1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bồi dưỡng hứng thú học tập môn toán lớp 4 thông qua hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp

117 850 7

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 117
Dung lượng 1,54 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhận thức của giáo viên Tiểu học về tầm quan trọng của việcbồi dưỡng hứng thú học tập môn Toán lớp 4 thông qua hoạt động giáodục ngoài giờ lên lớp...37Bảng 2.2.. Hoạtđộng GDNGLL bao gồm

Trang 1

Lời cảm ơn

Trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn này, tôi đã nhận được sự hướng dẫn, giúp đỡ quý báu của các thầy cô, các anh chị, các em và các bạn Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tôi xin được bày tỏ lới cảm ơn chân thành tới:

Ban giám hiệu, Phòng đào tạo sau đại học, chuyên ngành giáo dục học (Bậc Tiểu học) đã tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn.

Tôi xin chân thành cảm ơn Tiến sĩ Nguyễn Thị Châu Giang đã hết lòng

giúp đỡ, động viên, hướng dẫn và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn tốt nghiệp.

Sau cùng, tôi xin gửi lời biết ơn sâu sắc đến gia đình đã luôn tạo điều kiện tốt nhất cho tôi trong suốt quá trình học tập cũng như thực hiện luận văn.

Do thời gian có hạn và kinh nghiệm nghiên cứu khoa học chưa nhiều nên luận văn còn nhiều thiếu sót, rất mong nhận được ý kiến góp ý của Thầy/Cô và các anh chị học viên.

Nghi xuân, ngày 15 tháng 8 năm 2014

Học viên

Phạm Thị Duân

Trang 2

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 3

3.Khách thể nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu 3

4 Phạm vi nghiên cứu 4

5 Giả thuyết nghiên cứu 4

6 Nhiệm vụ nghiên cứu 4

7 Phương pháp nghiên cứu 4

8 Cấu trúc luận văn 5

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 6

1.1 Sơ lược về lịch sử nghiên cứu vấn đề: 6

1.2 Một số khái niệm cơ bản của đề tài 8

1.2.1 Hứng thú học tập 8

1.2.2 Bồi dưỡng hứng thú học tập 12

1.2.3 Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp 13

1.3 Một số vấn đề về hứng thú học tập môn Toán của học sinh lớp 4 16

1.3.1 Nội dung môn Toán lớp 4 16

1.3.3 Hứng thú học tập môn Toán của học sinh lớp 4 21

1.3.4 Những yếu tố ảnh hưởng đến hứng thú học tập môn Toán của học sinh lớp 4 22

1.4 Sự cần thiết phải bồi dưỡng hứng thú học tập môn Toán cho HS lớp 4 32

1.5 Kết luận chương 1 33

Chương 2: THỰC TRẠNG BỒI DƯỠNG HỨNG THÚ HỌC TẬP MÔN TOÁN CHO HỌC SINH LỚP 4 THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC NGOÀI GIỜ LÊN LỚP 35

2.1 Khái quát về quá trình đánh giá thực trạng 35

2.1.1 Mục đích khảo sát 35

2.1.2 Đối tượng khảo sát 35

2.1.3 Nội dung khảo sát 35

2.1.4 Phương pháp khảo sát 35

2.1.5 Cách đánh giá thực trạng 36

Trang 3

2.2 Thực trạng bồi dưỡng hứng thú học tập môn Toán lớp 4 thông qua hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp ở một số trường tiểu học trên địa bàn Huyện

Nghi Xuân- Hà Tĩnh 36

2.2.1 Thực trạng nhận thức của giáo viên Tiểu học về tầm quan trọng của việc bồi dưỡng hứng thú học Toán cho HS 36

2.2.2 Thực trạng hứng thú của học sinh trong học Toán 38

2.2.3 Những thuận lợi và khó khăn khi sử dụng các biện pháp bồi dưỡng hứng thú học toán cho HS 46

2.3 Đánh giá thực trạng 48

2.3.1 Nguyên nhânchủ quan của thực trạng 48

2.3.2 Nguyên nhân khách quan của thực trạng 49

Kết luận chương 2 50

Chương 3: MỘT SỐ BIỆN PHÁP BỒI DƯỠNG HỨNG THÚ HỌC TẬP MÔN TOÁN CHO HỌC SINH LỚP 4 THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC NGOÀI GIỜ LÊN LỚP 51

3.1 Một số nguyên tắc đề xuất các biện pháp 51

3.2.Một số biện pháp bồi dưỡng hứng thú học tập môn Toán lớp 4 thông qua hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp 52

Biện pháp 1: 52

Biện pháp 2: 54

Biện pháp 3: .68

Biện pháp 4: 71

3.3 Thăm dò tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp 74

3.3.1 Mục đích 75

3.3.2 Đối tượng 75

3.3.3 Nội dung 75

3.3.4 Phương pháp 75

3.3.5 Kết quả 76

Kết luận chương 3 79

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 80

TÀI LIỆU THAM KHẢO 82

PHỤ LỤC 84

Trang 4

DANH MỤC VIẾT TẮT

Chữ viết tắt Diễn giải

PGS – TS Phó giáo sư – Tiến sĩ

GDNGLL Giáo dục ngoài giờ lên lớp

GD & ĐT Giáo dục và đào tạo

Trang 5

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

Bảng 2.1 Nhận thức của giáo viên Tiểu học về tầm quan trọng của việcbồi dưỡng hứng thú học tập môn Toán lớp 4 thông qua hoạt động giáodục ngoài giờ lên lớp 37Bảng 2.2 Hứng thú học tập của học sinh lớp 4 ở Nghi Xuân – Hà Tĩnh 38Bảng 2.3 Biểu hiện hứng thú học Toán của học sinh lớp 4 39Bảng 2.4 Ý kiến của giáo viên về các yếu tố hạn chế học môn Toán củahọc sinh lớp 4 41Bảng 2.5 Ý kiến của học sinh về các yếu tố hạn chế hứng thú học tậpmôn Toán 42Bảng 2.6 Các biện pháp đã được giáo viên sử dụng trong bồi dưỡnghứng thú môn Toán lớp 4 44Bảng 2.7 Đánh giá của giáo viên về những thuận lợi và khó khăn khi sửdụng các biện pháp bồi dưỡng hứng thú học Toán cho học sinh lớp 4 46

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong Chương trình Tiểu học do Bộ GD& ĐT ban hành kèm theo

quyết định số 43/2001/QĐ-BGD&ĐT ngày 09 tháng 11 năm 2001 nêu rõ:

"Mục tiêu dạy học Toán ở bậc Tiểu học nhằm giúp học sinh có kiến thức cơ bản về số học, các số tự nhiên, phân số Hình thành các kỹ năng Bước đầu phát triển năng lực tư duy, khả năng suy luận hợp lý và diễn đạt đúng cách phát hiện và giải quyết các vấn đề đơn giản, gần gũi trong cuộc sống; kích thích trí tưởng tượng; chăm học và hứng thú học tập môn Toán" (373(v) [27])

Nghiên cứu các tài liệu lý luận cũng cho thấy: Hứng thú là yếu tố tạo rachất lượng học tập ở người học Khi có hứng thú học tập học sinh sẽ:

- Say mê với môn học

- Tự tin, chủ động chiếm lĩnh các kiến thức mới,

- Tích cực và sáng tạo khi giải quyết những nhiệm vụ học tập

Có thể nói rằng hứng thú học tập là điều kiện tất yếu để mỗi học sinhphát huy vai trò tích cực, chủ động và tự giác của mình trong quá trình họctập

Trong dạy học ở Tiểu học, học sinh thường gặp nhiều khó khăn khi lĩnhhội các kiến thức toán học, đặc biệt là học sinh lớp 4, bởi: Ở giai đoạn đầuTiểu học (lớp 1, 2 ,3) môn Toán chủ yếu gồm các nội dung gần gũi với cuộcsống của trẻ, sử dụng các kinh nghiệm đời sống của trẻ, nhưng sang giai đoạncuối Tiểu học (lớp 4, 5) cấu trúc chương trình môn Toán tập trung vào các nội

Trang 7

dung có tính khái quát, tính hệ thống cao hơn, khá trừu tượng hơn Đòi hỏihọc sinh phải nỗ lực rất nhiều mới có thể lĩnh hội được kiến thức.

Mặt khác, thực tiễn còn cho thấy việc lĩnh hội kiến thức Toán học củahọc sinh ở lớp 4 chưa hiệu quả Bởi đại đa số học sinh lớp 4 nói riêng và họcsinh cuối Tiểu học nói chung chưa thực sự hứng thú với môn Toán Hơn nữaviệc học Toán chỉ gói gọn trong chương trình học trên lớp, trong những bàitoán cơ bản của sách giáo khoa khiến cho các em thấy môn học này còn quá

gò bó và khô khan, chưa khơi gợi hứng thú học tập và kích thích được tínhsáng tạo của các em

Trong tài liệu “Tham luận về Hoạt động giáo dục ngoài giờ lênlớp”(GDNGLL) đã trình bày về tầm quan trọng của hoạt động giáo dục ngoàigiờ lên lớp như sau:

+ Hoạt động GDNGLL là một hoạt động quan trọng, góp phần nângcao chất lượng giáo dục toàn diện, thực hiện mục tiêu giáo dục của nhàtrường…Nhân cách trẻ được hình thành và phát triển thông qua các hoạt động

có ý thức Chính trong quá trình sống, học tập, lao động giao lưu, vui chơigiải trí…con người đã tự hình thành và phát triển nhân cách của mình Vì thế,hoạt động GDNGLL có liên quan đến việc mở rộng kiến thức, tư tưởng, tìnhcảm, nâng cao năng lực thể chất và tinh thần học tập của học sinh Do vậy,cần thiết phải kết hợp việc học trên lớp với việc rèn kỹ năng thực hành, giúphọc sinh hiểu sâu hơn và nắm bản chất của sự vật hiện tượng, tạo niềm tin và

