dụng các phương tiện dạy học nói chung, đồ dùng dạy học nói riêng được xác định là một trong những nhiệm vụ của giáo viên trong quá trình thực hiện đổi mới phương pháp dạy học hiện nay..
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
NGUYỄN THỊ HÒA THANH
BỒI DƯỠNG CHO SINH VIÊN CAO ĐẲNG SƯ PHẠM NGÀNH GIÁO DỤC TIỂU HỌC
NĂNG LỰC THIẾT KẾ, CHẾ TẠO ĐỒ DÙNG
DẠY HỌC MÔN TOÁN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
NGHỆ AN, 2014
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
NGUYỄN THỊ HÒA THANH
BỒI DƯỠNG CHO SINH VIÊN CAO ĐẲNG SƯ PHẠM NGÀNH GIÁO DỤC TIỂU HỌC
NĂNG LỰC THIẾT KẾ, CHẾ TẠO ĐỒ DÙNG
DẠY HỌC MÔN TOÁN
Chuyên nghành: Lí luận và phương pháp dạy học Toán
Mã số: 60.14.01.11
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC Người hướng dẫn khoa học: TS CHU TRỌNG THANH
NGHỆ AN, 2014
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Luận văn được thực hiện và hoàn thành dưới sự hướng dẫn khoa học của
TS Chu Trọng Thanh Tác giả bày tỏ lòng biết ơn đến thầy về sự hướng dẫn tận tình mà thầy đã dành cho tác giả trong suốt quá trình làm luận văn
Tác giả xin gửi lời cảm ơn đến quý thầy cô trong khoa Sau Đại học, quý thầy cô khoa trong Toán và các thầy cô trong trường đã dạy, tạo điều kiện, hướng dẫn tác giả trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn này
Tác giả xin gửi lời cảm ơn đến các thầy cô trong Ban giám hiệu, trong khoa Tiểu học Trường Cao đẳng Sư phạm Ninh Thuận, các trường tiểu học trong tỉnh Ninh Thuận đã tạo điều kiện cho tác giả trong quá trình thực hiện luận văn
Cũng nhân dịp này, tác giả xin được bày tỏ lòng biết ơn tới gia đình, bạn
bè, đồng nghiệp - những người luôn cổ vũ động viên tác giả trong quá trình học tập và nghiên cứu đề tài luận văn
Tuy tác giả đã có nhiều cố gắng trong quá trình thực hiện luận văn nhưng chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót cần được góp ý, sửa chữa Tác giả rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của quý thầy, cô và bạn đọc./
Trang 4MỤC LỤC
Chương 1 6
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC BỒI DƯỠNG CHO SINH VIÊN NGÀNH GIÁO DỤC TIỂU HỌC NĂNG LỰC THIẾT KẾ, CHẾ TẠO ĐỒ DÙNG DẠY HỌC MÔN TOÁN 6
1.1 Một số định hướng đổi mới phương pháp dạy học môn toán tiểu học 6
1.1.1 Tính cấp thiết và những yêu cầu đặt ra của việc đổi mới phương pháp dạy học 7
1.1.2 Các dịnh hướng đổi mới phương pháp dạy học môn Toán 9
1.2 Một số vấn đề lý luận về phương tiện dạy học 13
1.2.1 Khái niệm về phương tiện dạy học 13
1.2.2 Các chức năng của phương tiện dạy học 15
1.2.3 Phân loại phương tiện dạy học 16
1.2.4 Một số lưu ý về vấn đề sử dụng phương tiện dạy học 18
1.2.5 Phương tiện trực quan trong dạy học 19
1.2.6 Khái niệm về đồ dùng dạy học 30
1.3 Một số vấn đề lý luận về đào tạo giáo viên 31
1.3.1 Quan niệm về quá trình học 31
1.3.2 Một số quan niệm về đào tạo giáo viên 34
1.4 Đặc điểm của sinh viên ngành Giáo dục tiểu học và nhiệm vụ đào tạo giáo viên tiểu học 37
1.5 Khảo sát thực tế 38
1.5.1 Mục đích điều tra khảo sát thực tế 38
1.5.2 Nội dung khảo sát thực tế 38
1.5.3 Phương pháp khảo sát thực tế 38
1.5.4 Địa bàn khảo sát thực tế 39
1.5.5 Đối tượng khảo sát 39
1.5.6 Kết quả khảo sát thực tế 39
1.5.7 Thực trạng đồ dùng dạy học được khảo sát trên các khía cạnh: 43
Kết luận chương 1: 48
Chương 2 49
BỒI DƯỠNG CHO SINH VIÊN NGÀNH GIÁO DỤC TIỂU HỌC NĂNG LỰC THIẾT KẾ, CHẾ TẠO ĐỒ DÙNG DẠY HỌC MÔN TOÁN TIỂU HỌC49 2.1. Phân tích nội dung môn toán tiểu học và nhu cầu sử dụng phương tiện dạy học 49 2.1.1 Vị trí của môn toán ở bậc Tiểu học 49
2.1.2 Mục tiêu của môn toán ở tiểu học 49
2.1.3 Các mạch kiến thức trong hương trình toán ở tiểu học 50
Trang 52.1.4 Nội dung cụ thể của môn toán tiểu học và nhu cầu cần sử dụng phương
tiện dạy học 50
2.2 Một số yếu tố trong năng lực thiết kế, chế tạo đồ dùng dạy học môn toán tiểu học cho sinh viên cao đẳng ngành tiểu học 54
2.2.1 Khái niệm về năng lực 54
2.2.2 Năng lực thiết kế, chế tạo đồ dùng dạy học 54
2.3 Một số biện pháp bồi dưỡng năng lực thiết kế, chế tạo đồ dùng dạy học môn Toán tiểu học cho sinh viên cao đẳng sư phạm ngành Giáo dục tiểu học 62
2.3.1 Một số định hướng xây dựng các biện pháp 62
2.3.2 Một số biện pháp sư phạm bồi dưỡng năng lực thiết kế, chế tạo đồ dùng dạy học môn Toán tiểu học cho sinh viên cao đẳng sư phạm ngành Giáo dục tiểu học 63
2.4 Giới thiệu một số mẫu đồ dùng dạy học có thể sử dụng cho sinh viên nghiên cứu chế tạo, cải tiến và sử dụng 68
2.4.1 Một số đồ dùng cầm tay của giáo viên có tích hợp một số chức năng 68
2.4.2 Một số đồ dùng dạy học kiến thức hệ thống số 69
2.4.3 Một số đồ dùng dạy học kiến thức các yếu tố hình học 72
2.4.4 Một số đồ dùng dạy học kiến thức về các yếu tố thống kê 74
Kết luận chương 2 75
THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 76
3.1 Mục đích thực nghiệm 76
3.2 Tổ chức và nội dung thực nghiệm 76
3.2.1 Tổ chức thực nghiệm 76
3.2.2 Nội dung thực nghiệm 76
3.3. Đánh giá kết quả thực nghiệm 87
3.3.1 Đánh giá định tính 87
3.3.2 Đánh giá định lượng 87
Kết luận chương 3 88
KẾT LUẬN 89
Trang 6MỞ ĐẦU
I Lý do chọn đề tài
1 Giáo dục tiểu học có chức năng hình thành nền móng tri thức, phát triển năng lực trí tuệ và các phẩm chất tâm lý khác của thế hệ trẻ Chất lượng giáo dục tiểu học có ảnh hưởng lớn đến khả năng phát triển của học sinh trong những năm học tập về sau Chính vì vậy, việc nâng cao chất lượng giáo dục phải được chú ý bắt đầu từ quá trình dạy học, giáo dục ở bậc tiểu học Trong thực tế hiện nay, nâng cao chất lượng giáo dục nói chung, chất lượng giáo dục tiểu học nói riêng đang là một đòi hỏi bức thiết của xã hội đối với sự nghiệp giáo dục ở nước ta
Trong các môn học ở bậc tiểu học, môn Toán có một vị trí quan trọng Kết quả học tập môn toán của học sinh tiểu học luôn là một trong các tiêu chí được dùng để đánh giá sự phát triển của học sinh, đánh giá sự thành công hay yếu kém của hoạt động giáo dục trong nhà trường
2 Đặc điểm tâm lý nhận thức của học sinh tiểu học là tư duy trực quan hành động đang chiếm một vị trí quan trọng Việc nhận thức các kiến thức có tính trừu tượng, khái quát luôn cần đến sự hỗ trợ của các vật thật, đồ dùng, hình vẽ làm phương tiện trực quan Dựa trên nguyên lý phản ánh, chính quá trình thao tác với các đồ vật, hình vẽ đó học sinh hình thành được các kiến thức, kỹ năng, phẩm chất trí tuệ cần thiết theo mục tiêu dạy học của môn học
Ở bậc tiểu học, phương tiện dạy học nói chung, phương tiện trực quan nói riêng, đóng góp phần đáng kể vào việc nâng cao chất lượng dạy học Chính vì vậy trong định hướng đổi mới giáo dục bậc tiểu học luôn đề cập đến vấn đề đổi mới phương tiện dạy học Đồ dùng dạy học là thuật ngữ thường được sử dụng để chỉ những phương tiện dạy học chủ yếu mang tính vật chất, đơn giản, gọn nhẹ, dễ sản xuất và sử dụng trong quá trình dạy học Đồ dùng dạy học của giáo viên, với tư cách là bộ đồ hành nghề dạy học, góp phần đáng kể vào việc nâng cao hiệu quả bài lên lớp Việc thiết kế, chế tạo và khai thác, sử
Trang 7dụng các phương tiện dạy học nói chung, đồ dùng dạy học nói riêng được xác định là một trong những nhiệm vụ của giáo viên trong quá trình thực hiện đổi mới phương pháp dạy học hiện nay
3 Kiến thức môn toán có tính logic chặt chẽ, có tính trừu tượng cao độ
và có ứng dụng rộng rãi trong thực tiễn Chương trình môn Toán ở bậc tiểu học tuy đơn giản về mặt nội dung nhưng có tính lô gic chặt chẽ và tăng dần mức độ khó khăn, phức tạp theo từng lớp học nên việc hình thành một cách vững chắc hệ thống kiến thức, kỹ năng cho học sinh cần được chú ý ngay từ buổi đầu Việc sử dụng đồ dùng dạy học và tổ chức hoạt động dạy học thích hợp sẽ giúp học sinh nắm được kiến thức một cách chuẩn xác, hình thành được các kỹ năng cần thiết, phát triển được năng lực tư duy Nói như vậy cho thấy việc sử dụng hợp lý đồ dùng dạy học môn Toán sẽ góp phần thực hiện yêu cầu nâng cao hiệu quả học tập của học sinh
