)
1 Vào phủ chúa Trịnh Lê Hữu Trác Kí sự 1
3 Lẽ ghét thương Nguyễn Đình Chiểu Truyệnthơ 1
4 Chạy giặc Nguyễn Đình Chiểu Thơ 1
5 Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc Nguyễn Đình Chiều Văn Tế 2
6 Tự tình II Hồ Xuân Hương Thơ 1
7 Bài ca ngắn đi trên bãi cát Cao Bá Quát Hát nói 1
8 Câu cá mùa thu Nguyễn Khuyến Thơ 1
9 Tiến sĩ giấy Nguyễn Khuyến Thơ 1
10 Khóc Dương Khuê Nguyễn Khuyến Thơ 1
11 Thương vợ Trần Tế Xương Thơ 1
12 Vinh khoa thi hương Trần Tế Xương Thơ 1
Trang 3113 Bài ca ngất ngưởng Nguyễn Công Trứ Hát nói 1
14 Bài ca phong cảnh Hương Sơn Chu Mạnh Trinh Hát nói 1
15 Chiếu cầu hiền Ngô Thì Nhậm Chiếu 1
16 Xin lập khoa luật Nguyễn Trường Tộ Chính
luận 1
17 Đổng mẫu Trích Sơn Hậu 1
Nhận xét: Trong chương trình Ngữ văn, phần văn học Việt Nam trung
đại là một trong những phần trọng tâm, được giảng dạy ở cả chương trình lớp
10 và lớp 11 (với tổng số tiết là 40 (chương trình cơ bản); 48 tiết (chươngtrình nâng cao) Có mặt trong chương trình là những tác giả, tác phẩm ưu tú,những thể loại văn học việt nam trung đại có đóng góp lớn cho văn học dântộc Việc đưa các tác giả, tác phẩm lớn vào chương trình THPT là một cáchnhìn mới, cách giáo dục mới cho học sinh về văn học trung đại
Trang 32Chương 2 NỘI DUNG CÁC KĨ NĂNG SỐNG VÀ PHƯƠNG PHÁP HÌNH THÀNH, CỦNG CỐ KĨ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
QUA DẠY HỌC VĂN HỌC VIỆT NAM TRUNG ĐẠI
2.1 Xác định các kỹ năng sống có thể giáo dục cho học sinh THPT qua dạy học văn học Việt Nam trung đại
2.1.1 Nguyên tắc xác định nội dung hình thành và củng cố kỹ năng sống
- Giáo dục kĩ năng sống cho học sinh phải dựa vào mục tiêu, chươngtrình giáo dục THPT
- Giáo dục kĩ năng sống cho học sinh phải dựa vào nội dung chươngtrình dạy học Ngữ văn THPT
- Giáo dục kĩ năng sống cho học sinh phải dựa vào đặc điểm tâm sinh lílứa tuổi học sinh THPT
- Giáo dục kĩ năng sống cho học sinh phải dựa vào tầm quan trọng củacác kĩ năng sống đối với các em học sinh THPT
- Giáo dục kĩ năng sống cho học sinh phải dựa vào thực trạng kĩ năng
- Khi có kĩ năng kiên định học sinh sẽ dung hòa được sự hiếu thắng, tínhphục tùng khi đó các em sẽ tự bảo vệ được chính kiến quan điểm, thái độ và
Trang 33những quyết định của bản thân, đứng vững được trước những áp lực từ bênngoài
- Đối với học sinh lớp THPT, giáo dục kĩ năng kiên định sẽ giúp các emhọc sinh biết cách thực hiện những mong muốn trong học tập, trong cuộcsống đồng thời các em biết cách từ chối những gì không phù hợp với bản thânmình
- Trong dạy học Ngữ văn THPT giáo dục tính kiên định sẽ giúp các emhọc sinh trình bày những quan điểm của bản thân về các vấn đề nhìn nhận vềcon người số phận cách sống, lối ứng xử một cách tự tin hiệu quả, các em sẽđứng vững được trước những áp lực của người xung quanh, đồng thời bày tỏquan điểm của mình trước các vấn đề thiên nhiên, kinh tế xã hội đang diễn ratrong thực tế
- Để giáo dục kĩ năng kiên định cho học sinh thông qua việc dạy học vănhọc Việt Nam trung đại giáo viên nên cho các em học sinh tham gia vào cáctình huống các vai diễn, những lần tham quan thực tế,các trò chơi văn học vềchủ đề khác nhau Các em sẽ có điều kiện thể hiện các quan điểm, chính kiếncủa mình trước các vấn đề nảy sinh trong cuộc sống
em sống có định hướng, không có quá nhiều ảo tưởng và tham vọng
- Người có k
ĩ năng đặt mục tiêu sẽ xác định được các mục tiêu một cách cụ thể vàthực tế, phù hợp với hoàn cảnh bản thân
Trang 34- Mục tiêu giống như những con đường mà ta tự vạch ra để các em bước
đi trong cuộc sống của mình, hãy tự đặt câu hỏi nếu ta sống không có mụctiêu thì sẽ ra sao?