óc sáng tạo cho học sinh, giải quyết mối quan hệ giữa học và chơi – chơi vàhọc, nhằm đáp ứng nhu cầu tâm lí lứa tuổi học sinh Tiểu học

+ Hoạt động GDNGLL được quy định cụ thể tại Điều lệ trường Tiểuhọc ban hành kèm theo quyết định 51/2007/QĐ-BGĐT ngày 31 tháng 8 năm

2007 của Bộ GD-ĐT, tại điều 26 đã chỉ rõ “Hoạt động giáo dục bao gồm hoạt

Trang 8

động trên lớp và hoạt động ngoài giờ lên lớp nhằm rèn luyện đạo đức, pháttriển năng lực, bồi dưỡng năng khiếu, giúp đỡ học sinh yếu kém phù hợp vớiđặc điểm tâm lý, sinh lý lứa tuổi học sinh tiểu học Hoạt động giáo dục trênlớp được tiến hành thông qua việc dạy học các môn bắt buộc và tự chọn Hoạtđộng GDNGLL bao gồm hoạt động ngoại khóa, hoạt động vui chơi, thể dụcthể thao, tham quan du lịch, giao lưu văn hóa, hoạt động bảo vệ môi trường,lao động công ích và các hoạt động xã hội khác…”

Hiện nay, việc bồi dưỡng hứng thú học tập các môn học nói chung vàmôn Toán nói riêng thông qua hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp ở cáctrường Tiểu học còn ít được quan tâm chú trọng, nếu có cũng chỉ diễn ra đơnđiệu, cứng nhắc, chưa phát huy được hết ý nghĩa thực chất của nó đối với việcnâng cao chất lượng giáo dục toàn diện Vì vậy, chúng tôi thiết nghĩ việc bồidưỡng hứng thú học tập môn Toán cho học sinh thông qua các hoạt động giáodục ngoài giờ lên lớp nếu làm tốt sẽ giúp các em cảm thấy môn học này khôngcòn khô khan nữa Vì thế để tìm kiếm các biện pháp hiệu quả giúp học sinhthành công hơn trong quá trình học tập môn Toán của học sinh lớp 4, chúng tôi

quyết định chọn đề tài nghiên cứu: “Bồi dưỡng hứng thú học tập môn Toán lớp 4 thông qua hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp”.

2 Mục đích nghiên cứu

Đề xuất một số biện pháp bồi dưỡng hứng thú học tập môn Toán lớp 4thông qua hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp nhằm góp phần nâng cao chấtlượng dạy học toán trong trường Tiểu học

3.Khách thể nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu

3.1 Khách thể nghiên cứu

Bồi dưỡng hứng thú học tập môn Toán lớp 4 thông qua hoạt động giáodục ngoài giờ lên lớp

Trang 9

3.2 Đối tượng nghiên cứu

Biện pháp bồi dưỡng hứng thú học tập môn Toán lớp 4 thông qua hoạtđộng giáo dục ngoài giờ lên lớp

4 Phạm vi nghiên cứu

Đề tài tập trung nghiên cứu bồi dưỡng hứng thú học tập môn Toán lớp

4 thông qua quá trình tổ chức hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp tại một sốtrường Tiểu học trên địa bàn huyện Nghi Xuân – Hà Tĩnh

5 Giả thuyết nghiên cứu

Nếu đề xuất được các biện pháp bồi dưỡng hứng thú học tập môn Toánlớp 4 thông qua hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp có tính khoa học và khảthi thì sẽ góp phần nâng cao chất lượng dạy học Toán trong trường Tiểu học

6 Nhiệm vụ nghiên cứu.

6.1 Nghiên cứu các vấn đề lý luận về bồi dưỡng hứng thú học tập môn Toánlớp 4 thông qua hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp

6.2 Tìm hiểu thực trạng công tác bồi dưỡng hứng thú học tập môn Toán lớp 4thông qua hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp

6.3 Đề xuất và thử nghiệm tính hiệu quả của các biện pháp bồi dưỡng hứngthú học tập môn Toán lớp 4 thông qua hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp

7 Phương pháp nghiên cứu

7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lí luận: Sử dụng để nghiên cứu lí luận,

lịch sử nghiên cứu vấn đề

7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Sử dụng để nghiên cứu phần

thực tế bao gồm: phương pháp quan sát, phương pháp điều tra, phương pháplấy ý kiến chuyên gia, phương pháp thử nghiệm sư phạm

Trang 10

7.3 Phương pháp thống kê toán học: Sử dụng toán học để xử lí các số liệu

thống kê liên quan đến thực trạng bồi dưỡng hứng thú học tập môn Toán lớp

4 thông qua hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp

8 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, kiến nghị, tài liệu tham khảo thì luận văngồm có 3 chương

Chương 1: Cơ sở lí luận của đề tài

Chương 2: Thực trạng bồi dưỡng hứng thú học tập môn Toán lớp 4 thông quahoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp

Chương 3: Một số biện pháp bồi dưỡng hứng thú học tập môn Toán lớp 4thông qua hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp

Trang 11

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI

1.1 Sơ lược về lịch sử nghiên cứu vấn đề:

Hứng thú là thuộc tính tâm lý cá nhân, nó có ý nghĩa đặc biệt quantrong hoạt động của con người, đặc biệt hứng thú học tập môn Toán là một bộphận cấu thành của hứng thú nhận thức - lĩnh vực được nhiều tác giả trong vàngoài nước tập trung nghiên cứu

- I.F.Kha-la-mốp nghiên cứu hứng thú học tập của học sinh trong cuốn

”Phát huy tính tích cực của học sinh thế nào”, tác giả đã bàn nhiều về nhữngđặc điểm, nguyên nhân cũng như biện pháp để hình thành hứng thú học tậpcho học sinh, nêu rõ tầm quan trọng của hứng thú trong hoạt động nhận thứccủa con người

- V.N Macsimôva nghiên cứu "Tác dụng của giảng dạy nêu vấn đề đếnhứng thú nhận thức của học sinh" (1974)

- N.G.Môracôva nghiên cứu "Tác dụng của giảng dạy nêu vấn đề đếnhứng thú nhận thức của học sinh" (1975), "Hứng thú trong mối quan hệ vớihoạt động nâng cao hiệu quả giờ lên lớp" (1975)

- V.L Pagiơnhicốp tập trung làm rõ "Sự hình thành khuynh hướng xãhội của hứng thú ở học sinh trong quá trình tham gia công tác ngoài nhàtrường" (1975)

Nhìn chung, các tác giả này đi sâu nghiên cứu hứng thú trong lĩnh vựcgiáo dục và các giai đoạn phát triển trí tuệ của học sinh, đặc biệt là hứng thúnhận thức Qua đó, cho chúng ta thấy hứng thú nhận thức là một yếu tố quantrọng thúc đẩy sự hình thành động cơ học tập, góp phần nâng cao chất lượnghọc tập

Về vấn đề hứng thú học tập môn Toán ở Tiểu học thời gian gần đây cómột số công trình nghiên cứu có liên quan, như:

Trang 12

- Dương Thị Thanh Thanh: "Nghiên cứu hứng thú học tập môn Toáncủa HS lớp 4 Tiểu học" (2005) Tác giả đã làm rõ lý luận về hứng thú học tậptoán và từ đó đề xuất các phương án để nâng cao hứng thú học tập cho họcsinh lớp 4

- Trần Ngọc Lan với: "Hệ thống trò chơi củng cố 5 mạch kiến thứcToán ở Tiểu học"- (2005) Tác giả đã chỉ ra cách thiết kế tổ chức các trò chơitheo 5 mạch kiến thức có tác dụng thiết thực với học sinh Tiểu học

- Đoàn Văn Minh với: Phát huy tính tích cực học toán cho học sinh lớp4,5 thông qua việc tổ chức sinh hoạt "Câu lạc bộ Toán Tuổi Thơ" (2007) Tácgiả nêu lên cách tổ chức tác động đến học sinh qua hình thức tác động ngoàigiờ lên lớp nhằm nâng cao chất lượng học tập Toán cho HS lớp 4,5

- Bùi Thị Hương với: "Hình thành kỹ năng tổ chức trò chơi học tậpmôn Toán ở các lớp 1,2,3 cho sinh viên ngành giáo dục Tiểu học Trường Đạihọc Vinh (2007) Tác giả đã chỉ ra cách tiến hành các trò chơi Toán cho HSlớp 1,2, 3 góp phần tích cực cho nâng cao chất lượng dạy học môn Toán ở cáclớp đầu cấp bậc Tiểu học

- Vũ Văn Tảo (2003): "Dạy cách học" trong đó ông đã chỉ ra nhiềucách dạy học tích cực áp dụng cho học sinh Tiểu học, như: dạy học nêu vàgiải quyết vấn đề, dạy học theo phương pháp kiến tạo

- Nguyễn Thị Thu Cúc với các bài viết trên tạp chí về "Hứng thú họctập môn Toán của học sinh Tiểu học ở Tây Ninh" (TC Giáo dục, số 150,2006); "Biện pháp tâm lý sư phạm nâng cao hứng thú học Toán ở học sinhTiểu học" (TC Khoa học giáo dục, số 30, 2008); " Những yếu tố ảnh hưởngđến hứng thú học tập môn Toán của học sinh Tiểu học ở Tây Ninh" (TC Giáodục, số 155, 2007)

- Nguyễn Xuân Thức (2007) "Tìm hiểu hứng thú học tập môn toán củahọc sinh lớp 5 tiểu học (tâm lý học, số 3, tr 6-11)

Trang 13

- Nguyễn Bá Minh (2007) với: "Dạy học hình thành khái niệm - Dạyhọc lấy học sinh làm trung tâm" đã phân tích và nêu lên cách dạy hình thànhkhái niệm bắt đầu từ hoạt động học tập của học sinh Tiểu học đến quan điểmcủa các trường phái tâm lý, đồng thời chỉ rõ các bước tiến hành để hình thànhhành động trí tuệ của học sinh Tiểu học theo quan điểm của P.Ia.Galperin; hệthống thực nghiệm dạy học của Dancốp trên quan điểm của Vưgôtxki (vềvùng phát triển gần nhất); hệ thống thực nghiệm của Đavưđốp Trong đó việcxác định và gây hứng thú học tập cho học sinh đã trở thành một trong nhữngnguyên tắc của hệ thống các quá trình tác động đến sự phát triển tâm lý họcsinh Tiểu học Trong hệ thống thực nghiệm dạy học của Dancốp, có nêu:

Những nét chủ yếu trong hướng dạy học phát triển là: "Tôn trọng vốn sống của trẻ khi dạy học, làm như vậy sẽ kích thích được lòng ham muốn học tập, sự tìm tòi và khả năng tự học của các em" [49].