4 Trong nước cũng như trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu về viêc sử dụng đồ dùng dạy học nói chung và đồ dùng dạy học môn Toán cho bậc tiểu học nói riêng Gần đây những công trình của Trần Trung, Phó Đức Hòa và Ngô Quang Sơn, Phạm Đình Thực, đã đề cập đến vấn đề này Hàng năm Bộ Giáo dục và Đào tạo cùng các Sở Giáo dục – Đào tạo đã tổ chức nhiều Hội thảo, cuộc thi về sáng tạo đồ dùng dạy học Đã có nhiều ý tưởng mới được đề xuất và hiện thực hóa trong thực tiễn dạy học Tuy nhiên,
so với yêu cầu của hệ thống giáo dục tiểu học, phương tiện dạy học vẫn còn thiếu Hơn nữa, nghề dạy học là một nghề đòi hỏi có sự sáng tạo không ngừng của giáo viên Mỗi giáo viên khi dạy học sử dụng các phương pháp, phương tiện và kỹ thuật phù hợp với bản thân mình sẽ mang lại hiệu quả cao hơn Do
đó trong quá trình đào tạo giáo viên nói chung, đào tạo giáo viên Toán nói riêng, cần quan tâm đến việc bồi dưỡng cho sinh viên năng lực sáng tạo các phương tiện dạy học, phục vụ cho công tác chuyên môn sau khi ra trường
5 Hiện nay, qua khảo sát thực tiễn, chúng tôi nhận thấy đồ dùng dạy học môn toán bậc tiểu học còn thiếu nhiều Còn nhiều giáo viên chưa chủ
Trang 8động trong việc tạo ra những đồ dùng dạy học cần thiết để sử dụng trong các bài lên lớp Khi phân tích chương trình dạy học ngành Giáo dục tiểu học ở trường Cao đẳng sư phạm cũng thấy vấn đề bồi dưỡng năng lực thiết kế, chế tạo và sử dụng đồ dùng dạy học môn toán tiểu học cho sinh viên cũng chưa được chú trọng đúng mức cần thiết
Vì những lí do trên, vậy chúng tôi chọn đề tài luận văn thạc sĩ của mình
là: Bồi dưỡng cho sinh viên Cao đẳng Sư phạm ngành Giáo dục Tiểu học năng lực thiết kế, chế tạo đồ dùng dạy học môn Toán
II Mục đích nghiên cứu
Giúp sinh viên ngành Giáo dục tiểu học biết phân tích nội dung dạy học môn Toán và vận dụng những hiểu biết lý luận về phương pháp dạy học có được năng lực thiết kế, chế tạo đồ dùng dạy học môn Toán tiểu học thông qua
đó góp phần nâng cao chất lượng đào tạo giáo viên tiểu học ở trường CĐSP
III Nhiệm vụ nghiên cứu
1 Nghiên cứu lý luận dạy học môn toán, nghiên cứu chương trình toán tiểu học, nghiên cứu lí luận phương tiện dạy học môn toán
2 Khảo sát thực trạng việc sử dụng đồ dùng dạy học môn toán ở bậc tiểu học
3 Đề xuất các hướng tổ chức cho sinh viên ngành cao đẳng sư phạm tiểu học thiết kế, chế tạo và sử dụng đồ dùng dạy học môn Toán tiểu học
4 Thực nghiệm sư phạm để kiểm chứng các đề xuất
IV Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1 Đối tượng nghiên cứu
- Nghiên cứu lý luận và thực tiễn sử dụng đồ dùng dạy học môn Toán hiện nay
- Nghiên cứu vấn đề bồi dưỡng năng lực nghề cho sinh viên cao đẳng sư phạm ngành Giáo dục tiểu học
2 Phạm vi nghiên cứu:
- Nghiên cứu các vấn đề về bồi dưỡng năng lực thiết kế và sử dụng đồ dùng dạy học Toán ở bậc tiểu học cho sinh viên cao đẳng sư phạm ngành Giáo dục
Trang 9tiểu học
- Khảo sát thực tế trên địa bàn các trường Tiểu học tỉnh Ninh Thuận;
V Phương pháp nghiên cứu
1 Phương pháp nghiên cứu lý luận: Tổng hợp, hệ thống hóa các tư liệu về lý
luận dạy học, về phương tiện dạy học, về nội dung môn toán ở trường phổ thông, về định hướng phát triển nên giáo dục Việt Nam trong những năm đầu thế kỷ XXI,
2 Phương pháp điều tra, khảo sát thực tiễn: Thu thập số liệu về thực trạng
dạy và học môn Toán ở bậc tiểu học, thực trạng công tác đào tạo giáo viên tiểu học ở nước ta hiện nay, thực trang năng lực thiết kế, chế tạo và khai thác
đồ dùng dạy học của giáo viên toán tiểu học,
3 Phương pháp thực nghiệm: Tổ chức thực nghiệm sư phạm để kiểm chứng
sự khả thi và tính hiệu quả của những đề xuất trong quá trình nghiên cứu
4 Xử lý số liệu bằng phương pháp thống kê toán học
VI Giả thuyết khoa học
Trong dạy học các học phần nghiệp vụ sư phạm ngành Giáo dục tiểu học ở trường Cao đẳng sư phạm nếu giáo viên quan tâm đến việc bồi dưỡng cho sinh viên năng lực thiết kế, chế tạo và sử dụng đồ dùng dạy học theo các định hướng thích hợp thì sẽ góp phần nâng cao chất lượng đào tạo giáo viên tiểu học
VII Đóng góp của luận văn
1 Hệ thống hóa tư liệu về lý luận dạy học toán, đặc biệt là các tư liệu về quá trình nhận thức, tư liệu về phương tiện dạy học làm thành một tài liệu tham khảo trong công tác chuyên môn
2 Khảo sát và phân tích việc sử dụng đồ dùng dạy học trong dạy học môn toán ở bậc tiểu học hiện nay, qua đó cung cấp một tài liệu tổng quan về hệ thống đồ dùng dạy học trong chương trình môn toán tiểu học
3 Thiết kế một số định hướng và phương pháp bồi dưỡng cho sinh viên sư phạm ngành tiểu học năng lực thiết kế, chế tạo đồ dùng dạy học trong dạy học
Trang 10toán tiểu học
VIII Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn có 3 chương Chương 1 Cơ sở lý luận và thực tiễn
1.1 Một số định hướng đổi mới phương pháp dạy học môn toán tiểu học 1.2 Một số vấn đề lý luận về phương tiện dạy học
1.3 Thực trạng sử dung đồ dùng dạy học môn Toán Tiểu học hiện nay (khảo sát tại một số trường Tiểu học ở Ninh Thuận)
Chương 2 Bồi dưỡng năng lực thiết kế, chế tạo bộ đồ dùng dạy học kiến thức môn Toán tiểu học
2.1 Phân tích nội dung môn toán tiểu học và những nhu cầu sử dụng phương tiện dạy học
2.2 Một số yếu tố trong năng lực thiết kế, chế tạo đồ dùng dạy học toán tiểu học cho sinh viên cao đẳng sư phạm ngành tiểu học
2.3 Bồi dưỡng năng lực lực thiết kế, chế tạo đồ dùng dạy học toán tiểu học cho sinh viên cao đẳng sư phạm ngành tiểu học
Chương 3 Thực nghiệm sư phạm
3.1.Xác định mục đích thực nghiệm
3.2.Tường trình quá trình thực nghiệm
3.3.Đánh giá kết quả thử nghiệm
Trang 11Chương 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC BỒI DƯỠNG CHO SINH VIÊN NGÀNH GIÁO DỤC TIỂU HỌC NĂNG LỰC THIẾT KẾ, CHẾ TẠO ĐỒ DÙNG DẠY HỌC MÔN TOÁN 1.1 Một số định hướng đổi mới phương pháp dạy học môn toán tiểu học
Khái niệm Phương pháp dạy học đã được đề cập đến trong nhiều tài liệu về lý luận dạy học Theo nghĩa rộng thì đó là toàn bộ những vấn đề lý luận và thực hành liên quan đến việc xác định mục đích của quá trình dạy học, về nội dung dạy học, về các điều kiện cần thiết để tiến hành quá trình dạy học, về cách thức tổ chức quá trình dạy học, về cách tiến hành những hoạt động của giáo viên nhằm làm cho học sinh thu nhận, kiến tạo những tri thức,
kỹ năng, phẩm chất nhân cách theo mục tiêu đã xác định Theo nghĩa hẹp thì phương pháp dạy học là con đường, là cách thức hoạt động của thầy và trò nằm làm cho học sinh đạt được mục đích của quá trình dạy học
Đã có nhiều cách tiếp cận nghiên cứu vấn đề phương pháp dạy học Mỗi cách tiếp cận đó giúp đi sâu nghiên cứu những phương diện cụ thể của phương pháp dạy học Tuy nhiên vẫn còn có nhiều ý kiến khác nhau xung quanh việc xác định rõ nội hàm của khái niệm phương pháp dạy học, sự phân loại các phương pháp dạy học, các thành tố cấu tạo nên phương pháp dạy học, Trong luận văn này chúng tôi nói đến khái niệm Phương pháp dạy học theo nghĩa được dùng phổ biến hiện nay: Phương pháp dạy học là con đường,
là cách thức hoạt động của giáo viên và học sinh dưới sự chủ đạo của giáo viên làm cho học sinh đạt được các mục đích phát triển về kiến thức, kỹ năng,
tư duy và thái độ Nói như vậy có nghĩa là Phương pháp dạy học có chức năng như là phương tiện, là công cụ mà giáo viện sử dụng để làm cho học sinh hoạt động và phát triển theo mục đích đã được xác định Phan Trọng Ngọ
Trang 12trong [1, tr.184] cho rằng “Phương pháp dạy học giống như đồ nghề của người thợ mộc, chúng đều bình đẳng với nhau Việc sử dụng chúng tùy thuộc vào mục đích và khả năng sử dụng của người dạy và học, tùy thuộc vào hoàn cảnh dạy học cụ thể: đối tượng học viên môi trường sư phạm (lớp học, thiết bị dạy học và không khí học tập,…) Trong thực tiễn không một giáo viên có kinh nghiệm nào lại sử dụng đơn điệu một phương pháp trong hoạt động dạy học của mình Dạy học cũng như người thợ mộc, để thực hiện một thao tác nhằm tạo ra một chi tiết thì chỉ cần một công cụ, nhưng muốn có một sản phẩm trọn vẹn (ngôi nhà, bàn ghế, giường, tủ,…) thì phải phối hợp nhiều thao tác sử dụng nhiều công cụ khác nhau Nghệ thuật dạy học là nghệ thuật phối hợp các phương pháp dạy học trong một tiết, một bài dạy của người giáo viên.”