Trong cuộc sống, khi có kĩ năng xác định mục tiêu sẽ giúp các em họcsinh đề ra hướng đi, phương pháp học tập môn Ngữ văn nói riêng, các mônhọc khác nói chung một cách hiệu quả
Thông qua hoạt động rèn luyện kỹ năng sống trong dạy và học của thầytrò qua những giờ dạy học văn học Việt Nam trung đại giúp các em có nhiềuthuận lợi để đặt và thực hiện mục tiêu Ví dụ các em đề ra mục tiêu viết báotường về chủ đề ngày nhà giáo Việt Nam 20-11, như vậy các em sẽ cần sưutầm hoặc tự sáng tác các mẩu chuyện, câu thơ về chủ đề nhà giáo để trình bày
2.1.2.3 Kĩ năng tự nhận thức
- Là tự đánh giá về mình xem xét những mặt mạnh, mặt yếu, những ưu,khuyết điểm của mình từ đó có sự khắc phục, cố gắng vươn lên trong cuộcsống Cổ nhân có câu “biết người biết ta trăm trận trăm thắng”, muốn nhậnthức thế giới xung quanh trước hết hãy nhận thức đúng về mình, khi các cánhân nhận thức được khả năng của mình họ sẽ biết sử dụng một cách có hiệuquả và có khả năng lựa chọn những gì phù hợp với những điều kiện của bảnthân, với xã hội mà các em đang sống
- Sự tự nhận thức được năng lực của bản thân và vị trí của mình trongcộng đồng dẫn đến lòng tự trọng Mối quan hệ của một cá nhân với nhữngngười khác có ảnh hưởng rất lớn tới lòng tự trọng Các mối quan hệ có thểlàm mất đi hoặc phát triển lòng tự tin, tự trọng của mỗi cá nhân Do đóviệc khuyến khích những mối quan hệ lành mạnh, thúc đẩy và phát triểnlòng tự tin, tự trọng là cần thiết trong việc giáo dục kĩ năng sống và lànhân tố quan trọng giúp cho mỗi cá nhân tạo lập cho mình cuộc sống phùhợp với khả năng, điều kiện của chính mình và luôn vươn lên trong cuộcsống Tuy vậy, nhận thức được bản thân mình không phải là việc dễ dàng,
Trang 35cần phải thường xuyên rèn luyện mới phát hiện được chính mình một cáchđúng đắn
- Khi học sinh nhận biết được bản thân, thấy được mặt mạnh, mặt yếucủa mình sẽ tạo cho các em sự tự tin trong cuộc sống đây là yếu tố quan trọngtrong cuộc sống hiện đại ngày nay Nội dung môn ngữ văn rất đa dạng gồm cảkiến thức và kĩ năng các em học sinh biết nhận thức được vai trò quan trọngcủa việc học tập môn ngữ văn cũng như nhận thức được các vấn đề một cáchchân thực
- Giáo dục kĩ năng tự nhận thức cho học sinh để các em có cách nhìnđúng đắn về bản thân, từ đó giúp cho các em có thể phát huy thế mạnh và sởtrường của mình trong học tập và ngoài đời sống
- Trong các tiết dạy học, các buổi tổ chức ngoại khóa câu lạc bộ văn học
nên tăng cường cho các em học sinh tự trình bày ý kiến, quan điểm riêng củamình về các vấn đề chủ đề thông điệp của tác phẩm Qua đó, các em sẽ tự tinhơn khi thể hiện bản thân
2.1.2.4 Kĩ năng giao tiếp
Giao tiếp là quá trình tiếp xúc trao đổi những thông tin, mong muốn, suynghĩ, tình cảm giữa người này với người khác
- Đối tượng giao tiếp:
+ Giao tiếp giữa cá nhân với cá nhân
+ Giao tiếp giữa cá nhân với nhóm
+ Giao tiếp giữa nhóm với nhóm, giữa nhóm với cộng đồng
- Giao tiếp là kĩ năng quan trọng sẽ giúp học sinh có nhiều thuận lợi
trong học tập cũng như cuộc sống, nó cho phép các em có được sự tự tin khi