Nhìn chung, việc nghiên cứu về hứng thú học tập môn Toán Tiểu học

và các biện pháp bồi dưỡng hứng thú học tập môn Toán đã được nhiều nhàtâm lý học trong và ngoài nước quan tâm; tuy nhiên, các tác giả thường chỉtiếp cận vấn đề theo những hướng đơn lẻ mà chưa có tính tổng thể, nên việcvận dụng các biện pháp bồi dưỡng hứng thú học tập môn Toán trong thực tiễncòn nhiều hạn chế

1.2 Một số khái niệm cơ bản của đề tài.

1.2.1 Hứng thú học tập

1.2.1.1 Khái niệm về hứng thú học tập

Để tìm hiểu khái niệm hứng thú học tập chúng ta cần phân biệt rõ haikhái niệm hứng thú học tập và hứng thú nhận thức:

- Hứng thú nhận thức có đối tượng là việc nhận thức thế giới kháchquan nói chung Đối tượng của hứng thú nhận thức là quá trình nhận thức bảnchất và quy luật của các sự vật hiện tượng trong thế giới khách quan Do

Trang 14

phạm vi rộng nên hứng thú nhận thức có liên quan đến nhiều lĩnh vực khácnhau trong cuộc sống và hoạt động của con người

- Hứng thú học tập có đối tượng hẹp hơn nhiều so với hứng thú nhậnthức

+ Khái niệm học tập hiểu theo nghĩa rộng là việc lĩnh hội những kinhnghiệm lịch sử xã hội nói chung, nghĩa là nó gần với khái niệm nhận thức

+ Theo đúng nghĩa Tâm lý học học tập là hoạt động của người họcđược tổ chức chuyên biệt bằng phương pháp nhà trường với nội dung, phươngpháp và hình thức tổ chức khoa học nhằm giúp người học lĩnh hội kinhnghiệm lịch sử - xã hội của loài người

Do vậy, chúng tôi quan niệm hứng thú học tập là loại hứng thú gắn vớicác môn học trong nhà trường:

Hứng thú học tập là thái độ đặc biệt của học sinh với môn học mà học sinh cảm thấy có ý nghĩa và có khả năng đem lại sự ham thích trong quá trình học tập bộ môn.

1.2.1.2 Các giai đoạn hình thành hứng thú học tập

Theo Tiến sỹ Tâm lý học Marôcôva thì quá trình hình thành hứng thúnói chung được chia làm ba giai đoạn 22, 36 như sau :

Giai đoạn 1: Những rung động định kỳ Bản chất của những rung động

định kỳ này chính là sự thích thú mang tính chất tình huống do những điềukiện cụ thể, trực tiếp của các tình huống trong quá trình học tập tạo ra

Ví dụ: HS làm bài tập đúng được điểm cao thường xuyên, được cô giáotuyên dương mỗi lần trước lớp; mỗi lần đó để lại những cảm xúc vui với bảnthân, trở thành những niềm cảm hứng khi được chấm bài, tự tin vào khả năngcủa mình

Giai đoạn 2: Thái độ nhận thức tích cực Ở giai đoạn này các xúc cảm

nhận thức tích cực đã mang tính khái quát và bền vững hơn, học sinh đã có

Trang 15

thái độ tích cực khi nhận thức môn học (ví dụ sự tìm tòi phát hiện ra cái mới).Thế nhưng ở mức độ này vẫn chưa phải là hứng thú thực sự

Giai đoạn 3: Xu hướng nhận thức tích cực đã bền vững ở cá nhân Ở

giai đoạn này hứng thú đã được hình thành và bền vững rõ rệt Vì đã ở mức

độ học sinh hiểu sâu sắc nên hứng thú có tác dụng định hướng toàn bộ hoạtđộng học tập của học sinh theo hướng tích cực Học sinh đã có niềm tin vữngchắc vào khả năng học tập của mình và rất thích học Nhu cầu học trở thànhtất yếu, không thể thiếu

Chúng tôi thấy cách phân chia các giai đoạn hình thành hứng thú củaMarôsôva là hợp lý Tuy nhiên, cần nhấn mạnh thêm rằng: ở giai đoạn 3, khi

xu hướng nhận thức tích cực của cá nhân đã được hình thành thì nó không chỉbao hàm thái độ nhận thức mà còn bao hàm thái độ xúc cảm tích cực và cảtính tích cực của hành vi

1.2.1.3 Các biểu hiện cơ bản của hứng thú học tập

Hứng thú học tập được thể hiện ra bên ngoài thông qua các dấu hiệu cơbản như sau:

- Sự chú ý nghe giảng và tích cực phát biểu xây dựng bài trong giờ học

là dấu hiệu đầu tiên của hứng thú học tập Hoạt động học tập là hoạt độngcăng thẳng, kéo dài nên nếu chỉ có ý thức nghĩa vụ và ý thức tổ chức kỷ luậtthì không đủ để bắt học sinh chú ý thường xuyên và lâu dài được Chỉ cóhứng thú thì học sinh mới có thể huy động tập trung chú ý lâu dài vào đốitượng Cũng chỉ có hứng thú thì học sinh mới có nhu cầu hiểu biết sâu hơn vềbài học nên tích cực phát biểu để thoả mãn nhu cầu của mình

- Làm đủ các bài tập của học sinh: Khi có hứng thú học sinh thườngthích làm và làm đầy đủ các bài tập của môn học Ở đây thể hiện mối quan hệhữu cơ giữa hứng thú và năng lực: hứng thú là dấu hiệu của năng lực và chínhnăng lực lại là tiền đề cho sự hình thành và phát triển hứng thú Học sinh có

Trang 16

khả năng học bài và làm bài tốt thì mới chăm chỉ làm bài Ngược lại sự thànhcông khi giải được các bài tập đã tạo ra niềm vui trí tuệ kích thích sự pháttriển cuả hứng thú

- Việc tự tìm tòi làm thêm các bài tập khác: Hứng thú thể hiện nhucầu nhận thức đã phát triển cao Khi có hứng thú học tập học sinh thường

có nhu cầu hiểu biết nhiều hơn nên không thoả mãn các bài giảng và sáchgiáo khoa mà thường tìm đọc thêm các tài liệu tham khảo để mở rộng vốntri thức của mình

- Việc tích cực học tập và vận dụng kiến thức vào thực tiễn: hứng thúhọc tập thì không phải chỉ dừng lại ở mức độ nhận thức hay xúc cảm mà tấtyếu phải dẫn tới tính tích cực hành động, tích cực suy nghĩ tìm tòi để ứngdụng tri thức vào thực tiễn

- Kết quả học tập tốt: sự chú ý trong tiết học và chăm chỉ hoàn thànhcác bài học: Một học sinh chú ý nghe giảng và tích cực phát biểu trong giờhọc, chăm chỉ học bài và làm bài tập, tìm đọc thêm các tài liệu tham khảo vềmôn học và chú ý tìm tòi ứng dụng kiến thức thì chắc chắn kết quả học tậpphải có mức độ khá trở lên Nói cách khác: dấu hiệu thứ năm này là kết quảtổng hợp của bốn dấu hiệu trên

Trong mỗi dấu hiệu trên đây đều có sự kết hợp biện chứng giữa cácthành phần nhận thức, xúc cảm và hành vi

Các dấu hiệu trên cũng được sắp xếp theo mức độ phát triển cao dầncủa hứng thú Nói cách khác, nó cũng chính là sự cụ thể hoá các giai đoạnphát triển của hứng thú Nếu chỉ ở mức độ chú ý nghe giảng và thích thú vớibài giảng thì mới chỉ ở những rung động định kỳ mang tính chất tình huống.Nghĩa là nó tương ứng với giai đoạn đầu tiên của sự hình thành hứng thú

Trang 17

Tiến lên bước nữa, ở mức học bài và làm bài đầy đủ là đã hình thànhđược thái độ nhận thức tích cực và tương đối bền vững Dấu hiệu này tươngứng với giai đoạn hai của sự hình thành hứng thú

Dấu hiệu tìm đọc thêm các tài liệu tham khảo về môn học, tìm tòi ứngdụng tri thức của môn học vào thực tiễn và luôn đạt kết quả học tập từ khá trởlên chứng tỏ hứng thú đã bền vững và hướng toàn bộ hoạt động của cá nhântheo hướng tích cực Dấu hiệu này tương ứng với giai đoạn ba của sự hìnhthành hứng thú

Bồi dưỡng (theo nghĩa rộng): Là quá trình giáo dục, đào tạo nhằm hình

thành nhân cách và những phẩm chất riêng biệt của nhân cách theo địnhhướng mục đích đã chọn

Bồi dưỡng (theo nghĩa hẹp): là trang bị thêm kiến thức, kỹ năng nhằm

mục đích nâng cao và hoàn thiện năng lực hoạt động trong các lĩnh lực cụ thể

Như vậy, bồi dưỡng là quá trình thực hiện những tương tác qua lại giữacác thành tố cấu trúc gồm mục tiêu, nội dung, phương pháp…nhằm làm chonăng lực và phẩm chất của đối tượng được bồi dưỡng tăng cao

Cụ thể hơn, bồi dưỡng hứng thú học tập là quá trình giáo viên thực hiện nhiệm vụ dạy học với đối tượng học sinh, đưa ra mục tiêu, biện pháp, hình thức dạy học cụ thể nhằm duy trì hứng thú, sự ham học hỏi hiểu biết đã

có của học sinh Đồng thời bằng kỹ năng, năng lực sư phạm của mình nâng cao hơn nữa sự tìm tòi, yêu thích của học sinh đối với môn học.