1.1.1 Tính cấp thiết và những yêu cầu đặt ra của việc đổi mới phương pháp dạy học
Theo Chương trình hành động của ngành Giáo dục thực hiện Chiến lược phát triển giáo dục Việt Nam 2011-2020, Kết luận số 51-KL/TW ngày 29/10/2012 của Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI và Chỉ thị số 02/CT-TTg ngày 22/01/2013 của Thủ tướng Chính phủ về đổi mới căn bản, toàn
diện giáo dục và đào tạo (Ban hành kèm theo Quyết định số 1215/QĐ-BGDĐT Ngày 04 tháng 4 năm 2013 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo) Trong đó: cụ thể trong giai đoạn 2013-2015 sẽ Hoàn thiện Đề án “Đổi mới căn bản,
toàn diện giáo dục và đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế” nhằm khắc phục những yếu kém, bất cập làm ảnh hưởng đến chất lượng và hiệu quả giáo dục và đào tạo trong thời gian qua
Cũng trong giai đoạn này Chương trình hành động trên có nêu rõ việc
Đổi mới quản lý giáo dục và Phát triển đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo
Trang 13“Triển khai các dự án, đề án về đổi mới phương pháp dạy học”
Cũng bàn về đổi mới phương pháp dạy học, Một số tác giả đã cho rằng:
- Phương pháp dạy học liên hệ chặt chẽ với mục tiêu, nội dung, phương tiện dạy học và các điều kiện khác nên chiến lược đổi mới phương pháp không thể thực hiện một cách riêng lẻ Phải đổi mới đồng bộ mà trước hết là
từ mục đích giáo dục, hệ thống giáo dục Chiến lược đổi mới phương pháp phải nằm trong chiến lược chung
- Vai trò của người học nếu muốn được thay đổi về cơ bản thì trước hết phải hình thành ở họ các phẩm chất, thói quen và năng lực ngay từ khi đến trường, tức là phải đổi mới phương pháp dạy học ngay từ bậc tiểu học, hay nói cách khác là từ lớp 1 Hình thành được thói quen, đặc biệt là thói quen và cách thức suy nghĩ là rất khó khăn và cần được diễn ra trong cả một quá trình
từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp
- Đội ngũ giáo viên giữ vai trò quyết định trong công việc đổi mới phương pháp dạy học
Nói về đổi mới phương pháp dạy học, Phạm Đình Thực [4] đã đưa ra một số ý kiến về việc cần phải đổi mới phương pháp dạy học theo hướng khả thi khi đưa ra một ví dụ về một vận động viên mạnh khỏe dù chạy nhanh đến đâu cũng không nhanh bằng một người ốm yếu lái một chiếc xe Hon da Trong triết học cũng cho ta biết một sự hơn hẳn về chất sẽ tạo ra một sức mạnh áp đảo, một thế chiến thắng tuyệt vời Tuy nhiên, tìm ra một phương
Trang 14pháp dạy học tương tự như “chiếc xe Honda” nói trên để trang bị cho mỗi giáo viên tiểu học trong điều kiện hiện nay cũng hơi khó, bởi vì chúng ta còn nghèo, do đó phương án này không khả thi, Song không khả thi không có nghĩa là chúng ta lại bó tay và quay lại lối cũ, loay hoay tìm cách để nâng cao tốc độ chạy bộ, vì làm vậy tuy có nhanh hơn chút song chẳng đáng là bao
Ở đây chúng ta cần nghĩ tới một phương pháp dạy học tương tự như
“một chiếc xe đạp” hay “một chiếc xe đạp điện” chẳng hạn Như thế thì mỗi giáo viên tiểu học hiện nay đều có thể tự trang bị được, vì nó vừa ít tốn kém, vừa dễ sử dụng mà tốc độ cũng không thua kém nhiều lắm so với một chiếc Hon da
Do đó mục tiêu của chúng ta là tìm ra một phương pháp dạy học tương
tự như “chiếc xe đạp” vì có thể trang bị cho mọi giáo viên mà mà không gặp khó khăn lắm, mặt khác nó cũng dễ thực hiện và ít tốn kém
1.1.2 Các dịnh hướng đổi mới phương pháp dạy học môn Toán
Những nghiên cứu của các nhà khoa học giáo dục nước ta như Phạm Minh Hạc [12], Trần Kiều [18], Nguyễn Bá Kim [19], Đào Tam [44]…cho thấy: Đổi mới phương pháp dạy học môn Toán trong trường phổ thông nước
ta hiện nay cần tập trung vào một số định hướng sau:
1.1.2.1 Xác lập vị trí chủ thể của học sinh, đảm bảo tính tự giác, tích cực, chủ động và sáng tạo của hoạt động học tập
Người học là chủ thể kiến tạo kiến thức, rèn luyện kỹ năng, hình thành
thái độ chứ không phải là hoàn toàn làm theo lệnh của thầy giáo Vai trò chủ thể của người học được khẳng định trong quá trình họ học tập trong hoạt động
và bằng hoạt động tự giác, tích cực chủ động và sáng tạo của chính bản thân mình.Tính tự giác, tích cực, chủ động và sáng tạo của học sinh được đảm bảo thông qua những hoạt động học tập được hướng đích và gợi động cơ để chuyển hoá nhu cầu xã hội thành nhu cầu nội tại của bản thân học sinh chỉ có thể phát huy được tính sáng tạo khi được học tập trong hoạt động và bằng
Trang 15hoạt động Tuỳ theo mục tiêu và hoàn cảnh cụ thể, có thể tổ chức cho học sinh hoạt động độc lập hoặc trong giao lưu, hợp tác Cả hai hình thức tổ chức này đều rất quan trọng đối với phương pháp dạy học hiện đại Một mặt, mặc
dù trong quá trình học tập vẫn có cả những pha học sinh hoạt động dưới sự
dẫn dắt của thầy hoặc có sự hỗ trợ của bạn, nhưng hoạt động độc lập của học
sinh là thành phần không thể thiếu để đảm bảo thành công của quá trình dạy
học Mặt khác, do bản chất xã hội của việc học tập, phương diện giao lưu
ngày càng được quan tâm và nhấn mạnh trong phương pháp dạy học Những hình thức học theo nhóm, học theo cặp, học và dạy học lẫn nhau… ngày càng được tăng cường
1.1.2.2 Tri thức được đặt trong những tình huống có dụng ý sư phạm
Theo chủ nghĩa kiến tạo trong tâm lý học, học tập chủ yếu là một quá trình trong đó người học xây dựng kiến thức cho mình bằng cách thích nghi với môi trường sinh ra những mâu thuẫn, những khó khăn và những sự mất cân bằng Vì vậy, người giáo viên thường cài đặt tri thức vào những tình huống thích hợp để học sinh chiếm lĩnh nó thông qua hoạt động tự giác, tích cực, chủ động và sáng tạo của bản thân Tất nhiên, một môi trường không có dụng ý sư phạm là không thể đủ để chủ thể (học sinh) kiến tạo được tri thức theo đúng yêu cầu xã hội đặt ra Do đó, điều quan trọng là thiết lập những tình huống có dụng ý sư phạm để học sinh học tập trong hoạt động, học tập bằng thích nghi
1.1.2.3 Dạy việc học và tự học thông qua toàn bộ quá trình dạy học
Mục đích dạy học không phải chỉ là kết quả điểm số cụ thể của môn học, của quá trình học mà điều quan trọng hơn là ở bản thân của việc học, ở cách học cũng như khả năng đảm nhiệm, tổ chức và thực hiện quá trình học tập một cách có hiệu quả Ý tưởng này ngày càng được nhấn mạnh trong lý luận và thực tiễn dạy học trên quy mô quốc tế: Learning how to learn Ý
Trang 16tưởng này chỉ có thể thực hiện được trong những quá trình mà người học thật
sự hoạt động để đạt được những gì mà họ cần đạt Khả năng tự học cần được rèn luyện ngay trong khi còn là học sinh Vì vậy, trọng tâm của quá trình dạy học là phải dạy phương pháp học bao hàm cả dạy tự học Việc dạy tự học đương nhiên không chỉ có thể thực hiện được trong một cách dạy học mà học sinh là chủ thể của nhận thức, tự họ hoạt động để đáp ứng nhu cầu của xã hội
đã được chuyển hoá thành nhu cầu của cá nhân Việc nhấn mạnh vai trò của
tự học và dạy tự học không có ý nghĩa là phủ nhận bản chất xã hội của học tập Tự học không có nghĩa là cô lập người học khỏi xã hội, không có nghĩa bao giờ cũng để người học đơn thương độc mã suy nghĩ từ A đến Z mọi thứ Biết tự học cũng có nghĩa là biết kế thừa những di sản văn hoá của nhân loại, biết khai thác những phương tiện mà loài người cung cấp cho mình để thực hiện quá trình học tập Để hiểu nghĩa của một số thuật ngữ trong một bài văn, học sinh có thể và biết cách tra từ điển Để tự học giải bài tập toán học, khi
mà sự suy nghĩ của riêng cá nhân học sinh không thể giải quyết được vấn đề đặt ra, học có thể và cần biết đọc sách, trong đó mức độ hỗ trợ có thể chỉ dừng
ở việc cho đáp số nhưng cũng có thể ở mức độ cao hơn: hướng dẫn cách giải
1.1.2.4 Chế tạo và sử dụng phương tiện dạy học làm gia tăng sức mạnh của giáo viên và học sinh trong quá trình tác động vào đối tượng nhận thức của học sinh
Loài người có sự phát triển tiến bộ vượt xa loài vật ở chỗ loài người là loài duy nhất trên trái đất biết chế tạo và sử dụng công cụ lao động Phương tiện dạy học làm gia tăng sức mạnh của người sử dụng chúng Từ những đồ dùng dạy học đơn giản như thước, compa…đến phương tiện kỹ thuật hiện đại như thiết bị nghe nhìn, công nghệ thông tin và truyền thông chứa đựng những tình huống sư phạm giúp cho người thầy cô giáo tổ chức hoạt động dạy và học một cách sinh động và đạt hiệu quả cao hơn, đặc biệt là việc ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông đang ngày càng phát huy thế mạnh của
nó trên toàn thế giới
Trang 171.1.2.5 Tạo niềm lạc quan học tập dựa trên lao động và thành quả của bản thân người học