Trang 36đối diện với mọi người Khả năng giao tiếp của các em được hình thành trongmột quá trình rèn luyện lâu dài, qua kinh nghiệm thực tế của bản thân các em,qua việc học hỏi người khác đặc biệt được rèn luyện qua các tình huống cụthể của cuộc sống
- Để giao tiếp hiệu quả các em cần có các kĩ năng sau:
+ Lắng nghe tích cực và phản hồi tích cực khi tiếp nhận thông tin Lắngnghe tích cực là yếu tố cần thiết để quá trình giao tiếp có hiệu quả Mỗi họcsinh cần biết lắng nghe và tôn trọng ý kiến người khác khi họ đang nói Ngườinói phải có người nghe, có như vậy quá trình giao tiếp mới có hiệu quả
+ Tôn trọng nhu cầu của đối tượng giao tiếp, hay tôn trọng người giaotiếp với mình
Chân thành, cảm thông chia sẻ với người mình giao tiếp, nhất là khi họgặp khó khăn, hoạn nạn
+ Vui vẻ, hoà nhã, chân thành, cầu thị, luôn tìm ở người khác những điềutốt hơn mình để học tập
+ Kết hợp giữa lời nói với cử chỉ, điệu bộ, động tác để tạo sự hấp dẫn đốivới người khác trong giao tiếp
- Trong dạy học Ngữ văn có nhiều nội dung học tập cần có sự thảo luận,trao đổi, do vậy, giáo dục kĩ năng giao tiếp sẽ đạt hiệu quả cao hơn Khi các
em được giáo dục kĩ năng giao tiếp, các em sẽ thuận lợi hơn khi trao đổi, trìnhbày ý kiến quan điểm về các vấn đề văn chương mà chương trình ngữ văn đềcập, đặc biệt những vấn đề được nhiều người quan tâm hiện nay
2.1.2.5 Kĩ năng đương đầu, hóa giải Stress và cảm xúc tiêu cực
- Stress là tình trạng căng thẳng về thần kinh, hay sự ức chế về tâm lí của
các em học sinh Stress xuất hiện một cách tự nhiên trong cuộc sống, khôngthể trốn tránh được Vấn đề là mỗi học sinh phải làm gì để giải tỏa Stress vàkhông để Stress biến thành trở ngại trong cuộc sống của mình Khi cuộc sốngcàng trở nên phức tạp và thách thức, rất nhiều tình huống trong cuộc sống đẩybạn rơi vào “áp lực”, như công việc nhiều, thời gian giải quyết gấp gáp, sức
Trang 37khỏe, tâm lý không tốt lại bị ngoại cảnh (gia đình, bạn bè hoặc các mối quan
hệ xã hội) chi phối Bên cạnh đó, có những em không hiểu rõ khả năng củamình, không biết tiên lượng và từ chối, tham công tiếc việc, dồn hết sức đểmong hoàn thành công việc nhưng lại không đạt được kết quả mỹ mãn, để rồiđến một thời điểm, các em giống như quả bóng bơm quá căng sẽ bị nổ tung.Lúc bấy giờ, áp lực đã quá tải và vượt quá sức chịu đựng, bạn sẽ trở thành tín
đồ của Stress hoặc sự căng thẳng quá mức về thần kinh
- Theo những nghiên cứu tâm lý thì trạng thái căng thẳng đôi khi lại cóhiệu ứng tích cực trong hành động, nó giúp mỗi cá nhân có động lực để hoànthành công việc trong thời gian ngắn một cách hiệu quả hơn Học sinh nênhọc cách đối phó và sống chung với nó Nếu đó là một kiểu Stress không gây
áp lực quá mức mà lại có giá trị động viên
- Khi bị Stress, nên bình tĩnh tìm hiểu nguyên nhân để từ đó có hướnggiải quyết hợp lý Nếu cảm thấy cách phân bố thời gian cho công việc của mìnhchưa hợp lý thì cần phải điều chỉnh lại ngay để tránh rơi vào trường hợp Stresscấp Nếu cảm thấy bị áp lực quá nhiều từ công việc và không còn thời gian thưgiãn thì có thể xin nghỉ phép vài ngày để hòa mình vào thiên nhiên, điều này sẽgiúp “tái làm sạch” bộ não và tiếp tục công việc với một sinh lực mới