Trang 18

1.2.3 Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp

Đó là quá trình chuyển hóa năng lượng, lao động và các phẩm chất tâm líkhác của bản thân thành sự vật, thành thực tế và quá trình ngược lại là quátrình tách những thuộc tính của sự vật, của thực tế quay trở về với chủ thể,biến thành vốn liếng tinh thần của chủ thể Muốn tồn tại được trong thế giớixung quanh, con người phải tiến hành các hoạt động đối với thế giới, sản xuất

ra được các đối tượng, nhằm thõa mãn nhu cầu này hay nhu cầu khác Vì thế,A.N.Leonchiep đã đúc kết: hoạt động là phương thức tồn tại của con ngườitrong thế giới

Như vậy, có thể định nghĩa: Hoạt động là mối quan hệ tác động qua lại giữa con người và thế giới để tạo ra sản phẩm cả về thế giới và cả về phía con người.

Hoạt động của con người là hoạt động có đối tượng, có tính mục đích,tính chất xã hội và tính chất tập thể, được thực hiện bằng các thao tác và công

cụ nhất định Vì vậy, mỗi loại hoạt động đều đề ra cho con người những yêucầu nhất định, đòi hỏi ở con người những phẩm chất tâm lí nhất định Qúatrình tham gia hoạt động làm cho con người hình thành và phát triển đượcphẩm chất và năng lực, nhân cách được hình thành và phát triển

Trang 19

Một trong những quy luật của giáo dục là phải thay đổi tính chất củahoạt động, phong phú hóa nội dung, hình thức, cách thức tổ chức trong quátrình giáo dục để lôi cuốn bản thân học sinh tham gia tự giác, tích cực hoạtđộng và quản lí hoạt động để chiếm lĩnh được tri thức cần thiết cho bản thân.

1.2.3.2 Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp.

Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp(GDNGLL) là một hoạt động giáodục cơ bản được thực hiện một cách có mục đích, có kế hoạch, có tổ chức,nhằm góp phần thực thi quá trình đào tạo nhân cách cho học sinh, đáp ứngnhững yêu cầu đa dạng của đời sống xã hội

Hoạt động này do nhà trường quản lí, tiến hành ngoài giờ học trên lớptheo chương trình, kế hoạch dạy học, nó được tiến hành xen kẽ hoặc nối tiếpchương trình dạy học trong phạm vi nhà trường hoặc trong đời sống xã hội donhà trường chỉ đạo, diễn ra trong suốt năm học và cả thời gian nghỉ hè đểkhép kín quá trình giáo dục, làm cho quá trình đó có thể thực hiện được mọinơi mọi lúc

Hoạt động GDNGLL là hoạt động được tổ chức ngoài giờ học các mônhọc, là hoạt động nối tiếp và thống nhất hữu cơ với hoạt động giáo dục tronggiờ học trên lớp Cùng với dạy học trên lớp thì hoạt động GDNGLL là một bộphận rất quan trọng và vô cùng cần thiết trong toàn bộ quá trình dạy học Giáodục ở nhà trường phổ thông nói chung và của trường tiểu học nói riêng Hai

bộ phận này gắn bó với nhau, hỗ trợ nhau trong quá trình giáo dục

Nội dung của hoạt động GDNGLL có liên quan mật thiết với nội dungcủa các môn học, các lĩnh vực giáo dục đạo đức, thẩm mĩ, lao động, môitrường, an toàn giao thông, quyền trẻ em, kỹ năng sống…

Nội dung của hoạt động GDNGLL được quy định trong Điều lệ TrườngTiểu học bao gồm: hoạt động ngoại khóa, hoạt động vui chơi, thể dục thể

Trang 20

thao, tham quan du lịch, giao lưu văn hóa, hoạt động bảo vệ môi trường, laođộng công ích và các hoạt động xã hội khác.

Với sự phong phú và đa dạng của các loại hình hoạt động này, rõ rànghoạt động GDNGLL có một vị trí vô cùng quan trọng trong hoạt động giáodục ở các nhà trường

* Về vị trí:

Hoạt động GDNGLL được khẳng định: “Hoạt động GDNGLL không chỉ

là hoạt động ngoại khóa môn học, hay thuần túy là một hoạt động ngoại khóa.Hoạt động GDNGLL là một trong ba kế hoạch đào tạo: dạy học, giáo dục,hướng nghiệp dạy nghề Nhằm thực hiện mục tiêu đào tạo của cấp học theohướng giáo dục: Đạo đức nhân văn, khoa học kỹ thuật

Học sinh sẽ là chủ nhân tương lai của đất nước cần được phát triển toàndiện qua các mặt: Đức, Trí, Thể, Mĩ, Nghề nghiệp Vì vậy, có thể nóiHĐGDNGLL có vị trí then chốt trong quá trình giáo dục, nhằm điều chỉnh vàđịnh hướng quá trình giáo dục toàn diện đạt hiệu quả

* Về vai trò:

Hoạt động GDNGLL bổ trợ cho dạy học trên lớp, giúp học sinh mởrộng kiến thức và rèn luyện kỹ năng; Qua hoạt động GDNGLL học sinh đượccủng cố, bổ sung mở rộng kiến thức, cập nhật các thộng tin, các thành tựukhoa học, tạo hứng thú học tập, hiểu biết thêm lịch sử đất nước, nâng cao hiểubiết về các giá trị truyền thống của dân tộc, từ đó khơi dậy trong học sinh lòng

tự hào dân tộc, lí tưởng cống hiến cho dân tộc Hoạt động GDNGLL với cácchương trình hấp dẫn, kiến thức tích hợp của nhiều lĩnh vực khoa học có tácdụng bổ trợ cho hoạt động dạy học trên lớp để nhằm nâng cao chất lượng dạyhọc, đồng thời mở rộng kiến thức cho học sinh và cập nhật các thông tin mới

về tự nhiên, xã hội, về các vấn đề có tính thời đại n hư vấn đề quốc tế, hòabình hợp tác và hữu nghị, vấn đề bảo vệ môi trường, vấn đề quyền trẻ em…

Trang 21

Từ đó giúp các em biết vận dụng những tri thức đã học để giải quyết vấn đề

do cuộc sống thực tiễn đặt ra, biết tự điều chỉnh hành vi đạo đức, lối sống chophù hợp, có khả năng thích ứng và sống vui vẻ, lành mạnh trong xu thế toàncầu hóa

Hoạt động GDNGLL tạo điều kiện thuận lợi, phát huy tính tích cực,chủ động sáng tạo của học sinh, biến quá trình giáo dục thành tự giáo dục.Qua hoạt động GDNGLL giúp học sinh hình thành được một số năng lực:Năng lực tổ chức quản lí, năng lực tự hoàn thiện, năng lực giao tiếp, khả nănglàm việc độc lập, diễn đạt trước đám đông, phản xạ

nhanh, khơi gợi hứng thú trong học tập…

Như vậy, hoạt động GDNGLL có ý nghĩa tích cực trong việc hìnhthành và phát triển toàn diện nhân cách học sinh , đáp ứng yêu cầu xã hội, gópphần phát huy vai trò của giáo dục trong sự nghiệp công nghiệp hóa- hiệnđaoị hóa đất nước

1.3 Một số vấn đề về hứng thú học tập môn Toán của học sinh lớp 4

1.3.1 Nội dung môn Toán lớp 4

Nội dung môn Toán lớp 4 có 4 mạch kiến thức chính: Số học, đo lượng(đại lượng và đo đại lượng), yếu tố hình học và giải toán có lời văn

a.Số học

* Số tự nhiên, các phép tính về số tự nhiên:

- Lớp triệu: Đọc, viết, so sánh đến lớp triệu, giới thiệu lớp tỉ

- Tính giá trị của biểu thức chứa chữ dạng: a + b, a – b, a x b, a : b

Trang 22

- Phép nhân các số có nhiều chữ số với số không quá ba chữ số, tíchkhông quá 6 chữ số Tính chất giao hoán và kết hợp của phép nhân các số tựnhiên, tính phân phối của phép nhân với phép cộng.

- Phép chia các số có nhiều chữ số không quá 3 chữ số, thương không quá

4 chữ số

- Dấu hiệu chia hết cho 2, 3, 5, 9

- Tính giá trị của biểu thức số có 4 dấu phép tính Giải bài tập dạng

“tìm x biết: x < a, a < x < b”

* Phân số, các phép tính về phân số:

- Giới thiệu khái niệm ban đầu về các phân số đơn giản Đọc, viết, so sánhcác phân số, phân số bằng nhau

- Phép cộng, phép trừ hai phân số có cùng hoặc không cùng mẫu số

- Giới thiệu về tính chất giao hoán và kết hợp của phép nhân các phân số.Giới thiệu nhân một tổng hai phân số với một phân số

- Giới thiệu quy tắc chia phân số cho phân số, chia phân số cho số tự nhiênkhác 0

- Thực hành tính: Tính nhẩm về cộng, trừ hai phân số có cùng mẫu số,phép tính không có nhớ, tử số của kết quả tính có không quá hai chữ số Tínhnhẩm về nhân phân số với phân số hoặc với số tự nhiên, tử số và mẫu số củatích có không quá 2 chữ số, phép tính không có nhớ

- Tính giá trị của các biểu thức có không quá ba dấu phép tính với cácphân số đơn giản (mẫu số chung của kết quả phép tính có không quá haichữ số)

Trang 23

- Bổ sung và hệ thống hóa các đơn vị đo khối lượng Chủ yếu nêu mốiquan hệ giữa ki-lô-gam và yến, tạ, tấn giữa ki-lô-gam và gam.

- Bổ sung và hệ thống hóa các đơn vị đo thời gian Chủ yếu nêu mối quan

hệ giữa ngày - giờ, giờ - phút, giây, thế kỉ và năm, năm và tháng ngày

- Giới thiệu về diện tích và một số đơn vị đo diện tích (dm2, m2, km2) Nêumối quan hệ giữa m2 và cm2, mm2 và km2 Thực hành đổi đơn vị đo khooislượng (cùng loại) tính toán với các số đo Thực hành đo, tập làm Toán với các

số đo và tập ước lượng các số đo

- Giới thiệu về hình bình hành và hình thoi

- Giới thiệu về công thức tính diện tích hình bình hành, hình thoi

- Thực hành vẽ hình bằng thước hoặc êke, cắt, ghép, gấp hình

d Yếu tố thống kê

- Giới thiệu bước đầu về số trung bình cộng

- Lập bảng số liệu và nhận xét bảng số liệu

- Giới thiệu biểu đồ và tập nhận xét biểu đồ

e Giải toán có lời văn

- Giải bài toán có hai hoặc ba bước tính, có sử dụng phân số

- Giải toán có liên quan đến tìm hai số khi biết tổng , hiệu hoặc tỉ củachúng Tìm hai số khi biết tổng và hiệu của chúng

1.3.2 Đặc điểm tâm lí của học sinh lớp 4

- Tri giác:

Đặc điểm tri giác của học sinh tiểu học là tri giác trực tiếp, mang tínhcảm xúc, cụ thể, ít đi sâu vào bản chất của sự vật hiệm tượng Ở các lớp đầu

Trang 24

cấp tri giác của các em thường gắn với hành động, sử dụng các giác quan đểtri giác.

Ở các lớp cuối cấp, tri giác của các em mang tính mục đích và rõ rànghơn Lúc này tri giác trở thành hoạt động có phân tích, có văn hóa, mang tínhchất của sự quan sát có tổ chức Trong sự phát triển tri giác, vai trò của ngườigiáo viên là rất lớn giáo viên hằng ngày không chỉ dạy các khái niệm mà còndạy cho học sinh các kỹ năng hoạt động, phối hợp các giác quan, liên hệnhững gì đã học được để ngày càng nâng cao khả năng hiểu biết, các kỹ nănghoạt động một cách thành thạo

- Chú ý

Chú ý của học sinh về chú ý không chủ định, học sinh thường chú ý đếnnhững cái mới lạ, hấp dẫn, trực quan sinh động Sự chú ý của học sinh thườnghướng ra bên ngoài hành động, chưa có khả năng hướng vào bên trong và tưduy

Ở lớp 4,5 chú ý có chủ định đã xuất hiện và ngày càng hoàn thiện trongquá trình nhận thức của học sinh Khả năng phát triển chú ý có chủ định, pháttriển tính bền vững, sự tập trung chú ý ở học sinh cuối cấp là rất cao Bản thânquá trình học tập đòi hỏi các em phải rèn luyện thường xuyên sự chú ý có chủđịnh, ý chí

Chú ý có chủ định được phát triển cùng với động cơ học tập mang tính

xã hội cao, với sự trưởng thành về ý thức trách nhiệm đối với kết quả tronghọc tập

Trang 25

có sử dụng các hình ảnh trực quan giúp các em ghi nhớ sâu sắc hơn, nắmđược sự vật, hiện tượng.

Tuy nhiên, ở cuối cấp học, trí nhớ của các em đã dần dần thoát khỏi cácbiểu tượng cụ thể mà được thay bằng các khái niệm Đến lớp 4,5 vùng với sựphát triển chức năng sinh lí của bộ não, chúng được khái quát thành các kháiniệm, từ đó hình thành nên các kỹ năng, kỹ xảo hoạt động

- Trí tưởng tượng

Trí tưởng tượng của các em rất phong phú, tuy nhiên nó còn phụ thuộcvào kinh nghiệm sống, mẫu vật đã biết và cảm hứng, hứng thú của học sinh.Tưởng tượng mang tính đơn giản, ít có tổ chức và thường thay đổi

Ở các lớp cuối cấp, tưởng tượng của các em trở nên gần hiện thực, phảnánh thực tế, đầy đủ và chính xác hơn.Các em có khả năng nhào nặn các biểutượng cũ để sáng tạo ra các biểu tượng mới Điều này có dược là nhờ các em

đã biết dùng ngôn ngữ để xây dựng hình ảnh có tính khái quát và trừu tượnghơn Biểu tương của tượng tượng dần trở nên hiện thực hơn, phản ánh đúngđắn hơn môn học, nội dung đã học, biểu tượng không còn đứt đoạn mà thốngnhất thành một hệ thống Điều này cũng chi phoois sự hình thành các mức độ

kỹ năng của học sinh dựa trên những kỹ năng đơn giản đã có

Như vậy, tưởng tượng của học sinh cuối cấp dần thoát khỏi ảnh hưởngcủa những ấn tượng trực tiếp, gắn liền với tư duy ngôn ngữ, các kí hiệu, tínhiệu

- Tư duy

Tư duy của học sinh đầu cấp là tư duy cụ thể, mang tính hình thức, dựavào những đặc điểm trực quan của đối tượng, hiện tượng cụ thể Trong quátrình học tập học sinh dần dần chuyển từ các mặt bên ngoài sự vật hiện tượngđến nhận thức các thuộc tính bên trong của chúng Điều này tọa ra những sosánh, thao tác phân tích tổng hợp và suy luận đầu tiên Hành động này còn sơ

Trang 26

đẳng với học sinh đầu cấp, tri giác đối tượng bằng hành động phân tích trựcquan trực tiếp Học sinh cuối cấp có thể phân tích đối tượng mà không cầnhành động trực tiếp với đối tượng.

- Nhu cầu nhận thức

Trong những năm đầu của bậc tiểu học, nhu cầu nhận thức của học sinhpahts triển rõ nét Đầu tiên là xuất hiện nhu cầu tìm hiểu sự việc riêng lẻ,những hiện tượng riêng biệt (lớp 1,2), sau đó xuất hiện nhu cầu gắn liền với

sự phát hiện các nguyên nhân, quy luật, các mối quan hệ và quan hệ phụthuộc giữa các sự vật, hiện tượng ( lớp 3,4,5) Nếu như học sinh đầu cấp cónhu cầu tìm hiểu các câu hỏi “cái đó là cái gì?” thì ở các lớp cuối cấp có nhucầu giải quyết các câu hỏi “tại sao?” và “như thế nào?”

Nhu cầu nhận thức là nhu cầu tinh thần có ảnh hưởng đến sự phát triển trí tuệ.Nếu học sinh không có nhu cầu nhận thức thì cũng không có tính tích cực trítuệ, mà tính tích cực trí tuệ rất cần thiết cho kỹ năng Nếu học sinh chỉ học đểđối phó thì khi một kỹ năng nào đó đã được hình thành, nếu học sinh khôngtích cực rèn luyện thì kỹ năng đó sẽ dần dần mất đi

Khi có nhu cầu nhận thức, học sinh sẽ huy động toàn bộ kiến thức, kỹnăng đã có để giải quyết một vấn đề nào đó Khi nhu cầu đó không thỏa mãnthì học sinh sẽ bứt rứt, khó chịu Nhu cầu nhận thức khi đã được thỏa mãn vớiđối tượng này thì nó lại hướng đến một đối tượng khác phức tạp hơn, đòi hỏingười học phải có sự sáng tạo cao hơn, làm cho trí tuệ của học sinh được pháttriển không ngừng

1.3.3 Hứng thú học tập môn Toán của học sinh lớp 4

1.3.3.1 Khái niệm:

- Trước hết cần xác định đối tượng của hứng thú học tập Toán:

Đối với mỗi môn học nói chung và môn Toán nói riêng thì hứng thú học tậpbao gồm cả hứng thú với bản thân môn học và hứng thú với hoạt động học tập

Trang 27

bộ môn Vì vậy, đối tượng của hứng thú học tập môn Toán bao gồm cả nộidung môn Toán và hoạt động học môn Toán:

+ Hứng thú với môn Toán là hứng thú với hệ thống tri thức và kỹ năng,

kỹ xảo của môn học

+ Hứng thú với hoạt động học môn Toán là hứng thú với các hành độnghọc tập để lĩnh hội tri thức và hình thành những kỹ năng kỹ xảo tương ứngvới hệ thống tri thức

- Vì vậy, chúng tôi quan niệm: Hứng thú học tập toán là thái độ học tập tích cực của học sinh với môn Toán và với hoạt động học tập bộ môn Toán, do nhận thức được ý nghĩa của môn học và có khả năng đem lại cho học sinh xúc cảm trong quá trình học tập.

1.3.3.2 Sự hình thành hứng thú học tập môn Toán của học sinh Tiểu học

Có thể vận dụng các giai đoạn hình thành hứng thú nói chung để phântích quá trình hình thành hứng thú học Toán của học sinh

- Giai đoạn 1: Nảy sinh sự thích thú gắn với tình huống cụ thể trongquá trình tiếp thu tri thức của môn Toán và tìm tòi các phương pháp học tậpmôn Toán hợp lý

- Giai đoạn 2: Hình thành thái độ tích cực khi nhận thức môn Toán Nộidung môn Toán và cách thức học tập môn Toán càng có ý nghĩa với cá nhânthì thái độ nhận thức tích cực càng được hình thành nhanh chóng

- Giai đoạn 3: Thái độ nhận thức tích cực được củng cố thường xuyên

đã tương đối ổn định và trở thành xu hướng nhận thức tích cực của cá nhân lúc này hứng thú học tập Toán đã được hình thành một cách bền vững

-1.3.4 Những yếu tố ảnh hưởng đến hứng thú học tập môn Toán của học sinh lớp 4

Những yếu tố ảnh hưởng đến hứng thú học Toán của học sinh lớp 4bao gồm có các yếu tố chủ quan, như: nhu cầu nhận thức, thái độ học tập,

Trang 28

trình độ phát triển trí tuệ của học sinh, ý chí, thói quen, năng lực và các yếu

tố khách quan như: đặc điểm của môn học, phương pháp giảng dạy của giáoviên, điều kiện, phương tiện học tập, bầu không khí tâm lý lớp học, thái độcủa cha mẹ đối với việc học tập của trẻ,

1.3.4.1 Những yếu tố chủ quan bên trong người học

a.Trình độ phát triển trí tuệ của học sinh lớp 4:

Trình độ phát triển trí tuệ là một cơ sở cần thiết của sự phát triển hứngthú học tập Toán, đồng thời là một điều kiện quan trọng để bồi dưỡng hứngthú học tập môn Toán Chỉ trên cơ sở cá nhân đã có được những tri thức banđầu về đối tượng, những kỹ năng, kỹ xảo đơn giản và những thao tác trí tuệnhất định cá nhân mới có thể có được thái độ nhận thức đối với đối tượng,mới hình thành được hứng thú

Theo N.G Marôcôva thì "trình độ phát triển trí tuệ trước hết giữ vai trò nhất định trong việc hiểu biết giá trị và ý nghĩa của hoạt động để tạo nên những tiền đề của hứng thú, sau đó nó giữ vai trò nhất định trong việc giải quyết những vấn đề và nhiệm vụ nhận thức trong quá trình hình thành hứng thú riêng"22, 36

Khi cá nhân đã hiểu được toàn bộ ý nghĩa của công việc đã làm và đanglàm thì sẽ nảy sinh thái độ tự giác, tích cực trong hoạt động Chính thái độ tựgiác tích cực là cơ sở củng cố cho hứng thú

Trong quá trình giải quyết những vấn đề và nhiệm vụ học tập, nhữngbiểu tượng, những tri thức, những kỹ năng của học sinh được bổ sung, củng

cố và được điều chỉnh khi cần thiết và như vậy chúng mới trở thành chỗ dựa

vững chắc cho sự phát triển hứng thú N.G.Marôcôva đã khẳng định: "Một vốn liếng tri thức nào đó chính là cơ sở cần thiết để nảy sinh những vấn đề (những câu hỏi) nhận thức khi va chạm những tri thức mới mâu thuẫn với những biểu tượng trước đây Những câu hỏi như vậy thường kích thích học

Trang 29

sinh đi tìm cách giải quyết, đó là một trong những điều kiện cơ bản làm xuất hiện hứng thú nhận thức" 22, 45

Mặt khác sự phát triển trí tuệ cá nhân còn là một cơ sở để tạo ra hứngthú và cùng với nó là xúc cảm của sự thành công Quan điểm của các nhà tâm

lý học hành vi- J Piaget - thao tác là hành động chuyển vào bên trong Chúng

ta phải chuyển lượng kiến thức từ bài học vào bên trong tư duy của mỗi họcsinh Các nhà tâm lý học hành động - Vưgôtxki - Phải luôn tạo ra cho họcsinh vùng phát triển gần nhất

Không ai có thể đạt được thành tích, không ai có thể hành động có kếtquả nếu như họ không có một trình độ phát triển trí tuệ, kỹ năng nhất định

Mà thành tích, kết quả là sự hỗ trợ mạnh mẽ nhất cho hứng thú, tạo nênnhững rung cảm đúng đắn, trở thành nguồn kích thích và cổ vũ tính tích cựcsáng tạo

V.N.Xukhômlinxki khẳng định chỉ có trong điều kiện trí tuệ phát triển

ở mức độ nào đó các em học sinh mới có thể tìm thấy được niềm vui tronghọc tập, còn hứng thú chỉ nảy sinh khi trẻ cảm thấy hào hứng do đạt đượcthành tích trong học tập

Như vậy, sự phát triển hứng thú học tập trước hết phụ thuộc vào trình

độ phát triển trí tuệ của trẻ, kinh nghiệm và tri thức của trẻ yếu tố đó mộtmặt là mảnh đất nuôi dưỡng hứng thú, mặt khác lại tạo ra chất liệu cho hứngthú 22, 46

Trình độ phát triển trí tuệ của HS Tiểu học được chia ra làm 2 giai đoạnchính:

- Giai đoạn l: Giai đoạn lớp 1,2,3 là giai đoạn mang nặng nhận thứccảm tính: HS chỉ tri giác được trên nhóm đồ vật cụ thể

- Giai đoạn 2: Giai đoạn lớp 4,5 Trong giai đoạn này tư duy trừu tượngcủa HS đã bắt đầu phát triển Các em đã có nhận thức không chỉ các dấu hiệu

Trang 30

bề ngoài riêng lẻ của các sự vật hiện tượng cụ thể, mà các em còn nhận biếtđược những dấu hiệu bên trong: những dấu hiệu bản chất, có tính quy luật của

sự vật hiện tượng

Chẳng hạn: Khi học về hình chữ nhật: học sinh lớp 4 không chỉ vẽhình theo kích thước đơn giản mà các em còn có thể hiểu được công thứctính chu vi, tính diện tích của hình chữ nhật bất kỳ lớn hơn như những mảnhruộng hình chữ nhật, sân bóng hình chữ nhật Các em còn có thể vẽ theo tỉ

lệ phóng to thu nhỏ và tính diện tích theo những cách tính khác nhau (côngthức tính này thì không thay đổi theo đơn vị đo xác định) Như vậy trình độ

và khả năng tư duy của HS lớp 4 đã phát triển cao hơn: tư duy trừu tượngphát triển đã dần thay thế cho tư duy hình ảnh cụ thể, nhưng không phải biếnmất hoàn toàn

Chính vì vậy, việc bồi dưỡng hứng thú học tập môn toán cũng phải tínhđến mức độ phát triển trí tuệ của học sinh Trong việc bồi dưỡng hứng thú họcToán cho học sinh lớp 4 cần phải chú ý bồi dưỡng khả năng độc lập, sáng tạogiải quyết các tình huống đặt ra trong môn toán; nghĩa là GV cần phát huy tưduy trừu tượng đã được hình thành ở các em để giúp HS lớp 4 có kỹ năng tựchiếm lĩnh tri thức toán học, có kỹ năng tính toán hơn so với giai đoạn đầucấp ở bậc Tiểu học

b Thái độ với học tập Toán

Thái độ đúng đắn đối với đối tượng được xem là một yếu tố cần thiếtcủa hứng thú nhận thức, hứng thú học tập Những nghiên cứu tâm lý học, giáodục học cho thấy thái độ đúng đắn đối với đối tượng được thể hiện ở hai mặt:

- Thái độ xúc cảm đúng đắn với đối tượng,

- Thái độ có ý thức đối với đối tượng

Hai mặt này luôn luôn tác động qua lại với nhau và tạo thành cơ sởquan trọng của sự phát triển hứng thú học tập:

Trang 31

+ Thái độ xúc cảm đúng đắn với đối tượng của hứng thú là tổ hợp

những rung cảm đúng đắn có liên quan tới những gì diễn ra, đồng thời với quátrình lĩnh hội một môn học nào đó, một chương hoặc một bài nào đó Sự hìnhthành thái độ xúc cảm đặc biệt cần thiết, nhất là khi ở học sinh chưa có hứngthú học tập Đó là điều kiện cần thiết không chỉ trong quá trình dạy học, màcòn của cả sự hình thành hứng thú học tập

+ Thái độ có ý thức với học tập là sự hiểu biết về ý nghĩa xã hội, ý

nghĩa cá nhân của môn học là tiền đề quan trọng của sự hình thành hứng thúhọc tập

Đây là một trong hai con đường để hình thành hứng thú học tập Conđường này đôi khi đi sau con đường thứ nhất, nhưng chúng gắn bó với nhauchặt chẽ, hỗ trợ lẫn nhau, bổ sung cho nhau A.G Côvaliôp đã nhận xét:

"Hứng thú có thể được hình thành một cách tự phát và không có ý thức, do sựvật có hấp dẫn về tình cảm, sau đó mới dẫn đến nhận thức ý nghĩa cần thiếtcủa đối tượng Quá trình hình thành hứng thú có thể theo hướng ngược lại: từchỗ ý thức về ý nghĩa của đối tượng đến chỗ bị đối tượng hấp dẫn

Thái độ nhận thức - xúc cảm thật sự xuất phát từ chính sự nhận thức, từkhát vọng có động cơ trực tiếp muốn nắm lấy tri thức và từ sự độc lập tìm tòicái mới Nhưng nếu không có các yếu tố đi trước này (thái độ xúc cảm đúngđắn và thái độ có ý thức với đối tượng) thì khó có thể bồi dưỡng được hứngthú học tập Còn nếu ở học sinh lại có thái độ xấu với việc học tập nói chung

và với môn học nói riêng thì không thể hình thành được hứng thú học tập

Từ sự phân tích trên cho thấy, để phát triển hứng thú học tập cho họcsinh giáo viên cũng như phụ huynh cần chú ý áp dụng các biện pháp giáodục cho học sinh có được một thái độ xúc cảm và có ý thức đúng đắn đối vớimôn Toán

c Các yếu tố khác

Trang 32

Ngoài các yếu tố quan trọng đã kể ở trên, sự hình thành và phát triểnhứng thú còn phụ thuộc vào các đặc điểm tâm lý cá nhân khác, ví dụ như nhucầu, năng lực