Từ lạc quan đến hứng thú, từ hứng thú đến tích cực hoạt động và kết quả thu được là nhận thức và tài năng đó là công thức của các chuyên gia về giáo dục học đưa ra Hoạt động học tập ngoài đòi hỏi tính tích cực, tự giác, độc lập và sáng tạo của người học thì còn phải mang lại niềm vui, hứng thú lạc quan cho người học Niềm vui này có thể có được bằng nhiều cách khác nhau, nhưng quan trọng hơn cả vẫn là niềm lạc quan trong hoạt động lao động
và thành quả học tập của bản thân người học Chính việc giải được một bài tập khó, phát hiện ra một điều mới mẻ khơi ngợi nguồn cảm hứng học tập cho học sinh học sinh tự mình vật lộn tìm tòi, giải quyết được các tình huống có vấn đề sẽ cảm thấy sung sướng và tự hào về bản thân mình hơn rất nhiều là tiếp nhận thụ động những kiến thức từ người khác áp đặt sẵn cho mình Cho nên, cần tổ chức học tập cho học sinh sao cho học luôn cảm thấy mình gần tới đích, chỉ cần nỗ lực gắng sức là có cơ hội thành công
1.1.2.6 Xác định vai trò mới của người thầy với tư cách là người thiết kế, uỷ thác, điều khiển và thể chế hoá
Khẳng định vị trí chủ thể của học sinh dễ dẫn đến sự ngộ nhận về sự giảm sút vai trò của GV Thực ra, xác lập vị trí chủ thể của người học không
hề làm suy giảm, ngược lại còn nâng cao vai trò, trách nhiệm của người thầy Đối với học sinh diện phổ cập, không có vai trò của người thầy thì người học không thể đảm nhiệm được vị trí chủ thể, không thể hoạt động tự giác, tích cực và chủ động, sáng tạo trong quá trình học tập
Mặt khác, sẽ là bảo thủ nếu cho rằng tính chất vai trò của người thầy giáo vẫn như xưa Trong khi khẳng định vai trò của người thầy không hề suy giảm, cần phải thấy rằng tính chất của vai trò này đã thay đổi: Thầy không phải là nguồn phát tin duy nhất Thầy không phải là người chỉ huy, ra lệnh một cách khiên cưỡng, thầy không phải là người hoạt động chủ yếu ở hiện
Trang 18trường Trong quá trình dạy học, chính trò mới đóng vai trò trung tâm, vai trò trách nhiệm của thầy bây giờ quan trọng hơn, nhưng cũng tế nhị hơn Thầy là người thiết kế, uỷ thác, điều khiển và thể chế hoá
+ Thiết kế là lập kế hoạch, chuẩn bị quá trình dạy học cả về mục đích,
nội dung, phương pháp, phương tiện và hình thức tổ chức
+ Uỷ thác là biến ý đồ dạy của thầy thành nhiệm vụ học tập tự nguyện,
tự giác của trò, là chuyển giao cho trò không phải những tri thức dưới dạng có sẵn mà là những tình huống để trò hoạt động và thích nghi
+ Điều khiển, kể cả điều khiển về mặt tâm lí, bao gồm sự động viên,
hướng dẫn trợ giúp và đánh giá
+ Thể chế hoá là xác nhận những kiến thức mới phát hiện, đồng nhất hóa những kiến thức riêng lẻ mang màu sắc cá thể của từng HS, phụ thuộc
hoàn cảnh và thời gian của từng học sinh thành tri thức khoa học của nhân loại, chuẩn hoá theo chương trình cả về mức độ lẫn yêu cầu và cách thức diễn
đạt, hướng dẫn vận dụng và ghi nhớ hoặc giải phóng khỏi trí nhớ nếu không
cần thiết
1.2 Một số vấn đề lý luận về phương tiện dạy học
1.2.1 Khái niệm về phương tiện dạy học
Theo Phan Trọng Ngọ [1] thì Phương tiện dạy học là toàn bộ sự vật, hiện tượng trong thế giới, tham gia vào quá trình dạy học, đóng vai trò là công cụ hay điều kiện để giáo viên và học viên sử dụng làm khâu trung gian tác động vào đối tượng dạy học Phương tiện dạy học có chức năng khơi dậy, dẫn chuyền và làm tăng sức mạnh tác động của người dạy và người học đến đối tượng dạy học
Theo tác giả Nguyễn Hữu Châu [2] thì “các giáo viên thường bị trách
cứ là “nói quá nhiều” Điều đó có nghĩa là giáo viên đã lạm dụng từ ngữ trong việc biểu đạt ý nghĩa Có một số giáo viên không bao giờ để ý đến việc học sinh có thực sự hiểu và hứng thú với những gì mình nói hay không Nhiều
Trang 19giáo viên thường có xu hướng “nói cho” học sinh nghe chứ không phải là “nói với” chúng
Thực ra có thể sử dụng rất nhiều loại công cụ để làm cho bài giảng rõ ràng hơn và hấp dẫn hơn Những công cụ này thường được gọi là phương tiện dạy học được dùng để hỗ trợ cho công việc của giáo viên Tuy nhiên, việc sử dụng các công cụ này một cách đơn điệu, cứng nhắc thường không thể mang lại hiệu quả trong dạy học Việc lựa chọn kĩ lưỡng và xử lý thuần thục của giáo viên khi sử dụng các phương tiện dạy học trong giờ lên lớp mới mang lại hiệu quả của các thiết bị này trong việc giúp học sinh nhận thức tốt bài học Với sự phát triển của công nghệ hiện đại, giờ đây phương tiện dạy học ngày càng phong phú và tiện dụng Khi lên lớp giáo viên có nhiều lựa chọn các phương tiện hỗ trợ cho bài giảng của mình, học sinh có cơ hội được quan sát, hành động trên nhiều loại phương tiện, công cụ để kiến tạo kiến thức, phát triển tư duy và rèn luyện kỹ năng Công cụ ngôn ngữ không còn là loại phương tiện dạy học có tính độc tôn trong nhà trường nữa Điều quan trọng đối với giáo viên là làm quen với các loại phương tiện dạy học khác nhau cũng cần có kiến thức về lựa chọn và đánh giá các thiết bị này cũng như các nguyên tắc sử dụng chúng một cách có hiêu quả
Khi đề cập đến phương pháp dạy học, ít nhất cần lưu ý các điểm sau:
Thứ nhất: Một vật (hoặc một hiện tượng) nào đó được coi là phương
tiện dạy học khi và chỉ khi nó được đặt trong mối quan hệ giữa nó với đối tượng dạy Đó là mối quan hệ phương tiện - mục đích
Thứ hai: Một vật nào đó có thể trở thành phương tiện dạy học nếu nó
đảm nhận vai trò là công cụ hay là điều kiện để giáo viên hoặc học sinh tác động vào đối tượng dạy học
Thứ ba: phương tiện dạy học có chức năng khơi dậy, dẫn truyền và làn
tăng sức mạnh tác động của giáo viên hoặc học sinh tới đối tượng dạy học Một phương tiện trở thành phương tiện dạy học theo đúng nghĩa của nó khi và chỉ khi người giáo viên – học viên biết cách sử dụng nó
Trang 20Thứ tư: Trong quá trình dạy học tồn taị hai hoạt động vừa độc lập vừa
phụ thuộc lẫn nhau và quan hệ biện chứng vơí nhau là hoạt động dạy và hoạt động học Vì vậy, trong thực tế có các phương tiện dạy của giáo viên và phương tiện học của học sinh Hai loại phương tiện này vừa độc lập vừa phụ thuộc lẫn nhau và quan hệ chuyển hoá cho nhau
Thứ năm: Theo C.Mác “yếu tố quyết định trình độ hoạt động không
phải là tạo ra cái gì, mà là tạo ra cái đó bằng cách nào và bằng phương tiện nào?” chuyển luận điểm này vào trong dạy học sẽ là: Yếu tố quyết định trình
độ hoạt động dạy học không phải ở chỗ dạy và học cái gì, mà là dạy và học cái đó bằng phương pháp và phương tiện nào
1.2.2 Các chức năng của phương tiện dạy học
Theo tác giả Nguyễn Hữu Châu [2] và tác giả Nguyễn Bá Kim [8] thì các giá trị giáo dục của các phương tiện dạy học là rất lớn Giáo viên cần hiểu
rõ những chức năng quan trọng của chúng để phục vụ cho mục đích dạy học
- Những chức năng này bao gồm:
1 Giúp kiến tạo tri thức
Một số mô hình và hình ảnh mô phỏng giúp học sinh nâng biểu tượng lên khái niệm từ đó hình thành tri thức
2 Giúp rèn luyện kỷ năng, giúp học sinh tăng cường trí nhớ, làm cho việc học tập được lâu bền
Phương tiện dạy học có thể hổ trợ rèn luyện kỷ năng sử dụng một công
cụ, ví dụ như từ điển, máy vi tính…
Phương tiện dạy học cũng có thể giúp học sinh rèn luyện một kỷ năng thực hiện một hoạt động nào đó, ví dụ những mô hình hình học hổ trợ rèn luyện học sinh kỷ năng quan sát, so sánh, phân tích…
3 Giúp kích thích hứng thú học tập, thúc đẩy sự giao tiếp, trao đổi thông tin, do đó giúp học sinh học tập có hiêu quả, khuyến khích và thúc đẩy học sinh học tập
4 Cung cấp thêm kiến thức, kinh nghiệm trực tiếp liên quan đến thực
Trang 21tiễn xã hội và môi trường sống
5 Giúp khắc phục những hạn chế của lớp học bằng cách biến cái không thể tiếp cận được thành cái có thể tiếp cận được Điều này thực sự đúng khi sử dụng phim ảnh và các phương tiện tương tự
6 Cung cấp kiến thức chung, qua đó học sinh có thể phát triển các hoạt động học tập khác
7 Giúp phát triển mối quan tâm về các lĩnh vực học tập khác
8 Khuyến khích học sinh tham gia chủ động vào quá trình dạy học
1.2.3 Phân loại phương tiện dạy học
Các phương tiện dạy học có phổ rất rộng và đa dạng Bất kỳ cái gì, hiện tượng nào cũng có thể trở thành phương tiện dạy học: một khái niệm khoa học, một kinh nghiệm đã có của học sinh khi được dùng để tiếp thu kiến thức mới; một cành cây, con vật, đồ dùng trong sinh hoạt…Vì vậy, việc phân loaị các phương tiện dạy học rất phức tạp và tùy thuộc vào các tiêu chí để phân loại chúng:
1.2.3.1 Phân loại theo nguồn gốc, xuất xứ của sự vật, hiện tượng khi trở thành phương tiện dạy học:
Các phương tiện dạy học có nguồn gốc từ chính nội dung hoạt động dạy học: Đó là các khái niệm khoa học, kinh nghiệm xã hội… được hiện thực hóa trong các sách giáo khoa, tài liêụ giảng dạy Ngay chính bản thân phương pháp dạy của giáo viên và phương pháp nhận thức của người học khi tiếp nhận kiến thức mới cũng là các phương tiện dạy học Đây là các phương tiện dạy học quan trọng nhất, là một trong những nhân tố quyết định trình độ và hiệu quả dạy học
Các phương tiện có nguồn gốc từ chính người dạy và người học, đó là ngôn ngữ tư duy, kinh nghiệm, các thao tác, các kỹ năng dạy học, các hành vi
cử chỉ phi ngôn ngữ, tác phong…
Các phương tiện dạy học có nguồn gốc từ sự chế tác của con người, được đưa vào trong quá trình dạy học
Trang 22Các phương tiện dạy học có xuất xứ từ tự nhiên, được con người khai thác và sử dụng vào trong quá trình dạy học Chẳng hạn, các mẩu khoáng vật, đất đá, sông ngòi, ao hồ, núi non, cây cỏ…
1.2.3.2 Phân loại theo chức năng của các phương tiện trong quá trình dạy học
Có hai loại: phương tiện thay thế và phương tiện hổ trợ:
Các phương tiện thay thế: là các phương tiện có chức năng đại diện, thay thế cho đối tượng mà ngưòi dạy và ngưòi học phải tác động Loại phương tiện này có vai trò to lớn trong dạy học Bởi lẻ, nguyên tắc quan trọng nhất trong việc tối ưu hoá quá trình dạy học hiện đại là người học phải được làm việc trực tiếp vơí đối tượng học tập, lợi thế của loại phương tiện này
ở chổ, vừa là đại diện trực quan cho đối tượng học tập, vừa có tính khái quát
Các phương tiện hổ trợ trong uqas trình dạy học: đó là các phương tiện
có chức năng là giá đỡ, dẫn truyền và làm tăng cường sức mạnh tác động của hoạt động dạy và học lên đối tượng, giúp cho người dạy và người học thuận lợi hơn, tiện lợi hơn khi tác động lên đôí tượng dạy học Tuy nhiên, mặt trái của nó là nếu lạm dụng hoặc sử dụng không đúng mục đích, chức năng của các phương tiện sẽ thụ động hóa, đơn điệu hóa các hoạt động dạy và học dẫn đến “lợi bất cập hại”
1.2.3.3 Phân loại theo đối tượng tác động của phương tiện dạy học
Nhóm phương tiện dạy học theo lứa tuổi học viên
Nhóm các phương tiện theo nội dung môn học: Do đặc thù của các bộ môn khoa học khác nhau, đòi hỏi phải có những phương tiện thay thế hoặc hổ trợ; chẳng hạn ngôn ngữ dạy Toán phải khác ngôn ngữ dạy Văn hay các môn học khác…
Nhóm các phương tiện dạy học theo chiều hướng tác động chủ đạo vào nội dung dạy học
Trang 231.2.4 Một số lưu ý về vấn đề sử dụng phương tiện dạy học
1.2.4.1 Sử dụng phương tiện dạy học thích ứng linh hoạt với những ý đồ về phương pháp dạy học
Những phương tiện dạy học có khả năng đáp ứng những nhu cầu đa dạng Mỗi phương pháp dạy học không đơn thuần chỉ sử dụng một phương tiện dạy học Ví dụ phương pháp vấn đáp có khi vừa sử dụng sách giáo khoa, vừa sử dụng vật thật Ngược lại một phương tiện dạy học có thể được sử dụng cho nhiều phương pháp khác nhau, ví dụ một phương tiện trực quan như hình
vẽ hay mô hình có thể sử dụng vừa cho phương pháp trực quan vừa cho phương pháp vấn đáp Như vậy chúng ta cần khai thác khả năng thích ứng linh hoạt này để nâng cao hiệu quả của phương tiện dạy học
Tăng cường sử dung những phương tiện dạy học tạo môi trường tương tác cho học sinh học tập trong hoạt động và bằng hoạt động tự giác, tích cực, chủ động và sáng tạo, được thực hiện độc lập hoặc trong giao lưu Ví dụ : trong bộ ghép hình của học sinh tiểu học, những phần mềm vi thế giới, là một môi trường bao gồm những đối tượng, những thao tác và những quan hệ cho phép người học tạo ra những đối tượng mới, những thao tác mới, những quan
hệ mới, thông qua đó người học có thể học tập trong hoạt động, học tập bằng thích nghi
1.2.4.2 Phối hợp sử dụng những phương tiện dạy học khác nhau
Trong cùng một tình huống, những phương tiện dạy học thường được
sử dụng phối hợp với nhau và nói chung thường thực hiện nhiều chức năng đồng thời Mỗi phương tiện dạy học đều có chỗ mạnh và chỗ yếu, cần biết lấy chỗ mạnh của phương tiện này để hạn chế chỗ yếu của phương tiện kia, nhằm phát huy tối đa sức mạnh tổng hợp của hệ thống phương tiện dạy học, góp phần đạt được mục tiêu được đề ra trong chương trình
1.2.4.3 Xây dựng và sử dụng những phòng học bộ môn
Dạy học theo phòng bộ môn phản ánh xu thế mới mà một số nước trên
Trang 24thế giới đã áp dụng, đặc điểm nổi bật của nó là nâng cao tính tự giác, tích cực chủ động và sáng tạo của học sinh trong quá trình dạy học
Tổ chức dạy học theo hệ thống phòng bộ môn có những ưu điểm sau:
- Thuận lợi cho việc tổ chức các hoạt động học tập đa dạng của học sinh một cách hiệu quả
- Nâng cao hiệu quả lao động sư phạm của giáo viên
- Tạo điều kiện thuận lợi cho những hoạt động ngoại khóa đa dạng
- Kích thích giáo viên đổi mới PPDH, nhất là việc thiết kế đồ dùng dạy học, sử dụng nhiều phương tiện kỹ thuật, phát triển nhiều loại hình học tập của học sinh
1.2.5 Phương tiện trực quan trong dạy học
1.2.5.1 Khái niệm về phương tiện trực quan
Theo Phan Trọng Ngọ [1] thì Phương tiện trực quan là những phương tiện được sử dụng trong hoạt động dạy học, có vai trò là công cụ để giáo viên
và học viên tác động vào đối tượng; có chức năng khơi dậy, dẫn truyền, tăng cường khả năng hoạt động của các giác quan, góp phần tạo nên chất liệu cảm tính của đối tượng nhận thức nhằm đạt được các mục đích dạy học cụ thể”
Khái niệm trực quan: Hiện nay trong dạy học, ta thấy có hai quan niệm
về trực quan, và tạm quy ước là quan niệm truyền thống và quan niệm hiện đại:
Quan niệm truyền thống: Theo quan niệm này, trực quan là chủ thể sử
dụng một hay nhiều giác quan để quan sát, từ đó tạo ra các hình ảnh bên ngoài cuả đối tượng nhận thức Công thức chung là: quan sát trực tiếp đối tượng để tạo ra hình ảnh cảm tính về chúng → khái quát hóa (trừu tượng hóa) các hình ảnh đó trở thành biểu tượng chung (tức là khái niệm về một lớp các biểu tượng cùng loại được xét theo những tiêu chí xác định) Quan niệm này được hình thành dựa trên hai cơ sở chủ yếu là xã hội học và triết học Mặc dù mang tính duy cảm, nhưng cách hiểu trực quan và phương pháp trực quan theo
Trang 25quan niệm truyền thống là một tiến bộ so với dạy học thuyết giáo kinh viện trước đây Theo đó, học tập được bắt đầu từ quan sát thế giới bên ngoài Thông qua quan sát người học thu được những bằng chứng về sự vật, hiện tượng, tạo ra niềm tin đối với tri thức được truyền thụ, chống lại lối dạy học giáo điều, theo kiểu nhồi nhét tri thức cho người học
Quan niệm hiện đại: trực quan theo đúng nghĩa của nó không đơn giản
chỉ là quan sát sự vật bằng các giác quan, mà là bằng những hành động, tác động lên sự vật, làm biến đổi các dấu hiệu bên ngoài của chúng, làm cho cái bản chất các mối liên hệ, quan hệ có tính quy luật của chúng được bộc lộ, được phơi bày một cách cảm tính, mà nếu không có sự tác động đó thìchúng mãi còn là bí ẩn đối với nhận thức của con người
Quan điểm về trực quan như vậy có ý nghĩa to lớn đối với hoạt động dạy học Nó là cơ sở để xác định rõ vai trò trực quan trong dạy học
Phương pháp dạy học trực quan, theo đúng nghĩa của nó không phải là giáo viên giới thiệu, trình bày các phương tiện trực quan, nhằm cung cấp cho người học nhiều hình ảnh cảm tính về sự vật, mà phải giúp người học hành động tốt nhất với sự vật Dạy học trực quan – tức là dạy học phải được bắt đầu từ việc hướng dẫn người học hành động cảm tính với đối tượng học, tạo
cơ hội để học sinh trực tiếp tác động lên các vật thể, các mô hình, các vật được lựa chọn làm phương tiện thay thế hay truyền dẫn kiến thức để từ đó từng bước hình thành kiến thức bài học một cách vững chắc
Ví dụ: Ta xét trường hợp khái niệm phân số
Trực quan theo quan niệm truyền thống: giáo viên có thể tiến hành quá
trình dạy học như sau: Cho học sinh quan sát 2 vật thể hay hai hình vẽ gồm 1 quả cam và một quả cam được chia làm 2 phần đều nhau Trên cơ sở sự quan sát đó, giáo viên đưa ra thông báo khái niệm một phần hai và kí hiệu
Trang 26Trong cách dạy này học sinh dùng giác quan (chủ yếu là thị giác và thính giác) để thu nhận kiến thức do giáo viên trình bày và minh họa
Trực quan theo quan niệm hiện đại: Kiến thức về phân số
2
1 phải do
chính học sinh kiến tạo nên từng bước Chẳng hạn, giáo viên có thể giao cho học sinh những đồ vật cụ thể như quả cam, hình tròn, một đoạn dây, và nững công cụ cần thiết và yêu cầu học sinh hãy phân chia vật thể đó thành hai phần bằng nhau Chính quá trình thao tác của học sinh từ chỗ chưa thực hiện đúng, điều chỉnh thao tác, từng bước hình thành trong bộ não của học sinh nhận thức về phân số
2
1
Trong cách dạy này học sinh không chỉ quan sát một hình mẫu đã được làm sẵn một cách đúng đắn mà họ được trực tiếp thao tác, được hoạt động, được phân tích, đánh giá, điều chỉnh hoạt động của mình và kiến thức về phân
số
2
1 được hình thành trong nhận thức học sinh một cách tự nhiên (Điều này
được gọi là nguyên lý phản ánh của tâm lý học)
1.2.5.2 Phân loại phương tiện trực quan
Để phân loại phương tiện trực quan trong dạy học, cần phải dựa vào chức năng của nó trong mối quan hệ với mục đích và nội dung dạy học, ta có thể phân chúng thành hai loại:
a/ Phương tiện thay thế: là các vật (vật thật, tranh ảnh, mô hình…) đóng vai trò là vật đại diện, thay thế cho đối tượng hoạt động nhận thức, mà người học không thể tiếp xúc trực tiếp
b/ phương tiện trực quan dẫn truyền: là các vật (vật thật, tranh ảnh, mô hình…) đóng vai trò khơi gợi, chỉ để dẫn chủ thể đến đối tượng nhận thức
Chú ý rằng sự phân chia thành phương tiên trực quan thay thế và phương tiện trực quan dẫn truyền chỉ có tính chất tương đối Cùng một vật trong hoàn cảnh này là một phương tiện trực quan thay thế nhưng trong hoàn cảnh khác nó lại là một phương tiện trực quan dẫn truyền Lại có thể có
Trang 27trường hợp cụ thể một vật vừa là phương tiện trực quan thay thế, vừa là phương tiện trực quan dẫn truyền Các ví dụ sau đây phần nào làm rõ thêm điều chú ý ở đây
Ví dụ: Một thước thẳng của giáo viên có thể dùng làm phương tiện trực quan thay thế khi dạy học khái niệm đoạn thẳng nhưng nó lại là phương tiện trực quan dẫn truyền khi ta dùng nó để xác định xem 3 điểm tạo ra có thẳng hàng hay không trong trường hợp dự đoán quỹ tích của một điểm (nếu
3 điểm tạo ra thẳng hàng thì định hướng chứng minh quỹ tích cần tìm là đường thẳng hay một phần đường thẳng, nếu 3 điểm tạo ra không thẳng hàng thì (ở trường phổ thông ta sẽ định hướng chứng minh quỹ tích là đường tròn hay cung tròn)
Ví dụ: Một mảnh bìa hình thang giáo viên chuẩn bị sẵn có thể là phương tiện trực quan thay thế cho khái niệm hình thang trong tình huống dạy học khái niệm diện tích hình thang nhưng nó cũng là phương tiện trực quan dẫn truyền khi ta cho học sinh cắt và ghép để dẫn đến công thức tính diện tích hình thang
1.2.5.3 Một số phương tiện trực quan phổ biến trong nhà trường hiện nay
1 Các dụng cụ không gian 3 chiều
Trang 28 Máy chiếu truyền thống (overhead projector)
Máy chiếu đa năng (LCD projector)
Phần lớn các hoạt động học tập trong lớp có liên quan đến nghe: nghe bài giảng, thảo luận, giải thích và nhận xét Do đó, việc học tập cần được hỗ trợ bởi các thiết bị nghe, nhìn
Trang 291.2.5.4 Sử dụng phương tiện trực quan trong dạy học
(i) Một số yêu cầu về việc sử dụng phương tiện trực quan trong dạy học Theo tác giả Phan Trọng Ngọ [1]:
Thứ nhất: Việc tổ chức cho học viên sử dung phương tiện trực quan phải phù hợp với từng loại tri thức khoa học cần hình thành cho các em
Nội dung dạy học hiện nay thường có hai loại tri thức khoa học: tri thức hình thức về sự vật và tri thức về nội dung, về sự phát triển của vật
+ Các tri thức khoa học hình thức với tư cách là biểu tượng chung về một lớp sự vật nhất định Chẳng hạn, khái niệm “cây”, “con cá”, “ô tô” v.v… Mặc dù loại tri thức này là sự khái quát siêu hình về các sự vật và có từ thế kỉ
XV, nhưng đến nay, chúng vẫn có vai trò quan trọng trong hệ thống tri thức khoa học nhân loại và vẫn tồn tại phổ biến trong nhà trường Cơ chế hình thành loại tri thức này của học viên chủ yếu qua các bước sau:
Bước 1: Quan sát các sự vật khác nhau nhằm tạo ra hình ảnh trực quan
về chúng
Bước 2: So sánh các hình ảnh, khái quát hóa những dấu hiệu giống
nhau của các sự vật khác nhau dựa cơ sở trừu xuất những điểm khác nhau, riêng của các sự vật thu được qua các hình ảnh cảm tính
Bước 3: Đưa các dấu hiệu chung, giống nhau của các sự vật, hiện
tượng vào trong một thuật ngữ, mệnh đề trên cơ sở những quy ước ban đầu về các tiêu chí xếp loại
Bước 4: Đưa biểu tượng (khái niệm) mới được hình thành vào trong hệ
thống biểu tượng đã có bằng cách quan sát các sự vật mới, tìm và phát hiện trong đó nhưng dấu hiệu chung đã được khái quát trong biểu tượng
Với loại tri thức này, thì các phương tiện trực quan được dùng trong dạy học chủ yếu là trực quan thay thế và phương pháp sử dung chủ yếu là giáo viên trình bày, giới thiệu chúng còn học viên quan sát các vật mẫu do giáo viên đưa ra, phân tích, khái quát các vật mẫu đó để hình thành biểu tượng chung về chúng Sử dụng phương tiện trực quan theo phương pháp này phù
Trang 30hợp với quan niệm truyền thống như đã nêu ở trên
+ Ngày nay, trong nhà trường, các tri thức khoa học dần dần không phải là các tri thức về sự phân loại siêu hình các sự vật mà là tri thức giải thích nguồn gốc, cấu trúc, bản chất và sự vận động của sự vật, là sự giải thích các nguyên tắc, nguyên lý sản xuất ra sự vật đó Nói ngắn gọn là tri thức về sự phát triển nội dung đối tượng Đây là loại tri thức hiện đại Loại tri thức này đang dần chiếm ưu thế trong nội dung dạy học Cơ chế tâm lý hình thành các khái niệm loại này khác với loại trên Cụ thể, học sinh phải thực hiện theo các bước sau:
Bước 1: Phân tích vật mẫu (vật thật hoặc vật thay thế) để tách các bộ
phận của nó, phát hiện mối quan hệ giữa các bộ phận và sự biến đổi của các
bộ phận, các quan hệ đó – tức là phát hiện ra bản chất và chiều hướng phát triển của sự vật
Bước 2: Tái tạo lại sự vật theo đúng cấu trúc của nó với vật liệu mới
dưới hình thức mới Thực chất đây là quá trình mô hình hóa đối tượng học tập Trong quá trình này, học viên không chỉ hiểu các bộ phận và quan hệ giữa chúng của sự vật mà còn hiện thực hóa nó bằng sản phẩm cụ thể
Bước 3: Triển khai mô hình ra các dạng khác nhau Thực chất đây là
quá trình đưa tri thức đã hình thành vào trong hệ thống tri thức đã có và phát triển nó trong các tình huống cụ thể
Bước 4: Kiểm tra mô hình Đây là quá trình so sánh, đối chiếu giữa mô
hình đã được hình thành và phát triển với vật mẫu ban đầu Từ đó xác định mức độ đúng đắn của các tri thức về đối tượng đã được hình thành
Với loại tri thức này, thì các phương tiện trực quan được dùng trong dạy học phải là trực quan thay thế và phương pháp sử dụng là giáo viên không trình bày, giới thiệu chúng, mà tổ chức cho học sinh trực tiếp tiếp xúc và làm việc với phương tiện thay thế đó, để phân tích và xác lập các bộ phận, các quan hệ giữa các bộ phận của đối tượng Đồng thời hướng dẫn học sinh tái tạo lại đối tượng bằng một vật liệu mới – tức là tạo ra một phương tiện trực quan
Trang 31mới Ở đây có một nguyên tắc vàng trong dạy học hiện đại: Cách tốt nhất để học một đối tượng là làm ra đối tượng đó
Một ví dụ đơn giản về hai cách sử dụng phương tiện trực quan cho hai tình huống tri thức:
Bài toán: Dạy học sinh khái niệm tam giác
Tình huống 1: Định nghĩa: Tam giác là một phần mặt phẳng được giới hạn bởi ba đoạn thẳng gấp khúc khép kín
Cách sử dụng phương tiện trực quan: giáo viên kẻ lên bảng các hình tam giác khác nhau, dùng các vật dụng có hình tam giác cho học sinh quan sát Đề nghị học sinh quan sát và hướng dẫn cách rút ra nhận xét phục vụ cho việc khái quát dấu hiêu chung: một phần mặt phẳng ( điều này rất khó với học viên), có ba đoạn thẳng được khép kín Hướng dẫn học sinh phát biểu định nghĩa
Tình huống 2: Định nghĩa: Tam giác là một hình học phẳng được tạo bởi ba đoạn thẳng gấp khúc khép kín
Cách sử dụng phương tiện trực quan: giáo viên giới thiệu cho học sinh cách tạo ra một hình tam giác bằng ba đoạn thẳng Sau đó đề nghị các em tự tạo ra các hình tam giác bằng vật liệu mình có (que tính, thước kẻ v.v), tháo
ra, lặp lại, kéo dài (thu nhỏ) hình tam giác đã có Đề nghị học sinh phát biểu hình đã làm và cách tạo ra nó, nhận xét về dâu hiệu bản chất (được tạo thành bởi 3 đoạn thẳng) và dấu hiệu không bản chất: vật liệu, màu sắc, kích thước.v.v… Cuối cùng, yêu cầu học sinh dùng các vật liệu khác nhau để tạo
ra hình tam giác từ các hình tứ giác, ngũ giác v.v… cho trước Trong thực tiễn, với cách dạy theo tình huống thứ nhất, nhiều học sinh phát biểu được định nghĩa nhưng nếu giáo viên chỉ cho các em quan sát một số hình tam giác
có đường cao nằm trong tam giác và hạ từ đỉnh ở phần trên thì khi gặp tình huống đường cao nằm ngoài tam giác, thì các em sẽ gặp khó khăn Hiện tượng này ít gặp trong tình huống dạy học thứ hai: Cần phân biệt đối tượng học tập với đối tượng chú ý của học sinh khi sử dụng phương tiện trực quan
Trang 32Trong thực tiễn thường xuất hiện hai tình huống:
a) Đối tượng học tập của học sinh trùng với đối tượng chú ý của các
em Tức là đối tượng cần hình thành ở học viên cũng là cái mà các em chú ý Trong trường hợp này, đối tượng học tập được học sinh ý thức rõ hơn, nhờ đó chất lượng lĩnh hội tài liệu học tập của các em được cao hơn
b) Đối tượng học tập không trùng với đối tượng chú ý của học sinh Trong trường hợp này, học viên không hướng ý thức vào đối tượng học tập
mà vào đối tượng khác Hậu quả là đối tượng học tập không những không được ý thức mà còn bị lu mờ, bị lạc hướng Trong những trường hợp như vậy, phương tiện trực quan đã làm giảm hiệu quả dạy học Hiện tượng tương tự như trên ta vẫn thương gặp khá nhiều trong dạy học Đặc biệt là đối với học sinh nhỏ, hoặc khi phương tiện trực quan quá hấp dẫn về hình thức
Ví dụ: Khi dạy biểu tượng số 5, một giáo viên đã công phu vẽ bức tranh
có 5 chiếc xe tăng rất đẹp cùng với các chú bộ đội Khi đưa ra cho học sinh xem, cả lớp reo lên thích thú, nhiều em hét lên: cái này đẹp, cái kia xấu, cái này của tớ, bố tớ là bộ đội lái xe tăng v.v Trong trường hợp này đối tượng gây chú ý của các em không phải là số lượng xe tăng, mà là chính bản thân những chiếc xe tăng và các bộ phận của chúng Ở đây, xe tăng và hình ảnh các chú bộ đội, đã kích thích sự chú ý và trí tưởng tượng của học viên, còn đối tượng học tập đích thực (biểu tượng về số lượng) đã bị bỏ qua Rõ ràng trong trường hợp này, đối tượng học tập không những không được ý thức mà còn bị lu mờ, bị lạc hướng và làm ảnh hưởng đến hiệu quả học tập
(ii) Gợi ý một số biện pháp tổ chức cho học viên sử dung phương tiện trực quan trong dạy học
Xu hướng chung của dạy học hiện đại là phương pháp dạy học tốt nhất
là phương pháp tổ chức cho học sinh làm ra đối tượng học tập, qua đó hình thành tri thức nguyên lí, nguyên tắc sản xuất ra đối tượng đó Điều này liên quan trực tiếp tới viêc tổ chức cho học sinh sử dụng phương tiện trực quan trong học tập Dưới đây xin gợi ý vắn tắt một số biện pháp của giáo viên khi
Trang 33thực hiện công việc này Ở mức khái quát nhất, quy trình tổ chức cho học sinh
sử dụng phương tiện trực quan trong giờ lên lớp bao gồm 3 giai đoạn: chuẩn
bị phương tiện trực quan và các điều kiện để sử dụng chúng, tổ chức cho học sinh sử dụng các phương tiện trực quan trong giờ học, tổng kết việc sử dụng phương tiện trực quan của học sinh
* Chuẩn bị phương tiện trực quan:
Một sự chuẩn bị tốt về phương tiện trực quan trong dạy học cần phải thực hiện ít nhất bốn phần việc sau:
- Xác định mục tiêu, nội dung, tính chất của tài liệu giảng dạy Câu hỏi
ở đây là: Mục tiêu và nội dung của bài dạy là gì? Dạy tri thức mới hay củng
cố, phát triển tri thức đã học Nếu dạy tri thức mới, thì đó là loại tri thức gì: Khái niệm hình thức hay khái niệm nội dung đối tượng? Kĩ năng, kĩ xảo hành động nào?
- Sử dụng phương tiện trực quan nào cho phù hợp với mục tiêu, nội dung và tính chất của bài học? Để có quyết định này, giáo viên cần tính đến mức độ hiện có của các phương tiện trực quan trong điều kiện của nhà trường
và chất lượng của chúng Các phương tiện trực quan được chọn ngoài việc đảm bảo các yêu cầu học tập cần phải thỏa mãn yêu cầu học viên dễ tìm kiếm,
dễ làm, đảm bảo khi cần là sử dụng được ngay (không hỏng hóc, trục trặc về thiết bị, phương tiện)
- Chuẩn bị về điều kiện để tổ chức tốt việc sử dụng phương tiện trực quan Mỗi phương tiện dạy học khi sử dụng cần có một môi trường và điều kiện nhất định Không chỉ là sự chuẩn bị về nguồn điện, ánh sáng, bàn ghế, địa điểm, thời gian mà còn chuẩn biả những hiểu biết và kĩ năng sử dụng các phương tiện trực quan trong dạy học (nếu thấy cần thiết)
- Chuẩn bị về những tri thức, kĩ năng hướng dẫn của giáo viên khi tổ chức cho học sinh sử dụng các phương tiện trực quan Đây là yếu tố quan trọng nhất và khó khăn nhất khi tiến hành chuẩn bị phương tiện trực quan Đặc biệt trong trường hợp hướng đến việc tổ chức cho học sinh làm ra đối
Trang 34tượng trực quan Để sử dụng thành công phương tiện trực quan, không những chỉ cần có phương tiện trực quan và những điều kiện sử dụng chúng, mà điều quan trọng hơn, người giáo viên cần phải hình dung được những thuận lợi và khó khăn của học viên khi các em sử dụng các phương tiện trực quan: hoạt động của học viên với phương tiện trực quan như thế nào và sản phẩm của hoạt động đó; những điểm chính (mốc quan trọng) của việc sử dụng phương tiện trực quan mà học viên cần phải thực hiện … có hình dung ra những hành động, khó khăn, sai sót mà học viên có thể gặp phải trong sử dụng phương tiện trực quan, người giáo viên mới có thể hình thành và uốn nắn những hành động sử dụng phương tiện trực quan, qua đó hình thành những hiểu biết và
kỹ năng học tập của học sinh
* Tổ chức cho học sinh sử dụng các loại phương tiện trực quan
+ Đối với phương tiện trực quan thay thế
phương tiện trực quan thay thế thường được dùng trong việc dạy tri thức, kĩ năng mới Vì vậy ít nhất học viên cần thực hiện các thao tác sau đây:
- Các thao tác phân tích phương tiện trực quan Đây là các thao tác quan trọng nhất, có tính chất cơ sở Mục đích của phân tích là làm cho các bộ phận và quan hệ giữa các bộ phận của đối tượng nhận thức được bọc lộ một cách cảm tính trước học viên Nhờ đó các hình ảnh của đối tượng nhận thức không chỉ cho học viên biết được các dấu hiệu bề ngoài, tĩnh của đối tượng,
mà còn cả những dấu hiệu bên trong và các mối quan hệ giữa các bộ phận của
nó Vì vậy, yêu cầu của thao tác này là học viên tiến hành phân tích triệt để đối tượng được ẩn chứa trong phương tiện trực quan, xem xét nhiều mặt, luyện tập thành thạo để tạo ra hình ảnh đầy đủ và ổn định về đối tượng
- Các thao tác khái quát hóa sự phân tích để tạo ra mô hình chung về đối tượng Yêu cầu của các thao tác này là học viên phải vượt ra được các dấu hiệu phụ, không bản chất của các phương tiện trực quan, khái quát được các dấu hiệu bản chất của nó để tạo ra mô hình chung về đối tượng học tập với một vật liệu khác (tạo ra mô hình mới) Hiệu quả của các mô hình hóa này,
Trang 35một mặt tùy thuộc và khả năng khái quát hóa, xác lập các dấu hiệu và mối quan hệ bản chất của đối tượng, mặt khác, phụ thuộc nhiều vào các thao tác phân tích trước đó của học sinh
1.2.6 Khái niệm về đồ dùng dạy học
1.2.6.1 Khái niệm về đồ dùng dạy học
Đồ dùng dạy học ở đây được hiểu là những phương tiện, thiết bị vật chất được sử dụng trong quá trình dạy học như tư liệu, tranh, ảnh, phiếu học tập, bản đồ, biểu đồ, sơ đồ, bảng thống kê, số liệu, phim tình huống, phim tư liệu, trò chơi… Ngoài ra, ta có thể sử dụng một số đồ dùng thông thường trong gia đình, trong sinh hoạt: Dùng để sắm vai, chơi trò chơi; Thông báo hay trình bày thông tin, giới thiệu vào bài, minh họa, giải thích, mô tả trực quan Tổ chức và tiến hành các hoạt động, kết thúc bài học và giáo dục học sinh
Đồ dùng dạy học là một phương tiện dạy học cơ bản và quan trọng giúp học sinh có thể hiểu bài rõ hơn, thu hút được học sinh tham gia vào bài giảng, gây hứng thú và kích thích trí tò mò của học sinh Đặc biệt giờ học có sử dụng
đồ dùng dạy học phát triển được năng lực hành động của học sinh như sử dụng đồ dùng dạy học phát triển được năng lực hành động của học sinh như quan sát, nhận xét, đánh giá và giải thích được các hiện tượng, sự vật
1.2.6.2 Một số loại đồ dùng dạy học được sử dụng phổ biến đối với môn toán
- Nhóm công cụ cầm tay của giáo viên trong quá trình lên lớp dạy học: Nhóm đồ dùng này gồm có thước thẳng, thước cuộn, ê ke, com pa,
- Nhóm đồ vật để làm công cụ hình thành các biểu tượng toán học: Nhóm này gồm các loại vật chất đã được chế tạo thành các đồ vật có hình dạng, số lượng và đặc điểm thích hợp để hình thành các biểu tượng hình học, biểu tượng so sánh về mặt số lượng,
- Nhóm đồ dùng để xác định các kích thước, số đo đại lượng như thước
Trang 36thẳng có chia đơn vị đo độ dài, thước dây có chia đơn vị đo độ dài, các dụng
cụ đo, đong dùng để xác định số đo các đại lượng,
- Nhóm đồ dùng dạy học được sử dụng để học sinh thực hiện các thao tác, hành động nhằm hình thành kiến thức: que tính, bảng chia ô, bìa và kéo
để cắt và ghép các hình hình học,
- Nhóm các đồ dùng dạy học có ghi dữ liệu để học sinh quan sát và thực hành hoạt động học tập như các bảng số liệu, các biểu đồ, các phiếu học tập
1.3 Một số vấn đề lý luận về đào tạo giáo viên
Theo Michel Develay [16] thì sự thành công của học sinh trong học tập
đó là lý do tồn tại của người giáo viên Do đó trong việc đào tạo giáo viên trước hết phải làm cho giáo sinh nắm vững được mục đích nghề nghiệp – lý
do tồn tại của người giáo viên chính là phải nhận thức đúng việc học của học sinh tương lai của mình
1.3.1 Quan niệm về quá trình học
1.3.1.1 Đặc điểm của quá trình học
Theo Michel Develay [16] thì quá trình học tập có một số đặc điểm
đáng quan tâm sau đây:
- Học là một quá trình bí ẩn
Đó là một quá trình làm cho chủ thể tự biến đổi và làm phong phú tinh thần của mình bằng cách chiếm lĩnh thông tin trong môi trường sống « Song người học không cư xử như một người ăn hại thông tin Người học không tiêu thụ thông tin Hơn nữa, họ tự tạo ra bản thân mình mà lại làm cho những gì họ tiếp thu vẫn tồn tại Chủ thể học không phải vì hiện thực tồn tại mà cần phải tìm hiểu, mà chính là vì con người tìm hiểu hiện thực và làm tồn tại hiện thực » Như vậy, « Mọi người học đều tự tạo ra cho mình một hiện thực tồn tại khách quan từ trước Mọi việc học đều là việc sinh đẻ »
Trang 37- Học là một quá trình chủ thể khó ý thức được đầy đủ
Để người học có ý thức về sự thành bại của việc học, ngoài điểm số, sự đánh giá của giáo viên, người học cần tự nhận biết bản thân họ học như thế nào: vừa học vừa xem mình học, vừa làm vừa tự xem mình làm Có ý thức về việc học đã thực hiện tức là quan tâm đến các hoạt động trí tuệ - về bản chất
là không thể nhìn thấy được – đã được triển khai Giúp một học sinh tìm hiểu mình học như thế nào, tức là giúp học sinh đó có ý thức về ý thức của mình,
tư duy về tư duy của mình
- Học là một quá trình khó khách quan hóa được
Trước hết, rất khó ghi nhận về móc thời gian: việc học bắt đầu không phải bắt đầu khi trẻ nhập trường, nó bắt rể trong những tình huống khác nhau trước khi các em đi học ở nhà trường, đó là những tình huống nãy sinh những biểu tượng trong chủ thể, những nhận thức của cá nhân về thế giới
Ví dụ khi giáo viên đưa ra một số khái niệm về toán học thì học sinh đã kiến tạo cho mình thông qua kinh nghiệm, trí tưởng tượng, phương tiện … những ý nghĩ về khái niệm đó
Thứ hai là khó khăn trong quá trình phân biệt giữa quá trình học và sản phẩm của nó Học là một quá trình khó xác định được nhưng cuối cùng biểu hiện bằng sản phẩm : khả năng giải thích, biết làm và biết tồn tại, tức là một hành vi ứng xử có thể quan sát được
Thứ ba là sự đa dạng trong cách thức học cũng làm cho ta khó xác định đặc tính của phương pháp học hợp lý nhất Ta có thể học bằng cách bắt chước hoặc giải quyết vấn đề bằng cách suy luận hay loại suy Có thể học bằng thực nghiệm, thực hành hoặc tìm hiểu một khái niệm trừu tượng, một mô hình
1.3.1.2 Đặc điểm của quá trình dạy (trong hoạt động dạy học)
Quá trình dạy học là một hệ toàn vẹn gồm hoạt động dạy và hoạt động học luôn luôn tương tác với nhau, thâm nhập vào nhau, sinh thành ra nhau Sự tương tác giữa dạy và học mang tính chất cộng tác, trong đó dạy giữ vai trò
Trang 38chủ đạo
- Quá trình dạy học là quá trình bảo đảm cùng một lúc ba sự thống nhất + Thống nhất giữa dạy và học;
+ Thống nhất giữa truyền đạt với chỉ đạo trong dạy;
+ Thống nhất giữa lĩnh hội và tự chỉ đạo trong học
- Bản chất của quá trình dạy học là sự thống nhất biện chứng của dạy
và học; nó được thực hiện bằng sự tương tác có tính chất cộng đồng và hợp tác (cộng tác) giữa dạy và học, tuân theo lôgic khách quan của nội dung dạy học (khái niệm khoa học – đối tượng của học)
Mối quan hệ giữa hoạt động dạy và hoạt động học
Quá trình dạy học là một quá trình xã hội gắn liền với hoạt động của con người: hoạt động dạy và hoạt động học Các hoạt động này có mục tiêu rõ ràng, có nội dung nhất định, do các chủ thể thực hiện - đó là thầy và trò, với những phương pháp, phương tiện, viêc quản lý hoạt động dạy – học trong trường phổ thông Sau một chu trình vận động, các hoạt động dạy và học phải đạt tới những kết quả mong muốn
Hoạt động dạy và hoạt động học có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, thể hiện ở mối quan hệ tương tác giữa các thành tố: mục tiêu, nội dung, phương pháp của hoạt động dạy và hoạt động học
Phân tích mối quan hệ giữa hoạt động dạy và hoạt động học, chúng ta
có thể đi đến kết luận: Hoạt động học, trong đó có hoạt động nhận thức của học sinh có vai trò quyết định kết quả dạy học Để hoạt động học có kết quả thì trước tiên chúng ta phải coi trọng vai trò người giáo viên, giáo viên phải xuất phát từ lôgíc của khái niệm khoa học, xây dựng công nghệ dạy học, tổ chức tối ưu hoạt động cộng tác của dạy và học, thực hiện tốt các chức năng của dạy cũng như của học, đồng thời bảo đảm liên hệ nghịch thường xuyên, bền vững Vì vậy, muốn nâng cao mức độ khoa học của việc dạy học
ở trường phổ thông thì người hiệu trưởng phải đặc biệt chú ý hoàn thiện hoạt
Trang 39động dạy của giáo viên; chuẩn bị cho họ có khả năng hình thành và phát triển
ở học sinh các phương pháp, cách thức phát hiện lại các thông tin học tập Đây là khâu cơ bản để tiếp tục hoàn thiện tổ chức hoạt động học của học sinh
Nếu xét quá trình dạy học như là một hệ thống thì trong đó, quan hệ giữa hoạt động dạy của thầy với hoạt động học của trò thực chất là mối quan
hệ điều khiển Với tác động sư phạm của mình, thầy tổ chức, điều khiển hoạt động của trò Từ đó, chúng ta có thể thấy công việc của người quản lý nhà trường là: hành động quản lý (điều khiển hoạt động dạy học) của hiệu trưởng chủ yếu tập trung vào hoạt động dạy của thầy và trực tiếp đối với thầy; thông qua hoạt động dạy của thầy mà quản lý hoạt động học của trò
Dạy học là một công việc đòi hỏi sự công phu, tỉ mỉ và tinh tế, một nghề vừa có tính khoa học cao vừa có tính nghệ thuật, nó đòi hỏi sự sáng tạo của giáo viên trong quá trình giảng dạy
1.3.2 Một số quan niệm về đào tạo giáo viên
Thực chất công việc của giáo viên không chỉ là truyền thụ tri thức mà chủ yếu phải biết cách tổ chức, điều khiển, chỉ đạo học sinh, giúp cho họ biết
đi đến chân lý, nắm được phương pháp nhận thức và vận dụng tri thức, kỹ năng, kỹ xảo đã tiếp thu được vào thực tế cuộc sống, đồng thời phát triển trí tuệ cho họ
Muốn vậy, trước hết giáo viên phải là người biết tổ chức các tình huống học cho học trò mình bằng cách hòa nhập những kiến thức cần thiết cho hoạt động này
Giáo viên cần phải nắm vững bộ môn mình sẽ dạy, không những thế
mà còn phải nắm vững các kiến thức lý luận dạy học, giáo dục học, nắm vững các yếu tố tâm lý cũng giúp cho việc xem xét và phân tích các mối liên hệ xãy
ra trong lớp học
Giáo viên ngày nay phải biết phối kết hợp tốt với các các bộ phận khác trong xã hội : các cơ quan liên quan của địa phương Do đó năng lực nghề
Trang 40nghiệp của giáo viên không còn chỉ giới hạn trong việc giảng dạy tốt các thông tin trên lớp
Viêc đào tạo phải kết hợp chặt chẽ những kiến thức sẽ dạy với các kiến thức khác, với những kỹ năng cần thiết để thiết lập việc dạy phục vụ cho việc học
Kiến thức mà giáo viên sẽ dạy liên kết với kiến thức về lý luận dạy học
và giáo dục học Người giáo viên dạy hiệu quả là người nắm vững một hệ thống đầy đủ các chách thức hành động để có thể quyết định cách thức này hay cách thức khác là tốt hơn, tùy theo sự nhìn nhận riêng của mình về năng lực của học sinh, tùy theo lớp (hay lứa tuổi), tùy theo tài liệu hay vật dụng mà mình có được
Việc đào tạo phải kết hợp chặt chẽ giữa thực hành sư phạm với việc giải thích lý thuyết làm cơ sở cho việc thực hành
Sự luân phiên giữa thực hành và lý thuyết phải được ưu tiên trong quá trình đào tạo
Việc đào tạo giáo viên phải giải quyết hai vấn đề: sự kết hợp giữa kiến thức bộ môn và kiến thức tâm lý- giáo dục, sự kết hợp giữa lý thuyết và thực hành
Như vậy làm thế nào để lý thuyết và thực hành song hành với nhau : có nhiều trả lời cho vấn đề cốt lõi này của giáo dục nước ta, nhưng suy cho cùng
lý thuyết không thể xa rời thực tế, và thực hành bổ sung để lý thuyết trở nên đầy đủ và thuyết phục
Việc dạy học cũng không thể bắt nguồn từ sự mô phỏng đơn giản cho các hoạt động thực hành động tồn tại, vì trong trường hợp đó nó sẽ thiếu sự thích ứng
Việc giảng dạy bắt nguồn từ khả năng giải quyết những vấn đề được đặt ra và thường xuyên xuất hiện trong tình trạng khẩn cấp, ở thời điểm đó giáo viên không thể dừng lại để tra cứu tài liệu hay tìm hiểu cách giải quyết
Vì vậy giáo viên phải quản lý hai loại thời gian: thời gian dài hạn với việc lập