- Đôi khi, cũng có bạn học sinh rơi vào tình huống không may, thay vì cónhững suy nghĩ tích cực thì lại cứ “đắm chìm” trong vòng luẩn quẩn để rồitiêu hao dần tinh lực lúc nào không biết
- Tại sao học sinh cần hoá giải (loại bỏ) các cảm xúc tiêu cực? Các emcần loại bỏ những cảm xúc tiêu cực, bởi trong nhiều trường hợp, cảm xúc tiêucực có tác động xấu tới các mặt sức khoẻ thể chất, tâm lý tình cảm, tư duy vàhành vi - hành động cụ thể như:
+ Về sức khoẻ thể chất: Mệt mỏi; Đổ mồ hôi; Chóng mặt; Đau cơ bắp;Muốn ngất đi; Tim đập nhanh; Mệt lả người; Đau đầu …
+ Về tâm lý - tình cảm: Có nhiều cảm xúc lẫn lộn, thay đổi nhanh; Cảmthấy bồi hồi, lo lắng, sợ hãi; Có mặc cảm tội lỗi; Hân hoan cao độ; Nổi giận;
Trang 38Buồn; Cảm thấy vô vọng; Cảm thấy bị dồn nén; Cảm thấy xa lạ; Mất phươnghướng; Dễ nổi nóng, nổi cáu; Tự đổ lỗi cho bản thân; Cảm thấy dễ bị tổnthương…
+ Về tư duy, suy nghĩ: Khó tập trung, Không muốn suy nghĩ gì nữa, ýnghĩ quanh quẩn, suy nghĩ chậm, không nghĩ ra được; Không nhớ; Bị lẫn lộn;Suy nghĩ tiêu cực
+ Về hành vi - hành động: Khó ngủ, ăn không ngon; Nói năng không rõràng, khó hiểu; Nói liên tục về một sự việc; Hay tranh luận; Rút lui; Phóngđại; Không muốn tiếp xúc với người khác; Uống rượu, bia; Uống thuốc anthần; Không muốn năng động như bình thường…
- Trong dạy học Ngữ văn THPT sẽ có những tình huống khó những chitiết hình ảnh trừu tượng,đặc biệt văn học Việt Nam trung đại có tính chất quyphạm, có nhiều nội dung khó do vậy các em học sinh dễ rơi vào tình trạngcăng thẳng, bên cạnh đó cũng có nhiều nội dung thú vị để các em học tập mộtcách thoải mái: như tìm hiểu một bức tranh thiên nhiên,một nhân vật lịch sửnhư Lê Lợi,Hưng Đạo Đại Vương,được biết về Hải Thượng Lãn Ông dovậy rất thuận lợi khi giáo dục kĩ năng hóa giải stress và cảm xúc tiêu cực, khi
có được kĩ năng hóa giải stress và cảm xúc tiêu cực học sinh sẽ tự tạo chomình một tâm thế học tập thoải mái, như vậy việc tiếp thu bài học, đặc biệtcác nội dung học tập khó sẽ đạt hiệu quả cao hơn
2.1.2.6 Kĩ năng xác định giá trị
- Giá trị là những chuẩn mực về đạo đức, niềm tin, chính kiến, thái độ của
mỗi học sinh, mỗi xã hội, có ảnh hưởng đến quá trình ra quyết định và giải quyếtvấn đề Giá trị sống mang tính cá nhân, không phải giá trị sống của mọi học sinhđều giống nhau Có em cho rằng "tiền bạc là trên hết" Có em cho rằng tình yêuthương mới là điều quý giá nhất trên đời Có em coi trọng lòng trung thực, sựbình yên mới là quan trọng… Có những giá trị sống đích thực, trở thành nhữnggiá trị chung cho nhiều người và toàn xã hội như lòng trung thực, hoà bình, tôntrọng, yêu thương, công bằng, tình bằng hữu, lòng vị tha
Trang 39Không phải học sinh nào cũng nhận đúng giá trị của cuộc sống Có emhọc sinh cho rằng trở thành người giàu có mới là "giá trị đích thực" Khi ấy,các em sẽ phấn đấu để có tiền bằng mọi giá, kể cả giết người, buôn lậu, trộmcắp Nhưng rồi cách kiếm tiền ấy đưa các em đến chỗ phạm tội, làm hại ngườikhác, làm hại cộng đồng, quên rằng "người giàu cũng khóc".