+) Nhu cầu nhận thức:

Hứng thú có liên quan chặt chẽ với nhu cầu Hứng thú học tập đượcnảy sinh từ nhu cầu nhận thức - nhu cầu hiểu biết - một loại nhu cầu cơ bảnnhất của con người

Nhu cầu nhận thức được thể hiện ở tính ham hiểu biết Mọi đứa trẻphát triển bình thường đều ham hiểu biết Nhưng ở những đứa trẻ khác nhautính ham hiểu biết có những mức độ biểu hiện khác nhau: mạnh mẽ hoặc yếu

ớt và cùng với sự lớn lên của đứa trẻ tính ham hiểu biết đó có thể tắt lụi đihoặc được phát triển mạnh mẽ hơn Điều đó phụ thuộc không ít vào người lớnkhi tiếp xúc với trẻ Nhiệm vụ của các nhà giáo dục là phát triển tính hamhiểu biết ở trẻ

+) Năng lực học tập:

Năng lực học tập là khả năng vốn có được phát huy trong mỗi ngườitrong giải quyết các nhiệm vụ học tập để tạo ra sự phát triển

Hứng thú học tập của trẻ được phát triển trong mối liên quan qua lạichặt chẽ với năng lực học tập của chúng

Mối liên quan giữa năng lực và hứng thú là ở chỗ, năng lực là cơ sở, làđiều kiện để thành công trong hoạt động; và thành công là tiền đề nảy sinhhứng thú Còn hứng thú lại phát huy năng lực vì chính hứng thú thường chỉthể hiện ở phạm vi nào mà cá nhân có ít nhiều năng lực Hứng thú đối mộtlĩnh vực tri thức nào đó hoặc một phạm vi hoạt động nào đó là dấu hiệu chứng

tỏ người đó có khả năng phát huy năng lực của mình ở đó L.X Xôlôvâytrich

đã nhận xét: "Hứng thú đến mức mãnh liệt, đắm say thường là dấu hiệu của

Trang 33

những năng lực to lớn Và ngược lại, tài năng thường kèm theo hứng thúmạnh mẽ đối với hoạt động"

+) Ý chí học tập: Là sự quyết tâm của con người trong quá trình giải quyết

các nhiệm vụ học tập, sự vươn lên trong học tập không ngại khó khăn, giankhổ Ngoài ra hứng thú còn được phát triển trên cơ sở thúc đẩy của ý chí, thóiquen

1.3.4.2 Những yếu tố khách quan:

a Phương pháp dạy học Toán lớp 4

Phương pháp dạy học là tổ hợp cách thức hoạt động của thầy và trò.Trong đó dưới tác động của thầy, học sinh tích cực, chủ động chiếm lĩnh trithức, hình thành kỹ năng, kỹ xảo nhằm hoàn thành mục tiêu của bài học

Có rất nhiều phương pháp để thực hiện trong dạy học môn Toán lớp 4;song ở đây chúng tôi chỉ nêu một số phương pháp thường hay áp dụng là:

* Nhóm phương pháp dùng lời truyền thống gồm có: Phương pháp giảng giải; phương pháp thuyết trình; phương pháp vấn đáp

* Nhóm phương pháp trực quan gồm có: Phương pháp trực quan; phương pháp quan sát

* Nhóm phương pháp thực hành gồm có:Phương pháp luyện tập thực hành; phương pháp giải quyết vấn đề; phương pháp trò chơi; phương pháp dạy học hợp tác theo nhóm nhỏ

Mỗi phương pháp dạy học đều có những ưu nhược điểm riêng, việc vậndụng linh hoạt để tạo không khí học tập sôi nổi kết quả cao là nghệ thuật sưphạm của mỗi GV Phương pháp giảng dạy của giáo viên là yếu tố kháchquan tác động mạnh đến sự hình thành và phát triển hứng thú của học sinh

Nó có khả năng chi phối tất cả các yếu tố ảnh hưởng của hứng thú Khả năngchế biến tài liệu học tập của giáo viên làm cho bài học trở nên sinh động, hấpdẫn và làm cho phù hợp với trình độ trí tuệ và năng lực nhận thức của học

Trang 34

sinh Cách khai thác vấn đề và kỹ thuật dạy học của giáo viên để hình thànhnhu cầu nhận thức của học sinh Hình thức dạy học và cách đánh giá của giáoviên - tăng cường bầu không khí học tập - sẽ có ảnh hưởng rất lớn đến sự hìnhthành và phát triển hứng thú học tập của học sinh Đối với học sinh lớp 4,trong dạy Toán giáo viên cần chú ý đến các phương pháp dạy học tích cựcnhư: Trò chơi học tập nhằm gây hứng thú học tập cho HS.

b Hình thức, phương tiện, điều kiện dạy học môn Toán lớp 4

+) Hình thức dạy học toán 4.

Hình thức dạy học trong lớp: Mỗi tiết học chiếm thời gian tối đa 40 phút

GV và HS tiến hành trong không gian lớp học theo quy định của Bộ GD&ĐT vềkhông gian lớp học chỗ ngồi, ánh sáng

Dạy học trong lớp gồm loại bài khác nhau: Dạy bài học mới, dạy bàithực hành, ôn luyện (một phần, một chương) theo chương trình thống nhất

175 tuần áp dụng cho tất cả vùng miền

Môn học Toán là môn thường được áp dụng đánh giá bằng điểm sốtheo thang điểm 10

Như vậy, hình thức dạy học là một trong những yếu tố khách quan cóảnh hưởng gián tiếp đến sự hình thành hứng thú học toán của học sinh

+) Phương tiện dạy học Toán 4:

Phương tiện dạy học toán 4 là tất cả những đồ dùng trang bị cần thiết

để thực hiện nội dung chương trình khung do Bộ quy định:

- GV có bài soạn, có bộ đồ dùng dạy học Toán tương ứng cho mỗi lớp,

có sách giáo khoa lớp 4 riêng do Bộ GD&ĐT biên soạn Các loại tài liệu thamkhảo cho GV

- HS có bộ đồ dùng Toán theo lớp, vở bài tập in hoặc bài tập viết Mỗi

HS có SGK riêng trong 1 cuốn/ lớp Các sách tham khảo cho HS, như: Toántuổi thơ, sách Toán nâng cao lớp 4

Trang 35

Phương tiện dạy học có thể coi là nguyên nhân gián tiếp ảnh hưởng đếnhứng thú học toán cho HS lớp 4.

+) Điều kiện dạy học môn Toán lớp 4:

- Điều kiện vật chất cần thiết: Lớp học đủ bàn ghế, phòng học đủ ánhsáng, bảng

Với GV là: Bài soạn, đồ dùng dạy học, sách và tài liệu

Với HS như: sách giáo khoa vở bài tập, đồ dùng học tập Toán

- Điều kiện về trình độ: GV phải được đào tạo Trung cấp sư phạm trởlên

- Điều kiện về năng lực sư phạm: GV phải có kỹ năng sư phạm cầnthiết để dạy học sinh theo tiêu chuẩn của chuẩn nghề nghiệp giáo viên Tiểuhọc Tức là phải có kỹ năng vận dụng linh hoạt các phương pháp dạy học, cáccách ứng xử sư phạm tốt để hoàn thành nội dung bài dạy

Điều kiện vật chất là điều kiện cần, nhưng không phải là yếu tố cơ bảnquyết định hứng thú Hứng thú học tập được tạo ra chính là điều kiện về trình

độ và năng lực sư phạm của GV, được thể hiện cụ thể ở việc lựa chọn và sửdụng phương pháp dạy học Toán của giáo viên

c Tập thể học sinh:

Tập thể học sinh cũng có vai trò trong việc kích thích hứng thú của họcsinh Trong quá trình học sinh cùng nhau hoạt động thường nảy sinh niềm vuicùng tìm tòi, cùng sáng tạo Các em cần có những người bạn tâm đắc để cùnggiúp nhau hiểu một bài toán, một câu văn, một thí nghiệm Các công việcđộc lập của học sinh có tác dụng làm tích cực quá trình nhận thức, tình cảm, ýchí Hoạt động tập thể thường kèm theo sự giúp đỡ lẫn nhau và nếu có sự hỗtrợ khéo léo của giáo viên thì học sinh sẽ đạt kết quả lớn hơn với sức mà mìnhlàm một mình Ngoài ra những xúc cảm có thể "lây lan" từ người này sang

người khác Do vậy N.G Marôsôva đã lưu ý với các giáo viên: "Tập thể cũng

Trang 36

đóng một vai trò rất đáng kể và nhiều hình nhiều vẻ trong việc hình thành hứng thú, chủ yếu trong việc tạo nên một sắc thái tình cảm phấn chấn, khoẻ khoắn vô cùng quan trọng để hình thành thái độ đúng đắn với học tập và tri thức"

Ngược lại những gia đình bố mẹ không động viên, gia đình bố mẹ cómâu thuẫn cũng gây cho các em tâm lý căng thẳng, một số em sẽ tỏ ra chánhọc Toán

Cha mẹ giúp cho các em yêu thích, muốn các em học, có thái độ đúngđắn với việc học tập Các bậc cha mẹ cung cấp những cơ sở vật chất thuận lợicho việc học tập của các em như mua sắm cho trẻ đầy đủ đồ dùng học tập vàsách vở, tôn trọng giờ học ở nhà, dành một chỗ hợp lý để các em tự học ở nhàmột cách yên tĩnh Giải thích cho các em hiểu biết về tầm quan trọng của mônhọc trong cuộc sống hàng ngày cũng như đối với tương lai của các em

Ngoài ra các bậc cha mẹ còn có thể giúp các em trong việc tìm thêmsách tài liệu, giúp các em tổ chức thực nghiệm kiến thức đã học ở nhàtrường Đây chính là những hành động tốt đẹp góp phần trong việc kích

thích hứng thú học tập cho học sinh N.G.Marôsôva đã viết :"Giữ một vai trò không nhỏ là thái độ của cha mẹ đối với hoạt động của trẻ nhỏ"22, 53 Sự

chú ý của người lớn, sự giúp đỡ kịp thời, sự hỗ trợ và động viên của họ góp

Trang 37

phần phát triển say mê, góp phần làm cho hoạt động đạt kết quả, tạo hứng thútrong hoạt động

Tóm lại, hứng thú học tập môn Toán của HS nảy sinh và phát triển

dưới ảnh hưởng qua lại của những yếu tố bên trong - yếu tố chủ quan vànhững yếu tố bên ngoài - yếu tố khách quan, như: điều kiện, phương tiện dạyhọc, tập thể HS, gia đình - Các yếu tố bên trong, bên ngoài có tác động vàảnh hưởng nhất định đến sự phát triển hứng thú học tập Trong đó, các yếu tốbên trong- chủ quan là những yếu tố cơ bản, ảnh hưởng tích cực đến sự pháttriển hứng thú học tập

1.4 Sự cần thiết phải bồi dưỡng hứng thú học tập môn Toán cho HS lớp 4

- Xuất phát từ mục tiêu dạy học Toán theo chương trình bậc Tiểu học

mới mà Bộ GD& ĐT, trong đó có đoạn nêu: "Bước đầu phát triển năng lực tư duy, khả năng suy luận hợp lý và diễn đạt đúng (nói và viết) cách phát hiện và giải quyết các vấn đề đơn giản, gần gũi trong cuộc sống; kích thích trí tưởng tượng, chăm học và hứng thú học tập toán; hình thành bước đầu phương pháp tự học và làm việc có kế hoạch khoa học chủ động, linh hoạt, sáng t¹o".

- Ý nghĩa của việc dạy học Toán ở Tiểu học:

+ Kiến thức Toán tiểu học có khả năng vận dụng nhiều vào cuộc sống, + Để học sinh tiếp tục học tốt Toán ở cấp trên,

+ Là môn học quan trọng và bắt buộc đối với HS Tiểu học và là mônhọc được đánh giá bằng điểm số

+ Chất lượng học tập môn Toán tốt góp phần đưa kết quả học tập lêncao và thúc đẩy chất lượng học các môn khác, như: Tiếng việt, Khoa học,Đạo đức

- Hiện nay việc bồi dưỡng hứng thú học tập môn Toán ở các trườngTiểu học thông qua hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp chưa đáp ứng với

Trang 38

mục tiêu, nội dung bài học; Nhận thức của một số cấp lãnh đạo về việc bồidưỡng hứng thú học tập cho học sinh còn hạn chế, cơ sở vật chất phục vụ choviệc học còn chưa đảm bảo, hơn nữa chính một số GV chưa biết cách tạohứng thú học tập môn này, dẫn đến kết quả học tập của HS chưa cao; HSchưa nắm chắc kiến thức, ngại học Toán còn nhiều.

- Ngay trong chương trình sách giáo khoa môn Toán lớp 4 cũng đãbuộc GV phải áp dụng các phương pháp dạy học tích cực Sách giáo viên chỉđưa ra nội dung kiến thức chuẩn và định hướng cho GV soạn theo sách giáokhoa; Tuy nhiên, rất ít GV mạnh dạn đưa ra các phương pháp kích thích tínhchủ động sáng tạo của HS như: Vận dụng linh hoạt các phương pháp,kỹ thuậtdạy học tích cực vào việc bồi dưỡng hứng thú học tập,Các hoạt động giáo dụcngoài giờ lên lớp, trò chơi học tập

- Các chương trình bổ trợ ngoài giờ học chưa thực hiện ở nhiều trường để

có thể thu hút HS tham gia, góp phần bồi dưỡng năng lực Toán cho HS lớp 4

- Bộ GD&ĐT có chủ trương bỏ kỳ thi HS giỏi bậc Tiểu học các cấp từnăm học 2007 - 2008 để giảm áp lực học cho HS Nhưng không vì thế mà cáctrường không chú trọng bồi dưỡng HS giỏi với phụ đạo HS yếu kém để đưachất lượng học tập nói chung và môn Toán nói riêng ngày càng tốt hơn

Vì những lý do trên nên việc bồi dưỡng hứng thú học tập môn Toán làcần thiết cho HS bậc Tiểu học

Trang 39

chú ý nghe giảng, làm đủ các bài tập, tìm tòi, tích cực vận dụng kiến thức vàocuộc sống, ham thích giờ học, kết quả học tập tốt

Các yếu tố tác động đến hứng thú học tập môn Toán lớp 4 bao gồm: Các yếu tố bên trong, như: trình độ phát triển của HS lớp 4, thái độ vớimôn học: Yêu thích môn học, nhu cầu, năng lực và ý chí học tập của HS

Các yếu tố bên ngoài như: PP dạy học của GV, yếu tố gia đình, tập thể

HS, nội dung, chương trình SGK, trong đó yếu tố tác động mạnh nhất, có tínhquyết định nhất đến việc gây hứng thú cho HS chính là trình độ và năng lực

sư phạm của mỗi người giáo viên

Để bồi dưỡng hứng thú học toán cho học sinh cần nắm chắc yếu tố gâyhứng thú học tập của chính chủ thể, các yếu tố bên trong để hình thành mụcđích động cơ học tập môn Toán một cách đúng đắn Lấy điều kiện là các yếu

tố bên ngoài, như: kiến thức cơ bản theo nội dung, chương trình, phương phápdạy học, điều kiện, phương tiện môn Toán của từng lớp… để có thể bồidưỡng tốt hứng thú học toán cho HS, góp phần nâng cao chất lượng dạy học -trong đó các biện pháp dạy học tích cực, các hình thức bổ trợ trong và ngoàilớp là vô cùng cần thiết

Trang 40

2.1.2 Đối tượng khảo sát

Khảo sát trên hơn 200 học sinh của sáu trường Tiểu học trên địa bànhuyện Nghi Xuân – Hà Tĩnh, các em có điều kiện học tập như nhau, được học

2 buổi/ngày 23 giáo viên cùng với ban giám hiệu và một số phụ huynh cócon em học ở các trường

Thời gian khảo sát: Từ tháng 11/2013 đến tháng 2/2014

2.1.3 Nội dung khảo sát

- Thực trạng nhận thức của giáo viên Tiểu học về tầm quan trọng củaviệc bồi dưỡng hứng thú học Toán cho học sinh lớp 4 ở Nghi Xuân – HàTĩnh

- Thực trạng hứng thú của học sinh trong học Toán

- Thực trạng mức độ sử dụng các biện pháp để bồi dưỡng hứng thú họcToán cho học sinh lớp 4 ở các trường tiểu học ở Nghi Xuân – Hà Tĩnh

- Những thuận lợi và khó khăn khi sử dụng các biện pháp bồi dưỡnghứng thú học Toán cho học sinh lớp 4 ở huyện Nghi Xuân – Hà Tĩnh

2.1.4 Phương pháp khảo sát

Ngày đăng: 19/07/2015, 18:26

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.7. Đánh giá của giáo viên về những thuận lợi và khó khăn khi sử - Bồi dưỡng hứng thú học tập môn toán lớp 4 thông qua hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp
Bảng 2.7. Đánh giá của giáo viên về những thuận lợi và khó khăn khi sử (Trang 4)
Bảng 2.2: Hứng thú học tập của học sinh lớp 4 ở Nghi Xuân – Hà Tĩnh. - Bồi dưỡng hứng thú học tập môn toán lớp 4 thông qua hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp
Bảng 2.2 Hứng thú học tập của học sinh lớp 4 ở Nghi Xuân – Hà Tĩnh (Trang 42)
Bảng 2.3: Biểu hiện hứng thú học Toán của học sinh lớp 4. - Bồi dưỡng hứng thú học tập môn toán lớp 4 thông qua hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp
Bảng 2.3 Biểu hiện hứng thú học Toán của học sinh lớp 4 (Trang 43)
Bảng 2.4: Ý kiến của giáo viên về các yếu tố hạn chế học môn Toán  của HS  lớp 4. - Bồi dưỡng hứng thú học tập môn toán lớp 4 thông qua hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp
Bảng 2.4 Ý kiến của giáo viên về các yếu tố hạn chế học môn Toán của HS lớp 4 (Trang 44)
Bảng 2.5: Ý kiến của học sinh về các yếu tố hạn chế hứng thú học môn Toán - Bồi dưỡng hứng thú học tập môn toán lớp 4 thông qua hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp
Bảng 2.5 Ý kiến của học sinh về các yếu tố hạn chế hứng thú học môn Toán (Trang 46)
Bảng 2.6: Các biện pháp đã được GV sử dụng trong bồi dưỡng - Bồi dưỡng hứng thú học tập môn toán lớp 4 thông qua hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp
Bảng 2.6 Các biện pháp đã được GV sử dụng trong bồi dưỡng (Trang 47)
Bảng 2.7:Đánh giá của GV về những thuận lợi và khó khăn khi sử dụng  các biện pháp bồi dưỡng hứng thú học Toán cho HS lớp 4: - Bồi dưỡng hứng thú học tập môn toán lớp 4 thông qua hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp
Bảng 2.7 Đánh giá của GV về những thuận lợi và khó khăn khi sử dụng các biện pháp bồi dưỡng hứng thú học Toán cho HS lớp 4: (Trang 49)
Hình nào thích hợp ? - Bồi dưỡng hứng thú học tập môn toán lớp 4 thông qua hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp
Hình n ào thích hợp ? (Trang 112)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w