Có em lấy danh vọng làm thước đo giá trị Vậy là họ cố gắng bằng mọicách để có được những chức vị nào đó Nhưng khi những chức vị ấy mất, bịtước bỏ, con người trở nên "trắng tay", vô giá trị
Có em lại coi sự nhàn hạ là giá trị cuộc sống dẫn đến trốn tránh tráchnhiệm, lười lao động, chọn những công việc, nghề nghiệp không vất vả Cuốicùng, các em chẳng làm được gì cho bản thân và xã hội
- Giá trị có nhiều cấp độ: Giá trị của cá nhân, giá trị nhóm, giá trị cộngđồng, dân tộc, nhân loại
- Giá trị được thay đổi qua mỗi giai đoạn trưởng thành của cuộc đời, quakinh nghiệm sống và chịu ảnh hưởng của một nền giáo dục, nền văn hoá vàmột chế độ xã hội nhất định
- Kỹ năng xác định giá trị là khả năng xác định những đức tính, niềm tin,chính kiến của bản thân mà mình cho là quan trọng, đúng đắn, giúp cho tahành động theo phương hướng đó Do đó, giá trị ảnh hưởng đến quá trình raquyết định của mỗi em học sinh
Đây là kĩ năng quan trọng nó sẽ giúp các em định hướng được hướng đicho mình trong cuộc đời, nó cũng giúp ta xác định được những giá trị đúngđắn, phù hợp với chuẩn mực của xã hội Đối với các em học sinh rèn luyện kĩnăng xác định giá trị cũng giống như rèn luyện đạo đức, thái độ trong nhàtrường, giáo viên có thể có những cách thức đơn giản rèn luyện các em nhưthông qua phiếu học tập
- Trong dạy học Ngữ văn giáo dục kĩ năng xác định giá trị có ý nghĩaquan trọng, trước hết nó giúp học sinh hình thành chuẩn mực đạo đức đúngđắn trong suy nghĩ, hành động từ các em sẽ có suy nghĩ đúng đắn khi tiếp cận
Trang 40các vấn đề kiến thức, lựa chọn kiến thức đúng đắn giúp các em hành độngtheo phương hướng đó
Trong các tiết dạy học Ngữ văn văn học trung đại Việt Nam GV cần lồngghép để HS thấy rõ nội dung kỹ năng sống xác định giá trị Như hai câu thơ
trong đoạn trích Nỗi thương mình của Nguyễn Du :
Khi tỉnh rượu, lúc tàn canh
Giật mình mình lại thương mình xót xa
Đó không phải là động thái “giật mình” thông thường do sự tác động độtngột yếu tố ngoại cảnh mà chính là sự giật mình của cảm xúc Từ việc nhânvật Thúy Kiều tự ý thức về nhân phẩm để HS thấy được trong cuộc sốngchúng ta cũng nên có những cái “giật mình” như vậy Các em nên có nhữngkhoảnh khắc chiêm nghiệm lại bản thân về học tập(đã học tốt chưa) về đốinhân xử thế với mọi người xung quanh , sống đúng là chính mình trongcuộc đời đầy xô bồ nhộn nhịp hiện nay
Hay trong các buổi sinh hoạt ngoại khóa việc giáo dục kĩ năng xác địnhgiá trị được tiến hành cũng thuận lợi: Ví dụ: Trong buổi tọa đàm nhân ngày20/10 hay 8/3 HS thảo luận và đưa ra ý kiến quan điểm về chủ đề khẳng địnhgiá trị người phụ nữ Việt Nam qua việc học tác phẩm văn trung đại
2.1.2.7 Kĩ năng ra quyết định
- Kỹ năng ra quyết định là một loạt các kết luận và hoạt động của bảnthân để đưa ra một quyết định đảm bảo đạt được một kết quả nào đó theomong muốn của bản thân
Những bạn thành công thích cảm giác tự tin do biết cách lựa chọn khônngoan thích hợp Cùng với việc rèn luyện, bạn có thể cải thiện khả năng đưa
ra những quyết định tốt cho mình trong mọi lĩnh vực của cuộc sống - riêng tư,tài chính và nghề nghiệp - vì cuộc sống bao gồm rất nhiều quyết định vànhững lựa chọn tốt nhất là chìa khoá cho sự thành công của bạn Khả năngđưa ra quyết định tốt có thể giúp bạn: